Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bình đẳng là một trong những quyền tự nhiên cơ bản của con người, gắn bó mật thiết với con người trong hoạt động xã hội. Nhân loại đã trải qua nhiều đấu tranh, hy sinh để bảo vệ quyền bình đẳng. Vì vậy, bảođảmquyền bìnhđẳnglà mộttrong những nhiệmvụquan trọng của các nhà nước văn minh. Trong số các quyền thì bình đẳng trước Tòa án, bình đẳng trước pháp luật là những quyền quan trọng được thế giới ghi nhận: “Mọi người đều bìnhđẳngtrước pháp luật vàđượcpháp luậtbảovệ, không cóbấtkỳ sựphân biệt nào”(Điều7-Tuyên ngônthếgiớivề Nhân quyền). “Mọingười đềuđược hưởng quyền bình đẳng, được xem xét công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập và không thiên vị trong việc quyết định các quyền và nghĩa vụ của họ cũng như vềbất cứ sự buộc tội nào đối với họ” (Điều 10-Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền).

Quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực

của đời sống xã hội,đặc biệtlà trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhóa –xã hội và đặcbiệt quan trọng là bình đẳng trong lĩnh vực pháp lý, tư pháp, tố tụng. Tiêu chí của mộtđấtnước văn minh hiện nay là luật pháp phảiđược thượng tôn, bất kể vị thế giữa người vi phạm và ngườibị xâm phạm. Quyền và nghĩa vụcủacông dân khôngbịphân biệtbởi giới tính, dân tộc, tín

ngưỡng, tôn giáo, giàu nghèo, thành phần xã hội, địa vị xã hội… Trong cùng mộtđiềukiện như nhau, công dân phảiđược hưởngquyền và nghĩa vụnhưnhau, có cùng tư cách pháp lý như nhau. Tuy nhiên, mức độsửdụng các quyền và nghĩa vụđóđếnđâuthì cònphụthuộc nhiều vào khả năng, điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người. Nhà nước phải có vai trò quan trọng trong việc bảođảmcho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách bình đẳng; công dân cần thực hiện tốt các nghĩa vụ được Hiến pháp và các Đạo luật xácđịnh, đó chính là điều kiện để sử dụng quyền của mình một cách tốt nhất.

1

Quyền bình đẳng trước pháp luật cũng là một trong những nguyên tắc pháp lý cơ bản ở nhiều quốc gia. Hiến pháp Việt Nam quy định rằng mọi công dân Việt Namđềubìnhđẳngvề quyền và nghĩa vụ;công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trìnhđộvăn hóa, nghề nghiệp, có thời hạn cư trútừđủ 18 tuổi trở lên đều có quyềnbầucửvà từđủ21 tuổi trở lên có quyềnứngcửvào Quốc hội, Hộiđồngnhân dân theo quyđịnhcủa pháp luật. Hiến pháp Việt Nam còn xác địnhquyền bìnhđẳng của phụ nữ và nam giớivề mọi mặtchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội vàgia đình.

Xây dựng và bảo vệ sự bình đẳng của đương sự là một giá trị xã hội và là mục tiêu phấn đấu của xã hội loài người. Bình đẳng không phải là vấnđề có tính chất cá nhân mà nó cómốiliên hệ giữa cá nhânvớicá nhân, cánhânvớitổ chức, giữa các tổ chức với nhau. Đảm bảo quyền bình đẳng củađươngsựtrong TTDS làchủtrương, chính sách của Đảngvà Nhà nước ta trong việc tạo ra tính bền vững, sự ổn định và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam. Điềuđó đã được thể hiệnqua các văn kiệnĐạihội Đảng, các Nghị quyết của Bộ Chính trị nhằmhướng tới“Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụnhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xétxử được tiếnhành có hiệu quả và cóhiệu lực cao” (Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trịvề chiến lượccảicách tư phápđếnnăm 2020).Kếthừa và phát huy những giá trị của các văn bản pháp luật về TTDS được ban hành trước đó, BLTTDS đã thể chế hóa quanđiểmcủa Đảng và Nhà nước về công cuộc cải cách tư pháp, quy định quy trình tố tụng khoa học, đảmbảođẩymạnh dân chủ và là công cụ pháp lý quan trọng để các cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Điều 8 của Bộ luật tố tụng dân sựsửa đổi, bổsung năm 2011 và Điều8 của BộluậtTốtụng dânsựnăm 2015 (có hiệu lực kểtừngày 01/07/2016)đã quyđịnhvề sựbìnhđẳngvề

2

quyền và nghĩa vụtrongtốtụng dânsựnhư sau:“1/Trongtốtụng Dânsựmọingườiđềubìnhđẳngtrước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xãhội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụtốtụng trước Tòa án. 2/Tòa án có trách nhiệmbảođảmnguyên tắc bìnhđẳngtrong việc thực hiện quyền và nghĩavụcủacơquan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự”.

Bộluậttốtụng dânsựđầutiên của Việt Nam ra đờivào năm 2004. Đếnnăm 2011, BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi bổ sung BLTTDS. Năm 2015, BLTTDS mới ra đời, có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016, là BLTTDS hiện hành. Trải qua 03 BLTTDS, điềukhoản quyđịnh về nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự đềuđược quyđịnhtạiĐiều8. Trong quá trình thực hiện, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dânsựđã bộc lộ nhiều điểm bấtcập và hạn chế. Điều này đã làm ảnh hưởng tới hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án và việc bảo về quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể tại Tòa án. Một trong những vấn đề còn tồn tại đó là những quy định về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cậpnêu trên thì có nhiều, trongđócócả sựnhận thức và áp dụng không thống nhất về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS.

BLTTDS năm 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016 có tổng số 517điều, chia thành 42 chương. So với BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 thìBLTTDS năm 2015đã sửa đổi, bổsung 350điều;bổsungmới104 điều. RiêngĐiều8 của BLTTDS năm 2015 quyđịnhnguyên tắc bìnhđẳngvềquyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự so với Điều 8 của BLTTDS sửa đổi, bổsung năm 2011về cơ bảnthì không cósựthayđổilớn. Nếukhông cónhững quy định, giải phápđộtphá nhằm khắc phục nhữngbấtcậpvà hạn chế của nguyên tắc này, rất có thể sẽ cản trở việc thực hiện các quy định tiến bộ của BLTTDS năm 2015 như “thực hiện mô hình tố tụng xéthỏi kết hợp

3

với tranh tụng”;“khuyếnkhích việc giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải”; “Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ-việc dân

sự vìlý do chưa có điều luật để ápdụng”…v…v…

Vì những lý do đó, tôi chọn đề tài “Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trongtố tụng dân sự Việt Nam” làm luận án tiến sỹ, với mong muốn rằng việc nghiên cứu thành công đề tài này sẽ góp phần làm rõnhững vấnđề lý luậnvề nguyên tắc bình đẳng trước phápluật của đương sựtrong tố tụng dânsự của ViệtNam, cũng như đánh giá thực trạng pháp luật về nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sựcủa Việt Nam. Trên cơ sở đó, sẽ xác địnhyêucầuvà giải pháp nhằm hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự của Việt Nam giaiđoạnhiện nay và thời gian sắp tới.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về nguyên tắc bình đẳng của đương sựtrong TTDS và thực trạng pháp luật về nguyên tắc này ở Việt Nam, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện nguyên tắc bìnhđẳngcủa đươngsựtrong TTDS ở Việt Nam trong thời gian sắp tới.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để đạt được mục đích trên, luận án có nhiệm vụ sau đây:

– Hệ thống hóa các vấnđề lý luậnliên quanđếnnguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS bằng việc xây dựng khái niệm, phân tích nội dung cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến nguyên tắc này.

– Phân tích khái quátvề sựhình thành và phát triển các quyđịnhvề nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS Việt Nam.

– Đánh giá thực trạng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS trong các văn bản pháp luật hiện hành và thực trạng áp dụng nguyên tắc này trên thực tế.

– Phân tích, luận chứng các quan điểm và đề xuất hệ thống các giải pháp

4

nhằm hoàn thiện nguyên tắc bìnhđẳngtrước pháp luật của đươngsựtrong TTDSở Việt Nam hiện nay.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1. Đối tượng nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu của luận án là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS theo quy định của pháp luật Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS là một đềtài khá rộng và phức tạp, bao gồm nhiều nội dung khác nhau. Luận án tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, trong đó tập trung nghiên cứu các quy định BLTTDS năm 2004 (và LSĐBSBLTTDS năm 2011) và BLTTDS năm 2015 về nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sựtrong TTDS trên cơ sở tiếp cận quá trình hình thành, phát triển của nguyên tắc này từ trước năm 1945 trở lại đây.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp luận

Để làmrõđối tượng và phạmvi cần nghiên cứu nêu trên, luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin để luận giải những vấn đềvề bình đẳng, về nội dung, về vai trò và những yếu tố bảo đảm nguyên tắc bìnhđẳngtrướcpháp luậtcủađươngsựtrong TTDS.Đồngthời, luận ándựatrên quanđiểm,đườnglốicủaĐảngvà chính sách pháp luậtcủaNhànướcvềnguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS; xác định yêu cầu và xây dựng các kiến nghị nhằm hoàn thiện áp dụng pháp luật về nguyên tắc này ở Việt Nam.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyếtcác vấnđề cụthể mà nhiệm vụ nghiên cứu đề tàiđặtra, luận án sử dụng kếthợphài hòa các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như phương pháp phân tích, tổng hợp các thông tin và tình huống pháp lý để làmrõ những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về nguyên tắc bình

5

đẳngtrướcpháp luậtcủađươngsựtrong TTDSở Việt Nam. Bên cạnh đó, phương pháp thống kê và các ví dụ thực tiễn nhằm minh chứng và lập luận cho những nhận xét, đánh giá, kết luận khoa học của luận án và đặc biệt làphương pháp so sánh luật học được sửdụng xuyên suốt trong luận ánđểphân tích, đối chiếu và so sánh những quy định của pháp luậtvề nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS với các nguyên tắc khác và với những quy định của một số nước trênthế giới, để từđó tìm rađược nhữngđiểmtươngđồngvà nhữngđiểmcòn chưa tương thích, bấtcậpcủa việc áp dụng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS trong đời sống xã hội và đời sống pháp lý ở Việt Nam, cụ thể là:

– Phương pháphệthốngđượcsửdụng trong chương 1đểphân loại vànghiên cứu nội dung các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến chủđề của luận án ở Việt Nam và nước ngoài.

– Phương pháp logic là phương pháp nghiêncứuđượcsửdụng xuyên suốt trong quá trình thực hiện chương 2, chương 3 và chương 4. Theo đó, trong chương 2 trước khi nghiên cứu cơ sở lý luận nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS, luận án đã nêu khái quát về đương sự, vềbìnhđẳngcủađươngsự.Đồngthời nội dung của 3 chương cómốiquanhệxuyên suốt. Những lý giải về mặt lý luận ở chương 2 là cơ sở đánh giá thực trạng nguyêntắcbìnhđẳngtrướcpháp luậtcủađươngsựtrong TTDSở chương 3 và từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDSở Việt Nam trong chương 4.

– Phương pháp lịchsửđược sửdụng trong việc đánh giá thực trạng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS.

– Phương pháp phân tích – tổnghợpđượcsửdụng trongcảchương 2, chương 3 và chương 4 của luận án. Phân tích khái niệm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS, đặc điểm, nội dung, vai trò và các yếutốbảođảmnguyêntắcbìnhđẳngtrướcpháp luậtcủađươngsựtrong TTDS; phân tích các quyđịnhpháp luậtvềnguyêntắcbìnhđẳngtrướcpháp

6

luậtcủađươngsựtrong TTDS cũng như thực trạng áp dụng nguyêntắcnày trên thực tiễn; phân tích các yêucầuvà giải pháp hoàn thiện nguyêntắcbìnhđẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS ở Việt Nam.

-Đốivớiviệc nghiêncứunguyêntắcbìnhđẳngtrướcpháp luậtcủađương sự trong TTDS ở một số nước trên thế giới, tác giả chú trọng sử dụng phương pháp so sánh và phân tíchđểrút ra kinh nghiệm cho việc hoàn thiện nguyên tắc này ở Việt Nam.

– Trong chương 3, bên cạnh việc sử dụng phương pháp phân tích tác giảcòn sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp các số liệu đểchứng minh cho các luận giải đã nêu trong phần đánh giá thực trạng áp dụng nguyên tắc nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS ởViệt Nam.

5. Những điểm mới của luận án

Thứ nhất, luận án là công trình khoa học độc lập đã đánh giá được tình hình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoàinước cóliên quanđến đề tài luận án. Trêncơ sở đó đề ra được mục đích và phạm vi nghiêncứu hợplýnhằm giải quyết tiếp những vấn đề về nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đươngsựtrong TTDS mà các công trìnhđóchưa nghiêncứuhoặc nghiên cứu chưa sâu.

Thứ hai, luận án tiếptụcphân tích làm rõ thêm quanđiểmvề:đương sự, về bình đẳng của đương sự; khái niệm và nội dung của nguyên tắc bìnhđẳngcủa đươngsựtrong TTDS theo quyđịnhcủapháp luật Việt Namtừlịch sử hình thành đến các quy định hiện nay.

Thứ ba, việc phân tích làm rõbảnchất nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS được đặt trong mối quanhệ vớicác nguyên tắc khác được quy định trong pháp luật TTDS. Mỗi một nguyên tắc quy định và thể hiện ở những phương diện, lĩnh vực và phạm vi khác nhau tạo nên hệthống các nguyêntắcđảmbảothực hiện quyền con người, lợiích và trách nhiệm của các chủthể trong việc thực thi hiệu quả các thiết chế pháp luật

7

trong đời sống xã hội và đời sống pháp lý.

Thứ tư, luận án đã phân tích, đánh giá những yếutố bảođảmnguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS. Trong đó điều kiện kinh tế-xã hội, các quy định của pháp luật về TTDS về trình tự, thủ tục giải quyết các vụviệc dân sự, hoạtđộnggiải quyếtvụviệc dânsựcủa Tòa án, hoạt động hỗ trợ đương sự tham gia tố tụng của các tổ chức, cá nhân, cơ chếgiám sát, kiểm sát các hoạt động dân sự là những yếu tố có tính quyếtđịnh bảo dảmnguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS. Vìvậy, một trong những yêucầuhiện nay đó là việc cần phải giải quyếtđồng bộ, hệthống các vấnđề trênđảmbảonguyêntắcbìnhđẳngcủa đươngsựđược thực hiện trên thực tế của đời sống xã hội.

Thứ năm, luận án phân tích, đánh giá các quy định của một số nước vềnguyên tắc bìnhđẳngcủa đươngsựtrong TTDS (Hoa Kỳ, Pháp và Trung Quốc). Các quốc gia được dẫn chứng là các quốc gia có hệ thống pháp luật khác nhau. Qua đócó thể rút ra mộtsốkinh nghiệm trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật về nguyên tắc này tại Việt Nam.

Thứ sáu, luận ánđã phân tích, bình luậnmộtcách toàn diện và khách quan về thực trạng áp dụng nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS. Trên cơ sở đó chỉ ra những ưu điểm và hạn chế các quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS. Xác định rõnguyên nhân của những hạn chế, bất cập về nguyên tắc này trong thực tiễn.

Thứ bảy, luận án đã xác định các giải pháp và những yêu cầu cụ thể góp phần hoàn thiện nguyên tắc bìnhđẳngcủa đươngsựtrong TTDS ở Việt Nam. Những giải pháp được đưa ra đảm bảo tính khoa học và có giá trị tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng, các đương sự và các chủ thể khác, phù hợp với các nguyên tắc tố tụng dân sự khác nhằm đảm bảo sự công bằng của đương sự trước Tòa án và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Từ việc tiếp cận, nghiên cứu và đánh giá các quy định của nguyên tắc

8

bình đẳng của đương sự trong TTDS Việt Nam và của một số quốc gia trên thế giới, có thể khẳng định rằng luận án là một công trình khoa học độc lập, nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về nguyêntắcbình đẳng của đương sựtrong TTDS. Những phân tích, kết luận và đề xuất mà luậnán nêu ra có cơsở lý luận khoa học và đảmbảođộ tin cậy. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS. Luận án là tài liệu có giá trị phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong khoa học pháp lý cũng như trong thực thi pháp luật về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS ở Việt Nam.

7. Bố cục của luận án

Ngoài phầnmở đầu, kếtluận và danh mục tài liệu tham khảo, luận ánđược kết cấu gồm 4 chương; cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đếnđề tài

Chương 2: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

Chương 3: Thực trạng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sựtrong tố tụng dân sự Việt Nam

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự ở Việt Nam

9

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾGIỚI VÀ VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1. Những công trình nghiên cứu trên thế giới

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.2. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.2.1. Những kết quả đạt đƣợc và đƣợc kế thừa trong luận án

Từquá trình khảocứucác công trình nghiêncứutrong và ngoài nước về nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS cóliên quanđếnđề tài, tác giả nhận thấy hoạtđộngnghiêncứucủa các học giả đã đạtđược các kết quả cơ bản sau:

Thứ nhất, có rất nhiều cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau từ góc độ triết học, kinh tế, góc độ pháp lý, góc độ xã hội học,..về sự bình đẳng vànguyêntắcbìnhđẳngtrướcpháp luật của đươngsự. Song nhìn chung, dùđược nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, quan điểm, khái quát haycụthể, các tác giả đều khẳng định: quyền bình đẳng là một trong những quyền cơbảncủa con người. Quyền bìnhđẳnglà quyền mang tính chấttựnhiên, thỏa mãn nhu cầu xã hội của mỗi con người trong cuộc sống.

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

Thứ hai, các tác giả đều cho rằng: Quyền con người là một khái niệm mang tính chính trị-pháp lý và có một lịch sử phát triển lâu dài. Quyền con người là quyền vốn có không thể tách rời đối với con người sinh ra trên tráiđấtnày, không phân biệt họ là ai, sinh ra ở đâu, không phân biệt giới tính, tôn giáo hayđịavị. Quyền conngườilà bình đẳng. Mọicá nhân trong xãhội đềuđược thừa nhận giá trị con người và xứng đáng được tôn trọng.

Thứ ba, từ các độ tiếp cận và nghiên cứu khác nhau các học giả đều cho rằng: khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự, mặc dù các chủ thể cóthểkhông giống nhauvề tư cách tham gia, độngcơ xáclậpquanhệ dânsựnhưng về địa vị pháp lý, họ luôn có sự bình đẳng. Sự bình đẳng của các chủthể tham gia quan hệ tố tụng dân sự cũng là một trong những nội dung thểhiện bình đẳng về địa vị pháp lý. Và rằng không chỉ dừng ở sự bình đẳng trong các quyđịnhpháp luậtvề nộidung mà trong pháp luật hình thức (pháp luật tố tụng), nguyên tắc bình đẳng cũng phải luôn được đề cao và là một đặc điểmđể phân biệt với các thủ tục tố tụng hình sự hay tố tụng hành chính. Đâylà mộttrong các nguyên tắc rấtquan trọng trong TTDS, góp phần đảm bảo quyền con người hướng tới một xã hội ổn định và phát triển.

Thứ tư, mặc dùđược nghiêncứuở các phương diện khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả đều cho rằng: bình đẳng của đương sự là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng thành công Nhà nước pháp quyềnở Việt Nam. Nhà nước pháp quyền XHCNđòihỏihoạtđộngxétxửcủa Tòa án phải công minh, công bằng, dân chủ và có hiệu quả; mọi người phải tuânthủtriệtđểpháp luật. Đểđạtđượcnhững yêucầuđó, trước hếtcần thực hiện các nguyêntắcpháp luật cơ bản của Nhà nước, và một trong các nguyên tắc đó là nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Bìnhđẳngcủa đươngsựtrong TTDS là mộttrong những cơ sở, mục tiêuđể hiện thực hóa các đòi hỏi của nguyên tắc “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.

21

1.2.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sởtiếp thu, kế thừa những quan điểm, tưtưởngvàmộtsốvấn đề lý thuyết từ các công trình khoa học trong và ngoài nước, tác giả sẽtiếp tục tậptrung giải quyết nhữngvấnđề về bình đẳng, nguyên tắc bìnhđẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS chưa được các học giả tiếp cậnhoặc đã được tiếpcận nhưngở mức độ chưasâu trong các công trình nghiên cứu, bao gồm:

+ Mộtlà, tác giả tiếp tục tậptrung nghiêncứuhệ thống nhữngvấnđề lý luận về đương sự, bình đẳng, khái niệm và nội dung nguyên tắc bìnhđẳng trước pháp luật của đươngsựtrong TTDS và thực trạng áp dụng nguyên tắc nàyở ViệtNam. Trên cơ sở đó rút ra những nhận xét, đánh giávề những khó khăn, phức tạp cũng như những bất cập, hạn chế khi áp dụng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, truyền thống pháp lý của Việt Nam. Đây chính là cơ sở, nềntảng đưa ra yêucầuvà giải pháp hoàn thiện thể chế, thiết chế vềnguyên tắc bìnhđẳngcủa đươngsựtrong TTDS ở Việt Nam trong giaiđoạnhiện nay.

+ Hai là, một hướng tiếp cận cũng được tác giả chú trọng là nghiên cứunguyên tắc bình đẳng trước pháp luậtcủa đương sựtrong TTDS của mộtsốquốc gia tiêu biểu, từđótổngkếtđánh giá để rút ra những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luậtvềnguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS ở Việt Nam.

+ Ba là, việc nghiên cứu bình đẳng của đương sự được đặt trong mối tương quanvớicác nguyên tắc khác đặc trưng của pháp luật TTDS nhằm tiếp cận và khẳng định vai trò của nguyên tắc bình đẳng trước pháp luậtcủađươngsự. Đâychính làmộtyêucầucủa thựctế khách quan trongđịnh hướng xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

22

+ Bốnlà, bìnhđẳngtrướcpháp luậtcủađươngsựtrong TTDS làmột nguyên tắc không chỉ được ghi nhậnvề mặthình thức trong pháp luật dân sự mà cần phảiđược đảmbảothực hiện hiệu quả trong đời sống xã hội nói chung và trong đời sống pháp lý nói riêng. Do đó, một trong những nội dung tác giả cần tập trung tiếp tục làm sáng tỏ chính là các yếu tố tác động và chi phối tới quá trình thực thi nguyên tắc này trong thực tiễn.

+ Năm là, thời điểm hiện tại chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, cóhệ thốngvề nguyêntắcbìnhđẳngtrước pháp luậtcủađương sựtrong TTDS ở Việt Nam. Vì vậy, rấtcầnmộtcông trình nghiên cứu độc lập toàn diện về vấn đề trên. Do đó, việc tiếp tục phát triển các kết quả nghiêncứuvề nguyên tắc bìnhđẳngtrước pháp luật của đươngsựtrong TTDS trên phương diện lý luận; đánh giá thực trạng áp dụng nguyên tắc này; đề xuất những giải pháp hoàn thiện và những yêucầucủa nguyên tắc bìnhđẳngcủa đươngsựtrong TTDS là cầnthiết và đâylà công trình khoa học không trùnglặpvớibấtkỳcông trình nghiêncứunàođã thực hiện trước đây.

Kết luận chƣơng 1

1. Quyền bình đẳng là mộttrong những quyền thiêng liêng của con người. Chính vì vậy, quyền bình đẳng được ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong đời sống xã hội và trong đời sống pháp lý. Một trong những nội dung cơ bản của hệ thống pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật quốc gia đều quyđịnhsựbìnhđẳngấylà mộtnguyêntắctrong xây dựng và phát triển pháp luật nói chung, trong TTDS nói riêng. Các BảnHiến phápcủanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật tố tụng dân sự, Luậtsửa đổi bổsungBộluậttốtụng dânsựvà các vănbảnhướngdẫnmộtlầnnữa khẳng định rằng: nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS là một nguyên tắc cơ bản thực hiện quyền con người trong xã hội.

23

2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDSđượccáchọcgiảtrong và ngoàinướctiếpcậnởcác gócđộkhác nhau, từgócđộkinhtế,gócđộpháp lý, gócđộchính trị. Cáchọcgiảđều khẳngđịnhviệc ghi nhận vàbảođảm thực hiện nguyêntắcnày là một yêucầukhách quan vàcầnthiếtcủaTAND trong hoạtđộnggiải quyết các việc dân sự.

3. Nguyên tắc bìnhđẳngtrước pháp luật của đươngsự trong TTDS luôn là đề tài được các học giả trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và có nhiều quan điểm khác nhau, điều đó cho thấy tính phức tạp của nó. Tuy nhiên, các công trình đó chủ yếumớidừng lại ở phương diện tiếp cậnmang tính giới thiệu, khái quát hóa về vấnđề.Vìvậy, rấtcầncó một công trình nghiêncứuđộclập, chuyên sâu và cóhệ thốngvề nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong TTDS ở Việt Nam.

24

Chƣơng 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG

TRƢỚC PHÁP LUẬT CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG

DÂN SỰ VIỆT NAM

2.1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮCBÌNH ĐẲNG TRƢỚC PHÁP LUẬT CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.1.1. Khái niệm nguyên tắc bình đẳng trƣớc pháp luật của

đƣơngsự trong tố tụng dân sự

2.1.1.1. Khái niệm đương sự trong tố tụng dân sự

Dướigócđộngônngữhọc, theoTừđiểnTiếng Việt thìđươngsựlà “đối tượng trực tiếpcủa một việc đang được giải quyết” [82, tr 572]. Còn trong cuốn Từ điển Hán Việt, đương sự được định nghĩa là người“có liên quan trực tiếp đến một việc” [24, tr.232]. Như vậy, dưới góc độ chung nhất,đươngsựlà ngườicó liên quan trực tiếp trongmộtvụviệc nàođóxảyrađang được đưa ra xem xét, giải quyết.

Dướigóc độ pháp lý, theo Từ điển Luật học năm 2006 thì đương sựđược hiểulà “Cá nhân, pháp nhân tham gia tố tụng dân sự với tư cách lànguyênđơnhoặc bịđơnhoặc ngườicó quyền lợi, nghĩavụliên quan.Đương sự là một trong các nhóm người tham gia tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động. Những người tham giatốtụng dânsự đóbaogồmđương sự,người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan nhà nước,tổ chứcxã hội khởi kiện vì lợi ích chung, Viện kiểm sát, ngườilàm chứng, ngườiphiêndịch” [59, tr.278 – 279]. Như vậy,đươngsựtrongmộtvụ việc là nhữngngườicó quyền, nghĩa vụ liên quanđếnvụviệc đangđược xem xét, giải quyết. Tùy thuộc vào tính chất của từng loạivụ việc được Tòa ángiải quyết mà có đương sự trong vụ-việc dân

25

sự, đươngsựtrongvụán hành chính vàđươngsựtrongvụán hình sự. Trong đó, đương sự trong vụ-việc dânsự “là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích củaNhànước thuộc lĩnh vực mìnhphụtrách do có quyền, nghĩavụliên quanđếnvụviệc dânsự”[54, tr.105]. Các đươngsựtrong vụ-việc dânsựcó thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổchức, tham gia tốtụngvớitư cách lànguyên đơn, bịđơn hoặc ngườicó quyền lợi, nghĩa vụliên quan trong vụán dân sự; người yêu cầu, người bị yêu cầu, người có liên quan trong việc dân sự.

Để Tòa án giải quyết vụ-việc dânsựchính xác, công bằng và đúng pháp luật cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thìmộttrong những yêucầuđólà các đươngsựđềuphảiđược bìnhđẳng trước pháp luật, trước Tòa án khi tham gia vào quá trìnhtốtụng dân sự. Theo đó, vớiviệc địnhnghĩa về đươngsự, có thể thấy“người” được xác định là đương sự không chỉ là cá nhân (chủ thể tự nhiên) mà còn bao gồm các chủthể khác như pháp nhân, hộgia đình, tổhợptác. Để đảmbảosựsống, tồn tại và phát triển con người không chỉ tồn tại một cách đơnlẻ màbuộc phải thiếtlậpcác quanhệ vớinhữngngườikhác. Các quanhệ phát sinh giữa các chủthể chịusựtác độngcủa nhiềuyếutốkhác nhauđược hình thành trong quá trình sản xuất, phân phối của cải vật chất, trong việc thỏa mãn những nhu cầu văn hóa, tinh thần cũng như trong việc bảo vệ lợi

ích của xã hội – được gọi là quan hệ xã hội [52, tr 435]. Banđầulà những mối quan hệ xã hội giữa cá nhân với cá nhân, sau đó là mối quan hệ giữa các chủthể là các tổchức trongsựphát triểncủaxã hội. Các quanhệ xãhội rất phong phú và đa dạng: có thể là quan hệ gia đình, quan hệ tài sản,

quan hệ kinh doanh, thương mại, lao động….Sựphong phú và đa dạng của

các loại chủ thể trong quan hệ xã hội đã làm cho phạm vi các chủ thể cóthểđược xác địnhlà đươngsựtrong các vụviệc phát sinh trong xã hộingày

26

càng được mở rộng.

Đươngsựtrong vụ-việc thông thường là các chủthể độc lậptrong mộthay nhiều quanhệ đangđược xem xét, giải quyết trongvụviệc hoặc quan hệ phát sinh từ việc xem xét, giải quyết vụ-việc đó. Vì vậy, muốn xác định đầyđủ đương sự trong vụ-việc thì cần phải xác định được những mối quanhệ cóliên quan trong vụ việc đó và những mối quan hệ khác có liên quan. Một vụ-việc có nhiều mối quan hệ đan xen của nhiều chủ thể thì vụ- việc đó có thể có nhiều đương sự tham gia và ngược lại trong một vụ-việc chỉphải giải quyếtmộtmốiquanhệgiữa haichủthể thìchỉhaichủthểđược xác định là đương sự.

Ngoài ra, đươngsựtrongmộtvụ-việc phải là nhữngchủthể cóquyền, lợiích liên quan trực tiếpvớiviệc xem xét, giải quyết vụ-việc đó. Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác không phải là đương sự trong vụ- việc khi không có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp đến vụ-việc cụ thể đangđược giải quyết. Chính vì vậy, để xác định chính xác ai là đương sự, trước hếtcần xác định rõbảnchấtcủa vụ-việc mớicó thể xác định được ai là chủthể có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp với việc giải quyết vụ-việc đó. Tùy thuộc vào từng vụ-việc mà các thành phần chủ thể được xác định là đương sự sẽ khác nhau: có những vụ-việc mà việc giải quyết này có liên quan đến nhiều chủ thể khác, nhưng cũng có vụ-việc thì việc giải quyết chỉ liên quan trực tiếp đến quyềnlợihai bên chủ thể. Thông thường đương sự có quyền, lợiíchđược giải quyết ngay trong vụ-việc đó.Tuy nhiên, đươngsựcũng còn baogồmcả nhữngngườimà quyền và lợiích khôngđược giải quyết ngay trongvụ-việcnhưngkếtquả giải quyếtvụviệc này thường cóảnh

hưởng trực tiếp quyền, lợi ích của họ.Vì vậy, họ cũng phải được tham gia vào việc giải quyết vụ-việc.

Như vậy, có thể hiểu theo nghĩa rộng thì đương sự trong một vụ-việc là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủthể khác tham gia vào quá trình giải

27

quyết vụ-việc vì có quyền, lợi ích liên quan đến việc giải quyết vụ-việc.

Vậy, đương sự trong tố tụng dân sự theo quan điểm của các nhà luật học là gì? Hiện nay có khá nhiều quan niệmvề đươngsự. Trong cuốn “Blach’s Law Dictionnary”,đươngsựđược địnhnghĩa là“người đưara hoặc chống lại người đưa ra việc kiện” [83, tr 515] hay trong cuốn Từ điển Luậthọc được xuấtbảnnăm 1999 thì: “đương sự là người có quyền, nghĩa vụđược giải quyết trongmộtkhiếunạihoặc mộtvụán”.Ngoài ra trong

cuốnTừđiểnLuật học của Viện Nghiêncứukhoa học pháp lý–BộTưpháp thì đương sự được giải thích như sau:“Cánhân, pháp nhân tham gia TTDSvớitư cách là nguyênđơnhoặc bịđơn, hoặcngườicó quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự là một trong các nhóm người tham gia TTDS

tại TAND trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động. Những người tham gia TTDS đó bao gồm đương sự, gnười đạidiện chođươngsự, người bảovệ quyềnlợicủađương sự, cơquan nhà nước, tổ chức xã hội khơpỉ kiện vì lợi ích chung, VKS, người làm chứng, người phiên dịch [59, tr 278].

Tiếpcậncác quanđiểmcủa các nhà luật học, có thể nhận thấy: dùnghiêncứuở nhiều phương diện khác nhau nhưngđềucómộtquanđiểm chung, đó là đương sự là những người tham gia vào quá trình giải quyếtvụán dânsựvì có quyền, nghĩa vụđược giải quyết trongvụán dân sự, bao gồm bên nguyên đơn, bên bị đơn. Tuy nhiên, các nhà luật học chưa đưa ra một khái niệm toàn diện về đương sự trong TTDS.Để xâydựng được một khái niệm đương sự trong TTDS thì trước hết cần phải làm rõ quan điểm về tố tụng dân sự. TTDS được hiểu là việc kiện cáo nhau ra tòa án về các quan hệ dânsựvà yêucầutòa án giải quyết theo thẩm quyềncủamình. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, khái niệm TTDS cũng có nhiều cách hiểu khác nhau, tùy thuộc vào mô hìnhtốtụng và pháp luật của mỗiquốc gia thuộc hệthống pháp luật cơ bản trên thế giới.

28

Theo quanđiểmcủacác nước tronghệ thống thông luật (Common Law) thì TTDS là trình tự, thủ tục để giải quyết đối với các tranh chấp hành chính và các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (mô hình tố tụng tranh tụng).

Tuy nhiên, các nước theo hệ thống luật dân sự (Civil Law), xuất phát từ việc phân chia hệ thống pháp luật thành công pháp và tư pháp, đều cho rằng việc giải quyết các tranh chấp về quyền và lợi ích giữa một bên là Nhànước đạidiệnvớimộtbên là công dân nhằm buộc tộinhững hành vi vi phạm pháp luật hình sự, được coi là xâm phạmtớitrậttựcông cộng thìđược giải quyếttheo tố tụng hình sự; nếu là tranh chấp giữa người dân với nhà nước mà liên quanđếncác quyết định, hành vi hành chính thì giải quyết theotốtụng hành chính; các tranh chấp giữa ngườidânvớinhau thuộc về tư pháp sẽ được giải quyết theo TTDS (mô hình tố tụng xét hỏi). Nếutheo quanđiểmnày, thìtốtụng dânsựlà trình tự, thủtục giải quyết các tranh chấp, yêucầuphát sinh trong lĩnh vực tư như: dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Thực tiễn quá trình hoàn thiện pháp luật TTDS ở Việt Namđã cho thấy các nhà làm luật ủng hộ quanđiểmchuyển đổi về TTDS, từ mô hình

tốtụng xéthỏichuyển thành mô hìnhtốtụng xéthỏikếthợptranh tụng. Trước khi BLTTDS năm 2004 có hiệu lực pháp luật, việc giải quyết tranh chấp ở tòa án theo các tố tụng khác nhau được quy định trong các văn bản pháp luật khác nhau. Việc giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình theothủtụcgiải quyết các vụán dânsựđược quyđịnhtạiPháp

lệnhthủtục giải quyết các vụán dânsựnăm 1989; việc giải quyết các tranh chấp kinh tế được quy định tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án

kinhtếnăm1994… Ởgiai đoạn này, các tranh chấpđược giảiquyết theo thủtục khác nhau vìhệ thống pháp luật Việt Nam không phân chia thành hệ thống pháp luật công và hệ thống pháp luật tư như cácnước theohệ

29

thống luật dânsự. Bộluật dân sự năm 2005 ra đời đã đánh dấu sự thayđổi lớn về vị trícủa luật dân sự. Từ nay, Luậtdân sự được coi “luậtgốc” trong hệ thống luật tư. Các ngành luật thuộc hệ thống luật tư, như: luật Dânsự,

luật Thương mại, luật Laođộng…đã cósự thống nhất. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời là sự thống nhất các trình tự tố tụng giải quyết các tranh chấp, yêu cầu thuộc lĩnh vực tư giống như hệ thống pháp luật của các nước trong hệ thống pháp luật dân sự. Với quanđiểmnày, đương sự trong TTDS là người tham gia vào quá trình tòa án giải quyết các tranh chấp, yêucầuvề dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Bộluật TTDS đã quy định: đối tượng giải quyết theo thủ tục TTDS gồm vụ án dân sự, việc dân sự. Vụán dânsựlà trườnghợpcác bênđươngsựcó tranh chấpvớinhau và tòa án giải quyết các tranh chấpđó;còn việc dânsựlà trườnghợptòa án không giải quyết tranh chấp mà giải quyết bằng việc công nhận hoặc không công nhận về một sự kiện pháp lý để từ đó làm căn cứphát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh…hoặc tòa án giải quyết yêu cầu công nhận quyền dân sự, hôn nhân gia đình…Xuất pháttừcách phân loạiđốitượngnhư vậy, có thể thấyđươngsựtrong TTDS được xác địnhbaogồmđươngsựtrongvụán dânsựvà đươngsựtrong việc dânsự.BLTTDS năm 2015 hiện hành cũngvẫnquyđịnhtheo xu hướng đó.

Quá trình giải quyết vụ-việc dân sự sẽ nảy sinh nhiều quan hệ pháp luật giữa các chủ thể, như: Tòa án, Viện Kiểm sát, những người tham gia tốtụng và nhữngngườiliên quan khác. Cácchủthể tham gia vào quanhệpháp luật TTDS vớimục đích và độngcơ khác nhau. Tòa án, Viện Kiểm sát tham gia tố tụng để thực hiện quyền tư pháp về dân sự; người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thamgia để bảo vệ

quyền, lợi ích hợp phápcủa ngườikhác còn đương sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình.

30

Như vậy, có thể nhận thấy rằng:Đương sựtrong tố tụng dân sự là cánhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác có quyền, lợi ích tranh chấp hoặc cần phải xác định, tham gia vào quá trình tòa án giải quyết vụ-việc dân sựđể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đương sự trong TTDS là người tham gia TTDS. Do đó, đương sự cóđầyđủcác đặc điểmcủa ngườitham gia tốtụng. Tuy nhiên, mục đíchđươngsựtham gia tốtụng làbảovệ quyền, lợiíchhợppháp của chính mình, của những người tham gia tố tụng khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa ngườikhác hoặc hỗ trợ cho hoạt động tố tụng. Vì vậy, việc nhận diện bản chất pháp lý của đương sự trong TTDS được thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau đây: (i)đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có quyền, lợiích tranh chấp,bịxâm phạm hoặc cầnđược xác định trong vụ việc dân sự; (ii)đương sự là chủ thể được tòa án chấp nhận tham gia vào quá trình giải quyếtvụviệc dânsự để bảovệ quyền, lợiích hợp pháp của mình; (iii) đương sự là chủ thể bình đẳng với nhau trong tố tụng, có thể tham giatốtụngđộc lậphoặc thông quangườiđạidiện trongtố

tụng dânsự và (iv) đươngsự làchủthể có quyềntự địnhđoạt, việc thực hiện các quyền và nghĩavụcủamình là cơsởđể phát sinh, thay đổihay chấm dứt quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.

2.1.1.2. Khái niệm bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự

Dướigóc độ ngôn ngữ học, theo HánViệt từ điển thì “bình đẳng” là“ngang bằng nhau” [1, tr 65]. Còn trong Từ điển Tiếng Việt thì bình đẳng là “ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi” [63, tr 68].Theo cách giải thích này thì bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự là cácđương sự đều được bình đẳng về tư cách chủ thể trước pháp luật, trước Tòa án, khôngbịpháp luật phân biệtđốixửvìbấtcứlí do gì, đềucóđịa vịngang nhau trước pháp luật vàđượcpháp luậtbảovệ như nhau. Quyền

31

bìnhđẳngtrước pháp luật là vấnđề nhân quyền luônđược các quốc gia trên thế giới quan tâm và được ghi nhận trongđạoluật của mỗiquốc gia như Tuyên ngônĐộc lậpcủa Hợpchúng quốc Hoa Kỳnăm 1776đãghi nhận: “Tất cảmọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, đấng tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó cóquyềnđược sống, quyềnđược tựdo và mưucầuhạnh phúc”[60, tr 96]. Bảntuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791 cũng khẳngđịnh: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luônđược tự do vàbình đẳng về quyền lợi” [60, tr. 118]. Nhà nước ta cũng coi trọng và đảmbảoquyền bình đẳng trước pháp luật. Quyền nàyđượcHiến pháp,đạoluật cao nhất,bảovệ. Điều52 Hiến pháp 1992 quyđịnh:“Mọi công dânđềubìnhđẳngtrước pháp luật”. Tuy nhiên, pháp luậtchỉghi nhận quyền bình đẳng là chưa đầy đủ mà điều quan trọng và cơ bản nhất làcầnphải thiếtlậpcơ chế thực hiện và bảovệ chúng trong trườnghợpbịxâm phạm. Tuyên ngôn toànthếgiớivềNhân quyềncủaĐạiHộiđồng Liênhợpquốc ngày 19/12/1948đã tuyênbốrằng:“Mọingười đềucóquyền khiếunạicó hiệuquảtớicác cơ quan pháp lý quốc gia có thẩm quyền chống lại những hành vi vi phạm các quyền căn bản mà Hiến pháp và luật pháp đã thừa nhận” [60, tr. 146].

Như vậy, quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền tự nhiên của con ngườiđượcthực hiện trongmọilĩnhvựccủađờisống xã hội.Trong lĩnh vực dân sự, quyền này cũngđược pháp luật dânsựghi nhận và bảovệ. Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị củaĐạiHội đồng Liên Hợp Quốc ngày 16/12/1966 đã khẳng định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng màkhông cóbấtkỳ sựphân biệtđốixửnào. Về mặtnày, pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệtđối xử và đảm bảo cho mọi người sự bảo hộbìnhđẳngvà có hiệu quả chốnglạinhững phânbiệt đốixử về chủng tộc,

32

màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vịkhác” [60, tr. 250] và “bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền và tự do được công nhận trong công ước này thì đều được bảo hộ pháp lý một cách có hiệu quả” [60, tr 222]. Điều này có thể hiểu rằng, các chủ thểcó quyền và lợi ích dânsự bị xâmphạm hoặc tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ-việc dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự và được bìnhđẳngtrước pháp luật, trước Tòa án khi tham gia vào quá trình này. Tuy nhiên, để có thể hiểu thế nào là bìnhđẳngtrước pháp luật của đươngsựtrongtố tụngdân sự thì trước tiên cần phải làm rõ thuậtngữ“tố tụng dân sự” và “đương sự”.

Tố tụng dânsự được ghéphai từ “tố tụng” và “dânsự”. “Tố tụng” làmột thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng La tinh (procedere), được hiểu là mộtđườnglốiphải tuân theođểđiđếnchỗthắng kiện. Ngoài ra, còn có một thuật ngữ khác tương đương với thuật ngữ “tố tụng” là thuật ngữ “thủ tục”, có nguồn gốc từ tiếng NhậtBản, đượchiểu là một thể thức phải làmđể đạtđược một kết quả nhất định [15, tr 3,4]. Ở các nước trên thế giới, chẳng hạn như Anh, thì các nhà nghiên cứu luật học quan niệm tố tụng (procedure) lànhững bước tiến hành mang tính hình thức mà thông qua đó vụ kiệnđược giải quyết. Các nhà nghiêncứucủa Pháp thì cho rằngtốtụng là toànbộnhững thể thức phải theo để đệ trìnhmộtyêucầutrước Thẩm phán [7, tr. 11]. Như vậy, có thể thấy đa số các nướcđềuthừa nhận tố tụng dân sự là trình tự, thủtục mà pháp luật quyđịnhđểTòa án giải quyếtmộtvụkiện dân sự.

ỞViệt Nam,về nộihàm của khái niệmtốtụng dânsựvẫncòn cónhững ý kiến trái ngược nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng thi hành án dân sựlà một hoạt động của tố tụng dân sự [51, tr 11]. Ý kiến thứ hai cho rằng thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động hành chính bởi thi hành án dân

33

sựlà hoạtđộngmang tínhđiềuhành và chấp hành mà điềuhành và chấp hành là đặc trưng của hoạt động hành chính. Mặt khác, thi hành án dân sự ởnước ta lại không do Tòa án – cơ quan tư pháp tổ chức. Ý kiến thứ ba cho rằng thi hành án là dạng hoạt động hành chính – tư pháp vì thi hành án dân sự là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành quyết định của Tòa án – cơ quan tư pháp [53, tr 10].

Thi hành án dân sự là một hoạt động tư pháp bởi thi hành án dânsựdo các cơ quan thi hành án dânsự- cơ quan tư pháp thực hiện. Bên cạnhđó, thi hành án dân sự xuất phát và gắn liền với hoạt động xét xử của Tòaán. Hoạt động thi hành án dân sự không chỉ được thực hiện sau hoạt động giải quyết vụ-việc dân sự của Tòa án mà còn có mối quanhệ mậtthiết với hoạtđộngnày. Ngoài ra, thi hành án dânsựchủyếulà thực hiệnbảnán, quyết định dân sự của Tòa án – quyết định của cơ quan tư pháp. Thi hànhán dân sự là một hoạt động tư pháp nhưng không phải là hoạt động tố tụng dân sự, nó có những đặc trưng khác biệtvớihoạtđộng giảiquyết vụ-việc dân sự của Tòa án. Nếu hoạt động xét xử vụ-việc dân sự của Tòa án nhằm giải quyết vụ-việc dân sự, xác địnhquyền và nghĩa vụcụ thể của các bênđươngsự,thì hoạtđộngthi hành án dânsựcủa các cơ quan thi hành án không nhằm giải quyếtvề nội dung vụ-việc, không xét xử lại vụ-việc dân sự, mà áp dụng các biện phápcầnthiếttổchức và thi hànhbảnán, quyếtđịnh dân sự của Tòa án. Do đó, mục đích của hoạt động thi hành án dânsựkhông phải là ra các quyết định giải quyết về nội dung vụ-việc dân sự mà làlàm cho các bản án, quyết định của Tòa án được thực thi trên thực tế. Nhưvậy, thi hành án dân sự có sự độc lập tương đối với việc giải quyết vụ-việc dân sự của Tòa án nên không được coi là một giai đoạn của tố tụng dân sự. Hay nói cách khác, tốtụng dânsựlà trình tự, thủtục được pháp luật quyđịnh để Tòa ángiải quyết vụ việc dân sự do các cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quyđịnhcủa pháp luật yêu cầu. Trình tự, thủtục đóbao gồm: khởi

34

kiện, yêu cầu và thụ lý giải quyết vụ việc dân sự, lập hồ sơ vụ-việc dân sự, hòa giải vụ-việc dân sự, xét xử vụ-việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm; xétlạibảnán, quyếtđịnhcủa Tòa ánđã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm [7, tr 12].

Mục đích của tố tụng dân sự là giải quyết khách quan, công bằng vàđúng pháp luật các vụ-việc dânsựđể bảovệ quyền, lợiíchhợppháp của các chủ thể. Tham gia vào quá trình giải quyết vụ-việc dân sự tại Tòa án córấtnhiều các chủ thể khác nhau. Ngoài Toà án và Viện kiểm sát còn có các chủ thể khác tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc hỗ trợ Toà án trong việc giải quyết vụ-việc dânsự. Đểthực hiện được mục đích của tố tụng dân sự, pháp luật tố tụng dân sự phải quy định rõđịa vị pháplý của các chủ thể cũng như quyền và nghĩa vụ của họtrongtốtụng dân sự. Trong đó, đươngsựlà mộttrong nhữngchủthểkhông thể thiếu trong quá trình tòa án giải quyết vụ-việc dân sự, đương sựcó vai trò đặc biệt quan trọng trong tố tụng dânsự, bởivì quyền và lợi ích của họ là nguyên nhân và mục đích của quá trình tố tụng.

Từnhững phân tích trên, có thể rút ra kếtluận như sau: Bìnhđẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự là sự ngang bằng nhau, không có sự phân biệt đối xử trong tố tụng giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức về địa vịpháp lí, về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự và chịu trách nhiệm pháp lý. Toà án giải quyết vụ-việc dân sự độc lập, khách quan, đúng pháp luật và có trách nhiệmtạođiềukiệnđể đươngsự được bìnhđẳngtrong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự.

2.1.1.3. Khái niệm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luậtcủađương sự trong tố tụng dân sự

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *