Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

MỞ ĐẦU

1. Giới thiệu về công trình nghiên cứu

Luận án với đề tài: “Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến

hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng trong Luậttố tụng hình sự Việt Nam –Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do tác giả thực hiện dựa trên nhu cầu đòi hỏi bổsung, nâng cao lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật TTHS cũng nhƣ việc nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết vụ án của các chủ thể TTHS. Trong quá trình đổi mới và tiến hành cải cách tƣ pháphƣớngtới minh bạc, dân chủ, công bằng khi tiến hành TTHS, phù hợp với tinh thần hội nhập quốc tế nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra. Bảo đảmsựvô tƣcủangƣờiTHTT và ngƣời TGTT là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS có tính chất nền tảng cho việc giải quyết vụ án khách quan nên càng cần đƣợc quan tâm nghiên cứu.

Hƣớng tới mục tiêu làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn là cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật TTHS và đềra các giải pháp nâng cao hiệu quảthực thi nguyên tắc này, luận án đƣợc tác giả xây dựng với kếtcấu bốnchƣơng, ngoài phần mở đầu, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo.

Kếtquảnghiêncứucủaluận án không nhữngbổsung cho lý luận khoa học pháp lý TTHS, làm tài liệu cho việc nghiên cứu, học tập ở các cơ sở đào tạo luật mà còn cóýnghĩa tham khảo cho quá trình xây dựng, thực thi pháp luật TTHS của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, những ngƣời tham gia vào quátrình giải quyết vụ án hình sự.

2. Tính cấp thiết của đề tài luận án

a. Mục đích của TTHS là giải quyết chính xác, nhanh chóng, kịp thời, khách quan, không làm oan ngƣời vô tội, không để lọt tội phạm. Thực hiện mục đích này,

trƣớc hết cần có hệ thống các qui phạm pháp luật TTHS với các nguyên tắc cơ bản mang tính chất phƣơng châm, định hƣớng cho các cơ quan THTT, ngƣời THTT tuân theo. Trong đó nguyên tắcbảođảm sựvô tƣcủangƣờiTHTT và ngƣời TGTT trong TTHSgiữvị trí quan trọng. Nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ trong hoạt động tƣpháp nói chung và trong TTHS nói riêng có tính chất nền tảng trong việc giải quyết vụ án khách quan, công bằng,đồngthời nó còn có ý nghĩa bảođảmquyền con

ngƣời, bảo đảm công lý và tạo dựng, củngcốniềm tin của ngƣời dân đối với nền tƣpháp quốc gia.

1

Sựvô tƣ của ngƣờiTHTT và ngƣời TGTT là một trong những điều kiện quan trọng có tính chất quyết định để vụ án đƣợc giải quyết khách quan, không làm oan ngƣời vô tội và không để lọt tội phạm. Thực tế cho thấy những giá trị mà nền tƣpháp mang lại cho xã hội phụ thuộc chủ yếu vào sự vô tƣcủangƣời THTT, do chỉ có thái độ vô tƣcủanhững ngƣời này mới có nhận thức khách quan về những tình tiết của vụ án, bản án và các quyết định họđƣa ra mới khách quan, đúng ngƣời,đúng tội; mới làm cho ngƣời có tội và xã hội tâm phục, khẩu phục. Sựvô tƣ của

ngƣời THTT vì thế, có ý nghĩa vô cùng quan trọng không những trong quá trình giải quyết vụ án, mà còn trong việc thực thi công lý, bảo đảm quyền con ngƣời, xây dựng nhà nƣớc pháp quyền. Do đó, bảo đảm sựvô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT đƣợc coi là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS của tuyệt đại các quốc gia và của các thiết chế tƣ pháp quốc tế.

Luật TTHS nƣớc ta đã hình thành cơ chếbảo đảm sựvô tƣcủangƣời THTT và ngƣời TGTT trên ba phƣơng diện: Hệ thống các qui phạm pháp luật; Các yếu tốthực thi pháp luật; Và cơ chế kiểm soát việc thực thi nguyên tắc bảo đảmsựvô tƣcủa ngƣời THTT và ngƣời TGTT. Bộ luật TTHS 2003 đã qui định những căn cứđể cho rằngngƣờiTHTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám địnhcó thể sẽ không vô tƣ. Đây là những căn cứ có khả năng dẫn đến sự không vô tƣ của ngƣời THTT, ngƣời phiên dịch, ngƣờigiám định và sựngăn chặn nó là cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Các điều 42, 43, 44, 45, 46, 47 và điều 60, 61 Bộ luật TTHS 2003 qui định những căn cứ, thẩm quyền, thủ tục thayđổi ngƣờiTHTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giámđịnh nhằm bảo đảm sựvô tƣ của họ trong quá trình giải quyết vụ án. Đó là: a) ngƣời THTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định đồng thời là

ngƣời bị hại,nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là ngƣời đại diện hợp pháp, ngƣời thân thích của những ngƣời đó hoặc của bị can, bị cáo; b) ngƣời THTT đã tham gia với tƣ cách là ngƣời bào chữa,

ngƣời làm chứng, ngƣời giám định, ngƣời phiên dịch trong vụán đó; Và ngƣời giám định, ngƣời phiên dịch đã là một trong những ngƣời THTT của vụ án đó; c) Không đƣợc giữnhiều vai trò củangƣờiTHTT trong cùng một vụ án. Nếu một

ngƣời đã THTT với vai trò Điều tra viên thì không đƣợc THTTvớitƣ cách Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán và ngƣợc lại; d) Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng ngƣời THTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định có thể không vô tƣ trong khi làm nhiệm

vụ. Những căn cứđócó thể là ngƣời THTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định có mối quanhệ gần gũi, mậtthiết hoặc có mâu thuẫn nghiêm trọng, tƣ thù với ngƣời TGTT trong cùng vụ án… Khi có những căn cứ nêu trên ngƣời THTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định phải từ chối THTT hoặc buộc phải thay đổi nếu họ không từchối. Ngoài những căncứtừchối hoặc thay đổi ngƣời THTT, ngƣời TGTT Bộ luật TTHS 2003 còn qui định thẩm quyền, thủ tục thay đổi ngƣời THTT, ngƣời TGTT trong từng trƣờnghợpcụ thểvà những giaiđoạn tố tụng khác nhau. Đồngthời, pháp luật nƣớc ta cũng qui định các yếu tốbảo đảmvà kiểm soát việc thực thi nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT.

b. Tuy nhiên, trong thực tế điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan THTT, ngƣời THTT còn có những biểu hiện không khách quan, thiếu công bằng, không bìnhđẳng giữa các các cơ quan THTT, ngƣời THTTvớibị can, bị cáo và những ngƣời TGTT khác do một bên là đại diện cho công quyền với đầy đủ sức mạnh của quyền lực, pháp luật, một bên là những ngƣờibị nghi là phạm tội không có những sức mạnh và điều kiện nhƣ vậy. Thực tế này, dẫn đến “vẫn còn tình trạng oan, sai trongđiều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử” [3], quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bịcáo và ngƣời TGTT bị xâm phạm, làm cho tính nghiêm minh của pháp luật XHCN không đƣợc tôn trọng, nhân dân thiếu tin tƣởng vào công lý, vào sựvô tƣ, khách quan của các cơ quan THTT và ngƣời THTT.

Cơchếbảođảm sựvô tƣcủangƣờiTHTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định đã đƣợc qui địnhtrong Bộ luật TTHS 2003 và đƣợc hƣớng dẫn thi hành bởi các cơ quan THTT nhƣ Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hộiđồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hƣớng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những qui định chung” của Bộ luật TTHS 2003; Thông tƣ liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 7/9/2005 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật

TTHS 2003…. Theo đó, những hƣớng dẫn này đã cụ thểhóa qui định của Bộ luật TTHS về căn cứ và thủ tục từ chối hoặc buộc phải quyết định thay đổi ngƣời THTT,

ngƣời phiên dịch, ngƣời giám địnhđã tạo ra cơ chếbảođảmsựvô tƣ của ngƣời THTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định, góp phần giải quyết vụ án mộtcách khách quan. Tuy nhiên, sựvô tƣ của ngƣời THTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nên bên cạnh việc giáo

3

dục, nângcao đạo đức đốivớihọ cần cócơ chế pháp lý để ngăn ngừa khả năngdẫnđến sựkhông vô tƣ khi THTT ở họ. Cơ chế này phải đƣợc quiđịnhcụ thể, rõ ràng trong luật TTHS làm cơ sở pháp lý cho việc ngăn ngừa sự không vô tƣ của ngƣời THTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định, phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tộiphạm và tâm lý, đạo đức truyền thống Việt Nam. Cơ chế cũng cần tạo một thủ tục chặt chẽ nhƣng đơn giản, thuận tiện cho việc thayđổi ngƣời THTT,

ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định bằng việcđể cho họ tựmình từ chối THTT khi có những căn cứluật định, cơ quan có thẩm quyền chỉ quyết định thayđổi khi những ngƣời này không tựnguyện. Sựchủ động từchối TGTTcủangƣời THTT,

ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định trong trƣờng hợp này thể hiện sự hiểu biết và tôn trọng pháp luậtcủađội ngũ cán bộtrong các cơ quan tƣ pháp, đồng thời làm đơn giản hoá thủ tục tố tụng cũng nhƣ gánh nặng cho các các cơ quan THTT. Những quiđịnh trên tuy đãtạora đƣợc cơchế bảo đảm sự vô tƣcủa ngƣời THTT, ngƣời giám định, ngƣờiphiên dịch nhƣng quá trình áp dụng còn bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết cần hoàn thiện nhằm bảođảm sựvô tƣ, tính khách quan trong quá trình giải quyết vụán hình sựvà đáp ứng mục tiêu của chiến lƣợc cải cách tƣ pháp: “Xây dựng nền tƣ pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý,

từng bƣớc hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc Việt Nam XHCN” [3].

c. NgƣờiTHTT trong các Cơ quanđiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có vai trò quyết định trong việc giải quyết vụ án hình sự khách quan, công bằng góp phần giữvững an ninh chính trị, trậttựan toàn xã hội,tạomôi trƣờngổnđịnhchosựphát triển kinhtế,hộinhập quốctếđồngthờibảovệcác quyền vàlợiích hợp pháp của công dân. Trong thời gian ngắn, Bộ chính trị đã ban hành 02 Nghị quyết vềcảicách tƣ pháp, đólà: Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002“Vềmộtsốnhiệm vụtrọng tâm công tác tƣ pháp trong thời giantới”và Nghị quyếtsố49- NQ/TW, ngày 02/06/2005 “Về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020” đƣa ra những định hƣớng cho việc cải cách đổimớitổ chức và hoạt động của các cơ quan

tƣ pháp trongđócó các cơ quan THTT hìnhsựvớimụctiêu“xâydựngnềntƣ

pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý… hoạt động

tƣ pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử đƣợc tiến hành có hiệu quả và có hiệu lựccao”. Vì vậy, nghiêncứuxây dựng các luậncứkhoahọcđểtriển khai, thực hiện chiến lƣợc cải cách tƣ pháp của Đảng trong đó có nguyêntắc bảo đảm sự vô

4

tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT là hết sức cần thiết, đặc biệt trong thời điểm sửa đổi Bộ luật TTHS.

d. Sự vô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT là tất yếu trong nhà nƣớc pháp quyền, là đòi hỏi của nền tƣ pháp dân chủ, minh bạch. Tuy nhiên, sựvô tƣcủa

ngƣời THTT vàngƣờiTGTT khôngthể có đƣợc chỉbằng những qui phạm của Luật TTHS, mặc dù rất quan trọng mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Những yếu tố bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT thuộc về mặt khách quan, chủ

quan trên các lĩnhvựctâm lý, phẩm chất, đạo đức, tổ chức, chế độ đãi ngộ….Vìvậy, cần nghiên cứu làm rõ cơ chế tác động của các yếu tốảnhhƣởngđếnsựvô tƣcủa ngƣời THTT và ngƣời TGTT trên cơ sở đó có những kiến nghị phù hợp về hoàn thiện, thực thi pháp luật bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự góp phần thực hiện chiến lƣợc cải cách tƣ pháp.

e.Trong quá trình giải quyết vụ án hình sựcần có sựhợp tác quốc tế nhất làtrong giai đoạn hiện nay. Việc hợp tác quốc tế trong TTHS một mặt phải kế thừa truyền thống Việt Nam, giữ vững và bảo vệ chủ quyền quốc gia đồng thời phải chủđộng, tích cực hội nhập quốc tế là một trong những định hƣớng quan trọng của các nghị quyết Đảng trong giai đoạn cải cách tƣ pháp. Tiếp tục ký kết các điều ƣớc quốc

tế và thực hiệntốtcác điều ƣớcquốc tế cũng nhƣ tăng cƣờng phối hợp chung trong hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm cóyếu tố quốc tếnhất là ở những quốc gia có nhiều công dân Việt Nam sinh sống, lao động, học tập là nhiệm vụ quan trọng của cải cách tƣ pháp. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật TTHS cũng phải tínhđến sựphù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia khác nên cần phải có sự nghiên cứu.

Từ những phân tích trên đây, có thể thấy nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của

ngƣời THTT và ngƣời TGTT rất cần đƣợc nghiên cứu trên nhiều phƣơng diện, từ

phƣơng diện lý luận chođến sự thể hiện củanguyên tắc này trong pháp luật TTHS cũng nhƣ thực tiễn thực thi để từ đó, đi đến các giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực thi nguyên tắc này. Vì vậy, đề tài: “Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng trong Luật tố tụng hình sựViệt Nam- Những vấnđềlý luận và thực tiễn“đƣợc nghiên cứu ởcấpđộmột luận án Tiến sĩ luậthọccóýnghĩa cấpthiếtcảvềlý luận cũng nhƣ thực tiễnở

nƣớc ta hiện nay.

5

3. Mục đích của luận án

– Khảo cứu, đánh giá các trƣờng phái lý luận trong và ngoài nƣớcvềnguyên

tắc bảo đảm sựvô tƣ trong tƣ pháp nói chung và trong TTHS nói riêng nhằm làm nổi bật tính vƣợt trội của các học thuyết này. Trên cơ sở đó hình thành luận điểm khoa học về nguyên tắc bảo đảmsựvô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT trong hệthống các nguyêntắccơbảncủaLuật TTHS làm cơsởcho các hoạtđộngxây dựng và áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hìnhsự;

– Làm rõ nội dung và ý nghĩa nguyêntắcbảo đảm sựvô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT trong Luật TTHS Việt Nam nhất là trong Luật TTHS hiện hành cũng nhƣ chỉ ra những điểm mạnh và hạn chế của hệ thống qui phạm pháp luật về nguyên tắc này;

– Làm rõ cơ chế thực thi pháp luật và kiểm soát việc bảo đảmsựvô tƣ của

ngƣời THTT và ngƣời TGTT trong TTHS; Đồng thời chỉ ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế này trong quá trình cải cách tƣ pháp;

– Làm rõ thực trạng thực thi nguyêntắcbảođảmsựvô tƣcủanhững

ngƣời THTT và ngƣời TGTT trong Luật TTHS Việt Nam và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó.

– Đƣa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của

ngƣời THTT và ngƣờiTGTT và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này trong quá trình giải quyết vụ án hình sự;

4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận án

– Các quan điểmtrong và ngoài nƣớc về nguyên tắc bảo đảmsựvô tƣcủa

ngƣời THTT và ngƣời TGTT trong TTHS;

– Nguyên tắc bảo đảmsựvô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT trong TTHS ở một số nƣớc tiêu biểu trên thế giới.

– Lịch sử phát triển của nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của những ngƣời THTT hoặc ngƣời TGTT trong TTHS ở Việt Nam, nhất là từ sau năm 1945.

– Pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của những ngƣời THTT hoặc ngƣời TGTT trong TTHS.

– Thực trạng thực thi nguyên tắc bảo đảm sựvô tƣ của nhữngngƣờiTHTT hoặc ngƣời TGTT trong TTHS Việt Nam những năm gần đây(khoảng 10 nămtừ2004 đến 2013).

6

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án:

– Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận khoa học pháp lý TTHS làm cơ sở cho việc ban hành các chính sách, pháp luật trong lĩnh vực cải cách tƣ pháp ở nƣớc ta;

– Kết quả nghiên cứu của luận án dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy vàhọc tập tại các cơ sở đào tạo Luật;

– Kết quả nghiên cứu của luận án làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan lập pháp và các các cơ quan THTT trong lĩnh vực tƣ pháp của quá trình cải cách tƣpháp ở Việt Nam.

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt  Nam- Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nƣớc liên quan đến đề tài luận án

14

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc liên quan đến đề tài luận án

1.3. Mục tiêu, đối tƣợng, nội dung, cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu a. Mục tiêu

– Hình thành cơ sở lý luận về nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS làm cơ sở cho các hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Thông qua đó, góp phần xây dựng, phát triển khoa học pháp lý TTHS Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp hƣớng tới nền tƣ pháp trong sạch vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp ở nƣớc ta hiện nay

– Làm rõ nội dung vàýnghĩa củanguyêntắcbảođảmsựvô tƣcủangƣời

17

THTT và ngƣời TGTT, cũng nhƣ thực trạng nguyêntắc bảo đảmsự vô tƣ của những

ngƣời THTT hoặc ngƣời TGTT trong Luật TTHS Việt Nam. Đánh giá nguyên nhân của thực trạng đó làm cơ sở cho các kiến nghị về cải cách tƣ pháp trong TTHS.

– Trên cơ sở lý luận và thực trạng về nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT vàngƣờiTGTT, luận án hƣớng tớimụctiêuđƣarahệthống các giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHS và các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc này.

b. Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án

– Các quan điểm về nguyên tắcbảođảm sựvô tƣcủangƣờiTHTT và ngƣời TGTT trong TTHS.

– Nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣcủangƣời THTT và ngƣời TGTT trong luật TTHS ở một số nƣớc trên thế giới.

– Lịch sử phát triển của nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của những ngƣời THTT hoặc ngƣời TGTT trong luật TTHS ở Việt Nam, nhất là từ sau năm 1945.

– Pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của những ngƣời THTT hoặc ngƣời TGTT trong TTHS.

– Thực trạng thực thi nguyên tắc bảo đảm sựvô tƣ của nhữngngƣờiTHTT hoặc ngƣời TGTT trong Luật TTHS Việt Nam.

c. Những nội dung được nghiên cứu trong đề tài luận án

– Nguyên tắc bảo đảmsựvô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT trong TTHS thông qua các quan điểm khác nhau để từ đó đƣa ra khái niệm, ý nghĩa của nguyên tắc này.

– Kinh nghiệm quyđịnh nguyên tắc bảo đảm sựvô tƣ của ngƣờiTHTT và

ngƣời TGTT trong TTHS ở pháp luật một số nƣớc trên thế giới.

– Kinh nghiệm rút ra từ bài học lịch sử về nguyên tắcbảo đảm sựvô tƣ của những ngƣời THTT hoặc ngƣời TGTT trong TTHS của nƣớc ta từ 1945 đến nay;

– Đánh giá thực trạng thực thi nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của những ngƣời THTT hoặc ngƣời TGTT trong TTHS ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

– Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc bảođảmsựvô tƣ của những ngƣời THTT hoặc ngƣời TGTT trong TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tƣpháp, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền.

d. Cách tiếp cận

Việc nghiêncứuĐềtài nàyđƣợctiếpcậntrên cơsởcủa chủ nghĩa duy vật

18

biện chứng, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các quanđiểmchủ trƣơng cải cách tƣ pháp của Đảng vàNhà nƣớc Việt Nam. Đồng thời những nền tảng lý luận từ các tri thức khoa họcvốncó chungcủaloàingƣờiđƣợcthểhiệncụthểthông qua các thànhtựucủa Luật học, Triết học, Lịchsửvà Xãhộihọcnói chung và các chuyên ngành trong khoa học pháp lý: Lý luận chung về Nhà nƣớc và pháp luật, Lịch sử các học thuyết

chínhtrị- pháp lý, Xã hội học pháp luật, Luật Hiến pháp, Luật hình sự, Luật TTHS….

e. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Phương pháp lịch sử: khảo cứu các tài liệu và các nguồnsửliệu khác nhau về Nhà nƣớc và Pháp luật liên quan đến nguyên tắc bảo đảmsựvô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT.

Phương pháp phân tích: trên cơsở các quy phạm pháp luật thực định hiện hành trong lĩnh vực TTHS, phân tích và làm rõ nội dung của nguyên tắc bảo đảm sựvô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT.

Phương pháp tổng hợp: tổng hợp các quanđiểmkhác nhau về nhận thức khoa họcxung quanh các khái niệm, phạm trù, các quy phạm và các quyđịnhvềnguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT.

Phương pháp thống kê: các số liệu thực tiễn trong hoạt động của các cơ quan THTT ở Việt Nam hiện nay.

Phương pháp xã hộihọc:điềutra, phỏng vấn các cán bộ khoa học, những

ngƣời THTT, các cán bộ thực tiễn, các học viên Cao học, các sinh viên đang công tác, học tập và nghiên cứu theo chuyên ngành TPHS về nguyêntắcbảo đảm sựvô

tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT trong việc giải quyết vụ án hình sự.

Phương pháp so sánh luật học: các QPPL tƣơng ứng có liên quan đến nguyên tắcbảo đảm sựvô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT của Việt Nam & của một số nƣớc trên thế giới.

19

Chƣơng 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM

SỰ VÔ TƢ CỦA NGƢỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ

NGƢỜI THAM GIA TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1. Khái niệm “sự vô tƣ” trong lĩnh vực tƣ pháp và khái niệm nguyêntắcbảođảmsựvô tƣcủangƣờitiến hànhtốtụng vàngƣờitham gia tố tụng hình sự

2.1.1. Khái niệm “sự vô tư” trong lĩnh vực tư pháp

a. Vô tƣ là một khái niệm chỉ trạng thái chủ quan của con ngƣờikhi thực hiện mộthoạtđộngxã hội nào đócó thể là hành động mang tính “vật chất”hoặc hoạt động tƣ duy của con ngƣời. Từđiển Tiếng Việt đƣa ra định nghĩa vô tƣ nhƣsau: “1. Không nghĩ đến lợi ích riêng tƣ. Sựgiúp đỡhào hiệp, vô tƣ; 2. Không thiên vị ai cả. Một trọng tài vô tƣ. Nhận xét mộtcách vô tƣ, khách quan” [37, tr. 917]. Theo đó, một ngƣời khi hành động không xuất phát, không bị chi phối bởi lợi ích cánhân mình hoặc lợi ích của những ngƣời khác mà mình quan tâm, hoặc bị phụ thuộc vào ý thức chủquan của mình hay một chủ thuyết nhất định. Đối lập với vô tƣ làphạm trù thiên vị, nếu vô tƣ thì không thiên vị và đã thiên vị thì do kết quả của sựkhông vô tƣ. Cặp phạm trù này hoán đổi cho nhau trong mối quanhệbiện chứng, ởhoàn cảnh, điều kiện này thì “vô tƣ” là nguyên nhân của “không thiên vị” nhƣng ởtình huống khác nó lạilà kết quả của “không thiên vị”. Vô tƣ còn gắn với một hệquả mang tínhtấtyếu là khôngđòiphải trả ơn, khôngđòihỏi bất kỳ lợi ích nào mà hành động chỉ nhằm mang lại sựcông bằng, thể hiện sựnghĩa hiệp vốn có trong nhân cách ngƣời quân tử hoặc khách quan trong việc đánh giá sự việc nhƣ vốn dĩ nócó không thiên lệch, không tô hồng hay bôi đen. Nhƣ vậy, vô tƣđƣợcxem xét ở hai khía cạnh: Thứ nhất, nếu là hành động mang tính “vật chất” thì đó là hành động không vì vụ lợi, hƣớng tới mục đích cao thƣợng theo kiểu Lục Vân Tiên “khi thấy bất bình giữa đàng chẳng tha”. Hành động vôtƣ, cao thƣợng đƣợc trọng nể ở mọi xã hội và trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam. Thứ hai, vô tƣđƣợc đề cậpđến trong việc xem xét, đánh giá, kết luận vềmột sựviệc, một con ngƣời,mộtquátrình nào đó. Đây là hoạt động tƣ duy của conngƣờikhông những đòi hỏi tinh thần nghĩa hiệp mà còn cần phải có tri thức cũng nhƣ bản lĩnh thì ngƣời ta mới có thể vô

20

tƣ trong các nhận xét, đánh giá, kết luận của mình. Ngƣời vô tƣ trong hoạt động tƣduy thƣờng đƣợc đánh giá cao trong lĩnh vực hoạt động của mình, rộng ra là sự thừa nhận của xã hội nhƣ một khẳng định về uy tín, năng lực, phẩm chất của một con

ngƣời. Vô tƣ bao giờ cũng dẫn đến hệ quả là có thái độ khách quan đối với sự vật vàhiện tƣợng đƣợc xem xét, nói khác đi ở đâycon ngƣời đã làmđƣợc việc tƣởng chừng nhƣ rất đỗi bình thƣờng nhƣng rất vĩ đại là lôgic chủ quan đã phù hợp với lôgic khách quan của sự vật. Chân lý đãđƣợcnhận thức, xác lập trong trƣờng hợp này. Vô tƣ phẩm chất cần thiết cho mọi con ngƣời, mọi lĩnh vực đời sống nhƣng nó đặc biệt có ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học, nếu ngƣời làm khoa học không vô tƣsẽ không thể tìm ra những qui luật vận động của thế giới vật chất và ý thức mà kết quả của nó là tạo ra sự văn minh của nhân loại để “biến con ngƣời từ vƣơng quốc tất yếu đến vƣơng quốc tự do” nhƣ Ăng-ghen đã nói.

b. Nếu nhƣ trong khoahọc sựvô tƣ, khách quan mangđến sựsáng tạo của cho con ngƣời thì sự vô tƣ trong hoạt động của ngƣời làm công tác quản lý nhất là của những ngƣời THTT trong quá trình giải quyết vụ án lại mang đến sự công bằng, dân chủ cho những ngƣời liên quan và cho cả xã hội. Những giá trị mà nền tƣ pháp mang đến cho xã hội phụ thuộc chủ yếu vàosựvô tƣ của ngƣời THTT, do chỉ cóthái độ vô tƣ của những ngƣời cầm cânnảymực mới có nhận thức khách quan về những tình tiết của vụ án, bản án và các quyết định họ đƣa ramớiđúng ngƣời, đúng tội, mới làm cho ngƣời có tội và xã hội tâm phục, khẩu phục. Đó cũng là lý do giải thích cho hiện tƣợng trong nhànƣớcthần quyền, phong kiến hà khắc, mất dân chủ, chuyên chế nhƣng vẫncó những ông quan xửán khách quan, công bằng mà đến ngày nay nhân dân vẫnngƣỡng mộ. Sựvô tƣ của ngƣời THTT vì thế có ý nghĩa vôcùng quan trọng không những trong quá trình giải quyết vụ án mà còn trong việc thực thi công lý, bảo đảm quyền con ngƣời, xây dựng nhànƣớc pháp quyền. Giải thích về sự vô tƣ trong hoạt động tƣ pháp đã đƣợc Tòa án tối cao liên bang HoaKỳdiễn giải nhƣ sau:

Thứ nhất, sự vô tƣ đƣợc hiểu là không có sự thiên vị, làm lợi hoặc làm bất lợi cho một bên trong vụ tranh chấp (“lack of bias for or against a party to a dispute”). Sự vô tƣ trong trƣờng hợp này bảo đảm cho mỗi bên trong vụ việc rằng Thẩm phán sẽ áp dụng các quy định pháp luật đối với họ giống nhƣ Thẩm phán áp dụng cho phía còn lại của vụ việc. Thứ

21

hai, sựvô tƣ cũng đƣợc hiểu là Thẩm phán, ngƣời có trách nhiệm giải quyết vụviệc không có thiên kiến, hayđịnh kiến ủng hộhay chống lại một quan điểm, một vấn đề pháp lý trong vụ việc từ trƣớc khi giải quyết vụ việc đó (“lack of a bias for or against particular issues”,hay “lack of preconception in favor of or against a particular legal view”). Thứba, tuy nhiên, Tòa án cũng cho rằng yêu cầu một thẩm phán không đƣợc có chính kiến, quan điểm từ trƣớc về bất cứ vấn đề pháp lý nào đặt ra trong vụ việc là một điều rất khó khả thi. Do vậy, theo Tòa án, điều quan trọng để bảo đảm sự vô tƣcó thể đƣợc đáp ứng là Thẩm phán phải có một tháiđộ cởi mở(“open-mindedness“). Theo Tòa án, phẩm chất này không cấm đoán Thẩm phán có quan điểmtừtrƣớc vềmột vấn đềpháp lý đặt ra trong vụviệc cụthể, mà đòi hỏi Thẩm phán phải sẵn sàng xem xét đến những quan điểm đối lập hay khác biệt, sẵn sàng chấp nhận có thể thayđổi những định kiến đó. (This quality in a judge demands, not that he have no preconceptions on legal issues, but that he be willing to consider views that oppose his preconceptions, and remain open to persuasion, when the issues arise in a pending case) [108, tr. 210-211].

Từ những phân tích trên có thể hiểu sự vô tư trong lĩnh vực tư pháp là trạng thái của người có trách nhiệm giải quyết vụ án khi xem xét, đánh giá, giải quyết tranh chấp một cách khách quan, bảo đảm công bằng, công lý và không thiên vịgiữa các bên liên quan trong vụ án.

2.1.2. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng hình sự

a. Các nghiêncứuhiện nay đang có những quan niệm khác nhauvềnguyên tắc cơ bản của luật TTHS, nhƣ: định nghĩa, tiêu chí, cách phân loại cũng nhƣ xác định giá trị của các nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyếtvụán hình sự. Tuy nhiên, quanđiểmđƣợcthừa nhận tƣơngđốirộng rãi cho rằng nguyêntắccơbảncủaluật TTHS chứa đựng ba nội hàm, đó là: (1) Nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là tƣ tƣởng chủ đạo và là định hƣớng cơ bản của hoạt động TTHS; (2) Nguyên tắc của luật TTHS bao giờ cũngđƣợcphản ánh trên ba lĩnh vựcthể hiện (sinh hoạt) củanó là: trong pháp luật TTHS (tức là trong luật thực định), trong việc giải thích và, trong thực tiễnáp dụng các qui phạm pháp luật TTHS trừu tƣợng; (3) Các nguyên tắc của luật TTHS

22

bao giờ cũng đƣợc “nhà làm luật ghi nhận thông qua một hay nhiều qui phạm pháp luật” [9, tr.15]. Trên cơ sở này, Giáo trình luật TTHS Việt NamcủaKhoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng Luật TTHS tồn tại hệ thống các nguyên tắc cơbản chứkhông phải là những nguyêntắcrời rạc và có nhữngđặcđiểmsau: (1) Các nguyên tắccơbảncủaluật TTHS là những tƣ tƣởng, địnhhƣớngcủahoạtđộngTTHS thể hiện quanđiểmcủa Đảng và Nhànƣớcđốivớiquá trình giải quyếtvụán là dân chủ, kỷ cƣơng và theo định hƣớng XHCN; (2) Các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS chi phối toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc chi phối một số giai đoạn trong quá trình giải quyếtvụán hình sự; (3) Các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS đƣợc ghi nhận trong các văn bản pháp luật của Nhà nƣớc nhƣ Hiến pháp,

Bộ luật TTHS… (4) Các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS có tính ổn định cao, bởi lẽ nó phản ánh những nguyên lý cơ bản nhất trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. (5) Theo đó thì luật TTHS có các nhóm nguyên tắc cơ bản sau: Các nguyên tắc bảo đảm phápchếXHCN trong hoạt động TTHS; Các nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; Các nguyên tắc bảo đảm tính chính xác, khách quan của hoạt độngTTHS; Các nguyên tắc bảo đảm tính dân chủ trong hoạt động TTHS. Trên cơ sở này, Giáo trình đƣa ra định nghĩa về nguyên tắc cơbảncủa luật TTHS nhƣ sau:

“Nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là những phƣơng châm, định hƣớng chi phối toàn bộ haymộtsốgiai đoạncủahoạtđộngTTHS trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS” [11, tr. 45-46]. Giáo trình quan niệm bản thân hoạt động TTHS đã đòi hỏi là luôntồntạinhững nguyêntắccủanó, tuy nhiên khi những nguyêntắccủa TTHSđƣợc nhà làm luật quiđịnhởnhững vănbảnpháp luật thì nósẽtrởthành nguyên tắc của luật TTHS.

Nhƣ vậy, trong luật TTHS hình thành hệ thống các nguyên tắc làm cơ sở cho việc xây dựng và thực thi pháp luật đối với quá trình giải quyết vụán. Theo quan niệmđƣợc thừa nhận chung thì các nguyên tắc đó đƣợcphân chia thành hai loại:

Nguyên tắc cơ bản và nguyên tắcthông thƣờng với giá trị và phạm vi ảnh hƣởng khác nhau. Nguyên tắc cơ bản loại nguyên tắc mang tính định hƣớng, cốt lõi cho toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng luật TTHS.

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS có vị trí là nền tảng cho nền tƣ pháp khách quan, công bằng vàbảo đảm sựdânchủminh bạch trong TTHS. Đến nay, nguyên

23

tắc này đã đƣợc thừa nhận trong tuyệt đại đa số pháp luật các quốc gia, đƣợc ghi nhận trong hầu hết các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con ngƣời.

Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí thì bảo đảmsựvô tƣ của ngƣời THTT và

ngƣời TGTT trở thành nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS do việc

xác định sựthật khách quan và giải quyết vụ án khách quan, đảmbảo công bằng là đòi hỏi tất yếu của TTHS trong Nhà nƣớc pháp quyền XHCN. Tuy nhiên, khi điều tra, truy tố, xét xử thƣờng có sự không“cân bằng”, không bình đẳng giữa các các cơ quan THTT, ngƣời THTTvới bịcan, bị cáo và những ngƣời TGTT khác do một bên là đại diện cho công quyền với đầy đủ sức mạnh của quyền lực, pháp luật, một bên là những

ngƣời bị nghi là phạm tội không có những sức mạnh và điều kiện nhƣvậy [15, tr. 54].

Do vậy, cần thiết lập một cơ chế bảo đảm sự vô tƣ của những ngƣời đại diện công quyền cũng nhƣ chống lại sự lạm quyền của họ khi tiến hành giải quyết vụ án trong luật TTHS. Việc vô tƣ của ngƣời THTT có ý nghĩa quan trọng góp phần vào việc giải quyết vụ án một cách khách quan nên luật TTHS coi bảo đảm sự vô tƣcủa

ngƣời THTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định là nguyên tắc cơ bản. Sự vô tƣ của những ngƣời này phụ thuộc vào ý thức chủ quan nhƣng đồng thời còn chịu tác động của nhiều yếutốkhách quan nên bên cạnh việc giáo dục, nângcao đạo đức đối với họcần có cơ chế pháp lý để ngăn ngừa khả năng dẫn đến sự không vô tƣ khi THTT. Cơ chế này phải đƣợc qui định cụ thể, rõ ràng trong luật TTHS làm cơ sở pháp lýcho việc ngănngừa sựkhông vô tƣ của ngƣời THTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định, phù hợpvớithực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và tâm lý, đạo đức truyền thống mỗi quốc gia.

Cơ chế cũng cần tạo một thủtục chặt chẽ nhƣng đơn giản, thuận tiện cho việc thay đổi ngƣời THTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định bằng việc để cho họ tựmìnhtừchối THTT khi có những căn cứ luật định, cơquan có thẩm quyền chỉ quyếtđịnhthay đổi khi những ngƣời này không tựnguyện. Sựchủ động từchối TGTT của ngƣời THTT, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định trong trƣờng hợp này thể hiện sự hiểu biết và tôn trọng pháp luật của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan tƣ pháp, đồng thời làm đơn giản hoáthủtục tố tụng cũng nhƣ gánh nặng cho các các cơquan THTT [15, tr. 55].

24

Trong quyđịnh pháp luật, trong họcthuyết, cũng nhƣ trong án lệcác nƣớc hoặc quốc tếkhông phải luôn luôn có cách tiếp cận, giải thích và áp dụng giống nhau về nguyên tắc này. Từ nhận thức, quan niệm khác biệt này, các nƣớc có thể có những cách tiếp cận, biện pháp khác nhau nhằm bảo đảm yêu cầu của nguyên tắc này trong lĩnh vực TTHS.

Tiếng La tinh từ lâu đã tồn tại khái niệm “Nemo judex in re sua – Nul n’est juge en sa propre cause.” (Không ai cóthểlà quan tòa trong vụviệc của chính mình). Theo các học giả châu Âu hiện nay thì “Quyền đƣợc yêu cầu xét xử thấu đáođối với việc cáo buộc hình sự bởi một tòa án độc lập và vô tƣ đƣợc coi là biểu tƣợng của ý tƣởng về dân chủ trong tiến trình tố tụng” [30, tr 765].Vì thế, nguyêntắcbảođảm sựvô tƣ trong TTHS đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp, đƣợc coi nhƣ những yếu

tố cấu thành của nhà nƣớc pháp quyền. Hầu hết các văn bản pháp luật của thế giới

và Liên minh châu Âu (Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền 1948 – Điều 10; Công

ƣớc quốc tế về các quyền dân sựvà chính trị 1966 -Điều 14; Hiến chƣơng Liên

minh châu Âu về các Quyền cơ bản của con ngƣời – Điều 47; Công ƣớc châu Âu về

quyền con ngƣời năm 1950 – Điều 6 /1; án lệ của Tòa án Công lý Cộng đồng châu

Âu…)đều thống nhất rằng nguyên tắc độc lập và vô tƣ là các thành tố cấu thành nên một tòa án công bằng, công lý.

Là một trong những nguyên tắc lâu đời ở châu Âu, nguyên tắc bảo đảm sự vô

tƣ trong tố tụng cùng với quan niệm về công lý, quan niệm về vô tƣ đã hình thành.

Hình ảnh nữ thần cônglý – vớidảibăngbịt mắt– theo các tácgiảchâu Âu: không phải bởi nữthần bỏ qua không nhìn vào vụ việc thực tế, mà chỉ bởi vì không muốn bị ảnh hƣởng bởi những nhân tố bên ngoài khả dĩ làm sai lệch việc xét xử (Justice is portrayed as blind not because she ignores the fact and circumstances of individual cases but because she shuts her eyes to all considerations extraneaous to the particular case). Mặc dùđƣợc thừa nhận từ lâu trong thực tiễn pháp luật châu Âu,

nhƣng theo các học giả châu Âu, rất khó đƣa ra một định nghĩa về nguyên tắc bảođảm sựvô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT, bởi lẽ: (a) Ngay nội hàm khái niệm “vô tƣ”đã là rộng và khó xác định;(b) Nguyên tắc vô tƣnằmtrên ranh giới khá“mỏng manh” với các nguyên tắc gần gũi nó nhƣ: độc lập xét xử, trung lập. Theo tác giả Giuseppe Tarzia, Giáo sƣĐại học Milan (Ý) [92, tr. 56], trong xét xử, nguyên tắc chung của mọi quốc gia tiến bộ là: Thẩm phán phải thực sự vô tƣ vàđộc

25

lập. Sựvô tƣ thể hiện ở vị trí độc lập của ngƣời thẩm phán – thƣờng đã đƣợc quy

định ngay trong Hiến pháp – và trong sự không ràng buộc của ngƣời thẩm phán đối với cáclợiích vật chất hay tinh thần. Theo Burkhard HESS, Giáo sƣĐạihọc Heidelberg, Liên bangĐức thì nguyên tắc bảo đảmsựvô tƣđƣợc hiểu là, các

đƣơng sựphải có quyền đƣợc xét xử bởi một bên độc lập, không thiên vị và khôngđịnh kiến[92, tr. 73].

Theo án lệ của Tòa án nhân quyền châu Âu, và theo học thuyết pháp lý phổ biến trên thế giới, sựthiếu vô tƣ của ngƣời THTT thể hiện ở hai góc độ: hoặc là thiếu vô tƣ chủ quan, có nghĩa là sự thiếu vô tƣ, độc lập trong tƣ tƣởng của ngƣời thẩm phán, tuy nhiên có thể phát hiện đƣợc thông qua các xửsựcủa Thẩm phán tại

phiên tòa; Hoặc là thiếu vô tƣ khách quan – điều có thể nhận thấy thông qua các yếu tố về công việc, về vị trí của ngƣời thẩm phán đó. Yếu tố chủ quan khó nhìn nhận rõ, mà phải đƣợc suy luận thông qua cách xửsựcủa ngƣời thẩm phán. Trong khiđóyếu tố khách quan lại phụ thuộc vào thể chế, nhƣ quy định của pháp luật, tổ chức và

hoạt động củacơ quan tƣ pháp… sao cho không tạo ra sự thiên vị hay định kiếnở

ngƣời thẩm phán. Bởi vậy, sựkhông vô tƣ chủ quan chỉ có thể đƣợc suy luận vàchứng minh; nhƣng sựthiếu vô tƣ khách quan thì biểu hiện thông qua các yếu tốbên ngoài, có thể nhìn thấy đƣợc. Tuy nhiên, không phải lúc nào sự phân biệt giữa chủ quan và khách quan cũng rõ ràng. Bởi vậy Professeur Frison-Roche đã cho rằng phải chăng nguyên tắcbảo đảm sựvô tƣ trong tố tụnglà “sựkhách quan trong sựchủ quan” (“l’impartialité était l’objectivité dans la subjectivité.”) [100]. Pháp luật của các quốc gia châu Âu cũng thƣờng quy định nội dung nguyên tắcbảo đảm sựvô

tƣ trong tố tụng thành hai nhóm: hoặc là các trƣờng hợp thiếu vô tƣ một cách hiển

nhiên (nhƣ giữa thẩm phán và một bên đƣơng sự có mối quan hệ gia đình…), và các

trƣờng hợp thiếu vô tƣ theo suy đoán – lúc này buộc phải tìm các chứng cứđể kết luận về tính thiếu vô tƣ của Thẩm phán.

Dù quan niệmvề nguyên tắcbảo đảm sựvô tƣ trong tố tụng còn phức tạp,

nhƣng tất cả các học thuyết pháp lý đều thừa nhận rằng: sự vô tƣ là nền tảng cốt lõi của nền tƣ pháp và trở thành nguyên tắc cơ bản của luật TTHS. Một phiên tòa luôn bị coi là không hợp lệ nếu nhƣ không bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT.

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ trong tố tụng có quan hệ chặt chẽ với nguyên

tắc độc lập xét xử: Độc lập xét xửđƣợc thể hiện thông quasựđộclập của Thẩm

26

phán, ngƣời THTT trong mối quan hệ với những quyền lực khác, kể cả công quyền cũng nhƣ các quyền lực thực tế (truyền thông, chuyên gia, các bên đƣơng sự). Nguyên tắc độc lập xét xửliên quan trực tiếp đến địa vị của những ngƣời THTT. Trong khi đó, nguyên tắc vô tƣ lại liên quan nhiều hơn đến tổ chức và hoạt động nội bộ của tòa, của các các cơ quan THTT, đến phẩm chất cá nhân của ngƣời THTT.

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT không hoàn toàn đồng nhất với nguyên tắc bảo đảmsựđộc lập xét xửcủa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.Sựkhác nhau thể hiệnở:Thứ nhất, phạm vichủ thể đƣợc áp dụng ởhai nguyên tắc là khác nhau. Thứ hai, nguyên tắc độc lập xét xử cần phải dựa trên nguyên tắc bảo đảmsựvô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT, bởi có vô tƣ thì Thẩm phán mới độc lập xét xử. Một bộ phận quan trọng của nguyên tắc độc lập xét xửnằm trong các bảo đảm về sự vô tƣcủangƣời THTT và ngƣời TGTT nhƣ: tránh những can thiệp,ảnhhƣởng từphía cá nhân, cơ quan tổ chức bên ngoài vào hoạtđộng xét xử. Tuy nhiên, một bộ phận cấu thành của nguyên tắc bảo đảmsựvô tƣcủa ngƣời THTT và ngƣời TGTT lại có tính đặc thù so với nguyên tắc độc lập xét xử: để thực sựvô tƣ thì ngƣời THTT phải không đƣợc có định kiếnsẵn về vụ việcđang xét xử. Việc có các bảo đảm cho độc lập xét xửkhông luôn đồng nghĩa với

việc tránh đƣợc các định kiến của ngƣời THTT – những định kiến có khả năng làm cho kết quả TTHS trở nên sai lệch, kém khách quan. Về cơ bản, nguyên tắc độc lập

đƣợc coi là tiền đề của nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ, bởi lẽ ngƣời thẩm phán chỉ cóthể vô tƣ trên cơ sở độc lập. Ngƣợc lại, một Thẩm phán độclậphoàn toàn nhƣng cũngvẫncókhảnăng thiếu vô tƣ trongmộtvụviệc nhấtđịnh.Chính vìlẽđó,hai khái niệm trên thƣờng đi liền với nhau. Tòa án châu Âu đã kết luận “Bởi lẽ khó phân định giữa nguyên tắc độc lập và vô tƣ trong xét xử, hai nguyên tắc này cần phải đƣợc nghiên cứu song song” [93, tr. 04].

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT thực chất làviệc xác lập một cơ chế bảo đảm chosựvô tƣcủa ngƣờiTHTT, ngƣời TGTTđể họ không thiên vị trong quá trình giải quyết vụ án. Cơ chế bảo đảm này phải đƣợc quiđịnh trong luật mộtcách rõ ràng vàđủđể ngăn chặnmọikhả năng có thể dẫnsựkhông vô tƣ của những ngƣời có thẩm quyền THTT. Đâylà yếu tố đầu tiên, quan trọng góp phần vào việc giải quyết vụ án khách quan nhƣng không phải là tất cả. Để bảo đảmsựvô tƣ còn đòi hỏiviệc thực thi pháp luật nghiêm túc của các chủthể

27

THTT cũng nhƣ một cơ chế giám sát việc thực thi nguyên tắccủa các chủ thể có liên quan. Nhƣ vậy, khi đề cập đến cơ chế bảo đảmsựvô tƣcủangƣời THTT,

ngƣời TGTT phải bao gồm cả ba yếu tố: Quiđịnh củapháp luật TTHS, các yếu tốbảo đảm việc thực thi nghiêm chỉnh nguyên tắc và cuối cùng là cơ chế giám sát việc thực thi nguyên tắc để bảo đảm nó hiện diện đầy đủ, đúng đắn nhất trong quá trình giải quyết vụ án. Với cách tiếp cận tổng thể, định nghĩa về nguyên tắc bảo đảm sựvô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT đƣợc hiểu nhƣ sau: Nguyên tắc bảo đảmsự vô tư của người THTT vàngườiTGTT hình sựlà những tư tưởng mang tính xuất phát điểm, chủ đạo và định hướng cho toàn bộ hoạt động xây dựng, thực thi, kiểm soát pháp luật TTHS nhằm mục đích giải quyết vụ án khách quan, công bằng, dân chủ, bảo đảm công lý trong giải quyết vụ án hình sự.

b. Nguyên tắc bảo đảmsựvô tƣcủangƣời THTT và ngƣời TGTT là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS có vị trí là nền tảng cho nền tƣ pháp khách quan, công bằngvà bảo đảmsựdân chủ, minh bạch trong TTHS. Theo định nghĩa nêu trên thì nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT cónhững nội hàm sau:

Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảmsựvô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT lànhững phƣơng châm, định hƣớng quan trọng chi phối toàn bộ hay một số giaiđoạn của hoạt động TTHS trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS. Trƣớc hết các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS phải chứa đựng những nội dung thể hiện

phƣơng châm, địnhhƣớng quan trọng về hoạt động TTHScủamột quốc gia.

Phƣơng châm này phải đƣợc thể hiện trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật TTHS của các chủ thể. Xa rời các nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS sẽ rơi vào tình trạng chỉchú ý việc giải quyếtvụ án nhanh chóng mà xem nhẹ đến việc bảo đảm các quyền lợi hợp pháp của công dân dẫn đến mất dân chủ. Hoặc thiếu kiên quyết, dẫn đếntình trạngđấutranh chống tội phạm trì trệkém hiệu quả. Cả hai khuynh

hƣớng trên đều không phù hợp với phƣơng châm giải quyết vụ án hình sự, vừa bảođảm tính chính xác, khách quan, có hiệu quả đồng thời phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Thứ hai, là nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS nên nguyên tắc bảo đảm sự vô

tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT chi phối toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự. TTHS bắt đầu bằng việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kết thúc khi

28

bản án, quyết định của Tòa án đƣợc thi hành xong với những nhiệm vụ tƣơng ứng ở từng giai đoạn. Đồng thời, mỗi giaiđoạnlại do những cơ quan THTT, ngƣời THTT khác nhau đảmnhiệm nhƣng nguyên tắc bảo đảmsựvô tƣ của ngƣời THTT và

ngƣời TGTT đều phải đƣợc quán triệt không có bất kỳ ngoại lệ nào.Sởdĩ nhƣ vậy là do bảo đảm sựvô tƣ của ngƣờiTHTT và ngƣời TGTT không những là đòi hỏi khách quan của nền công lý, là tiêu chí đánh giá tính khách quan, minh bạch, dân chủ của Luật TTHS mà còn mang tính chất bắt buộc đối với hoạt động của ngƣời THTT và ngƣời TGTT đƣợc Luật TTHS qui định.

Thứ ba, nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT cótínhổnđịnhcao,bởilẽnó phản ánh những nguyên lý cơbảnnhấtcủacác qui luật cơbảntrong quá trình giải quyếtvụán hìnhsự,màbảnthân các qui luật mang tính ổn định.

Thứ tư, nguyêntắc bảo đảm sựvô tƣ của ngƣời THTT vàngƣờiTGTT với mục đích ngăn ngừa những khả năng sẽ làm cho ngƣời THTT, ngƣời TGTT không vô tƣ khi giải quyết vụ án. Những khả năng này đƣợc cụ thể hóa ở các căn cứ phải từchối hoặc phải thay đổi ngƣời THTT, ngƣời TGTT của cơ quan có thẩm quyền

trong luật TTHS mỗi quốc gia. Cũng cần khẳng định là không phải bất kỳ ai khi có những căn cứLuật quiđịnh phảitừchối hoặc thayđổi,họ cũng giải quyết vụ án thiên vị. Trái lại có những thẩm phán,ngƣờiTHTT khác hoặc ngƣời TGTT khi giải quyết vụ án mà bị can, bị cáo là ngƣời nhà thì lại càng nghiêm khắc, càng vô tƣ. Tuy nhiên, do yêu cầu của công lý, công bằng trong tƣ pháp mọi khả năng có tính chất nghi ngờ đều cần phải đƣợc phòng ngừa.

Thứnăm, xáclậpmộtcơchếthực thi nguyêntắcbảođảmsựvô tƣcủa

ngƣờiTHTT vàngƣờiTGTT có hiệu quả. Luật TTHS quiđịnhnguyêntắcbảođảmsựvô tƣcủangƣờiTHTT và ngƣờiTGTT,đồngthờivớiviệc quiđịnh những bảo đảm để thực thi nguyên tắc này, nhƣ: căn cứ, thủ tục, trình tự thay đổi

ngƣờiTHTT, ngƣờiTGTT;Hậuquảpháp lýcủaviệc vi phạm những quiđịnh

của nguyên tắc này…. Ngoài ra, còn các qui phạm hành chính tƣ pháp nhằm bảođảmcho nguyên tắc này đƣợc thực thi có hiệu quả trong quá trình giải quyết vụán, nhƣ điều kiện, thủ tục, thẩm quyền bổ nhiệm ngƣời THTT, ngƣời TGTT, qui

chế làm việc của những ngƣời này, khen thƣởng, kỷ luật đối với họ…. Nhƣ vậy, nguyên tắc bảo đảm sự vô tƣ của ngƣời THTT và ngƣời TGTT chỉ thực sự phát

29

huy tác dụng trong quá trình giải quyết vụ án khi có cơ chế thực thi đồng bộ của nhiều loại qui phạm pháp luật khác nhau.

2.2. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm sựvô tƣ của ngƣời tiến hành tốtụng và ngƣời tham gia tố tụng hình sự

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM SỰ VÔ TƯ CỦA NHỮNG NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HOẶC NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam- Những vấn đề lý luận  Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam- Những vấn đề lý luận

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *