Nghiên cứu đa dạng thành phần loài một số nhóm động vật khai thác ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn
Việt Nam, với 3.260 km đường bờ biển chạy dọc theo các miền của đất nước, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, cùng với sự đa dạng về địa hình, sự phong phú về sinh cảnh đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái (HST). Điển hình cho sự đa dạng đó là hệ thống các sông ngòi, ao hồ, đầm phá với số lượng và diện tích khá lớn. Vì vậy, Việt Nam là một trong 10 nước có mức độ đa dạng sinh học (ĐDSH) cao nhất (chiếm 6,5% số loài) trên thế giới.
Ở Quảng Nam, Thu Bồn là sông lớn của khu vực Trung và Nam Trung Bộ, với hệ thống các nhánh sông chằng chịt ở hạ lưu và chảy ra biển Cửa Đại (Hội An). Sông có độ dốc lớn, hàng năm có lũ xuất hiện, gây ngập lụt và xói lở ở nhiều nơi. Lưu lượng nước khá lớn, dòng chảy trung bình vào mùa mưa có thể đến 850m3/giây. Do vậy, phần hạ lưu của sông đã tạo nên khu vực đất ngập nước rộng lớn quan trọng và đáng chú ý nhất là khu vực các xã Cẩm Thanh, Cẩm Kim, Duy Hải, Duy Nghĩa và vùng phụ cận với 1.200 ha diện tích mặt nước.
Vùng hạ lưu sông Thu Bồn là nơi giao hội của các dòng vật chất, bao gồm cả các loài sinh vật có nguồn gốc lục địa và biển, là cửa ngõ cho các loài sinh vật biển xâm nhập vào các thủy vực nước ngọt. Ở đây, điều kiện môi trường luôn biến động, song vẫn tồn tại những thang bậc độ muối khác nhau, từ nhạt đến mặn, rất thích hợp cho các loài động vật rộng muối từ nước ngọt hay từ biển xâm nhập vào các phần khác nhau trong phạm vi vùng cửa sông để kiếm ăn nên mức độ đa dạng sinh học ở đây rất cao như cá, tôm, cua, hến… là nguồn cung cấp prôtêin quan trọng cho người dân trong vùng và là sinh kế chính của cộng đồng ven biển.
Tuy nhiên, ngày nay do sức ép về dân số, nhu cầu của từng ngành, từng bộ phận kinh tế dẫn đến vấn đề khai thác quá mức, thiếu sự quy hoạch, sử dụng các ngư cụ hủy diệt nên suy giảm đa dạng sinh học diễn ra rất nhanh, đặc biệt là các loài kinh tế.
Từ thực tế trên, nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố của động vật khai thác ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn nhằm góp phần giúp các nhà quản lí tham khảo, làm cơ sở cho việc xây dựng phương án khai thác hợp lý, quy hoạch phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học là rất cần thiết.
Với tính cấp thiết đó, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài một số nhóm động vật khai thác ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam”.
– Xác định được danh sách thành phần loài và đặc điểm phân bố một số nhóm động vật khai thác vùng hạ lưu sông Thu Bồn.
– Hiểu được tình hình khai thác và tiềm năng phát triển nguồn lợi thủy sản để sử dụng bền vững các nhóm động vật này.
– Đề xuất được các nhóm giải pháp khả thi về quản lý và sử dụng nguồn lợi thủy sản theo hướng bền vững.
3.1. Nghiên cứu thành phần loài
Lập danh sách thành phần loài; Đặc điểm cấu trúc, tính đặc trưng về đa dạng sinh học; Đánh giá các loài kinh tế, loài quý hiếm động vật khai thác ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam.
Phân tích một số đặc điểm phân bố theo sự xâm nhập mặn các thủy triều, theo vùng nước và theo mùa của các loài động vật khai thác tại vùng nghiên cứu.
Đặc điểm phân bố các loài động vật khai thác có giá trị kinh tế.
3.3. Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp khả thi phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và bàn luận
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo và phụ lục
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU ĐỘNG VẬT KHAI THÁC
1.1.1. Tình hình nghiên cứu động vật khai thác ở Việt Nam
1.1.2. Tình hình nghiên cứu động vật khai thác ở Quảng Nam
1.2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
b. Khí hậu
c. Thủy văn
d. Độ mặn
1.2.2. Tình hình kinh tế – xã hội
a. Dân số
b. Tình hình kinh tế
c. Giáo dục
d. Y tế
ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ
Các loài cá xương, giáp xác, động vật thân mềm hai mảnh vỏ khai thác được ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam.
Hoạt động khai thác trong vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Quảng Nam
2.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Từ tháng 10/2013 đến cuối tháng 9/2014.
2.3. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Hạ lưu sông Thu Bồn từ Câu Lâu – huyện Điện Bàn đến Cửa Đại – thành phố Hội An, từ Cửa Đại – thành phố Hội An đến Duy Vinh – huyện Duy Xuyên.
2.4.1. Nghiên cứu ngoài thực địa
* Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
– Trực tiếp đánh bắt với ngư dân.
– Mua mẫu của ngư dân ở các địa điểm nghiên cứu.
– Đặt các bình có pha sẵn hóa chất để nhờ các hộ ngư dân khai thác thủy sản trên sông thu thập thường xuyên trong thời gian nghiên cứu.
* Xử lý và bảo quản mẫu
Xử lý mẫu bằng formol (4%) và chụp ảnh khi đang còn tươi.
* Phương pháp RRA (Rapid Rural Apprisal) – Điều tra nhanh nông thôn.
Điều tra phỏng vấn những thông tin liên quan đến các loài động vật khai thác vùng nghiên cứu như: tên gọi địa phương, số lượng cá thể nhiều hay ít, phân bố theo mùa, kích thước, khối lượng tối đa mà họ gặp, phương tiện đánh bắt, sự biến động các loài động vật khai thác trước đây, bây giờ, giá trị kinh tế,….
2.4.2. Phương pháp xử lý trong phòng thí nghiệm
– Đo các chỉ số về hình thái (mm) và cân khối lượng (g) của các loài động vật khai thác.
– Định loại tên khoa học của các loài động vật khai thác được.
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu, sơ đồ, biểu đồ

CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. THÀNH PHẦN LOÀI ÐỘNG VẬT KHAI THÁC VÙNG HẠ LƯU SÔNG THU BỒN
3.1.1. Danh sách thành phần loài động vật khai thác
Trong quá trình nghiên cứu, đã lập được danh sách thành phần loài động vật khai thác ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn bao gồm: 114 loài thuộc 79 giống, 50 họ, 18 bộ nằm trong 3 lớp và 3 ngành khác nhau (bảng 3.1).
Bảng 3.1. Danh sách thành phần loài động vật khai thác
| TT | Tên Việt Nam | Tên khoa học | Tư liệu về loài | ||
| (1) | (2) | (3) | (4) | (5) | (6) |
| A | NGÀNH CÓ DÂY SỐNG | CHORDATA | |||
| (I) | LỚP CÁ XƯƠNG | OSTEICHTHYES | |||
| I | BỘ CÁ CHÁO BIỂN | ELOPIFORMES | |||
| (1) | Họ cá Cháo biển | Elopidae | |||
| 1 | Cá Cháo lớn | Megalops cyprinoides (Broussonet, 1872) | M,K | 150 | L,R |
| II | BỘ CÁ CHÌNH | ANGUILLIFORMES | |||
| (2) | Họ cá Lạc | Muraenesocidae | |||
| 2 | Cá Lạc | Congresox talabon (Cuvier, 1829) | K | 400 | L,R |
| 3 | Cá Tựa lạc | Congresox talabonoides (Bleeker, 1853) | K | 370 | L,R |
| III | BỘ CÁ TRÍCH | CLUPEIFORMES | |||
| (3) | Họ cá Trích | Clupeidae | |||
| 4 | Cá Mòi cờ chấm (BN) | Konosirus punctatus (Schlegel, 1846) | K | 100 | L,R |
| 5 | Cá Mòi mõm tròn(BN) | Nematalosus nasus (Bloch, 1795) | K | 130 | L,R |
| 6 | Cá Trích xương | Sardinella gibbosa Bleeker, 1849 | K | 150 | L,R |
| (4) | Họ cá Trỏng | Engraulidae | |||
| 7 | Cá Cơm thường | Stolephorus commersonii (Lacépède, 1803) | K | 130 | L,R |
| 8 | Cá Cơm sông* | Stolephorus tri (Bleeker, 1852) | M,K | 120 | L,R |
| 9 | Cá Lẹp hai quai | Thryssa hamiltonni (Gay, 1830) | M,K | 140 | L,R |
| IV | BỘ CÁ MĂNG SỮA | GONORHYCHIFORMES | |||
| (5) | Họ cá Măng | Chanidae | |||
| 10 | Cá Măng sữa(BN) | Chanos chanos (Forsskal, 1775) | M,K | 500 | L,Đ |
| V | BỘ CÁ CHÉP | CYPRINIFORMES | |||
| (6) | Họ cá Chép | Cyprinidae | |||
| 11 | Cá Dầy | Cyprinus centralus Nguyen & Mai, 1994 | M | 80 | L,R |
| 12 | Cá Rưng | Carassioides cantonensis (Heincke, 1892) | M | 90 | L,R |
| VI | BỘ CÁ NHEO | SILURIFORMES | |||
| (7) | Họ Cá Ngạnh | Bagridae | |||
| 13 | Cá Ngạnh | Lieocassis hainanensis (Tchang, 1935) | M,K | 100 | L,R |
| (8) | Họ cá Nheo | Siluridae | |||
| 14 | Cá Nheo | Parasilurus asostus Linnaeus, 1758 | M,K | 110 | L,R |
| (9) | Họ Cá Úc | Arridae | |||
| 15 | Cá Úc trung hoa | Arius sinensis (Cantor, 1842) | M | 150 | L,Đ |
| VII | BỘ CÁ SUỐT | ANTHERINIFORMES | |||
| (10) | Họ cá Suốt | Atherinidae | |||
| 16 | Cá Suốt | Atherina bleekerii (Gunther, 1861) | K | 110 | L,Đ |
| VIII | BỘ CÁ NHÁI | BELONIFORMES | |||
| (11) | Họ cá Lìm Kìm | Hemirhamphidae | |||
| 17 | Cá Kìm bắc | Hyporhamphus limbatus (Valenciennes, 1847) | K | 250 | L,Đ |
| 18 | Cá Kìm môi dài | Hyporhamphus georgii (Valenciennes, 1846) | K,M | 240 | L,Đ |
| 19 | Cá Kìm sông | Hyporhamphus unifasciatus (Ranzat, 1824) | K,M | 220 | L,Đ |
| (12) | Họ cá Nhái | Belonidae | |||
| 20 | Cá Nhái xanh | Strongylurus leiurus (Bleeker, 1850) | K | 240 | L,Đ |
| 21 | Cá Nhái đuôi chấm | Strongylurus strongylura (Van Hasselt, 1823) | K | 220 | L,Đ |
| 22 | Cá Nhoái mõm nhọn | Strongylurus anastomella (Valenciennes, 1846) | K | 350 | L,Đ |
| IX | BỘ CÁ NGỰA XƯƠNG | SYNGNATHIFORMES | |||
| (13) | Họ cá Mõm ống | Fistulariidae | |||
| 23 | Cá Lao có vẩy | Fistularia serrata Cuvier, 1817 | K | 250 | L,R |
| X | BỘ CÁ ĐỐI | MUGILIFORMES | |||
| (14) | Họ cá Đối | Mugilidae | |||
| 24 | Cá Đối cồi | Mugil anpinensis (Oshima, 1922) | M,K | 450 | L,Đ |
| 25 | Cá Đối lá* | Mugil kelaartii (Gunther, 1861) | M,K | 170 | L,Đ |
| 26 | Cá Đối mục* | Mugil cephalus (Linnaeus, 1758) | M,K | 150 | L,R |
| 27 | Cá Đối đuôi bằng | Liza vaigiensis (Quoy & Gaimard, 1852) | K | 150 | L,Đ |
| XI | BỘ CÁ MÙ LÀN | SCORPAENIFORMES | |||
| (15) | Họ cá Chai | Platycephalidae | |||
| 28 | Cá Chai | Platycephalus indicus (Linnaeus, 1758) | M,K | 170 | L,R |
| XII | BỘ CÁ VƯỢC | PERCIFORMES | |||
| (16) | Họ cá Căng | Teraponidae | |||
| 29 | Cá Ong căng* | Terapon jarbua (Forsskal, 1775) | M,K | 130 | L,Lo |
| 30 | Cá Căng mõm nhọn | Terapon oxyrhynchus (Temminck & Schlegel, 1846) | M,K | 160 | L,Lo |
| 31 | Cá Căng bốn sọc* | Pelates quadrilineatus (Bloch, 1790) | M,K | 120 | L,Lo |
| 32 | Cá Căng sáu sọc | Pelates sexlineatus (Quoy & Gaimard, 1842) | M,K | 140 | L,Lo |
| (17) | Họ cá Sơn | Apogonidae | |||
| 33 | Cá Sơn trắng | Apogon lineatus (Temminck & Schlegel, 1842) | M,K | 50 | L,Đ |
| 34 | Cá Sơn | Ambassis buruennsis (Bleeker, 1856) | M,K | 70 | L,Đ |
| (18) | Họ cá Nhồng | Sphyraenidae | |||
| 35 | Cá Nhồng tù | Shyraena obtusata (Cuvier, 1829) | M,K | 160 | L,R |
| 36 | Cá Nhồng lớn | Shyraena barrcuda (Walbaum, 1792) | M,K | 180 | L,R |
| (20) | Họ cá Khế | Carangidae | |||
| 37 | Cá Khế | Carangoides malabaricus (Cuvier & Valenciennes, 1833) | M | 140 | L,Đ |
| 38 | Cá Hiếu | Carangoides uii (Wakiya, 1924) | M | 100 | L,Đ |
| 39 | Cá Háo miệng thấp | Caranx bucculentus (Alleyne & Macleay, 1877) | M | 130 | L,Đ |
| 40 | Cá Khế vây vàng* | Caranx ignobilis (Forsskal, 1775) | M | 130 | L,Đ |
| 41 | Cá Bao áo | Atropus atropus (Bloch & Schneider, 1801) | M,K | 140 | L,Đ |
| 42 | Cá Ông lão | Alectis indicus (Ruppell, 1830) | M | 170 | L,Đ |
| (21) | Họ cá Liệt | Leiognathidae | |||
| 43 | Cá Liệt chấm lưng | Leiognathus decorus (Valenciennes, 1835) | M,K | 90 | L,Đ |
| 44 | Cá Liệt lớn* | Leiognathus equulus (Forsskal, 1775) | M,K | 100 | L,Đ |
| 45 | Cá Liệt | Leiognathus elongatus (Gunther, 1874) | M,K | 70 | L,Đ |
| 46 | Cá Liệt vân lưng | Secutor ruconius (Hamilton, 1822) | M,K | 80 | L,Đ |
| (22) | Họ cá Khiên | Drepanidae | |||
| 47 | Cá Khiên chấm | Drepane punctatus (Linnaeus, 1758) | K | 150 | L,Đ |
| (23) | Họ cá Chim | Monodactylidae | |||
| 48 | Cá Chim trắng mắt to | Monodactylus argenteus (Linnaeus, 1758) | K | 170 | L,R |
| (24) | Họ cá Rô biển | Pomacentridae | |||
| 49 | Cá Rô biển | Pomacentrus nigricans (Lacépède, 1801) | M | 150 | L,R |
| (25) | Họ cá Bống đen | Eleotridae | |||
| 50 | Cá Bống cấu | Butis butis (Hamilton, 1822) | M,K | 170 | L,Lo |
| 51 | Cá Bống mọi | Eleotris fuscus (Bloch & Schneider, 1801) | M,K | 160 | L,Lo |
| 52 | Cá Bống đen lớn | Eleotris melanosomus (Bleeker, 1852) | M,K | 130 | L,Lo |
| 53 | Cá Bống tượng | Oxyeleotris marmoratus (Bleeker, 1852) | M,K | 150 | L,Lo |
| (26) | Họ cá Bống trắng | Gobiidae | |||
| 54 | Cá Bống cát* | Glossoglobius aureus (Akihito & Meguru, 1975) | M,K | 110 | L,Lo |
| 55 | Cá Bống cát tối | Glossoglobius giuris (Hamilton, 1822) | M,K | 100 | L,Lo |
| 56 | Cá Bống mấu đai | Stenogobius genivittatus (Cuvier & Valenciennes, 1837) | M,K | 90 | L,Lo |
| 57 | Cá Bống trụ dài | Rhiogobius baliuroides (Bleeker, 1849) | M,K | 120 | L,Lo |
| 58 | Cá Bống chấm thân | Arcygobius baliurus (Valenciennes, 1837) | M,K | 100 | L,Lo |
| 59 | Cá Bống thệ | Oxyurichthys tentacularis (Cuvier & Valenciennes, 1837) | M,K | 110 | L,Lo |
| (27) | Họ cá Rô | Anabantidae | |||
| 60 | Cá Rô đồng | Anabas testudineus (Bloch, 1793) | M | 100 | L,R |
| (28) | Họ cá Quả | Channidae | |||
| 61 | Cá Quả | Channa striata (Bloch, 1793) | M,K | 220 | L,R |
| (29) | Họ cá Rô phi | Cichlidae | |||
| 62 | Cá Rô phi vằn* | Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758) | M | 130 | L,R |
| (30) | Họ cá Móm | Gerridae | |||
| 63 | Cá Móm gai ngắn | Gerres lucidus (Cuvier, 1830) | M,K | 100 | L,Đ |
| 64 | Cá Móm gai dài* | Gerres filamentosus (Cuvier, 1824) | M,K | 120 | L,Đ |
| 65 | Cá Móm chỉ bạc | Gerres oyena (Forsskal, 1775) | M,K | 100 | L,Đ |
| 66 | Cá Móm nhật | Gerreomorpha japonicus (Bleeker, 1854) | M,K | 80 | L,Đ |
| (31) | Họ cá Dìa | Siganidae | |||
| 67 | Cá Dìa tro (Cá Kình) | Siganus fuscescens (Houttuyn, 1782) | K | 140 | L,Lo |
| 68 | Cá Dìa công* | Siganus guttatus (Bloch, 1787) | 160 | L,Lo | |
| 69 | Cá Dìa cam | Siganus canaliculatus (Park, 1797) | K | 150 | L,Lo |
| (32) | Họ cá Chẽm | Centropomidae | |||
| 70 | Cá Chẽm | Lates calcarifer (Bloch, 1790) | M,K | 240 | L,R |
| (33) | Họ Cá Mú | Serranidae | |||
| 71 | Cá Mú cỏ | Epinephelus moara (Temminck & Schlegel, 1842) | M,K | 220 | L,Lo |
| 72 | Cá Mú sao | Epinephelus fario (Thunberg, 1793) | K | 240 | L,Lo |
| 73 | Cá Mú | Epinephelus coioides (Hamilton, 1822) | K | 250 | L,Lo |
| (34) | Họ cá Hồng | Lutjanidae | |||
| 74 | Cá Hồng bạc* | Lutjanus argentimaculatus (Forsskal, 1775) | M,K | 180 | L,Đ |
| 75 | Cá Hồng chấm* | Lutjanus jorhnii (Bloch, 1792) | M,K | 200 | L,Đ |
| (35) | Họ cá Sạo | Pomadasyidae | |||
| 76 | Cá Sạo bạc | Pomadasys argenteus (Forsskal, 1775) | K | 130 | L,R |
| 77 | Cá Sạo chấm | Pomadasys maculatus (Bloch, 1797) | K | 150 | L,R |
| 78 | Cá Kẽm hoa | Plectorhynchus pictus (Thunberg, 1792) | K | 140 | L,R |
| (36) | Họ cá Tráp | Acanthopagridae | |||
| 79 | Cá Tráp vây vàng | Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782) | K | 140 | L,R |
| 80 | Cá Hanh đen | Rhabdosargus sarba (Forsskal, 1775) | K | 100 | L,R |
| (37) | Họ cá Đù | Sciaenidae | |||
| 81 | Cá Đù bạc | Agyrosomus argentatus (Houttuyn, 1782) | K | 200 | L |
| 82 | Cá Đù xanh | Nibea coibor (Hamilton, 1822) | K | 180 | L |
| 83 | Cá Sửa | Nibea soldado (Lacépède, 1802) | K | 200 | L |
| (38) | Họ cá Đục | Sillaginidae | |||
| 84 | Cá Đục chấm | Sillago aeolus Jardan & Evermann, 1902 | M,K | 120 | L,R |
| 85 | Cá Đục bạc* | Sillago sihama (Forsskal, 1775) | M,K | 10 | L,R |
| (39) | Họ cá Nầu | Scatophagidae | |||
| 86 | Cá Nâu | Scatophagus argus (Linnaeus, 1785) | K | 150 | L,Lo |
| (40) | Họ cá Vược cát | Lateolabracidae | |||
| 87 | Cá Vược cát | Lateolabrax japonicus (Cuvier, 1828) | M,K | 300 | L,R |
| XIII | BỘ CÁ BƠN | PLEURONECTIFORMES | |||
| (41) | Họ cá Bơn Vĩ | Bothidae | |||
| 88 | Cá Bơn vĩ chấm thường | Pseudorhombus neglectus (Bleeker, 1866) | K | 70 | L,Đ |
| 89 | Cá Bơn vĩ | Pseudorhombus sinensis (Lacépède, 1802) | K | 80 | L,Đ |
| (42) | Họ cá Bơn | Soleidae | |||
| 90 | Cá Bơn lưỡi mèo | Brachirus harmandi (Sauvage, 1878) | K | 120 | L,Đ |
| 91 | Cá Bơn trứng | Solea ovata (Richardson, 1846) | K | 60 | L,Đ |
| (43) | Họ cá Bơn cát | Cynoglossidae | |||
| 92 | Cá Bơn lưỡi trâu | Cynoglossus bilineatus (Lacépède, 1802) | K | 120 | L,Đ |
| 93 | Cá Bơn điểm | Cynoglossus puncticeps (Richardson, 1846) | K | 130 | L,Đ |
| 94 | Cá Bơn lưỡi | Cynoglossus cynoglossus (Hamilton, 1822) | K | 140 | L,Đ |
| XIV | BỘ CÁ NÓC | TETRAODONTIFORMES | |||
| (44) | Họ Cá Nóc | Tetraodontidae | |||
| 95 | Cá Nóc bầu | Monotretus cutcutia (Hamilton, 1822) | K | 60 | L,Lo |
| 96 | Cá Nóc một mũi răng rùa | Tetrodon ocellatus (Hamilton, 1822) | K | 70 | L,Lo |
| 97 | Cá Nóc chấm | Takifugu ocellatus (Osbeck, 1757) | K | 60 | L,Lo |
| (45) | Họ cá Nóc ba gai | Triacanthidae | |||
| 98 | Cá Nóc ba gai | Triacanthus brevirostris (Temminck & Schlegel, 1850) | K | 50 | L,Lo |
| B | NGÀNH CHÂN KHỚP | ARTHROPODA | |||
| (II) | LỚP GIÁP XÁC | CRUSTACEA | |||
| XV | BỘ MƯỜI CHÂN | DECAPODA | |||
| (46) | Họ cua bơi | Portunidae | |||
| 99 | Cua xanh | Scylla serrata Forsskal, 1755 | M,K | 150 | L,Lo,Đ |
| 100 | Ghẹ ba chấm | Portunus sanguinolentus Herbst, 1783 | M,K | 140 | L,Lo,Đ |
| 101 | Ghẹ xanh, ghẹ hoa* | Portunus pelagicus Linnaeus, 1758 | M,K | 160 | L,Lo,Đ |
| 102 | Ghẹ cát, ghẹ đốm | Portunus trituberculatus Mier, 1876 | M,K | 150 | L,Lo,Đ |
| 103 | Ghẹ đỏ, ghẹ chữ thập | Charybdis feriata Linnaeus, 1758 | M,K | 70 | L,Lo |
| (47) | Họ Tôm he | Penaeidae | |||
| 104 | Tôm bạc sông* | Penaeus merguiensis (Man, 1888) | M,K | 120 | L,Lo |
| 105 | Tôm sú* | Penaeus monodon (Fabricius, 1798) | M,K | 130 | L,Lo |
| 106 | Tôm rằn* | Penaeus semisulcatus (Haan, 1850) | M,K | 70 | L,Lo |
| 107 | Tôm càng | Macrobrachium nipponensis (De Haan, 1849) | M,K | 60 | L,Lo |
| 108 | Tôm đất* | Metapenaeus ensis (Haan,1850) | M,K | 100 | L,Lo |
| 109 | Tôm sắt rằn | Parapenaeopsis cultrirostris (Alcock, 1906) | M,K | 100 | L,Lo |
| C | NGÀNH THÂN MỀM | MOLLUSCA | |||
| (III) | LỚP HAI MẢNH VỎ | BIVALVIA | |||
| XVI | BỘ VẸM | MYTILOIDA | |||
| (48) | Họ vẹm | Mytilidae | |||
| 110 | Vẹm xanh | Perna viridis (Linnaeus, 1758) | K | 30 | Xúc tay |
| XVII | BỘ HÀU | OSTREOIDA | |||
| (49) | Họ hàu | Ostreidae | |||
| 111 | Hàu lá | Saccostrea cuculata (Born, 1778) | M,K | 140 | Xúc tay |
| (50) | Họ điệp cánh | Anomiidae | |||
| 112 | Điệp lá | Enigmonia aenigmatica (Holten, 1803) | M,K | 40 | Xúc tay |
| XVIII | BỘ HẾN | VENEROIDA | |||
| (51) | Họ Hến | Corbiculidae | |||
| 113 | Hến* | Corbicula lamarckiana (Gmelin, 1791) | M,K | 20 | Cào |
| 114 | Vọp | Gelonia coaxans (Gmelin, 1781) | M,K | 40 | Cào |
Ghi chú: * Các loài kinh tế (BN) Các loài quý hiếm
(1) Số thứ tự (4) Mùa khai thác
(2) Tên Việt Nam (5) Kích thước khai thác (mm)
(3) Tên khoa học (6) Ngư cụ khai thác
K: Mùa khô M: Mùa mưa
L: Lưới Lo: Lờ trung quốc
R: Rớ Đ: Đáy
3.1.2. Cấu trúc thành phần loài
Vùng hạ lưu sông Thu Bồn có sự giao thoa giữa hai dòng nước ngọt và mặn nên cấu trúc thành phần loài động vật sống ở đây thể hiện rất rõ về tính đa dạng trong các bậc taxon, cấu trúc thành phần loài sinh vật được sắp xếp trong giống, họ, bộ tạo nên tính đặc trưng riêng (bảng 3.2).
Bảng 3.2. Cấu trúc thành phần loài động vật khai thác
| TT | Tên Bộ động vật khai thác | Họ | Giống | Loài | |||
| Số lượng | % | Số lượng | % | Số lượng | % | ||
| 1 | Bộ cá Cháo biển (Elopiformes) | 1 | 2,0 | 1 | 1,27 | 1 | 0, 88 |
| 2 | Bộ cá Chình (Anguilliformes) | 1 | 2,0 | 1 | 1,27 | 2 | 1,75 |
| 3 | Bộ cá Trích(Clupeiformes) | 2 | 4,0 | 5 | 6,30 | 6 | 5,26 |
| 4 | Bộ cá Măng sữa (Gonorhychiformes) | 1 | 2,0 | 1 | 1,27 | 1 | 0,88 |
| 5 | Bộ cá Chép (Cypriniformes) | 1 | 2,0 | 2 | 2,53 | 2 | 1,75 |
| 6 | Bộ cá Nheo (Siluriformes) | 3 | 6,0 | 3 | 3,80 | 3 | 2,63 |
| 7 | Bộ cá Suốt (Antheriniformes) | 1 | 2,0 | 1 | 1,27 | 1 | 0,88 |
| 8 | Bộ cá Nhái (Beloniformes) | 2 | 4,0 | 2 | 2,53 | 6 | 5,26 |
| 9 | Bộ cá Ngựa xương (Syngnathiformes) | 1 | 2,0 | 1 | 1,27 | 1 | 0,88 |
| 10 | Bộ cá Đối (Mugiliformes) | 1 | 2,0 | 2 | 2,53 | 4 | 3,51 |
| 11 | Bộ cá Mù làn (Scorpaeniformes) | 1 | 2,0 | 1 | 1,27 | 1 | 0,88 |
| 12 | Bộ cá Vược (Perciformes) | 24 | 48,0 | 39 | 49,37 | 59 | 51,76 |
| 13 | Bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) | 3 | 6,0 | 4 | 5,06 | 7 | 6,14 |
| 14 | Bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) | 2 | 4,0 | 4 | 5,06 | 4 | 3,51 |
| 15 | Bộ Mười chân (Decapoda) | 2 | 4,0 | 7 | 8,87 | 11 | 9,65 |
| 16 | Bộ Vẹm (Mytiloida) | 1 | 2,0 | 1 | 1,27 | 1 | 0,88 |
| 17 | Bộ Hàu (Ostreoida) | 2 | 4,0 | 2 | 2,53 | 2 | 1,75 |
| 18 | Bộ Hến (Veneroida) | 1 | 2,0 | 2 | 2,53 | 2 | 1,75 |
| Tổng | 50 | 100 | 79 | 100 | 114 | 100 | |
Hình 3.1. Tỷ lệ (%) các họ, giống và loài trong thành phần động vật khai thác
Từ bảng 3.2 và hình 3.1 ta có thể nhận xét sự đa dạng các taxon động vật khai thác ở vùng hạ lưu sông thu Bồn như sau:
Về taxon bậc họ, trong tổng số 50 họ, đa dạng nhất là bộ cá Vược (Perciformes) với 24 họ chiếm 48,0%. Tiếp đến là bộ cá Nheo (Siluriformes) và bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) đều có 3 họ chiếm 6,0%; các bộ còn lại có 1 hoặc 2 họ, chiếm tỉ lệ thấp (hình 3.1).
Về taxon bậc giống, đa dạng nhất cũng là bộ cá Vược (Perciformes) với 39 giống chiếm 49,37% tổng số giống. Tiếp đến là bộ Mười chân (Decapoda) có 7 giống chiếm 8,87%; bộ cá Trích (Clupeiformes) có 5 giống chiếm 6,30%; bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) và bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) mỗi bộ có 4 giống, chiếm 5,06%; bộ cá Nheo (Siluriformes) có 3 giống chiếm 3,80%; các bộ còn lại chỉ có 1 hoặc 2 giống (hình 3.1).
Về taxon bậc loài, phong phú nhất là bộ cá Vược (Perciformes) có 59 loài chiếm 51,76% tổng số loài. Tiếp đến là bộ Mười chân (Decapoda) có 11 loài chiếm 9,65 %; bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) có 7 loài chiếm 6,14%; bộ cá Trích (Clupeiformes) và bộ cá Nhái (Beloniformes) đều có 6 loài chiếm 5,26%; bộ cá Đối (Mugiliformes) và bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) mỗi bộ có 4 loài chiếm 3,51%; các bộ còn lại số loài không nhiều (hình 3.1).
Thành phần các taxon bậc loài, bậc giống và họ đông của bộ cá Vược (Perciformes) chứng tỏ sự mặn hóa của vùng hạ lưu sông Thu Bồn. Phần lớn cá đều có nguồn gốc từ biển.
3.1.3. Các loài động vật có giá trị kinh tế
Theo quan niệm truyền thống, loài động vật khai thác kinh tế là những loài vừa cho sản lượng cao, vừa có chất lượng tốt được nhiều người ưa chuộng, khai thác phục vụ cho nhiều mục đích của đời sống.
Trong tổng số 114 loài động vật khai thác được ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, đã thống kê được 20 loài (17,54%) có giá trị kinh tế thuộc 16 giống, nằm trong 14 họ của 4 bộ khác nhau. Các loài này được ngư dân sống ven vùng hạ lưu sông khai thác quanh năm (bảng 3.3).
Bảng 3.3. Các loài kinh tế ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn
| TT | Tên Việt Nam | Tên khoa học |
| 1 | Cá Cơm sông | Stolephorus tri (Bleeker, 1852) |
| 2 | Cá Đối lá | Mugil kelaartii (Gunther, 1861) |
| 3 | Cá Đối mục | Mugil cephalus (Linnaeus, 1758) |
| 4 | Cá Ong căng | Terapon jarbua (Forsskal, 1775) |
| 5 | Cá Căng bốn sọc | Pelates quadrilineatus (Bloch, 1790) |
| 6 | Cá Khế vây vàng | Caranx ignobilis (Forsskal, 1775) |
| 7 | Cá Liệt lớn | Leiognathus equulus (Forsskal, 1775) |
| 8 | Cá Bống cát | Glossoglobius aureus (Akihito & Meguru, 1975) |
| 9 | Cá Rô phi vằn | Oreochromis niloticus(Linnaeus, 1758) |
| 10 | Cá Móm gai dài | Gerres filamentosus (Cuvier, 1824) |
| 11 | Cá Dìa công | Siganus guttatus (Bloch, 1787) |
| 12 | Cá Hồng bạc | Lutjanus argentimaculatus (Forsskal, 1775) |
| 13 | Cá Hồng chấm | Lutjanus jorhnii (Bloch, 1792) |
| 14 | Cá Đục bạc | Sillago sihama (Forsskal, 1775) |
| 15 | Ghẹ xanh, ghẹ hoa | Portunus pelagicus (Linnaeus, 1758) |
| 16 | Tôm bạc sông | Penaeus merguiensis (Man, 1888) |
| 17 | Tôm sú | Penaeus monodon (Fabricius, 1798) |
| 18 | Tôm rằn | Penaeus semisulcatus (Haan, 1850) |
| 19 | Tôm đất | Metapenaeus ensis (Haan,1850) |
| 20 | Hến | Corbicula lamarckiana (Gmelin, 1791) |
Qua bảng 3.3 cho thấy, đa số các loài kinh tế có kích thước nhỏ, số lượng nhiều như cá Đối lá (Mugil kelaartii), cá Đối mục(Mugil cephalus), cá Cơm sông (Stolephorus tri), Hến (Corbicula lamarckiana),… chúng có tuổi thọ thấp nhưng khả năng tái xuất quần thể nhanh đảm bảo duy trì nòi giống của loài. Phần lớn các loài kinh tế ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn có nguồn gốc từ biển như cá Hồng chấm (Lutjanus jorhnii), cá Ong căng(Terapon jarbua), cá Dìa công (Siganus guttatus), tôm Rằn(Penaeus semisulcatus), tôm Sú(Penaeus monodon), Ghẹ xanh, Ghẹ hoa (Portunus pelagicus),… Vì vậy chúng đã hình thành nên sản lượng khai thác cho nghề cá của ngư dân.
3.1.4. Các loài quý hiếm
Trong 114 loài động vật khai thác ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, đã xác định được 3 loài cá quý hiếm có tên trong sách Đỏ Việt Nam (2007) với mức độ bậc VU – sẽ nguy cấp (bảng 3.4).
Bảng 3.4. Các loài động vật quý hiếm ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn
| TT | Tên Việt Nam | Tên khoa học | Mức độ |
| 1 | Cá Măng sữa | Chanos chanos (Forsskal, 1775) | VU |
| 2 | Cá mòi mõm tròn | Nematalosus nasus (Bloch, 1795) | VU |
| 3 | Cá mòi cờ chấm | Konosirus punctatus (Schlegel, 1846) | VU |
Ghi chú:VU (Vulnerable): sẽ nguy cấp
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy số lượng cá thể của các loài quý hiếm giảm, chỉ thu được một vài mẫu trong suốt quá trình thực địa, nguyên nhân là do ô nhiễm môi trường, tác động của biến đổi khí hậu, con người khai thác quá mức, đặc biệt là đánh bắt bằng những ngư cụ mang tính hủy diệt. Vì vậy cần phải bảo tồn nguồn lợi sinh học này trong mọi khía cạnh.
3.2. ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ ĐỘNG VẬT KHAI THÁC VÙNG HẠ LƯU SÔNG THU BỒN
3.2.1. Nồng độ muối tại các điểm qua các đợt khảo sát
Vùng hạ lưu sông Thu Bồn được tiếp nhận nước ngọt từ các con sông, đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều nên độ mặn của sông thay đổi đáng kể, độ muối tại các điểm khảo sát trong năm 2014 giao động từ 0,00/00– 27,80/00, có sự phân hóa rõ rệt giữa các điểm khảo sát (bảng 3.5) và khác biệt so các năm trước là mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 9.
Bảng 3.5. Nồng độ muối (0/00) tại các điểm qua các đợt khảo sát
| Tháng Địa điểm | 10 | 11 | 12 | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | Trung bình |
| Cửa Đại | 7,0 | 6,7 | 8,0 | 23,0 | 22,7 | 23,2 | 23,3 | 25,5 | 27,8 | 26,9 | 24,0 | 23,2 | 20,11 |
| Cẩm Thanh | 3,5 | 4,0 | 4,5 | 18,1 | 17,8 | 20,3 | 20,5 | 21,0 | 22,7 | 21,4 | 20,7 | 20,4 | 16,24 |
| Duy Nghĩa | 3,4 | 3,9 | 4,3 | 17,8 | 17,0 | 19,5 | 19,7 | 20,0 | 21,8 | 20,9 | 20,3 | 20,0 | 15,72 |
| Cẩm Kim | 1,2 | 1,1 | 1,4 | 9,3 | 8,0 | 9,4 | 9,6 | 10,3 | 13,4 | 12,3 | 11,6 | 9,5 | 8,09 |
| Câu Lâu | 0 | 0 | 0 | 0,2 | 0,1 | 0,2 | 0,2 | 0,4 | 0,6 | 0,5 | 0,3 | 0,2 | 0,23 |
| Duy Vinh | 1,5 | 1,6 | 1,7 | 10,1 | 9,2 | 11,5 | 11,7 | 12,4 | 15,1 | 14,2 | 13 | 11,1 | 9,43 |
Qua bảng 3.5 cho thấy biên độ giao động giữa mùa mưa và mùa khô tại các thủy vực này khá lớn, đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ sinh vật sống ở vùng hạ lưu, đặc biệt ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài cá xương, giáp xác, động vật thân mềm hai mảnh vỏ.
3.2.2. Phân bố theo sự xâm mặn các thủy triều
a. Nhóm có nguồn gốc nước mặn
9,76
Vùng hạ lưu sông Thu Bồn có sự tác động sông – biển do thủy triều (bán nhật triều) nên có nồng độ muối khá cao và dao động lớn theo cả không gian và thời gian, độ mặn khá cao ở vùng Cửa Đại. Đây là vùng nước lợ – mặn bao gồm các loài có nguồn gốc biển bao gồm các loài thuộc các họ Cua bơi (Portunidae), tôm He (Penaeidae), cá Lạc (Muraenesosidae), cá Sơn biển (Centroponidae), cá Căng (Tetraodontidae), cá Mú (Serranidae), cá Khế (Karangidae), cá Nóc (Tetraodontidae), cá Bơn cát (Cynoglossidae), Vẹm (Mytilidae),…Đa số các loài động vật kinh tế thuộc nhóm loài nước mặn.
b. Nhóm loài thích nghi với nước lợ
Vùng hạ lưu sông Thu Bồn có sự biến động lớn về nồng độ muối nên vùng nước lợ rất rộng phân bố từ Cẩm Thanh đến Cẩm Kim – thành phố Hội An, từ xã Duy Nghĩa đến Duy Vinh – huyện Duy Xuyên. Các loài nước lợ có khả năng chịu đựng được biên độ muối rộng, có số lượng khá đông. Các loài này thuộc nhóm rộng nhiệt, rộng muối sống ở vùng ven bờ nhiệt đới đã có mặt thường xuyên ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn. Đại diện bao gồm các loài thuộc các họ như: cá Bống đen (Eleotridae), cá Bống trắng (Gobiidae), cá Đối (Mugilidae), cá Trích (Clupeidae), cá Trỏng (Engraulidae), cá Sơn (Apogonidae), cá Hồng (Lutjnidae), Hàu (Ostreidae), Hến (Corbiculidae). Đây là nhóm sinh vật cho sản lượng khai thác khá ổn định ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn.
c. Nhóm động vật nước ngọt điển hình
Vùng Câu Lâu huyện Điện Bàn có độ mặn thấp nhất trong khu vực nghiên cứu do xa vùng cửa sông và nhận nguồn nước ngọt từ thượng nguồn sông Thu Bồn đổ về, nên đây là nơi phân bố chủ yếu các loài cá nước ngọt như cá Rô đồng (Anabas testudineus), cá Quả (Channa striata), cá Dầy (Cyprinnus centralus),… các loài này chiếm số lượng lớn vào mùa mưa, sản lượng thấp dần về mùa khô.
3.2.3. Phân bố theo vùng nước
VHLSTB có sự biến động lớn về các điều kiện thuỷ lí và thuỷ hoá, đặc biệt là độ mặn. Vào mùa khô, độ mặn dao động từ 20‰ đến 27,8‰, vào mùa mưa, lượng nước lớn từ thượng nguồn sông Thu Bồn, sông Trường Giang đổ về nên độ mặn ở đây dao động từ 0,0 ‰ đến 8,0 ‰ đã làm ảnh hưởng đến sự phân bố các loài động vật khai thác.
– Một số loài phân bố rộng khắp 6 vùng nghiên cứu, các loài phân bố rộng như: Cá Ngạnh (Lieocassis hainanensis), cá Úc trung hoa (Arius sinensis), cá Chim trắng mắt to (Monodactylus argenteus), Hàu lá (Saccostrea cucullata),…
– Các loài chỉ phân bố ở vùng cửa sông (Cửa Đại) do thích nghi với nồng độ muối cao (trên 20‰) như cá Lạc (Congresox talabon), cá Nhái xanh (Strongylurus leiurus), cá Ông lão (Alectis indicus), cá Liệt lớn (Leiognathus equulus), cá Khế (Carangoides malabaricus), Ghẹ ba chấm, ghẹ ba mắt (Portunus sanguinolentus), Ghẹ đỏ, ghẹ chữ thập (Charybdis feriata), Cua xanh (Scylla serrata).
– Các loài phân bố từ xã Cẩm Thanh – thành phố Hội An đến Câu Lâu – huyện Điện Bàn, từ xã Duy Nghĩa đến Duy Vinh – huyện Duy Xuyên là nhóm rộng muối như cá Bống thệ (Oxyurichthys tentacularis), cá Bống cấu (Butis butis), cá Hanh đen (Acanthopagrus berdus), tôm Đất (Metapenaeus ensis), tôm Bạc sông (Penaeus merguiensis),…
– Sự phân bố của các nhóm động vật hai mảnh vỏ, giáp xác lại phụ thuộc vào cấu trúc của nền đáy. Vùng hạ lưu sông Thu Bồn có hai loại nền đáy là đáy bùn cát chiếm đa số và vùng đáy cát bùn vùng gần cửa biển.

Vùng đáy bùn cát là nơi phân bố của một số loài như: Hàu lá (Saccostrea cucullata), Vẹm xanh (Perna viridis),…
Vùng đáy cát bùn là khu vực phân bố của nhiều loài có giá trị kinh tế như: Hến (Corbicula lamarckiana), Vọp (Gelonia coaxans), tôm Rằn (Penaeus semisulcatus), tôm Sắt rằn (Parapenaeopsis cultrirostri), tôm Đất (Metapenaeus ensis), tôm Càng(Macrobrachium nipponensis), tôm Sú (Penaeus monodon), tôm Bạc sông (Penaeus merguiensis).
3.2.4. Phân bố theo mùa
Thời gian từ tháng 1 đến tháng 9, vùng hạ lưu sông Thu Bồn có sự xâm nhập của nước biển nên giai đoạn này có sự phân bố ưu thế của các loài có nguồn gốc biển như: cá Dìa (Siganus fuscescens), cá Bơn vĩ (Pseudorhombus arsius), tôm Rằn (Penaeus semisulcatus), Cua xanh (Scylla serrata), Ghẹ đỏ, ghẹ chữ thập (Charybdis feriata)…sản lượng khai thác vào mùa này khá cao, sinh kế người dân được cải thiện.
Thời gian từ tháng 10 đến tháng 12 do có mưa nhiều, vùng hạ lưu nhận lưu lượng nước khá lớn từ các sông đổ về, nên xuất hiện các loài cá nước ngọt như Cá Nheo (Parasilurus asostus), cá Rưng (Carassioides cantonensis),…
Như vậy, vào mùa mưa ở VHLSTB các loài có nguồn gốc nước ngọt chiếm ưu thế, còn các loài động vật gốc biển bị đẩy lùi ra vùng cửa biển hoặc ven bờ, ngược lại vào mùa khô thành phần loài gốc biển và nước lợ chủ yếu, vắng mặt các loài nước ngọt điển hình.
3.2.5. Sự phân bố các loài động vật khai thác có giá trị kinh tế vùng hạ lưu sông Thu Bồn
Qua quá trình thu thập mẫu, chúng tôi thấy các loài kinh tế ở đây đều có nguồn gốc biển nên chúng phân bố nhiều ở vùng gần cửa biển như: cá Ong căng (Terapon jarbua), cá Căng bốn sọc (Pelates quadrilineatus),tôm Rằn (Penaeus semisulcatus), tôm Sú (Penaeus monodon), Ghẹ xanh, ghẹ hoa (Portunus pelagicus).
Bên cạnh đó có các loài lại ưa môi trường nước lợ như: cá Móm gai dài (Gerres filamentosus), cá Bống cát (Glossoglobius aureus), cá Dìa công (Siganus guttatus), cá Hồng chấm (Lutjanus jorhnii), tôm Bạc sông (Penaeus merguiensis), tôm Đất (Metapenaeus ensis), Hến (Corbicula lamarckiana),… lại phân bố tập trung ở các vùng V2, V3, V4, V6. Trong tổng số 20 loài kinh tế có 14 loài (chiếm tỉ lệ 70%) là nhóm động vật nước lợ, chúng phân bố rộng và có mặt thường xuyên trên vùng hạ lưu, là sinh kế chính cho ngư dân ven biển.
3.3. BẢO VỆ NGUỒN LỢI THUỶ SẢN VÙNG HẠ LƯU SÔNG THU BỒN
3.3.1. Tình hình khai thác nguồn lợi
a. Ngư cụ khai thác
Trong các nghề sử dụng ngư cụ truyền thống như Lưới, Rớ quay, Đáy, Cào hến thì nghề Lưới hoạt động tương đối mạnh có đến 2.905 tấm lưới tập trung hầu hết ở các thủy vực của sông. Đặc biệt, sự xuất hiện và phát triển nhanh, mạnh của nghề Lờ trung quốc (hình 3.10) cùng với số lượng người tham gia khai thác cũng tăng rõ rệt, mắc lưới ngày cảng nhỏ (từ 18mm giảm còn 10mm), dẫn đến khai thác tận diệt các loài, từ động vật lớn đến động vật con. Chính vì vậy, nghề này đã tạo áp lực lớn lên nguồn lợi và là nguyên nhân làm suy giảm đa dạng sinh học vùng hạ lưu sông Thu Bồn.
Bên cạnh đó, nghề cào Hến cũng chuyển từ cào thủ công truyền thống sang cào bằng thuyền máy, năng suất tăng khoảng 10 lần, các nghề khác sử dụng thuốc nổ, xung điện, thuốc độc,… vẫn còn khai thác nhiều làm ảnh hưởng đến nguồn lợi thuỷ sản, cạn kiệt và hủy diệt thảm thực vật ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn.
Hình 3.10. Biểu đồ số lượng các loại ngư cụ khai thác qua các năm ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn
b. Một số nghề khai thác chính vùng hạ lưu sông Thu Bồn
c. Khai thác nguồn lợi thuỷ sản
Cùng với sự phát triển kinh tế của thành phố Hội An (ngày càng tăng khách du lịch – nhu cầu sử dụng hải sản tăng), bùng nổ dân số, gia tăng số lượng người thất nghiệp ở các xã ven biển bãi ngang huyện Duy Xuyên đã làm cho nguồn lợi thuỷ sản của vùng hạ lưu sông Thu Bồn ngày càng suy giảm nhiều.
Bảng 3.10. Các loại ngư cụ, thời điểm và năng suất bình quân
khai thác
| TT | Loại ngư cụ | Tần số hoạt động (ngày/năm) | Nãng suất (kg/ngư cụ/ngày) | Sản lượng (tấn/năm) | ||
| Tên ngư cụ | Số lượng | Đơn vị | ||||
| 1 | Rớ quay | 101 | cái | 216 | 1,5 – 2,0 | 32,7 – 43,6 |
| 2 | Lờ trung quốc | 5.520 | vàng | 250 | 0,03 – 0,05 | 41,4- 69,0 |
| 3 | Lưới | 2.905 | tấm | 280 | 0,04 – 0,06 | 32,5 – 48,8 |
| 4 | Ðáy | 140 | vàng | 100 | 2,0 – 3,0 | 28,0 – 42,0 |
| 5 | Cào Hến | 61 | cái | 180 | 10 – 15 | 109,8 – 164,7 |
3.3.2. Một số giải pháp phát triển bền vững nguồn lợi
a. Khai thác hợp lý
b. Tăng cường nuôi trồng thủy sản để hạn chế khai thác tự nhiên
c. Chống ô nhiễm môi trường
d. Giáo dục đào tạo và khuyến khích kinh tế
e. Quản lý tổng hợp ven bờ
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Thành phần loài động vật khai thác vùng hạ lưu sông Thu Bồn khá phong phú. Ðã xác định được 114 loài thuộc 79 giống và 50 họ nằm trong 18 bộ khác nhau. Trong đó bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế với 59 loài (chiếm 51,75%). Tiếp đến là bộ Mười chân (Decapoda) 11 loài (chiếm 9,65%), bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) có 7 loài chiếm 6,14%, bộ cá Trích (Clupeiformes) và bộ cá Nhoái (Beloniformes) đều có 6 loài chiếm tỉ lệ 5,26%; Có 2 bộ có 4 loài chiếm tỉ lệ 3,51% là bộ cá Đối (Mugiliformes) và bộ cá Nóc (tetraodontiformes).
Sự chiếm ưu thế của bộ cá Vược (Perciformes) trong thành phần loài động vật khai thác chứng tỏ tính chất nước lợ và sự mặn hóa của vùng hạ lưu sông Thu Bồn.
Cấu trúc thành phần loài động vật khai thác VHLSTB chủ yếu là các loài gốc biển thích nghi với môi trường nước lợ nên có mặt hầu hết ở các địa điểm trong khu vực nghiên cứu. Trong đó có 50 loài nước lợ – mặn chiếm 43,86 %, 57 loài nước lợ chiếm 50%, các quần thể sinh vật này cho năng suất cao, góp phần hình thành sản lượng khai thác của ngư dân trong vùng. Các loài nước ngọt không nhiều, có 7 loài chiếm 6,14%, chúng chỉ xuất hiện vào mùa mưa và cho năng suất, sản lượng thấp hơn so với động vật gốc biển.
Trong tổng số 114 loài động vật khai thác ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, có 20 loài (chiếm 17,54%) cho sản lượng cao và khai thác liên tục qua các tháng trong năm, được xếp vào những loài có giá trị kinh tế của vùng, góp phần hình thành sản lượng của nghề cá cho các ngư dân huyện Duy Xuyên và thành phố Hội An. Đã ghi nhận có 3 loài quý hiếm (chiếm 2,6%) được ghi trong sách Đỏ Việt Nam (2007) với tình trạng bậc VU – sẽ nguy cấp.
Các loài động vật khai thác trong vùng phân bố theo 3 nhóm sinh thái: nước mặn, nước lợ và nước ngọt; phân bố theo thời gian, vào mùa mưa thì các loài có nguồn gốc nước ngọt chiếm ưu thế, còn các loài có nguồn gốc biển chiếm ưu thế vào mùa khô. Các loài rộng muối (nhóm nước lợ) cho sản lượng khai thác cao và liên tục qua các tháng trong năm.
Hoạt động khai thác chiếm tỷ trọng khá cao, có một số vùng đa số các hộ dân tham gia khai thác thuỷ sản như xã Cẩm Thanh, Duy Nghĩa. Song, sản lượng không cao bằng các năm trước đây do các sinh vật khai thác được đa số có kích thước bé. Nguyên nhân là chưa có chế tài bảo vệ, khai thác mang tính tự do nên một số loài đã bị khai thác quá mức, đặc biệt là tình trạng khai thác một số loài quý hiếm, loài có giá trị kinh tế cao, phương thức khai thác còn lạc hậu, một số ngư cụ khai thác mang tính huỷ diệt như thuốc nổ, xung điện,…
2. KIẾN NGHỊ
Vùng hạ lưu sông Thu Bồn hiện nay đang chịu một sức ép quá lớn về khai thác do tăng nhanh số lượng ngư cụ khai thác (đặc biệt là Lờ trung quốc). Vì vậy, cần phải có những quy định về khai thác hợp lí và áp dụng những điều khoản của pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng lâu dài tài nguyên, bảo tồn ÐDSH.
Cần phải có chiến lược phát triển nuôi trồng thuỷ sản mang tính bền vững nhằm giảm sức ép cho khai thác tự nhiên và nâng cao đời sống ngư dân. Thực hiện đa dạng hoá nghề nuôi, phát triển theo hướng bền vững và hiệu quả, cần phát triển nuôi thâm canh các đối tượng có giá trị kinh tế cao như: cá Dìa, cá Hồng, cá Mú, tôm Sú, tôm Bạc,…trong các lồng, bè và ao đất ven bờ.
Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho người dân trong việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản của vùng hạ lưu sông. Nghiên cứu đa dạng thành phần loài một số nhóm động vật khai thác ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Nghiên cứu đa dạng thành phần loài một số nhóm động vật khai thác ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN KHOA HỌC\LUU THI MY HUYEN\LUU THI MY HUYEN


