Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự
Mởđầu
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cảicách tư pháp ởnước ta hiện nay, việc xây dựng và áp dụng pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng phải đảmbảophù hợpvớicác nguyên tắc và các quy phạmđược thừa nhận chung của pháp luật Quốc tế, thể hiện tính công bằng, nhânđạovà sựnghiêm minh của pháp luật XHCN, góp phần tích cực trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, nhằm tăng cường pháp chế, bảo vệmột cách tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, tổ chức và của Nhà nước.
Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự (nguyên tắc lỗi, nguyên tắc trách nhiệm hìnhsựtrên cơ sở lỗi, nguyên tắc có lỗi) làmộtnguyên tắc hếtsức cơ bảnvà quan trọng, nguyên tắc của Luật hìnhsựnói chung vànguyên tắc trách nhiệm do lỗi nói riêng là “sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các quy phạm của Phần chung và phần các tội phạm của BLHS“, làm cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng, hoàn thiện, phát triển PLHS và thực tiễn áp dụng. Do vậy, nghiên cứu nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự là góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự, thể hiện chính sách hình sự của quốc gia và là tưtưởngchủđạo, địnhhướngcơ bảncủa Đảngvà Nhà nước trong pháp luật hình sự, trong việc giải thích và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.
Nghiên cứu về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự là nghiên cứuvề mộttrong những biện pháp thực hiện chính sách pháp luật hình sự, phản ánh đường lối xử lý về hình sự của Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chốngtộiphạm, vìvậysẽ góp phần vào thực tiễnđấutranh phòng ngừa và chốngtộiphạm. Nguyên tắc của Luật hìnhsựnói chung vànguyên tắc trách nhiệm do lỗi nói riêng là một bộ phận cấu thành của ngành Luật hìnhsựvà cao hơn là mộtbộphậncấuthành của hệ thống pháp luật Quốc gia. Vì vậy, việc nghiêncứunguyên tắc trách nhiệm dolỗicủa Luật
9
hìnhsựsẽ góp phần hoàn thiệnhệ thống pháp luật nói chung và hoàn thiện ngành Luật hình sự nói riêng.
Tuy nhiên, nguyên tắc trách nhiệm dolỗiđược quyđịnhvà thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật hình sự còn nhiềuhạnchế, như: Chưa có sự ghi nhận vềmặt lậppháp khái niệm về lỗi trong Luật hình sự, khái niệm người có lỗi hình sự hay khái niệm về hỗn hợp lỗi, khái niệm về nguyên tắc lỗi vô ý…; chưa quy định hình thức lỗi với tính chất là một dấu hiệu bắt buộc của mọi cấu thành tội phạm tăng nặng, sự thể hiện của nguyên tắc trách nhiệm dolỗitrong các cấuthànhtộiphạm cũng còn nhiềubấtcập, thực trạng áp dụng nguyên tắc trách nhiệm dolỗitrong công tác đấu tranh phòng ngừa vàchống tội phạm còn nhiều vướng mắc, hạn chế, như đánh giá tính chất và mứcđộlỗikhi quyếtđịnhhình phạt trong xétxửcác vụán hìnhsựchưa đúng, thiếu thống nhất trong xác địnhhình thứclỗicủa mộtsốtộiphạm…dẫnđến truy tố, xét xử sai, quyết định hình phạt thiếu công minh, chưa phù hợp.
Chính vì những lý do trên, chúng tôiđã chọn đề tài”Nguyên tắc trách nhiệm dolỗicủaLuật hình sự” để làmđề tài nghiêncứucủa mình, nhằm giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra, góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật hìnhsựtrong giaiđoạnhiện nay và xu thế phát triển trong tương lai của xã hội Việt Nam và đây cũng là Luận ántiến sỹ đầutiênở Việt Nam nghiêncứu về đề tàinày.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài:
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Luận án:
3.1. Mục đích:
Việc nghiên cứu luận án nhằm đạt được mục đích là:
– Xây dựngmộthệ thống các tri thức về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự Việt Nam.
– Khẳng định giá trị lịch sử hình thành và phát triển về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự.
– Giải quyếtmốiquanhệ giữa nguyêntắctrách nhiệm dolỗicủa Luật hìnhsựViệt Nam trong quanhệ so sánhvớinguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự một số nước trên thế giới.
– Đưa ra các giải pháp hoàn thiện PLHS liên quanđếnvấnđề lỗivànguyêntắctrách nhiệm do lỗi của LHS, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng PLHS trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
17
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án:
Để đạt được mục đích đặtra, Luận án tập trung giải quyết các nhiệmvụchính sau đây:
Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về lỗi hình sự và về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự Việt Nam, trả lời câu hỏi là vì sao phải nghiên cứu về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của LHS;
Hai là, nghiêncứukhái quát lịchsửlậppháp hìnhsựcủanước tavềnguyên tắc trách nhiệm do lỗi; nghiên cứu mối quan hệ giữa nguyên tắc trách nhiệm do lỗi với các nguyên tắc khác của LHS;
Ba là, nghiêncứusựthể hiện của nguyên tắc trách nhiệm dolỗitrong BLHS hiện hành, có so sánh với nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong LHS của một số nước trên thế giới; làm sáng tỏ những bất cập, hạn chế của BLHS liên quan đến nguyên tắc trách nhiệm do lỗi;
Bốnlà, nghiêncứuthực tiễn áp dụng PLHS trongđiềutra, truy tố, xét xử từ gốc độ đáp ứng yêu cầunguyên tắc trách nhiệm do lỗi;
Năm là, đưa ra các quanđiểmhoàn thiện, đề xuất các giải pháp hoàn thiện BLHS cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng PLHS, đáp ứng các yêu cầu mà nguyên tắc trách nhiệm do lỗi đặt ra.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận ántậptrung phân tích các luậnđiểmkhoa học về vấnđề lỗi, vềnguyên tắc trách nhiệm dolỗicủa Luật hình sự, từđólàm rõnộidung và ýnghĩa của nguyêntắcnày trong LHS, sự thể hiện nội dung đó trong các quyđịnh của BLHS hiện hành. Luận án tập trung nghiên cứu các quy định về lỗi hình sự, về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của LHS từ lịch sử hình thànhđến các quy định của BLHS hiện hành, có so sánh với nguyên tắc trách nhiệm do lỗi củaLuật hìnhsựmộtsốnướctrênthếgiới. Nghiêncứucácđiểmhạnchếcủa BLHS hiện hành liên quan đến lỗi hình sự và đưa ra những đề xuất hoàn thiện PLHS nhằm bảo đảm nguyên tắc trách nhiệm do lỗi.
18
4.2. Phạm vi nghiên cứu của Luận án:
Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của LHS có phạm vi và mức độ tác động tương đối rộng. Tuy nhiên, từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, Luận án tập trung nghiên cứu những vấnđề lý luậnchung về lỗi trong LHS Việt Nam, về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự Việt Nam, nghiên cứu sự thểhiện của nguyêntắctrách nhiệm dolỗitrong BLHS Việt Nam hiện hành, nghiên cứu việc áp dụng nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong thực tiễn xétxửcác vụán hình sự, nghiêncứuvề nhữngvấnđề cònbấtcập, hạnchế của BLHS liên quanđến lỗivà nguyên tắc trách nhiệm dolỗicủa LHS để từđótìm ra các giải pháp hoàn thiện BLHS.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
5.1. Cơ sở lý luận:
Để thực hiệnđược mục đích, nhiệmvụnghiên cứu, vớitư cách là mộtđề tài nghiên cứu về khoa học pháp lý hình sự, việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vậtlịch sửcủa Chủnghĩa Mác-Lênin, tưtưởngHồChí MinhvềNhànước và pháp quyền; các quanđiểm,đườnglối, chính sáchcủaĐảngvà NhànướctavềNhànuớc và pháp luật,vềchính sách hìnhsựvàcảicách tư pháp,vềcông tácđấu tranh phòng ngừa và chốngtộiphạm trong giaiđoạnhiện nay.Đólà căncứcơbảngiúp cho Luận án làm sángtỏnhữngvấnđềlý luậnvềlỗihìnhsự,vềkhái niệm,nộidung vàýnghĩacủanguyêntắctrách nhiệm dolỗicủaLuật hìnhsựViệt Nam, nhữngđặcđiểmriêng và giátrịkếthừavềnộidungcủanguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong các quy định của BLHS năm 1999. Qua đó, Luận án sẽlàm sáng tỏ nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc này trong các quy định của BLHS cũng như nhu cầu hoàn thiện PLHS liên quan đến nguyên tắc trách nhiệm do lỗi.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, việc nghiên cứu và tiếp cậncác vấnđề cầnnghiên cứu được dựa trên các phương pháp, như: phương
19
pháphệ thống, phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn và tham khảo chuyên gia…Trong sự kết hợp nhiều phương pháp nghiêncứukhác nhau trong Luận án, thì phương pháp phân tích quy phạm pháp luật đóng vai trò chủ đạo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án:
Về mặt lý luận: Đây là một công trình khoa học, nghiên cứu một cáchhệthống và toàn diện về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự ở nhiều gốc độ;xác địnhcơ sở khoa học, cơsở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện nguyên tắc trách nhiệm dolỗicủa Luật hình sự, từđógóp phần hoàn thiện chính sách hìnhsựcủa Nhà nước ta trong công tác đấutranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Về mặt thựctiễn: Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của Luận án cóý nghĩa quan trọng đối với hoạt động áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tốvà xétxửcác vụán hìnhsự;góp phần tuyên truyền, giáodụcPLHS; Là tài liệu tham khảobổích cho học viên, sinh viên, nghiêncứusinh, luật gia vànhững người quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực Tư pháp hình sự.
7. Những điểm mới của Luận án:
Thứ nhất, đây là công trình chuyên khảođầu tiên ở cấp độ Luậnán tiến sỹ trong khoa học Luật hình sự Việt Nam kể từ khi LHS được pháp điển hoálầnthứnhất (1985), nghiêncứumộtcách toàn diện, đầyđủvà cóhệ thống nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự.
Thứ hai, xây dựng được hệ thống các vấn đề lý luận liên quan đến lỗi vànguyên tắc trách nhiệm dolỗicủa LHS, như: Khái niệmlỗihình sự, khái niệm người có lỗi hình sự, khái niệm nguyên tắc lỗi vô ý trong LHS và khái niệm nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự, những yêu cầu và việc thể hiện nguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Luật hình sự…
20
Thứ ba, phân tíchđược sựthể hiệncủanguyên tắc trách nhiệm do lỗi trong Phần chung cũng như Phần các tội phạm của BLHS; làm sáng tỏ những bấtcập, hạn chế của BLHS liên quan đến vấn đề lỗi;
Thứ tư, đánh giá hoạtđộngthực tiễnđiềutra, truy tố, xétxửtrong việcáp dụng các quy định của PLHS có liên quan đến nguyên tắc trách nhiệm do lỗi; chỉ ra những khó khăn, vướng mắc để có các giải pháp khắc phục;
Thứ năm, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, phân tích pháp luật và đánh giá thực tiễn áp dụng PLHS, tác giả đưa ra hệthống các giải pháp hoàn thiện PLHS và nâng cao hiệu quả áp dụng PLHS liên quan đến nguyên tắc trách nhiệm do lỗi.
8. Bố cục của Luận án:
Để thực hiện được mục đích, nhiệmvụ, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, Luận án được kết cấu gồm 3 chương. Cụ thể là:
Chương 1: Những vấn đề chung về nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Sự thể hiện củanguyên tắc trách nhiệm dolỗitrongBộluật hình sự Việt Nam năm 1999.
Chương 3: Thực tiễn xét xử và việc hoàn thiệnBộluật hình sựViệt Nam năm 1999 nhằmbảođảmnguyên tắc trách nhiệm dolỗicủaLuật hình sự.

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM DO LỖI CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Một số vấn đề lý luận về lỗi hình sự.
1.1.1. Bản chất và khái niệm của lỗi hình sự. 1.1.1.1. Bản chất của lỗi hình sự.
Trong cấu thành tội phạm, lỗi là một dấu hiệu bắt buộc phải có và thuộc mặtchủquan của tộiphạm, vìvậylỗilà cơ sở để truycứuTNHS, nếumột hành vi nguy hiểm cho xãhộiđược thực hiện, đã gây thiệthạihoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho xã hội được Luật hình sự bảo vệ nhưng không có lỗi thì không coi là tội phạm.
Vây lôi la gi ?, khi nao thì một hành vi nguy hiểm cho xã hội được chủ
thể thực hiện, đã gây ra thiệthạihoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ bi coi la co lôi ?, và vì sao người bịcoi là cólỗikhi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộiđóphải chịu trách nhiệm hình sự?, trả lờiđược nhữngđiềuđócũng chính là làm rõđược bản chất của lỗi trong Luật hình sự.
Khi nghiên cưu đê đưa ra khai niêm chung vê lôi hinh sư , trên thê giơiđa co nhiêu trương phai, quan điêm ly luân khac nhau:
“Beling (nhà bác học người Đức) coi lỗi như là mặt chủ quan của hành vi, không phải là yếu tố của cấu thành tội phạm, bởi ông cho rằng cấu thành tội phạm chỉ là đặc điểmkhách quan của hành vi được quy định trong luật, vìvậy không thể bao gồm cả mặt chủ quan. Theo ông, lỗi là thái độ tâm lý của chủthểđốivớicấuthànhtộiphạm;lỗikhông phải làdấuhiệucủacấuthành tội phạm mà làdấuhiệuđộclậpcủatộiphạm,từđóBeling cho rằnglỗilàđiều kiện cần thiết của TNHS” [48, tr.33].
Theo G.Ê sec, GS, TS, Giámđốc Trung tâm Luật hìnhsựquốc tế của Cộng hòa liên bangĐức, đạidiện cho trường phái dânchủtrong khoa học
22
Luật hìnhsựtư sản, cho rằng, “lỗikhông phải làsự tráchcứ củaviệc hình thành ý chí mà là sai lầm của ý chí nhằm vào việc thực hiện hành vi trái pháp luật. Khía cạnh tâm lý của lỗi chính là nội dung thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi dưới hình thức cố ý hoặc vô ý” [48, tr.33].
“Ph.Nôvakôvxki- đại biểu cho lý thuyết chủ quan về tội phạm cho rằng, lỗi là hạt nhân của tội phạm và hình phạt không phải dựa trên việc thực hiện hành vi tương ứng với cấu thành tội phạm mà là dựa trên cơ sở khuynh hướng nội tâm của chủ thể đối với kháchthể đượcLuật hình sự bảo vệ. Giải thích vềbảnchấtcủalỗi, ông cho rằng, lỗilà yếutốtrong hoạtđộngtâm lý của chủthể.Lỗilà cơ sởđểtráchcứhành vicủangườiphạmtộidongườiphạm tội chưa cân nhắc kỹ lưỡng các tình huống cụ thể, chưa có sự chú ý cần thiếtđểkhông thực hiện hành vi trái pháp luật tương ứng với một cấu thành tội phạm. Ngườiphạmtộiđã thực hiệnmộthành vi mà anh ta khôngđược phép làm hoặc là không thực hiệnmộtviệc mà anh ta phải thực hiện. Ph.Nôvakôvxki kếtluận: lỗi là thói xấu của việc hình thành ý chí thể hiện việc chủ thể chưa cóthái độ đúng mực đối vớinhững giá trịđược Luật hình sự bảo vệ. Chủ thểđã có phản ứng đối với những yêu cầu của pháp luật chưa đúng như pháp luật đòi hỏi, đã không lựa chọn hành vi cần thiết với yêu cầu của pháp luật” [48, tr.34].
Những nhà luật học theo lý thuyết khách quanvề tội phạmthì lại coi lỗi là mộtdấuhiệu của tội phạm, biểu hiệnmặtchủ quan của tộiphạm. T.Riler (người Áo), đại biểu cho lý thuyết này cho rằng, “lỗi là tháiđộ tâm lý của chủthể đối với hành vi trái pháp luật, vì vậy lỗi là mặt chủ quan của hành vi trái phápluật”.
Theo T.Riler, lỗi được đặc trưng bởi 3 dấu hiệu sau [48, tr.34]:
a/Dấuhiệu sinhhọc:Điềukiệnđể cólỗilà chủthể của hành vi trái pháp luật thuộc nhóm người theo quy định của pháp luật có thể truy cứu trách nhiệm hình sự được, tức là phải đạt độ tuổi nhất định và phải hoànhảo về mặt tâm lý. Nói cách khác, điều kiện để có lỗi là có năng lực TNHS.
23
b/ Dấu hiệu tâm lý của lỗi: Nội dung của lỗi chính là thái độ tâm lý bên trong của chủ thể, chủ thể- người có năng lực TNHS phải là người có ý thức khi thực hiện hành vi, chủ thể nhận thức tính trái pháp luật trong hành vi của mình thì gọi là lỗi cố ý; khi hành vi là kết quả của sự thiếu cẩn thận thì gọi làlỗi vô ý.
c/ Dấu hiệu quy phạm của lỗi: T.Riler cho rằng việc xác định tháiđộ tâm lý của chủ thể đối với hành vi dưới hình thức cốý hoặc vô ý chưa đủ để kết luận ngườiđó cólỗi hay không. Để xác định lỗi, cần thiết phải đánh giá tháiđộ tâm lý của chủ thể từ gốc độ hành vi do người đó thực hiện có hợp pháp hay không, trên cơ sở đó mới có thể kết luận sự trách cứ của việc hình thành ý chí.
Theo khái niệmlỗivề mặtthần học, trong khoa học Luật hìnhsựĐức ngaytừnhững năm 70 của thế kỷXVII, ngườiđã thực hiệntộiphạm códựmưu phải chịu trách nhiệm về tội ác của mình (Pufenđorf). Theo nhà luật học nổitiếngngườiItalia Tr.Beccaria đã nêu lên quanđiểmpháp lý hìnhsựcóliên quan ở một mức độ nhất định đến cơ sở phương pháp luận của lỗi là: Vấnđề TNHS và hình phạt không thể gắn liền với sự khái niệmlỗi vềmặtđạo đức và không thể thước đo duy nhất và đích thực của tộiphạm là sựthiệt hại. Hình phạt cần được áp dụng chỉ khi nào cósự cầnthiết tuyệt đối chứ không phải là sự chịu trách nhiệm vì lỗi [9, tr.419, 420].
Theo quan điểm triết học duy tâm- chủ quan của nhà triếthọc người Đức Kant I, thì: Tự do ý chí là ở chỗ- trong tất cả các hành vi của chủ thể, chính nólà pháp luật; sự buộc tội về hình sự là một dạng của trách nhiệmđạođức, mà cơ sở của nó là coi chủ thể là nguyên nhân tự do của một hành vi được thực hiện [9, tr.419, 420].
Còn theo quanđiểmcủa chủnghĩa duy tâm khách quan của Hêghen thì:
Sựhiện diện của lý trí và ý chí chính là điều kiện chung của sự buộc tội; lỗi làở trongsựkhẳngđịnhrằng, chủthểlà ngườibiết suy nghĩđã nhận thức và
mong muốn…[9, tr.419, 420].
24
Theo quan điểm của những người đại diện cho trường phái cổđiểnthì lỗi và trách nhiệm hoàn toàn dựa trênýchítựdo tuyệtđốicủa con người, màngười này trong những điều kiện hoàn toàn như nhau cóthể lựa chọn bất kỳquyếtđịnhnào không tráivớimình. Bernher A. nhà hìnhsựhọc ngườiĐức thuộc trường phái này đã coi cơ sở của việc buộc tội về hình sự là ý chí hoặc tựdo của con người, được thể hiện trong sự hành động tùy tiện của cá nhân và phù hợp với động cơ , quyết tâm và ý định bên trong của người đó . Nhà
hình sự học A.Phơbach ban đâu coi sư buôc tôi không phu thuôc vao tư do y chi
nhưng sau đo đa thưa nhân tự do ý chí là điều kiện cua sư buôc tôi do lôi …[9, tr. 419, 420].
Tuy nhiên, nhưng quan điêm nêu trên vẫn chưa giải quyết được vấn đềđặt ra là : Khi nao thì một hành vi nguy hiểm cho xã hội do con người thực hiện bi coi la co lôi ?, và dựa trên cơ sơ nao ma Nha nươc co thê buôc người
đó phai chiu trach nhiêm vê hanh vi cua ho ?. Vấn đề sẽ được lý giải dưa trên quan điêm cua chu nghia Mac-Lênin vê con ngươi va hoat đông cua con ngươi, và bản chất của lỗi sẽ được làm rõ trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa “lỗi-
tự do- trách nhiệm”.
Mối quan hệ biện chứng giữa lỗi- tự do và trách nhiệm:
Theo Ph.Ăngghen: “tât ca thê giơi ma chung ta co thê nghiên cưu đươc
là một hệ thống, môt tâp hơp gôm cac vâ t thê khăng khit vơi nhau ” [1, tr.94]. Điềuđócũng có nghĩa là, mọisựvậthiệntượngtrong thế giới quanđềucómốiliênhệ biện chứng với nhau, không có sư vât hay hiên tương nao co tinhđôc lâp tuyêt đôi.
Nguyên ly vê môi liên hê ph ổ biến của Chủ nghĩa Mác – Lênin cung chi ra răng : Các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan là một thể thống
nhất, giữa các sự vật và hiện tượng đó có sự tác động qua lại lẫn nhau , qui định và chuyển hóa cho nhau. Sư tôn tai, thay đôi va phat triên các sư vât hiên tương trong thế giới khách quan đêu diên ra bởi sư tác động , chi phôi cua
25
nhưng qui luât khach quan . Hoạt động của con người cũng là một hiện tượng của thực tại khách quan , do vây no cung chịu sự chi phối của những qui luật khách quan. Nguyên nhân thuc đây con ngươi hanh đông , đươc hinh thanh co tính qui luât , là kết quả của sự giao tiếp xã hội và là quá trình phát triển tâm
sinh lý của ngươi đo . Đồng thời, hoạt đông cua con ngươi cung bi tác động , chịu sự ảnh hưởng của một môi trường sống, môi trường xã hội nhấtđịnh (đời
sốngvậtchất, tinh thần, quanđiểmchính trị-xã hội…). Tuy nhiên, laođộng của con ngườiđều là hoạtđộng có ý thức (người bình thường).
Chủ nghĩa Mác-Lênin tuy thừa nhận tính tất yếu, thừa nhận tính quy định trước trong xử sự của con người nhưng dựa trên cơ sở lý luận về mối quanhệbiện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên, giữa tự do và tất yếu, giữa quy luật và hoạtđộngcủa con người, chủnghĩa Mác-Lênin khôngphủnhậntựdoýchí của con người. Mọi xử sự của con người đều chịu sự chi phối của quy luật khách quan nhưng conngườinhờ hoạtđộngýthức có khả năng nhận thứcđược quy luật và lợi dụng quy luật thực hiện mục đích của mình. Đó là tự do của con người. Quanđiểmnày không những bác bỏthuyếtđịnhmệnh cho rằng quy luật là tuyệt đối, con người chỉ là công cụ của hoàn cảnh mà còn bác bỏ thuyết duy ý chí, đã đề cao ý chí của con người giữ vai trò quyếtđịnh, phủnhận quy luật và tính tất yếu [51, tr. 130].
Chủnghĩa Mác-Lênin khẳngđịnhxửsựcủa conngườicó tính quyđịnh trước nhưngđốivớichínhxửsựcủa mình conngườivẫncótựdo, vì con người qua hoạt động ý thức của mình có năng lực lựa chọn, quyết định và thực hiện xử sự phù hợp với những quy luật tự nhiên và xã hội đã nhận thức được [51, tr.130].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì “mọi sự tác động của một hiện tượng lên mộthiệntượngkhácđềubịkhúc xạbởicác thuộc tính bên trongcủahiện tượngbịtác động” [19, tr.270], như vậy, xửsựcủa conngườicũng vậy, nókhôngchỉchịusựtác độngcủa điềukiện ngoại cảnh mà còn chịusựquyết
26
định của ngay chính bản thân con người đó. Có nghĩa là không thể đỗ lỗi cho ngoại cảnh mà bảnthân conngườiphải có trách nhiệm trong các xửsựcủa mình. Các điều kiện bên ngoài tácđộng đếncon ngườiđềuqua sự suy xét của lý trí (kiểm soát bằng lý trí) của conngườivà đếnkhi conngườihànhđộng thì có sự quyết định, thể hiện ý chí của người đó. Mỗi con người trong cuộc sống đều sẽ tồn tạinhững mục đích khác nhau. Và con người để đạtđược mục đích của mình đều sẽ có những phương pháp, giải pháp riêng và đó là cả một quá trình hoạtđộngcủa lý trí và ýchí. Cho nên, có thể cùngmộtđiềukiện khách quan như nhau, mỗi ngườilạicó những cách hành động khác nhauđểđạtđược mục đích của mình, sựlựa chọn cách hànhđộngcủa mỗicá nhân cũng là quyền tự do của con người.
“Tự do ý chí là khả năng tâm lý của con người có thể tự mình lựa chọn vàthực hiện biện pháp xử sự trong những điều kiện xã hội nhất định. Người đãlựa chọn biện pháp xử sự trái pháp luật khi có thể xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội thì phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Tự do ý chí làcơ sở để lên án người có hành vi trái pháp luật” [51, tr.131].
Tựdo của conngườilà cơ sở để buộc họphải chịu trách nhiệm và chỉbuộc con người phải chịu trách nhiệmvớixử sự của mình khi con người có tựdo. Người xử sự tráivới lợiích của Nhà nước, lợi ích của xã hội trong khi họcótựdo thìhọđã cólỗivà khiđóhọphải chịu trách nhiệm cho xử sự của mình (trách nhiệm do lỗi). Tư do không co nghia la tuy tiên, bât châp qui luât tựnhiên và xã hộimà tự do chính là từ sự nhận thức đến hành động đều tuân theo các quy luật tất yếu nhăm cai tao tư nhiên, cải tạo xã hôi đê đạt được mục
đích của mình. Càng nhận thức được tính tất yếu và hành động theo quy luật đóthì con người càng được tự do.
Ăngghen đa viêt: “Tư do không phai la ơ sư đôc lâp tương tương đôi vơi các qui luật của tự nhi ên ma la ơ sư nhân thưc đươc nhưng qui luât đo va ơcái khả năng- có được nhờ sự nhận thức này- băt buôc nhưng qui luât đo tac
27
đông môt cach co kê hoach nhăm nhưng muc đich nhât đinh … Như vây, tư do y chí chẳng qua chi la cai năng lưc quyêt đinh môt cach hiêu biêt” [2, tr.195-196].
Hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, trước những hoàn cảnh tự nhiên và xã hội nhất định con người có những nhận thức nhất định để hànhđộng phù hợpvớiquy luật nhằmđạtđượcmục đích của mình. Tất cả những yếutốngoại cảnh tác độngđếnhành vi của conngườiđềuphải thông qua lăng kính chủ quan của con người, tức là phải thông qua hoạt động nhận thức của con người. Con người có quyền tự do hành động, có nghĩa là từ hoạt độngý thức đó con người có thể lựa chọn cách xử sự phù hợp với quy luật, phù hợp vớilợiích của Nhà nước và lợiích của xã hộiđã nhận thức được. Đóđược coi là tựdo của con người. “Trongmộtnước có luật pháp, tựdochỉcóthểđược làm những cái nên làm và khôngbịép buộc làmđiềukhông nên
làm…Tự do là quyền được làm tất cả những điều mà luật cho phép. Nếu một công dân làm điều trái luật thì anh ta không còn được tự do nữa; vì nếu anh ta tự do làm thì mọi người đều được làm tráiluật cả” [39, tr.99].
Mỗi con người thì ai cũng đều mong muốn mình có tự do-khả năng nhận thức và hành độnghợpqui luật khách quan. Nhà nước và xã hội luôn đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi đối với mỗi cá nhân con người trong sự chuẩn mực của đạođức, của pháp luật, của lợiích chung của Nhà nước và xã hội. Quy luậtđótrở thành những quy tắc xửsựchung mà mọingườiphải tuân theo. Khimộtcá nhân nhận thức và hành động tuân theo những quy tắc đó thì cónghĩa là họ đã có tự do; nếu họ không tuân thủ theo quy tắc đó thì có nghĩa là tự họ đã tước bỏ tự do của mình, khi đó họ phải chịu trách nhiệm về hành vi mà họ đã thực hiện . Và đồng nghĩa rằng , một ngươi khi co đu điêu kiên
(khách quan và chủ quan ) để lựa chọn cách xử sự có tự do nhưng họ lại lựa chọn cách xư sư không có tự do tưc la ho đa co lôi . Vì vậy, Nhà nước và xa hôi co quyên lên an va buôc ho phai chiu trach nhiêm vê cach xư sư không cótự do đó. “Khi xã hội đảm bảo cho mỗi cá nhân được tự do thì cũng đòi hỏi
28
cá nhân trên cơ sở của tự do phải đáp ứng đòi hỏi của xã hội. Đó là vấn đềtrách nhiệm của cá nhân trong xã hội. Trách nhiệm đó hoàn toàn phù hợp với tự do. Những đòihỏicủaxã hội, củaNhànước đặtra chomỗicông dân lànhằm thực hiện sự tiến bộ, sự phát triển của xã hội theo tất yếu khách quan. Việc thực hiện nhữngđòihỏiđó, do vậy, cũng chính làsự thực hiệntự do. Con người có tự do để thực hiện trách nhiệm và ngược lại, việc thực hiệnđầyđủ trách nhiệm cũng chính là sự thực hiện tự do” [25, tr.82].
Từ những lập luận trên, có thể thấy tự do và trách nhiệm có mối quan hệbiện chứng với nhau, tự do của con người là cơ sở để buộc họ phải chịu trách nhiệm, Nhà nước và xã hội chỉ buộc con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình khi họ có tự do. Khi một cá nhân được coi là có tự do thì ngườiđó phảicó khả năng nhận thức được những yêucầuvà đòi hỏi của Nhà nước và của xã hộivà họphải có khả năngđiềukhiển hành viđểphùhợpvới những yêucầuvà đòihỏiđó, ngoài ra khi thực hiện hành vihọcóđủđiều kiện khách quan và chủ quan để thực hiện hành vi phù hợp với những yêu cầu vàđòi hỏi đó. Khi đó, họ là người có tự do và hành động của họ cũng có tự do.
Ngược lại, khi người đó đã có khả năng nhận thức được những yêu cầu và đòi hỏi của Nhà nước và của xã hội và có khả năng điều khiển hành vi đểphù hợp với những yêucầu và đòi hỏi đó, họ có đủ điềukiện khách quan vàchủ quan để thực hiện hành vi phù hợp với những yêucầuvà đòi hỏi của xãhội, nhưng họ lại hành động trái với yêucầuvà đòi hỏi đó (trái quy luật), khi đó, họ là người mất tự do và hành động của họ cũng là mất tự do, họ phai chịu trách nhiệm về hành vi do họ thực hiện và hậu quả do họ gây ra từ phía Nhànước và xã hội.
Từnhững phân tích và lậpluận nêu trên chúng ta có thể thấy,bảnchất củalỗihìnhsựliên quanmậtthiếtđếnvấnđề tựdo và trách nhiệm. Con ngươi, nếu xư sư trai vơi lơi ich cua Nha nươc va lợi ích cua xa hôi trong khi co tư do thì ho la ngươi co lôi . Trách nhiệm mà họ phải gánh chịu có
29
thê la trách nhiệm về đạo đức hoặc trách nhiệm về mặt pháp lý . Nếu xử sự của họ xâm phạm đến các lơi ich của xa hôi đươc Luật hình sự bao vê thi
lỗi đó la lôi hinh sư va người bị coi là có lỗi đó phai chiu trách nhiệm hình sự về xử sự mà họ đã thực hiện theo quy định của pháp luật.
1.1.1.2. Khái niệm về lỗi hình sự.
Theo giáo trình luật hình sự hiện hành thì “Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý” [51, tr.128].
Tuy nhiên, khái niệm trênmớicho chúng ta thấyvề mặthình thức, làthái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối vớihậuquả do hành vi đó gây ra. Còn xét về mặt nội dung của lỗi thìyếutốlý trí và yếutốýchí là hoạtđộngcóýthức bên trong của con người, đólà haiyếutốcầnthiếtđể hình thành lỗi. Lý trí thể hiện khả năng nhận thức quy luật khách quan còn ý chí thể hiện khả năng điều khiển hành vi trên cơ sở cái đã nhận thức được của lý trí. Nếu một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là có lỗi thì hai yếu tố lý trí và ý chí của chủ thể phải có nhữngđặc điểm nhất định (đủ điều kiện) phản ánh được rằng, hành vi nguy hiểm cho xã hội của chủ thể được thực hiện (xử sự mấttự do) là kếtquả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể, trong khi chủ thể có đủ điều kiệnđể lựa chọn và quyết định xử sự khác (thực hiện hành vi khác) phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của xã hội (hợp pháp-có tự do).
Tóm lại, khimộtcá nhân có hành vi tráivớinhững yêucầuvà đòihỏi của xã hội, xâmphạm đếnlợi ích của Nhà nước, của xã hội trong khi họ có tựdo thìhọđãcó lỗi. Nếuhành vicủahọxâm phạm các quanhệ xãhộiđược pháp luật hìnhsựbảovệ thìđólà lỗihìnhsự-mộtdấuhiệu không thể thiếu của mọi cấuthành tội phạm.
Từ nội dung nghiên cứu về lỗi hình sự chúng ta có thể thấy, khi thực hiện hành vi có lỗi, người phạmtội đã tự lựa chọn xử sự mấttự do nhằm thỏa mãn
30
nhu cầucủa mình, và để đạtđượcmục đích của mình họ bất chấp các lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của người khác được Luật hình sự bảo vệ, thể hiện thái độ vô trách nhiệm, coi thường các lợi ích hợp pháp của người khác trong khi ho co đủ điều kiện để lưa chon , thực hiện cách xử sự khác không gây nguy hiểm cho xã hội.
Từ các nội dung về lỗi đã nghiên cứu được , từ các quan điểm khoa học pháp lý khác nhau về lỗi, từ vấn đề bản chất của lỗi, có thê khái niệm về lỗi hình sự như sau:
Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thể hiện mộtcách cốý hoặc vô ý, xâm phạm các quan hệ xãhộiđược pháp luật hình sự bảo vệ.
Ngườiphạm tội đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi cóđủ điều kiện để lựachọn, thực hiện hành vi khác không gây nguy hiểm cho xã hội.
1.1.2. Nôi dung cơ bản và các điều kiện cua lôi hinh sư. 1.1.2.1. Nôi dung cơ bản cua lôi hinh sư.
Trong hoạtđộngtốtụng hình sự, truycứutrách nhiệm hìnhsựđốivới một cá nhân con người không chỉ đơn thuần vì người này đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho xã hội mà còn vì khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội, người đó đã có lỗi.
Theo quyđịnhcủa BLHS về mục đích của hình phạt thì“Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấutranh phòng ngừa và chốngtộiphạm” (Điều27 BLHS); như vậy, thực hiện nguyên tắc trách nhiệm dolỗicũng lànhằm góp phầnđạtđược mục đích của hình phạt, vìnếubuộc mộtngười
31
không cólỗitrong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộithìđiềuđókhông những thể hiện tính phi nhân đạo của pháp luật mà còn không đạtđược mục đích của hình phạt. Như GS, TSKH Đào TríÚc đã viết: “Lỗi là yếutố cókhả năng chỉ rõ mối liên hệ biện chứng giữa tính quyết định khách quan và ýchí chủ quan, nhấn mạnh ý nghĩa của ý chí chủ quan như là một yếu tố đã góp phầndẫnđếnhành vi phạm tội. Từđócó thể hiểu rằng,mộthành vi khách quan đơn thuần xẩy ra ngoài sự nhận thức chủ quan của cá nhân không thể làcơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự; những hậu quả và tác hạihiện hữu vềvật chất hay tinh thần do những hành vi như vậy gây ra không thể là căn cứ đểtruy cứu trách nhiệmhình sự đối vớichủ thể của hành vi, vì lẽ chủ thể không có ý thức gì về hành vi đó cũng như về hậu quả của hành vi. Và trong trường hợp ấy, nếuáp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đã gây ra hành vi, thìcác biện phápđược áp dụngsẽ khônghềcóýnghĩa gìđốivớicá nhân đó, cũng nhưđốivớingườikhác. Những biện phápấychỉcóthểgây ra sựoán hận củahọ đối với pháp luật mà thôi” [70, tr.11].
Vậy, khi nào thì một chủ thể bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội?.
Để hiểu rõvấnđềnày thì chúng ta hãy tìm hiểubảnchất của tộiphạm trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin. “Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, tội phạm là một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Nếu coi tội phạm là một sự phủ định, thì tội phạm là một thể thống nhất giữa phủ định khách quan và phủ định chủ quan” [48, tr.37].
Phủ định khách quan là sự phủ định đòi hỏi của xã hội trên thực tế. Cónghĩa là chủ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, đãgây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.
Chủ thể đã phủ định khách quan có nghĩa là chủ thể đã không tuân theo qui luật khách quan, không tuân theo các quy tắc của cuộc sốngđượcthừa
32
nhận chung, đã xâm phạmđếncác lợiích của Nhà nước, lợiích của xã hộiđược pháp luật hình sự bảo vệ. Đã thực hiện hành vi gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho xã hội. Nếu chủ thể không thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, không gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho xã hội thì chưa có sự phủ định khách quan trên thực tế.
Phủđịnhchủquan làsự phủđịnhcác đòihỏicủaxãhộitrong ý thức chủ quan của chủ thể.
Có nghĩa là, chủ thể đã ý thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể xâm phạmđếncác quanhệ xã hội được phápluật hình sự bảo vệ, mặc dù có đủ điều kiện, khả năng để lựa chọn cách xử sự khác không gây nguy hiểm cho xã hội (phù hợp với những đòi hỏi của xã hội), nhưng vì để đạtđược mục đích của mình nên chủ thể đã có ý thức (ý chí) lựa chọn cáchxử sựgây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạmđếncác quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, tức là đã phủ định chủ quan, trong ý thức chủ thể có suy nghĩ (ýchí) không đáp ứng những đòi hỏi của xã hội, đi ngược lại lợi ích của xã hội.
Tuy nhiên, nhưđã nêuở trên, tộiphạm là mộtthểthống nhất giữa phủđịnh khách quan và phủ định chủ quan, nếu chỉ tồn tại phủ định chủ quan màkhông cósựphủđịnhkhách quan hoặcnếuchỉtồntạiphủđịnhkhách quan mà không cósựphủđịnhchủquan thìtộiphạm chưa cấuthành.Để lý giải cho vấn đề này chúng ta hãy xem xét các trường hợp sau:
(1) Trường hợp có sự phủ định khách quan nhưng không có sự phủ định chủ quan. Có nghĩa là, chủ thể đã thực hiện hành vi gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội là khách thể được pháp luật hình sựbảo vệ nhưng không có sự phủ định chủ quan. Chủ thể không hiểu và không nhậnthức đượchành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội hoặc chủ thể không có khả năng nhận thức được điềuđó. Vídụ:Ngườithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội(phủđịnhkhách quan) trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc mộtbệnh khác làmmấtkhả năng nhận thức hoặc khả năngđiềukhiển hành vi của mình (không có phủ định chủ quan, không có sự phủ định những
33
yêu cầu, đòi hỏi của xã hội trong ý thức của chủ thể) thì hành vi của chủ thểkhông coi là tội phạm vì không có lỗi.
(2) Trường hợp có sự phủ định chủ quan nhưng không có sự phủ định khách quan. Có nghĩa là chủ thể đã có sự phủ định những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội
trongýthức củamình nhưng không cósựphủđịnhkhách quan, chưa cósựphủ định những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội trên thực tế. Chủ thể chỉ mới hình thành suy nghĩ, ýtưởngphạmtộinhưng chưa thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trên thực tế, vì vậy vẫn không coi là tội phạm.
Vídụ:A vì có thù oánvớiB nênđã cóýnghĩ giết B, nhưng ý nghĩ đócủa Achỉmớihình thành trong tư tưởng, chưa đượcbiểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi khách quan.
Như vậy, tộiphạm là mộtthể thống nhất giữa phủđịnhkhách quan và phủ định chủ quan, phủ định chủ quan được biểu hiện ra bên ngoài thông qua phủ định khách quan, là nguyên nhân làm phát sinh phủ định khách quan, vàphủđịnhkhách quan làmụctiêu,mụcđíchhướngtớicủaphủđịnhchủquan. Trường hợp này người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là có lỗi.
Từnhữngnộidungđã phân tích nêu trên, có thể hiểunộidung cơ bản của lỗi hình sự như sau: Một người bị coi là có lỗi khi đã cósự phủ định chủquan các yêucầuvàđòihỏicủaxã hội trong ý thức-nội tạicủamình vàđãthể hiệnsự phủđịnhđóra bên ngoài bằngsự phủ địnhkhách quan các yêu cầu, đòi hỏi của xã hội trên thực tế.
1.1.2.2. Các điều kiện cua lôi hinh sư.
Qua kết quả nghiên cứu về cơ sơ ly luân cua lôi , khái niệm và bản chất của lôi, nôi dung cơ bản cua lôi , chúng ta có thể thấyđược các dấu hiệucủa lỗi hình sự, hay nói cách khác là các điều kiện của lỗi hình sự. Theo như tác giả T.RilerngườiÁo [48, tr.34] thì lỗi được đặc trưng bởi 03 dấu hiệu là: (1) dấu hiệu sinh học của lỗi (chủ thể phải có năng lực TNHS); (2) dấu hiệu tâm lý của lỗi (thái độ tâm lý bên trong của chủ thể-cố ý hay vô ý); (3) và dấu hiệu
34
quy phạm của lỗi(đánh giá tháiđộ tâmlý của chủthể từgóc độ hành vi do ngườiđóthực hiện cóhợppháp hay không).Từđócũng có thể thấy rằng, không phải bất cứ trường hợp nào chủ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, phủ định lại những yêucầuvà đòi hỏi của xã hội cũng đều bị coi là có
lỗi, mà phải có các điều kiện nhất định của nó. Thể hiện qua hai trường hợp dướiđây:
(1)-Chủthể không cóđầyđủdấuhiệu sinh học (không có năng lực TNHS) để có tự do hoặc tuy cóđầyđủ dấu hiệusinh học (khả năng chủ quan) nhưng không đủ điều kiện khách quan cho phép họ lựa chọn thực hiện hành vi có tự do, nên họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
(2)-Chủthểcóđầyđủdấuhiệu sinhhọc(có nănglựcTNHS) đểcótựdo, cóđầyđủ điềukiện khách quan cho phép họ lựa chọn thực hiện hành vi có tự do, nhưng họ tự lựa chọn, quyết định xử sự mất tự do.
Như vậy, cả hai trường hợp nêu trên thì chủ thể đều đã có xử sự gây ra thiệt hại cho xã hội, tuy nhiên có sự khác nhau xuất phát từ nguyên nhândẫnđến chủ thể đã thực hiệnxử sự đó. Cụ thể là:
(1) Trường hợp chu thê không co tư do, không đủ điều kiện chủ quan, tức là chủ thể không có năng lực TNHS để thực hiện tự do hoặc chủ thể không đủđiều kiện khách quan cho phép để thực hiện xử sự có tự do. Dẫnđến chủ thểđã thực hiện xử sự gây ra thiệt hại cho xã hội.
(2) Trườnghợpchủthể cóđầyđủđiềukiệnđể cótựdo nhưngtựlựa chọn, quyết định xử sự mất tự do.
Rõ ràng, nếu rơi vào trường hợp (1) thì chủ thể không bị coi là có lỗi. Chỉ khi nào rơi vào trường hợp (2) mới coi chủ thể là người có lỗi khi thực hiện hành vi gây ra thiệt hại cho xã hội.
Như vậy cóthể kếtluận: Không phải bất kỳ hành vi nguy hiểm nào cho xã hộiđược chủ thể thực hiện, đã gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệthạiđáng kể cho xã hội, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự
35
bảo vệ đềubị coi là có lỗi, mà phải gắn hành vi nguy hiểm cho xã hội đó với các điều kiện nhất định, nếu chủ thể đã thực hiện hành vi đó (tráivớinhững yêu cầu, đòihỏicủa xã hội) trong khi cóđủcácđiềukiệnđểlựa chọn thực hiện hành vi khác không gây thiệt hại cho xã hội (không tráivớiyêu cầu, đòi hỏi của xã hội) khi đó mới coi là chủ thể đã có lỗi. Như vậy, các điều kiệnđểhành vi nguy hiểm cho xã hội của chủ thể bị coi là có lỗi bao gồm:
Điều kiện thứ nhất, chủ thể phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Cókhảnăng nhận thức vàkhảnăngđiềukhiển hành vi phùhợpvới những yêu cầu và đòi hỏi của xã hội.
Luật hìnhsựViệt Nam chưa quyđịnhthế nào là ngườicó năng lực TNHS mà chỉquyđịnhtình trạng không có năng lực TNHS, đólà “người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộitrong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc mộtbệnh khác làmmấtkhả năng nhận thức hoặc khả năngđiềukhiển hành vi của mình”. Như vậy, nếumột ngườiđạtđến độ tuổi nhấtđịnh, không rơi vào tình trạng không có năng lực TNHS thìđươngnhiên được pháp luật coi là người có năng lực TNHS (năng lực chủ thể).
Điều kiện thứ hai, chủ thể phải co đu điêu kiên khach quan (hoàn cảnh khách quan) để cho phep chu thê có thể lưa chon cách xử sự khác phu hơp
vơi đoi hoi cua xa hôi.
Vì có trườnghợpchủthểkhông cóđiềukiệnđể lựachọnxửsựkhác không gây thiệt hại cho xã hội thì hành vi đã xảy ra, chủ thể không kịp nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội do điều kiện khách quanđem lại (sự kiện bất ngờ).
Điều kiện thứ ba, một hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nêu chu thê đa thưc hiên no trong khi co đu điêu kiên lưa chon , thực hiện môt xư sư khac không gây thiêt hai cho xa hôi và trong tổng hòa các điều kiện đóphải có một điều kiện trước tiên la: Vê khach quan, trươc chu thê tôn tai nhiêu cách xử sự khác nhau , trong đo co it nhât môt cach xư sư phu hơp vơi lơi ich
36
và yêu cầu của xã hội mà chủ thể đã nhận thức được và có thể lựa chọn thực
hiện, nhưng chủ thể không lựa chọn cáchxử sự nàyđể xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội mà lại lựa chọn xử sự khác trái với đòi hỏi của xã hội (vì phùhợp với ýchí, mục đích của chủ thể). Điều này có nghĩa là, “trên thực tế cónhiều khả năng xử sự đối với chủ thể-khả năng xử sự nguy hiểm cho xã hội vàkhả năng xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Trái lại, nếu khả năng xử sựnguy hiểm cho xã hội là khả năng duy nhất thì chủ thể không có lỗi vì không có sựlựa chọn. Đó là trường hợp bất khả kháng hay còn gọi là trường hợp tình trạng không thể khắc phục được” [25, tr.85].
Điều kiện thứ tư, hành vi nguy hiểm cho xãhội được chủ thể lựachọn thực hiện phảibịLuật hìnhsự cấm. Vì có trườnghợpchủthể cótựdo, đãthực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệthạiđángkể cho xãhội(phủ định khách quan) nhưng khôngbịpháp luật
hình sự cấm (trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết…), hoặc hành vi gây thiệthạicho xãhộicủachủthểbịđiềuchỉnh bằng quy phạmđạođức hoặc các ngành luật phi hình sự khác.
Điều kiện thứ năm, chủ thể đã lựa chọn, quyêt đinh va thưc hiên xư sưgây thiêt hai cho xa hôi.
Tóm lại, những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của lỗi hình sự bao gồm:
– Về mặt chủ quan:
+ Dấu hiệu chủ thể: Chủ thể phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Năng lực TNHS của conngườinói lênđược điềugì?, đólà khả năng
nhận thức và khả năngđiềukhiển hành vi của mìnhđể phùhợpvớilợiích chung của Nhà nước và của xã hội. Khả năng này không phải mới sinh ra con người đã cósẵn, mà phải trải qua một quá trình phát triển tâm, sinh lý và phát triểnmọimặtvề tựnhiên và xã hộicủa chủthể. “Chỉ tro ng tư y thưc , con ngươi mơi tach minh va đôc lâp minh vơi thê giơi xung quanh , xác định vị trícủa mình trong những quan hệ tự nhiên và xã hội . Tư đo hinh thanh nên
37
nhưng ca nhân, nhưng chu thê co y thưc đây đu vê h oạt động của mình, chịu trách nhiệm về hành vi của mình ” [21, tr.92]. Khi con người đã có sư phat triên vê thê chât va tinh thần , cùngvớiquá trình trải nghiệm của cuộc sống
(chịu ảnh hưởng của quá trình học tập, rèn luyện và laođộng…),dần dần đến một độ tuổi nhất định (luật định ) thì con người đương nhiên có năng lực TNHS, trừ trường hợp bị rơi vào tình trạng không có năng lực TNHS quy
định tại Điều13 BLHS-người thực hiện hanh vi nguy hiêm cho xa hôi trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làmmấtkhả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
+ Dấu hiệu tâm lý của lỗi: Chủ thể thực hiện hành vi một cách cố ý hoặc vô ý. Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, thì trong mặt chủ quan của chủ thể
luôn luôn tồn tại ý thức (hoặc là cố ý hoặc là vô ý). Nếu khi thực hiện hành vi mà chủ thể cũng không có ý thức (hoặc là cố ý hoặc là vô ý) thì chủ thể không có lỗi. Dấu hiệu hoặc là cố ý hoặc là vô ý là sự biểu hiện của lỗi trong ý thức của chủ thể. Như GS. TSKH Đào TríÚc đã viết: “Lỗi cho phép người ta hiểuđược rằng, tội phạm không chỉ là kết quả của một việc làm sai trái mà còn là hệquả của một thái độ, một sự nhận thức. Đó là thái độ và nhận thức nội tâm của người đã gây ra hành vi đối với tính chất, ý nghĩa của hành vi và đối với những hậu quả do hành vi đó gây ra” [70, tr. 9].
–Vê măt khach quan:
Khi lựa chọn, quyết định cách xử sự trái với đòi hỏi của xã hội thì trước mặt chủ thể đã tồn tại môt hoăc nhiêu cách xư sư khac không gây thiêt hai cho xã hội, tức là chủ thể đã co đu điêu kiên khach quan cho phep lựa chọn, quyếtđịnhmộtxửsựkhác phùhợpvớilợiích của xã hội, nhưng vìđể đạtđược mục đích của mình nên chủ thể đã lựa chọn, quyếtđịnh xử sự tráivớiđòi hỏi của xã hội, vì nếu trong thực tế khách quan không tồn tại cách xử sự nào khácđể chủ thể có thể lựa chọn cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội, dẫn đến
38
chủ thể phải có xử sự trái với đòi hỏi của xã hội, thì trường hợp nàychủ thểcũng không có lỗi.
+ Dấu hiệu quy phạm của lỗi:
Hành vi nguy hiểm cho xã hội được chủ thể thực hiện, đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệthạiđángkể cho xã hội, tuy nhiên hành viđóphảiđược quy định trong BLHS, xâm phạm các quan hệ xã hội do pháp luật hình sự bảo vệ. Nếu hành vi đó chưa được quy định trong BLHS, không xâmphạm các khách thể do pháp luật hìnhsựbảovệ thì hành viđókhông phải là tội phạm, chủ thể không có lỗi hình sự.
Như vậy,từviệc nghiêncứunhữngnộidung cơbảncủalỗihìnhsự,bản chất và khái niệm của lỗi hình sự, các điều kiện của lỗi hình sự, chúng ta cũng rút ra được khái niệm khoa học về người có lỗi hình sự như sau:
Một ngườibị coi là có lỗi khi người đó có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ trong khi co đu điêu kiên đê lưa chon , thưc hiên hanh vi khac không gây nguy hiểm cho xa hôi.
Từ khái niệm này có thể khẳng định, một người chỉ bị tuyên bố là có tội và có thể phải chịu hình phạt bằngbảnánkếttộicó hiệulựcpháp luật của Tòa án khi người đó là người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm. Nói cách khác, ngườiđã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộichỉphải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi đó cóđủ các điềukiện của lỗi hình sự và người đólà người có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó.
1.1.3. Các hình thức và các dạng của lỗi hình sự.
Trong pháp luật hìnhsựViệt Nam, tộiphạmđược thực hiệndướihai hình thức lỗi, đó làlỗi cốý và lỗi vô ý. Trong lỗicố ý gồmcólỗicố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp. Trong lỗi vô ý gồm có lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô
39
ýdocẩuthả. Vì vậy, khoản 1Điều8củaBLHS đã khái niệm“tộiphạm là
hành vi nguy hiểm cho xã hội…được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…”.
Vấn đề về hình thức lỗi thì ở pháp luật hình sự của một số nước cũng quyđịnh tương tự, đều phảithể hiện dưới hai hình thức là cố ý hoặc vô ý, như tạiĐiều 9 BLHS Bungari quy định: “Một hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là có lỗi nếu nó được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý”. Điều19 BLHS của Rumani quy định: “Được coi là có lỗi nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiệnmộtcáchcốýhoặc vôý”. Điều3vềcơsở củaTNHS củaBLHS Liên bang Nga quyđịnh:“Mộtngườichỉphải chịu TNHS và hình phạt nếu người đó có lỗi khi thực hiện tội phạm, nghĩa là cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự” {48, tr.35}. BLHS của nướcCộng hòa nhân dân Trung Hoa thì khái niệm trực tiếpvề lỗi cố ý vàlỗi vô ý mà không quy định trong khái niệm tội phạm. Điều 14 BLHS Trung Hoa quyđịnh:“Cốýphạmtộilà trườnghợpngườiphạmtộinhận thức rõhành vi của mình sẽ gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn hoặccốý để chohậuquảcủahành viđóxảy ra.Cốý phạmtộiphải chịu TNHS”;Điều15 BLHS Trung Hoa quyđịnh:“Vô ý phạmtộilàhậuquảxảyra do nguyên nhân, khi người thực hiện hành vi cần phải thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xãhộinhưng docẩuthảmà không thấy trước hoặc đãthấy trước nhưng cho rằnghậu quả đócó thể ngăn ngừa được.Vô ý phạmtộichỉphải chịu TNHS trong những trường hợp mà pháp luật quy định” [20, tr.42].
1.1.3.1. Lỗi cố ý trực tiếp:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 BLHS Việt Nam hiện hành thì lỗi cốýtrực tiếp được định nghĩa như sau: Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của người mà khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội “Người phạm tội nhận thức rõ hành vicủamình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trướchậuquảcủahành viđóvàmong muốn hậu quả xẩy ra”.
Như vậy,lỗicốýtrực tiếp theo Luật hìnhsựViệt Nam baogồmcác nội dung sau:
40
+ Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, chủthểđãnhận thứcđược tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mà mình thực hiện.
Nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là nhận thức về khả năng tác độngcủa hành vi vàođốitượngtác động. Vídụ:Dùng daođâmngườithì chủ thể thấy được việc nguy hiểm của hành vi đó đến mức nào, cóthểgây ra thương tích cho nạn nhân hoặc có thể làmnạnnhân chết. Nhưvậy, dựa trên những tình tiết khách quan của hành vi, như côngcụphương
tiện phạm tội, thời gianđịa điểmphạmtội…cũng như đặc điểmcủa đối tượng tác độngthìchủthể sẽ nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm cho xãhội đến mức nào.
+ Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, chủ thể đã thấy trước hậu quả của hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình thực hiện.
Thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi không phải là chủthể hoàn toàn có thể thấy trước mức độhậuquả xảyra đếnđâu, xảyra nhưthế nào mà chỉ là sự nhận thức, sự dự kiến của chủ thể về hậu quả có thể xảy ra. Ví dụ: Hành vi trộm cắp thì hậu quả xảy ra là quyềnsở hữu về tài sảncủa người khác, hành vi giết người thì hậu quả xảy ra là tính mạng của con người. Có nghĩa là, với hành vi mà chủ thể thực hiện thì chủ thể có thể nhận thức được hậu quả xảy ra trong một phạm vi, mức độ nhất định nào đó.
Đốivớicác tộiphạm cócấuthànhtộiphạmvậtchất, hậuquả của tội phạm là một dấu hiệu bắt buộc phải có, cho nên chủ thể khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không những thấy trước tính chất nguy hiểm cho xãhội của hành vi mà còn thấy trước hậu quả của hành vi nguy hiểm đó.
Cònđốivớicác tộiphạm cócấuthànhtộiphạm hình thức thìhậuquảcủatộiphạm không phải làmộtdấuhiệubắtbuộc phải có, cho nênchủthểtuy thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp nhưng khả năng thấy trước hậu quảxảy ra không phải là một dấu hiệu cần phải xem xét đối với lý trí của chủ thể.
41
Tuy nhiên, trong cáctộiphạmcụthể quyđịnhtrong Phần cáctộiphạm của BLHS, nếu hậu quả của tội phạm là tình tiết định khung tăng nặng hoặc làtình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thì việc quy kết người phạm tội có lỗi (lỗi cốý trực tiếp) đối với hậu quả đó thì cũng cần phải quy định rằng, người phạmtộiđã thấy trước khả năngxảyra hậuquả này khi thực hiện hành vi phạm tội.
Ngườiphạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả của hành vi đó là hai nội dung có liên quan với nhau. Khi đã nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội thì cũng làmột căncứđể nhận thức được hậu quả do hành vi đó gây ra và ngược lại, khiđã thấy trước hậu quả của hành vi mà mình thực hiện thì hậu quả đó là kết quảcủa sự nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
–Về ý chí:
Trong lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội mong muốn hậu quả xẩy ra. Hậu quả này phù hợp với sự mong muốn của người đó khi thực hiện hành vi phạm tội. Vì khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, chủ thể đã nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhưngđã lựa chọn, quyếtđịnhvà thực hiện hành vi, nhưvậycũng khẳng định được rằng, chủ thể đã mong muốn hậu quả xảy ra.
Đốivớicác tộiphạm cócấuthànhtộiphạmvậtchất thìhậuquả nguy hiểm cho xã hộilà dấuhiệubắtbuộc, cho nênchỉthỏa mãn là lỗicốýtrực tiếp khi xácđịnh được về ýchí, người phạmtội đã thấytrước được hậu quảcủa hành vi nguy hiểm mà mình thực hiện và mong muốn hậu quả xảy ra.
Còn đối vớicác tội phạm cócấuthành tội phạm hình thức, hậu quả nguy hiểm cho xã hội không phải là một dấu hiệu bắt buộc, cho nên xác định ý chícủa ngườiphạmtộicó mong muốn hậu quả xảy ra hay không không phải làđiều bắt buộc. Sẽthỏa mãnlà lỗi cố ý trực tiếp nếu chủ thể đã nhận thức được
42
tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhưng vẫn lựa chọn và quyếtđịnh thực hiện hành vi nguy hiểm đó.
Tuy nhiên, trong các tội phạmcụthể quy định tại Phần các tội phạm của BLHS, nếuhậuquả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được quy định là tình tiết định khung tăng nặng hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thìviệc quy kết chủ thể cólỗi cố ý trực tiếp đối với hậuquả xảyra cũng cần phải xác định ý chí của chủ thể là mong muốn hậu quả đó xảy ra.
1.1.3.2. Lỗi cố ý gián tiếp:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 BLHS Việt Nam hiện hành thì lỗi cốýgián tiếpđượcđịnh nghĩa như sau: Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người mà khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội “Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thểxẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xẩy ra”.
Như vậy, lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp có sự khác nhau về yếutốý chí. Ở lỗi cố ý trực tiếp, về ý chí người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra, và hậu quả được mong muốn xảy ra đó phù hợp với mục đích phạm tội của chủthể. Ngược lại, ở lỗicốýgián tiếp,hậuquả xảyra là ngoàisựmong muốn của chủ thể, vì nếu chủ thể mong muốn hậu quả đó thì đã chuyển sang lỗicốýtrực tiếp. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngườiphạmtộicũng nhận thứcđược tính chất nguy hiểm của hành vi, tuy không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (xảy ra cũng được mà không xảy ra cũng được). Ví dụ: Người dùng dâyđiện giăng quanh vườn cây cảnh để chống trộm. Khi giăng dây điện chủ thể không mong muốn sẽ có người vướng vào dâyđiệnvà cóthể sẽ dẫn đếnchết người (bị điện giật) nhưng đã biết tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi giăng
dâyđiệnmà vẫn thực hiện chứng tỏ chủ thể đã để mặc cho hậu quả xảy ra mà không thực hiện biện pháp khác để không đe dọa đếntính mạng của người khác. Như vậy, chủ thể đã phạm tội giết người với lỗi cố ý gián tiếp.
43
Qua sự phân tíchvề yếutố ý chícủahai loại lỗi thì chúng ta cũng thấyđược rằng: Về yếutố lý trí, lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp cũng có sựkhác nhau. Trước hết, trong cả hai loại lỗi thì về lý trí chủ thể đều nhận thứcđược tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tuy nhiên, ở lỗi cốý trực tiếp thì khi thực hiện hành vi chủ thể có thể thấytrước hậuquả xảyra. Ví dụ: Dùng dao đâm trực tiếp vào người khác thì có thể thấytrước hậu quảxảyra là xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người bị hại. Còn ở lỗi cố ýgián tiếp thì việc thấy trước hậuquả xảyra là chỉở khả năng, không chắc chắn, có nghĩa là hậu quả có thể xảy ra hoặc có thể không xảy ra. Ví dụ nhưtrường hợp hành vi giăng dây diện thì hậu quả có thể xảy ra chứ không phải chắc chắnxảyra. Hậuquả xảyra đếnđâuthìxửlýđếnđó;vídụ:Bịhạibịthiệt hại tính mạng thì truy tố về tội giếtngười, nếu bị hạichỉ bị thương tích thì truy tố về tội “cố ý gây thương tích” …
Từ những nội dung đã phân tích ở trên, có thể thấy lỗi cố ý gián tiếp gồm các dấu hiệu sau:
–Về lý trí: Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, chủ thể đã nhận thứcđược tính chất nguy hiểm cho xãhộicủa hành vi mà mình thực hiện, thấy trước được khả năng có thể gây ra hậuquả nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi.
–Về ý chí: Mục đích của chủ thể khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhộikhông phảilà đểgây ra hậuquả đó, chủ thể không mong muốnhậuquảxảyra, tuy nhiên vìđể đạtđượcmục đích khác nênchủthể vẫnlựa chọn, quyết định thực hiện hành vi nguy hiểm đó và tuy không mong muốn nhưngđã để mặc cho hậu quả xảyra, mà hậu quả nàytrước đó chủ thể đã nhận thứcđược có khả năng có thể xảy ra.
1.1.3.3. Các dạng của lỗi cố ý:
BLHS Việt Nam quy định hai hình thức lỗi là:Lỗi cốý trực tiếp (khoản 1Điều9) và lỗicốýgián tiếp (khoản 2 Điều 9). Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự còn có sự phân loại lỗi cố ý thành các loại lỗi sau:
44
– Căncứvào thờiđiểmphát sinhýthức (ý định) phạmtộimà lỗicốýđược phân thành hai loại như sau:
+ Cốýcódựmưu: Là trườnghợpchủthể khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã có sự suy nghĩ, cân nhắc và tính toán kỹ càng. Có nghĩa làchủ thể đã có thời gian lựa chọn và đi đến quyết định thực hiện xử sự phạm tội.
Vídụ:03ngườibàn nhautốihôm sausẽ thực hiện phivụtrộmcắptài sản, đây là lỗi cố ý có dự mưu.
+ Cố ý đột xuất: Là trường hợp chủ thể khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã không có sự suy nghĩ, cân nhắc và tính toán kỹ càng trước khi quyếtđịnhthực hiệnxửsựphạm tội. Vừa mớinảysinhýđịnhphạmtộiđãthực hiện ngay hành vi đó.
Ví dụ: 01 người đi ngang qua quầy hàng, phát hiện thấy 2.000.000đ để ởtrên bàn liền chộp ngay bỏ vào túi (trộm cắp tài sản).
– Căncứvào mức độ nhận thức của chủ thể (mức độ thấytrước) đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra của hành vi mà chủ thể thực hiện có thểphân lỗi cố ý thành cố ý xác định và cố ý không xác định.
+ Cốýxácđịnh:Là trườnghợpngườiphạmtộinhận thức được (xácđịnh trước) một cách khá đầy đủ hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi mà mình thực hiện. Ví dụ: Kẻ trộm cắpđã xác định trước đối tượng trộm cắp, kẻ
hiếp dâm đã xác định trước người mà mình muốn giao cấu…
+ Cố ý không xác định: Là trường hợp khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người phạm tội tuyđã thấy trước hậuquả nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhưng chưa thể xác định được một cáchcụthể hậu quả đó sẽ nhưthế nào.
Vídụ:Kẻ trộmcắpvào nhà ngườikhác cóthứgì trộmcắpthứđómàkhông xác địnhtrước sẽ trộm cái gì. Kẻ hiếp dâm mò vào phòngngủcủa ngườikhác (phụnữ)để thực hiện hành vi hiếp dâm mà khôngcầnxác định ngườibịhạilà ai, bao nhiêu tuổi…; ngườiphạmtộicốýgây thương tíchđã
45
dùnggậyđánh vàongườibịhạinhiềulầnmà không quan tâmđếnviệc thương tích của bị hại sẽ đến mức nào?…
1.1.3.4. Lỗi vô ý vì quá tự tin:
Khoản 1 Điều 10 BLHS về lỗi vô ý vì quá tự tin quy định: “Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc có thể ngăn ngừa được”.
Từ định nghĩa trên, có thể thấy lỗi vô ý vì quá tự tin gồm các nội dung sau:
-Về lý trí: Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, chủ thể đã thấy trước tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và cũng có thể thấytrước hậuquả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình có thểgây ra cho xã hội.
Như vậy, cũng tươngtựnhưlỗicốý, khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chủ thể đều có thể thấy trước khả năng có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hộido hành vi mà mình thực hiện, tuy nhiênở lỗicốýthìchủthể có thể thấy trước hậu quả chắc chắnsẽ xảyra (cố ý trực tiếp) hoặc có thểxẩyra nhưng vẫn để mặc không quan tâm(cốý gián tiếp), nhưng ở lỗi vô ýthì vì chủ thể quá tự tin rằng hậu quả sẽ không xảy ra. Bằng sự suy nghĩ và tin tưởng của mình, dựa trên những cơ sở thiếu chắc chắn chủ thể đã loại trừkhảnăng hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội và kết quảlà hậu quả đã xảyra cho xã hội. “Chính sự tin tưởng này thể hiện người phạm tội đã không nhận thức được một cách đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi” [51, tr. 137].
-Về ý chí: Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì tự tin rằng với nhữngđiềukiện khách quan vàchủquan đangtồntạithìhậuquả sẽ không xảyra, điều này cũng hiểu được rằng, chủ thể không mong muốn hậu quả xảy ra. Ở lỗi cố ý gián tiếp, chủ thể cũng không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng có thể thấy trước khả nănghậuquả có thể xảyra (không cósựtintưởnglà
46
hậuquảsẽkhôngxảyra) và cósựđểmặc chohậuquả xảyra (xảy ra cũngđược mà không xảy ra cũng được) để đạt được mục đích khác của mình.
Như vậy, lỗi của người phạm tội trong trường hợp vô ý vì quá tự tin là do chủ thể quá tự tin, thiếu sự cân nhắc, suy nghĩ thận trọng trong việc lựa chọn xửsựđể phùhợpvớithực tế, phùhợpvớiđòihỏicủa xã hội. Đã dựa trên những yếu tố khách quan và chủ quan thiếucơ sở và điềukiện chắc chắn, để rồi thực hiện hành vi gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ: Người lái xe đang tham gia giao thông giữa nơi mật độ người tham gia giao thông đông, nhưngvẫncốtình cho xe luồn láchđểvượtquangườinày, ngườikhác, trường hợp này người phạm tội về khách quan thực tế trên đường thì tin tưởng rằng mình có thể điều khiển xe luồn lách qua những người khác để đi trước, về chủ quan thì tin vào khả năng điều khiển xe của mình, kếtquả là đã để xảy ra tại nạn gây hậu quả nghiêm trọng.
1.1.3.5. Lỗi vô ý do cẩu thả:
Theo khoản 2Điều10 BLHS về lỗivôýdocẩuthả quyđịnh:“Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó”.
Từ định nghĩa trên, có thể thấy lỗi vô ý do cẩu thả gồm các nội dung sau:
– Dấu hiệu thứ nhất của lỗi vô ý do cẩu thả:
Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội.
Nguyên nhân khiếnchủthể không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, dựa trên hai khả năng như sau:
+ Người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã không nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và như vậy thì người phạm tội cũng không thể nhận thức được khả năng hành vi của mình sẽ gây ra hậuquả nguyhạicho xã hội. Vídụ:Ngườiđiềukhiển xe ôtô khi thực hiện việc lùi xe, do không chú ý quan sát phía sau nên đã va quệt vàongườiđứng
47
phía sau xe và dẫnđếntainạnnghiêm trọngxảyra. Khi lùi xe, do quan sát không thận trọng, ngườilái xe không thấy cóngườiđangởphía sau xe nên quyết định lùi xe, và như vậy người lái xe cũng không nhận thức được hành vi của mình đang gây nguy hiểm cho xã hội, dođócũng không thể thấy trước hậu quả tai nạn xảy ra, chỉ đến khi phát hiện có người bị đè ở bánh sau xe vàcóngườihô lên“dừnglại, dừnglại” thìngườilái xe mớidừng xe lại, nhảy xuống quan sát thì thấy nạn nhân đã chết.
+ Ngườiphạmtộikhi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộituyđãnhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng không thấy trướchậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình thực hiện có thể xảy ra. Ví dụ: Người điều khiển xe mô tô, khi vào cây xăng để đổ xăng, sau khi đổxăng xong đã vô ý vứt tàn thuốc ở khu vực gần cây xăng và ra về, khi về được 100m thì có hỏa hoạnxảyra và chínhbảnthânngườiphạmtộicũng không biết hỏa hoạn là do hành vi vứt tàn thuốc của mình gây ra.
– Dấu hiệu thứ hai của lỗi vô ý do cẩu thả:
Ngườiphạmtội vớilỗi vô ý do cẩu thả, tuy có thể khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộiđã không nhận thức được hành vicủamình là nguy hiểm cho xã hộihoặc không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguyhạicho xã hội, nhưngvẫnphải chịu trách nhiệmvề hành vi mà mình thực hiện, vì saolạinhư vậy?, vìvớivai trò, vịtrícụthể củachủthểliên quan đến hành vi mà chủ thể thực hiện, buộc chủ thể phải nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hộivà phải có nghĩavụthấy trước rằng, vớihành vi nguy hiểm mà mình thực hiện có thể gây ra hậuquả nguy hạicho xã hội. Việc người phạmtội để xảyra hậu quả là do lỗi vô ý do cẩu thả, Luật buộc họ phải chịu trách nhiệm là do ý thức cẩuthả của họ. Nếuhọlàm việc một cách đúng mực, thận trọng, theo các trình tự, quy cách do nghềnghiệp của họ hoặc công việc của họ đòi hỏi thì hậu quả sẽ không xảy ra. Vídụ: Y tá phát nhầm thuốc là do lỗi vô ý do cẩu thả, trách nhiệmcủa một người
48
thầy thuốc là phải kiểm tra chặt chẽ, chính xác, đúng quy trình trước khi cấp thuốc cho bệnh nhân, hoặc ngườiđiềukhiển xe phải có trách nhiệm chúýquan sátkỹtrước khi cho xe lùi, chỉkhi nào thấy an toànmớiđược lùi xe hoặc ở nơi có chấtdễ cháy, dễ nỗthì phải theonộiquy, quyđịnhcủa nó,
không thể đem chất dễ cháy đến gần cây xăng…
Xã hội luôn đòi hỏi mỗi cá nhân phải có trách nhiệm tôn trọng và bảovệlợi ích của Nhà nước, của xã hội và của người khác. Nếu một hành vi của một ngườinào đó, do thiếucẩnthận, docẩuthả mà đã gây ra hậuquả nguy hại cho xã hội thì phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Sự đòi hỏi này của xã hội đã trở thành những quy tắc của cuộc sống, có những đòi hỏi đã được luật pháp quy định (liên quan đến ngành nghềhay lĩnh vực cụthể), Vídụ:lĩnh vực an toàn giao thông, an toàn laođộng,
phòng cháy chữa cháy…Cũng có nhữngđòihỏimà mặc dù chưa được quyđịnh cụ thể ở một thờiđiểmhayđịa điểmcụthể nhưng về nguyên tắc chung là mọingườiphải biết và tuân theo. Vídụ:Dùngbếpga sinh hoạt trong giađình, an toàn vềđiệntrong gia đình, an toàn lao động trong gia đình. Người phạm tội do lỗi vô ý do cẩu thả thì về khách quan đã gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội do vi phạm những quy tắcnhất định đã đượcquy định hoặcđược thừa nhận trong đời sống xã hội. Về chủ quan, người phạm tội với lỗi vô ý do cẩuthả xã hội đòi hỏi anh ta phải có nghĩa vụ tuân thủ các quy tắc đó.
Ngườiphạmtộivớilỗivôýdocẩuthả không những“phảithấytrước” mà họ còn “cóthể thấytrước” hậuquả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra, vì với điều kiện khách quan (hoàn cảnh khách quan) và điều kiện chủquan (năng lực chủthể) nênđòihỏichủthể phải cósựchúýcầnthiết, ngườiphạmtộihoàn toàn có thể thấy trước hậuquả nguyhạicho xã hộicóthể xảyra. Ví dụ: Người lái xe khi điều khiển lùi xe, nếu chú ý quan sát cẩn thận thìngườilái xe có thể thấy trước khả năng tainạnsẽ xảyra để phòng
49
tránh. Tuy nhiên, họ đã không chú ý quan sát nên đã gây ra tai nạn, và khi đãgây ra tai nạn thì họ phải chịu trách nhiệm về hậu quả nghiêm trọng xảy ra đó.
Sovớihình thứclỗicốýthìlỗivôýlàsựphủđịnhchủquan ít nghiêm trọng hơn.
Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người phạm tội với lỗi vô ýcó thể đã nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hộicủahành vi, thấy trước hậuquả nguyhạicho xã hộicó thể xảyra nhưng tin rằnghậuquả sẽkhông xảy ra (vô ý vì quá tự tin) hoặc không nhậnthức đượctính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, do đó cũng không thấytrước đượckhả năng xảy ra hậu quả của hành vi, nhưng Luật bắt buộc họ có nghĩa vụ phải có hai khảnăng đó (nhận thức được hành vi và thấytrước được hậu quả). Do đặc điểm của lỗivôýnhưvậycho nênhầuhếtluật không buộc ngườiđã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do lỗi vô ý phải chịu trách nhiệm khi hậuquảchưa xảy ra. Ví dụ: Y tá phát nhầm thuốc nhưng bệnh nhân chưa uống thuốcđó; người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ nhưng chưa gây ra tai nạn hoặcđã gây ra nhưng hậu quả không đáng kể. Chỉ khi nào hành vi đó đã gây ra hậu quả đáng kể do pháp luật quy định mớicấuthành tội phạm. Vì vậy, Luật hình sựViệt Nam xây dựnghầuhếtcáctộiphạmvớilỗivôýlà các tộicó cấu thành tội phạmvậtchất. Chỉ có một số trường hợp cá biệt là tội phạmvớilỗi vô ý có cấu thành tội phạm hình thức, đó là các tội quy định tại khoản 1 Điều 264 BLHS “vố ý làmlộ bí mậtNhà nước”và khoản 1 Điều 328 BLHS “vô ýlàm lộ bí mật công tác quânsự”…
Do đánh giá tính ít nguy hiểm của lỗi vô ý cho nên những hành vi được thực hiện với lỗi vô ý, nếu không gây hậu quả nghiêm trọng hơn lỗi cố ý hoặc không vi phạmđiềukiện khác thì không phải là tộiphạm. Vì vậy, LHS của một số nước khác có quy định ở phần chung là, “chỉ coi là tội phạm đối với những hành vi được thực hiện do lỗi vô ý khi trong CTTP ấy có nói rõ là do lỗi vô ý”.
50
1.1.3.6. Trường hợp hỗn hợp lỗi.
Như đã phân tích về khái niệm lỗi hình sự (tại tiểu mục 1.1.1.2) chúng ta thấy, khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, trong chủ thể đã hình thành thái độ tâm lý, bao gồm haiyếutố lý trí và ý chí. Lý trí thì thể hiện khả năng nhận thức của chủ thể về thực tại khách quan, còn ý chí thì thể hiện khả năngđiềukhiển hành vi của mìnhtừquá trình nhận thức thực tạikhách quan đó. Haiyếutố trên hợp lại tạo thành thái độ tâm lý của chủ thể khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Trong cấu thành tội phạm, tháiđộ tâmlý của chủ thể không chỉ đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình thực hiện mà còn có tháiđộ tâmlý đối với hậuquả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra. Trường hợp hỗn hợp lỗi là trường hợp tồn tại hai hình thức lỗi (lỗi cố ý và lỗi vô ý) đối với các tình tiết khách quan khác nhau trong cùng một cấu thành tội phạm. Trong trường hợphỗnhợplỗi, không phảitồntạihai hình thức lỗicùngmộtlúc đốivới cùngmộttình tiết khách quan mà là đốivớihai tình tiết khách quan khác nhau. Đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội thì biểu hiện dưới hình thức lỗi cố ý, còn đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thì biểu hiện dưới hình thức lỗi vô ý (còn gọi là cố ý về hành vi nhưng vô ý về hậu quả).
“Không thể có những loại lỗi khác nhau trong cùng cấu thành tội phạm cơ bản. Trường hợp tồn tại đồng thời hai loại lỗi (cố ý và vô ý) chỉ có thể xảy ra ở những CTTP tăng nặng của những tội phạm cố ý mà tình tiết tăng nặng là những hậu quả nguy hiểm nhất định cho xã hội và lỗi của người phạm tộiđối với những hậu quả đó là lỗi vô ý” [51, tr.143]. Ví dụ: CTTP cơ bản của tội Hiếp dâm (khoản 1 Điều 111 BLHS) thì tội phạmđược thực hiện với lỗi cố ý; CTTP tăng nặng quyđịnhtạiđiểmc khoản 3Điều111 BLHS, có tình tiết tăng nặng định khung là làmnạnnhân chết hoặc tự sátthì lỗi đối với hậu quảnày là vô ý. Tương tự quy định tại đoạn 2 khoản 3 Điều 104 BLHS về tội “cố
51
ý gây thương tích” nhưng dẫn đến chết người cũng là CTTP thuộc trường hợp hỗn hợplỗi.
Tuy nhiên, nghiêncứuBLHS năm 1999 thì không phảichỉtồntạimột hình thức lỗicốý(hoặc vô ý) tạikhungcấuthành cơ bảnmà có nhiều cấu thành tội phạm nhà làm luật đã xây dựng và tồn tại hai hình thức lỗi (hỗn hợp lỗi) ngaytạikhungcấuthành cơ bản của điều luật. Ví dụ:Tạikhoản 1Điều 138 BLHS về tội “trộm cắp tài sản”, thì hành vi trộm cắp tàisảnlà hành vi cốý, còn tình tiết khách quan là trộm cắp tài sản dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng là lỗi vô ý (vô ý đối với tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng).
1.2. KHÁI NIỆM , NÔI DUNG VÀ Ý NGHĨA CUA NGUYÊN TĂC TRACH NHIÊM DO LÔI TRONG LUÂT HINH SƯ VIÊT NAM.
1.2.1. Khái niệm nguyên tắc trách nhiệm dolỗitrong Luật hình sựViệt Nam.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM DO LỖI CỦA LUẬT HÌNH SỰ
Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi của Luật hình sự

