NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ CỦA MÔ HÌNH HỌC KẾT HỢP TỚI NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Tính cấp thiết của đề tài
Đối với sinh viên bậc đại học, việc tự học luôn là một phần quan trọng của chương trình học. Tự học có thể được tiếp cận theo hai cách, định lượng và định tính (Doumen et al. 2014). Chất lượng học tập tập trung vào cách học sinh học. Cụ thể hơn, các chiến lược và hoạt động mà học sinh áp dụng trong quá trình tự học sẽ phản ánh chất lượng học tập của các em. Mặt khác, số lượng có thể được coi là đầu tư thời gian. Một số sinh viên dành nhiều thời gian cho việc học hơn những sinh viên khác. Liệu thời gian đầu tư vào việc học có đóng vai trò quan trọng trong thành công trong học tập hay không vẫn là một điểm gây tranh cãi (ví dụ: Doumen và cộng sự 2014; Plant và cộng sự 2005). Tuy nhiên, có bằng chứng rõ ràng rằng các chiến lược và hoạt động học tập có liên quan đến kết quả học tập (Mega và cộng sự 2014; Richardson và cộng sự 2012; Vermunt 2005; Vermunt và Vermetten 2004). Đổi lại, các chiến lược học tập có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường học tập, năng lực tự học,…
Bản chất việc tự học của SV ĐH là quá trình nhận thức một cách tự giác, tích cực, tự lực không có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của giảng viên (GV) nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ học tập. Bên cạnh đó với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, hình thức học trực tuyến (E-learning) và hình thức học kết hợp (Blended learning) được quan tâm rộng rãi từ nghiên cứu tới ứng dụng trong giáo dục đại học. Chương trình học trực tuyến ngày càng được ưa chuộng bởi tính thuận tiện về thời gian, địa điểm, nhanh gọn, tiết kiệm chi phí. .. Thực tế, có những SV có thể tự học rất tốt nhưng có những em cũng tự học nhưng không mang lại kết quả cao. làm người học mất đi động cơ học tập và mất đi cơ hội giao tiếp, sự tương tác trong các lớp học trực tiếp. Chính vì vậy nhằm khắc phục nhược điểm trên của (E-learning), các cơ sở giáo dục và các nhà giáo dục đã đề xuất mô hình học tập kết hợp (blended learning), là sự kết hợp một cách “thấu đáo” giữa dạy học trực tiếp tại lớp và e-learning (Garrison và Kanuk, 2004). Mô hình học tập này đã được áp dụng giảng dạy tại nhiều trường đại học do sự phối hợp giữa học tập trực tiếp và trải nghiệm trực tuyến có thể tăng khả năng thu hút người học, đồng thời mang lại nhiều lợi ích cho sinh viên, giảng viên và các tổ chức giáo dục tuy nhiên chủ đề này vẫn còn khá mới trong bối cảnh nghiên cứu. Trong các nghiên cứu về học tập kết hợp, nghiên cứu về năng lực tự học của sinh viên là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu khám phá nhằm nâng cao hiệu quả của việc thiết kế các khóa học kết hợp. Tuy nhiên, các nghiên cứu hầu như tập trung đo lường cảm nhận trải nghiệm của người học đối với thành phần trực tuyến trong khi đó học tập kết hợp đi kèm với năng lực tự học lại chưa được quan tâm nhiều và còn ít nghiên cứu về vấn đề này. Đặc biệt tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đã áp dụng hình thức học kết hợp vào chương trình đào tạo cho tất cả các ngành học nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT vào giảng dạy và nâng cao năng lực đào tạo nhưng chưa có nghiên cứu nào đo lường năng lực tự học của sinh viên đối với hình thức học tập kết hợp. Do đó, bài viết này đề xuất mô hình nghiên cứu tổng thể mối quan hệ của mô hình học kết hợp tới năng lực tự học của sinh viên tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, từ đó làm cơ sở nền tảng để đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học của sinh viên trong việc ứng dụng mở rộng học tập kết hợp trong tương lai. Trước những vấn đề này, nghiên cứu hướng tới mục đích xác định các nhân tố và vai trò của các nhân tố sẽ tác động đến năng lực tự học của sinh viên đến hình thức học tập kết hợp tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hướng tới mục đích khám phá và xác định các yếu tố và vai trò của sẽ tác động đến năng lực tự học của sinh viên đối với hình thức học tập kết hợp tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.

1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu phải chỉ ra được mối quan hệ của mô hình học kết hợp với năng lực tự học của sinh viên là mối quan hệ thuận hay nghịch
Mục tiêu phải hướng đến mức độ chuyển biến theo chiều tăng hay giảm giữa mô hình học kết hợp với năng lực tự học của sinh viên.
Từ những mục tiêu đã được tìm thấy trong nội dung của bài và nhóm, đưa ra một số hàm ý về giải pháp để có thể nâng cao kết quả năng lực của sinh viên
Câu hỏi nghiên cứu
Học kết hợp có ảnh hưởng như thế nào đến khả năng tự học của sinh viên?
Bạn thường phân bố thời gian trong học kết hợp như thế nào?
Môi trường học tập ảnh hưởng đến năng lực tự học của bạn như thế nào?
Bạn có thể chia sẻ về sự thuận tiện trong việc kết hợp giữa học trực tuyến và trực tiếp?
Mức độ hỗ trợ từ giảng viên ảnh hưởng đến khả năng tự học của sinh viên khi tham gia học kết hợp như thế nào?
Bạn thường gặp phải những thách thức gì khi tham gia học tập kết hợp?
Bạn cảm thấy năng lực tự học của mình thay đổi như thế nào khi áp dụng phương pháp học kết hợp? Có sự cải thiện hay giảm sút nào không?
Bạn cảm thấy phương pháp học kết hợp có lợi thế gì so với các phương pháp học truyền thống?
Bạn có cảm thấy rằng học kết hợp giúp bạn phát triển những kỹ năng tự học mới gì?
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tự học của sinh viên đối với học tập kết hợp
Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu: Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
+ Thời gian nghiên cứu: 10/08/2024 – 16/08/2024
Khách thể nghiên cứu: Sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu mối quan hệ giữa học tập kết hợp và khả năng tự học của sinh viên giúp trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển kỹ năng tự học, và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên giáo dục, đồng thời góp phần vào việc cải tiến phương pháp giảng dạy và hỗ trợ của sinh viên
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Mô hình học kết hợp (Blended Learning) là một thuật ngữ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở các nước phát triển như Hoà Kỳ, Úc, Nhật Bản,… Ở Việt Nam trong thời hiện đại ngày nay việc dạy học đã được ngày càng phổ biến.
Hiện nay có khá nhiều định nghĩa khác nhau về học kết hợp, hiện nay có 3 định nghĩa phổ biến:
Thứ nhất: Mô hình học kết hợp là “Sự kết hợp giữa việc học trực tiếp theo phiowng pháp truyền thống và việc học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” (Graham và cộng sự, 2013, tr.4) định nghĩa này cũng được ủng hộ của các học giả Bliuc, Goodyear và Ellis (2007), Picciano (2013).
Thứ hai: Blended learning là sự kết hợp giữa hướng dẫn trực tuyến và sự hướng dẫn giáp mặt (Reay, 2001; Rooney, 2003; Sands, 2002;Ward & LaBrache, 2003; Young, 2002).
Thứ ba: Blended learning là sự kết hợp các phương pháp giảng dạy (Driscoll, 2002; House, 2002; Rosset, 2002).
Mặc dù dựa trên các cách tiếp cận khác nhau và nhiều cách hiểu khác nhau nhưng cả ba định nghĩa trên đều thống nhất mô hình học kết hợp là môt hình dạy học có sử dụng nội dung, phương pháp và cách tổ chức dạy học giữa các hình thức dạy học khác nhau.
- Năng lực tự học
- Năng lực
Năng lực là một thuộc tính quan trọng của nhân cách con người, được hfinh thành và phát triển nhờ các yếu tố sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện và phát triển, cho phép bản than được huy động, tổng hợp các kiến thứcm kỹ năng và các thuộc tính các nhân để thực hiện các mong muốn của bản thân
- Tự học
Có nhiều khác niệm khác nhau dựa trên các quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau mà tự học có nhiều khái niệm khác nhau như:
Zimmerman cho rằng: Tự học là mức độ mà mỗi cá nhân chủ động sử dụng siêu nhận thức, động lực và hành vi của bản thân trong quá trình học tập của riêng họ. Điều này có nghĩa là mỗi sinh viên tự nhận thức và thiết lập mục tiêu học tập có hiệu quả cho bản thân, sử dụng các chiến lược học tập hiệu quả để đạt được mục đích bản thân.
Theo Kesten, tự học là việc học mà người học kết hợp với những yếu tố khác có liên quan, có thể đưa ra các quyết định cần thiết để đáp ứng được nhu cầu học tập của bản thân. Kesten chỉ nhấn mạnh vào chiến lược học tập mà không chú trọng các yếu tố khác.
Candy lại cho rằng: : Tự học được hiểu là tiến trình hướng dẫn người học tự kiểm soát và tự động hóa. Tự kiểm soát là cụm từ chỉ hành động của bản thân kiểm soát bản thân để tự học được hiệu quả dưới sự hướng dẫn của giáo viên và Tự động hoá là việc mà bản thân tự học được thực hiện theo bản năng để đạt được mục đích.
Garrison lại đưa ra định nghĩa như sau: Tự học là một cách tiếp cận mà người học được thúc đẩy để chịu trách nhiệm cá nhân và kiểm soát hợp tác các quá trình nhận thức (tự giám sát) và bối cảnh (tự quản lí) trong việc xây dựng và xác nhận kết quả học tập có ý nghĩa và có giá trị. Định nghĩa này tập trung vào yếu tố tự đánh giá của vấn đề tự học.
Theo Knowles: Tự học mô tả một quá trình trong đó các cá nhân chủ động, cùng với việc có hoặc không có sự giúp đỡ của người khác, trong việc xác định nhu cầu học tập của họ, xây dựng mục tiêu học tập, xác định nguồn nhân lực và vật lực để học tập, lựa chọn và thực hiện các chiến lược học tập và đánh giá kết quả học tập một cách phù hợp. Định nghĩa của Knowles hoàn toàn thống nhất với định nghĩa của Zimmerman. Định nghĩa này đã bao gồm các hàm thành tố không thể thiếu của tự học và được nhiều nhà nghiên cứu sau này đề xuất đến, là cơ sở khởi động cho các định nghĩa khác sau này về tự học. Có thể nói rằng, nhiều định nghĩa sau đây về việc tự học luôn dựa trên định nghĩa của ông và đều cố gắng che giấu các thành tố của tự học được nêu trong định nghĩa của Knowles.
Khái niệm tự học, nghiên cứu nghiên cứu của Knowles, nhấn mạnh vào công việc cá nhân chủ động nắm quyền điều khiển tiến trình học hỏi. Từ việc xác lập mục tiêu, kế hoạch chiến lược, khai thác nguồn năng lực cho kết quả đánh giá, người học tự đảm trách nhiệm và chủ động điều chỉnh quá trình học tập của thân thể.
- Năng lực tự học
Dựa trên các khái niệm về năng lực và tự học ta có thể hiểu: Năng lực tự học phản ánh khả năng chủ động trong quá trình tiếp theo của kiến thức. Nó bao gồm các hoạt động chủ yếu như: xác định nhu cầu học tập, thiết lập mục tiêu, huy động nguồn lực, lựa chọn chiến lược học tập phù hợp, và tự đánh giá kết quả đạt được.
- Tổng quan nghiên cứu
- Khoảng trống nghiên cứu
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ CỦA MÔ HÌNH HỌC KẾT HỢP TỚI NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI


