Nghiên cứu sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam
MỞ ĐẦU
- Lí do chọn đề tài
Trong nhịp điệu sôi động của cuộc sống hiên nay, du lịch đã và đang
phát triển nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu. Càng ngày, các loại hình du lịch có những liên quan trực tiếp đến chất lƣợng môi trƣờng càng thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều khách du lịch hơn bởi sự thông qua các sản phẩm du lịch, khách du lịch sẽ tự cảm nhận đƣợc dƣới nhiều góc độ khác nhau về các giá trị tự nhiên, môi trƣờng và nền văn hóa ở những nơi họ có cơ hội đặt chân đến du lịch.
Du lịch biển đảo là một loại hình du lịch đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây, ở thực tại và trong tƣơng lai du lịch biển đảo sẽ là loại hình du lịch chủ đạo sau du lịch sinh thái và du lịch văn hóa. Loại hình du lịch biển đảo đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành du lịch, góp phần tạo ra sự đa dạng trong loại hình du lịch, giúp xóa đói giảm nghèo cho ngƣời dân ven biển. Không chỉ vậy, du lịch biển đảo còn góp phần bảo vệ môi trƣờng phát triển bền vững.
Quảng Nam đƣợc thiên nhiên ƣu đãi với 125km bờ biển đẹp kéo dài từ Điện Ngọc (giáp bãi biển Non Nƣớc, thành phố Đà Nẵng) đến giáp vịnh Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi), với nhiều bãi tắm đẹp lý tƣởng nhƣ: Hà My (huyện Điện Bàn), Cửa Đại (thành phố Hội An), Bình Minh (huyện Thăng Bình), Tam Thanh (thành phố Tam Kỳ), Kỳ Hà, Bãi Rạng (huyện Núi Thành)… Bên cạnh đó, còn có đảo Cù Lao Chàm – một khu dự trữ sinh quyển thế giới đƣợc UNESCO công nhận đã tạo cho Quảng Nam nhiều tiềm năng cho việc phát triển du lịch biển đảo, tạo ra sự đa dạng của các loại hình du lịch phù hợp với từng đối tƣợng khách hàng.
Mặc dù Quảng Nam có tài nguyên thuận lợi để phát triển du lịch biển đảo, tuy nhiên thực trạng phát triển chƣa tƣơng xứng, chƣa có nhiều sản phẩm

phù hợp để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch… Hơn nữa, việc nghiên cứu các sản phẩm du lịch biển đảo để nâng cao chất lƣợng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch là yêu cầu cần thiết. Hiện nay, trên địa bàn Quảng Nam vẫn chƣa có đề tài nào nghiên cứu về lĩnh vực này… Vì vậy, tác giải đã chọn đề tài “Nghiên cứu sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam” để nghiên cứu hiện trạng các sản phẩm du lịch biển đảo, đồng thời đƣa ra các giải pháp nhằm phát triển tƣơng xứng với tiềm năng du lịch biển đảo Quảng Nam.
- Lịch sử nghiên cứu
- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là góp phần nâng cao chất lƣợng và đa dạng hóa
sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu của khách du lịch, thu hút cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch, góp phần nâng cao đời sống ngƣời dân vùng biển đảo. Cụ thể là đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng sản các sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam.
Để đạt đƣợc mục đích trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ sau:
Thu thập và tổng quan tài liệu về các vấn đề liên quan nhƣ tài liệu, công trình nghiên cứu về du lịch biển đảo, các thông tin về tài nguyên du lịch biển đảo, về hệ thống dịch vụ du lịch, về khách du lịch…
Thu thập các dữ liệu sơ cấp thông qua khảo sát thực địa, phỏng vấn khách du lịch và nhà cung cấp sản phẩm du lịch… điều tra xã hội học để bổ sung thông tin.
Đánh giá thực trạng về sự hài lòng của khách du lịch, nhận thức và sự tham gia của cộng đồng vào việc tạo ra các sản phẩm du lịch biển đảo.
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam.
- Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn này là những sản phẩm du lịch
đƣợc giới hạn trong phạm vi mực nƣớc biển tác động vào đất liền và các khu vực ven bờ biển, trên biển, vịnh biển, hải đảo… thuộc các huyện Điện Bàn, Thăng Bình, Thành phố Hội An, Thành phố Tam Kỳ, Huyện Núi Thành của tỉnh Quảng Nam.
– Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu các sản phẩm du lịch biển đảo trong vùng biển đảo trên địa bàn, giới hạn trong phạm vi khu vực mực nƣớc biển tác động vào đất liền của các đơn đơn vị hành chính ven biển từ Huyện Điện Bàn đến Huyện Núi Thành của tỉnh Quảng Nam
Phạm vi thời gian: các số liệu, thông tin phục vụ nghiên cứu đề tài này đƣợc giới hạn từ năm 2009 đến năm 2013
- Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra, các phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu
sau đã đƣợc sử dụng:
Phƣơng pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Các thông tin này đƣợc thu thập từ các công trình nghiên cứu, tài liệu giảng dạy nhƣ giáo trình, bài báo của các tác giả trong và ngoài nƣớc. Những thông tin thực tế liên quan đến sản phẩm du lịch biển đảo.
Phƣơng pháp khảo sát thực địa (điền dã): Phƣơng pháp này đã giúp cho tác giả có trải nghiệm thực tế về vấn đề nghiên cứu. Tác giả đã tiến hành đi thực tế 4 đợt, đƣợc chia đều vào 4 mùa trong năm tại các vùng biển đảo nhƣ: Cửa Đại (Hội An), Hà My (Điện Bàn), Tam Thanh (Tam Kỳ), Biển Rạng (Núi Thành)… và đảo Cù Lao Chàm (Hội An). Các ngày đƣợc lựa chọn gồm 1 ngày vào xuân – khi đó khách du lịch đang tham gia trẩy hội và tham gia
9
vào các hoạt động du lịch, 1 ngày vào mùa hè – đây là mùa cao điểm của du lịch nên khách tham gia vào hoạt động du lịch rất nhiều, 1 ngày mùa thu – khi đó các vùng biển đang đón lƣợng khách du lịch nƣớc ngoài nhiều, 1 ngày vào mùa đông – mùa thấp điểm của hoạt động du lịch.
Phƣơng pháp điều tra xã hội học (hay phƣơng pháp phỏng vấn): Để có đƣợc những nhận định khách quan, tác giả đã sử dụng phƣơng pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi với khách du lịch đang tham gia du lịch tại các vùng biển đảo trên địa bàn. Vì điều kiện hạn chế về thời gian và khoảng cách (khảo sát khách du lịch trong 3 đợt: đợt 1 vào cuối tháng 10/2014, đợt 2 vào đầu tháng 11/2014, và đợt 3 vào giữa tháng 11/2014), và hơn nữa lại vào mùa thấp điểm của du lịch nên tác giả chỉ phát đƣợc 120 phiếu cho khách du lịch. Mặc dù số phiếu phát ra ít, nhƣng kết quả thu lại cũng rất khả quan và thông tin thu thập đƣợc cũng khá chính xác, từ đó giúp cho tác giả có những sự phân tích thực trạng và đề xuất vào việc phát triển sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam.
– Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát:
Từ yêu cầu nội dung nghiên cứu của đề tài, thông qua thảo luận ý kiến với một số chuyên gia, tác giả đã đƣa ra bảng câu hỏi sơ bộ và tiến hành khảo sát thử 15 du khách, sau đó hoàn thiện và đƣa ra bảng câu hỏi chính thức dùng để khảo sát. Bảng câu hỏi tiếng Việt dành cho du khách trong nƣớc (Phụ lục 1) và bảng câu hỏi tiếng Anh dành cho khách nƣớc ngoài (Phụ lục 2).
Nội dung của bảng câu hỏi theo chiều dọc gồm 2 phần chính:
Phần thứ 1, đánh giá của du khách về mức độ quan trọng và mức độ hài lòng của các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam với các tiêu chí: Tài nguyên du lịch biển đảo; Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, môi trƣờng; Trải nghiệm các sản phẩm du lịch biển đảo; Chính sách quản lý, quảng bá, xúc tiến du lịch biển đảo…
10
Phần thứ 2, thu thập thông tin cá nhân của khách du lịch tại vùng biển đảo Quảng Nam.
Nội dung bảng câu hỏi theo chiều ngang, phía bên trái bảng câu hỏi là đánh giá của du khách về mức độ quan trọng của các yếu tố sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam với 5 mức độ: không quan trọng, ít quan trọng, bình thƣờng, quan trọng và rất quan trọng. Phía bên phải bảng câu hỏi là đánh giá của du khách về mức độ hài lòng của các yếu tố về sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam với 5 mức độ: không hài lòng, ít hài lòng, bình thƣờng, hài lòng và rất hài lòng.
- Phƣơng pháp thu thập thông tin:
Phƣơng pháp thu thập thông tin sử dụng cho nghiên cứu đề tài này là
phát phiếu khảo sát điều tra theo bảng câu hỏi đã soạn sẵn. Đối tƣợng khảo sát bao gồm khách du lịch trong nƣớc và quốc tế đang sử dụng các sản phẩm du lịch biển đảo trên địa bàn Quảng Nam (Điện Bàn, Hội An, Cù Lao Chàm, Tam Kỳ, Núi Thành). Tổng số phiếu điều tra phát ra 120 phiếu cho các khách du lịch ngẫu nhiên, trong đó có 80 phiếu dành cho khách du lịch trong nƣớc và 40 phiếu dành cho khách du lịch nƣớc ngoài.
- Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội
dung chính của luận văn bao gồm 3 chƣơng.
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về sản phẩm du lịch biển đảo
Chƣơng 2. Tiềm năng và thực trạng sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam Chƣơng 3. Một số giải pháp hoàn thiện và phát triển sản phẩm du lịch
biển đảo Quảng Nam
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH BIỂN ĐẢO
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Du lịch biển đảo
Du lịch có rất nhiều loại hình khác nhau, dựa trên đặc điểm tài nguyên, sự phân bố… du lịch đƣợc chia thành nhiều loại hình nhƣ: du lịch miền núi, du lịch đô thị, du lịch đồng quê, du lịch biển đảo…
Từ đặc điểm đó, có thể hiểu rằng: du lịch biển đảo là loại hình du lịch đƣợc phát triển dựa trên những tiềm năng về biển đảo, diễn ra trong các vùng có tài nguyên về biển đảo hƣớng tới thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời về nghỉ dƣỡng biển đảo, tham quan, vui chơi giải trí, tắm biển, nghiên cứu, học tập… tại khu vực bờ biển, ven biển, vịnh biển và đảo.
Từ khái niệm về du lịch biển đảo, có thể hiểu rằng: sản phẩm du lịch biển đảo là các tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho khách du lịch, đƣợc xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở các vùng có tiềm năng về biển đảo, từ đó hình thành các sản phẩm du lịch mang đặc trƣng và màu sắc riêng chỉ có thể hình thành và phát triển ở vùng biển đảo nhằm hƣớng tới thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời về vui chơi giải trí, nghỉ dƣỡng, tham quan, tắm biển, lặn biển, nghiên cứu… tại khu vực bờ biển, vịnh biển và đảo.
Cũng nhƣ các sản phẩm du lịch khác, sản phẩm du lịch biển đảo là tập hợp các dịch vụ nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch. Tuy nhiên, sản phẩm du lịch biển đảo có những đặc trƣng riêng bởi những đặc thù của tài nguyên du lịch biển đảo. Du lịch biển đảo còn có tính chất mùa vụ rõ rệt, phụ thuộc vào thời tiết, nhiệt độ…
1.1.2. Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là một thuật ngữ có rất nhiều quan niệm định nghĩa và cũng đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Các khái niệm về sản phẩm
12
du lịch rất đa dạng tùy theo các hƣớng tiếp cận khác nhau. Sản phẩm du lịch là một khái niệm rộng, là tổng thể các yếu tố hữu hình hoặc vô hình, kết hợp với nhau, tạo thành các sản phẩm du lịch hoàn chỉnh, làm thỏa mãn nhu cầu cho du khách trong hoạt động du lịch.
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, đƣợc tạo nên bới sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó [8, tr. 31].
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch [Điều 4, chƣơng 1, Luật Du lịch, 2005].
Có thể thấy rằng, sản phẩm du lịch luôn là mối quan tâm của không chỉ khách du lịch mà cả các nhà quản lý, kinh doanh và cộng đồng địa phƣơng. Nói tới sản phẩm du lịch là nói tới các dịch vụ (hoặc hàng hóa nhƣ đồ lƣu niệm…) có thể đem bán cho du khách.
Sản phẩm du lịch có nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau và đƣợc hiểu ở nhiều phạm vi khác nhau:
- phạm vi điểm đến, sản phẩm du lịch đƣợc gắn liền với một điểm đến cụ thể, đó là: biển, đảo, núi, sông, hồ, di tích, danh thắng, công trình, lễ hội, làng nghề… phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch.
- phạm vi dịch vụ, sản phẩm du lịch đƣợc gắn liền với những dịch vụ
cụ thể, đó là những dịch vụ lƣu trú, ăn uống, vận chuyển, tham quan, vui chơi giải trí, mua sắm, các dịch vụ bổ sung khác…
- phạm vi của tour, sản phẩm du lịch đƣợc gắn liền với những sản phẩm cụ thể, đó là những chƣơng trình du lịch, nhƣng dịch vụ trọn gói hoặc từng phần bán ra phù hợp với nhu cầu của khách du lịch…
Nhƣ vậy, sản phẩm du lịch đƣợc hiểu là các tài nguyên du lịch và dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, là tổng thể những
13
yếu tố có thể trông thấy hoặc không trông thấy đƣợc, do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để phục vụ và thỏa mãn những nhu cầu của các đối tƣợng du khách khác nhau; nó phù hợp với những tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế đồng thời chứa đựng những giá trị đặc trƣng bản địa; đáp ứng và làm thỏa mãn các mục tiêu kinh tế – xã hội đối với các cá nhân, tổ chức và địa phƣơng nơi đang diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch.
1.2. Sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch biển đảo
1.2.1. Những yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch
Cũng nhƣ tất cả các sản phẩm khác, sản phẩm du lịch gồm nhiều yếu tố kết hợp với nhau để đáp ứng cho thị trƣờng, thỏa mãn tối đa nhu cầu của du khách. Sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố cơ bản sau:
- Tài nguyên thiên nhiên: khí hậu, cảnh quan, núi rừng, biển đảo, sông, suối, hồ, thác…
- Tài nguyên nhân văn, các di sản văn hóa, các công trình kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử, phong tục tập quán, lễ hội, làng nghề…
- Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ ngành du lịch: nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí…
- Hệ thông phƣơng tiện giao thông phục vụ du lịch: máy bay, tàu lửa, xe ô tô, tàu thuyền…
- Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: hệ thống giao thông, điện, nƣớc, bƣu chính viễn thông, y tế…
- Môi trƣờng kinh tế và xã hội: giá cả liên quan đến du lịch, an toàn xã hội, trình độ dân trí, văn minh đô thị…
1.2.2. Đặc điểm của sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch mang đặc tính nhìn thấy đƣợc và không nhìn thấy đƣợc. Các yếu tố nhìn thấy đƣợc, chủ yếu là: tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, phƣơng tiện vận chuyển, đặc sản, hàng lƣu niệm… Và các
yếu tố không nhìn thấy đƣợc bao gồm: các dịch vụ du lịch; các yếu tố tâm lý…
14
Sản phẩm du lịch mang tính đa dạng của các bên tham gia: thông thƣờng, sản phẩm du lịch có nhiều yếu tố cấu thành nhƣ: cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, các loại dịch vụ…
Sản phẩm du lịch mang tính đặc thù: Sản phẩm du lịch không thể tồn kho; sản phẩm du lịch đồi hỏi phải có sự tham gia của du khách để tồn tại, là điều kiện cần thiết để thực hiện dịch vụ; tính không co giãn của cung so với cầu; sản phẩm du lịch không di chuyển đến thị trƣờng tiêu thụ.
1.2.3. Các yếu tốc tác động ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản phẩm du lịch
| Giai đoạn đầu | Động cơ du lịch | |||
| Cơ ản | Tổ chức quản lý | |||
| Tài nguyên du lịch | ||||
| uá tr nh tạo | Cơ sở hạ tầng | Vật chất kỹ thuật | Dịch vụ | |
| Hoạt động và kinh nghiệm | ||||
| d ng | ||||
| Nguồn cung cấp sản phẩm du lịch | ||||
| Tru ền th ng | Hình ảnh và bố trí | Truyền thông và | Kinh doanh và | |
| quảng bá | thƣơng mại hóa | |||
| ết quả | Văn hóa tiêu thụ | |||
- Giai đoạn đầu động lực để du lịch là yếu tố cơ bản và tiên quyết để
hình thành việc xây dựng các sản phẩm du lịch.
– Cơ ản Là giai đoạn cần có tài nguyên du lịch và tổ chức quản lý, để xây dựng cấu trúc và khai thác đúng giá trị các tài nguyên hình thành nên những sản phẩm cần thiết.
- uá tr nh tạo d ng yêu cầu cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, và dịch vụ có sẵn hoặc đƣợc tạo dựng lẫn phát triển hoạt động và kinh nghiệm. Quá trình này mang lại kết quả là một bộ sản phẩm, có thể đƣợc hiểu là nguồn cung cấp sản phẩm của điểm du lịch.
15
- Tru ền th ng một khi đã có nguồn cung cấp sản phẩm, những lợi ích thiết thực và về tinh thần phải đƣợc giới thiệu cho khán giả mục tiêu của điểm du lịch nhằm kích thích nhận thức, và tất yếu, mong muốn hƣớng đến
tiêu thụ. Việc tạo ra hình ảnh, bố trí mạnh mẽ và liền mạch, liên quan đến sản phẩn du lịch rất quan trọng để giới thiệu và quảng bá thành công điểm du lịch để kích thích tiêu thụ sản phẩm tại điểm du lịch.
- ết quả là sự tiêu thụ sản phẩm du lịch, từ đó đánh giá đƣợc mức độ hài lòng của khacsh du lịch và có những điều chinrht hích hợp cho sự phát triển sản phẩm tiếp theo.
Việc phát triển sản phẩm du lịch mới thƣờng gặp phải nhiều khó khăn bởi vấn đề quyền lợi khác nhau giữa thành phần kinh tế nhà nƣớc và tƣ nhân. Do đó, trong hoàn cảnh này, cần có một tổ chức quản lý để xây dựng cấu trúc, phối hợp và đạt đƣợc sự nhất trí cần thiết giữa các thành phần kinh tế khác
nhau để đảm bảo sự phát triển sản phẩm du lịch.
Quảng bá sức phát triển của sản phẩm du lịch mới dựa trên tài nguyên du lịch mang nhiều lợi ích, việc phát triển nguồn sản phẩm du lịch đa dạng vô cùng quan trọng để đảm bảo một sự đa dạng hóa và phân biệt lâu dài cho điểm du lịch. Việc phát triển sản phẩm du lịch có thể hiểu là:
- Cải tạo và nâng cấp tài nguyên du lịch đã có: tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân tạo và các tài nguyên khác.
- Nâng cao các công trình công cộng phục vụ du lịch và điểm du lịch, các tour du lịch, các hành trình du lịch…
- Đƣa dân cƣ địa phƣơng vào việc bảo tồn và duy trì tài sản du lịch. Tăng tính tự tôn của dân cƣ địa phƣơng, có ý thức gìn giữ môi trƣờng du lịch.
- Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của dân cƣ địa phƣơng: các làng nghề truyền thống thủ công, các lễ hội, các sản phẩm và dịch vụ liên quan giúp củng cố hình ảnh chân thực của điểm du lịch.
16
- Tạo ra cơ hội mới cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để phát triển kinh doanh.
1.2.4. Vai trò của các bên trong quá trình phát triển sản phẩm du lịch 1.2.4.1 Nhà cung cấp
Sản phẩm du lịch muốn phát triển đƣợc thì phải có sự tham gia đầy đủ của các nhà cung cấp. Bởi chính các nhà cung cấp bảo đảm cung ứng những yếu tố đầu vào để tạo thành dịch vụ du lịch hoàn chỉnh và làm tăng giá trị sử dụng của chúng để quảng bá cho khách du lịch với mức giá phù hợp yêu cầu, mức giá phải thấp hơn so với giá mà khách du lịch mua từng dịch vụ đơn lẻ gộp lại, tiết kiêm đƣợc thời gian, dễ dàng trong việc tìm kiếm thông tin, lựa chọn sản phẩm phù hợp với đặc điểm tiêu đùng du lịch của họ.
Nhà cung cấp (dịch vụ và hàng hoá) giữ một vai trò lớn trong quá trình phát triển sản phẩm du lịch nhƣ sau:
Các nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển để thoả mãn nhu cầu đi lại của khách từ nơi ở thƣờng xuyên đến điểm du lịch (khu du lịch) tại nơi đến và ngƣợc lại. Các nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển bao gồm: vận chuyển hàng không,vận chuyển đƣờng sắt,vận chuyển đƣờng bộ,vận chuyển đƣờng thuỷ…
Các nhà cung cấp dịch vụ lƣu trú bao gồm các thể loại (khu nghỉ dƣỡng, khách sạn, nhà nghỉ, làng du lịch,…) nhằm thoả mãn nhu cầu lƣu trú của khách trong thời gian đi du lịch, các nhà cung cấp dịch vụ lƣu ăn uống nhƣ (nhà hàng, cửa hàng đặc sản…) phục vụ nhu cầu ăn uống của du khách… và các loại dịch vụ khác nhƣ: quầy bar, phòng hội họp, cửa hàng lƣu niệm…
Các nhà cung cấp dịch vụ tham quan,vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe… tại các điểm du lịch, khu du lịch, các sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, thể thao, hàng thủ công mỹ nghệ… nhằm để thoả mãn nhu cầu đặc trƣng trong tiêu dùng du lịch, nhu cầu cảm thụ các giá trị thẩm mỹ của khách ở nơi đến du lịch.
17
Ngoài ra còn có các nhà cung cấp dịch vụ mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động kinh tế xã hội nhƣ là: các nhà cung cấp dịch vụ bƣu điện và bƣu chính viễn thông; các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm… cũng góp phần phục vụ nhu cầu đa dạng và bổ sung vào các dịch vụ chính.
1.2.4.2 Khách du lịch
Khách du lịch là ngƣời đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du dịch đóng một vai trò rất lớn vào quá trình phát triển sản phẩm du lịch, từ đó tạo ra những sản phẩm du lịch đa dạng, phong phú nhằm phụ vụ nhu cầu của khách du lịch về tham quan, nghỉ dƣỡng, vui chơi giải trí, học tập, nghiên cứu…
Khách du lịch bao gồm hai đối tƣợng là: khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế, họ có những nhu cầu, sở thích và khả năng thanh toán cũng khác nhau. Từ đó góp phần vào việc định hƣớng phát triển cho sản phẩm du lịch đa dạng hơn, phù hợp với từng đối tƣợng khách du lịch khác nhau.
Khách du lịch nội địa là thị trƣờng có tiềm năng khai thác rất lớn, là thị trƣờng trọng điểm do xu hƣớng đi du lịch trong nƣớc tăng nhờ kinh tế phát triển, mức sống cao hơn, thời gian rỗi nhiều hơn, nhận thức về du lịch đƣợc nâng cao, thông tin du lịch đƣợc phổ biến thƣờng xuyên hơn.
Khách du lịch quốc tế trong thời gian gần đây là các thị trƣờng Châu Âu và Bắc Mỹ vẫn là thị trƣờng gửi khách nhiều nhất. Bên cạnh đó thị trƣờng khách Châu Á – Thái Bình Dƣơng cũng là một thị trƣờng đầy tiềm năng của du lịch biển đảo, và đặc biệt lƣợng du khách đến từ các nƣớc đang phát triển tăng mạnh hơn, đặc biệt các vùng Đông Bắc và Đông Nam Á, Đông và Trung Âu, Trung Đông, Nam Phi và Nam Mỹ…
Với điều kiện phát triển kinh tế nhƣ hiện nay thì du lịch không phải là nhu cầu đặc biệt mà là xu hƣớng gia tăng của toàn cầu. Ngƣời đi du lịch
18
không chỉ đi thăm quan giải trí, mua sắm mà họ còn đi du lịch để tìm hiểu văn hoá lịch sử, nghiên cứu thị trƣờng, hợp tác kinh tế, do vậy du lịch đã phát triển rộng. Với chính sách mở cửa đầu tƣ và phát triển kinh tế- xã hội- du lịch phù hợp với điều kiện hiện có sẽ thu hút khách du lịch ngày càng tăng. Hơn nữa, dù du lịch chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ của thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, chính trị nhƣng Việt Nam vẫn là điểm đến an toàn hiện nay đƣợc du khách lựa chọn.
1.2.4.3 Cơ quan quản lý du lịch địa phương
Quá trình tham gia của cơ quan quán lý du lịch địa phƣơng nhằm tạo điều kiến phát triển đa dạng các loại hình du lịch phù hợp với lợi thế tài nguyên du lịch, thúc đẩy hình thành và phát triển đa dạng hóa các sản phẩm du lịch …
Ngoài ra, cơ quan quản lý du lịch địa phƣơng chủ động đề xuất những chiến lƣợc để thu hút đầu tƣ phát triển các dự án lớn về du lịch, hình thành các hệ thống các khách sạn, khu nghỉ dƣỡng, khu vui chơi, giải trí sân golf… cao cấp ở khu vực đô thị lớn và những khu vực có tài nguyên thuận lợi…
Bên cạnh đó, cần chỉ đạo phát triển các ngành dịch vụ khác và công nghiệp phụ trợ cho du lịch (phát triển các làng nghề truyền thống, sản xuất hàng thủ công – mỹ nghệ; đào tạo ngành nghề, quản lý khách sạn; dịch vụ mua sắm, ăn uống; tài chính – ngân hàng; viễn thông, công nghệ thông tin; văn hóa; vận chuyển hàng không, hàng hải… ), đẩy mạnh phát triển công nghiệp sạch theo quy hoạch và phát triển nông nghiệp trong mối quan hệ chặt chẽ với du lịch.
Tổ chức liên kết chặt chẽ với các địa phƣơng khác, với các vùng trọng điểm kinh tế để khai thác các tuyến du lịch mới, tạo ra các sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn. Tạo những điều kiện để hội nhập quốc tế, liên kết với các nƣớc để mở rộng thị trƣờng quốc tế… góp phần vào việc nâng cao và hoàn thiện sản phẩm du lịch biển đảo ngày càng đa dạng, chất lƣợng.
19
1.2.5. Các điều kiện phát triển du lịch biển đảo
Du lịch biển đảo là một loại hình du lịch đang phát triển ở những nơi có tài nguyên về biển đảo, đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành du lịch, góp phần tạo ra sự đa dạng trong loại hình du lịch. Không chỉ vậy, du lịch biển đảo còn góp phần giúp tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho ngƣời dân ven biển, bảo vệ phát triển môi trƣờng bền vững.
Du lịch biển đảo hiện đang chiếm tỉ trọng lớn hoạt động của ngành du lịch. Để du lịch phát triển nhanh và bền vững, cần phải xác định du lịch biển đảo là bƣớc đột phá để phát triển kinh tế biển và là một trong những định hƣớng quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế cũng nhƣ bảo vệ chủ quyền quốc gia. Để xây dựng các sản phẩm du lịch biển đảo, cần phải có những điều kiện cụ thể: Điều kiện cung (để xây dựng sản phẩm phù hợp với điều kiện tài nguyên), điều kiện cầu (để xây dựng những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch).
1.2.5.1 Điều kiện cung
Để xây dựng những sản phẩm du lịch biển đảo phù hợp với điều kiện tài nguyên và đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, ngoài những yếu tố về hệ thống dịch vụ du lịch cần phải dựa vào yếu tố chính là tài nguyên du lịch biển đảo. Đây là yếu tố tiên quyết để hình thành nên những sản phẩm du lịch biển đảo đặc trƣng của từng vùng miền.
– Tài nguyên du lịch biển đảo:
Điều kiện về vị trí địa lý, tự nhiên, lịch sử, văn hoá… đã tạo nên tiềm năng du lịch biển đảo phong phú, đa dạng bao gồm cả tài nguyên du lịch biển đảo tự nhiên và tài nguyên văn hóa biển đảo. Những nơi có điều kiện thuận lời với bờ biển dài và sạch, nhiều đảo và quần đảo, vịnh biển đẹp, các hang động tuyệt đẹp, nhiều công trình kiến trúc cổ, nhiều nét văn hóa đặc trƣng, nhiều làng nghề, lễ hội miền biển đặc sắc… là những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển đảo.
20
Trong các vùng biển đảo, bên cạnh tiềm năng lớn về hải sản, rong biển, khoáng sản, dầu mỏ, còn có nhiều vũng, vịnh, hang động trên đảo, bãi tắm…tạo ra những nét đặc trƣng riêng, thu hút khách du lịch thích khám phá đại dƣơng, tham quan, học tập và tìm hiểu hiểu… đó là điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch biển, đảo.
- Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, môi trƣờng
Bên cạnh tài nguyên du lịch biển đảo, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, môi trƣờng… đã góp phần vào việc hoàn thiện những sản phẩm du lịch biển đảo phong phú, tạo nên sự an toàn và hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng sản phẩm để phục vụ khách du lịch về nhu cầu du lịch biển đảo.
Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ và ngày càng hoàn thiện của hệ thống mạng lƣới giao thông nhƣ: đƣờng bộ (quốc lộ chính, đƣờng đẹp ven biển, cửa khẩu), đƣờng sắt, đƣờng hàng không (các sân bay quốc tế lớn), đặc biệt là đƣờng thủy (những cảng biển lớn)… và quá trình đầu tƣ và sự phát triển của các đô thị ven biển, đó là những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch biển đảo.
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện nay nhƣ hệ thống cơ sở lƣu trú ven biển (khách sạn, khu nghỉ dƣỡng) cũng đƣợc đầu tƣ phát triển, các cơ sở lƣu trú vùng biền đảo không ngừng tăng lên về số lƣợng và chất lƣợng, vùng ven biển chủ yếu tập trung các khu nghỉ dƣỡng quốc tế tiêu chuẩn cao cấp, các nhà hàng phục vụ ăn uống đa dạng với nhiều loại hình ẩm thực đặc trƣng vùng biển đảo phong phú và chất lƣợng (chủ yếu là nhà hàng hải sản), các khu vui chơi giải trí đẳng cấp quốc tế với nhiều hình thức vui chơi giải trí trên cạn, trên mặt nƣớc, dƣới nƣớc, trong lòng biển ngày càng đa dạng hơn… đó là những động lực để thúc đẩy phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch biển đảo.
Hệ thống thông tin liên lạc, điện, nƣớc, cơ sở y tế và các cơ sở vật chất khác cũng đƣợc đầu tƣ và nâng cấp nhằm giúp cho du lịch biển đảo có những điều kiện thuận lợi trong quá trình phát triển…
21
– Giá cả dịch vụ du lịch:
Giá cả cũng giữ một vai trò thiết yếu trong kinh doanh du lịch và quyết định vòng đời của sản phẩm du lịch. Dù trong nền kinh tế phát triển của thế giới cạnh tranh về giá cũng đã nhƣờng chỗ cho cạnh tranh về chất lƣợng, nhƣng các quyết định về giá là quan trọng cho việc xác định giá trị cho khách hàng và giữ vai trò trong việc tạo dựng một hình ảnh của dịch vụ và cũng bởi vì việc định giá thu hút doanh lợi trong kinh doanh. Việc áp dụng chính sách về giá trong các cơ sở kinh doanh du lịch, đƣa đến cho cơ sở những điều kiện mới, những nhân tố mới để mở rộng sản phẩm du lịch của mình.
Việc hình thành giá cả của sản phẩm du lịch chịu sự tác động của nhiều yếu tố nhƣ: luật pháp và chính sách quản lý của nhà nƣớc; những yêu cầu bắt buộc về thị trƣờng du lịch; đặc tính của tài nguyên du lịch; chất lƣợng sản phẩm du lịch; cơ cấu chi phí của sản phẩm; sự tác động của các chính sách khác trong marketing… Bên cạnh đó, giá cả sản phẩm du lịch còn chịu sự tác động của yếu tố bắt buộc về thị trƣờng đó là quan hệ cung – cầu, mức độ cạnh tranh trên thị trƣờng, hai yếu tố này sẽ điều chỉnh mức giá trên thị trƣờng. Đó là mức giá để lựa chọn xác định chính sách giá cho phù hợp.
– Nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực để phát triển du lịch biển đảo là lao động trong du lịch bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Lao động trực tiếp là số lao động làm trong các công ty lữ hành, khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí và các cơ sở dịch vụ khác. Lao động gián tiếp là lao động có liên quan đến ngành du lịch. Với mục đích tạo ra nguồn nhân lực có trình độ và tay nghề cao trong hoạt động du lịch, cần khuyến khích đào tạo và chuyển giao kỹ năng tại chỗ; thu hút chuyên gia, nhân tài, nghệ nhân trong và ngoài nƣớc phục vụ cho đào tạo du lịch biển đảo; tăng cƣờng chuẩn hóa kỹ năng, chƣơng
22
trình đào tạo; đẩy mạnh thẩm định, công nhận kỹ năng; tạo điều kiện di chuyển, chuyển đổi nghề nghiệp; hình thành mã ngành đào tạo du lịch ở các cấp đào tạo; sử dụng phí dịch vụ vào việc đào tạo và phát triển nhân lực.
– Chính sách quản lý, quảng bá, xúc tiến du lịch biển đảo:
Chính sách phát triển du lịch biển đảo cần phải đầu tƣ tập trung cho các khu du lịch biển đảo trọng điểm quốc gia có sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế, đặc biệt ƣu tiên những vùng có thế mạnh về tài nguyên biển đảo, với những ƣu đãi bằng các công cụ tài chính, thu hút nguồn vốn đầu tƣ, hỗ trợ trực tiếp của nhà nƣớc về cơ sở hạ tầng, phát triển sản phẩm…
Chính sách đầu tƣ phát triển sản phẩm du lịch biển đảo đặc trƣng vùng, quốc gia có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế: tăng cƣờng nghiên cứu thị trƣờng, xây dựng chiến lƣợc sản phẩm; khuyến khích sản phẩm mới có tính chiến lƣợc; hỗ trợ xây dựng và quảng bá thƣơng hiệu du lịch vùng, thƣơng hiệu quốc gia, sản phẩm đặc trƣng; liên kết khai thác giá trị văn hóa, sinh thái và những tài nguyên du lịch nổi bật của vùng, quốc gia.
Chính sách bảo vệ môi trƣờng tại các khu, tuyến điểm, cơ sở dịch vụ du lịch biển đảo: áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trƣờng; kiểm tra xử lý vi phạm về môi trƣờng du lịch; kiểm định, đánh giá, tôn vinh những thƣơng hiệu, nhãn hiệu du lịch “xanh”; xây dựng nếp sống văn minh du lịch…
Chính sách về xúc tiến quảng bá tại các thị trƣờng trọng điểm: tăng cƣờng nghiên cứu thị trƣờng, phân đoạn các thị trƣờng mục tiêu; hỗ trợ về tài chính đối với thị trƣờng trọng điểm; liên kết, tập trung nguồn lực trong và ngoài nƣớc cho xúc tiến quảng bá tại thị trƣờng trọng điểm; quảng bá những thƣơng hiệu mạnh theo phân đoạn thị trƣờng trọng điểm; hình thành các kênh quảng bá toàn cầu đối với những thị trƣờng trọng điểm (văn phòng đại điện du lịch, thông tin đại chúng toàn cầu); chiến dịch quảng bá tại các thị trƣờng trọng điểm.
23
Chính sách phát triển du lịch biển đảo cộng đồng: Khuyến khích, hỗ trợ phát triển các loại hình du lịch dựa vào cộng đồng, du lịch sinh thái biển đảo, du lịch làng quê biển đảo, làng nghề truyền thống; tăng cƣờng năng lực tham gia của động đồng; tuyên truyền nâng cao nhận thức, hƣớng dẫn kỹ thuật; hỗ trợ trang thiết bị cơ bản cho cộng đồng, phát triển mô hình nghỉ tại nhà dân (homestay); tăng cƣờng trách nhiệm kinh tế, chia sẻ lợi ích với cộng đồng; hỗ trợ xúc tiến quảng bá du lịch cộng đồng; hỗ trợ chuyển đổi nghề sang làm du lịch ở các vùng biển đảo.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Nghiên cứu sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam
Nghiên cứu sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam Nghiên cứu sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam Nghiên cứu sản phẩm du lịch biển đảo Quảng Nam


