Pháp luật về xử lý rác thải qua thực tiễn tại các khu du lịch ở tỉnh Quảng Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Nam là một tỉnh miền Trung được thiên nhiên ưu đãi với nhiều bãi biển đẹp; sở hữu 02 di sản văn hóa thế giới được Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) xếp hạng vinh danh là Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn cùng nhiều danh lam thắng cảnh khác và đang dạng sắc màu văn hóa truyền thống văn hóa dân gian phong phú v.v. Đây là tiềm năng, thế mạnh trong phát triển du lịch của tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa chất lượng sống của người dân xứ Quảng nói chung và chất lượng, thương hiệu của du lịch Quảng Nam nói riêng so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì tỉnh Quảng Nam phải phấn đấu thực hiện tốt hơn nữa pháp luật về bảo vệ môi trường (trong đó có pháp luật về xử lý rác thải). Với những lý do cơ bản trên đây, học viên lựa chọn đề tài “Pháp luật về xử lý rác thải, qua thực tiễn tại các khu du lịch ở tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu

- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu với mục đích tổng quát là đưa ra giải pháp hoàn
thiện pháp luật về xử lý rác thải và nâng cao hiệu quả thi hành tại các khu du lịch ở tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Phân tích một số vấn đề lý luận về xử lý rác thải thông qua việc tìm hiểu khái niệm, đặc điểm rác thải;
- Phân tích một số vấn đề lý luận pháp luật về xử lý rác thải như cơ sở xây dựng pháp luật về xử lý rác thải; khái niệm và đặc điểm của pháp luật về xử lý rác thải; cấu trúc của pháp luật về xử lý rác thải; các điều kiện đảm bảo thực hiện lĩnh vực pháp luật này v.v.
- Phân tích nội dung pháp luật hiện hành về xử lý rác thải từ thực tiễn các khu du lịch ở tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý rác thải và nâng cao hiệu quả thi hành tại các khu du lịch ở tỉnh Quang Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề cụ thể sau đây:
- Quan điểm, đường lối của Đảng về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Nội dung của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành về xử lý rác thải.
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý rác thải tại các khu du lịch ở tỉnh Quảng Nam.
- Pháp luật về xử lý rác thải của một số nước như Nhật Bản, Singapore, Hoa Kỳ, Pháp v.v
- Các quan điểm, trường phái lý thuyết về kinh tế, về khoa học – công nghệ, về luật học … về rác thải; xử lý rác thải nói chung và xử lý rác thải tại các khu du lịch nói riêng v.v.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật học, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu vào một số vấn đề cụ thể sau:
Một là, giới hạn về nội dung. Luận văn nghiên cứu các quy định về xử lý rác thải nói chung và rác thải tại các khu du lịch nói riêng của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Hai là, giới hạn về thời gian. Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài lấy mốc thời gian từ năm 2005 (năm ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2005) đến nay.
Ba là, giới hạn về không gian. Luận văn nghiên cứu đề tài với giới hạn về không gian là thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý rác thải tại các khu du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu của luận văn là phương pháp khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Học thuyết
Mác – Lê nin.
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: i) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu … ii) Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê,
phương pháp tổng hợp
- Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải
6. Những đóng góp mới của luận văn
Thứ nhất, luận văn hệ thống hóa, bổ sung, phát triển cơ sở lý luận và thực
tiễn của pháp luật về xử lý rác thải qua thực tiễn tại các khu du lịch ở tỉnh Quảng Nam thông qua việc phân tích một số vấn đề lý luận về rác thải.
3
Thứ hai, luận văn đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý rác thải thông qua “lăng kính” thực tiễn tại các khu du lịch ở tỉnh Quảng Nam với những thông tin, ví dụ thực tiễn minh họa.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được bố cục với 03 chương cụ thể như sau:
- Chương 1. Một số vấn đề lý luận về xử lý rác thải và pháp luật về xử lý rác thải.
- Chương 2. Thực trạng pháp luật về xử lý rác thải và thực tiễn tại các khu du lịch ở tỉnh Quảng Nam.
- Chương 3.Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý rác thải và nâng cao hiệu quả thi hành tại các khu du lịch ở tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ RÁC THẢI VÀ PHÁP LUẬT VỀ
XỬ LÝ RÁC THẢI Ở VIỆT NAM
1.1. Lý luận về rác thải và xử lý rác thải
1.1.1. Lý luận về rác thải
1.1.1.1. Khái niệm rác thải
“Rác thải” là những vật và chất mà người dùng không muốn sử dụng và thải ra. Tuy nhiên, trong một số ngữ cảnh nó có thể là không còn có lợi ích với người này nhưng lại mang lại lợi ích của người khác. Rác thải còn được gọi dưới một tên khác là “Chất thải”. Trong cuộc sống, rác thải được hình thành từ những chất không còn được sử dụng cùng với những yếu tố vật chất khác được sản sinh ra từ chúng khi chúng ta vứt bỏ. Chất thải có thể tồn tại ở thể rắn, thể khí và thể lỏng.
1.1.1.2. Khái niệm rác thải sinh hoạt
Bên cạnh các đặc điểm chung của rác thải, rác thải sinh hoạt còn có một số đặc điểm riêng cơ bản sau đây:
Một là, rác thải sinh hoạt mang đầy đủ những đặc trưng của rác thải.
Hai là, rác thải sinh hoạt tồn tại ở thể rắn hoặc tồn tại ở thể lỏng được thải ra từ quá trình sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư.
Ba là, rác thải sinh hoạt có thể gây tác động nguy hại cho môi trường và (hoặc) sức khỏe con người.
1.1.1.3. Phân loại rác thải
Thứ nhất, căn cứ theo nguồn gốc phát sinh, rác thải được chia làm các loại cụ thể sau:
Một là, rác thải sinh hoạt.
Hai là, rác thải công nghiệp.
Ba là, rác thải xây dựng.
Bốn là, rác thải y tế.
Năm là, rác thải nông nghiệp và làng nghề.
Sáu là, rác thải phóng xạ.
Thứ hai, căn cứ vào đặc tính không gian của rác thải; loại rác thải này được phân chia thành 2 loại:
Một là, rác thải sinh hoạt đô thị.
5
Hai là, rác thải sinh hoạt nông thôn.
Thứ ba, căn cứ vào đặc tính của rác thải, loại rác này được phân chia thành 2 loại:
Một là, rác thải sinh hoạt thông thường.
Hai là, rác thải sinh hoạt nguy hại.
1.1.2. Lý luận về xử lý rác thải
1.1.2.1. Khái niệm xử lý rác thải
Một là, Điều 85 Luật BVMT năm 2014 quy định: Chất thải phải được quản lý trong toàn bộ quá trình phát sinh, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy.
Hai là, theo Điều 86 Luật BVMT năm 2014: Chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng phải được phân loại.
Ba là, theo Điều 87 Luật BVMT năm 2014: Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ.
1.1.2.2. Sự cần thiết phải xử lý rác thải
Xử lý rác thải là việc làm tất yếu của mọi người ở tất cả các quốc gia trên thế giới; bởi lẽ:
Thứ nhất, hiện nay trong đời sống hàng ngày cũng như việc hoạt động sản xuất – kinh doanh, để tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cho xã hội, con người khó tránh khỏi việc phát sinh rác thải.
Thứ hai, xử lý rác thải nhằm ngăn ngừa sự ảnh hưởng đối với sức khoẻ con
người.
Thứ ba, ảnh hưởng đối với mỹ quan.
Thứ tư, ảnh hưởng đến môi trường không khí.
Thứ năm, ảnh hưởng đến nguồn nước.
Thứ sáu, ảnh hưởng tới môi trường đất.
1.1.2.3. Các biện pháp chủ yếu xử lý rác thải
i) Biện pháp khoa học – công nghệ
Xử lý rác thải nói chung và xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng không thể không sử dụng biện pháp khoa học – công nghệ; bởi lẽ: Một là, ở nước ta hiện nay, rác thải nói chung và xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng chủ yếu được xử lý thông qua việc thu gom, vận chuyển, chôn lấp. Hai là, không phải mọi loại rác thải đều bị bỏ đi và có hại đối với môi trường, con người.
6
Xử lý rác thải bằng biện pháp kinh tế được nhìn nhận dưới hai khía cạnh chủ yếu sau đây:
Một là, giữ gìn môi trường sống trong lành, sạch đẹp là trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi cá nhân trong xã hội và “mọi người cùng chung tay hành động vì môi trường”.
Hai là, áp dụng biện pháp phạt tiền đối với hành vi xả thải bừa bãi rác thải gây ô nhiễm môi trường.
iii) Biện pháp pháp lý
Xử lý rác thải bằng biện pháp này thể hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau:
- Nhà nước xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất và đồng bộ nhằm tạo khuôn khổ pháp lý cho việc quản lý, thu gom, vận chuyển, phân loại, xử lý và tái chế rác thải; ii) Nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải; iii) Nhà nước quy
định chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về xử lý rác thải do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ra v.v…
1.2. Lý luận pháp luật về xử lý rác thải
1.2.1. Khái niệm pháp luật về xử lý rác thải
Một là, pháp luật về xử lý rác thải là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành. Nó bao gồm các quy phạm pháp luật vừa mang tính pháp lý vừa mang tính kỹ thuật chuyên môn.
Hai là, pháp luật về xử lý rác thải có ảnh hưởng rộng lớn đến cộng đồng xã hội; đến từng hộ gia đình, cá nhân.
Ba là, pháp luật về xử lý rác thải bao gồm tổng hợp quy phạm pháp luật của một số đạo luật có liên quan mà trước hết là Luật BVMT năm 2014, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Đất đai năm 2013, Luật Ngân sách nhà nước, Bộ luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội v.v.
Bốn là, pháp luật về xử lý rác thải có các quy định thuộc lĩnh vực pháp luật công và các quy định thuộc lĩnh vực pháp luật tư.
1.2.2. Vai trò của pháp luật về xử lý rác thải
1.2.2.1. Pháp luật về xử lý rác thải góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường
7
Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là một khâu của tổ chức thực hiện pháp luật, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống.
1.2.2.2. Thực hiện pháp luật về xử lý rác thải góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường
Chỉ có thông qua thực hiện pháp luật về xử lý rác thải mới phát hiện được các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Tiếp đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về xử lý rác thải thông qua việc áp dụng các chế tài do pháp luật quy định.
1.2.2.3. Thực hiện pháp luật về xử lý rác thải góp phần giữa gìn và bảo vệ môi trường sống của các khu dân cư, đảm bảo thực hiện quyền con người được sống trong môi trường trong lành, sạch đẹp
Trong đời sống sinh hoạt của con người, việc phát sinh rác thải là điều khó tránh khỏi. Rác thải là những vật tồn tại ở thể rắn, thể lỏng v.v bị loại bỏ trong quá trình sinh hoạt của con người. Vấn đề đặt ra là phải ứng xử với rác thải như thế nào để mang lại lợi ích thiết thực nhất cho con người và không gây
- nhiễm môi trường. Pháp luật của các nước trên thế giới có các quy định về thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý rác thải nhằm bảo vệ môi trường sống của con người. Việt Nam cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ.
1.2.2.4. Thực hiện pháp luật về xử lý rác thải góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân, xây dựng phong cách sống văn minh, hiện đại tại các khu dân cư
Thực hiện pháp luật về xử lý rác thải góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân, xây dựng phong cách sống văn minh, hiện đại tại các khu dân cư. Bởi lẽ, thực hiện lĩnh vực pháp luật này, con người không có các hành vi xả rác thải, vứt rác thải bừa bãi; rác thải được thu gom đúng nơi quy định với các phương tiện che đậy, chuyên chở hợp lý; vận chuyển và xử lý kịp thời.
1.2.3. Các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật về xử lý rác thải
1.2.3.1. Yếu tố pháp luật
Văn bản pháp luật về xử lý rác thải phải đảm bảo các tiêu chí sau: Một là, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất.
Hai là, trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về xử lý rác thải không chỉ thuộc trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường mà còn của cả hệ thống chính trị và của cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân.
8
Ba là, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật về xử lý rác
thải.
1.2.3.2. Trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường
Trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường là một trong những yếu tố quyết định bảo đảm thi hành pháp luật về xử lý rác thải đạt hiệu quả cao.
1.2.3.3. Ý thức pháp luật của các chủ thể trong thực hiện pháp luật về xử lý rác thải
- thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của các chủ thể và thái độ của họ đối với các quy định của pháp luật. Pháp luật về xử lý rác thải được thi hành tốt hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó ý thức pháp luật của các chủ thể là yếu tố chủ quan có ý nghĩa rất quan trọng. Các chủ thể trong thực hiện pháp luật về xử lý rác thải bao gồm: các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền, doanh nghiệp, công ty vệ sinh môi trường, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân …
1.2.3.4. Các đảm bảo về nguồn vốn, cơ sở vật chất
Thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật về xử lý rác thải nói riêng đòi hỏi phải có những chi phí nhất định. Để có thể xử lý triệt để và tái chế rác thải đòi hỏi Nhà nước phải đầu tư một nguồn vốn rất lớn để nhập hoặc mua các thiết bị, máy móc hiện đại phục vụ cho việc xử lý rác thải.
1.2.4. Thực hiện pháp luật về xử xử lý rác thải của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.2.4.1. Thực hiện pháp luật về xử xử lý rác thải của một số quốc gia trên thế giới
California: Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau. Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế, rác được thu gom 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng.
Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ, giấy, vải, thủy tinh, rác kim loại.
9
Mỹ: Rác thải sinh hoạt các loại ở Mỹ có thể phân loại và xử lý chiếm tỉ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thủy tinh, gốm, sứ chiếm khoảng 20%).
Pháp: Ở nước này quy định phải đựng các vật liệu, nguyên liệu hay nguồn năng lượng nhất định để tạo điều kiện dễ dàng cho việc khôi phục lại các vật liệu thành phần.
Singapore: Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon. Các chất thải có thể tái chế được, được đưa về các nhà máy tái chế còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác để thiêu hủy.
1.2.4.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về trong việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý rác thải
Qua nghiên cứu, tìm hiểu về mô hình quản lý chất thải rắn tiếp cận dưới khía cạnh pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore và Pháp … có thể rút ra một số bài học mang tính chất tham khảo, gợi mở cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về xử lý rác thải và nâng cao hiệu quả thực hiện.
Kết luận Chương 1
- Rác thải là những chất được thải, loại ra từ quá trình sinh hoạt của con người. Nó cần phải được xử lý một cách kịp thời, hợp lý và hiệu quả; bởi nếu không rác thải sẽ trở thành nguồn phát sinh các vi khuẩn độc hại, nơi cư trú của một số loài động vật mang mầm bệnh cho con người như gián, chuột, muỗi v.v.
- Xử lý rác thải là phản ứng, hành động của con người; là trách nhiệm của con người đối với những chất thải do mình gây ra trong quá trình sinh tồn
đối với môi trường.
- Thực hiện pháp luật về xử lý rác thải là hoạt động có chủ đích, có ý thức của con người trong việc đảm bảo cho các quy định về xử lý rác thải được thực thi trên thực tế.
- Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ thì việc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm từ pháp luật về xử lý rác thải và thực tiễn pháp lý của các nước trên thế giới là cần thiết.
10
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ RÁC THẢI VÀ THỰC TIỄN
THI HÀNH TÁC CÁC KHU DU LỊCH Ở TỈNH QUẢNG NAM
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ RÁC THẢI, QUA THỰC TIỄN TẠI CÁC KHU DU LỊCH Ở TỈNH QUẢNG NAM


