NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thể chế kinh tế được hiểu là tập hợp các quy tắc nghĩa là toàn bộ các ràng buộc chi phối, điều chỉnh các hoạt động kinh tế, gắn liền với nó là những chế tài nhằm đảm bảo việc thực thi các quy tắc đã được đặt ra. Những quy tắc kinh tế sẽ định hình nên những động cơ kinh tế (học tập, tiết kiệm, phát minh, đầu tư…) thúc đẩy con người ta tham gia vào các hoạt động kinh tếđể tìm kiếm lợiích vật chất (North D. C., 1991). Nếu như trong các lý thuyết kinh tế cổđiển để thúc đẩy mộtnền kinh tế tăng trưởng cần chủ yếu dựa vào các nhân tố cơ bản là vốn, tài nguyên, lao động, công nghệ, cơcấu kinh tế, thì những nhà kinh tế học thể chế mới tiêu biểu như Ronal Coase, Douglass North, Oliver Williamson (đều là những nhà kinh tế đã nhận được giải Nobel) cho rằng thể chế kinh tế là cũng là một yếu tố quan trọng không kém. Thậm chí Acemoglu và Robinson đã từng nhấn mạnh trong tác phẩm nổi tiếng “Tại sao các quốc giathất bại” đãcho rằng vấn đềmấuchốtquyết định sựthành công hay thất bại của nền kinh tế quốc gia chính là thể chế (Acemoglu & Robinson, 2013).

Thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đang nỗ lực phát triển mô hình kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để có thể xây dựng thành công mô hình này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “ba khâu đột phá chiến lược” mà trong đó hoàn thiện thể chế kinh tế phát triển là một khâu đi đầu. Vai trò quan trọngcủa thểchế kinh tế đó là “tạo dựng lòng tin” để các chủ thể kinh tế tin tưởng, yên tâm đầu tư, tham gia vào các hoạtđộng sảnxuất, kinh doanh. Thểchế tốt mớilàm các chủ thể kinh tế tin rằng mìnhsẽ được bảo vệquyền tài sản, các hợp đồng được thực thi một cách đầy đủ, tựdo và bình đẳng trong việc tham gia các hoạt động kinh tế (North D. C., 1991), (Coase, 1998), (Williamson, 2000). Tuy nhiên, dựa trên những bộ dữ liệu khảo sátcảtronglẫnngoài nước của các tổ chức uy tín như (Worlbank, 2022), (VCCI & USAID, 2022), (CECODES, VFF-CRT, RTA & UNDP, 2022) thì chất lượng thểchế kinhtếở Việt Nam còn ở mức trung bình thấp. Với chất lượng thể chế như vậy, “lòng tin” của các chủ thể vào các quy định, chính sách của nhà nước sẽ không cao, dẫn tới không thu hút mạnh mẽ được các chủ thểkinh tế tham gia vào nền kinh tế

2

hoặc hành động tự phát không theo đúng chiến lược phát triển chung. Trong “Báo cáo dòng chảy pháp luật kinh doanh” hàng năm của Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) phản ánh ý kiến các doanh nghiệp trong nền kinhtế đều cho rằng vướng mắc lớn nhất đối với quá trìnhhoạt động củadoanh nghiệp chính làthể chếkinhtế(Liên đoàn thươngmạivà công nghiệp Việt Nam, 2022). Dưới góc độ thể chế sở hữu, quyền sở hữu tài sản chưa được bảo vệ đầy đủ đặc biệt là đất đai và sở hữu trí tuệ. Còn nhiều rào cản thể chế đối với quá trình tự do kinh doanh cũng như

tạo sựbìnhđẳngtrong cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế. Thể chế quản lý nhà nước vẫn duy trì sự can thiệp nhiều vào nền kinh tế thông qua các biện pháp hành chính làm sai lệch các tín hiệu thịtrường. Thể chế quản lý còn chồng chéo, thiếu thống nhất trong thực thi quyền lực nhà nước đối với nền kinh tế. Thể chế phân bổ nguồn lực phát triển còn chứa đựng sự bất bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế, chưa thực sự tuân theo quy luật thị trường. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện thểchế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay.

Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề thể chế kinh tế ở Việt Nam, nhưng đây vẫn đã và đang là rào cảnlớncần tiếp tục tháo gỡ dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Thông qua nghiên cứu này, luận án góp phần đưa ra một hướng tiếp cận nghiên cứu thể chế kinh tế trên nền tảng kinh tế chính trị Mác – Lênin kết hợp với những lý thuyết kinh tế học thể chế mới nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế Việt Nam.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở phân tích các lý thuyết về thể chế kinh tế cũng như dựa vào các đánh giá thực tiễn trong nền kinh tế Việt Nam. Luận án tập trung tìm ra những mặt còn hạn chế, yếu kém từ đó đưa ra các định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế góp phần thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát triển.

3

2.2. Mục tiêu cụ thể

Thứnhất, xác định hướng tiếp cận nghiên cứu hoàn thiện thể chế kinh tế trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên lýthuyết kinh tế chính trị Mác – Lênin.

Thứhai, đánh giá thực trạng thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đặcbiệt là những mặt còn yếukém, hạn chế và tìm ra các nguyên nhân của những yếu kém, hạn chế này.

Thứba, đề ra định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế ở Việt Nam.

3. Câu hỏi nghiên cứu

Luận án thực hiện việc nghiên cứu nhằm tìm câu trảlờicho các câuhỏinghiên cứu cơ bản sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay có thể tiếp cận trên phương diện kinh tế chính trị Mác – Lênin như thế nào?

Thứ hai, thể chế kinh tế Việt Nam hiện nay còn tồn tại những hạn chế, yếu kém nào cần tiếp tục phải hoàn thiện và nguyên nhân của những hạn chế này là gì?

Thứ ba, cần có những định hướng và giải pháp cơ bản nào để có thể hoàn thiện thể chế kinh tế Việt Nam hiện nay?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu hướng vàođối tượnglà thể chế kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủnghĩa. Với đối tượng này, luận án tập trung đánh giá, phân tích các nội dung để tìm ra những mặt đã đạt được và những hạn chế, tồn tại cần khắc phục để từđó xác định được những định hướng và giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế Việt Nam.

4

4.2. Phạm vi nghiên cứu

4.2.1. Phạm vi về thời gian và không gian

Nghiên cứu phân tích, đánh giá thể chế kinh tế trong không gian nền kinh tế Việt Nam. Về mặt thời gian, là trong giai đoạn Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung vào thời kỳ 2011 đến nay (2022), từ khi Việt Nam xácđịnh thểchếlà một trong nhữngđộtphá chiến lượccầnhoàn thiệnđểthúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ.

4.2.2. Phạm vi về nội dung

Luận án phân tích, đánh giá vấn đề thể chế kinh tế của Việt Nam dựa trên các “thể chế kinh tế chính thức” – tức là những quy tắc được thiết lập thông qua một cơ chế được thừa nhận chính thức bởi cộng đồng (như Chính phủ, Quốc hội) mang tính chất hệ thống, và có giá trị thực thi cao như: Hiến pháp, Luật, Nghị định… Các“thể chếkinh tế phi chính thức” mặc dù có những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế, nhưng trong phạm vi luận án không đưa vào nghiên cứu.

Luận án hướng vào ba nội dung chính: thể chế sở hữu và các thành phần kinh tế, thể chếquản lý của nhà nước trong hoạt động kinhtế,thể chế phân phối nguồn lực phát triển. Trong đó,đối với thể chếsởhữu quy định về quyền sở hữu tài sản có nội dung bao quát rộng, vì vậy những nghiên cứu của luận án giới hạn nghiên cứu trong hai thể chế sở hữu quan trọng hàng đầu mang tính điển hình đã được đưa vào nghiên cứu trong nhiều bộ chỉ số đánh giá đó là: thể chế sở hữu tài sản hữu hình là đất đai và tài sản vô hình là sở hữu trí tuệ. Có nhiều góc độ tiếp cận những quy địnhđối với hoạt động của các thành phần kinh tế, trong khuôn khổ nghiên cứu này chủ yếu tập trung hai nội dung lớn ảnh hưởng đến các thành phần kinh tế đó là quyền tự do vàbình đẳng trong các hoạt động kinh doanh.

Đối với thể chế quản lý của nhà nước trong hoạt động kinh tế, luận án giới hạn nghiên cứu trên cơ sở những quyđịnh,cơ chế ngăn trở, hạn chế hiệu quả của nhà nước trong việc quản lý các hoạt động kinh tế, các khía cạnh quản lý khác như văn

hóa, xã hội… không đưa vào xem xét trong phạm vi nghiên cứu này.

5

Đối với thể chế phân phối nguồn lực phát triển, luận án tiếp cận nghiên cứu đối với các nguồn lực phát triển do nhà nướcnắmgiữvà thực hiện phân bổ để từđóđánh giá được các thể chế chính thức do nhà nước ban hành đối với quá trình phân phối này.

Do nghiên cứu tập trung vào vấnđề “hoàn thiện” nên những phân tích về thực trạng chủ yếu xoáy vàonhững mặt còn hạn chế để từđó có cơ sở đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế Việt Nam hiện nay. Những thành tựu của thể chếkinhtếViệt Nam có được đưa ra xem xét những không đi sâu phân tích.

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận nghiên cứu

Những nghiên cứu của luận án được thực hiện nhất quán trên cơ sở phương pháp luận khoa học biện chứng duy vật.Cụthể,để đảm bảoviệc đánh giá một cách khách quan, toàn diện, nghiên cứu đã đặt đối tượng “thể chế kinh tế” trong mối liên hệ với các yếu tố thể chế khác đặc biệt là yếu tố thể chế chính trị thông qua vai trò của Đảng Cộng Sảncơ quan quyền lực chính trị. Những cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị củaĐảng CộngSản Việt Nam có tầm ảnh hưởng quyếtđịnhtới việc định hìnhthể chếkinh tế mà cụ thể ở đây là những văn bản quy phạm pháp luật như Hiến Pháp, Luật, Nghị định… có liên quan đến lĩnh vực kinh tế. Vì vậy, nghiên cứu những quyết sách của Đảng và đặt nó trong mối liên hệ với các thể chế kinh tế là một việc làm cần thiết. Đồng thời, để đảmbảo tính lịch sử, cụ thể, việc nghiên cứu thể chế kinh tế trong luậnán dựa trên những đánh giá cụ thể trong từng bối cảnh của nền kinh tế – xã hội Việt Nam hiện nay.

5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong luận án là phương phápđịnh tính. Việc sử dụng phương pháp định tính trong nghiên cứu của luận án nhằm giảiđáp một cách thích hợp các câu câu hỏi nghiên cứu mang tính giải thích việc xác định

6

hướng tiếp cận nhưthếnào? Hạn chế nào trong thể chế kinh tế Việt Nam hiện nay, nguyên nhân là gì? Giải pháp như thế nào để hoàn thiện thể chế kinh tế Việt Nam?

5.2.1. Phương pháp trừu tượng hóa khoa học

Vấn đề thể chế kinh tế của Việt Nam là một vấn đề mang tính chất hệ thống, rộng lớn, phức tạp bao quát toàn bộ nền kinh tế. Chính vì vậy để tiếp cận nghiên cứu vấn đề này cần có sựtiếp cận mang tính hệ thống, trên cơ sở đánh giá, xem xét các vấnđề gạt bỏ những yếu tốmang tính tạm thời, ngẫu nhiên, không điển hình rút ra bản chất vấn đề cần nghiên cứu. Để xem xét đánh giá về thể chế kinh tế Việt Nam, luậnán đãxuất pháttừnhững vấnđềcụ thể trong từng khía cạnhcủahoạtđộngxây dựng và tổ chức thi hành thể chế kinh tế đó. Trên cơ sở xem xét các mặt, khía cạnh trên, tạm gáclạinhữngyếutố mang tính không điển hình, không bền vữngđể tìmra những đặc điểm mang tính bản chất của thể chế kinh tế Việt Nam hiện nay. Từ đó khái quát hóa thành cái chung để xác định nguyên nhân và giải pháp khắc phục phù hợp.

5.2.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp

Từkhung phân tích được xây dựng, luận án đã phân tích từng khía cạnh của vấn đề thể chếkinh tế trong đó tập trung vào ba nhóm nội dung cơ bản: thể chế sở hữu và các thành phần kinhtế;thể chếquảnlý của nhà nước đốivớihoạtđộngkinh tế; thể chế phân phối nguồn lực phát triển.Từviệc phân tích nội dung của ba vấn đề trên, luận án tổng hợp lại các vấn đề gồm những nguyên nhân hạn chế, yếu kém và giải pháp nhằm hoàn thiện thể kinh tế Việt Nam hiện nay.

5.2.3. Phương pháp so sánh đối chiếu

Để đánhgiá chấtlượng thểchếkinhtế ViệtNam hiện nay nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát, luận án thông qua việc so sánh các dữliệu từcác bộ chỉ số được các

tổ chức quốc tếthu thập và các bộchỉsố của Việt Nam để có cái nhìn khách quanvềchất lượng thể chế kinh tế. Trong nghiên cứu luận án so sánh chất lượng thể chế kinh tế Việt Nam qua ba bộ chỉ số “Chỉ số quản trị nhà nước” (WGI) của (Worlbank, 2022), “Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh” (PCI) của (VCCI & USAID, 2022), “Chỉ

NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

số Hiệu quả và hành chính công cấp tỉnh” (PAPI) của (CECODES, VFF-CRT, RTA & UNDP, 2022).

Bên cạnh đó, luận án cũng nghiên cứu những bài học kinh nghiệm xây dựng thành công thể chế kinh tế phát triển của một số quốc gia trong khu vực bao gồm Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, so sánh tìm ra những điểm chung có thể học hỏi nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế của Việt Nam trên các khía cạnh thể chế sở hữu, thể chế quản lý nhànước đối vớinềnkinh tế và thể chế phân phối nguồn lực của những quốc gia này.

5.2.4. Phương pháp thống kê mô tả

Để chứng minh cho các lập luận về tính hiệu quả của thể chế kinh tế Việt Nam, phương pháp thống kê mô tả được sử dụng nhằm thông qua mô tả các đặc tính của dữliệu thống kê thu thập được dưới dạng các bảng dữ liệu, đồ thị liên quan đến thểchế kinh tế của Việt nam, để từ đó đưa ra những đánh giá, nhận xét.

5.2.5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

Do vấn đề thể chế kinh tế liên quan nhiều ngành, lĩnh vực rộng lớn trong nền kinh tế nên để chứng minh, củng cố cho những lập luận đưa ra, luận án sử dụng các trường

hợp điển hình thực tế diễn ra trong nền kinh tế để minh chứng cho những luận điểm này. Những trường hợp điển hình được dẫn từ các nguồn chính thống, đáng tin cậy và có tầm ảnh hưởng đến các chủ thể kinh tế liên quan.

5.3. Phương pháp thu thập số liệu

Do phạm vi nghiên cứu của luận án có tính vĩ mô, bao quát toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, đòi hỏi lượng dữ liệu thu thập rất lớn và thực tế đã có nhiều cơ quan, tổchức uy tín trong và ngoài nước thực hiện thu thập cácdữliệu dưới các khía cạnh khác nhau có liên quan trực tiếp đến nghiên cứu. Vì vậy, phương pháp thu thập dữliệu được dùng trong nghiên cứu chủ yếu dựa vào phương pháp nghiên cứu tại bàn để thu thập các dữ liệu thứ cấp lấy được từcác báo cáo khảo sát.

8

Các dữ liệu chính phục vụ cho quá trình phân tích củaluận án đượcthu thập qua các bộ chỉ số đánh giá của các cơ quan, tổ chức uy tín đã được công nhận và sử dụng rộng rãi trong các công bố khoa học trong và ngoài nước.

Cụ thểcác bộ chỉ số chính:

(i) Bộ chỉ số “Quản trị toàn cầu” của Nhóm nghiên cứu Ngân hàng thế giới (WorlBank).

(ii) Chỉsốhiệuquảquản trị và hành chính công cấp tỉnhở ViệtNam (PAPI) của Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗtrợcộng đồng (CECODES), Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Đào tạo cán bộ Mặttrận Tổ quốc Việt Nam (VFF-CRT), Công ty Phân tích Thời gian thực và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP);

(iii) Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt Nam (PCI) của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID).

6. Kết quả nghiên cứu và đóng góp mới của luận án

6.1. Đóng góp về mặt lý luận

Đề xuất về hướng tiếp cận mới vấn đề hoàn thiện thể chế kinh tế trên cơ sở kết hợp lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin với những lý thuyết kinh tế thể chế hiện đại.

Lý luận của Mác – Lênin khi nghiêncứu vềquan hệ kinh tế tiếpcậntrên ba mặt cơ bản: quan hệsởhữu, quanhệtổ chức, quản lý và quan hệ phân phối, luận ánđãxây dựng hướng nghiên cứu thể chế trên cơ sở này. Nội dung hoàn thiện thể chế trong

từng mặt được xác định thông qua việc tiếp thu có chọn lọc những lý thuyết kinh tế hiện đại trong đó tập trung vào trường phái kinh tế thể chế mới với những nghiên cứu của (North D. C., 1990), (Williamson, 2000), (Acemoglu & Robinson, 2013). Hoàn thiện thể chế kinh tế được xác định theo hướng “dunghợp”nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển.

Đối với thể chế sở hữu cần hoàn thiện theo hướng bảo vệ mạnh mẽ quyền sở hữu đặc biệt là sở hữu tư nhân. Từ đó, tạo điều kiện, môi trường cho các thành phần kinh tế tựdo, bình đẳng trong việc tham gia các hoạt động kinh tế. Việc công nhận các

9

quyền sở hữu khác nhau về tài sản (kểcảđất đai), cũng như bìnhđẳnggiữa các thành phần kinh tế (không quan niệm thành phần nào là chủđạo)về mặtlý luận cũng nhưthực tiễn không làm mất đi tính định hướng xã chủ nghĩa của nền kinh tế thị trườngđang trong giai đoạn “quá độ”.

Đối vớithể chếquản lý nhà nước trong hoạt động kinhtế cầnphân định quyền lực trong hoạt động xây dựng và thực thithể chếrõ ràng, hợp lý tránh quyền lực tập trung một cách hạn hẹp trongmột sốít cá nhân hoặc nhóm nhỏ. Ngăn chặn cơ chế can thiệp mệnh lệnh, hành chính của nhà nước vào các quan hệ kinh tế gây ra sự sai lệch tín hiệu, quy luật thị trường. Xây dựng những quy định phân cấp, phân quyền rõ ràng, khoa học giữa các bộ phận thuộc bộ máy chính quyền nhà nước nhưng phải đảm bảo nguyên tắc tập trung, thống nhất tránh phân mảnh, cát cứ quyền lực.

Đối với thể chếphân phối cầnđảmbảoquyền tiếp cận công bằngvớicác nguồn

lực phát triển giữa các chủ thể kinh tế, các nguồn lực được phân bổ theo đúng nguyên tắc thị trường.

6.2. Đóng góp về mặt thực tiễn

Những nghiên cứu của luận án góp phần chỉ ra các hạn chế của thể chế kinh tế vànhững nguyên nhân của những hạn chế này trên cơ sở cách tiếp cận kinh tế chính trị Mác – Lênin. Trong những nguyên nhân dẫn tới những hạn chế, nghiên cứu cho rằng môi trường thể chế chính trị cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng. Nội hàm “định hướngxã hội chủ nghĩa” của nền kinh tế thị trường vẫn chưa được xác định thực sựrõ ràngdẫntới việc thểchếhóa thành các quyđịnhpháp luật còn nhiều vướng mắc, đặc biệtvấn đề sở hữu toàn dân về đất đai và vai trò chủ đạo của kinh tế nhànước.

Nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế của Việt Nam hiện nay, trong đó có một số giải pháp mới được đề xuất.

– Về thể chế sở hữu và các thành phần kinh tế.

Nghiên cứu chuyển từchế độ sở hữu đơn nhất(toàn dân) sang chế độ đa sở hữuđối với đất đai (nhà nước, cộng đồng và tư nhân). Thực hiện được điều này sẽ tạo

10

điều kiện cho các chủ thể nắm giữ đất đai tin tưởng, yên tâm khai thác sử dụng, kinh doanh tài sảnđấtđai. Cùng với đó,cầnloại bỏ những quyđịnhthuhồiđất còn chung chung, thiếu rõ ràng như thu hồi nhằm“pháttriển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng”.

Thành lập tòa chuyên trách xét xử về các vụ kiện liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đảm bảo tính chuyên nghiệp và nhanh chóng, hiệu quả trong xét xử.

Tách chức năng làm kinh tế ra khỏi các cơ quan chính quyền nhà nước, đồng thời không cần thiết phải giữ quan điểm “kinh tế nhànước giữvai trò chủ đạo” đểđảm bảo môi trường cạnh tranh tự do, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.

– Về thể chế quản lý nhà nước trong hoạt động kinh tế

Điều chỉnh luật Giá và các quyđịnhliên quan theo hướng những mặt hàng nào mà có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau như dịch vụ y tế, giáo dục,

điện, xăng dầu… cầnđể cho thị trường điều tiết thay vì nhà nước quyết định mức giánhư hiện nay.

Để đảm bảo thống nhất quyền lực nhà nước trong điều hành, quản lý kinh tế đặc biệt là trong hoạt động xây dựng và thực thi thể chế kinh tế cần nghiên cứu thành lậpđơn vị có vai trò là một siêu “Bộ Kinh tế” trên cơ sở hợp nhất các lĩnh vực Kế hoạch – đầu tưvớiTài chính.

Sớmxây dựng và ban hành Luật“Tổchức thi hành pháp luật” đểquy định rõ trách nhiệm của những cơ quan được giao quyền tổ chức thi hành pháp luật và cơ chế pháp lý để xem xét, xửlý đối vớinhững cá nhân, tổ chức vi phạm trong quá trìnhtổ chức thi hành pháp luật.

Xây dựng toà án Hiến pháp để đảm bảo không cơ quan chính quyền nào được đặt trên pháp luật.Vớisựra đời của tòa án Hiến pháp mọi hoạtđộngcủa chính quyền nhà nước đều phải tuân thủ theo đúng Hiến pháp, thượng tôn pháp luật cũng nhưđảm bảo các quyếtđịnhcủatoà án chỉ chịu sự chi phối cao nhất là các quy định pháp luật.

Quốc Hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể nghiên cứu thành lập riêng một cơquan chuyên mônvềhoạt động giám sát (Ủy ban giám sát thuộc Quốc hội, Ban giám

11

sát đốivới các Hội đồng nhân dân). Bộ phận chuyên môn giám sát sẽ góp phần giảm

tải cho các cơ quan khác trực thuộc Quốc hội, Hội đồng nhân dân tránh việc cùng lúc

phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau…Đồngthời,tạora tính chuyên nghiệp và thống nhất cho hoạt động giám sát.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận án được chia thành 04 chương:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiêncứu vềthể chếkinhtếtrong nền kinhtếthị trường.

Chương 2. Cơsởlý luận và thực tiễn về thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Chương 3. Thực trạng thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay.

Chương 4. Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

12

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước

1.1.1 Một số hướng tiếp cận nghiên cứu vấn đề thể chế kinh tế1.1.1.1 Hướng tiếp cận dựa trên sự tiến hóa của thể chế kinh tế

1.1.1.2. Hướng tiếp cận dựa trên tính chất của thể chế kinh tế

1.1.1.3. Hướng tiếp cận trên cơ sở nền tảng thể chế kinh tế hiện đại

1.1.1.4. Hướng tiếp cận dựa trên các đặc tính hiệu quả của thể chế kinh tế

1.1.2. Một số đánh giá tổng quan về vấn đề thể chế kinh tế ở Việt Nam

1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước

1.2.1. Một số hướng tiếp cận nghiên cứu vấn đề thể chế kinh tế

1.2.1.1. Hướng tiếp cận thể chế đối với chất lượng tăng trưởng kinh tế

1.2.1.2. Hướng tiếp cận các rào cản thể chế kinh tế đối với phát triển kinh tế – xã hội

1.2.1.3. Hướng tiếp cận trên cơ sở cơ cấu các yếu tố cấu thành thể chế

24

1.2.2. Một số đánh giá tổng quan về thể chế kinh tế Việt Nam

Hầu hết các nghiên cứu, đánh giá của các tác giả trong nước đều thống nhất nhậnđịnh ViệtNam trong suốt giai đoạn kinh tế từ Đổi mới đến nay đã từng bước có sựchuyển biến trong tư duy và hành động xây dựng thể chế kinh tế từng bước đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, yếu kém đòi hỏi tiếp tục phải nghiên cứu để hoàn thiện thể chế kinh tế Việt Nam hiện nay.

1.2.2.1. Những rào cản, các mặt hạn chế, yếu kém của thể chế kinh tế Việt Nam Lê

29

1.2.2.2. Những giải pháp để giải quyết những rào cản, hạn chế, yếu kém của thể chế kinh tế Việt Nam

1.3. Giá trị kế thừa và khoảng trống nghiên cứu 1.3.1. Giá trị kế thừa

Qua những nghiên cứu ngoài nước và trong nước, cóthể nhận thấy vấn đề thể chế kinh tế Việt Nam đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâmdưới nhiều góc độkhác nhau.

● Về hướng tiếp cận nghiên cứu

Trên cơ sở cách thức tiếp cận của trường phái kinh tế học thể chế mới, những nghiên cứu của luận án kế thừa cách tiếp cận dựa trên những thể chế chính thức (luật

lệ, quy tắc được nhà nước ban hành). Dựa vào những phân tích về tính chất thể chế (chiếm đoạt và dung hợp) của Acemoglu & Robinson (2013), luận án tìm ra những nội dung cần thiết để xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế của Việt Nam theo hướng phát triển bền vững (chủ yếu là dựa trên hướng xây dựng thể chế kinh tế dung hợp).

Những quytắc thểchế để đảm bảo tính hiệuquả cần thỏa mãn các tính chất cơ bảnđã được Kasper & Streit (1998) chỉ ra đó là tính phổ biến, tính chắc chắn và tính mở.

35

Ngoài ra, những yếu tố cần thiết đểxây dựng thể chế hiệnđại được Worlbank (2009) chỉ ra bao gồm: tăng cường phân cấp trao quyền và nâng cao trách nhiệm giải trình cũng là những gợi ý cho nghiên cứu kế thừa, đưa vào đánh giá các yếu tố này trong nghiên cứu.

Các hướng tiếp cận của các tác giả trong nước đã gợi mở những vấn đề quan trọngđể luận án tiếp tục mở rộng nghiên cứu.

● Về những đánh giá tổng quan về thể chế kinh tế Việt Nam

Phần lớn các nghiên cứu cả trong lẫn ngoàinước đềuđồng nhất quan điểm cho rằng thể chế kinh tế giữmộtvai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, thậm chí nócòn được coi nhưnền tảng đảmbảo sựbền vững của tiến trình phát triển của Việt Nam. Vai tròthểchếkinh tế và gắn liền với nó là những nội dung của thể chế kinhtế cần đượcchủđộngxây dựng phùhợpvớicảnh của từng quốc gia, trong từng thời điểm, hoàn cảnh xác định.

Hầu hết những phân tích đánh giávề thể chếkinh tế Việt Namđềughi nhận sựchuyển biến tích cựccủa chính quyền trong việc chuyển đổi thể chế kinhtế từkếhoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh

rất nhiều thành tựu đạt được, các nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước cho rằng thể chế kinh tế Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế, yếu kém cản trở đến quá trình phát triển của nền kinh tế. Từ những mặt hạn chế yếu kém này, các tác giả đã nêu ra nhiều giải pháp khác nhau nhằm góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế Việt Nam theo hướng hiệu quả.Đâylà những giá trị quan trọng để dựa vàođónhững tác giả luận án kế thừa, tổng hợp, phân tích, đưa ra những đánh giá của mình về thể chế kinh tế của Việt Nam. Đồng thời, trên cơ sở những đánh giá, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế yếu kém đề ra giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện hơn nữa thể chế kinh tế Việt Nam theo hướng phát triển.

1.3.2. Khoảng trống nghiêncứu

Trong phần tổng quan nghiên cứu, tác giả luận án nhận thấy có nhiều nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau về thể chế kinh tế Việt Nam mà luận án có thể kế thừa.

36

Tuy nhiên, vẫn còn những nội dung của thể chế kinh tế hiện nay cần tiếp tục được nghiên cứu hoàn thiện trên cơ sở những cách thức tiếp cận khác nhau. Vì vậy, luậnán dựa trên cách tiếp cận hệ thống, khoa học trên nền tảng lý luận cơ bản kinh tế chính trị Mác – Lênin kết hợp với những lý thuyết kinh tế hiện đại đặc biệt là những lý thuyết của trường phái “thể chế mới” để làm sáng rõ những vấn đề cần hoàn thiệnđối với thể chếkinh tế Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xãhội chủ nghĩa. Trong đó, cố gắng nghiên cứu làm rõ thêm nhữngảnhhưởng củathểchế chính trị mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa tới thể chế kinh tế.

37

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Luận án đã thực hiện phân tích tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước trên hai góc độ hướng tiếp cận nghiên cứu và những đánh giá tổng quan về vấn đề thể chếkinh tế Việt Nam hiện nay.

Phần lớn các nghiên cứu cả trong lẫn ngoài nước đều thống nhất cho rằng thể chế kinh tế giữ một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, thậm chí nó còn được coi nhưnền tảng đảm bảo sựbền vững của tiến trình phát triển của Việt Nam. Vai trò thể chế kinh tế và gắn liền với nó là những nội dung của thể chế kinh tế cần được chủđộng xây dựng phù hợp với cảnh của từng quốc gia, trong từng thời điểm, hoàn cảnh xác định.

Hầu hết những phân tích đánh giávề thể chếkinh tế Việt Nam đều ghi nhận sựchuyển biến tích cựccủa chính quyền trong việc chuyển đổi thể chế kinhtế từkếhoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh rất nhiều thành tựu đạt được, các nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước cho rằng thể chế kinh tế Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế, yếu kém cản trở đến quá trình phát triển của nền kinh tế.

Từnhững phân tích tổng quan, luận án thấy được những giá trịkếthừa cũng nhưnhững khoảng trống nghiên cứu để tác giả có thể khai thác về hướng tiếp cận, bối cảnh và những tác động mới của thực tiễn kinh tế – xã hội.

38

CHƯƠNG 2. CƠ SỞLÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ TRONG NỀN KINHTẾ THỊTRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

2.1. Thể chế và thể chế kinh tế

2.1.1. Khung khái niệm thể chế và thể chế kinh tế

Cho tới nay có nhiều khái niệmvềthể chế (institutions)đượccác nhà kinhtế, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước đưa ra vớihướng tiếp cận coi thể chế là những khung khổ pháp lý (quy tắc) quy định sự vận hành của xã hội tiêu biểu như khái niệm của Douglass C. North một trong những nhà kinh tếhọchàngđầucủa trường phái Kinh tế học thể chế mới: “thể chế là toàn bộ những quy tắc ràng buộc (constraints) do con người tạo ra đối với cấu trúc các tương tác chính trị, kinh tế và xã hội. Các quy tắc này đòi hỏi phải luôn gắn liền với một hình phạt (sanctions) cho hành vi vi phạm quy tắc.” (North D. C., 1990)

Tổ chức Ngân hàng thế giới (Worlbank) cũng cho rằng“thể chế là các quy tắc chính thức và phi chính thức điều chỉnh hành vi của tổ chức, cá nhân trong xã hội. Thể chế, với tư cách là“luật chơi” điều chỉnhcác tương tác, trực tiếp hạn chế, thúcđẩy, định hướng hành vi của con người, ràngbuộc sựchọn lựa của tổ chức, cá nhân

trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội.” (Worlbank và Bộ Kế hoạch đầu tư 2016, 455)

Theo Lê Du Phong (2018) “thể chế kinh tế là luật chơi chính thức (Hiến pháp, các bộ luật và Luật, các văn bản dưới luật, các chính sách và cơ chế tổ chức, thực thi các văn bản đó do nhà nước hiện thời đặt ra) và phi chính thức (các quy tắc bất thành văn, quy phạm những điều cấm kỵ mà các nhóm người trong xã hội tham gia hoạt động trong nền kinh tế tự nguyện tuân thủ) được đặt ra đối với các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinhtếcủa một quốc gia trong một giai đoạn lịch sửnhất định” (Lê Du Phong (Chủ biên) 2018, 16)

Trần Quốc Toản (2019) có cách tiếp cận khá rộng về khái niệm thể chế khi cho rằng thểchếkhôngchỉbao gồm các quy tắc (luật chơi) mà còn phải bao hàmcả cấu

trúc xã hội tạo điều kiện cho luật chơi ra đời:“Thể chế làphương thức vận hành (vận

39

động) của một cấu trúc xã hội, trong đó các chủ thể hoạt động và tương tác với nhau theo những quy định (quy tắc) xác định, trong những môi trường (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tự nhiên…) cụ thể, nhằm đưa cấu trúc xã hội đó vào một trạng thái – trình độ vận động phát triển nào đó với những mục tiêu đặt ra” (Trần Quốc Toản, 2019)

Từ những khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra, luận án kế thừa và đưa ra nhận thức về thể chế kinh tế: “Thể chế kinh tế là tập hợp các quy tắc được thiết lập nhằm chi phối, điều chỉnh các hoạt động kinh tế, cùng với những cơ chế và chế tài để đảm bảo việc xây dựng và thực thi hiệu quả các quy tắc đã được đặt ra.”

Như vậy, với khái niệm này khi nghiên cứu thể chế kinh tế cần xem xét các phương diện:

Các quy tắc xãhội(chính thức và phi chính thức) chi phối các hoạt động kinh tế. Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận án chủ yếu đề cập tới các quy tắc chính thức

bao gồm các quy định pháp luật (Hiến pháp, luật, nghị định, quyết định…) do các cơquan chính quyền ban hành.

Các cơ chế tức là toàn bộ phương thức để các quy định pháp luật được triển khai vào thực tiễn hoạt động kinh tế. Khi nghiên cứu thể chế kinh tế cần xem xét các cơchế để thể chế kinh tế vận hành có tạo thuận lợi hay gây khó khăn, cản trở các chủ thể kinh tế tuân thủ, thực hiện các quy định đã được chính quyền ban hành.

Các chế tài tức là trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể khi vi phạm các quy định pháp luật kinh tế. Theo đó cácchếtàicần có sựcông bằng, khách quanđảmbảođược thực thi một cách nghiêm minh.

Mở rộng khái niệm thể chế kinh tế, gắn với nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa ở Việt Nam, có thể hiểu thể chế kinh tế trong nền thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “tập hợp các quy tắc được thiết lập cùng với những cơ chế và chế tài nhằm chi phối, điều chỉnh các hoạt động của nền kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tếvậnhành đầy đủ, đồng bộtheo các quy luậtthịtrường,đồng thờiđảmbảođịnh hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển.”

40

2.1.2. Phân loại thể chế

North D. C. (1990) phân loại thể chế trên cơ sở cách thức áp dụng chế tài, thể chếđược chia thành hai loại cơ bản là thể chế chính thức và phi chính thức

Thể chếchính thức (formal) là những quy tắc được thiết lập thông qua một cơchế được thừa nhận chính thức bởi cộng đồng (như chính phủ, quốc hội, các tổ chức), các chế tài được thực thi mang tính chất hệ thống, bài bản và có giá trị thực thi cao như: hiến pháp, luật, quyền sở hữu tài sản… Các thể chế được xây dựng và đảm bảo thực thi bởi cả nhà nước lẫn các tác nhân phi nhà nước (như các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp, các cơ quan kiểm định).

Thể chế phi chính thức (informal) là những quy tắc không được phê chuẩn thông qua một cơ chế được thừa nhận chính thức bởi cộng đồng, các chế tài chủ yếu mang tính tự phát như: các điều cấm kỵ, sự trừng phạt, phong tục, truyền thống, quy tắcứng xử…

Dựa vào nguồn gốc của thể chế, Kasper & Streit (1998) đã phân chia thể chế thành thể chế bên trong và thể chế bên ngoài.

Các thểchế bên trong (internal institution) có nguồngốcra đời bởi chính những kinh nghiệm trong quákhứđượcđúcrút trong các hoạtđộngcủađời sốngcủamột cộng đồng.Nó bao gồm những quy tắc đượcđặt ra nhằm đảm bảo điều chỉnh các hành vi con người tốt nhất. Các thể chế bên trong được phân thành bốn loại cơ bản: (i) Các quyước (conventions) là những quy tắc tạora dựatrên những thỏa thuận mang tính tự nguyện, khiến người ta tự mình thực hiện vì lợi ích của bản thân. Nhưcác quy ước đơn vị đo lường, thanh toán…; (ii) Quy tắc nội tâm hóa (internalised rule) là những quy tắc được hình thành từ quá trình thường xuyên làm quen, trải nghiệm, hay được giáo dục tớimức khi gặp tình huống phát sinh sẽ tựphát tuân thủ theo những quy tắc này. Mọi người quađóbiến những quy tắc thành lựa chọn của cá nhân và áp dụng một cách phổ biến. Các quy tắc nội tâm hóa thường được biểu hiện rõ nhất qua những giá trị đạo đức. Vì vậy, những quy tắc này vừa mang tính lựa chọn cá nhân và mang tính ràng buộc từ cộng đồng. (iii) Tập quán và lề lối (customs & good manners) là những quy tắc được hình thành nên từ những thói quen được cộng

41

đồng thừa nhận và thực hiện. Các hành vi vi phạm được những người khác trong cộngđồng giám sát một cách phi chính thức, người vi phạm thường phải chịu những tiếng xấu, bị cách ly hoặc thậm chí loại trừ khỏi cộng đồng. (iv) Quy tắc bên trong chính thức hóa (formalised internal rule) là những quy tắc xuất hiện từ những kinh nghiệm nhưng được giám sát và áp đặt một cách chính thức trong phạm vi cộng đồng. Trong trường hợp những luật lệ mang tính nộibộ được cộng đồng thiết lập vàáp dụng thông qua một bên thứ ba đóng vai trò người phán xử, phán quyết (ví dụ như các hiệp hội, liên đoàn, tổ chức…).

Như vậy, việc vi phạm thể chế bên trong thông thườngsẽchịusựtrừng phạt phi chính thức (ba nhóm thể chế bên trong đầu tiên) như không được hưởng những giá trị lợiích khi không tuân thủ quyước, mặc cảm tộilỗi khi vi phạm quy tắcđạo đức, cách ly, loại trừ khỏi cộng đồng khi vi phạm những quy tắc do cộngđồngấy đềra. Tuy vậy, vẫn có những quy trình chế tài chính thức (nhóm thể chế bên trong thức tư)để áp đặt các thể chế bên trong.

Các thể chế bên ngoài (external institution) có nguồn gốc được áp đặt và chế tài từ trên xuống. Những quy tắc này thiết kế và thực thi bởi những người được cử ra đại

diện cho cộng đồng trên cơ sở một quy trình chính trị (quốc hội, chính phủ). Trường hợp điển hình của thể chế bên ngoài chính là các quy định pháp luật. Các thể chế bên ngoài luôn được xây dựng với những chế tài rõ ràng, được thực thi một cách chính thức (như các hoạtđộng xét xửcủa cơ quan tư pháp hay xử phạt hành vi vi phạm của các bộ máy công quyền) và có thểđược áp đặt bằng cách sửdụng quyền lực hợp pháp

(chẳng hạn như tòa án, cảnh sát, quân đội…).

42

Bảng 2.1. Phân loại thể chế chính thức, phi chính thức, thể chế bên trong,

thể chế bên ngoài

Thể chếchính thứcThể chế phi chính thức
Thể chế bên trongQuy tắc đã chính thức hóaQuy ước, quy tắcnội tâm hóa, tập quán lề lối
Thể chế bên ngoàiCác loại hình văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp, luật, nghị định, thông tư…)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Nhìn vào bảng 2.1, có thể phân biệt giữa các loại hình thể chế. Các thể chế bên trong có thể bao hàmcả thể chếchính thức và phi chính thức, còn thể chế bên ngoài chỉ tồn tại dưới dạng thể chế chính thức do đòi hỏi phải có một bên thứ ba xây dựng,áp đặt các quy tắc và chế tài.

Ngoài ra, trên cơ sở cách thức biểu đạt, theo Kasper & Streit (1998) thể chế có thểcòn được phân thành thể chế mang tính quy định (prescriptive) hay thể chế mang tính cấm đoán (proscriptive):

Thể chếmang tính quy định làtậphợpnhững quy tắc hướng dẫn các chủ thểnhững hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu cụ thể đề ra.

Thể chếmang tính cấm đoán là tập hợp các quy tắc nhằm loạitrừnhững hành vi không được chấp nhận. Những quy tắc cấm đoán không đưa ra những cách thức nhằmđạt được mục đích cụ thể, mà đưa ra những khuôn khổ để căn cứ vào đó các chủ thể tựchủ trong hành động không bị cấm đoán.

Kết quả của cả hai loại thể chế là hành độngcủa mọi người được phối hợp với nhau. Đối với thể chế mang tính quy định, sự phối hợp đó diễn ra thông qua một bàn tay hữu hình và theo kế hoạchcủamộtngườihay tổ chức lãnh đạo, còn với những quy tắc mang tính cấm đoán, mọi người sẽ phối hợp một cách tự nguyện và tự phát.

Dựa trên những cách thức phân loại trên, những nghiên cứu trong luận án chủ yếu xem xét vấn đề thể chế kinh tế dưới góc độ các thể chế bên ngoài tức là các thể chế

43

kinh tế chính thức được xây dựng và ban hành bởi cơ quan quyền lực nhà nước nhằmđịnh hướng, điều chỉnh, dẫn dắt, đảm bảo sựphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

2.1.3. Vai trò của thể chế kinh tế đối với các hoạt động kinh tế

Thứ nhất, gây dựng lòng tin giữa các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế

Kasper & Streit (1998) đã chỉ ra đối với một quốc gia, sự phát triển của nền kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu phải quan tâm thực hiện. Các lý thuyết kinh tế trong những năm 40 của thế kỷ XX trở về trước coi trọng nhân tố vốn (K) đối với quá trình tăng trưởng củamộtnền kinh tế. Thông qua việc tích lũy vốn ngày càng tăng sẽ thúc đẩy mởrộng sản xuất và tăng trưởng kinh tế. Đến những năm 1950, các nhân tố lao động (L) và công nghệ (T) được bổ sung. Giai đoạn những năm 1960, vai trò của nền giáo dục trình độ cao để hình thành nên những kỹ năng tốt (SK – skill acquisition) được đánhgiá cao.Vớinhững kỹ năng, tri thức có được, người lao động sẽ góp phần làm sử dụng vốn có hiệu quả, tiết giảm chi phí nhân côngvà sửdụng công nghệ thành

thạo. Yếu tố tài nguyên được (NR – natural resource) cũng được xem xét vào cuối thập niên 60. Đồng thời mức độ thay đổi cơ cấu kinh tế (ΔSTR – structure) cũng được coi làmộtphầncủasự phát triển. Nhưvậy, đến trướcnhững năm 70, các nhà kinhtếchủ yếu xem xét các nhân tố tăng trưởng chủ yếu bao gồm: K, L, T, SK, NR, ΔS

Từgiữa những năm 70 của thế kỷ XX, dựa trên việc đánh giá tổng thể quá trình

lịch sửkinh tế, các nhà kinh tế thuộc trường phái thể chế mới nhận thấy những tiến bộ trong nhân tố tăng trưởng như công nghệ, kỹ năng, cơ cấu kinh tế lại tập trung mạnh mẽ trong giai đoạn cách mạng công nghiệp. Điều này, chủ yếu gắnliền với những sự phát triển của thể chế kinh tế như quyền tài sản (property), vấn đề hợp đồng (contract), phân bổ tài nguyên và lao động. Những yếu tố chính thức của môi trường thể chế như luật lệ, quy tắc chính trị, pháp luật mang tính quyết địnhđối với sựphát triển của quốc gia (Williamson, 2000)

Các nhà kinh tế học thể chế mới khám phá ra vai trò quan trọng của thể chế kinh tế để thông qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một quốc gia đó là “tạo dựng

44

sự tin tưởng – confidence” giữa các chủ thể kinh tế. Các thểchế đượcthiết lập sẽ loại trừnhững hành vi nhấtđịnhvà thu hẹp phạm vi của các phản ứng có khả năng xảy ra, khiến cho chúng dễ đoán định hơn từ đó ngăn ngừa tình trạng hỗn độn và cáchứng xử tùy ý.

Thể chế giữvai trò quan trọng trong việc tạodựng sựtin tưởng giữa các chủ thể từđó kếtnối các chủ thể với nhau trong hoạt động kinh tế. North D. C. (1991) đặc biệt nhấn mạnh thể chếbảovệquyền sở hữu và nghĩa vụ hợp đồng là những thể chế quan trọng để các chủ thể kinh tế yên tâm khi tham gia vào các hoạt động kinh tế. Khi họ có được sựtin tưởng họ mới dễ dàng hợp tác, phân công lao động và chia sẻ tri thức. Với những quy tắc – luật chơiđã được đề ramộtcách minh bạch với những chế tài rõ ràng và đủ mạnh, nhữngchủthể kinh tế sẽ có xu hướng tin tưởng nhau hơn thi tham gia vào hoạt động kinh tế. “Chuyên môn hóa và phân công lao động toàn cầu đòi hỏi các thể chế và các tổ chức bảo vệ quyền sở hữu tài sản trên ranh giới giữa các quốc gia để thị trường vốn (cũng như các hình thức giao dịch khác) có thể vận hành với cam kết đáng tin cậy của một bộ phận người chơi.” (North D. C., 1991)

Thứ hai, hình thành động cơ thúc đẩy các chủ thể tham gia vào các quá trình kinh tế

Acemoglu & Robinson (2013) bằng lập luận về tính chất của thể chế (dung hợp hay chiếm đoạt) nhấn mạnh việc lựa chọn đúng đắn loại hình thể chế để vận hành nền kinh tế sẽ trực tiếpảnh hưởng đếnđộngcơ, và hành vi của các chủ thể kinh tế quađó thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một quốc gia. “Vì các thể chế ảnhhưởngđến hành vi và động cơ khuyến khích trong đời sống thực tế, nên chúng sẽ hun đúc nên thành công hay thất bại của các quốc gia” (Acemoglu & Robinson 2013, 69)

Trần Quốc Toản (2019) cũng chỉ ra vai trò hết sức quan trọng của thể chế kinh tế, nó có thể là động lực cho sự phát triển nhưng cũng có thể kìm hãm sự phát triển của đất nước. Vai trò chủ yếu của thể chế được xác định trên trên các mặt cơ bản:

(i) Thể chế xác lậpnềntảng pháp lý cho cấu trúc và vận hành nền chính trị – kinh tế – xã hộicủaquốc gia. Xác lập địa vị, vai trò, trách nhiệm, quyền và lợi íchcủacác chủ thể trong quá trình phát triển, nhất là vai trò của Nhà nước.

45

(ii) Xáclậpmô hình và thể chế nhà nước, nền hành chínhđểthực thi quyền lực chính trịgắnvớisựphát triểnmọimặtcủa xã hội. Phòng ngừa và ngăn chặnsựsuy thoái, tha hóa của quyền lực.

(iii) Đưa ra đường lối, chiến lược, mô hình, mục tiêu phát triển; xác định hệ giá trị phát triển; định hướng và điều tiết sự phát triển của xã hội.

(iv) Tạo lập khung pháp lý và điều kiện để kiến tạo và phát triển năng lực các chủthể, phát huy đúng vai trò của từng loại chủ thể; liên kết các chủ thể, các nguồn lực, các yếu tố theo những mô hình phát triển có hiệu quả.

(v) Tạo lập cơ chế, chính sách huy động và phân bổ mọi nguồn lực cho sự phát triển; tạo động lực phát triển (động lực tinh thần, động lực pháp lý, động lực lợi ích,động lực đạo đức…),nhất là động lực cộng hưởng thông qua sự liên kết giữa cácchủthể và các yếu tố; điều tiết hài hòa lợi ích phát triển giữa các chủ thể.

(vi) Tạo lập “sân chơi” lành mạnh, bình đẳng, minh bạch, phù hợp, hiệu quả đối với các chủ thể trong từng lĩnh vực.

(vii) Tạo lập và thực thi cơ chế vận hành thể chế, các luật chơi có hiệu quả; khắc phục, phòng ngừa các rủi ro, tiêu cực. Tạo lập khung khổ pháp lý để mọi hoạt động của các chủ thể trở nên minh bạch hơn, tin cậy hơn, giảm thiểu các rủi ro trong quá trình tương tác với nhau.

Thứ ba, tạo dựng nền tảng cho sự phát triển bền vững

Worlbank & Bộ Kế hoạch vàđầutư (2016) đã chỉ ra vai trò quan trọng của việcđổi mới thể chế ở Việt Nam. “Đổi mới thể chế giữvai trò nền tảng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội.” (Worlbank vàBộKế hoạchđầutư 2016, 451). Nghiên cứu cho rằng không có một khung khổ thể chế chung cho mọi quốc gia mà việc xây dựng thể chế đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm từng quốc gia và trong từng thời kỳnhất định.

Ngô Thắng Lợi (2019) khẳng định thể chế kinh tế (chính thức) có vai trò là “bệ đỡ” cho việc thực hiện các trụ cột của phát triển bền vững, nó có tác dụng chi phối để nhằm thay đổi hành vi của các chủ thể theo hướng tạo ra sự quan tâm đến sự phát

46

triển bềnvững của đấtnước trên cả ba trụ cột (kinh tế, xã hội, môi trường). Vai trò thể chế phát triển bền vững được xây dựng trên các nội dung:

(i) Hoàn thiện khuôn khổ định hướng chiến lược nhất quán cho cả quá trình

phát triển bền vững tại Việt Nam;

(ii) Hoàn thiện các thể chế quy định khuôn khổ hoặc chuẩn mực (hành lang) ứng xửmang tính nhất quán, phù hợp cho các chủ thể, các bên liên quan nhằm thực hiện các nội dung vàđạt được cácmụctiêu, chỉ tiêu phát triển bền vững;

(iii) Hoàn thiện một bộ máy thực thi pháp luật có hiệu quả nhằm hiện thực hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về phát triển bền vững, đặc biệt là việc loại bỏ các rào cản, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các chủ thể có thẩm quyền trong phát triển bền vững;

(iv) Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật công bằng, có hiệu lực, hiệu quả trên thực tế trong bảo đảm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về phát triển bền vững.

2.2. Các lý thuyết về thể chế kinh tế và sự vận dụng trong nghiên cứu 2.2.1. Các lý thuyết về thể chế kinh tế

2.2.1.1. Lý thuyết bàn tay vô hình

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Nghiên cứu hoàn thiện thể chế kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *