Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trìnhtốtụng hìnhsựđượcchia thành nhiều giaiđoạnkhác nhau và trong các giai đoạn đó các cơ quan nhất định được pháp luật trao cho thẩm quyền thực hiện một hay nhiều hành vi tố tụng trong giai đoạn tương ứng nhằm thực hiện nhiệm vụ để bảo đảm cho hiệu quả của việc giải quyết vụ án hình sự.
Bảo đảmtuânthủvà thực hiện nghiêm chỉnh pháp chếxãhộichủnghĩa là nguyêntắcchung trong các ngành luật. Trong lĩnhvựctốtụng hình sự,hoạt độngcủa Cơ quanđiềutra đóng vai trò rất quan trọng trong các cơquantốtụng hình sự. Cơ quanđiềutra là cơ quan tiến hànhtốtụng hìnhsựđầutiên trong toànbộhoạt độngtốtụng hìnhsựđểthực hiện nhiệmvụđấu tranh phòng, chốngtộiphạm, bảo vệphápchếxãhộichủnghĩa, trật tựpháp luật, an toàn xã hội, các quyền vàlợiích củaxã hội,củaNhànướcvà của công dân. Trong những chương trình, chiếnlượccảicáchtổchức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, thì các vấn đề liên quan đến việc nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa Cơ quan điều tra, bảo đảm cho hoạt động công tố của Viện kiểm sát và yêu cầu thực hiện hoạt động xét xửcủaTòa án nhằm bảo đảm đúng người, đúngtộivà đúng pháp luật, không bỏlọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oanngườivô tộiluôn luônđượccoi là một trong những vấn đề chính trị – xã hội có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Điềutra là khâuđột phá, là giaiđoạnđầu tiêngiữvai trò quan trọng trong toàn bộ tiến trìnhtố tụnghình sự. Thực tiễn đãchỉra rằng, “có thểnói những kết quảkhảquan cũng như những sailầmtư pháp nghiêm trọng nhất nhưbỏlọttộiphạm, làm oanngườivô tội… thường bắt nguồntừgiaiđoạn điều tra” [25, tr. 45]. Giai đoạn điều tra nhận đảm đương công việc thực chất về điều tra rõ sự thật phạm tội và truy lùngbị can đểlàm rõ người phạm tội. Thành công hay thất bạicủaviệcđấutranh phòng, chốngtộiphạm phần lớn
1
mức độ do công việc điều tra quyết định. Chỉ có qua điều tra mới có thể điều tra rõ tình hìnhvụán, xácđịnhviệc cótộiphạm hay không, truy lùngđược người phạm tội, cung cấp tài liệu, vật chứng và căn cứ đầy đủ cho Viện kiểm sát và Tòa ánđểtruycứuđượctrách nhiệm hìnhsựđốivớingườiphạm tội. Cho nên, có thể khẳng định rằng, “giai đoạn quyết đìnhvậnmệnh của bị can, bịcáo không phải là giaiđoạnxét xử,mà là giaiđoạnđiềutra” [48, tr. 20]. Bởi lẽ, Tòa án muốn xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật thì trước đó,Cơ quanđiềutra phải tiến hành thu thập đượccác chứngcứxácđịnhcó
tộivà chứngcứxác định vô tội và những tình tiết khác của vụ án, mà nhiệm vụ này lại do chính Cơ quan điều tra thực hiện. Do đó,vấn đề tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra là một trong nhữngvấn đề được đề cập nhiều trong sách báo pháp lývớicácmứcđộkhác nhau.Mặcdù vậy,vấnđềtổchức vàhoạt độngcủa Cơ quan điều tra vẫn đanglà vấn đề rất phức tạp,còn có nhiều ýkiến khác nhau khôngchỉởTrung Quốc và Việt Nam. Theo đó,ởViệt Nam,mặcdùBộChínhtrịBan Chấp hành Trung ươngĐảngđãban hành Nghị quyết số08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Vềmột sốnhiệm vụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” chỉ rõ:
BộCông ancầnthống nhất chỉhuy các Cơ quanđiềutra thuộc Bộ; mỗi đơnvị, bộ phận thuộc Cơ quan điềutra cần được tổchức, phân công chuyên sâu về từng lĩnh vực và quyđịnhrõ quyền hạn, trách nhiệm, đặc biệt là quyền hạn, trách nhiệm của từng chức danh trong Cơ quanđiềutra; kết hợpchặt chẽgiữa hoạt độngđiều tra và trinh sát; nghiêncứusát nhập các Cơ quanđiềutra thuộc Công an ở địa phương [15].
Hay Nghị quyết số49-NQ/TW ngày 02/6/2005, trongđó lạikhẳng định:”Nghiêncứuvà chuẩnbịmọiđiềukiệnđểtiếntớitổchứclạicác Cơ quanđiềutra theo hướngthugọnđầumối, kết hợp chặt chẽgiữa công tác trinh sát và hoạt động điều tra tố tụng hình sự” [16]. Tuy nhiên, thực tiễn lập pháp của Việt Nam trong thời gian qua cho thấy,nếuđốichiếuvớiyêu cầu
2
của Nghị quyết số 49-NQ/TW (đã nêu) thì mô hình của hệ thống các Cơ quan điềutra đangđượctổchức trên cơsởcác quyđịnh củaPháp lệnh Tổchức điều tra hình sự năm 2004, đã sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2009 (các điều 9-25) thểhiện một loạt nhữngnhượcđiểmlớn – các cơ quan này khônghềnằm trong cùng một hệthống chung và thống nhất từ trên xuống dưới, mà trái lại có nhiều hệ thống và nằm rải rác cùng một lúc trong nhiều cơ quan nhà nước khác nhau (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và ởcả các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt độngđiều tra – Bộ đội biên phòng, Kiểm lâm, Hải quan, Cảnh sát biển; v.v…), thậm chí ngay trong cùng một hệ thống các Cơ quan điều tra (như của Bộ Công an) cũng còn tồn tại nhiều đầu mối khác nhau – thực trạng manh mún và xé lẻ như vậy của mô hình hệ thống các Cơ quan điều tra hiện nay ở Việt Nam rõ ràng là chưa đáp ứngđúng yêucầucủa các nghị quyết (đãnêu) “theo hướng thu gọn đầu mối” [10, tr. 308-309]; v.v… Do đó, dưới góc độ khoa học – thực tiễn, đòi hỏi cần có sự nghiên cứu thấu đáo và đầy đủ để tiếp tục hoàn thiện về tổ chức vàhoạt độngcủa Cơ quan điều tra.
Trung Quốc (Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) có đơn vị hành chính gồm 22 tỉnh, năm khutựtrị, bốn thànhphốtrực thuộc Trung ương (Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải, Trùng Khánh) và hai vùng hành chính đặcbiệt
(Hồng Kông và Ma Cao). Thủ đô là Bắc Kinh. Từ khi tiến hành đổi mới kinh tếnăm 1978, Trung Quốc đãtrởthành nềnkinh tếphát triển nhanh nhất thếgiới. Xét riêng trong lĩnh vực xây dựng và cải cách pháp luật, đặc biệt là pháp luật tốtụng hình sự, nhìntừgócđộcủa Luật so sánh, chúng ta có thểthấy tronggầnhai mươi năm trước, những quyđịnhvềgiaiđoạnđiềutra trong Luật tốtụng hình sựcủa Trung Quốc và Việt Namvềcơbảncó nhiềuđiểm tươngđối giống nhau, đều coi trọng việc điều tra để làm rõ sự việc phạm tội và truy lùngbịcan, tôn trọng và bảo đảm pháp chế, – rất coi trọngsựcông minh, nghiêm chỉnhcủathủtụcvà trìnhtựtrong giaiđoạnđiềutra, songởmột chừngmực nhất địnhcòn chưa thực sự chúý đến việc bảo vệ các quyền
3
và lợi ích hợp pháp của bị can trong tố tụng hìnhsự. Đến nhữngnăm gần đây, cũng như ở Việt Nam, tùy theo xu thế phát triển của pháp luật tố tụng hìnhsựtrênthếgiới, Trung Quốc đãvà đang tiến hànhcảicách tư pháp, lập pháp, trongđó có các quyđịnh điềutrađểcó những thayđổicho phù hợp vớithểchếchính trị,tổchức bộmáy nhànước,cũng như cácđiềukiệnvềxã hội, kinh tế, văn hóa, lịch sử và mối tương quan với các cơ quan bổ trợ tư pháp vàcác cơ quan nhà nước khác. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, trong xuhướngkhông ngừngthúc đẩy đườnglối “pháp trị”, công tácđiềutra cũngđứngtrước những thách thức và áplựctrướcđây chưa từng phải đối mặt, nên sau một thời gian dài, từ năm 1997, Trung Quốc đãchính thức đặt ra vấn đề đổimới tổ chứcvà hoạt động của Cơ quan điều tra đểđối phó kịp thời và có hiệu quả về sự gia tăng về số lượng của tội phạm hình sựvà việc tăng cường pháp chế, nhưng do cơ chế điều tra không thuận lợi, tổ chức cơcấuđiềutra chưahợplý,sựđiềutra quá chú trọng vào việc truy bắt tội phạm mà xem nhẹ việc bảo vệ quyền con người, thông tin và kỹ thuật điều tra
lạchậu, mô hìnhđiềutrađơnnhất; độingũđiềutralựclượngmỏng, chất
lượngyếukém, cơchếvậnhành công tác điều tra chưa hoàn thiện; v.v… Tất cả những điều này làm giảm hiệu quả công tác điều tra, khám phá tội phạm, do đó cũng đòi hỏi phải nghiên cứu đầy đủ để có giải pháp khả thi khắc phục vấn đềnày, mà một trong những giải pháp quan trọng là nghiên cứu so sánh pháp luật và tiếp thu kinh nghiệm thực tiễn nước ngoài. Cụ thể, việc nghiên cứu so sánh các quyđịnh của vềCơ quanđiềutra của Trung Quốc và Việt Nam, quađóphân tích, đánh giá các ưu điểm và hạn chế, cũng như các hiệu quả chính trị – xã hội, kinh tế của việc tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra của hai nước sẽcó giátrịtham khảo caovềphương diện họcthuật và góp phần hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra, đồng thời mở rộng hợp tác trong điều tra hình sự của hai nước.
Tuy nhiên, hiện nay trong khoahọcpháp lý của Trung Quốc và của Việt Nam, việc phân tích chuyên sâuvềvấnđềso sánh này chưađượcquan
4
tâm nghiên cứu đúng mức. Đặc biệt, ở Trung Quốc, các chuyên gia pháp luật chủyếu nghiêncứuhệthống pháp lý quốctếvềhìnhsựtập trung vào các nướcnhư: HoaKỳ,Anh, Pháp,Đức,Ý, Nhật Bảnvà cácnướcphát triển khác, mà không chú ý đến sự khác biệt về điều kiện của các yếu tố nội bộ nhưthểchếchính trị,tổchứcbộmáy, cácđiềukiệnvềxã hội, kinhtế,văn hóa, truyền thống lịchsử;v.v… Do đó,các nghiêncứunày thông thường không đem lại lợi ích trực tiếp và cần thiết với sự cải cách hệ thống tư pháp hình sựnói chung,hệthống pháp luật tốtụng hìnhsựnói riêngcủaTrung Quốc. Do đó,cầncó sựnghiêncứuvớimột nướcmà có các yếutốnộibộtươngđồng hoặcgầnvới Trung Quốc (như Việt Nam), thì giá trịphụcvụcông cuộc cải cách tư pháp tốt hơn. Bởi lẽ, ở một gócđộ nào đó,thông qua những ưu điểm của việc tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Việt Nam và thực tiễn của nó có thể cung cấp cho chúng ta những kinh nghiệm lập pháp và bài học thực tiễn quý báu.
Do đó, với những lý do nêu trên, là một giáo viên giảng dạy pháp luật tốtụng hìnhsựcủaBộmôn Tư pháp thuộcHọcviện pháp lý -ĐạihọcDân tộcQuảng Tây(nướcCộng hòa nhân dân Trung Hoa), nghiêncứusinh quyết địnhlựachọnđềtài “Nghiêncứuso sánhvềtrìnhtựđiềutra giữa Luật tố
tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu
Mụcđíchcủasựso sánhvềđiềutra trong Luật tốtụng hìnhsựgiữa Trung Quốc và Việt Nam là thông qua nghiên cứu và so sánh để tìm ra những nét tươngđồngvà khác biệt điểnhình giữa chúng nhằm góp phần tạo thuận lợicho sựtương thích và hoàn thiện pháp luật vềđiềutra trongtốtụng hình sựcủaTrung Quốc trên cơsởtiếp thu có chọnlọckinh nghiệm lập pháp vàthực tiễn tố tụng hình sự của Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tàinày tập trung so sánh nghiên cứu chế định điều tra giữa Trung Quốc và Việt Nam. Theo đó,đề tàitập trung nghiên cứu so sánhmột sốvấn đề trongchế địnhnày như: nhiệm vụ, quyềnhạn điềutra của các cơ quan cóthẩm quyền điều tra trong những cơ quan tư pháp, những hành vi điều tra, cơchếkiểm sát các biện pháp cưỡngchế, quyềnlợivàđịavịcủangườibào chữa; v.v… cũng như đánh giá, phân tích các nội dung trongchế địnhđiều tra của hai nước; tổng kết những tácđộngtích cực và ảnhhưởngtiêu cực của chếđịnhđiều tra, từ đó chỉ ra những khuyết điểm và ưu điểm của các quyđịnhvềgiai đoạn điều tra ở hai nước. Trên cơ sở này, luận án này sẽ lấy một số kinh nghiệm lập pháp tố tụng hình sự của Việt Nam phù hợp làm mẫu cho việc cải cách và hoàn thiện trình tự điều tra trong Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc.
8
Đềtài với tên gọi là “Nghiên cứu so sánh vềtrình tựđiều tra giữa Luật tốtụng hình sựcủaTrung Quốc và Việt Nam” nhưng có phạm vi nghiên cứu khá rộng. Nếu ở Trung Quốc, chúng tôi sử dụng cụm từ “trình tự” đối ứng cụmtừtiếng Trung thì là “程序” [26, tr. 95], trong trường hợp tiếng Trung cónghĩa là “Đối với việc tiến hành một hoạt động hoặc quá trình thực hiện” [49, tr. 94], giốngtừ”Procedure” trong tiếng Anh; “程序” trong luậttốtụng thìgiống từ “Proceeding” trong tiếng Anh, có thể được giải thích là thủ tục và quátrình do các cơ quan tư pháp và các bên tham gia vụ án với những người tham gia khác cùng làm những việc để giải quyết vụ án, cũng như là các mối quan hệpháp lý giữa các chủ thể tố tụng [50, tr. 3]. Cho nên, “trình tự” trongLuật tố
tụng hình sựTrung Quốc bao gồmhai nghĩa:Thứnhất, giaiđoạncác hoạt độngchương trình và các quá trình; hai là, sắp xếp mốiquanhệ,phản ánh mốiquanhệgiữa cácchủthểtốtụng. Như vậy, “trình tựđiều tra” thì bao gồm nhữnghoạt độngvà quá trình điều tra, bên cạnh có mối quan hệ giữa các chủthểtốtụng trong giaiđoạnđiềutra.Vớinhững cơsởnêu trên, phạm vi nghiêncứucủaluận án nàyđượcxácđịnhlà so sánhchếđịnhđiềutra giữa Trung Quốc và Việt Nam, gồm có những vấn đề như: hệ thống tổ chức và cơchế lãnh đạo của tổ chức Cơ quan điều tra, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Luật tố tụng hình sự, thủ tục điều tra, các biện pháp điều tra, cơchế kiểm sát điều tra, những biện pháp ngăn chặn, vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra; v.v… Ngoài ra, sau khi so sánh chế định điều tra của hai nước, luận án còn đề ra các ý kiến để tiếp tục hoàn thiện chế định điều tra của Trung Quốc theo quan điểm chung của Luật so sánh (Luật so sánh là môn khoa học nghiên cứu và so sánh các hệ thống pháp luật các nước, nhằm tìm ra những nét tươngđồngvà khác biệt điển hình giữa chúng, trên cơ sở góp phần tạo thuận lợi cho sự tương thích và hoàn thiện của hệ thống pháp luật quốc gia so vớihệthống pháp luật cácnướcvà pháp luật quốctế,từđó góp phần hội nhập quốc tế trong lĩnh vực pháp luật).
9
Để thực hiện đề tài này, tác giả luận án chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh là chủ đạo. Theo phân loại cách thức so sánh dựa trên quy mô so sánh thìnộidung luận án này thuộc cách thức so sánh vi mô, nó là cách thức so sánh một cáchcụthể, trực tiếp một quy phạm pháp luật, một chếđịnhpháp luật củamột hệthống pháp luật vớimột quy phạm pháp luật, một chếđịnh pháp luật tươngứngcủa một hệ thống pháp luật khác.
Đồngthời, ngoàisửdụng phương pháp so sánh, các phương pháp khác như: quy nạp và phân tích, tổng hợp cũngđược ứngdụng trongđềtài này, có nghĩadựatrên cơsởthu thập, thống kê, tổng hợp,đốichiếu tư liệu, các công trình khoa học của các nhà khoa học – luật gia hai nước để phân tích các tri thức khoa học Luật tốtụng hình sự để rút ra kết luận khái quát chung và luận chứng các vấn đề tươngứngđược nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
5.1. Ý nghĩa khoa học
Luận án là công trình nghiêncứuchuyên khảođồngbộđầutiênđềcập và so sánh một cách có hệ thống và tương đối toàn diện nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn về chế định điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam. Có thể khẳng định rằng, nghiên cứu riêng biệt và độc lập về vấn đề so sánh này từ trước đến nay ở Trung Quốc chưa có bất kỳ công trình hay nhà khoahọcnào nghiêncứuvềLuật tốtụng hìnhsựViệt Nam và so sánh vớiTrung Quốc, do đó,kếtquảnghiêncứucủachủđềnàysẽcó một bước đột phálớnvềlý thuyết vàbổsung thêm kho tàng lý luận và thông tin pháp Luật tố tụng hình sự cho các học giả, nhà nghiên cứu, luật gia, giảng viên, đặc biệt làm cơ sở cho các nghiên cứu mở rộngtrong tương lai, có thể ở một mức độcao hơnđểtiếp tụcđẩymạnhcảicách lý thuyết vềtốtụng hìnhsựcủa Trung Quốc.
10
Luận án góp phần so sánhđểphát hiện nhữngđiểmtươngđồngvàkhác biệt củađiềutra trong Luật tốtụng hình sựcủahainước.Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, những năm gần đây,hệthống pháp luật củaViệt Nam đãghi nhận ở một mức độ nhất địnhvề mặt kỹ thuật lập pháp và sự hợp lý trong việc tổ chức và hoạt độngcủa Cơ quan điều tra, các chế định bổ trợtrong giaiđoạnđiềutrađểnâng cao việc tôn trọng và bảo vệquyền con người, vídụtrong giaiđoạnđiềutrađãthiết lập chếđịnhbào chữa, cho luật sư có mặt trongđiềutra,cấmhỏicung ban đêm, thiết lập sựkiểm tra, giám sát hoạt động điều tra, để hướng dẫn điều tra của Viện kiểm sát; v.v… những quyđịnhtiến bộ trong Luật tố tụng hìnhsựvà bài học kinh nghiệm của Việt Nam chắc chắn sẽ làm Trung Quốc hiểu rõ hơn những thách thức và phương hướngvềcảicáchhệthống pháp luật tốtụng hình sựcủamình, có thểcung cấp những tư liệu quý báu và cách thức giải quyết vấn đề trình tự điều tra cho Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh cải cách điều tra hình sự.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phầnMởđầu,Kết luận, Danhmụctài liệu tham khảo vàphụlục, nội dung của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đềlý luậnvềđiều tra và so sánhvềđiềutra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam.
Chương 2: Tổ chức và hoạt động điều tra, cơ chế kiểm sát điều tra vàcác chế định liên quan đến điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc vàViệt Nam.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về điều tra trong Luật tố tụng hìnhsựTrung Quốc trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm của Việt Nam.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA VÀ SO SÁNH VỀ ĐIỀU TRA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰTRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1.1. Khái niệm điều tra trong tố tụng hình sự
Trongđờisống xã hội, yêucầubảo đảmpháp chế, tôn trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm đến lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội, của cơ quan, tổ chức và của công dân là một đòihỏikhách quan trongsựnghiệp xây dựng và bảo vệTổquốc của bất kỳ Nhà nước nào. Tuy nhiên, khi có bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến các lợi ích đã trên, để xử lý nhanh chóng, kịp thời, Nhà nước sử dụng các thiết chế để tiến hànhxử lýtheo đúng quyđịnhcủa pháp luật. Trong quá trình này, bắt buộc phải tuân theo đúng các trìnhtự,thủtụcgiải quyết vụánđãđược pháp luật quyđịnh.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn và có nhiều hoạt độngkhác nhau, đồng thời có sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức vàcủacông dân. Quá trình nàyđượcbắt đầu từkhi cơ quan nhànướccó thẩm quyền tiếp nhậnđượctin báo vềtộiphạm và kết thúc cho đếnkhi có bảnán kết tội của Tòa án có hiệu lực thi hành. Các hoạt độngtố tụngnày được pháp Luật tố tụng hình sự quy định chặt chẽ nhằm phát hiện chính xác, kịp thời, nhanh chóng và xử lý công minh, đúng pháp luật các hành vi phạm tội xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của côngdân.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự có thể nói, gồm rất nhiều hoạt động khác nhau nhưngmỗihoạt động đềucó quanhệchặt chẽvà mật thiết với nhau. Do đó,để xây dựngvà hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực tưpháp hình sự, cũng như áp dụng đúngđắn các quy định trong mỗi ngành luật
12
trongđó vào thực tiễn, pháp luật Việt Nam và cácnước đềuphân chia quátrìnhtốtụng hìnhsựthành các giaiđoạn khác nhau, các giaiđoạnnày lànhữngbước,thủtụcnhất định do pháp luật quyđịnhchặt chẽvà do chủthểriêng biệt thực hiện. Giai đoạn trước làm tiền đề cho giai đoạn sau, giai đoạn saulạicó vai trò kiểm tra giaiđoạntrướcvàmỗigiaiđoạnđượccụthểhóa bằng một văn bản tố tụng hình sự. Pháp luật tố tụng hình sự các nước đều quy địnhchặt chẽ và đầy đủ nhữngtrình tự, thủ tục cho mỗi giai đoạn trongđó.
Điềutra,vớitư cách là một giaiđoạntrong quá trìnhtốtụng, nói chung, pháp luật tốtụng hìnhsựcácnướcđềukhẳngđịnh,là hoạt độngcómục đích khám phá và tìm ra sự thật khách quan, phụcvụyêu cầu đấu tranh phòng, chốngtộiphạm, bảo vệtrật tựan ninh, an toàn xã hội. Cụthể, trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm. Hoạt độngđiềutrađượcnhìn nhận và quyđịnh khác nhauởcác quốc giaphụthuộc vào quanđiểmchính trị, chính sách hìnhsự,trìnhđộvà cách thứctổchứcbộmáy phòng, chốngtộiphạm, các cơ quan bảo vệpháp luật – tư pháp ở từng nước hoặc từng giai đoạn xây dựngđất nước.
Nghiên cứu khoahọcpháp lý của Trung Quốc và Việt Nam cho thấy còn tồn tại nhiều quan điểm về khái niệm điều tra.
Trướchết,ởViệt Nam, theo các Từđiển Luật họcgiải thích rằng, “điềutra là công tác trongtốtụng hình sựđượctiến hành nhằm xácđịnh sựthật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ” [37] hay “điều tra làtìm hiểu, xét hỏi để biết rõ sự việc” [42, tr. 526]; v.v…
Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, cách hiểu phổ biến hiện nay đều quan niệm điều tra là hoạt động của Cơ quan điều tra trong điều travụ ánhình sự. Nói một cách khác, cách hiểu này cho rằng,điều tra là tổng hợp tấtcảcác hành vi thực hiện trong giaiđoạn điều tra và do một Cơ quan điềutra thực hiện. Chẳng hạn, trong cuốn “Tìm hiểu Luật tốtụng hình sự”, một sốtácgiảthống nhất giải thích rằng:
13
Điềutra là một giaiđoạncủaquá trìnhtốtụng hìnhsự,trong đó Cơ quanđiềutra áp dụng các biện pháp do Luật tốtụng hìnhsựquyđịnhđểxácđịnhtộiphạm vàngườithực hiện hành vi phạm tội, Viện kiểm sát kiểm sát hoạt độngđiềutra, quyết địnhtruytốbịcan làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án [12, tr. 30].
Hay quan điểm khác lại cho rằng: “Điều tra vụ án hìnhsựlà một giai đoạn tố tụnghình sự, trong giai đoạn này Cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quyđịnhđể xác địnhtội phạm và người phạm tội” [18, tr. 34]. Tuy nhiên, cũng có ý kiến lại cho rằng, cách hiểu này thể hiện ranh giới không rõ ràng giữa chức năng của Cơ quanđiềutravớihoạt động điềutra, đồngnhất giaiđoạn điềutravớihoạt độngđiều tra, coi hoạt động điềutragồmmọihoạt độngtốtụng trong giaiđoạn điềutra; nhìn nhậnvềhoạt độngđiềutra mang tính cụcbộ,phiến diện, bó hẹp phạm vi hoạt động điều tra chỉ được tiến hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Trên thực tếhoạt động điềutrađượctiến hành trong tất cảcác giaiđoạntốtụng hình sự, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự với những mục đích khác nhau để xácđịnhsự thật khách quan của vụ án [22, tr. 32].
Gầnđây, có quanđiểmgắnliềnvớihoạt độngđiềutracủaCơ quan điềutra,đặcbiệt là các nguyên tắctrong hoạt độngnày, thểhiện cảnhững hoạt độngchứng minh sự thật khách quan của vụ án và ý nghĩa của hoạt động điềutra, theo đó: “Điềutra là hoạt động tốtụngởnhững giai đoạnđầutiên củaquá trình tốtụngvớinhiệmvụchủyếu là khôi phụclạivụán, thu thập chứng cứ chứng minh có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải làngười phạm tội, mà nếu hoạt động điều tra không khách quan, toàn diện, đầy đủ, thìcó thể dẫn đến phiến diện, một chiều. Hậu quả của điều này có thể dẫn đếnnhững sailầmtrong việc giải quyết vụán như làm oanngườivô tội,bỏ
lọt tội phạm” [28; tr.52-53]; v.v…
Trong khiđó,ởTrung Quốc, quanđiểmphổbiến và thống nhất thì cho rằng: Điều tra là Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động điều tra chuyên
14
môn và sử dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp Luật tố tụng hìnhsự,đểxácđịnhsựthật khách quancủatộiphạm, bắt giữnghi phạm. “Hoạt động điều tra chuyên môn” có nghĩa là bao gồm các việc hỏi cung, lấy lời khai, thanh tra, kiểm tra, tìm kiếm, thugiữvật chứng hoặc chứngcứtài liệu, nhận dạng, bắt giữ; v.v…, để hoàn thành nhiệm vụ điều tra theo quyđịnhcủa pháp Luật tốtụng hình sự; những cáigọilà “các biện pháp cưỡngchế” bao gồmcảcác “hoạt độngđiềutra chuyên môn” có tínhcưỡngchế, chẳng hạn như thẩm vấn, tìm kiếm, thu giữ,bắtgiữ, ngoài ra,chủyếulà các biện pháp ngăn chặn cụ thể.
Theo chúng tôi, trong khoa học Luật tố tụng hình sự Trung Quốc, điều tra có thể được hiểu với tư cách là một hành vi, cũng có thể được hiểu với tưcách là một giai đoạn tố tụng.
Điều tra với nghĩa là một hành vi thì là một dạng hoạt động phát hiện, nghiên cứu, củngcố,ghi nhận, thugiữcác chứngcứcủa điềutra viên theo quyđịnhcủa luật điều tra.
Cònđiềutra với nghĩa là một giai đoạnthì là một giaiđoạncủatốtụng hìnhsự được tiến hànhsau khi có quyết định khởi tố vụ án nhằm làm rõ
tội phạm và người phạm tội. Trong giai đoạn này cơ quan có thẩm quyền (Cơ quanđiềutra) có nhiệmvụthu thập chứng cứ,làm rõ tộiphạm,ngườiphạm tội và các tình tiết khác của vụ án, làm kết luận điều tra và đề nghị truytố bịcan. Nó (giai đoạn điều tra này) thường được tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi Viện kiểm sát ra quyết định truytố bịcan ra trước Tòa án bằngbảncáo trạng và chuyển toànbộhồsơvụán cho Tòa án. Tuy nhiên, trongmột số trườnghợp thì việc điều tra lại được kết thúc bằng một trong các quyết định,đó là quyết địnhđình chỉvụán hoặc quyết địnhđình chỉ điều tra do Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát áp dụng. Trong luận án này, nghĩacủađiềutra có cả”hành vi” và “giaiđoạn“, có thểcoi làchế địnhđiều tra bao gồm các nội dung liên quan đến điều tra.
15
Như chúng ta đã biết, trongtố tụnghình sự có ba chức năng cơ bản vàquan trọng thuộc về các chủ thể khác nhau: Chức năng công tố (1), chức năng bào chữa (biện hộ) (2) và chức năng xét xử (3). Theo đó, chức năng xét xử thuộc về Tòa án, chức năng bào chữa (biện hộ) thuộcvềngười bào chữa, còn chức năng công tố thuộc về cơ quan nào? Ở đây, rõ ràng trong giai đoạn điều tra, Cơquan điều tra thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm và người phạm tội, còn buộc tội bị can trước tòa là chức năng của cơ quan làm nhiệm vụ công tố trước tòa (Viện kiểm sát). Nếu xem xét nhiệm vụ thì Cơ quan điều tra, cơ quan Công
tố là hai loại cơ quan khác nhau tồn tại độc lập, được tổ chức khác nhau và hoạt độngcũng khác nhau. Tuy nhiên,nếuđitừquanđiểmhệthống xem xét chức năng trung tâm thì hai cơ quannày đềuhướng tớimục đích là chứng minh tội phạm và người phạm tội, buộc tội bị can, bị cáo (công tố) hay nói cách chính xác hơn chức năng công tố là chức năng trung tâm của Cơ quan điều tra và cơquan làm nhiệm vụ công tố trước tòa. Cho nên, từ những vấn đề đó cho thấy, hoạt độngcủa Cơ quan điều tra phải hướng tới chức năng buộc tội bị can.
Tuy vậy,nếuxem xét quá trình điều tra là quá trình thu thập các chứng cứcủavụánđểxácđịnhsựthật một cách khách quan, toàn diện vàđầyđủ. Do đó,hoạt độngđiều tra của Cơ quan điều tra hướng tới việc buộc tội bị can, nhưng không phải vì thực hiện chức năng này mà quá trình thu thập chứngcứchỉlàm rõ các chứngcứ buộc tộimà không xác định chứngcứgỡ tội là điều tra không khách quan,điềutra phiến diện một chiều vàđiềunàycầnphải đượckhắc phục trên thực tế. Vì vậy, việcđiềutra thực hiện các chức năng buộctộiđúng, tránh “oan, sai“, thì bên cạnh tìm những chứngcứcó tội, cũng phải xác định cả những chứng cứ gỡ tội.
Đồng thời chỉ trên cơ sở xác định cả những chứng cứ buộc tội và gỡ tội và thấy có đủ các căn cứ để buộc tội thì việc điều tra đó mới khách quan, công tâm và toàn diện. Cũngcầnnói thêm rằng, hoạtđộngđiềutra hìnhsựlà hoạt động của Cơ quan điều tra hình sự áp dụng các biện pháp điều tra mà pháp Luật tốtụng hìnhsựquyđịnhnhằm chứng minh tộiphạm vàngườiphạm tội. Hoạt
16
độngđiềutrađòihỏiphải tôn trọngsựthật, tiến hành một cáchđầyđủ,toàn diện, khách quan và phải tuân thủ pháp luật, Cơ quan điều tra cấp chịu sự chỉđạo củaCơ quanđiềutra cấp trên trong hoạt độngđiềutra. Ngoài ra, hoạt độngđiều tra cần trú trọng tuân thủ nghiêm chỉnh các nguyên tắc của Bộ luật tố tụnghình sự như: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, nguyên tắc trách nhiệm khởitốvàxửlývụán; v.v…Đểlàm tốt điềunày, những hoạt động(biện pháp) do Cơ quanđiềutra áp dụng có thểlà: Khám xét, khám nghiệm hiện trường, tử thi, thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định, kê biên tài sản, đối chất, nhận dạng, khởi tố bị can, hỏi cung bị can; v.v… [11, tr. 60].
Những biện pháp điềutra hìnhsựđó đượchỗtrợcủacác biện pháp cưỡngchế mang tính quyền lực hoặc nó được thực hiện bởi các biện pháp này tácđộngtrực tiếp đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Ví dụ: Việc lấy lời khai của người làm chứng hay bị can, nếu Cơ quan điều tra phát giấy triệu tập mà những người đó khôngđến thìcó thể bị cưỡng chế bằng việc áp giải, tạm giam; v.v…
Từcácđặctrưngcủahoạt độngđiềutra nhưvậycho nên các hoạt độngđiềutrađềuphải tiến hànhdựatrên một cơsởpháp lý nhất địnhđó làquyết định khởi tố vụ án trừ trường hợp khám nghiệm hiện trường nhằm phát hiện dấu vết tội phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa với vụán, do vậy ởđâyđòihỏiphải kịp thời và khẩn trươngđểnắmbắt đượccác tình tiết cụ thể của vụ án, nếu chờ quyết định khởi tố thì có thể chậm, do vậy tính khách quan chính xác của hiện trường có thể bị sai lệch, khôngđảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm có hiệu quả thiết thực.
Tóm lại,từviệc nghiêncứucác quyđịnhvềđiềutra trong Luật tố
tụng hìnhsựTrung Quốc và Việt Nam, cũng như tổng hợp các quanđiểm khoa học, theo chúng tôi,điềutra trong tốtụng hìnhsựđượchiểu là một giaiđoạncủa quá trìnhtốtụng hìnhsự,trong đó Cơ quanđiềutra có
17
nhiệmvụáp dụng các biện pháp do Luậttốtụng hìnhsựquyđịnh đểxácđịnhtội phạm và người phạm tội,đồng thời Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động điềutra, quyết địnhtruytốbịcanđểlàm cơ sởcho Tòa án xét xửđúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
1.1.2. Vai trò của hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự
Nếuthừa nhận một vấnđềtrong xã hội:tộiphạm là hiệntượngtiêu cực xã hội thì cuộc đấu tranh chống tội phạm được coi là một điều tất yếu khách quan không thể thiếu được của mọi chế độ xã hội [28, tr. 5-6], [29, tr. 5]. Mặc dù vậy,vấnđềởchỗ,tạisao trong xã hội loàingườilạitồntạinhững hiện tượngtiêucựcxã hội,đặcbiệt làtộiphạm; làmthếnào đểloại chúng trong cuộc sống xã hội. Giải quyết vấn đề nàyliên quan đến nhiều ngành khoa học khác nhau, nhiều cơ quan khác nhau. Trong đó có Cơ quan điều tra đóng vai trò rất quan trọng trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệpháp chế, giữvữngkỷcương, trật tựpháp luật, an toàn xã hội, tôn trọng vàbảo vệ các quyền và lợi ích của xã hội, của Nhà nước và của côngdân.
Thông thường,đểgiải quyết vụán hình sựthường trải qua các giai đoạnsau đây: Khởitốvụán hình sự; điềutravụán hình sự; truytốngười phạm tội; xét xửvụán và thi hành án. Tùy thuộc vào mỗigiaiđoạntốtụng mà có nhiệm vụ tố tụng khác nhau, được tiến hành bởi những cơ quan tố tụng, người tiến hànhtố tụngvà những cơ quan khác có thẩm quyền tươngứngvàcó trình tự, thủ tục riêng được kết thúc bằng các văn bản khác nhau. Giai đoạn tố tụngtrước làm cơ sở, điều kiện cho giai đoạn tố tụng sau tạo nên quá trình
tốtụng hoàn chỉnh trong việc giải quyếtvụán hình sựđượckhách quan, chính xác và đúng pháp luật. Do đó,có thểkhái quát vai trò củahoạt động điều tra trongtố tụnghình sự như sau:
Một là, hoạt độngđiềutra có đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm xác định tội phạm và người phạm tội, hành vi của một người (bị can) có thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm hay
18
không, có tình tiết tăng nặng hay giảmnhẹtrách nhiệm hìnhsựnào; v.v… Nhưđãđề cập,quá trình giải quyết vụ án hìnhsự được thực hiện kể từ khicóvụ án hìnhsựxảy ra. Nó được bắt đầu từ khi nhận được tin báo về tội phạm, các cơ quan tiến hànhtố tụngcó thẩm quyền tiến hành điều tra, xác minh tin báo về tội phạm đó nhằm xác định tội phạm đó có hay không có dấu hiệu tội phạmđểra các quyết địnhphù hợp. Trong trường hợp xácđịnh có dấuhiệu tội phạm thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, cho phép các Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt độngđiều tra nhằm làm rõ tộiphạm vàngườiphạm tội,đồngthờiđượcquyền áp dụng một hay nhiều biện pháp ngăn chặn tội phạm và phòng ngừa tội phạm.
Hai là, hoạt độngđiềutra còn có ýnghĩa xác lập cơsởđểtruy cứu trách nhiệm hình sự và thực hiện nội dung của quyền công tố. Theo đó, khi có đủchứngcứchứng minh tội phạm vàngườiphạm tội, Cơ quanđiềutra viết bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố bị can ra trước Tòa án và chuyển toàn bộhồsơvụán, cùngbảnkết luậnđiềutra,đềnghị truytốsang Viện kiểm sát. Sau khi nhậnđượchồsơvụán cùngbảnkết luậnđiềutra, Viện kiểm sát cótrách nhiệm xem xét và khi thấyđủchứng cứchứng minh hành vi phạm tội của bị can thì Viện kiểm sát ra quyết định truy tố bị can trước pháp luật bằng bảncáo trạng,đồngthời chuyểnhồsơvụán vàbảncáo trạng sang cho Toàán.Tạiđây, khi nghiêncứuhồsơvụán mà thấy rằngvụánđãđủchứngcứchứng minh tộiphạm thì thẩm phánđượcphân công làm nhiệmvụchủtọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tòa án có trách nhiệm xét xửcông khai, quyết định hình phạt đốivớingườiphạm tội. Sau khi bảnán cóhiệu lực pháp luật, Tòa án ra các quyết định để thi hành bản án.
Như vậy, nếu giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được thực hiện bằng những hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, những cơ quan khác theo quy định củapháp Luật tốtụng hìnhsựViệt Nam có hay không có dấuhiệu phạm tội để ra một trong hai quyết định tố tụng: Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự; thì giai đoạn điều tra vụ án hìnhsự là
19
giaiđoạntiếp theo củaquá trìnhtốtụng. Quyết địnhkhởitốvụán hìnhsựthực chất là văn bản tố tụng cho phép Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt độngđiều tra nhằm giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng và đúng pháp luật.
Đến giai đoạn tố tụng hình sự, xét xử hình sự là khâu quyết định cuối cùng nhằm xácđịnhmột ngườicó phải làngườiphạmtộihay không. TheoĐiều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của Việt Nam và Điều 12 Bộ luật tố
tụng hình sự năm 1996 của Trung Quốc: “Không ai có thể bị coi là có tội vàphải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” thì kết luậnvềvụán do Tòa án thực hiệndựatrên cơsởxét xửvụán, nhưngđể thực hiện được việc xét xử thìphải có đủ chứng cứ xác định những tình tiết của vụ án hình sự mà những chứng cứ này chủ yếu được thu thập bởi các Cơ quanđiềutra.Mặcdù Cơ quanđiềutra không có quyền quyết định một người có phải là người phạm tội hay không, nhữngđể có chứngcứ chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm cơ sở cho hoạt độngtố tụngtiếp theo trong truytố,xét xửthì phải có hoạt độngthu thập chứngcứcủa Cơ quan điều tra. Chính vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự quyđịnhđiều tra vụ án là giai đoạn bắt buộc, trong đó các cơ quan tiến hànhtố tụngáp dụng mọi biện pháp do pháp luật tốtụng hình sựquyđịnh đểxác minh tộiphạm vàngườiphạm tội làm cơ sở cho Tòa án xét xử.
Ba là,điềutravụán trongtốtụng hình sựcòn góp phần bảo đảmsựtuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế trong luật. “Pháp chế như là tính thiêng liêngcủapháp luật, tínhbềnvữngcủacác quy phạm pháp lý… Pháp chếcó mốiquanhệchặt chẽvớipháp luật,vớibìnhđẳngvàvớisựtuânthủluật pháp, không một ai, không một người nào có bất kỳmột đặcquyền nào trước pháp luật…” [1, tr. 100-102]. Trong hoạt động điều tra hình sự, nguyên tắc pháp chế cònđược hiểuvới vai trò và ý nghĩa là sự cần thiết phải triệt đểtuânthủcác quyđịnhcủapháp luật (cảluật nộidung và luật hình thức) cóliên quan đến vụ án từ phía các chủ thể tiến hànhtố tụngvà tham gia quá trình điều tra vụ án hình sự. Nhấn mạnh hơn điều này, TS. Bùi Kiên Điện cho rằng:
20
Đòihỏi trên đối với Cơ quan điều tra càng có tính cấp thiết, xuất phát từvịtrí, chức năng, nhiệmvụcủachủthểnày vàmọivi phạm pháp luật, dò nhỏ,từphía Cơ quan điềutrađềutạo rakhảnăng lớn khiếnhoạt độngđiều tra đi chệch khỏi quỹ đạo của mình, gâytổnhạitrái pháp luật cho quyền vàlợiíchcủanhững người tham gia tố tụng, nhất là bị can [17, tr. 405].
Điều tra là hoạt động làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, do đó, các công việc, trình tự, thủ tục tiến hành cần phải tuân thủ pháp chế, tuân thủnghiêm chỉnh các quyđịnhcủa pháp luật trong việc áp dụng mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quyđịnhđể xác địnhtội phạm và người phạm tội, lập hồsơđềnghị truy tố; v.v…Nếuviệcđiềutra tuânthủpháp chếvà đúng pháp luật, sẽ tạo điều kiện cho việc truy tố của Viện kiểm sát và xét xử của Tòa án được đầy đủ, chính xác, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bốn là, điều tra trongtố tụnghình sự còn phản ánh nhiệm vụ chủ yếu của hoạt độngnày là “xác lập chân lý khách quan của hành viphạm tội đãxảy ra trong quá khứ, tạo cơ sở quan trọng cho việc đạt được mục đích chung của tố tụng hình sự” [17, tr. 405] do Cơ quan điều tra thực hiện, đó là thông qua hoạt động điều tra nhằm thực hiện mục đích – phát hiện chính xác, nhanh chóng,xửlý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, khôngđể lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Theo đó, có thể khẳngđịnhrằng:
Điềutra là khâuđột phá, là giaiđoạnđầugiữvai trò thành bại đối với cả tiến trìnhtố tụnghình sự… Có thể nói, nhữngkết quảkhả quan cũng như sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất nhưbỏ lọt tội phạm, làm oanngườivô tội… thường bắt nguồntừgiaiđoạnđiều tra. Vị trí của hoạt động điều tra… đối với công tác xét xử khôngchỉgiới hạn ở số lượngvà chất lượng chứng cứ mà Cơ quan điều tra cóthểcung cấp cho Tòa án mà thậm chí trong nhiều trường hợp sựnhậnđịnh,đánh giátộiphạm của Cơ quanđiềutra vàcủaViện kiểm sát còn quyđịnhcả giới hạn xét xử [25, tr. 30].
21
Năm là, khiđềcập đến hoạt độngđiều tra trong tốtụng hình sựkhôngthểkhông nóiđếntổchức của Cơ quanđiềutra hayngượclại, khi nghiêncứuvềtổchức Cơ quanđiềutra khôngthểkhông bànđếnhoạt động của chúng [31, tr. 45]. Nếu nhưhoạt độngđiều travụ ánhình sự chiếm vị trí quan trọng bảo đảm cho hoạt độngđúngđắncủacác cơ quan tư pháp trong việc giải quyết vụ án hình sự thì tổ chức Cơ quan điều tra là nền tảng cho sựhoạt độngđúngđắnđó.Thựctếđãchỉra rằng,vớiviệctổchức có hệthống thì hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chốngtội phạm sẽ được nânglên và cótác dụng thiết thực trong phòng ngừa, cũng như trong điều tra, khám phá mỗi khi tội phạm xảy ra. Cho nên, trong những chương trình, chiến lược cải cách tổchức và hoạt độngcủacác cơ quan tư pháp, thì cácvấnđềliên quanđến việc nâng cao hiệuquảhoạt độngcủa Cơ quanđiềutra,đảmbảo cho hoạt độngcôngtốvà yêucầubảo đảmviệc xétxửcủaTòa án đúng người, đúng tộivà đúng pháp luật cầnđượccoi là một trong nhữngvấnđềcó ýnghĩa vôcùng quan trọng.
1.1.3. Ý nghĩa của điều tra trong tố tụng hình sự
Giaiđoạnđiềutra có một vịtrí quan trọng trongmốitương quan với các giai đoạn tố tụng khác, nên do vậy ý nghĩa của nó thể hiện ở một số điểm dưới đây:
Một là, giai đoạn điều tra vụ án có nhiệm vụ quan trọng là: phát hiện, thu thập chứng cứ, kiểm tra, đánh giá chứngcứ, sử dụngchứngcứlập hồ sơđểđềnghịxửlý chính xác, có nghĩa xácđịnhsựthật khách quancủavụán. Nói một cách khác, nó làbướcđầuxácđịnhcó tộiphạmxảyra hay không. Trường hợp nếucó tộiphạmxảyra, thì làm rõ tính chất,mứcđộnguy hiểm củatộiphạm vàngườiphạm tội đểlàm cơsởcho việc ra quyết địnhtruy tố, quyết địnhđưavụ án ra xét xửhoặc quyết định đìnhchỉvụ án, bảo đảm cho công tác xét xử đúng người, đúngtộivà đúng pháp luật. Còn trường hợp nếu không có tộiphạmxảyra, Cơ quanđiềutra có thẩm quyềnsẽra quyết định không khởi tố vụ án hình sự trên những cơ sở chung.
22
Hai, hoạt độngđiềutra trongtốtụng hìnhsựcòn góp phần tôn trọng và bảo vệquyền con người. Theo địnhnghĩa chung của Văn phòng Caoủy Liênhợpquốcvềquyền conngườithì: Quyền conngườilà nhữngbảođảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tựdo cơbảncủaconngười” hay nói ngắngọnhơn: “Quyền con người lànhững quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không đượchưởng thìchúng ta sẽ không thể sống như một con người” [98, tr. 4].
Khái niệm quyền con người là:
Một phạm trù lịch sử – cụ thể, là giá trị xã hội cao quý nhất đượcthừa nhận chungcủanềnvăn minh nhân loại và làđặctrưng tựnhiênvốncó cầnđượctôn trọng và khôngthểbịtướcđoạt của bất kỳcá nhân conngườinào sinh ra trên tráiđất,đồngthời phải được bảo vệ bằngpháp luật bởi các quốc gia – thành viên Liên hợp quốc, cũng như bởi cộngđồngquốc tế [7, tr. 12].
Hoạt động điều tra còn có ý nghĩa xác lập cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự và thực hiện nội dung của quyền công tố, do đó, trong quá trình thực hiện hoạt độngnày, Cơ quanđiềutra có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế tự do hay một số biện pháp điều tra có liên quan, ảnhhưởngđến quyền con người, vì vậy,đòihỏihoạt độngđiềutra phải tuânthủnghiêm chỉnh pháp chế, tôn trọngsựthật, tiến hành các công việc một cách khách quan, toàn diện vàđầyđủvà tuânthủtheo đúng các trìnhtự,thủtụcdo luật định,cũng như trong việc áp dụng các biện pháp điềutra chính thống hay nghiệp vụ (như: khám xét người và chỗ ở, đồ vật, kê biên tài sản, áp dụng các biện pháp ngăn chặn; v.v…) để làm rõ hành vi phạm tội, làm rõ những chứng cứ xác địnhcó tội và chứngcứ xác địnhvô tội, qua đó khôngđể lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Ba là, chỉ có thông qua hoạt động điều tra tội phạm, Cơ quan điều tra mớicó cơsởđểtìm ra những nguyên nhân vàđiềukiện phạm tội,đểtừđó
23
đưa ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm có hiệu quả, dự báo và có kế hoạch hóa phòng ngừatộiphạm trong thời gian tới, quađó giữvữngổnđịnh an ninh, trật tự,an toàn xã hội, cũng như góp phần giáo dụccông dânýthức chấp hành pháp luật và quy tắc của cuộc sống xã hội xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, giai đoạn điều tra còn có nhiệm vụ mở rộng công tác đấu tranh chống tội phạm, thu thập các tin tức về các phương thức, thủ đoạn, các phương tiện thực hiện tội phạm khác ngoài phạm vi vụ án đang điều tra [35, tr. 12-13].
Năm là, cũng qua công tác điều tra hình sự, Cơ quan điều tra xác định được mức độ gây ra thiệt hại (hậu quả) do tội phạm và người phạm tội đã gây ra cho xã hội,đểlàm cơsởcho Tòa án quyết định mứcbồithường thiệt hại được phùhợp và chính xác cho người bị hại hay nguyên đơn dân sự trongvụán hìnhsự.
Sáu là, thông quađiềutra làm rõsựthật khách quancủavụán, Cơquanđiềutrađãgiữvững và bảo đảmpháp chế, ổnđịnh trật tựxã hội, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền. Đếnlượt mình, Nhà nước pháp quyền lại tiếp tục làm cho pháp luật về tổ chức và điều tra của Cơ quan điều tra, vềcác nguyêntắccủahoạt độngđiềutrađượchoàn thiện hơn,đầyđủhơn, tôn trọng và bảo vệquyền conngườihơn, cũng như bảo đảmgiải quyết vụán hình sự được khách quan, công bằng, dân chủ và đúng pháp luật hơn. Bởi lẽ, Nhà nước pháp quyền là Nhànướcmà trongđó,pháp luật được tôn trọng vàđềcao, pháp chếđượcngựtrị, các quyền vàtựdo củaconngườiđượcbảo đảm,đồngthời tất cảcác hành vi vi phạm pháp luật, trongđó có hành vi phạm tội lẫn hành vi vi phạm trong quá trình tiến hànhtố tụnghìnhsự đều bịxử lýnghiêm minh, kịp thời và đúng pháp luật.
Tómlại, đối với bất kỳvụ ánhìnhsựnào thìhoạt độngđiều tra cũng là hết sức cần thiết và quan trọng. Có thể khẳng định rằng nếu thiếu hoạt động điều tra thì Tòa án không có cơ sở để xét xử vụ án. Tòa án muốn xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì trước đó giai đoạn điều tra phải: thu thập
24
đượcnhững chứngcứchứng minh tộiphạm làngườiphạm tội. Tuy nhiên, luật cũng quyđịnhCơ quan điều tra vừa phải thuthập được nhữngchứngcứbuộc tộivà cảnhững chứngcứgỡ tội. Chứngcứxác định tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hìnhsựcủa bị can, cũng như chứng cứ xácđịnh các tình tiết khác có liên quancủavụán.Nếugiaiđoạnđiềutra không thuthập đầy đủ các chứngcứ hoặc việc thu thập chứng cứ có những vi phạm nghiêm trọngthủ tục tố tụngthì Tòa án sẽ trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Kết quả điều tra là cơ sở quan trọngđể bảo đảm tínhđúng đắn cho các quyết địnhtố tụngnhư: quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử; v.v…
Vì vậy,điềutra là một giaiđoạntốtụng có ýnghĩa rất lớnvềmặt lý luận và thực tiễn. Song các kết luận của Cơ quan điều tra không phải là những căn cứ duy nhất bắt buộc Tòa án phải dựa vào khi xét xử mà Tòa án phải tiến hànhđiềutratạiphiên tòa bằng việc kiểm tra, đánh giá và xácđịnhlạicác chứngcứ đãthu thập được trong giai đoạn điều tra để trên cơ sở đó mà ra bản án. Kết quảgiải quyết vụán hìnhsựphụthuộc rất nhiều vào giaiđoạnđiều tra. Theo đó,chỉkhiđiềutravụánđượcnhanh chóng, kịp thời và chính xác sẽ đẩy nhanh và mạnhtiến độ tố tụngđể giải quyết vụ án.
1.1.4. Điều tra trong các mô hình tố tụng hình sự
Những nghiêncứuvềđiềutra chịu ảnhhưởngsâusắccủalý luận nghiêncứumô hìnhtốtụng hìnhsự,cho nên phầnnộidungcủaluận án này trướctiên giới thiệu một sốlý luậnvềmô hìnhtốtụng hìnhsự.Thựctế,môhìnhtố tụnghìnhsự là sự thể hiện cách ứng xử của Nhà nước đối với người bịtình nghi phạm tội, quyết định toàn bộ quy trìnhtố tụng hướngtới sự tạo điều kiện thuậnlợicho cơ quan tiến hànhtốtụng hay làsựbảo vệquyềnlợicủa công dân và nhiều nội dung quan trọng khác.
Hiện nay, có hai mô hìnhtốtụng hình sựđặctrưng trênthếgiới,vềtên gọi thì có nhiều kiểu: một kiểu gọi là “mô hìnhtố tụnghình sự kiểm soát
tộiphạm” (Crime Control Model)vớihàmýđốilập với “mô hìnhtốtụng
25
hìnhsựcông bằng” (Due Process Model); một kiểu khác gọi là”hệtốtụng tranh tụng” (Adversarial system) với hàm ý đối lập với “hệ tố tụng thẩm vấn” (Inquisitorial system). Theo đó,vềcơ bản, thì hai kiểu phân loại là giống nhau, “mô hìnhtố tụnghình sự kiểm soát tội phạm” và “hệ tố tụng thẩm vấn” hướngtới sự tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tố tụng; mà “mô hình tố tụng
hình sự công bằng” và “hệ tố tụng tranh tụng” hướng tới việc tôn trọng và bảo vệquyềnlợicủacông dân.Hệthống giátrịcủamô hình “mô hình tốtụng hình sựkiểm soát tội phạm” cho rằng, việc trấn áp các hành vi phạmtộilàchức năng quan trọng nhất củatốtụng hìnhsự.Đểđượccoi là hiệu quả, môhình kiểm soát tộiphạm nàycầnhoạt độngtốtụng đượctiến hành nhanh chóng, dứt khoát và có tỷlệbuộctộicao.Sựnhanh chóng và dứt khoát vốn đượccoi làmụctiêucủamô hình kiểm soát tộiphạm, thì trong mô hìnhtố
tụng công bằng, chúng lại bị xem như sự lạm dụng quyền lực nhà nước, vì môhình tố tụng công bằngđược xây dựngtrên quan điểm tôn trọng các quyền cánhân và hạn chế quyền lực của các cơ quan và quan chức nhànước.
Mô hìnhtốtụng công bằng nhấn mạnhmộtquy trình tìm kiếm bằng chứng nặng tính hình thức thông qua tranh tụng. Mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm cho rằng, tự do quan trọng tới mức mọi hoạt động tố tụng đều phải hướng
tới mục tiêu hạn chế tội phạm, trong khi mô hình tố tụng công bằng lại cho rằng, tự do quan trọng tới mức mọi hoạt động tố tụng đều cần phải đảm bảo rằng, các
quyết định của Tòa án trong các vụ án hình sự phải được dựa trên những thông tin đáng tin cậy. Cả hai mô hình đều có mục tiêu là tự do xã hội. Một mô hình thì tìm cáchđạtđượcmụctiêuđóbằng việc nhấn mạnhmộtthủtụctốtụng hiệu quả đối với người vi phạm, trong khi mô hình kia thì nhấn mạnh việc hạn chếcó hiệu quả sự can thiệp của nhà nước vào cuộc sống riêng tư của công dân.
Vìđiềutra làmộttrong những giaiđoạncủatốtụng hình sự,nên lý luận mô hình điều tra cũng không thể thoát khỏi lý luận mô hìnhtố tụnghình sự,nhưnglạicó vài nét riêngbởigiaiđoạnđiềutra là giaiđoạnkhác với những giai đoạn tố tụng khác.
26
Nộidungchủyếuđượcđềcập đếntrong lý luận mô hìnhđiềutra làvấn đềthể chế điều tra, tức vấn đề phân phối quyền lực (lợi ích) của chủthểtrong việc điều tra, tươngứngvới mỗi kiểu mô hình điều tra là những phương án phân phối quyềnlực(lợi ích) khác nhau, khiến cho những xungđột vềquyền lực (lợi ích) xảy ra trong quá trình điều tra được giải quyết theo những cách hoàn toàn khác nhau. Như vậy, mô hình điều tra liên quan trực tiếp đến vấn đề chế ước quyền lực của Cơ quan điều tra và bảo đảm nhân quyền cho bịcan, đồng thời có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với công tác nghiên cứu pháp lý và so sánh triển khai các mô hình điều tra.
Những nghiên cứu về mô hình điều tra chịu ảnhhưởngsâu sắc của lýluận nghiên cứu mô hìnhtố tụnghình sự, nghiên cứu phân loại mô hìnhđiều tra hiện nay đều dựa trên cơ sở lý thuyết nghiên cứu mô hìnhtố tụnghình sự. Có thể dựa trên nhiều loại tiêu chí để phân loại các mô hình điều tra.
* Mô hình điều tra tranh tụng và mô hình điều tra thẩm vấn
Do điều tra là một khâu trongtố tụnghình sự, nên những đặc trưngtố
tụng hìnhsựđươngnhiên cũngđượcthểhiện ra trongcấutrúc trìnhtựđiều tra,từđó hình thành nênsựkhác biệt giữa hai kiểu mô hìnhđiềutra làđiều tra tranh tụng tronghệthống Commom Law vàđiềutra thẩmvấntronghệthống Civil Law. Chẳng hạn, cái tên mô hình điều tra “kiểu tranh tụng” đã nói lênđặctrưng cơbảnnhất củaloạiđiềutra này là tínhđốikháng trong quátrìnhđiềutra,tứctăngcườngvai trò và nănglựctốtụngcủabịcan, nhấn mạnh tính bình đẳngvà tínhđốikháng giữabịcan và Cơ quanđiềutra.Cụthểlà trong khi thẩm vấn, bị can có quyền im lặng, trước khi tiến hành thẩm vấn bước đầu, Cơ quan điều tra phải thông báo cho bị can biết điều này. Một khibịcan thực hiện quyền im lặng, cuộc thẩmvấncoi như kết thúc.Đồng thời, khi Cơ quanđiềutra áp dụng các biện pháp ngăn chặn,bịcanđược quyềnnhờluật sư trợ giúp pháp lý,mờingười bào chữa và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Trừ trườnghợp đặc biệt,bị can được quyền cho bảo lãnh trong quá trình điều tra, nhằm tạo điều kiện cho bị can có sự chuẩn bị đầy đủ
27
khi tham gia biệnhộ.Trongđiềutra, tất cảnhữngđộng thái nàyđềunhằm nâng cao vai trò và nănglực tố tụngcủa bị can, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cũng như tăngcườngphòng tránh nhữngtrởngạiđốivớibịcan. Quan trọng hơn là mô hình điều tra kiểu này cho phép bìnhđẳngquyền điều tra giữa hai bên truytốvà biệnhộ.Do đó,quyền điềutra không còn làđặcquyền riêng phía nhànước,ngườidân trong xãhộicũng có quyền tiến hànhđiềutra lấy chứngcứ,trong quá trìnhđiềutra, hai bên truytốvà biệnhộđềucó quyền điềutralấychứngcứđộclập, khôngchỉCơ quanđiềutra nhànướcmớicóquyền triển khaiđiềutratộiphạm mà luật sư bảo chữa cũng có thểnhờmột sốnhân viên chuyên trách (thường là thám tửtư và giámđịnhviên)đạidiện cho bên biệnhộtiến hànhđiềutra biệnhộ.Vềmặt thời gian, hai hoạt động điều tra này diễn ra đồng thời vàhạn địnhlẫnnhau, đối kháng vềmặt quyền điềutra giữa bên truytốvà bên biệnhộthậm chí có thểkéo dài cho đếnkhi xét xử tại tòa kết thúc. Nhìn từ gócđộ phươngpháp điều tra, luật sư bào chữa có thể ủy quyền cho thám tử tư, giám định viên trực tiếp điều tra sự tình vụ án và thu thập những chứng cứ cần thiết, bao gồm kiểm tra hiện trường, hỏi nhân chứng và nghiệm thu vật chứng; v.v…
Thậm chí có trường hợp, luật sư bào chữa cóthểnhờnhân viên của những cơ quan cảnh sát không tham giaxửlý án tiến hành kiểm tra hiện trường, nghiệm thu vật chứng và ra tòa làm chứng [88, tr. 27]. Trái lại, nét nổi bật trong mô hình điều tra thẩm vấn thể hiện ở tính chủ động và tính vận dụng rộng rãi quyền lực nhà nước trong quá trình điều tra, nhằm thu thập chứngcứphạm tội, tìm ra sự thật tội phạm, xác định người phạm tội, thông thường luật pháp nớirộng quyềnđiềutra thẩmvấnđốivới Cơ quanđiềutra vàhạnchếquyền tố tụng của bị can trong quá trình điều tra, về các mặt như phương thức hỏicung, thờihạnquản thúc giam giữ; v.v…đềucó sựkhác biệt tươngđối lớn so với mô hình điều tra tranh tụng. Điều quan trọng là, luật pháp của đasốcácnướctheo mô hìnhđiềutra thẩmvấnđềukhông thừa nhận vai trò tham gia của người bào chữa trong giai đoạn điều tra, một số ít cho phép người bào
28
chữa tham gia vào giai đoạn sau của điều tra nhưng quyđịnhcũng rất nghiêm ngặt, càng không cho phép người bào chữa được tiến hành lấy chứngcứ (chỉCơ quanđiềutramớiđượcphép điềutralấychứng),ngườibào chữachỉcóquyền xin được thu thập chứngcứ.
Chúng tôi cho rằng, điểm khác biệt chủ yếu giữa mô hình điều tra tranh
tụng và mô hình điều tra thẩm vấn hay cũng có thể nói cơ sở phân loại hai đối tượnglà: có xem bị can là chủ thể tố tụng có vai trò và vị trí bìnhđẳng với Cơquan điều tra hay không, quan trọng là có thừa nhận quyền điều tra lấy chứng độc lập của bị can và luật sư bào chữa hay không. Như trên đã nói, đặc trưng củamô hìnhđiềutra tranh tụng tronghệthống Common Law là tínhđối kháng trong giai đoạn điều tra, tức tăngcườngvai trò và nănglực tố tụngcủa bịcan, nhấn mạnh tính bìnhđẳngvà tínhđốikháng giữa bên truytốvà bên biện hộ, nhằm giới hạn quyền điều tra của bên truy tố trong quá trình điều tra. Vì thế quyền điều tra không chỉ thuộc về phía Cơ quan điều tra mà thành viên phổthông trong xãhộicũng có quyền tiến hànhđiềutralấychứngcứ,trong quá trình điều tra hai bên truy tố và biện hộ có quyền điều tra lấy chứng độc lập, bên truytốcó quyền triển khaiđiềutratộiphạm, bên biệnhộcó quyền nhờ người triển khai điều tra biện hộ.
Trái lại, nét nổibật củamô hìnhđiềutra thẩmvấnlà tínhđơnnhất, tính đơn quyền trong trìnhtự. Vớimô hình điều tra này, quyền điều tra riêng thuộc về phía Cơ quan điều tra nhà nước, cái gọi là điều tra ở đây là Cơ quan điều tra đơn phương tiến hànhhoạt độngđiều tra nhằm thu tập chứng cứ, tìm sựthật phạmtộivà xác minh tộiphạm. Trong toànbộquá trìnhđiềutra, quyền lực nhà nước được vận dụng một cách chủ động và rộng rãi, nhằm thu thập chứng cứ, tìm sự thật phạm tội và xác minh tội phạm và người phạm tội, Nhànướctrao toàn quyền tra hỏi, thẩmvấncho phía Cơ quanđiềutra, còn quyềntốtụngcủabịcan thì bịhạnchếhết mứccó thể.Điềuquan trọng là, luật pháp hầuhết cácnướctheo mô hình nàyđềukhông thừa nhận vai tròtham gia củangườibào chữa trong giaiđoạnđiềutra, một sốít cho phép
29
ngườibào chữa tham gia giaiđoạnsaucủađiềutra nhưng cũng quyđịnhrất nghiêm ngặt. Bị can và luật sư bào chữa chỉ được phép sử dụngkết quả điều tra có sẵn do Cơ quan điều tra cung cấp (tức có quyền tra cứu hồ sơ bên truy tố), nhưng khôngđượcphép độclập tiến hànhđiềutra; chỉCơ quanđiềutra mới có quyền thu thập chứng cứ, luật sư bào chữa chỉ có quyền xin phép thu thập chứngcứ, tứclà quyền xinđược bảo toàn chứng cứ. Chẳng hạn, luật sưbiện hộ ở Pháp tuy được phép có mặt tại hiện trường thẩm vấn, có quyền xem hồsơtrướcphiêndựthẩm và tiến hành chất vấn, phát biểu tại tòadựthẩm nếuđượcquan tòađồng ý, nhưng không có quyềnđiềutra cá nhân. Căncứtheo quy định trong “Luật tố tụng hìnhsựĐức”, bị can tuy có quyền ủy thác cho luật sư bào chữa trong quá trình điều tra, nhưng bị can và luật sư bào chữa đều không có quyền điều tra, kiểm sát tương ứng giống Cơ quan điều tra, chỉ có quyền xinđiềuchỉnh chứngcứ,mà khôngđượcphéptựđiềutra trực tiếp lấy chứng. Theo đó, trong mô hình điều tra tranh tụng, do bên truy tố và bên biện hộđồngthời tiến hành điềutra vàđốikháng với nhau, nênđượcgọilàđiều tra “kiểu tranh tụng“, còn trong mô hìnhđiềutra thẩm vấn, do Cơ quanđiều tra đơn phương vận dụng thẩm quyền của mình tiến hành điều tra nên được gọi là điều tra kiểu “thẩm vấn”.
* Mô hình điều tra tư pháp và mô hình điều tra hành pháp
Theo nguyên tắc phân loại nghiên cứu, với cùng một đối tượng, ta cóthểxem xét dướinhiều khía cạnh khác nhau,dựatheo những tiêu chí khác nhau, có thể phân chia nó thành những kiểu khác nhau, hình thành nên sự đa dạng trong nguyên lý mô hình. Đối với trình tự điều tra mà nói, ngoài việc cóthểcăncứvào vịtrí vàmốiquanhệtrong trìnhtựgiữa hai bênđiềutra vàbiện hộ để chia thành hai loại mô hình điều tra là: điều tra tranh tụng và điều tra thẩm vấn, ta còn có thể dựa trên tiêu chímốiquan hệ ba bên là “điều tra, biện hộ, xét xử” (tức xem xét trình tự điều tra có chịu sự khống chế tư pháp từphía tòa án hay không)đểchia thành hai loại là:điềutra tư pháp vàđiềutra hành pháp. Trìnhtựđiềutra chịusựkhốngchếtư pháp đượcgọilà mô hình
30
điềutra tư pháp; còn trìnhtựđiềutra không chịusựkhốngchếtư pháp, đơn thuần do Cơ quanđiều tra ra quyết định gọilà mô hình điềutra hành pháp. Nhìn chung, các nước phương Tây gồm các quốc gia có chế độ thông luật vàcác quốc gia có chếđộdân luật đềuáp dụng mô hìnhđiềutra tư pháp, tuy nhiên trước đó đại diện của những nước xã hội chủ nghĩa là Liên Xô cũ lại áp dụng mô hìnhđiềutra hành pháp.Mặcdù sựchênh lệchvềtruyền thống tưpháp và bề dày văn hóaxã hội đãtạo nên điểm khác biệt trongchế độ tố tụng của các quốc gia thông luật và các quốc gia dân luật, chẳng hạn trên phương diện tính chủ động của quan tòa, nếu đem so sánh cũng tồn tại sự khác biệt rõ
rệt. Nhưng với tư cách là những đại diện cùng kế thừa tinh thần tư pháp hiện đại phương Tây, chúng cũng có những nét tươngđồngnhất địnhvề mặt quan điểmvà thể chế tố tụng, bất luận là quốc gia thông luật hay dân luật, kết cấu trình tự điều tra đều kiên trì thể chế điều tra tư pháp tổ hợp ba bên điều tra – biện hộ – xét xử dưới sự giám sát,đônđốc và khống chế của quan tòa.
Khác với mô hình điều tra tư pháp, đặc trưng nổi bật của mô hình điều tra hành pháp mà Liên Xô cũ từng áp dụng là: trình tựđiềutra do Cơ quan điềutra (bao gồmcơ quan kiểm sát)chủđộngkhống chế, quan tòa không tham gia vào công tác điều tra, việc áp dụng các biện pháp điều tra mang tính ngăn chặn do Cơ quanđiềutra cân nhắc quyết định,vìthếthiếu trọng tài tưpháp (thẩm phán) trung lập để giám sát và khống chế hoạt động của Cơ quan điềutra,điềunàydẫnđếntoànbộtrìnhtựđiềutra thiếu kết cấutư pháp tổhợp ba bên bao gồm: điều tra – biệnhộ- xét xử, hình thành nên kiểu kết cấu điềutra hành pháp,tứctổhợp điềutra hai bên là Cơ quanđiềutra vàđối tượngchịu sự điều tra này.
1.1.5. Điều tra trong mối quan hệ với việc bảo vệ quyền con ngƣời Khái niệm quyền con người có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ dưới dạng
các quyềntựnhiêncủacon người.Dướichếđộchiếmhữunôlệ,người nôlệkhông được coi là con người, họ không có và không được xã hội thừa nhận các quyền con người.Chếđộphong kiếnđãlàmộtbướctiến hơn sovớichếđộ
31
chiếmhữunô lệ bước đầu trong việc dành lại quyền tự do và giải phóng con người.Đếngiai cấp tư sản, quyền conngườiđượcđềcập trực tiếp, giai cấp này lần đầu tiên biết nêu cao ngọn cờ nhân quyền, biết lợi dụng các tư tưởng tự do, bình đẳng, công lý… vốn là yêu cầu cấp thiết của tầng lớp nhân dân laođộng,tuyệt đốihóatựdo cá nhân,đặcbiệt nhấn mạnhyếutốcá nhân trong khái niệm quyền conngười(vídụ:quyền tưhữuthiêng liêng). Theo đó,lần đầu tiên các quyền con người được đề cập từ cuộc cách mạng tư sản Anh với Luật vềcác quyền năm 1689; sauđó chính thức ghi trong các văn kiện quan trọng như Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bìnhđẳng.Tạohóa chohọnhững quyền không ai cóthểxâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc“.ĐếnTuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1791 tiếp tụckhẳng định: “Người ta sinh ra tựdo và bình đẳng vềquyền lợi và phải luôn đượctựdo và bình đẳng vềquyền lợi“; v.v… Theo quanđiểmcủacác nhà triết họcthời đạikhai sáng của thếkỷ17 và 18 thì các quyền khôngthểtướcbỏđượclà các quyềntựnhiên do tạo hóa ban cho họ.Các quyền này khôngbịpháhủykhi xãhộidânsựđượcthiết lập và không một xãhộihay một Chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc “chuyển nhượng” các quyền này.
Các quyền khôngthểtướcbỏbaogồmcác quyềntựdo ngôn luận vàthểhiện, quyền tự do tín ngưỡng và nhận thức, quyền tự do lập hộivà quyền đượcbảo vệbìnhđẳngtrướcpháp luật. Tuy nhiên,đâychưa phải làbảnliệt kê đầy đủ các quyền mà các công dân có được trong một nền dân chủ. Các xãhộidânchủđồngthời thừa nhận các quyền dânsựnhư quyền đượcxét xửcông bằng, và còn lập nên các quyềnchủchốt mà bất kỳChínhphủdânchủnào cũng phải duy trì. Vì các quyền nàytồntạikhôngphụthuộc vào chính phủ, do đó chúng khôngthểbịluật pháp bãibỏcũng như khôngphụthuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó.
Việc điều tra trongtố tụnghình sự đểlàm sáng tỏ sự thật khách quan củavụán có liên quan thiết thực và chặt chẽvớiquyền con người một cách
32
mật thiết,nếuhoạt độngđiềutra đúng pháp luật,sẽbảo vệđượcquyền con người, nếu hoạt động này – có bất kỳ sai lầm nào, dù to hay nhỏ, nhiều hay ít,đều dẫn đếnhệ quả tiêu cực, xâm phạm quyền con người. Quyền điều tra quá
lớnmà khôngbịhạnchếthìsẽdễxâmhạiđếnquyền con người, mà trong giaiđoạnđiềutra quá coi trọngsựbảo vệquyền conngườithì khó đặt được mục đích điều tra. Đối với việc điều tra, một mặt phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầuvềđiềutra thu thập chứngcứphạm tội, tìm bắt bịcan, xác minh sựthật án, mặt khác phải bảo đảm quyềnlợicơbảncho nhữngđốitượngliên quan,đặcbiệt làbịcan,đồngthời không ngừngcảibiến,điềuchỉnh sao cho phù hợp với trình độ phát triển của xã hội, nỗ lực thực hiện nhữngđộngthái bình ổnvà cân bằngcủamối quan hệ giữa nhu cầu điều tra với bảo đảm tôn trọng nhân quyền.
Vì việcđiềutraảnhhưởngtớiquyền conngườinên pháp luật cầncó quy địnhđể hạn chế sự lợi dụngquyền lực của Cơ quan điều tra, điều tra viên xâm phạm quyền con người. Chẳng hạn, cácnướctheo hệthống Civil Law trong một thời gian dài chịusựchi phốicủaChủnghĩa Chân thực thực thể, lập pháp cho phép quan tòa dự thẩm hoặc trao thẩm quyền điều tra to lớn cho cảnh sát tư pháp, tuy nhiên từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai, các nước theo hệthống Civil law phổbiến tăngcườngkhốngchếpháp luật đốivớiquyền điều tra, đồng thời ngày càngbảo đảm hơn quyền lợi hợp pháp của bị can vànhữngđốitượngđiềutra liên quan. Trên phương diện khốngchếpháp luật đốivớiquyềnđiềutra, cácnướctheo hệthống Civil Law phổbiến áp dụng bốnbiện pháp dưới đây:
Một là, thực hiện nguyên tắc quan tòa bảo lưu, những biện pháp ngăn chặn nhưtạmgiam, khám xét, tịch thu, giám nghe; v.v… phảiđượcquan tòa phê chuẩn mới được áp dụng, Cơ quan điều tra khôngđược tự ý quyết định.
Hai là, nghiêm khắchạnđịnhphạm vi và trìnhtựhoạt độngđiều tra,đồngthời yêu cầu điều tra viên phải thi hành nhiệm vụ một cách khách quan, tuân theo những nguyêntắcđãđượcquyđịnhtrong việcđiềutra và lấy
33
chứng, các biện pháp điều tra bí mật phải phù hợp với “Nguyên tắc biện pháp cuối cùng“.
Ba là, thông quachếđộcấmlàm chứngcứhoặc vô hiệu hóa trìnhtựnhằm điều chỉnh những vi phạm trong điều tra.
Bốn là, hạn chế năng lực chứng minh của biên bản điều tra nhằm giảm bớt nhữngảnhhưởngtiêucựccủahồsơđiềutrađếntính khách quan, công bằng trong khâu xét xử tại tòa.
Vềphương diện bảo hộđốivớibịcan, cácnướctheo hệthống Civil Law hầunhư thừa nhận quyềnđượcbiết lí do bịbắt giữvà tính chất tốcáo, quyền im lặng khibị thẩmvấn, quyềnnhận sựhỗ trợ kịp thời từ phía luật sưsau khi bị bắt giữ, quyềngặp gỡvới người bào chữa, quyền thẩm tra tư phápđối với việc tạm giam và quyền xin bảo toàn những chứng cứ có lợi, luật phápÝ và một sốquốc gia khác còn cho phép luật sư bào chữa có mặt tạihiện trường khi bị can bị thẩm vấn. Tuy nhiên, từ sau thập kỷ 80 của thế kỷ 20, do tộiphạm khủngbốvàtộiphạm có tổchức ngày một gia tăng, cácnướctheo hệ thống Civil Law đã tiến hànhsửa đổi luật,mở rộngcác phương pháp điều tra lấy chứng bí mật của Cơ quan điều tra và hạn chế bớt quyền lợi của bị can.
Ngượclại, trong cácnướctheo hệthống Common Law, bắt đầutừgiai đoạn sau giữa thế kỷ 18 đã xác nhận quyền được biết lý do bị bắt giữ vàtính chất tố cáo, quyền im lặng, quyền luật sư hỗ trợ và quyền được bảo lãnh. Tuy nhiên, chođếnđầunhững năm 80 củathểkỷ20,nướcAnh vẫnkhông thừa nhận quyền thẩm vấn của cảnh sát đối với bị can, mặc dù thẩm vấn điều trasớmđãlà hành vi thường nhật bất thành văncủacảnh sát. Dođó,đểđẩy nhanh tiến trình điều tra sự thật vụ án, tại Điều 37 “Luật cảnh sát và chứng cứhình sự năm 1984” của Anhđãxác nhận quyền được phép tạm giam bị can để
lấykhẩu cung, “Luật xét xửhình sựvà trình tựcông bằng năm 1994” thêm một bướchạnchếquyền im lặngcủabịcan; đồngthời, một lượnglớncácđiềukhoản thành vănđãquyđịnhđốitượngbịtruytốcó trách nhiệm vànghĩa vụ cung cấp chứng cứ.
34
Năm 1987,vớisựthành lập củaCụcCảnh sát điềutratộiphạm lừa đảo nghiêm trọng và năm 2005 làCụccảnh sát điềutratộiphạm có tổchức nghiêm trọngđãmở rộngthẩm quyền của cảnh sát trong lĩnh vực điều tra tội phạm nghiêm trọng. Tuy nhiên, từ sau khi ban hành “Luật cảnh sát và chứng cứhình sựnăm 1984“, Tòa án Anh cũng kiên trì lập trường bàitrừnhững hành vilấycung và thu thập chứngcứphi pháp củaphía cảnh sát. Sau khi triển khai thi hành “Đạo luật nhân quyền“, Tòa án Anh quốcđặt toànbộnghiệp vụtư pháp quốcnộidướisựbảo hộcủa Côngước Châu Âuvềnhân quyền năm 1949, tăngcườngthẩm tra tư pháp nghiêm ngặt đốivớiđềnghịbắt giam, cưỡng chế lấy chứng, khởi tố của bên tố tụng.
Cũng giống nhưnướcAnh,nướcMỹqua “Cách mạng trật tựcông bằng” (Due process revolution)” vào thập kỷ60 củathếkỷ20,đãtriển khai toàn diệndựluật vềquyềnlợiquyđịnhtrong hiến pháp Liên bang vào tưpháp Liên bang và các Bang, sauđó không lâulạithông quasửađổinguyên tắcbàitrừhành vilấychứng phi pháp trongtốtụng, Sausựkiện “11-9”, thông qua Luật chống khủngbốđãmởrộng hơnnữathẩm quyềncủaCục điều tra Liên bang trên phương diện chống tội phạm khủng bố.
Qua những thayđối vềmặt lập pháp điều tracủahaihệthống pháp luật nêu trên, chúng tadễdàng nhận rađó chính làđộngthái làm cân bằng nhu cầu tìm kiếm điều tra và đảm bảo nhân quyền dựa trên những bối cảnh xãhội cụthể. Có thể nói, thu thập chứng cứ, tìm bắt bị can và xác minh sự thật vụ án trên cơ sở tôn trọng nhân quyền, có sự can thiệp của tư pháp đã trở thành hình mẫu giá trị cơ bản của trình tự điều tra nhà nước pháp quyền hiện đại.
Trung Quốc và Việt Nam về cơ bản đều thuộc mô hình tố tụng thẩm vấn, cuộc cải cách tư pháp đã và đang tiến hành đều cố gắng lấy những điểm tiến bộcủamô hìnhtốtụng tranh tụng, cũng như là ngày càng coi trọng quyền con người trong tố tụng hình sự. Với tư tưởng chỉ đạo là bình ổn và cân bằng nhu cầu điều travới bảohộnhân quyền, trên phương diện xây dựng và hoàn thiện điều tra cần tuân thủ ba nguyên tắc sau đây:
35
Một là, đồng thời chú trọng hai vấn đề khống chế tội phạmvà bảo vệnhân quyền, nhưng có thể ưu tiên thích đáng khía cạnh bảo vệ nhân quyền;
Hai là, tuânthủnộidung côngướcquốctế,tíchcựctiếp thu thônglệquốc tế liên quan đến tư pháp hình sự;
Ba là, xuất pháttừtình hình trongnướccầnđộtphá trọngđiểm,từng bướcđi lên. Vì thế,cầncoi trọngđiềuchỉnh kết cấutrìnhtựđiềutra, hoàn thiện quyđịnhluật pháp hiện hành. Tuy nhiên,vềbiện pháp, cóthểkhái quát theo ba phương diện dưới đây:
Phương diện thứ nhất,mở rộngquyền cho bị can và người bảo chữa. Căn cứ theo ý kiến nhận thức của giới nghiên cứu và những kinh nghiệm thực tiễn điều hành nhà nước pháp quyền, tác giả cho rằng, lập pháp nên thừa nhận những quyền lợi sau đây của bị can trong quá trình điều tra:
– Quyền được biết lí do bị bắt giữ và tính chất khởi tố; – Quyền không bị ép nhận tội;
– Quyền mời luật sư hỗ trợ pháp luật;
– Quyềncủangườibảo chữa gặp mặt nhữngbịcantựdo và có mặt trong những trường hợp điều tra không bị hạn chế;
– Quyền xin bảo lãnh;
– Quyền xin bảo toàn chứng cứ có lợi.
Phương diện thứhai, tăngcườngsựkiểm soát thẩm quyềnđiềutra. Trướchết, phảiđưanhững biện pháp điềutra ngoài luật như nghe trộm, cưỡngchếlấymẫu,điềutradụdỗ(cửđiềutra viên bí mật nằmvùng) vào phạm vi nộidungđiềuchỉnhcủaluật,đồngthời quyđịnhrõ phạm vi,điều kiện và trình tự án được phép áp dụng. Sau đó là hạn chế quyền khốngchế bịcan của Cơ quanđiềutra một cách thích hợp, phòng tránh hiệntượngbắt giam vô căn cứ và tạm giam quá thời hạn. Tiếp đến, cần phải hoàn thiện quy định luật hiện hành về trình tự và điều kiện tiến hành các hành vi điều tra lấy
36
chứng thông thường nhưđiềutra thu thập, tịch thu, thẩm vấn; v.v…,hạnchếquyềntựquyết của Cơ quanđiềutra trong quá trìnhđiềutra một cách thích hợp, cũng nhưphải bảo đảm quyền luật sư có mặt tạihiện trường, quyền xin thẩm tra tư pháp; v.v…, hạn chế những hành vi thẩm vấn điều tra, cưỡngchếthu thập chứng cứ, bắt giữ; v.v… Cuối cùng là phải hoàn thiện quy tắc chứng cứ,hạnchếnănglựcchứng minh củabiên bảnđiềutra, nghiêm khắc bàitrừ
lời chứng, vật chứng thu được từ việc thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật và xâm phạm quyền lợi hợp pháp, thủ tiêu động cơ điều tra phi pháp của Cơ quan điều tra.
Phương diện thứba, từngbướcđưavào mô hìnhđiềutra thẩm tra tưpháp. Từ những thông lệ quốc tế và kinh nghiệm vận hành nhà nước pháp trị cho thấy, các biện pháp điều tra mang tính ngăn chặn như bắt giữ, tạm giam; v.v… vềnguyêntắcđềucầnsựphê chuẩn thẩm tra tư pháp độclập.Đốivớithẩm tra tư pháp tạm giam mà nói, ở giai đoạn đầu, có thể duy trì quyền quyết định của Cơ quanđiềutra và viện kiểm sát,chỉkhibịcanbịbắt tạmgiam không đồngývới quyết đinh của các cơ quan nàymới đệ đơn đề nghị tòatiến hành thẩm tra tư pháp. Sau khicác điều kiện đầy đủ, thìquyền quyết định bắt giam và công tác thi hành thuộc về phía Tòa án.
1.2. CƠSỞCỦAVIỆC NGHIÊN CỨU SO SÁNH VỀĐIỀU TRA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
1.2.1. Đặc điểm của sự so sánh về điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam
Vớiđốitượngvà phương pháp nghiên cứu,sựso sánhvềđiềutra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam có đặc điểm sau:
* Về đối tượng nghiên cứu so sánh
Đốitượngnghiêncứuso sánhcủaluận án này trực tiếp nhằm đúng vào vấnđềvềđiềutra trong Luật tốtụng hìnhsựTrung Quốc và Việt Nam.
37
Tuy nhiên, đốitượngnghiên cứu của Luật so sánh có phạm vi khá rộng, bao gồmnhư pháp luật nướcngoài (hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm: tư duy pháp lý, nguồn luật… nghĩa làcảpháp luật trên giấytờlẫnpháp luật trong thực tế), pháp luật quốc gia, cơchếáp dụng pháp luật,hệthống các cơ quan bảo vệpháp luật, nghề luật; v.v… Việclựachọnvấnđềnào đểso sánh phụthuộc vào mục đích so sánh và mối quan tâm của Luật so sánh. Mặc dù chúng ta cóthểso sánh haihệthống pháp luật hoặc nhiềuhệthống pháp luật với nhau, có thể so sánh luật hình thức hoặc luật nội dung, có thể so sánh các quy phạm pháp luật của các hệ thống pháp luậtvớinhau hoặc so sánh tổng thể các hệ thống pháp luật; v.v… Đương nhiên, việc so sánh đòi hỏi các quy phạm pháp luật (đối tượng so sánh) phải điều chỉnh cùng một vấn đề. Chẳng hạn, không nênđặtvấnđềso sánh giữa các quyđịnhpháp luậtvềchứng khoáncủaViệt Nam với các quy định pháp luật về hôn nhân của Trung Quốc. Không nên so sánh các khái niệm, thuật ngữ trừu tượng, mà nên so sánh cách thức các hệ thống pháp luật điềuchỉnh cùng một vấnđềthựctếtrong cuộc sống.Đểcó thểso sánh đượchai quy phạm pháp luật, chúng chỉ cần có cùng chức năng (là điều chỉnh lĩnh vực quan hệ, một nhóm loại, một quanhệxã hội nào đó), chứ không nhất thiết phải cùngđạt được một mục đích.
Theo mụcđích nghiêncứucủađềtài này và lý luậnvềđốitượng nghiêncứucủa Luật so sánh, luận án này xácđịnhđốitượngcủanó làchếđịnhđiềutra trong Luật tốtụng hìnhsựTrung Quốc và Việt Nam,gồmcónhững vấn đề chính như sau: hệ thống tổ chức và cơ chế lãnhđạo của tổ chức Cơ quanđiềutra, nhiệmvụ,quyềnhạncủa Cơ quanđiềutra trong Luật tố
tụng hình sự, thủ tục điều tra, các biện pháp điều tra, các biện pháp ngăn chặn, vai trò của Viện kiểm sát đối với điều tra; v.v… các quyđịnhkhác nhau điều chỉnh nhưthếnào đốivớimột vấnđềnhất địnhnảysinhởcảhainước.Bởi vì, điều tra là một giai đoạn tố tụng có ý nghĩa rất lớn vềmặt lý luận và thực tiễn,sựso sánhvềđiềutra trong Luật tốtụng hìnhsựTrung Quốc và Việt Namsẽlà một vấnđềnghiêncứukhoahọcrất có giátrịkhôngchỉtrên
38
phương diện lý luận – thực tiễn, màcảýnghĩa chính trị- xã hội. Theo phân loại cách thức so sánh dựa trên quy mô so sánh thì nội dung luận án này thuộc cách thức so sánh vi mô, nó là cách thức so sánh một cáchcụthể, trực tiếp một quy phạm pháp luật, một chế định pháp luật của một hệthống pháp luật vớimột quy phạm pháp luật, một chếđịnhpháp luật tươngứngcủamột hệthống pháp luật khác.
* Về phương pháp so sánh
Trong khoa học Luật so sánh, quan trọng hơncảlà phương pháp so sánh, đặc biệt là so sánh lập pháp.
Vềphương pháp so sánh, luận án này cũngvậndụng những phương pháp thường dùng của Luật so sánh, nhưng trong qua trình nghiên cứu lại cóđặc điểm riêng, biểu hiện như:
Mộtlà, vì chất lượng củaviệc mô tả phụ thuộc vào khả năng và hiểu biết của người mô tả, khi thực hiện phương pháp so sánh trên cơ sở quan sát, mô tả khách quan, hiệu quả lại khác nhau, mà tác giả của luận án này có sống ở cả hainước, biết đượcnhiều tình hìnhcụ thểvềvăn bản pháp luật và thực tiễncủaviệcđiều tra trong Luật tốtụng hình sựTrung Quốc và Việt Nam, nên khôngchỉcó thểnghiêncứucác văn bảncụthể, mà còn có khảnăng nghiên cứu cả những khía cạnh khác nữa chẳng như thực tiễn áp dụng của hai nước, có thể phân tích, đánh giá một cách toàn diện.
Dướigócđộcủamột ngườinghiêncứuso sánh thì chúng ta có thểhình dung mỗi hệthống pháp luật như là cácbứctranh, bức ảnhvềphong cảnh HàNộihayBắcKinh,đểchúng ta có cái mà nói rằngđâylà cảnh của Việt Nam, còn kia là cảnh của Trung Quốc. Tuy nhiên, phải đặt câu hỏi: liệu bức ảnhvề Hà Nội hay Bắc Kinh đó thể hiện được bao nhiêu phần trăm thực tếcủa Trung Quốc và Việt Nam ? Vào thếkỷXIX, khi chúng ta coi việc so sánh pháp luật nghĩa là so sánh các văn bản pháp luật cụ thể của các nước, thì điều đó cũng giống như chúng ta xem tranh ảnh. Tuy nhiên, đến thời kỳ hiện
39
nay,nếuchúng ta chỉnghiêncứumột bức ảnhthì chưađủ.Chúng ta không chỉphải nghiêncứucác vănbảncụthể, mà còn phải nghiêncứucảnhững khía cạnh khác nữa của pháp luật.
Ví dụ: ỞViệt Nam có Luật giao thôngđườngbộ,nhưngnếuai chưa từngđếnViệt Nam thì sẽkhôngthểhiểu đượcLuật giao thôngđườngbộ
được thực hiện như thế nào ở Việt Nam, họ sẽ tưởngtượngviệc đi lại ở Việt Nam cũng tươngtựnhưởChâu Âu hoặc bất cứmột nơi nào khác trênthếgiới. Luật so sánh cũng như vậy. Chất lượngcủaviệc mô tảphụthuộc vào khả năng của người mô tả. Một bức ảnh, trong một chừng mực nào đó, không thểhiệnđượchết tất cảthực tiễncủađờisống. Vănbảnpháp luật cũng vậy. Do đó,khi chúng ta mô tảpháp luật, phải cốgắng mô tảsao cho thấyđược phần lớn thực tiễn pháp luật hiện hành. “Hiểu biết thực tiễn pháp luật nước ngoài thiếu chính xác thường dẫn đến việc so sánh pháp luật kém chất lượng, sai về thực tiễn và đôi khi còn tồi tệ hơn là không so sánh gì cả” [24, tr. 31].
Hai là, về phân loại phương pháp so sánh dựa trên cách thức tiến hành so sánh thì luận án này chủ yếu ứng dụng phương pháp so sánh tương phản vàđồngnhất,bởivì việc so sánh phải điđến kết quảlà tìm ra những nét tương đồng và khác biệt điểnhình giữa cácđốitượngso sánh,đồngthời đánh giátính hợp lý của các giải pháp pháp lý của hai nước, mà phương pháp này được sửdụng có thểphát hiện ra cácđiểmgiống nhau và khác nhau củachếđịnh điều tra của hai nước, từ đó có thể đánh giá, phân tích, lấy kinh nghiệm và tìm giải pháp với nhau.
Lý luận chungvềphương pháp so sánh tương phản vàđồngnhất của luật so sánh cho rằng, trong những trường hợp so sánh cụ thể, chúng ta có thểso sánhchỉcó mụcđích lý giảiđiểmgiống nhau (hoặc khác nhau)củađối tượngso sánh. Việc chọn cách tiếp cậnnào hoàn toànphụthuộc quanđiểm của người so sánh. Nếu chúng ta bắt đầu với giả định rằng các hệ thống pháp luật vềcơbảnlà giống nhau, thì nên tập trung vào khai thác cácđiểmkhác biệt.Ngượclại,nếuvềnguyêntắccáchệthống pháp luật là khác nhau, thì
40
nên giải thích những điểm tương đồng. Chẳng hạn, khi so sánh hệ thống pháp luật Việt Nam và hệ thống pháp luật Trung Quốc, nên tìm ra những điểm khác biệt. Tuy nhiên, khi so sánhhệthống pháp luật Việt Nam vàhệthống pháp luật HoaKỳ,thì việc lý giải nhữngđiểmkhác biệt và tươngđồngđềuthúvịnhư nhau. Thông thường, các luật gia so sánh nên cố gắng lýgiải cảhai mặt tươngđồngvà khác biệt, cho dù chúng ta có thểtiếp cậnvấnđềtheo cách nào. Sau khiđãso sánh và lý giảisựtươngđồngvà khác biệt giữa cácđối tượngso sánh, thì câu hỏi đặt ra là: giải pháp pháp lý của nước nào là tốt? Sựđánh giá này có thể là không mang tính bắt buộc, nhưngrất cần thiết đốivới các người có ý tưởng hoàn thiện pháp luật. Việc đánh giá tính hợp lý của các giải pháp pháp lý của các hệ thống pháp luật phải dựa trên những giá trị nhất định, những tiêu chí nhất định.
Với mục đích hoàn thiện pháp luật về điều tra trong Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc, luận án này khi sử dụng phương pháp so sánh tương phản và đồngnhất, không những tìm ra các điểm giống nhau và khác nhau của chếđịnhđiềutracủahainước,mà còn đánh giá cácsựkhác biệt,đồngthờicốgắng láy kinh nghiệmcủaViệt Nam và góp phần tìm giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều tra trong Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc.
1.2.2.Mụcđích của việc so sánhvềđiềutra trong Luậttốtụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam
Luật học so sánh là lý luận, hay là môn khoahọctrong các ngành khoa học pháp lý. Mục đích của nó là nghiên cứu và so sánh các vănbảnquy phạm pháp luật vàhệthống pháp luật khác nhau vớinhau và với các quy phạm của Luật quốctế,làm sáng rõ sựgiống nhau và khác nhau, xác định khuynh hướng phát triển chung của pháp luật [39, tr. 6].
Cũng có thểnói làmụcđích của Luật so sánh là tìm ra những nét tươngđồngvà khác biệt điển hình giữa các hệ thống pháp luật của các nước,
41
lý giải được nguyên nhân của sự tươngđồngvà khác biệt đó; đồng thời đánh giá tínhhợplý của các giải pháp pháp lý của các hệ thống pháp luật. Điều này rất quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật quốc gia. Như vậy, sau khi đã so sánh các văn bản pháp luật và thực tiễn của hai nước về chế định điều tra trong Luật tố tụng hình sự, lý giải sự tương đồng và khác biệt giữa các đối tượng so sánh, thì câu hỏi đặt ra là: giải pháp pháp lýcủanước nào là tốt? khả thi? Sựđánh giá này rất có tínhcầnthiết đốivới sựhoàn thiện pháp luật vềđiềutra trong Luật tố tụng hình sự.
Do đó, mục đích của sự so sánh về điều tra trong Luật tố tụng hìnhsựTrung Quốc và Việt Nam được xác định là qua sự nghiên cứu và so sánh cácđối tượngnêu trên, đặc biệt là nghiên cứu về điều tra, về tổ chức và hoạt động củaCơ quanđiềutra, các nhiệmvụ,quyềnhạncủaCơ quanđiềutra và các thiết chế liên quan; v.v… nhằm tìm ra những nét tươngđồngvà khác biệt điển hình giữa chúng, trên cơ sở góp phần tạo thuận lợi cho sự tương thích và hoàn thiện pháp luật về điều tra trong Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc so với pháp luật Việt Nam.
1.2.3. Ý nghĩa của việc so sánh về điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam
Trướchết phải khẳngđịnhrằng, việc nghiên cứu Luật so sánh không chỉnhằm xác định khuynh hướngphát triển chung của pháp luật. Chức năng đầutiên và quan trọng nhất củaluật so sánh làhỗtrợcho các cơ quan lập pháp xây dựng pháp luật.Lịch sử đãcho biết rằng quá trình thống nhất luật tưở Đức đãphải dùng đến phương pháp so sánh. Người ta không chỉ xem xét tới các luật lệkhác nhau có hiệulựctạiĐức,mà còn xem xét tớicảluật lệcủa Pháp, Hà Lan, ThụySỹvà Áo [13].Sựcầnthiết nhất thểhóa vàhộinhập pháp luật của cácnướclàhệ quả tất yếu của quá trình toàn cầu hóađời sống kinh tế thế giới. Do đó, Luật so sánh phải tìm ra nhữngvấn đề cụ thể nào cần thống nhất; những đặc điểm chung, sự giống nhau và sự khác nhau của các hệthống pháp luật của các nước; căn nguyên của sự khác biệt giữa các hệ thống
42
pháp luật; và phải xây dựng các giải pháp cho tiến trình nhất thểhóa và hội nhập pháp luật. Luật so sánh có tác dụng vô cùng to lớn trong việc xây dựng một số lĩnh vực pháp luật từ xưa đến nay, tri thức về pháp luật nước ngoài cóthể được khai thác cho nhiều mục đích.
Mặt khác, Trung Quốc và Việt Nam có những điểm khác biệt nhất định nhưng cũng có nhiềuđiểmtươngđồngtrong các chính sách, biện pháp xây dựng nhà nước và pháp luật trong quá trình cải cách, đổi mới đất nước. Trên cơsởđó,chúng ta nên nhận thứcđếntầmquan trọngcủaviệc chiasẻkinh nghiệm xây dựng pháp chế ở hai quốc gia cũng như về một số luận điểm khoa học liên quan đến các khía cạnh của pháp chế trong Nhà nước.
Như vậy, chúng tôi cho rằng sự so sánh về điều tra trong Luật tố tụng hìnhsựTrung Quốc và Việt Nam có nhiềuýnghĩa quan trọng cho việc cải cách và hoàn thiệnchếđịnhđiềutracủaTrung Quốc, cũng nhưcủaViệt Nam. Tuy nhiên, do nhữngđiềukiện khách quan nhất định nên luận án này chỉphân tích cáiýnghĩa và tác dụngcủanó cho Trung Quốc, có nghĩa luận ánsẽtiếp thu những ưu điểmtronghệthống pháp luật và thực tiễnđiềutra của Cơ quan điều tra Việt Nam làm tư liệu tham khảo cho việc hoàn thiện hệthống pháp luật và thực tiễn điều tra của Trung Quốc, cụ thể:
Một là, sự so sánh về điều tra trong Luật tố tụng hìnhsựTrung Quốc và Việt Nam có lợi ích cho công cuộc hoàn thiện pháp luật điều tra của Trung Quốc về mặt “khối lượng” điều chỉnh. Trong 30 năm qua, TrungQuốc đãban hành được nhiều văn bản pháp luật, pháp quy và pháp lệnh về điều tra. Nhưng thực tế cho thấy, hệ thống pháp luật về chế định điều tra nói chung còn nhiều vấn đề bất cập,thiếu toàn diện,một sốlĩnh vực quan trọng chưa có luật điều chỉnh, vídụliên quanđếntổchứcđiềutra, thậm chí chưa có một pháp lệnh nào quyđịnhcụthể. Nói một cách khác,vềmặt “khối lượng” pháp luật điều tra của Trung Quốc còn chưa đầy đủ, nhiều vấn đề pháp lý cụ thể vẫn chưa cócâutrảlờivà, trong thời giangầnđâycầnhoàn thiệnbổsung. Chính vì vậy,
43
đểhoàn thiện,bổsung nhữnglỗhổngcủahệthống pháp luật điềutra Trung Quốc, hai câu hỏi cần có giải đáp:
– Đâu là nhữngđiểmmà Trung Quốc chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh chi tiết, cụ thể ?
– Sau khi tìm ra nhữngđiểmchưa hoàn thiện, thì điềuchỉnh những khoảng trống này như thế nào ?
Kinh nghiệm thựctếcho thấy, hiểu biết pháp luật nướcngoài có thểgiúp chúng ta rất nhiều khitrảlờihai câu hỏi trên.Đốivới Trung Quốc, so với hệ thống pháp luật về điều tra thì có thể trả lời hai câu hỏi này.
Hai là, sự so sánhvềđiều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam có lợi ích cho công cuộc hoàn thiện pháp luật điều tra của Trung Quốcvềmặt “chất lượng”điềuchỉnh.ỞTrung Quốc hiện nay, chất lượng điềuchỉnh tronghệthống pháp luật điềutra cònhạnchế,đôikhi không hợp lý, không còn phù hợp hoặc không có hiệu quả cao,do đó cần sửa đổi. Ở đây cũng vậy, hiểu biết nhữngnộidung pháp luật điềutracủaViệt Nam có thểgiúp Trung Quốc cải thiện chất lượng điều chỉnh của hệ thống pháp luật điều tra đang tồn tại.
Ba là, sự so sánh về điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc vàViệt Nam có lợiích cho công cuộc hoàn thiện pháp luật điềutracủaTrung Quốcvềmặt phương pháp hoàn thiện.Đểđưavào thựctếđờisống những giải pháp mà họ cho là phù hợp nhất với hoàn cảnh xã hội của mình, tức là đểhoàn thiện pháp luật, các nhà làm luật phải luật hóa chúng. Trongthực tế, đểluật hóa một giải pháp cụ thể, các nhà làm luật không chỉ có một mà một vài phương pháp khác nhau. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêngcủanó [14, tr. 14].Ởđây, hiểu biết pháp luật điềutracủaViệt Nam không chỉ giúp Trung Quốc hoàn thiện pháp luật về chất lượng cũng như khối lượngđiềuchỉnh mà còn giúp Trung Quốclấykinh nghiệm và bàihọcvềphương pháp hoàn thiện pháp luật điều tra.
44
1.3. NỘI DUNG SO SÁNH VỀ ĐIỀU TRA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
Theo nhiệmvụvà phạm vi nghiêncứucủa đềtài, luận án này tập trung nghiêncứuso sánhvềnhữngnộidung như sau liên quanđếnđiềutra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam.
1.3.1. Bộ máy điều tra
Bộmáyđiềutra là một trong nhữngvấnđềquan trọngvềchếđịnh điềutra, trongđó chủyếulàvấnđềmô hình cơcấutổchứcđiềutra, nó cónhiều ảnhhưởngvới hiệuquảđiềutra, thậm chíảnhhưởngđếnchất lượng tòanbộ hoạt độngtố tụng. Chính vì vậy, nếu một bộ máy điều tra có mô hình cơ cấu hợp lý thìcó thể đặt đượchiệu quả cao đó là – khôngbỏlọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, cũng nhưbảo vệ được quyền conngườimột cáchđầyđủ.Ngượclại, một bộmáyđiều tra có mô hình cơcấu không hợp lý thì vừa tạo ra sự phức tạp trong quản lý hành chính, vừa làm nảy sinh hậu quả có sự tranh chấp về thẩm quyền điều tra, thậm chí có khi lại xảy ra tình trạngđùnđẩy trách nhiệm cho nhau, khôngbảo đảm được lợiích của Nhà nước và của công dân.
Theo quyđịnhcủa pháp luật hiện hành, Trung Quốc hiện nay có năm hệ thống Cơ quan điều tra đang tồn tại và hoạt độngđộc lập với nhau, được tổchức tronghệthống công an, an ninh, Viện kiểm sát, trong quânđộivà nhàtù, có nhiều đầu mối quản lý khác nhau. Cũng nhiều ý kiến cho rằngbộmáy Cơ quanđiềutra hiệntạicủaTrung Quốc là quá cồng kềnh, nhiềuđầumối, do đó,khôngđảmbảo tínhhệthống, chặt chẽvà khôngthểphản ứngnhanh nhạy và kịp thời trước những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm trong xãhộihiện nay. Mặt khác, nếu quyền hạn của Cơ quan điều tra quá lớn, quá
tập trungsẽkhông bảo vệvà bảo đảmđượccác quyền conngườitrong giai đoạn điều tra. Với nhữngvướngmắc trên đây, yêu cầu đặt ra là phải tìm kiếm
45
mô hình tổ chức thích hợp, quyền hạn hoạt động hợp lý, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Do đó,việc đổimới tổchức, hoạt độngcác Cơ quanđiều tra phải nhằm tạo lập cơchếpháp lý hữu hiệu kiểm soát sự tuân thủ pháp luật và xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật, bảo vệquyềntựdo, dânchủcủacông dân, bảo đảman toàn trongmọilĩnh vựccủađờisống xã hội. Việc nghiên cứu đểđổimớitổchức và hoạt động của các Cơ quan điều tra cần phải đặt trong tổng thể nghiên cứu về cải cách tưpháp nói chung vàcầnxácđịnh rõ tiến trình,lộtrình,bướcđi phù hợp với điều kiện thực tế. Do đó, cần phải tính toán, cân nhắc nhiều mặt, phải căn cứvào pháp luật, nguyêntắctổchứcbộmáy nhànước,tình hình kinhtế,chính trị, xãhộicủađất nước,kinh nghiệm hoạtđộng vàtổchứcbộmáycủaBộ, ngành có liên quan để xác định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Cơ quan điều tra trong hệ thống các cơ quan tư pháp.Việc đổi mới tổchức của Cơ quan điều tra phải nhằm mục tiêu xây dựng Cơ quan điều tra trởthành một côngcụ mạnhmẽ của Nhà nước, thực hiện chức năng tư pháp hình sự, có đủ quyền năng pháp lý, trực tiếp tiến hành các nhiệm vụ bảo đảm cho hoạt độngđiềutra,xửlý cácvụán hìnhsựđượcnghiêm minh, đúng người,đúng tội, nhanh chóng, kịp thời, góp phầnbảo vệ chế độ và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân. Tiến tới hình thành một hệthống các Cơ quanđiềutra phù hợp dựatrên cơsởxácđịnhrõ mô hình tổ chức và rành mạch về chức năng, nhiệm vụ, thích ứng với điềukiện thựctếcủanhànước,tinh gọn, có hiệu lực, có cơsởpháp lý chặt chẽ và xác lập mối quan hệ cụ thể trong phối hợp thực thi pháp luật.
Do đó, nhằm đặt được những hiểu quả nêu trên, nghiên cứu so sánhvềbộ máy điều tra của Trung Quốc và Việt Nam thì rất là cần thiết, vì tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của hai nước rất giống nhau, những kinh nghiệm của Việt Nam có thểlàmmẫutham khảo cho cuộcđổimới tổchứcđiềutra của Trung Quốc.
46
Điềutra là hoạt độngkhám phá, phát hiện tộiphạm, là hoạt động tố
tụng nhằm thu thập, củngcốvà kiểm tra chứngcứ.Hoạt độngđiềutra phải tôn trọngsựthật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện, làm rõ những chứngcứxác định có tội và những chứngcứxác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóngmọihành vi phạm tội, không làm oanngườivô tội.Đâylà nguyêntắcquan trọng xuất phát từbảnchất vàvịtrícủahoạt động điềutra trongtốtụng hìnhsự.Do điềutra là hoạt độngtốtụngởnhững giai đoạn đầu tiên của quá trìnhtố tụngvớinhiệmvụ chủ yếulà khôi phục lạivụán, thu thập chứngcứchứng minh có tộihay không có tộiphạmxảyra, một người có phải là người phạm tội. Vì thế, nếuhoạt độngđiều tra không khách quan, toàn diện,đầyđủthì có thểdẫn tớinhững phiến diện một chiều. Hiệu quả của việc này có thể dẫn tới những sai lầm trong việc giải quyết vụ án nhưlàm oanngườivô tội,bỏlọt tộiphạm.Sựthật khách quan, toàn diệnđầyđủtrong hoạt độngđiềutra còn có thểthểhiện ởviệc thu thập chứngcứchứng minh những tình tiết vụ án phải xuất phát từ thực tế mà không được dựa vào ý chí chủ quan của mình, không được suy diễn, tưởngtượng, bịa đặt.Do đó, khi thu thập chứngcứphải thu thập những chứngcứkết tội, cũng như chứngcứxácđịnhvô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảmnhẹtrách nhiệm hìnhsựcủabịcan trongvụán.Chỉcó vậy,mớicó thểtránhđược những sai lầm, những “oan, sai” trong hoạt độngđiềutravụán hìnhsựcủa các cơ quanđiềutra. Do đó,hoạt độngđiềutra lànộidung quan trọng nhất trongchếđịnhđiềutra.Bởilẽ,hoạt độngđiềutra là phương thức hoạt động củachủthểnhằmcảmthụ, tiếp nhận và phản ánh thông tin chứađựngtrong các dấu vết tội phạm, songhoạt độngnày diễn ra theo cơ chế nào ? Thông tin vềtộiphạmđượcchuyển hóa thành chứng cứnhưthếnào ? Câutrảlờiphải xuất phát từ mối quan hệ có tính quy luật giữa khách thể nhận thức và phương pháp nhận thức. Phương pháp nhận thức không phải dochủ thểlựa chọn tùy
47
tiện, mà nó còn phụ thuộc vào tính chất của khách thể. Nền tảng khách quan củaphương pháp nhận thức là quy luật củakháchthểnhận thức. Hoạt động điềutra là cơsởcó thểcho phép chúng ta làm rõ cơcấubên trongcủahệthốngcấuthànhcủahoạt độngđiềutra, phân loại hoạt độngđiềutra; phân biệt các hoạt độngđiềutra giống nhau nhưng có mụcđích rất khác nhau, ví dụ như: biện pháp khám nghiệm, khám xét, khám người; làm rõ hơn khả năng phụcvụhoạt độngnhận thứccủatừng hoạt độngđiềutra,cụthểtrên cơsởxác định vị trí của nó trong hệ thống các hoạt động điều tra và cho phép thực hiện việclựachọn đúng hoạt độngđiềutracầnthiết trong thực tiễn. Tuy nhiên, hoạt độngđiềutrađượcnhìn nhận và quyđịnhkhác nhauởcác quốc giaphụthuộc vào quanđiểmchính trị, chính sách hìnhsự,trìnhđộvà cách thức tổ chức bộ máy phòng, chống tội phạm ở từngnước.Những quyđịnh vềhoạt độngđiều tra của Trung Quốc và Việt Nam có nhiều điểm khác nhau. So với quy định của Luật tố tụng hình sự hiện hành của hai nước, hoạt độngđiều tra trong Luật tốtụng hìnhsựViệt Nam thìcụthểhơn và có nhiềunộidung bảo về quyền con người, do đó, những nội dung lập pháp và kinh nghiệm thực tiễn có giátrịcao cho Trung Quốc tham khảo.Vớinhững lý do nêu trên, nghiêncứuso sánhvềhoạt độngđiềutra là phầnnộidung rất quan trọng trong luận án này.
1.3.3. Cơ chế kiểm sát điều tra
Cơ chế kiểm sát điều tra có nghĩa là theo dõi và kiểm tra xem sự điều tra có thực hiện đúng nhữngđiều đãquy định không, có nghĩa là các thủ tục được xác lập nhằm mục đích ngăn chặn hoặc phát hiện rủi ro. Hệ thống kiểm sátđiềutra bao gồmcác cơ chế, quy trình, quyđịnhvềkiểm sátđiềutra, cơcấutổchức của kiểm sátđiềutrađượcthiết lập trên cơsởphù hợp vớiquy địnhpháp luật hiện hành vàđượctổchức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện,xửlý kịp thời cácrủiro vàđạt đượccácmụctiêu pháp luậtđãđặt ra.
48
Kiểm sát hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự thểhiện chức năng của tổ chức kiểm sát, bảo đảm hoạt động điều tra đúng người,đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oanngườivô tội. Để đáp ứngyêu cầu này ngành kiểm sát phải không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện chức năng của mình trong quá trình giải quyết vụ án. Trongđó,sự kiểm sát của Viện kiểm sát là điều quan trọng nhất.
Thực tiễncủaViệt Nam những năm qua cho thấy, các Viện kiểm sátđãcố gắngthực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự, góp phần có hiệu quả trong đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Viện kiểm sát có thể kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của các cơ quan điều tra và các cơ quanđượcgiao nhiệmvụtiến hành một sốhoạt độngđiềutra bằng các hoạt động,chẳnghạnnhư: kiểm sát việc khởitố,kiểm sát các hoạt động điềutra; giải quyết các tranh chấp vềthẩm quyềnđiều tra; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết địnhcủa Cơ quanđiềutra (vídụ:khámchỗở, khám người, đồ vật, thư tín; v.v…); quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏcác biện pháp ngăn chặn; hủybỏcác quyết định trái pháp luật củacơ quan điều tra; yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt độngđiều tra, thay đổi, xử lý điều tra viên vi phạm pháp luật; nếu hành vi của điều tra viên có dấu hiệu phạm tội thì khởi tố về hình sự; quyết định đình chỉhoặctạmđìnhchỉđiềutra, quyết địnhtruytốbịcan; kiến nghị cơ quantổchức, đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Các hoạt độngkiểm sát điềutra trênđâyđượcquy địnhcụthểtrongBộluật tốtụng hìnhsự và đãđược thực tiễn một cách có hiệu quả nhất.
Trong khiđó,ởTrung Quốc, pháp luật có quyđịnhmột sốhình thức kiểm sát của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, những quyđịnhnày khôngcụ thểvàkhó thao tác, đôi khi khôngthể kiểm sát được hoạt độngđiều tra. Do vậy, sựnghiên cứu so sánh về cơ chế kiểm sát điều tra của Trung Quốc và Việt Nam có nhiều ý nghĩa cho việc hoàn thiện cơ chế kiểm sát điều tra của Trung Quốc.
49
1.3.4. Các chế định liên quan đến điều tra
Ngoài nhữngnộidung nêu trên, luận án này còn nghiêncứuso sánh một số chế định liên quan đến điều tra, cụthểlà các biện pháp ngăn chặn vàchếđịnhbào chữa trong giaiđoạnđiềutra. Bởi lẽ, haichếđịnhnày có liên quan chặt chẽ với chế định điều tra. Các biện pháp ngăn chặn và chế định bảo chữa trong giai đoạn điều tra có hợp lý hay khôngđều có ảnhhưởngtích cực hoặc tiêu cực đến chất lượng và hiệu quả của điều tra. Ngoài ra, trongLuật tố
tụng hìnhsựcủaTrung Quốc và Việt Nam, các biện pháp ngăn chặn vàchếđịnhbào chữa trong giaiđoạn điềutra có nhiềuđiểmkhác biệt, qua so sánh tìm ra những nét tươngđồngvà khác biệt giữa chúng, đánh giá, phân tích các nộidung trong nhữngchế địnhnày liênđiềutra, tổngkếtnhững tác dụng tích cực và tiêu cực của nhữngchế địnhnày, từ đó chỉ ra những khuyết điểm và ưu điểm. Như vậy có thể tạo thuận lợi cho sự tương thích và hoàn thiện pháp luật về điều tra trongtố tụnghình sự của Trung Quốc.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Qua nghiên cứu Chương 1 “Những vấn đềlý luận vềđiềutra và so sánh về điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam” có thểđi đến các kết luận như sau:
Một là,điềutra là giaiđoạntiếp theo củaquá trìnhtốtụng hình sự, sau khi cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Trong giai đoạn này cơquan có thẩm quyền (Cơ quanđiềutra) có nhiệmvụthu thập chứngcứ,làm rõ tội phạm, người phạm tội và các tình tiết khác của vụ án, làm kết luận điều tra vàđềnghị truytốbịcan. Giaiđoạnnày thườngđượctiến hành ngay sau khi có quyết địnhkhởitốvụán hìnhsựcho đếnkhi Viện kiểm sát ra quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng và chuyển toàn bộhồsơ vụ án cho Tòa án.
Hai là, Cơ quan điều tra đóng vai trò rất quan trọng trong công tácđấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệpháp chếxã hội chủnghĩa, trật tự
50
pháp luật, an toàn xã hội, các quyền vàlợiíchcủaxã hội,củaNhànướcvàcủa công dân. Trong những chương trình, chiến lược cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, thì các vấn đề liên quan đến việc nâng cao hiệu quảhoạt độngcủa Cơ quan điềutra,đảmbảo cho hoạt động côngtốvà yêu cầuđảmbảo xét xửđúng người, đúngtộivà đúng pháp luật cầnđượccoi làmột trong nhữngvấnđềcóýnghĩa vô cùng quan trọng.Đặcbiệt, việcđiều chỉnh sao cho phù hợp vớitrình độphát triểncủaxã hội,nỗlựcthực hiện nhữngđộngthái bìnhổnvà cân bằngcủamốiquanhệgiữa nhucầuđiềutra và bảo đảm nhân quyền là điều rất quan trọng.
Ba là, bởi vì điều tra là một giai đoạn tố tụng có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận và thực tiễn nênsựso sánhvềđiềutra trong Luật tốtụng hìnhsựTrung Quốc và Việt Nam sẽ là một vấn đề nghiên cứu khoa học rất có giá trị. Mục đích của sự so sánh về điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc vàViệt Nam là thông qua sự nghiên cứu và so sánh các đối tưởng, nhằm tìm ra những nét tươngđồngvà khác biệt điển hình giữa chúng, trên cơ sở góp phần tạo thuận lợi cho sự tương thích và hoàn thiện pháp luật về điều tra trong Luật tốtụng hìnhsựcủaTrung Quốc so vớipháp luật Việt Nam. Trên cơsởnày, luận ánđãchỉrõ nộidung so sánhvềđiềutra trong Luật tốtụng hìnhsựTrung Quốc và Việt Nam để ph ân tích trong Chương 2 luận án – Bộ máy điều tra; hoạt động điều tra; cơ chế kiểm sát điều tra và cácchế địnhliên quan đến điều tra trongtố tụnghìnhsự.
51
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA, CƠ CHẾ KIỂM SÁT
ĐIỀU TRA VÀ CÁCCHẾ ĐỊNHLIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU TRA TRONG
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
2.1.TỔCHỨC ĐIỀU TRA TRONG LUẬTTỐTỤNG HÌNH SỰTRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
Cơ quan điều tra là một trong những cơ quan tiến hànhtố tụnghình sựcó chức năngđiều tra làm rõ tội phạm và hành vi củangườiphạm tội, cũng như những vấn đề khác có liên quan đến vụ án hình sự để làm cơ sở cho việc truy tố, xét xử người phạm tội mà Viện kiểm sát và Tòa án thực hiện.
Cơ quanđiềutra làchủthểtiến hành hoạt độngđiềutra, có vai tròquan trọng nhất trong giai đoạn điều tra. Bởi lẽ, khác với các hoạt động khác, hoạt độngđiều tra tội phạm của Cơ quan điều tra “là hoạt động có tính xã hội và nhân văn, khôngchỉđộngchạmđếntàisảnvật chất, mà cònđờisống chính trị, tinh thần của công dân” [28, tr. 26]. Vì vậy, trong phần này, chúng tôi xin nghiên cứu vấn đề về tổ chức điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Việt Nam.
2.1.1. Tổ chức điều tra trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc 2.1.1.1. Hệ thống tổ chức của Cơ quan điều tra
Theo quyđịnhcủa Điều 135 Hiến pháp, Điều 18 Luật tố tụng hình sự, và Luật Cảnh sát nhân dân Trung Quốc, cơ quan có quyền tiến hành điều tra trongtốtụng hìnhsựbao gồmcác Cơ quan Công an, cơ quan An ninh quốc gia, Viện kiểm sát, cơ quan bảo vệ của quân đội, cơ quan bảo vệ của nhà tù.
* Cơ quan Công an
Cơ quan Công an là Cơ quanđiềutra chínhcủaNhànướcTrung Quốc, là bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống các cơ quan hành chính
52
Nhà nước. Thẩm quyền của Cơ quan Công an là thụ lý và điều tra tất cả vụ án hình sự ngoài ra những vụ do Cơ quan điều tra khác thụ lý theo pháp luật quy định. Theo quyđịnhcủaLuật tổ chức Cảnh sát nhân dân, cơ cấu tổ chức của Cơ quan Công an Trung Quốc bao gồm Cơ quan Công an trung ương, các cơquan Công anđịaphương, các cơ quan Công an chuyên biệt vàbộđộicảnh sát vũ trang nhân dân Trung Quốc.
a. Cơ quan Công an Trung ương
Cơ quan Công an Trung ương làBộCông annước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.BộCông anphụthuộc Quốc Vụviện, làbộphậncấuthành củaChínhphủTrung ương, là cơ quan hành chính Công antốicao củaNhànước.BộCông an theo sựlãnhđạo củaTrung ương Đảngvà Quốcvụviện, quản lí an ninh xã hội, công việc bảo vệan toàn trong nướcvàsựxây dựngđội ngũcông an của toàn quốc.
b. Cơ quan Công an địa phương
Cơ quan Công an địa phương là một bộ phận cấu thành của Chínhphủnhân dân cùng cấp, bao gồm bốn cấp như sau:
– Sở Công an. Sở công an được thành lập tại các tỉnh, khu tự trị, thành phốtrực thuộc trung ương.Sởcông anphụtrách quản lý công việc an toàn công cộng trong phạm vi tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ươngđó.
– Cục Công an cấp khu vực và thành phố. Cục Công an cấp này được thành lập tạicác khuvựcthuộc tỉnh và khutựtrị, các châutựtrị, các thành phốtrực thuộc tỉnh và khutựtrị,phụtrách quản lý công việc an toàn công cộng trong phạm vi chính quyền mình.
– Cục Công an cấp huyện. Cục Công an cấp này được thành lập tại các huyện, huyệntựtrịvà thànhphốcấp huyện.Tạicác quận trực thuộc thành phố thành lập chi Cục Công an, nó cũng là Cơ quan Công an cấp huyện. Cục Công an cấp huyện quản lý công việc an toàn công cộng trong phạm vi chính quyền mình.
53
– Đồn Công an. Đồn Công an được thànhlập tại các đườngphố và thịxã, phụ trách quản lý công việc an toàn công cộng trong phạm vi ấy. Nói cách khác, đồn Công an không phải là một cấp Cơ quan Công an, vì nó thực ra làcơ sở của Cục Công an cấp huyện.
c. Cơ quan Công an chuyên biệt
Cơ quan Công an chuyên biệt là bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống tổ chức Cơ quan Công an, được thành lập tại một số ngành chuyên nghiệp, là Cơ quan Công an mang tính chất chuyên môn. Cơ quan Công an chuyên biệt ngang quyền với Cơ quan Công an địa phương cùng cấp, nhưng phải tiếp nhậnsựhướngdẫncủaBộCông an và Cơ quan Công anđịa phương vềmặt tiến hành dịchvụCông an. Cơ quan Công an chuyên biệt chủ yếu bao gồm:
– Cơ quan Công an đườngsắt. Nhiệmvụvà quyền hạn của Cơ quan Công an đường sắt chủ yếu là bảo vệ an toàn công cộng và trật tự vận chuyển trong hệ thống đường sắt, có thẩm quyền khởi tố và điều tra những vụ án hình sựtrongnộibộhệ thống đường sắtvà trong quá trình vận chuyển. Cơ quan Công an đường sắt tự thành một hệ thống riêng, trong Bộ đường sắt có Cục Công an, trong cácCụcquản lýđườngsắtcó Phòng Công an,dướicó các phân phòng Công an và dưới phân Phòng Công an thành lập đồn Công an nếu cần thiết.
– Cơ quan Công an giao thông. Cơ quan công an giao thông thiết lập tạihệ thống vận chuyển giao thôngđường lộ, đườngthủy, đườngbiển, trong Bộ giao thông có Cục Công an, dưới Cục Công an thiết lập Phòng Công an vàđồn Công annếucầnthiết. Nhiệmvụvà quyền hạn của Cơ quan Công an giao thông chủ yếu là bảo vệ an toàn và trật tự của vận chuyển trong hệ thống vậnchuyển giao thông đường lộ,đườngthủy,đườngbiển, có thẩm quyền khởi tố và điều tra những vụ án hình sự trong hệ thống của mình.
– Cơ quan Công an hàng không dân dụng. Nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan Công an hàng không dân dụngchủyếulà bảo vệan toàn và trật tự
54
trongnội bộ hệ thốnghàng không và sân bay, đấu tranh và chốngtội phạm vềnhững phạm tội như phá hoại thiết bị của máy bay, cướp máy bay; v.v…
– Cơ quan Công an Kiểm lâm. Cơ quan Công an kiểm lâmđượctổchức tronghệthống kiểm lâm, trong TổngCụckiểm lâm quốc gia có Cục Công an kiểm lâm, các địa phương thiết lập cơ cấu Công an nếu cần thiết. Cơquan Công an kiểm lâm có thẩm quyền khởi tố và điều tra những vụ phạm tội vi phạm Luật kiểm lâm.
– Cơ quan Công an Hải quan. Cơ quan Công an hải quan được tổ chức tronghệthốnghảiquan, trong Tổng Sởhảiquan Nhànướccó Cụcđiềutra phạm tội buôn lậu, trong các hải quan địa phương trực thuộc Tổng Sở có Phân Cục điều tra phạm tội buôn lậu, ở dưới có Chi cục điều tra phạm tội buôn lậu. Nhiệmvụvà quyền hạn của Cơ quan Công an Hải quan khởitốvàđiềutra những vụ án buôn lậu.
* Cơ quan An ninh quốc gia
Nhằm đáp ứng yêu cầu của chính sách mở cửa và tăngcườngan ninh quốc gia, kỳ họp lần thứ nhất Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 6 của Trung Quốcđãphê chuẩn việc thành lập BộAn ninh quốc gia.BộAn ninh quốc gia là cơ quan an ninh đặc biệt chịu trách nhiệm về điều tra những tình báo vàđiệp viên ngầm.Tạicác tỉnh, khutựtrị, thànhphốtrực thuộc trung ương thành lập Cục An ninh quốc gia. Căncứvào nhucầuthựctế,cácđịa phươngởTrung Quốc có thểthành lập chi nhánh hoặc có nhân viên an ninh quốc gia.
Theo quyđịnhcủa Điều 4 Luật tốtụng hìnhsự,thẩm quyền tư pháp của Cơ quan An ninh quốc gia chủyếulà thực hiện quyền điều tra các vụ án hìnhsựxâm phạm an ninh quốc gia,tứclàphụtrách công tác chống gián điệp,bảo đảman ninh quốc gia.Đồngthời, chịu trách nhiệm tiến hànhđiều tra,tạmgiữ, hỏi cung và thi hành lệnh bắt ngườiphạm tội, trên thựctếcóthẩm quyền như Cơ quan Công an đối với các vụ án về an ninh.
55
Điều 3 vàĐiều 18 Luật tố tụng hìnhsự của nước Cộnghòa nhân dân Trung Hoa quyđịnh,Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm thực hiện công tác kiểm sát, phê chuẩn lệnh bắt, tiến hành điều tra, truy tố các vụ án do Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp thụlý,điều này cho rằng Viện kiểm sát là một trong những cơ quan có thểđiềutravụán hìnhsựởTrung Quốc. Các tội tham ô,hốilộ,thiếu trách nhiệmcủacánbộnhànước,và cáctộixâm phạm các quyền cá nhân của công dân như giam giữ trái phép, bức cung, dùng nhục hình, trả thù, mưu hại và khám xét trái phép và tội phạm xâm phạm quyền dân chủ của công dân do cán bộ nhà nước lợi dụng chức quyền để thực hiện, sẽ do Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp thụ lý và điều tra. Đối với những vụ án khác liên quanđếncáctộinghiêm trọng do cán bộnhànướcthực hiện bằng việc lợi dụng chức quyền, nếu có cần thiết do Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp thụlý, thì phải qua Viện kiểm sát cấp tỉnh hoặc cấp cao hơn quyết định, như vậy Viện kiểm sát mới có thể điều tra vụ án này.
Các Viện kiểm sát nhân dân đều gồm hai bộ phận có quyền điều tra làCụcchống tham ô,hốilộ, Cụcnàythụlý vàđiềutra nhữngvụánvềcác tội tham ô, hối lộ và Cục chống tội thiếu trách nhiệm, xâm quyền, Cục này thụ lývà điều tra những vụ án khác do Viện kiểm sát trực tiếp thụ lý.
* Cơ quan bảo vệ của quânđội
Cơ quan bảo vệ của quân đội là Cơ quan điều tra thành lập trong quân đội. Các sư đoàn trở lên đều thành lập phòng bảo vệ. Phạm vi thẩm quyền của Cơ quan bảo vệ của quân đội là thụ lý và điều tra các vụ án hìnhsự của những quân nhân hiện đangtạingũ trong quân đội; cũng như cácvụ ánlàm tổn hại lợi ích quân sự của nhà nước và các vụ án ở khu tác chiến và khu giới nghiêm do Bộ tổng tư lệnh, bảo vệ sự an toàn của quân đội.
* Cơ quan bảo vệ của nhà tù
Các nhà tù thànhlậpCơ quan bảo vệ, thụ lý và điều tra các vụ án hình sự phát sinh trong phạm vi nhà tù.
56
Cơ chếtổ chứclà quy chế do pháp luật nhà nước quy định xoay quanh vấn đề cơ cấu mối quan hệ giữa các ban ngành các cấp. Cơ chế tổ chức quản lýcủacơ quan công an Trung Quốc làmốiquanhệgiữa BộCông an trực thuộc trung ương với cơ quan công anđịaphương. Bộ Côngan đặt dưới sựlãnh đạo của trung ương Đảng và Quốc vụ viện. Cơ quan Công an các cấp ở địa phương một mặt chịu sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và Ủy ban nhân dân địa phương, một mặt chịu sự lãnh đạo của Cơ quan Công an cấp trên, song sự lãnh đạo từ phía địa phương là chính. Chiến lược hoạt động của công an địa phương, công tác bổ nhiệm, miễn nhiệm và thăng giáng chứccủacánbộngành, kinh phí hoạtđộng;v.v… chủyếu do cấp ủy Đảng quyết địnhphê duyệt. Trên thực tế, Cơ quan Công an cấp trên và bộ công an chỉ phụ trách công tác lãnh đạo và hướng dẫn nghiệp vụ.
Cơchếtổchứccủacác cơ quan Công an chuyên biệt là không giống nhau, chẳng hạn, cơ quan bảo vệan ninh quânđộithuộc ban chínhtrịđồng cấp, làbộphận hợp thành củacơ quan chínhtrịđồngcấp.Đơnvịnày một mặt chịusựlãnhđạo củacụcchínhtrịvàĐảngủyquânsự,đồngthời cũng nhậnsựchỉđạo từphía cơ quan bảo vệan ninh quânđộicấp trêngầnnhất. Toànbộcác cơ quan bảo vệan ninh quân độiđềuđặt dướisựlãnhđạo của cục chínhtrị, đồngthời chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của bộ công an trực thuộc trung ương.Bộgiao thông thành lập cơ quan an ninh,đó vừalàđơnvịhành chính sự nghiệp của bộ giao thông vừa là bộ phận cấu thành của Bộ công an, cơ quan này chịu sự lãnhđạo đồngthời của Bộ Giao thông và Bộ Công an, cụthểlà cácvấnđềvềbiên chế, kinh phí, công tácĐảngvụchínhtrịthì do bộgiao thôngchỉ đạo,còn Bộ Công an nắm quyền chỉ đạo về mặt nghiệp vụ. Cơquan an ninh trongbộgiao thông thuộchệthống an ninh giao thông cácđịa phương, phân cục và sở cảnh sát, chịu sự lãnh đạo của cơ quan công an sở tại,đồngthời nhận sự chỉ đạo nghiệp vụ từ phía Cục cảnh sát giao thông.
Cơchếtổchứccủalựclượngcảnh sát vũ trang nhân dân cũng thực hiện hai tầng lãnh đạo, địa phương là chính, tức làmộtmặt chịu sựlãnhđạo
57
của cơ quan công an sở tại, một mặt chịu sự lãnhđạo củalựclượngcảnh sát vũ trang nhân dân cấp trên. Toàn bộ lực lượng cảnh sát vũ trang nhân dân đều được liệt vào hàng ngũ Bộ Công an trực thuộc Trung ương.
Vềmặt cơ chế lãnh đạo của Cơ quan điều tra khác chẳnghạnnhư cơquan an ninh quốc gia, Viện kiểm sát, cơ quan bảo vệtrong quânđộinhân dân và nhà tù, thì thực hành Cơ quanđiềutra cấp dướichịusựlãnhđạo của Cơ quan điều tra cấp trên.
Cơchếtổchức của các Cơ quanđiềutra, theo kinh nghiệm lịch sử, thực tiễn và xu thế thời đại mới, thì rất nhấn mạnh hai vấn đề: Một là, kiên trì sự lãnhđạo của nhà nước đốivới cơ quan Công an và hai là, kiên trì sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảngđối với công tác an ninh. Đây là điểm mấu chốt trong thể chế quản lý ngành công an Trung Quốc, đồng thời cũng là nét đặc sắc vàkinh nghiệm then chốt trong công tác an ninh quốc phòng Trung Quốc.
2.1.2. Tổ chức bộ máy của các Cơ quan điều tra và cơ quan đƣợc giao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộng điềutra trong Luậttốtụng hình sự Việt Nam
2.1.2.1. Hệ thống tổ chức
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NGHIÊN CỨU SO SÁNH VỀ TRÌNH TỰ ĐIỀU TRA GIỮA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam Nghiên cứu so sánh về trình tự điều tra giữa Luật tố tụng hình sự của Trung Quốc và Việt Nam

