Nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam

Nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm vừa qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhất làNghị quyếtsố08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Về mộtsốnhiệmvụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới“, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 “Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020“, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020“, công cuộc cải cách tư phápđã đượccác cấpủy, tổ chức đảng lãnh đạotổ chức thực hiện với quyết tâm cao, đạt được nhiều kết quả. Nhận thức và sự quan tâm của toàn xã hội đối với công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, cuộc đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm đã được nâng lênmột bước,góp phần giữvững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sựphát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợiích cơ bảncủa tổchức, công dân, xây dựng và bảovệTổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXI (2011) tiếp tục nhấn mạnh:

Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương… Tiếp tục hoàn thiệnhệ thống pháp luật, cơ chế, chính sáchđểvận hành có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt các camkếtquốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc… Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hình sự, đề cao tính độc lập, khách quan, tuânthủpháp luật của từng cơ quan và chức danh tư pháp [33, tr. 247, 250].

Trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, nói chung về cơbản, các cơ quanbảovệ pháp luật và Tòa án luôn luôn tuânthủcác nguyên tắc của luật hình sự nói chung, nguyên tắc pháp chế nói riêng,bảođảmmọi hành vi phạmtộiđềuđược xửlý nghiêm minh, kịpthời, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Song,

1

thực tiễn khoa học pháp lý và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, trong quá trình hình thành và phát triển, các nguyêntắccủa luật hình sự Việt Nam nói chung, nguyên tắc pháp chế nói riêng và những biểu hiện của nó trong Bộluật hình sự (BLHS) đã từng bước được hoàn thiện, làm cơ sở vững chắc góp phần xử lý khách quan, có căn cứ và đúng pháp luậtđối với mọi trường hợp phạmtộivà ngườiphạm tội, qua đóbảovệ hữuhiệu các lợiích của Nhànước, của cơ quan, tổchức và của công dân, giữvữngkỷluật, kỷcương và pháp chế. Tuy nhiên, cũng trong thực tiễn xây dựng và áp dụng cho thấy, nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam khi được thi hành trong thực tế đã chưa được tuân thủ một cách nghiêm túc, vẫn còn để xảy ra nhiều sai sót trong quá trình xây dựng và áp dụng nguyên tắc này, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, gây bức xúc trong nhân dân;mặtkhác, cũngđãđặtra nhiềuvấnđề tồntại, vướng mắc đòi hỏi khoa học luật hình sự nước ta phải nghiên cứu giải quyết thấuđáotrên bình diện này như:cộinguồn xuất hiện của tưtưởng”Nullum crimen, nulla poena sine lege” (không cótộiphạm, không có hình phạt nếu không có luật quyđịnh)trong lịchsửtư pháp hìnhsựthế giới; khái niệm nguyên tắc pháp chế, nội dung và ý nghĩa của nguyêntắcpháp chế, cũng nhưsự thể hiện nội dung nguyên tắc này trong xây dựng từng quy phạm, chế định của luật hình sự hay trong thực tiễn xét xử. Trong khi đó, xét về mặt lý luận, xung quanh nhữngvấnđề này còn nhiềuýkiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Mặt khác, xétvề mặtlậppháp hình sự, việc quy định các nguyên

tắc cơ bản nói chung, nguyên tắc pháp chế nói riêng trong luật hình sự và sựthể hiện nó cũng chưa thực sự đầy đủ và đồng bộ với các quy phạm pháp luật hình sự (PLHS) khác, từ đó, dẫn đến hệ quả là việc áp dụng PLHS chưa đúng, chưa chính xác, nhầm lẫn, qua đólàm giảm hiệuquảcông tácđấutranh phòng ngừa và chốngtộiphạm, cũng như yêucầutôn trọng và bảovệ các quyền con người, quyền công dân trong xã hội.

Vì những lý do đó, việc nghiêncứuđề tài “Nguyên tắc phápchếtrong luật hình sự Việt Nam” mang tínhcấpthiết, không nhữngvề mặtlý

2

luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay. Đây còn là lý do lựa chọn đềtài luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận án là làm sáng tỏ một cách cóhệ thống vềmặtlýluận những nội dung cơ bảncủa nguyên tắc pháp chế theo luật hìnhsựViệt Nam, sựthể hiệnnộidung của nguyên tắc này trong các chế địnhliên quan trong BLHS – đạo luật hình sự, tội phạm, hình phạt và các biện pháp tư pháp, cũng như một số biện pháp miễn, giảm trách nhiệm hình sự và hình phạt trong

7

luật hình sự, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện và bảođảmthực hiện nguyên tắc này trong luật hình sự ở nước ta hiện nay.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Từmục đích nghiêncứunêu trên, tác giả luận ánđặtcho mình các nhiệm vụ nghiên cứu chính sau đây:

Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu khái quát cội nguồn xuất hiện của những tư tưởng pháp lý tiến bộ về pháp chế “Nullum crimen, nulla poena sine lege” trong lịch sử tư pháp hình sự thế giới, khái quát lịch sử phát triển của tưtưởngvề nguyên tắc pháp chế trong luật hìnhsựViệt Namtừnăm 1945 đến nay, phân tích khái niệm, nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc pháp chế; phân tíchsựbiểu hiện của nguyên tắc này trong BLHS năm 1999 hiện hành thông qua bốnnhóm chế định cơ bản – đạo luật hình sự, tội phạm, hình phạt và các biện pháp tư pháp, cũng như mộtsố biệnpháp miễn, giảm trách nhiệm hình sự và hình phạt. Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ bản chất pháp lý, đềxuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải phápbảođảmthực hiện nguyên tắc này trong luật hình sự Việt Nam.

Về mặtthực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá sựthể hiện của nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam thông qua bốn chế định cơ bản của luật hình sự, đồngthời làm sángtỏnhữngtồntại, hạnchế trong các chế định tương ứng đó, có sự minh họa thông qua một số bản án hình sự. Trên cơ sở này, luận chứng sự cần thiết phải hoàn thiện và đưa ra các giải pháp bảo đảm cho việc tuân thủ và thi hành nghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự nước ta.

3.3. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án đúng như tên gọi của nó – Nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam.

3.4. Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam, đồng thời, luận án có đề cập đếnmột

8

sốquy phạm pháp luậttốtụng hình sự, cũng như minh họa nhữnglậpluận bằng một số vụ án hình sự điển hình trong giai đoạn những năm gần đây nhằm giải quyết nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu.

4. Cơ sở lý luận và các phƣơng pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án là quanđiểmcủa chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởngHồChí Minh, quanđiểmcủaĐảngvà Nhànướctavềnguyêntắcpháp chếtrong xây dựng, tổchức Nhànướccủa dân, do dân và vì dân, trongđấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch sử Nhà nước và pháp luật, lý luận về Nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà hình sự học ở Việt Nam và nước ngoài.

Phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử.

Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: hệ thống, lịch sử, lôgíc, thống kê, phân tích, tổng hợp, kết hợp với các phương pháp khác như so sánh, điều tra xã hội học…Đồngthời, tácgiảcòn sử dụng các văn bản pháp luật của Nhà nước và những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo vềlĩnh vực PLHS do các cơ quan có thẩm quyền ban hành có liên quan đến nguyên tắcpháp chế,sốliệu thống kê trong các báo cáo chính thức có liên quan của ngành Tòa án và tài liệu vụ án hình sự trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử, cũng như những thông tin trên mạng Internetđể phân tích, tổnghợpcác tri thức khoa học luật hìnhsựvà luận chứng các vấn đềđượcnghiên cứu trong luận án.

5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên ở cấp luận án tiến sĩ luật học trong khoa học luật hình sự Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện nhữngvấnđề lý luận và thực tiễn của nguyên tắc pháp chế trong luật hình sựnước ta. Trong luận án này đã có những đóng góp mới về mặt khoa học sau đây:

9

Mộtlà, làm sángtỏcội nguồn xuất hiện của những tư tưởng pháp lýtiếnbộvề pháp chế “Nullum crimen, nulla poena sine lege” và ýnghĩa của nó; phân tích khái niệm pháp chế và pháp chế XHCN, các thuộc tính của pháp chế, xây dựng khái niệm nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam.

Hai là, làm sáng tỏ các nội dung cơ bản và quan trọng nhất của nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam, trong đó nhấn mạnh vấn đề tội phạm và hình phạt phải được quy định trong BLHS, cũng như hiệu lực của BLHS – không áp dụng những gì không có lợiđối với người phạm tội.

Ba là, phân tích khái quát lịch sử hình thành và phát triển của những tưtưởngvề nguyên tắc pháp chế trong luật hìnhsựViệt Namtừnăm 1945đến nay, qua đó rút ra những nhận xét, đánh giá.

Bốn là, phân tích những nét cơ bản về nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự một số nước trên thế giới để rút ra những nhận xét, so sánh.

Năm là, phân tíchsựthể hiệncủanguyêntắcnày trong các quy định của BLHS năm 1999 hiện hành quabốnnhóm chế định cơ bản – đạo luật hình sự, tội phạm, hình phạt và các biện pháp tư pháp, cũng như một số biện pháp miễn, giảm trách nhiệm hìnhsựvà hình phạt;đồngthời phân tíchđiểmqua thực tiễn thi hành nguyên tắc pháp chế trong luật hìnhsựViệt Nam,được minh họa bằng một số vụ án hình sự, qua đó chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong các quy định của BLHS liên quan đến nguyên tắc này.

Sáu là, trên cơ sở phân tích những tồn tại trong các quy định của BLHS liên quan đến nguyên tắc pháp chế, luận án đã đưa rasự cầnthiết của việc bảođảmtuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam và đề xuất các giải pháp hoàn thiện vàbảođảmcho việc thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc này, qua đó phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong tình hình mới củađấtnước.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Các kết quả nghiên cứu của luận án có những ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau đây:

10

Vềmặtlý luận:Đâylà công trình nghiêncứuchuyên khảo vàđồngbộđầu tiên đề cập một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn của nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Namở cấp độ một luận án tiến sĩ luật học với các đóng góp về mặt khoa học đã nêu trên. Trong quá trình hoàn thành luận án, tác giả cũng cho công bố một số công trình khoa học có liên quanđếnđềtài luận ánđểminhhọavàbổsung thêm cho nhữnglậpluận của mình.

Về mặt thực tiễn: Luận án góp phần vào việc đánh giá đúng đắn thực tiễn thi hành nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam, cũng như đưa ra các kiến nghị bảođảmthực hiện nguyên tắc này trong luật hình sự nước taở khía cạnhlậppháp, cũng như việc áp dụng chúng trong thực tiễn. Những tồn tại, hạn chế trong các quy định của BLHS về nguyên tắc này cũng được luậnán chỉ ra để đề xuất giảipháp khắc phục bằng việc hoàn thiện pháp luật.

Ngoài ra, luận án còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo về lý luận cũng như thực tiễn cho các nhà hình sự học, cán bộ thực tiễn, các sinh viên, học viên cao học, nghiêncứusinh chuyên ngành tư pháp hình sự, cũng như cung cấp các luận cứ khoa học, phục vụ hoạt động lập pháp hình sự và hoạt động áp dụng PLHS trong việc đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm ở nước ta hiện nay.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phầnMở đầu,Kếtluận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự.

Chương 2: Những biểu hiện của nguyên tắc pháp chế trong các quyđịnh của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành.

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện và bảođảmcho việc tuânthủnguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam.

11

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC PHÁP CHẾ

TRONG LUẬT HÌNH SỰ

1.1. CỘI NGUỒN XUẤT HIỆN VÀ Ý NGHĨACỦANHỮNG TƢ TƢỞNG PHÁP LÝ TIẾN BỘ VỀ PHÁP CHẾ “NULLUM CRIMEN, NULLA POENA SINE LEGE” TRONG LỊCH SỬ TƢ PHÁP HÌNH SỰ THẾ GIỚI

1.1.1. Cội nguồn xuất hiện của những tƣ tƣởng pháp lý tiến bộvềpháp chế “Nullum crimen, nulla poena sine lege” trong lịch sửtƣ pháp hình sự thế giới

Trong các nhà nước bóc lột, pháp luật nói chung và nhất là PLHS luôn luôn là côngcụ đàn ápgiai cấp với những hình phạt nặng nề, hà khắc. Pháp luật khôngchỉtrừngtrịhành vi mà còn trừngtrịcả quan điểm, cả suy nghĩcủacon người. Hình phạtđược áp dụng khôngchỉđốivớingườicó hành vi mà cả đối vớigia đình họ, thân tộc của họ. Một hành vi phạm tội cóthể bị xửnhiềulầnvà chịu nhiều hình phạt khác nhau. Sựmanrợ đóđược thực hiện bằng sự hợpthức hóa trong luật và cả ngoài luật. Sự thể hiện nàyđược phảnánh thông qua các di tích pháp lý của thời đại phong kiến- từ đạoluật của các hoàngđế các nướcTây ÂuthếkỷVI – XVI, các Bộluật nhà Đườngthế kỷVII và của nhà Tống thế kỷXở Trung Quốc, BLHS thế kỷVIII của Nhật Bản, BộHình thưvềcác hình phạt hìnhsựvà các hình phạtcảitạoở nước Nga Sa Hoàng thế kỷ XIX; v.v… [18, tr. 289-290].

Tuy nhiên, sự phát triển của loài người đi theo hướng nhân đạo hóa vàdân chủ hóa và vì vậy ngay từ trong lòng của các chế độ phong kiến, bóc lộtđã dần dầnnảysinh những tư tưởng tiến bộ và nhân đạo, đề cao pháp luậtđểbảo vệ phẩmgiá con người và tính mạng của họ. Theo đó, trong thờiđạicách mạng tư sản, những tư tưởng chống phong kiến chuyên quyền đã kèm theo tưtưởng pháp chế và nhân đạo để chống lại tình trạng vô pháp luật, sự tùy tiện và lạm quyền của chế độ phong kiến. Cho nên, vào cuối thế kỷ 18 phong trào

Nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam
Nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam

cảicách luật hình sự được phát động nhằm thúc đẩy quyền tự do, chống lạisựtùy tiện, lạm quyền, vi phạm các quyền của con người từ phía nhà lập pháp vàtư pháp. Người khởi xướng phong trào này, trước hết là S. Montesquieu (1689 – 1755), người đại diện cho trường phái Khai sáng – Nhân văn trong khoa học luật hình sự. Trong tác phẩmnổitiếng “Về tinh thầncủapháp luật” năm 1748, một mặt, ông đã chỉ trích, phê phán PLHS phong kiến, mặt khác, đã nêu lên nhiều nguyêntắccơ bản và quan trọng của luật hình sự văn minh, tiến bộ. Những nguyên tắc đó như:

-Tộiphạm và hình phạt phảiđượcquyđịnhbởicácđạoluậtđãđược dân chúng biếtđến, chứkhông phải theoýmuốn của nhữngngườicó chức quyền.

– Pháp luật chỉ trừng trị những hành vi thể hiện ra bên ngoài.

-Cầngiữđược sựtươngứnggiữa tộiphạm và hình phạt, hình phạt phải phù hợp với tội phạm.

– Các nhà làm luật tốtcầnlàmcho đạo đứcđược đề cao lênchứ không phải chỉ trừng trị; không phải hình phạt hà khắc sẽ giúp đấu tranh chống được tội phạm mà là tínhkịpthờicủaviệc truycứutrách nhiệm và hình phạt… [73, tr. 75].

Ngoài ra, trong cuốn sách của mình, S. Montesquieu cũngđã có các chương khác nhauđề cậpđếnnhững tưtưởng về pháp chế đốivớitội phạm và hình phạt như: Chương XII “Về hiệulực của hình phạt“; Chương XIII “Sựbất lực của pháp luật Nhật Bản“; Chương XIV “Về hình phạt trong pháp luật La Mã“; Chương XVI “Về sự tương ứng giữa tội phạm và hình phạt” và Chương XVIII “Về phạttiền và các hình phạt đối với thân thể“.

Sau đó, Cesare Becaria, một luật sư trẻ người Italia đã viết quyển sách nhỏ nhưng rất nổi tiếng đó là “Khái luận về tội phạm và hình phạt” năm 1764. Vớicuốn sách này, Becaria đã giữvai trò tiên phong trong cuộc đấutranh chống lạisự bấtcông, tàn bạo của chế độđương thời. Ông đã nêu lên nghĩa vụtôn trọng nguyên tắc pháp chế hìnhsựtrong việc quyđịnhtộiphạm và

13

hình phạt. Theo ông quan niệm, chỉ có luật mới có thể xác định hình phạt cho mỗi tội phạm và quyền làm luật chỉ có thể trao cho các nhà làm luật – ngườiđạidiện cho toàn thể xã hội được thống nhất bởi một khế ước xã hội. Ông cho rằng Thẩm phán là mộtbộphận của xã hội, cho nênhọkhông thể bắtmột thành viên khác củaxã hộiphải chịumộthình phạt mà nó khôngđượcquyđịnh trong luật… [109, tr. 295].

Ngoài ra, nhà tưtưởngKhai sánglớnnhấtcủathếkỷXVIII là Vollter (1694-1778) đã có nhiều tác phẩm nối tiếp hai nhà tư tưởng lớn là S. Montesquieu và Cesare Becaria, đặc biệt là cuốn sách “Bình luận cuốn sách về tội phạm vàhình phạt” năm 1766 và “Phần thưởng cho sự công bằng và nhân đạo” năm 1777. Nói chung, trên cơ sở kế thừa các tư tưởng của hai nhà tiền bối đi trước, tác giả Vollter đã làm sángtỏnhiềunộidungvề tộiphạm và hình phạt, đặc biệt đề cao đạo đức, công bằng trong xã hội.

Sau đó, phong trào đấu tranh đòi cải cách luật hình sự và tôn trọng nguyên tắc pháp chế về tội phạm và hình phạt đã lan rộng khắp Châu Âu. Cuối cùng, nó đã được thừa nhận trong Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền ở Pháp

năm 1789, Điều 5 của Tuyên ngôn quy định: “Luật pháp chỉ có quyền cấm đoán những hành vi có hại cho xã hội. Tất cả những điều mà pháp luật không cấm đều không thể bị ngăn cản, và không ai có thể bị buộc phải làm những điều mà pháp luật không bắt làm”; hayĐiều8 xác định: “Luật pháp chỉ có thể đặt ra những hình phạt thật sự và rõ ràng là cần thiết và ai nấy chỉ có thể bị trừng phạt chiểu theomộtluậtđãđượcxây dựng và banbốtrướckhixảyra việc phạmtộivàđược thi hành một cách hợp lý”. Sau đó nguyên tắc này được quy định trong BLHS năm 1791 và 1810 của Cộng hòa Pháp, BLHS năm 1876 của Vương quốc Bỉ…

Ngoài ra, trong Hiến pháp của nhiềunước như: Hiến pháp Cộng hòa Liên bangĐức, Cộng hòa Pháp, Vương quốc Bỉ… cũng ghi nhận rõ ràng vàcụthể nguyên tắc này. Cùng với thời gian, nguyên tắc pháp chế về tội phạm và hình phạt dần dần trở thành nền tảng quan trọng trong luật hình sự hầu hết các nước dân chủ hiện đại trên thế giới… [109, tr. 295].

14

Tuy nhiên, ở một số nước, luật hình sự không quy định nguyên tắc này. Trong số đó, trước hết phảikể đếncác nước thuộc hệ thống Anglo-saxon, tức là các nước theohệ thống thông luật (Common Law). Ởnước Anh, Thẩm phán có quyền làm luật, họ có quyền quy định một tội phạm và hình phạt mới. Tuy nhiên, đến năm 1972, trong vụ án Knuller, Tòa án tối cao (House of Lords) tuyênbố Thẩmphán không được phép làm luật, không được quy định các tội phạm mới. Như vậy, khác với các nước khác, tại Anh quốc, nguyên tắc pháp chế khôngbắtnguồntừnhững quyđịnhpháp luật mà từquyếtđịnhcủa cơquan tư pháp. Đếnnăm 1985, Điều6Dựthảo BLHS doỦyban luật pháp trình Quốc hội có quy định: “No offence shall be created except by, or under the authority of, an Act of Parliament“. Và thế là, cuối cùng nguyên tắc pháp chế cũng được thừa nhận tại nước này với những quy định ban đầu.

Còn trong các nước hồi giáo, PLHS chia tội phạm thành hai loại: had và tazir. Đối với các tội “had” Thẩm phán (cadi) cần phải áp dụng nguyên tắc pháp chế, ngược lạiđốivớicác tội”tazir” nguyên tắc này hoàn toànbịloại bỏ, các Thẩm phán có toàn quyền tự do quyết định khi xét xử [109, tr. 295].

Bêncạnh đó, dưới góc độ luậtquốc tế, qua nghiên cứu cho thấy nhiều vănbảnpháp luật quốc tế có ghi nhận nguyên tắc pháp chế hình sự. Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc ban hành ngày 10/12/1948 quy định: “Không ai bị kết tội vì những hành động hay những sơ suất mà khi bị buộc tội đó không phải là một hành vi phạm tội theo luật quốc gia hay quốc tế. Cũng vậy, việc quyđịnhhình phạt cũng khôngđược nặng hơn hình phạtđược áp dụng vào lúc phạm tội” (khoản 2 Điều 11).

Nguyên tắc này cũngđược ghi nhậntạiĐiều15 khoản 1 Côngước của Liên hợp quốc liên quan tới quyền dân sự và chính trị ngày 19/12/1966 và Điều7 khoản 1 Công ước của Hội đồng Châu Âu về bảo vệ quyền con người và tự do cơ bản ngày 4/11/1970; v.v…

Ngoài ra, ngay cả BLHS năm 1810 của Phápcũng chỉ đề cậpyêu cầu của pháp chế thông qua hiệu lực hồi tố của luật hình sự mà thôi. Hoặc BLHS năm 1937 của Thụy Sĩ khi đề cập đến tội phạm chỉ quy định đó là hành vi bị pháp

15

luậtcấmhoặcbịtrừng phạt, chỉchúýđếnyếutốhình thức của tộiphạm; v.v… Tuy nhiên, khi đã giành được chính quyền về tay mình, giai cấp tư sản liền quên luôn cả cái mà nó đã đấu tranh cho bằng được, vì giờ đây pháp chếtrở nên cáibất lợicho nó. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà ngày nay các nhà tư tưởng tư sản, các triết gia và luật gia tư sản không mấy aimặnmà với chủ đề pháp chế. Các giáo trình đại học, các đạo luật hình sự của các nước tưbản đều không trực tiếp nói đến yêu cầu về pháp chế… [123, tr. 234].

Như vậy, cácnộidung cơbảncủanhững tưtưởngpháp lý tiếnbộvềpháp chế “Nullum crimen, nulla poena sine lege” trong lịch sử tư pháp hình sựthế giới bao gồm:

Một là, tội phạm và hình phạt phải được quy định bởi các đạo luật do Nhà nước ban hành và đã được dân chúng biếtđến, chứkhông phải theoýmuốn của những người có chức vụ, quyền hạn, địa vị trong xã hội.

Hai là, khôngđượctrừngtrịconngườibởisuy nghĩ, quanđiểmvànhận thức; pháp luật chỉ trừng trị những hành vi thể hiện ra bên ngoài.

Ba là, luật hình sự khi quy định phảibảođảmsự tương ứng và tương xứng giữa tội phạm và hình phạt, hình phạt áp dụng đối với tội phạm phải phùhợp và đủ sức răn đe, phòng ngừa.

Bốn là, các nhà làm luật tốt cần làm cho đạođức được đề caolênchứkhông phải chỉ trừng trị là chính.

Năm là, không phải hình phạt hà khắc, nghiêm khắcsẽ giúp đấutranh chốngđượctộiphạm, mà là tínhkịpthờicủaviệc truycứutrách nhiệm và hình phạt đối với người phạm tội.

1.1.2. Ý nghĩa của những tƣ tƣởng pháp lý tiến bộ về pháp chế “Nullum crimen, nulla poena sine lege” trong lịch sử tƣ pháp hình sự thế giới

Như vậy, qua nghiên cứu khái quát về nguồn gốc xuất hiện và sự thừa nhận trong PLHS thế giới cho thấy, ý nghĩa của những tư tưởng pháp lý tiến bộ về pháp chế “Nullum crimen, nulla poena sine lege” được thể hiệntrên các phương diện dưới đây:

16

Một là, về phương diện chính trị – pháp lý quốc tế, những tư tưởng pháp lý tiến bộ về pháp chế “Nullum crimen, nulla poena sine lege” phản ánh những quanđiểmtiến bộ, nhân văn của xã hội trong giai đoạn đấu tranh của tiến bộnhân loại trong sự phát triển chung tương ứng đó. Quan điểmvề tội phạmvà hình phạt là một bộ phận quan trọng của hệ tư tưởng của giai cấp tư sản đang lên nhằmđấutranh chống lại hệ tư tưởng phong kiến, lấy thần quyền, giáo lýlàm chỗ dựa để áp dụng. Những tư tưởng này được thể hiện rõ ràng và cụ thểtrong Tuyên ngôn toànthếgiớivề nhân quyền của Liênhợpquốc ban hành ngày 10/12/1948, cũng như Công ước của Liên hợp quốc liên quan tới quyền dân sự và chính trị ngày 19/12/1966 và Công ước của Hội đồng Châu Âu vềbảovệquyền conngườivà tựdo cơ bảnngày 04/11/1970, cũng như BLHS của một sốnước tư sản giai đoạn tương ứng đó.

Hai là, vềphương diện tôn trọng và bảovệquyền con người, những tưtưởng pháp lý tiến bộ về pháp chế “Nullum crimen, nulla poena sine lege” đãthểhiện quanđiểmchính thức của xã hộivăn minh, tiếnbộđể chốnglạisựđộc đoán, tùy tiện, dã man và phong kiến chuyên quyềntrước đâyxâm phạmđếncác quyền và tựdo của conngườikhi áp dụng PLHSđể truycứutrách nhiệm hìnhsựvà trừngtrịcả những quan điểm, nhận thức và suy nghĩ của con người. Đặc biệt, ngoài nhữngnộidung cơ bản, những tưtưởngpháp lýtiếnbộvề pháp chế “Nullum crimen, nulla poena sine lege” còn thể hiện tưtưởng phản ánh tính nhân đạo, công bằng trong pháp luật.

Ba là, về phương diện lý luận và thực tiễn, những tư tưởng pháp lý tiến bộvềphápchế”Nullum crimen, nulla poena sine lege“đãthểhiệnsựtiếnbộvượt bậc trong việc cải cách hệ thống pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sựthế giới khi quan niệm tội phạm và hình phạt phải do luật hình sự quy định, đến lượt mình, luật hình sự phải do các nhà làm luật soạn thảo và chỉ có tội phạm vàhình phạtđượcquyđịnhtrong luật hìnhsựmớiđượcáp dụngđốivớingười phạm tội.

Ngoài ra, nguyên tắc này còn phản ánh tư tưởng nhân đạo khi khôngáp dụng những gì không có lợi cho người phạm tội, không ai có thể bị trừng phạt

17

theo một luật hình sự đã được xây dựng và ban bố trước khi xảy ra sự việc phạm tội, cũng như khi họ chưa có biểu hiện những suy nghĩ, quanđiểmcủa mình ra bên ngoàithếgiới khách quan.Bởilẽ,luật hìnhsựcóýnghĩađặcbiệt quan trọng trong việc bảovệ các lợiích của Nhà nước, của xã hội, nhưng cũng tác động trực tiếp đến các lợi ích thiết thân của công dân, như tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản của họ. Vì vậy, để tránh việc xâm phạm một trong các lợi ích trên, đòi hỏi phải thực hiện đúng tư tưởng và nội dung của nguyên tắc pháp chế với tư cách là nền tảng của pháp luật tiến bộ, nhân văn. Tuy nhiên, cũng do giaiđoạntươngứngđónênmộtsốtưtưởngcủa nguyêntắcnàydầndầnđã đượcthayđổivà bổsung cho phùhợpvớitừng thờikỳ.

1.2. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀÝNGHĨA CỦANGUYÊNTẮCPHÁP CHẾ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.2.1. Khái niệm nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt NamĐốivớiViệt Nam, ngaytừđầu, pháp chế đã là phương thức quan

trọngcủaquản lý và là nguyên tắc quan trọng của luật hình sự. Chúng tađã sớmcó một hệ thống bộ máy các cơ quan tư pháp, một hệ thống các tòa án. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi “Tòa án là cơ quan trọng yếu của chính quyền”. Tương ứng với từng thời kỳ cách mạng, Nhà nước ta đã ban hành các đạo luậtđể ghi nhậnđầyđủđặc điểmphát triển của từng thờikỳđólàm cơ sở hoạtđộngcủa bộmáy nhà nước, thực hiện nhiệmvụbảovệ nhân dân, đấutranh chống các vi phạm và tộiphạm trong khuônkhổvà trên cơsở pháp luật… [123, tr. 234].

Pháp chế và bảo đảm pháp chế,đặc biệtlà trong vấnđề bảo đảm pháp chế trong việcbảovệ các lợi ích quan trọng của Nhà nước, của xã hội, của cơquan, tổ chức và của công dân, đấu tranh chống các vi phạm và tội phạm. Dođó, việc làm sáng tỏ khái niệm, nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam là yêu cầu quan trọng.

18

Thuật ngữ “nguyên tắc” bắt nguồn từ tiếng La tinh là “Principium“, cóba nghĩa: Luậnđiểmcơ bản, luậnđiểmgốc củahọcthuyết nào đó; tư tưởng chỉđạocủa quy tắc hoạtđộng;niềm tin, quanđiểmđốivớisựvậtvà chính quan điểm, niềm tin đó xác định quy tắc hành vi; nguyên lý cấu trúc và hoạtđộngcủa bộmáy dụngcụthiếtbịnào đó. Hay cònđược hiểu là “cái gìđómang tính xuất phát điểm, dẫn đầu, chủ đạo” [1, tr. 85].

Theo Từ điển tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là: “Điều cơ bảnđịnh ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [126, tr. 672].

Còn trong lĩnhvựcpháp luật, các tácgiảcủaGiáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật đã đưa ra định nghĩa nguyên tắc pháp luật như sau: “Nguyên tắc là những tư tưởng chủ đạo, cơ bản mang tính xuất phátđiểm,cấuthànhmộtbộphận quan trọng nhấtcủapháp luật, phản ánh quy luật vàcấutrúc củamộthình thái kinhtế- xã hộinhấtđịnhvà liênhệ mật thiết với bản chất của kiểu pháp luật tương ứng với hình thái kinh tế – xã hộiđó” [117, tr. 45].

Theo GS. TSKH.ĐàoTrí Úc, nguyêntắcpháp luậtđượchiểu là:

“Những tưtưởngxuất phát điểm, có tínhchủđạo, địnhhướnglà quy tắc cơbản củahành động” [122, tr. 3].

Như vậy, trong hệ thống các quy phạm PLHS, các nguyên tắc của luật hình sự đóng vai trò, vị trí quan trọng, thể hiện bản chất của luật hình sự, làcơsởchotấtcảhoạtđộngxây dựng và áp dụng PLHS, cũng như phản ánh chính sách hình sự của Nhà nước đối với tội phạm và hình phạt.

Vấnđề tiếp theocầnlàm sángtỏlà phápchếvà phápchếXHCN, cũng như các thuộc tính cơ bản của pháp chế.

Pháp chế, theo Từ điển Bách khoa Mở (http://vi.wiktionary.org/wiki/)được hiểu là:”1. Chế độ trong đó đời sống vàhoạt động xã hội đượcbảođảm bằng pháp pháp luật; 2. Hệ thống luật lệ của nhà nước, nói chung, hoặchệthống luậtlệ ápdụng trong một ngành nhất định”.

19

Dướigóc độkhác, phápchế được hiểu làmộtchế độvà trậttựpháp luật trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dânđều phảitôn trọng và thực hiện pháp luật một cáchđầyđủ nghiêm chỉnh, triệtđể và chính xác. Mộtnềnpháp chế thống nhất, vững chắc là cơ sở cầnthiết chohệ thống pháp luậtđiềuchỉnh có hiệu quả các quanhệxã hội, phát huyđược hiệu lực của mình;mặtkhác, chỉkhi cómộthệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợpvà được sửa đổi, điềuchỉnh, bổ sung kịp thời khi cần thiết, thì nền phápchế mớiđược củng cốvà tăng cường, qua đó tôn trọng vàbảo vệ hữu hiệu các quyền con người, quyền công dân.

Mục đíchcủapháp chế là tạolậpđược mộttrậttựpháp luật. Trậttựpháp luật là hệ quả của pháp chế… [39, tr. 47]. Pháp chế cầnđược đề cao thành nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nó đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phải được tiến hành theo đúng quyđịnh của pháp luật; mọi công chức nhà nước phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng pháp luật khi thực hiện các quyền và nghĩa vụcủa mình, mọivi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm minh. Các tổ chức, chính trị, xã hội cũng cónghĩa vụ tuân thủ pháp luật của Nhà nước. Thực hiện tốt nguyên tắc pháp chếlà cơ sở bảođảmcho bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, phát huy tối đa và đầy đủ hiệu lực của mình và bảo đảm công bằng xã hội.

CònvềphápchếXHCN,trướcđâytrong các tác phẩmcủamình, các nhà kinhđiểncủachủnghĩa Mác – Lêninđãđềcậppháp chế. C. Mác và Ph.Ăngghenđã coi pháp chế như là sựtuânthủluật của nhữngngườitham gia các quan hệ xã hội. V. I. Lênin đã cụ thể hóa quanđiểmtrên của C. Mác vàPh. Ăngghen,chỉrabảnchất,ýnghĩa, tínhtấtyếukhách quan phải tăng cường pháp chế XHCN, các nguyên tắc, phương pháp và hình thức bảođảm pháp chế XHCN.

Tư tưởng về pháp chế XHCN của V. I. Lênin đã được thể hiện rõ ràng trong Sắc lệnh tháng Mười do Người trực tiếp soạn thảo: Phải tuân theo từng ly, từng tý những luậtlệvà mệnh lệnhcủachính quyền Xô viết vàđônđốcmọi người tuân theo. Người còn chỉ ra rằng: Mỗi ủy viên công tố chịu trách nhiệm

20

làm sao chobấtcứquyếtđịnhnào của bấtcứcơ quan hành chính nào cũng không đi ngược lại pháp luật. Đối với V. I. Lênin, điều quan trọng không chỉlà ở chỗ các đạo luậtđược ban hành đáp ứng sự phát triển của xã hội và cácđòi hỏi của quần chúng nhân dân lao động, mà điều chủ yếu hơn là đưa các đạo luật vào cuộc sống, làm cho nó được tuân thủ một cách chính xác, triệt để.

Còn Từ điển Luật học định nghĩa:

Pháp chế xãhộichủnghĩa làsựtôn trọng, tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật của các cơ quan, nhân viên nhà nước, của các tổ chức xã hội và mọi công dân.

Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một nguyêntắccơ bản tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, của Nhà nước xã hội chủ nghĩa gắn liền với tên tuổi của Lê-nin.

Pháp chế xã hộichủnghĩa, để tồntạivà phát huy, đòihỏi phảiđược vậnhành trong trạng tháiđượcbảođảmbằngmộtloạt yêucầucơ bản và yêu cầu hàng đầu là tính tối cao của Hiến pháp, luật. Hiến pháp, luật là kếttinh quyền lực Quốc hộiphảiđượctôn vinh, giữ vị trí thượng tôn trong hệ thống pháp luật và cả trong hoạtđộng của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và trong các xửsự của công dân và đây là cơ sở bảođảmtính thống nhất của pháp luật trong quy mô toàn quốc… [126, tr. 604].

Như vậy, về cơ bản, đề cập đến phápchế được hiểutheo nghĩa rộng, còn pháp chế XHCN cũng thuộc nội hàm của phạm trù pháp chế, nhưng gắn liền với pháp chế của hình thức Nhà nước là XHCN. Tuy nhiên, xét cho cùng, bản chất không hề thayđổi và đều hàmchứa nội dung là đòi hỏi sự tôn trọng, tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật của các cơ quan, nhân viên nhà nước, của các tổ chức xã hội và mọi công dân trong xã hội. Hơn nữa, phápchế của bấtkỳ hình thức Nhà nước nào cũng đều đòi hỏi như vậy. Pháp chế và pháp luật có quanhệ mậtthiết với nhau. Pháp luật và pháp chế là hai khái niệmrấtgầnnhau, nhưng khôngđồngnhất. Nếupháp luật là ýchícủa

21

giai cấp thống trịđược đưa lênthành luật, xuất phát từ nhu cầu và điều kiện xã hộithực tạicủagiaicấpđó, thì phápchếlà việc đưa ýchíđóvào cuộc sống, trở thành hiện thực và tạo ra được sức mạnh vật chất. Pháp luật chỉ cóthể phát huy được hiệu lực của mình, điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xãhội khi dựa trên cơ sở vững chắc của nền pháp chế. Ngược lại, pháp chế chỉcó thể được củng cố và tăng cường khi có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh,đồng bộ, phù hợp và kịp thời. Nếu có pháp luật, nhưng không có pháp chế, thìpháp luậtsẽ không đi vàođược cuộc sống, ngược lại, nếuchỉcó pháp chế, nhưng không có hệ thống phápluật đầyđủ, chặt chẽ thì pháp chế cũng sẽ mấtđi ý nghĩa vốn có của mình.

Ngoài ra, pháp chế cũng có mối quan hệ chặt chẽ với trật tự pháp luật. Trật tự pháp luật là một bộ phận quan trọng tạo nên trật tự xã hội nói chung. Nó thể hiệnmốiquan hệ giữa con ngườivớicác cơ quan nhà nước, tổchức chính trị, kinh tế, xãhộitrên cơ sở tuânthủvà thực hiện nghiêm chỉnh các mệnh lệnh của các quy phạm pháp luật. Trong mối quan hệ này, trật tự pháp luật là kết quả hoạt động của pháp chế trong đời sống xã hội.

Như vậy, trong mối quanhệ giữapháp luật, pháp chế và trậttựpháp luật, pháp chế là khâu nối liền giữa pháp luật và trật tự pháp luật, là phương tiện để giữ vững pháp luật, củng cố trật tự pháp luật, trật tự pháp luật đến lượt mình lạitạo điều kiện bảo đảmpháp chế. Bấtcứsự vi phạm trật tự pháp luật nào cũng đồng thời vi phạm pháp chế. Đến lượt mình, vi phạm pháp chế cũng chính là vi phạm trật tự phápluật, sự ổnđịnh vốn có của pháp luật.

Trong các học thuyết của mình, V. I. Lênin cònđề cậpnhững thuộc tính của pháp chế. Thuộc tính quan trọng của pháp chế theo V. I. Lênin là tính thống nhất [36, tr. 15]. Tính thống nhất của pháp chế còn được thể hiện trong sựbìnhđẳngcủa tấtcả mọingườitrướcpháp luật. Trước pháp luật, mọi người đều bình đẳng và đều phảituân thủ pháp luật, không một ai đứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật và không chịu sự ràng buộc của pháp luật.

Tính thống nhất của phápchếlà cơ sở cho việc xác định hiệu lực vàhiệu quả của bộmáy nhà nước. Thực hiệntốtyêucầunày của pháp chế là

22

điều kiệnquan trọng để thiết lập trật tự, kỷ cương, trong đó cơ quan cấp dưới phải phục tùng cơ quan cấp trên, mỗi cá nhân có quyền tự do, dân chủ, nhưng phải tôn trọng quyền của những chủ thể khác, nhất là tôn trọng lợi ích của Nhànước. Bảođảmpháp chế thống nhất là điềukiệnđể khắc phục tưtưởngcục bộ, bản vị địa phương chủ nghĩa, tự do vô chính phủ, bảo đảm công bằng xã hội.

Ngoài ra, pháp chế còn có thuộc tính là tínhtốicaocủaHiến pháp, luật trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Đòi hỏi này bắt nguồn từchỗ, bấtkỳ đạoluật nào cũng nên thể hiện ý chí của nhân dân, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, ổn định và quan trọng nhất. Trên cơ sởnày, tính thứbậc của các vănbảnquy phạm pháp luậtbảođảmcho tính thống nhất của pháp chế trong hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật.

Yêucầutôn trọng tínhtốicao của Hiến pháp và luật tronghệ thống phápluật đượcthể hiệnở chỗ, các văn bản đượcđặt ở những vị trí khác nhau bởihai tiêu chí: Mức độđiềuchỉnh tươngứngvớivịtrí quyền lực củacơquan ban hành ra vănbảnvà mức độ của hiệu lực pháp lý. Hiến pháp và luật (đạoluật) là những vănbảnpháp lý do Quốc hội- cơ quan quyền lực nhànước cao nhất ban hành, thể hiện một cách tập trung ý chí và những lợi ích cơbản của nhân dân lao động trên các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội. Đó là những văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất.

Các văn bản của các cơ quan quyền lực nhà nước khác như Pháp lệnh của ỦybanThường vụQuốc hội, Lệnh của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghịđịnhcủa Chínhphủvà quyết định, chỉthịcủa ThủtướngChính phủ, các thông tưcủaBộtrưởngđềuphảiđược ban hành hoặc trên cơ sở đượcQuốc hội giao(đối vớiỦy ban Thường vụ Quốc hội) hoặc trên cơ sở và để thi hành Hiến pháp và luật. Các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên. Do mức độ điều chỉnh ở mức khái quát cao, nên Hiến pháp và luật trong nhiều trường hợp, không thể quy định một cách chi tiếtvà cụ thể để ápdụng trongmọitình huống, vìvậyđòihỏiphải cósựcụthể hóa của các vănbản

23

dướiluật. Trên thực tế, những vănbảndướiluậthếtsức phong phú, chiếm mộtsốlượngrấtlớntronghệ thống pháp luật. Nếukhông thực hiệntốtyêu cầuvề tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và luật, thì tình trạng văn bản cấp dướikhông phùhợpvớivănbảncấptrên và mâu thuẫnvớinhau là điềudễxảy ra.

Do đó, để thực hiện tốt yêu cầu này của pháp chế, cần chú ý cả hai mặt: thứ nhất, phải chú trọngtớiviệc hoàn thiện Hiến pháp và xây dựng các đạo luật để làmcơ sở cho sự phát triển và hoàn thiện của toàn bộ hệ thống pháp luật; thứ hai, phải nhanh chóng cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp vàluật, triệt để tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và luật.

Cuối cùng, thuộc tính tiếp theo của pháp chế là tính hiện thực. Đòi hỏi về tính hiện thực của phápchếphảiđược thực hiện vàthểhiện trong hoạtđộng xây dựng, bảo vệ và áp dụng pháp luật, gắn chặt với trách nhiệm pháp lývề những hành vi vi phạm pháp luật. Trong tính hiện thực của pháp chế, luôn luôn đòi hỏi phải phát hiện các hành vi vi phạm pháp luậtdẫulà vi phạmnhỏnhất trong việc thực hiện pháp luật và lôi cuốnsựtham giamộtcáchtựnguyện của quần chúng nhân dân vào kiểm tra việc tuân theo pháp luật.

Yêu cầu này của pháp chế là tất cả các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tuân theo pháp luật. Như vậy, xây dựng pháp luật là rất quan trọng, nhưng một vấn đề khác không kém phần quan trọng là tổchức thực hiện pháp luật trong thực tiễn cuộc sống. Sau khi ban hành xong các vănbảnpháp luật, các cơ quan và những người có trách nhiệmcầnphải chú ý đến việc thi hành pháp luật, kiểm tra, tạo điều kiện cho pháp luật đi vào cuộc sống và xem xét hiệuquả thực tếcủa nó. Tổchức và thực hiện pháp luật làmộtmặtquan trọng của nền pháp chế. Vì vậy, muốn củng cố và tăng cường pháp chế thì phải bảo đảm tổ chức và thực hiện pháp luật có hiệu quả. Mọi hành động “vượt rào” từ phía tổ chức xã hội đều là sự vi phạm pháp chế và phải bị xử lý nghiêm khắc.

Ngoài ra, phápchếcònđòihỏiphảixửlýkịpthời và công minh những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích của công dân, của tập thể,

24

của Nhà nước. Điều 12 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 quyđịnh:”Mọi hành vi xâm phạmlợiích của Nhà nước,quyền và lợiích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật” [89]. Nội dung này đã bao hàmtương đối đầyđủ các phương diện khác nhau của nguyên tắc pháp chế. Kết quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật như Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Thanh tra sẽ có tác động trực tiếp tới đòi hỏi nêu trên của pháp chế. Vì vậy, cần thiết phải chú trọng các biện pháp để bảođảmcho các cơ quan này hoạt động một cách tích cực, chủ động và có hiệu quả. Bảo vệ pháp chế còn là nhiệmvụ của cáctổchức xã hội và của toàn dân, vì vậy các tổ chức và mọi công dân phải có trách nhiệm tham gia đấu tranh chống vi phạm và tội phạm, bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế.

Để bảo đảmpháp chế XHCN, theo V.I. Lênin, dân chủ có vai tròđặc biệt quan trọng [36, tr. 24]. Dânchủđược hiểu là chế độchínhtrịcủa Nhànước XHCN với sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân lao động vào công việc củaNhà nước. Dânchủcómốiquanhệ chặtchẽvớipháp chế XHCN. Không thể có dân chủ bên ngoài pháp chế. Ngượclại,sựchấp hành pháp chế lại phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hoàn thiện dân chủ trong đời sống xã hội. Dân chủ phảiđượccoi là một trong những tiền đề quantrọng để bảođảm pháp chế XHCN. Do đó:

Trong xã hộicóthểcó pháp luật mà không có dân chủ, những không thể cóđược dânchủnếukhôngđược bảođảmbằng pháp luật. Pháp luật thể chế hóa các nội dung dân chủ, làm cho dân chủ thông qua pháp luật mà đi vào cuộc sống. Pháp luậtlà cơ sở để phát huy dân chủ, là nhântốbảođảmquyềntựdo của cá nhân và cộng đồng… [96, tr. 104-105].

Ngoài dân chủ, văn hóa cũng được coi là điều kiện quantrọng để bảođảmpháp chế. Mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và pháp chế XHCNđãchỉ ra rằng trình độ văn hóa của quần chúng nhân dân và cán bộ các cơ quan công quyền càng cao thì việc thực hịên các mệnh lệnh pháp luật càng tự giác

25

và thống nhất, dođópháp chế càngđượcbảođảm.Ngược lại, tăng cường pháp chế lại mở ra khả năng rộng lớn để phát triển có hiệu quả văn hóa.

Ngoài dân chủ và văn hóa, V.I. Lênin còn chỉ ra rằng, tính ổn định vàvững chắc của pháp chế phụ thuộc vào sự tác động qua lại giữa pháp chế với cơ sở kinh tế và các yếu tố khác của thượng tầng kiến trúc. Pháp chế với tính chất là một hiện tượng pháp lý – xã hội có tác động đến chế độ kinh tế, chính trị, xã hội, đếntổchức và hoạtđộngcủacác cơ quanĐảngvà Nhà nước ởTrung ương và địa phương, trong đó có các cơ quan bảo vệ pháp luật, tổ chức chính trị, xã hội và công dân. Trình độ văn hóa pháp lý, ý thức chính trị, đạođức của nhữngngườihoạtđộnglậppháp và áp dụng pháp luật, cóýnghĩa quan trọng trong việc thực hiện và tuân thủ các mệnh lệnh của pháp luật.

Hiện nay, các sách báo pháp lý ở nước ta đề cập nhiều về Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, trong đó đề cao pháp luật, trước hết là Hiến pháp và các đạo luật, đề cao quyền con người trong đời sống xã hội, phân công quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước. Với phương pháp tiếp cậnấy, rõ ràng pháp chế theo quanđiểmcủa chủnghĩa Mác – Lênin, là một nội dung cơ bản của Nhà nước pháp quyền. Học thuyết về pháp chế XHCN của chủ nghĩa Mác – Lênin là sự kế thừa và phát triển các tư tưởng tiến bộ trong lịch sử nhân loại. Vì vậy, định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dânở nước ta không thể tách

rờikho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và pháp chế XHCN.

Vớitính chất là mộtnguyên tắc pháp luật, nguyêntắcpháp chế luôn luôn giữ vai trò chỉ đạo, định hướng cho toàn bộ cơ chế điều chỉnh pháp luật, cóảnh hưởng rất lớn tớiý thức pháp luật, trật tự pháp luật và văn hóa pháp lýtrong xã hội. Tính chất đa diện, đa nghĩa, đa chiều của pháp chế được thể hiện qua các nội dung cơ bản của nguyên tắc này như sau:

– Pháp chế là một trong những nguyêntắccơ bản cho việc tổ chức vàhoạt động của bộ máy nhà nước XHCN.

26

– Pháp chế là một trong những nguyêntắcchủ yếucho việc tổ chức vàhoạt động của các tổ chức xã hội.

– Pháp chế là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong xử sựgiữa các công dân với nhau.

– Pháp chế là mộttrong những nguyên tắc quan trọng nhất của việc bảo đảm và phát huy dân chủ XHCN… [95, tr. 420-422].

Ngoài ra, nguyêntắcpháp chế còn ảnh hưởng sâusắc tớichất lượng và hiệu quả của pháp luật. Trong mỗi ngành luật khác nhau, xuất phát từ các chức năng và nhiệm vụ mà mỗi ngành luật thực hiện, pháp chế có nội dung, yêu cầu cụ thể riêng và là nguyên tắc của ngành luật ấy.

Trong mối quan hệ giữa khoa học luật hình sự và khoa học về luật tốtụng hìnhsựthì luậttốtụng hìnhsựlà hình thức để thực hiện các quyđịnh của luật vật chất – luật hình sự, do đó mối quan hệ giữa chúng là mối quan hệmậtthiết giữa nội dung và hình thức. Sự thống nhất của luật hình sự và luật tốtụng hình sự trước hết được quyếtđịnh bởinhu cầu chung của việc đấu tranh

chốngtộiphạm. Dođócả hai ngành luậtđềudựa trên những nguyên tắc chung như nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc bìnhđẳng trước pháp luật, nguyên tắc nhânđạo, nguyên tắc công minh…Đốivớiluậttốtụng hình sự, nguyên tắc pháp chế có nghĩa là mọi hoạt động tố tụng hình sự phảiđược tiến hành theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Khi tiến hành tố

tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng các quyền và lợiích của công dân; thường xuyên kiểm tra tính hợp phápvà sự cầnthiết của những biện pháp đãáp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiếtnữa (Điều3, Điều 4 BLTTHS năm 2003); v.v…

Trong luật hìnhsựViệt Nam, vớitính cách là những yêu cầu, định hướng cho việc sử dụng PLHS vào việc đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm,

27

các nguyên tắc của luật hìnhsựtạothànhmộthệ thống chỉnh thể và có tính liên kết chặt chẽ. Hiện nay, tư tưởng của các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam cóthểnhận thấyđượcthểhiện trong BLHS bao gồm: Nguyêntắcpháp chế, nguyên tắc bình đẳng trước luật hình sự, nguyêntắccông minh (hay còn gọilà nguyên tắc công bằng hoặc nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa trách nhiệm hình sự), nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm, nguyên tắc trách nhiệm do lỗi và nguyên tắc trách nhiệm cá nhân… [18, tr. 203]. Nghiên cứu về nội dung và sự thể hiện của nguyêntắcnày trong luật hình sựcho thấy, tính hệ thống và lôgíc giữa chúng được biểu hiện như sau:

Một là, mỗi nguyên tắc của luật hình sự Việt Namđềucó ý nghĩa, vai trò và vị trí riêng của nó vì đó là tư tưởng, quan điểm định hướng cho những nhiệm vụ và chức năng cụ thể của luật hình sự.

Hai là, các nguyên tắc, trong tổng thể cómốiliênhệ mậtthiết với nhau, không thể tách rời. Để thực hiệnđầyđủ các nhiệm vụ và chức năng của mình, luật hình sự cần phải dựa vào tất cả các nguyên tắc và không thể chỉ coi trọng, hoặc ngược lạicoi thường hoặcbỏqua mộtnguyêntắcnào. Sựthực hiện nguyên tắc này cóảnhhưởngđếnviệc thực hiện nguyên tắc khác vàđồng thời cần đến sự thực hiệncác nguyên tắc khác làm tiền đề cho việc thực hiện nguyên tắc này, chúngbổsung cho nhau trong việc giải quyết công minh, có căn cứ và đúng pháp luật trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

Ba là, trong số các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam có một hoặc mộtsốnguyên tắc mang tính chấtchủ đạovà đặc biệt quan trọng khôngchỉtrong công tácđấutranh phòng ngừa, chốngtộiphạm, mà cả trong việc áp dụng và thi hành pháp luật hình sự.

Đốivớiluật hình sự, nguyên tắc chủđạođólà nguyên tắc phápchế. Tínhchủđạocủa nó xuất pháttừtính chất hiếnđịnhcủa nó. Điều12 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Sauđó, Điều8 Hiến pháp năm 2013 quyđịnh:”Nhà nước được tổchức và hoạtđộngtheo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hộibằng Hiến pháp và pháp

28

luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. Như vậy, nguyêntắcpháp chếcó vai tròchủđạosovớitấtcả các nguyên tắc khác tronghệ thống các nguyên tắc trong luật hình sự. Nguyêntắcpháp chế là nguyên tắc Hiến định, nguyên tắc chủđạocủatấtcả các ngành luật tronghệ thống pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, suy cho cùng các nguyên tắc khác của luật hình sự thực chất là sự cụ thể hóa, là sự biểu hiện phát sinh từ nguyên tắc pháp chế, cũng nhưviệc thực hiện không tốt một trong các nguyên tắc khác của luật hình sự đều là vi phạm nguyên tắc pháp chế. Đếnlượtmình, khi nguyên tắc phápchếđược thực hiện đúng và đầyđủ, thì các nguyên tắc khác sẽ được thực hiện nghiêm chỉnh theo.

Tóm lại, có thể khẳng định rằng, xét trên phương diện hệ thống pháp luật, thì pháp chế là nguyên tắc cơ bảnvà chủđạo, còn xét riêng trong luật hình sự Việt Nam, nguyên tắc pháp chế được thể hiện một cách rõ nét nhất vàphản ánh tính pháp chế XHCN cao nhất. Điều nàyđược thể hiệntrực tiếp tại Lời nói đầu BLHS:

Tronghệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xãhộichủnghĩa Việt Nam, luật hìnhsựcóvịtrírấtquan trọng. Nó là một côngcụsắcbén của Nhà nước chuyên chính vôsảnđể bảovệnhững thành quả củacách mạng, bảovệ chế độxã hộichủnghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa mọihành vi phạm tội, góp phần hoàn thành hai nhiệmvụchiến lược:xây dựng thành côngchủnghĩa xãhộivà bảovệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [88].

Ngoài ra, BLHS còn có nhiệmvụ”giáo dục mọingườiýthức tuân theo pháp luật, đấutranh phòng ngừa và chốngtộiphạm” [87, Điều1]. Để thực hiện nhiệm vụ trên, BLHS quy định tội phạm và hình phạtđối với người phạmtội. Điềunày có nghĩa phápchế đã được thể hiệnrõ nét trong BLHS khi xác định – tội phạm và hình phạt phải được quy định trong BLHS.

29

Luật hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, bao gồm những hệ thống quy phạm pháp luật do Nhànước ban hành, xác địnhnhững hành vi nguy hiểm cho xã hộinào là tội phạm, đồngthời quyđịnhhình phạtđốivớinhữngtộiphạm đó. Tronghệ thống pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, chỉ có luật hình sự mới quy định về tội phạm và hình phạt. Vì vậy, một yêucầuhàng đầu của nguyên

tắc pháp chế trong luật hình sự là Nhà nước phải xây dựng một hệ thống văn bản PLHS hoàn chỉnh để không một hành vi nguy hiểm nào cho xã hội bị coi là tội phạm không được quy định trong luật hình sự.

Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi những hành vi bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt, phảiđược luật hìnhsựquy định. Chúng ta không chấp nhận việc một người bị kết ánvề một tội phạmkhông được quy định trong BLHS hiện hành. Khi tình hình chính trị – xã hội, kinh tế và văn hóa có sự thayđổi, Nhà nước phải kịp thời bổ sung, sửa đổi các quy định tương ứng của luật hình sự để đấutranh phòng ngừa và chống tội phạm có hiệu quả.

Như vậy, trong lĩnh vực luật hình sự, nguyên tắc pháp chế xuyên suốt toàn bộ hoạt động lập pháp hình sự, nó là tư tưởng chủ đạo cho quá trình xây dựng PLHSở nước ta. Mộttrong những yêucầuquan trọng của nguyên tắc phápchếtrong luật hìnhsựlà việc áp dụng PLHS trong thực tiễn. Nếunhưyêucầucủa nguyên tắc pháp chế trong hoạt động lập pháp hình sự là việc quyđịnh đầyđủ các hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm, không để sót được một hành vi nào là tội phạm mà không được quy định trong BLHS thì trong hoạtđộngáp dụng PLHS, yêucầucủa nguyên tắc pháp chế là việc áp dụngđúng đắn, đầyđủ cácquy định của PLHS đối với mỗi hành vi phạmtội xảyra trong thực tiễn. Các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải phát hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự kịp thời đối với mỗi hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi đó, bảo đảm không một hành vi phạm tội nào mà luật hình sự quy định đã xảy ra mà không bị phát hiện và xử lý một cách nghiêm minh. Việc phát hiện hành vi phạm tội, người phạm tội và áp dụng những hình phạt

30

tương ứng có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm, bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân;bảovệ tàisảncủa Nhà nước, của tậpthể, bảovệ tính mạng, tài sản, tựdo, danh dự và nhân phẩm của công dân.

Yêu cầu của nguyên tắc pháp chế trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử phải được thể hiện ở chỗ, việc phát hiện tội phạm, người phạm tội phải kịp thời, chính xác, khách quan, không để lọt tội phạm và người phạm tội, đồng thời không làm oanngườivô tội,bảođảmquyềnlợihợpphápcủangườidânđượcđầyđủ. Hình phạt mà Tòa án tuyênđối vớingười phạm tội phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và phù hợp với các quy định trong BLHS. Ngược lại, mọi trường hợp tuyên hình phạt quánặng hay quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xãhộicủahành vi phạmtộiđềulàsựvi phạm nguyêntắcpháp chế trong luật hình sự. Như vậy, yêucầucủa nguyên tắc phápchếkhôngchỉxuyên suốt trong hoạt động lập pháp hình sự, mà còn xuyên suốt trong hoạt động áp dụng PLHS,đòihỏisựtriệtđể tuânthủPLHSmộtcách nghiêm chỉnh và thống nhất của các cơ quan nhà nước, mà trước hếtlà các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các tổ chức xã hội và mọi công dân.

Tóm lại, từsự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm đang nghiên cứu như sau: Nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam là những tưtưởngchủđạo, cơ bản mang tính xuất phátđiểmvềsự triệtđể tuân thủPLHSmộtcách nghiêm chỉnh và thống nhấtcủacác cơ quan nhà nước, trước hết là các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa vàchống tội phạm, các tổ chức xã hội và mọi công dân trong việc xây dựng vàthực hiện PLHS.

1.2.2. Nội dung nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam

31

Trong luật hình sự Việt Nam, nguyên tắc pháp chế có những nội dung cơ bản sau đây:

* Những hành vibịcoi làtộiphạm và phải chịu hình phạt, các biện pháp pháp lý hình sự khác chỉ và phải do BLHS quy định

Luật hình sự Việt Nam xuất phát từ việcbảovệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước,tổchức và công dân mà quyđịnhtộiphạmchỉvà phảiđược quyđịnhtrong BLHS, mà khôngthểđược quyđịnhtrong các văn bản pháp luật khác. Việc quy định tội phạm, loạibỏ một tội phạmra khỏi BLHS, sửa đổinộidungmộttộiphạm phảiđượctiến hành hợp pháp tức là phải do Quốc hộiquyếtđịnhtrong BLHS. Khôngmộtcơ quan nhà nước nào khác ngoài Quốc hộicó quyền quyđịnhtộiphạm và hình phạt. Mộtngườichỉbịtruycứutrách nhiệm hình sự, phải chịu hình phạtnếuđã thực hiệnmộttội phạm được quy định trong BLHS.

Quy định này không chấp nhận việc áp dụng pháp luật tương tự trong lĩnh vực hình sự. Áp dụng tương tự trong lĩnh vực hình sự bao gồm: Áp dụng tương tự quy phạm PLHS và áp dụng tương tự PLHS [97, tr. 38-39]. Áp dụng tương tự PLHS là dựa vào các nguyên tắc chung của luật hình sự và ý thức pháp luật XHCNđể truycứutrách nhiệm hìnhsựmộtngườithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng chưa có luật quyđịnhvà không tươngtựvới một tội phạm nào đó đã được luật hình sự quy định. Áp dụng tương tự quy phạm PLHS là căn cứ vào quy phạm quy định một tội phạm để xử lý một hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa được quy định là tội phạm, nhưng tương tự với tội phạmđã được quy định trong tội phạm đó. Không áp dụng pháp luật tương tự trong lĩnh vực hìnhsựlà yêucầucủa nguyên tắc pháp chế, bảođảmcho PLHSđược áp dụng thống nhất. Đó cũng là một tiêu chuẩn của một luật hình sự văn minh, tiến bộ.

Quy định này vừa bảođảmtính thống nhất của PLHS, vừa chốngsựtùy tiện trong quy định tội phạm và hình phạt, vừa có ý nghĩa không để bấtkỳmột cơ quan, người nào ngoài những cơ quan, người có thẩm quyền theo quy

32

địnhcủaHiến pháp và pháp luật, cóthểtựtiện quykếttrách nhiệm hìnhsựđối với người dân. Mặt khác, quy định trên là sự bảo đảm hoạt động của các cơ quan tiến hànhtốtụng thực hiện công tác điềutra, truy tố, xétxửmột ngườiphạmtộiphải đúng PLHS hiện hành. Nguyên tắc pháp chế đòihỏi không một hành vi phạm tội nào tránh khỏi sự phát hiện và xử lý theo PLHS, truy cứu trách nhiệm hình sự phải đúng người, đúng tội. Hình phạt do Tòa án quyếtđịnh đối vớingườiphạm tội phải phù hợp và trong giới hạn do BLHS quy định. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tiến hành các hoạtđộng tố

tụng phải căn cứ vào các quy định của PLHS. Việc quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăngcườngpháp chế được thể hiện trong nội dung của nguyên tắc này khi xác định tội phạm và hình phạt trong luật hình sự.

Nguyên tắc pháp chế cònđòihỏisựchính xác và thống nhất trong việc áp dụng PLHS, trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xãhộicủa tộiphạm trên toàn lãnhthổnướcCộng hòa XHCN Việt Nam và áp dụng như nhau, không phân biệt các đặcđiểmcá nhâncủangườiphạm tội. Do đó, PLHS cần phải xác định rõ ràng các tiêu chí để phân biệt một hành vi vi phạm pháp luật và là tộiphạmvớihành vi không vi phạm pháp luật vàkhông phải là tội phạm. Nói một cách khác, nội dung cơbảncủa nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự “đòi hỏi ranh giới giữa tội phạm và không phải là tộiphạm trong những hành vi màđiềuluật môtảcầnphảiđượclàm rõ” [123, tr. 242].

Hành vi nguy hiểm cho xã hộilà kếtquả hoạtđộngcủa con người, khác với tác động của tự nhiên cũng có thể dẫn tới nguy hại cho xã hội. Tuy vậy, hành vi nguy hiểm cho xã hộicũng mang tính khách quan, bởivìđókhông chỉ là biểu hiện bên trong của con người, mà còn phản ánh các quan hệxã hội và đặc điểm, bản chất của các quan hệ đó.

Tính nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi phạmtộiđược thểhiện bởi hậuquả do hành viđógây ra cho khách thể được BLHS xác lậpvà bảovệ. Nói một cách khác, hành vi phạm tội xâmhạiđến những quan hệ xã hội quan trọng được BLHS bảo vệ, gây ra những thiệthạinhất định cho những quan hệ

33

đó. Vì vậy, tính nguy hiểm cho xã hội – đó là dấu hiệuvậtchất khách quan củahành vi, không phụ thuộc vào quyếtđịnhchủ quancủa ngườilàm luật, vấnđề làngườilàm luật nhận thức đúng và ghi nhận nó trong luật. Do đó, tính nguy hiểm cho xã hội là một yếu tố có tính xã hội và tính khách quan.

Tính nguy hiểm cho xã hộilà đặc trưng chung của các hành vi vi phạm pháp luật như vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật, vi phạm PLHS…Sựkhác nhau giữa các loại hành vi đó chỉ là mức độnguy hiểm cho xã hội. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cao nhất trong số các loại hành vi đó. Ngoài ra, để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm

tội đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải căncứvào ý thức, thái độ chủquan và điềukiện, hoàn cảnh khách quan khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội xâmhạiđếnlợiích được PLHS bảo vệ, cũng như căncứvào nhân thân người phạm tội; v.v… Việc xem xét một cách khách quan, toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là cơ sở để đánh giá mức độnghiêm trọng của mộthành vi phạmtội-đểtrên cơsở đócá thể hóa trách nhiệm hình sự được đúng đắn và chính xác. Nếu hành vi phạm tội gây thiệt hạiđến các quanhệ xã hội được PLHS bảo vệ như an ninh quốc gia, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người… và được thực hiệnmộtcách có lỗi, thì người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn nếu hành vi tuy có dấu hiệucủatội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xãhộikhôngđáng kể, thì không phải là tội phạmvà được xử lýbằng các biện pháp khác. Do đó:

Tiêu chuẩn cơ bản của việc phân biệt tội phạmvớicác hành vi vi phạm pháp luật khác là mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm pháp luật đó, bởi vì tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu vật chất của mọi sự vi phạm, còn mức độ nguy hiểmlà đặc tính khách quan tươngứngvớitừng loại vi phạm pháp luật. Đólà điều khác biệt cơ bản dẫn đến sự phản ứng khác nhau của Nhà nước đối vớitừng loại vi phạm pháp luật [134, tr. 74].

34

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi chính là cơ sởquan trọng nhấtđể phân biệttộiphạmvớihành vi không phải là tộiphạm. Khi làm rõ ranh giới giữa hai hành viđó,việc xác địnhchođược tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là nhiệm vụ không thể thiếu được. Nếu một hành vi vi phạm pháp luật, mà tính chất nguy hiểm cho xã hội là đáng kể thì nó làtội phạm và người đã thực hiện hành vi đó phải bị xử lý bằng các biện pháp hình sự. Còn nếu tính chất nguy hiểm của hành vi đó không đáng kể đối với xã hội, thì hành vi đó không là tội phạm và người thực hiện hành vi đó sẽ bịxử lý bằng các biện pháp khác không phải của PLHS.

Mặc dù tội phạmđềulà những hành vi có tính chất nguy hiểm cho xãhộiđáng kể, nhưng những hành vi phạmtộicụthểcó tính chất và mức độnguy hiểm cho xã hội rất khác nhau. Tội phạm bao gồm từ những hành vi cótính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội xâm phạm an ninh quốc gia như hành

vi phản bội Tổ quốc, gián điệp…đến những hành vi có tính nguy hiểm cho xãhội thấp hơn như hành vi gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản… Những hành vi phạmtộicụthể không những cósựkhác nhauvề nguyên nhân và điều kiện phát sinh, về tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại, mà còn cósựkhác nhauở tính chất và mức độnguy hiểm do hành vi phạmtộigây ra hoặc đe dọa gây ra, cũng như các tình tiết khách quan và chủ quan khác. So với những người vi phạm pháp luật khác, người phạmtội sẽ bị ápdụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, đó là chế tài pháp lý hình sự. Chế tài pháp lý hìnhsựlà bộphận của quy phạm PLHS, nêu lên những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất mà Nhà nước dự kiến áp dụng đối với người phạm tội.

Lý luận chungvề Nhà nước và pháp luậtđã chỉra rằng, quy phạm pháp luật nói chung, quy phạm PLHS nói riêng được đặt ra để điều chỉnh một quan hệ xã hội nhất định. Do đó, cũng như các quy phạm pháp luật khác, quy phạm PLHS phải thỏa mãn ba yêu cầu: Áp dụng vào trường hợp nào? Trong trường hợp đó, Nhà nước muốn người dân phải xử sự như thế nào? Nếu xử sựkhông đúng với yêu cầu của Nhà nước, thì Nhà nước sẽ áp dụng biện pháp gì?

35

Tương ứng với việc thỏa mãn ba yêucầutrên là ba bộ phận cấu thành của một quy phạm PLHS có quanhệ chặtchẽ vớinhau là phần giả định, phần quyđịnhvà phần chế tài. Nếunhư phần giả địnhlà bộphận của quy phạm PLHS nêu lên những tình tiết hayđiều kiện dự kiến sẽ xảyra trong đời sống xã hội thì sẽ áp dụng quy phạm; phần quy định là bộ phận nêu rõ cáchxử sựphải thực hiện khi gặp trường hợp nói ở phần giả định, nêu rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể; còn phần chế tài pháp lý hình sự là bộ phận của quy phạm PLHS, nêu lên những biện pháp cưỡng chế mà Nhà nước dự kiến sẽ áp dụngđối với chủ thể nào không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã được nêu ở phần quy định của quy phạm PLHS.

Chế tài pháp lý hình sự có mối quanhệ chặtchẽ với hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự, bởi lẽ việc thực hiện hành vi phạm tội là cơ sở để truy cứutrách nhiệm hình sự, áp dụng chế tài pháp lý hình sự. Trong PLHS, chếtài pháp lý hìnhsự được thể hiệndướihình thức hình phạt và các biện pháp pháp lý hìnhsựkhác như biện pháp tư pháp, miễn hình phạt… Mức độnghiêm khắc của hình phạtđược quyđịnhtrong luật hìnhsựphụthuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Tội phạm càng nghiêm trọng thì hình phạt càng nghiêm khắc. Sựđa dạng và nhiềucấpđộ về tính chất vàmức độnguy hiểm cho xã hộicủatộiphạmđòihỏiphải có nhiều loại hình phạtvớimức độ nghiêm khắc khác nhau. Do đó, nguyên tắc pháp chế đòi hỏi việc quyđịnhcác loại và mức độhình phạt phải chính xác, cụthể, phù hợp vớitính chất và mức độnguy hiểm cho xã hộicủatộiphạm. Để đápứng nguyên tắc nàyđòihỏicác nhà làm luật phải quyđịnhcác loại hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Nếu những hành vi bị coi là tội phạm chỉ và phải do BLHS quy định, thì hình phạt, các biện pháp pháp lý hìnhsựkhác được áp dụngđốivớingườiphạm tội cũngchỉvà phải do BLHS quy định. Chỉkhiđápứngđược điềukiện này, việc quyđịnhtộiphạm và chế tài pháp lý hìnhsự(hình phạt)mớibảođảm nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam.

36

*Ngườiphạmtộiđược hưởngnhững quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật quy định

Luật hình sự có chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và trật tự xã hội. Quy định phạm vi những hành vi nguy hiểm cho xãhộilà tộiphạm và hình phạtđốivớitộiphạm, luật hìnhsựthực hiện chức năng của mình bằng cáchđiềuchỉnh các quanhệ xã hộigiữa Nhà nước vàngười phạm tội xuất hiện khi tội phạm được thực hiện. Luật hình sự không điều chỉnh các quanhệ xã hộihình thành trong những lĩnh vực hoạtđộngkhác nhau của đời sống xã hội như quan hệ tài sản, hôn nhân và gia đình, quan hệkinh tế, laođộng…Đólà đốitượngđiềuchỉnh của các ngành luật khác, nhưng thông qua việc điều chỉnh các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của mình, luật hình sự góp phần tạo những điều kiện thuận lợi cho các quan hệ đó phát triển, bảo vệ chúng khỏi sự xâm hại của tội phạm.

Trong quan hệ PLHS, có hai chủ thể với quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý khác nhau, nhưng liên hệ chặt chẽ với nhau. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là một chủ thể của quan hệ PLHS. Nhà nước tham gia quan hệ này thông qua các cơ quan chuyên môn của mình là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòaán. Nhànướcthực hiện quyềnđiềutra, truytố,xétxửngườiphạm tội, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt theo quy định của luật hình sự về tội phạm mà họ đã thực hiện. Nhà nước có thẩm quyềnxử lýngười phạm tội, nhưng phải có nghĩa vụ chỉ được xử lý dựa trên các căn cứ vàtrong các giới hạn do pháp luật quy định, còn người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu sự tướcbỏ hoặchạn chế quyền, tự do nhất định, nhưng đồng thời cũng cóquyền yêucầusựtuânthủtừphía Nhànướcđốivớicác quyền và lợiích của con người và của công dân theo đúng các quy định của pháp luật [18, tr. 611]. Vớitư cách là người thực hiện công lý xã hội, Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm sự tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội.

37

Nghiêncứuquanhệ PLHS và quanhệ pháp luậttố tụnghình sự cho thấy, chúng xuất hiện vào những thờiđiểmkhác nhau, bởilẽ khitộiphạmđược thực hiện, thì tại thời điểm đó xuất hiện quan hệ PLHS, nhưng lại chưa xuất hiện quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, do chưa tiến hành hoạtđộng điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với vụ án hình sự (sự kiện pháp lý làm phát sinh quanhệ PLHS là chính sự kiện phạm tội, cònsự kiệnpháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự là việc xác định có dấu hiệucủa

tội phạm của cơ quan có thẩm quyền). Khi vụ án chưa được điều tra, làm rõ, thì chưa thể xác địnhtộiphạm cóxảyra hay không và nếuxảyra thì ai là người phạm tội, thời gian, địa điểm phạm tội và các tình tiết khác có liên quanđến tội phạm, nói cách khác chưa xác định được có quan hệ PLHS hay không và nếu có thì bản chất của mối quan hệ này là gì? Điều đó có nghĩa, quan hệpháp luật tố tụng hình sự phát sinh và phát triển là nhằm mục đích làm sáng tỏcó quan hệ PLHS hay không và việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, hạn chế quyền tự do cá nhâncủa một số ngườitham gia tố tụng hình sự, cũng là nhằm mục đích làm sáng tỏ quan hệ PLHS đó.

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đã chứng minh không ít trường hợp người bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế, hạnchế quyềntựdo cá nhân oan, tức là quanhệ giữa nhữngngườinày với Nhà nước không phải là quanhệ PLHS như lúc đầumộtsốcơ quan chức năngđãngộnhận, mà chủthểcủa mốiquanhệnày là ngườikhác vớiNhànước. Cũng không ít trường hợp, trên thực tế không cótộiphạmxảyra, nhưng cơ quan chức năngvẫnngộnhận là có quanhệ PLHS. Trong các trường hợp kể trên, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng được coi là chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, nhưng

lại không xác định được quan hệ PLHS. Ngoài ra, có nhiều trường hợp, có thể bị can thực sự phạm tội, nói cách khác chính người đó là chủ thể của quan hệ PLHS, nhưng việc đó phải do Tòa án có thẩm quyền xác định bằng bản án cóhiệu lực pháp luật như quy định tại Điều 72 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổsung năm 2001 (nay là Điều 31 Hiến pháp năm 2013) của nước ta:”Người bị

38

buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tựluậtđịnhvà cóbảnánkếttộicủa Tòa ánđã có hiệu lực pháp luật” và quyđịnhtạiĐiều9 BLTTHS năm 2003: “Không aibịcoi là cótộikhi chưa cóbản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Điều đó có nghĩa, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, nhưng cóthểkhông phải làchủthể củaquanhệPLHS. Bịcan, bịcáochỉđược coi là chủ thể của quan hệ PLHS khi đối với người đó có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; trong trường hợp chưa có bản án của Tòaánđã có hiệulựcpháp luật, thì theo nguyêntắcsuy đoán vôtộiđãđượcthừa nhận chung, bị can, bị cáo được coi là chưa có tội. Với những trường hợp bị can, bị cáo được Tòa án tuyên là vô tội, tức là không có quan hệ PLHS xảy ra, thìphải coi đây là biểu hiện của công lý XHCN đã được thực thi trên thực tế. Vì

lẽ đó,chúng tôiđồngtìnhvớiquanđiểmcủa GS. TS. ngườiNga M. X. Xtrôgôvich: “Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự chưa phải là chủthể của quan hệ pháp luật hình sự, bởi lẽ quan hệ nàyđang được điềutra, làm rõ” [142, tr. 55].

Việc tôn trọng các quyền và lợiíchhợppháp của ngườiphạmtộitừphía các cơ quan nhànước bảođảmápdụng đúng đắncác biện pháp cưỡng chế cầnthiết đối với họ. Ngược lại, việc áp dụng oan, sai các biện pháp cưỡng chế là sự vi phạm thô bạo các quyền tự do cá nhân của con người, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật; tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta vi phạm “nhân quyền“, chia rẽĐảng, Nhà nước với nhân dân.

Nội dung này của nguyên tắc pháp chế còn thể hiện: Những người phạm tộiđã được miễn trách nhiệm hìnhsựhoặc khôngbịtruycứutrách nhiệm hình sự do hết thời hiệu; ngườibị kếtán đã được miễnhình phạt hoặc không phải chấp hành bản án do hết thời hiệu; người đã chấp hành xong hình phạt vàđã được xóa ántích theo các quy định của BLHS, có các quyền và nghĩa vụkhông bị hạn chế so với các công dân khác, nếu BLHS không có quy định khác.

39

Trách nhiệm hìnhsựchỉxuất hiện khi cósựviệc phạmtộixảyra,được thực hiện trong phạm vi của quan hệ PLHS đã hình thành. Trong trường hợp người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hình sự đối với họcũng coi nhưđươngnhiên chấm dứt.Bảnchất xãhội- pháp lýcủaviệc miễn trách nhiệm hình sự là không buộc một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội này do xét thấy không cần thiết phải buộc người đó phải chịu trách nhiệm hìnhsự,màvẫnbảođảmyêucầuđấutranh phòng và chốngtộiphạm, cũng như giáo dục,cảitạongườiphạm tội.Đâychính làkhảnăng không áp dụng trách nhiệm hìnhsựđốivớingườiphạmtộikhi có nhữngđiềukiện do luật cho phép.

Người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu, tức là hết thời hạn do BLHS quy định mà khi hết thờihạn đó, ngườiphạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa. Để được áp dụng quy định về thời hiệu truycứutrách nhiệm hình sự, ngườiphạmtộiphảiđápứngđược các điềukiện như: không phạmtộimới, khôngcốtình trốn tránh và không có

lệnh truy nã. Trong trường hợp người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu, họ không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hìnhsựkhác, nhưng có thể vẫnphải chịumộthoặc nhiều biện pháp cưỡngchế phi hìnhsựkhác như trách nhiệmkỷ luật, trách nhiệm hành chính…

Miễn hình phạt được hiểu là không buộc người phạm tội phải chịu biện phápcưỡngchế hìnhsựnghiêm khắc nhất của Nhà nước đólà hình phạtvềtội mà người đó đã thực hiện do đáp ứng các điều kiện nhất định. Miễn hình phạtđược áp dụng khingườiphạmtộicó nhiều tình tiết giảm nhẹ quyđịnh trong BLHS và đángđược khoan hồngđặc biệt, nhưng chưa đếnmức miễn

trách nhiệm hìnhsự.Chủthể được miễn hình phạt không phải chịuhậuquả pháp lý bất lợi nhất của việc phạm tội là án tích, đây có thể được coi là những quyềnrấtquan trọng của ngườiđược miễn hình phạt. Thông qua việc áp dụng, Nhà nước không phải sử dụng các biện pháp mang tính trấn ápvề mặt

40

hình sự, đồngthời, cũng khôngcầncách ly khỏi xãhộinhữngngườiphạm tội ra khỏi đời sống xã hội, mà vẫnbảođảmyêu cầuđấutranh phòng ngừa và chống tội phạm, yêu cầu giáo dục, cảitạongười phạm tội. Sau khi người phạmtộithực hiệnđầyđủcác nghĩavụtheo quyđịnh,ngườiphạm tội khôngbịcoi là ngườicó án tích và cóđầyđủcác quyền và nghĩavụcủa công dân theo quy định của pháp luật. Việc bảo đảm các quyền và nghĩa vụcủa người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt là đápứng yêu cầu của nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam.

Người phạm tội không phải chấp hành bản án do hết thời hiệu thi hành bản án hình sự tức là khi khi hết thời hạn do BLHS quy định, người bị kết án không phải chấp hànhbảnánđã có hiệu lực pháp luậtđốivớihọ. Trong trường hợp này, ngườibịkếtán không phải gánh chịu hậu quả pháp lý hình sự do bản án hình sự đem lại, nhưng vẫn phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụpháp lý phi hìnhsựkhác mà pháp luật quyđịnh.Đốivớingườiđượcmiễn chấp hành hình phạt, người bị kết án không phải chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại khi đáp ứng những điều kiện theo quy định của pháp luật. Đối với cả hai trường hợp trên, pháp luật bảođảm cho người được miễnchấp hành bản án hoặc miễn chấp hành hình phạtđượchưởng đầyđủ các quyền và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quyđịnh.

Trong trường hợp người phạmtội đã chấphành xong bảnán và được xóa án tích theo quy định, ngườiđã được xóa ántích được hưởng đầyđủ các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụcủacông dân theo quyđịnhcủa pháp luật, mà khôngbịphân biệtđốixử. Đâylà mộttrong những biểu hiện của nguyên tắc pháp chế XHCN.

* Việc thực hiện trách nhiệm hìnhsựphải trên cơsởtuân thủ, áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất các quy phạm PLHS

Cơ sở của trách nhiệm hìnhsựtrước hếtphải là căncứchung, cần thiết, có tính chất bắt buộc, dựa trên cơ sở đó, các cơ quan có thẩm quyềnmới

41

có thể truycứutrách nhiệm hìnhsựngườithực hiệntộiphạm,bởilẽ,trách nhiệm hình sự là sự phản ứng của Nhà nước đối với hành vi cụ thể nguy hiểm cho xã hội, trái PLHS và có lỗi tức là tội phạm. Theo đó, ở đâu có tội phạm, thì ở đó có trách nhiệm hình sự, không có tội phạm thì không có trách nhiệm hìnhsự, điềunàythểhiệnmốiliên quan chặt chẽ, hữu cơ giữa hai phạm trùpháp lý quan trọng tội phạm và trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra, cơ sở trách nhiệm hình sự nhất thiết phải được quy định rõtrong PLHS. Điều này thể hiện quan điểm pháp lý tiến bộ là trách nhiệm hình sựchỉcó thể được áp dụngđốivớingườithực hiện hành vi mà BLHS quyđịnhlà tộiphạm, không ai phải chịu trách nhiệm hình sự, nếuhành vi màngườiđóthực hiện khôngđược BLHS quyđịnhlà tộiphạm.Đâylà sựthểhiện chính sách hình sự nhất quán của Nhà nước ta về “nguyên tắc suy đoán về tính hợp pháp của hành vi“, có nghĩa là:

Hành vi của một người phải luôn luôn được coi là hợp pháp khi chưa chứng minhđược bằng các thủtục luậtđịnhnhữngđiều ngược lại. Nó là nguyêntắc nềntảng để bảovệ con người và phẩm giá của con người, làbảođảmpháp lý cực kỳquan trọng của một xã hộivăn minh, chốnglạisựtùy tiện của nhữngngườicó chức năng, có quyềnđốivớicông dân và sựtùy tiện “tự xử” giữa công dân với nhau [121, tr. 695].

Đặc biệt, nó còn phản ánhsựthừa nhận của cộngđồngquốctế khi khoản 2 Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948 quy định:

1. Mọi người, nếu bị quy tội hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một Tòa án án công khai, nơi ngườiđó đã cóđược tấtcả những đảm bảocần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NGUYÊN TẮC PHÁP CHẾ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *