Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở sông Bàn Thạch

Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở sông Bàn Thạch

Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở sông Bàn Thạch

1. Tính cấp thiết đề tài

Cá là nhóm động vật có xương sống, số loài tương đối lớn và có ý nghĩa quan trọng trong tự nhiên, là một mắt xích trong các hệ sinh thái ở nước, góp phần làm tăng độ đa dạng sinh học, tạo sự phát triển bền vững cho môi trường. Mặt khác, cá còn là một nguồn lợi thực phẩm quan trọng cho đời sống của nhân dân và phục vụ phát triển kinh tế cho đất nước.

Phú Yên là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, có nhiều hệ thống sông suối, thành phần các loài thủy sinh vật khá phong phú, đa dạng sinh học cao như sông Ba, đầm Ô Loan… Hiện nay các nghiên cứu mới tập trung ở con sông Ba và đầm Ô Loan, các hệ thống sông ở khu vực này chưa được nghiên cứu một cách tổng thể. Trong số đó có sông Bàn Thạch, sông nằm ở phía nam thành phố Tuy Hòa, dài 60 cây số, có diện tích lưu vực 590km2, sông chảy qua các xã thuộc tổng Hòa Đa và Hòa Đồng rồi ra cửa Đà Nông. Sông chảy tới vùng Hội Cư thì tiếp nhận một chi từ đèo Cục Kịch giáp giới với Khánh Hòa. Bắt đầu từ Hội Cư sông mang tên Bàn Thạch, chảy ra biển ở cửa Đà Nông. Sông Bàn Thạch có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nguồn thức ăn giàu đạm như cá, tôm, …cho dân cư sống trong vùng. Đặc biệt, vùng hạ lưu thường có nước mặn hoặc nước lợ tạo nên sự đa dạng và phong phú cho khu hệ sinh vật góp phần phát triển kinh tế – xã hội trên toàn tỉnh. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về thành phần loài, đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố của các loài cá ở sông Bàn Thạch. Việc nghiên cứu thành phần loài cá và đề xuất những giải pháp phát triển bền vững nguồn lợi là rất cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên”

2. Mục tiêu đề tài

2.1. Mục tiêu tổng quát:

Góp phần vào việc nghiên cứu khu hệ cá Miền Trung, Việt Nam.

2.2. Mục tiêu cụ thể:

– Xác định được thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, qua đó xác định được loài kinh tế, loài quý hiếm hiện có ở sông này.

– Xác định được khu vực phân bố của các loài cá, đặc điểm phân bố, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố cá ở sông Bàn Thạch, Tỉnh Phú Yên.

– Tìm hiểu tình hình khai thác và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học về cá ở sông Bàn Thạch, Tỉnh Phú Yên.

3. Nội dung nghiên cứu:

3.1. Nghiên cứu về thành phần loài

– Lập danh mục thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, qua đó lập danh sách các loài kinh tế, quý hiếm hiện có.

– Đặc điểm cấu trúc, tính đặc trưng về đa dạng sinh học của thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên.

– Phân tích, đánh giá các loài ưu thế, loài quý hiếm, loài kinh tế ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên.

3.2. Nghiên cứu về đặc điểm phân bố

– Phân tích đặc điểm phân bố theo lưu vực, theo sinh cảnh của các loài cá thuộc khu vực nghiên cứu.

– So sánh thành phần loài cá sông Bàn Thạch với một số sông khác trong nước và lân cận làm cơ sở cho công tác bảo vệ và quản lý cá ở sông Bàn Thạch.

3.3. Tình hình khai thác cá và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên

– Tình hình khai thác cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên.

– Đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học về cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên.

4. Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm các phần sau

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 2: Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả và bàn luận

Kết luận và kiến nghị

 

Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở sông Bàn Thạch
Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở sông Bàn Thạch

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU CÁ

1.1.1. Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam

a. Thời kỳ trước năm 1945

b. Thời kỳ từ 1945 – 1975

c. Thời kỳ sau 1975 đến nay

Từ năm 2005 đến nay, các công trình nghiên cứu về cá được quan tâm và chú trọng góp phần vào công tác nghiên cứu, phát triển và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của đất nước.

Về phân loại học cá nước ngọt Việt Nam còn có tác giả Nguyễn Văn Hảo với công bố “Cá nước ngọt Việt Nam” gồm ba tập, tập 1 (2001), tập 2, 3 (2005). Trong đó tác giả đã mô tả chi tiết 1027 loài và phân loài, 427 giống, 97 họ, 22 bộ [21], [22]. Đây là công trình tổng hợp đầy đủ nhất ở đầu thế kỷ XXI về cá nước ngọt Việt Nam.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu cá ở tỉnh Phú Yên

Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu cá ở tỉnh Phú Yên: Đa dạng về thành phần loài cá ở đầm Ô Loan của Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Phi Loan và Hồ Thị Hồng (2003) gồm 108 loài [40]; Nghiên cứu đặc tính sinh học và phân bố của cá Dìa (Siganus guttatus) ở đầm Ô Loan tỉnh Phú Yên của Lê Văn Mậu (2003). Thành phần loài khu hệ cá sông Ba của Võ Văn Phú và Nguyễn Minh Ty (2005) với 71 loài. Thành phần loài cá ở đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên của Nguyễn Thị Phi Loan(2008) [29]. Nghiên cứu khu hệ cá hệ thống sông Ba của Nguyễn Minh Ty (2010) gồm 182 loài [55].

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này chưa khái quát hết các khu vực nghiên cứu của tỉnh. Vì thế cần phải tiến hành việc nghiên cứu và điều tra các nơi khác để có những dẫn liệu mới về khu hệ cá ở tỉnh Phú Yên và đây là điều rất cần thiết để đóng góp nguồn tư liệu cho những nghiên cứu tiếp theo.

1.2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU

1.2.1. Điều kiện địa lí, ranh giới, diện tích

Phú Yên trải dài từ 12°42’36” đến 13°41’28” vĩ bắc và từ 108°40’40” đến 109°27’47” kinh đông, phía bắc giáp tỉnh Bình Định, phía nam giáp Khánh Hòa, phía tây giáp Đăk Lăk và Gia Lai, phía đông giáp biển Đông.

Diện tích tự nhiên: 5.045 km², chiều dài bờ biển 189 km.

Sông Bàn Thạch chảy qua hai huyện Tây Hòa và Đông Hòa của tỉnh Phú Yên với chiều dài 60km, diện tích lưu vực 590km2.

1.2.2. Tình hình kinh tế – xã hội

a. Các đơn vị hành chính và dân số

b. Đời sống kinh tế

c. Giáo dục

d. Y tế

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

– Các loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên.

– Tìm hiểu thực trạng khai thác và nuôi trồng thủy hải sản.

2.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Đề tài được tiến hành từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014

2.3. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Đã tiến hành điều tra khảo sát và thu thập 878 mẫu cá trên sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên. Từ xã Hòa Tâm đến xã hòa Mỹ, sông có chiều dài 60km, diện tích lưu vực 590km2.

2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1. Ngoài thực địa

a. Phương pháp thu thập mẫu cá

b. Phương pháp xử lý và bảo quản cá

– Mẫu được xử lý bằng focmol và chụp ảnh ngay khi còn tươi. Định hình trong dung dịch focmol 9%. Bảo quản mẫu trong dung dịch focmol 4%.

– Tất cả mẫu vật được lưu trữ ở phòng thí nghiệm khoa Sinh – trường Đại học Quảng Nam.

c. Phương pháp điều tra có sự tham gia của cộng đồng

d. Phương pháp thu thập tài liệu

2.4.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

a. Phân tích các chỉ tiêu hình thái

b. Phương pháp giám định tên khoa học của loài

c. Phương pháp sử dụng công thức trong tính toán

d. Phương pháp nghiên cứu về sinh thái phân bố của các loài cá

e. Phương pháp xử lý số liệu

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở SÔNG BÀN THẠCH, TỈNH PHÚ YÊN

3.1.1. Danh mục thành phần loài cá

Thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên gồm 115 loài với 85 giống nằm trong 47 họ thuộc 14 bộ khác nhau. Danh mục thành phần loài cá được sắp xếp theo hệ thống phân loại của Eschemeyer W.T (2005). (bảng 3.1).

Bảng 3.1. Danh mục thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên

STTTên khoa họcTên Việt NamPhân bố
MùaMùa
khômưa
IOSTEOGLOSSIFORMESBỘ CÁ THÁT LÁT  
(1)Notopteridae Họ cá Thát lát  
1Notopterus notopterus (Pallas, 1769)Cá Thát lát *++
IIELOPIFORMESBỘ CÁ CHÁO
(2)MegalopidaeHọ cá Cháo lớn
2Megalops cyprinoides Brousonet, 1782Cá Cháo lớn **++
IIIANGUILLIFORMESBỘ CÁ CHÌNH
(3)AnguillidaeHọ cá Chình
3Anguilla marmorata (Quoy & Gaimard, 1824)Cá Chình hoa **++
4A. bicolor Mc Clelland, 1844Cá Chình mun **++
IVATHERINIFORMESBỘ CÁ SUỐT
(4)AtherinidaeHọ cá Suốt
5Atherina bleekeri Günther, 1861Cá Suốt mắt nhỏ++
VCLUPEIFORMESBỘ CÁ TRÍCH
(5)ClupeidaeHọ cá Trích
6Herkiotsichthys quadrimaculatus (Rüppell, 1837)Cá Trích vẩy xanh mắt to+
7Konosirus punctatus (Schlegel, 1846)Cá Mòi cờ chấm **+
8Nematalosus nasus (Bloch, 1795)Cá Mòi mõm tròn **+
(6)EngraulidaeHọ cá Trỏng
9Stolephorus commersonii Lacépefde, 1903Cá Cơm thường++
10S.tri (Bleeker, 1852)Cá Cơm sông++
VICYPRINIFORMESBỘ CÁ CHÉP
(7)CyprinidaeHọ cá chép
11Hemiculter leucisculu (Basilewsky, 1855)Cá Mương xanh *++
12H. krempffi (Pellegrin & Chevey, 1938)Cá Mương++
13Barbonymus gonionotus (Bleeker, 1850)Cá Mè vinh *++
14Hypsibarbus wetmorei (Smith, 1931)Cá Mè vinh giả++
15Hampala dispar (Smith, 1934)Cá Ngựa chấm *+
16Puntius brevis(Bleeker, 1860)Cá Dầm++
17Osteochilus prosemion (Fowler, 1934)Cá Lúi++
18O. brachynotopteroides Chevey, 1934Cá Lúi xanh++
19Systomus binotatus (Valenciennes, 1842)Cá Trắng++
20Cirrhinus molitorel (Cuvier&Valenciennes,1844)Cá Trôi *+
21Sinilabeo lemassoni

(Pellegrin & Chevey, 1936)

Cá Rầm xanh++
22Carassius auratus (Linnaeus, 1758)Cá Diếc *++
23Cyprinus carpio Linnaeus, 1758Cá Chép *++
24C. centralus (Nguyen & Mai, 1994)Cá Dầy *++
25Puntius semifasciatus (Günther, 1868)Cá Cấn+
26Aristichthys nobilis (Richardson, 1844)Cá Mè hoa *+
27Hypophthalmichthys molitrix

(Cuvier & Valenciennes, 1844)

Cá Mè trắng *+
28Carassioides cantonensis (Heincke, 1892)Cá Rưng++
29Puntioplites falcifer (Smith, 1929)Cá Dảnh++
30Rasborinus lineatus (Pellegrin, 1907)Cá Mại bầu+
31Esomus metallicus Ahl, 1942Cá Lòng tong sắt++
32E. longimanus (Lunel, 1881)Cá Lòng tong dài+
33E. danricus (Hamilton, 1822)Cá Lòng tong bay+
34Paralaubuca barroni Fowler, 1934Cá Thiểu mại++
35P. riveroi Fowler, 1935Cá Thiểu nam+
36Megalobrama skolkovii Dybowsky, 1872Cá Vền+
37Onychostoma fusiforme Kottetlat, 1998Cá Xanh++
38Hampala macrolepidota Van Hasselt, 1823Cá Ngựa nam+
39Labeo rohita (Hamilton, 1822)Cá Rô hu++
(8)CobitidaeHọ cá Chạch
40Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842Cá Chạch bùn *++
41M. tonkinensis Rendahl, 1937Cá Chạch bùn núi *++
42Corbitis taenia Linnaeus, 1758Cá Chạch hoa đốm tròn+
43Acantopsis choirorhynchos (Bleeker, 1854)Cá Khoai sông++
VIICHARACIFORMESBỘ CÁ HỒNG NHUNG
(9)CharacidaeHọ cá Hồng nhung
44Clossoma brachypomun (Cuvier, 1818)Cá Chim trắng nước ngọt++
VIIISILURIFORMESBỘ CÁ NHEO
(10)BagnidaeHọ cá Lăng
45Mystus gulio Hamilton, 1822Cá Chốt++
46Hemibagrus nemurus (Valenciennes, 1839)Cá Lăng nha++
47Leiocassis siamensis Regan, 1913Cá Chốt bông++
(11)CranoglanididaeHọ cá Ngạnh
48Cranoglanis bouderius (Richardson, 1846)Cá Ngạnh thon **++
49C. henrici (Vallant, 1893)Cá Ngạnh thường++
(12)SiluridaeHọ cá Nheo
50Silurus asotus (Linnaeus, 1758)Cá Nheo *+
51Pterocryptis cochinchinensis

(Cuvier & Valenciennes, 1840)

Cá Thèo+
(13)Clariidae Họ cá Trê
52Clarias fuscus (Lacépède, 1803)Cá Trê đen *+
53C. batrachus (Linnaeus, 1785)Cá Trê trắng++
(14)SisoridaeHọ cá Chiên
54Bagarius bagarius (Hamilton, 1822)Cá Chiên **+
(15)AriidaeHọ cá Úc
55Arius sciurus Smith, 1931Cá Úc trắng++
56A. maculatus (Thunberg, 1791)Cá Úc chấm++
(16)PlotosidaeHọ cá Ngát
57Polotosus lineatus (Thunberg, 1791)Cá Ngát+
IXBELONIFORMESBỘ CÁ NHÁI
(17)BelonidaeHọ cá Nhái
58Strongylura strongylura (Hasselt, 1823)Cá Nhái đuôi chấm++
(18)HemiramphidaeHọ cá Lìm kìm
59Hyporhamphus unifasciatus (Ranzant, 1842)Cá Kìm sông++
XSYNBRANCHIFORMESBỘ MANG LIỀN
(19)SynbranchidaeHọ Lươn
60Monopterus albus (Zuiew, 1793)Lươn đồng *++
(20)MastacembelidaeHọ cá Chạch sông
61Mastacembelus armatus (Lacépède, 1800)Cá Chạch sông++
62M. favus (Hora, 1924)Cá Chạch bông lớn++
63Macrognathus siamensis (Günther, 1861)Cá Chạch lá tre *++
XISCORPAENIFORMESBỘ CÁ MÙ LÀN
(21)PlatycephalidaeHọ cá Chai
64Platycephalus indicus (Linnaeus, 1758)Cá Chai++
XIIPERCIFORMESBỘ CÁ VƯỢC
(22)CentropomidaeHọ cá Chẽm
65Lates calcarifer (Bloch, 1790)Cá Chẽm *+
(23)SeranidaeHọ cá Mú
66Epinephelus fario (Thunberg, 1793)Cá Mú sao++
(24)AmbassidaeHọ cá Sơn
67Ambassis Kopsi Bleeker, 1858Cá Sơn kôpsô+
68A. gymnocephalus (Lacépède, 1802)Cá Sơn xương+
69Parambassis ranga (Hamilton, 1822)Cá Sơn gián+
(25)TeraponidaeHọ cá Căng
70Terapon jarbua (Forsskăl, 1775)Cá Ong căng*++
71T. theraps (Cuvier, 1829)Cá Căng++
72T. oxyrhynchus Temminck & Schlegel, 1846Cá Căng mõm nhọn++
(26)SillaginidaeHọ cá Đục
73Sillago sihama (Forsskăl, 1775)Cá Đục trắng+
(27)LeignathidaeHọ cá Liệt
74Leiognathus equilus (Forsskăl, 1775)Cá Liệt lớn++
75L. bindus (Valenciennes, 1835)Cá Liệt mõm ngắn++
(28)LutjanidaeHọ cá Hồng
76Lutjanus fulviflammus (Forsskăl, 1775)Cá Hồng ánh vàng++
(29)GerridaeHọ cá Móm
77Gerres filamentosus Cuvier, 1829Cá Móm gai dài*++
78G. lucidus Cuvier, 1830Cá Móm gai ngắn++
(30)PomadasyidaeHọ cá Sạo
79Pomadasys maculatus (Bloch, 1970)Cá Sạo chấm++
(31)SparidaeHọ cá Tráp
80Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782)Cá Tráp vây vàng*++
81A. berda (Forsskăl, 1775)Cá Tráp berda++
(32)SciaenidaeHọ cá Đù
82Nibea albiflora (Richardson, 1846)Cá Đù nanh+
(33)MonodactylidaeHọ cá Chim mắt to
83Monodactylus argenteus (Linnaeus, 1758)Cá Chim trắng mắt to+
(34)ScatophagidaeHọ cá Nầu
84Scatophagus argus (Linnaeus, 1785)Cá Nầu+
(35)MugilidaeHọ cá Đối
85Mulgil kelaartii Bloch, 1973Cá Đối lá *++
86M. strongylocephalus Richardson, 1846Cá Đối nhọn+
87M. cephalus Linnaeus, 1758Cá Đối mục *++
88M. carinatus (Valenciennes, 1836)Cá Đối lưng gồ+
89Valamugil engeli (Bleeker, 1858)Cá Đối anh+
90Liza tade (Forsskăl, 1775)Cá Đối gành+
(36)EleotridaeHọ cá Bống đen
91Eleotris melanosoma (Bleeker, 1852)Cá Bống đen lớn+
92E. fusca (Schneider & Forster, 1801)Cá Bống mọi+
(37)GobiidaeHọ cá Bống trắng
93Acentrogobius viridipunctatus

Cuvier & Valenciennes, 1837

Cá Bống lá tre++
94Butis butis (Hamilton, 1822)Cá Bống cau+
95Glossogobius aureus Akihito & Meguro, 1975Cá Bống cát++
96G. giuris (Hamilton, 1822)Cá Bống cát tối *++
97G. fasciato punctatus (Richardson, 1838)Cá Bống chấm gáy++
(38)SiganidaeHọ cá Dìa
98Siganus fuscescens (Houttuyn, 1782)Cá Dìa tro+
(39)AnabantidaeHọ cá Rô đồng
99Anabas testudineus (Bloch, 1927)Cá Rô đồng *++
(40)BeloniidaeHọ cá Sặc
100Trichogaster trichopterus (Pallas, 1770)Cá Sặc bướm++
101T. pectoralis (Regan, 1910)Cá Sặc rằn *++
102T. microlepis (Günther, 1861)Cá Sặc điệp+
103Trichopsis vittatus (Cuvier, 1831)Cá Bã trầu+
104Macropodus opercularis (Linnaeus, 1788)Cá Đuôi cờ+
105Betta taeniata Regan, 1910Cá Thia ta+
(41)CichlidaeHọ cá Rô phi
106Oreochromis mossambicus (Peters, 1852)Cá Rô phi *++
107O. niloticus (Linnaeus, 1758)Cá Rô phi vằn *++
(42)ChannidaeHọ cá Quả
108Channa striata Bloch, 1793Cá Lóc *++
109C. micropeltes (Cuvier, 1831)Cá Lóc bông **+
XIIIPLEURONECTIFORMESBỘ CÁ BƠN
(43)BothidaeHọ cá Bơn vĩ
110Pseudorhombus sinensis Lacépède, 1802Cá Bơn vĩ++
111P. arsius (Hamilton, 1822)Cá Bơn vỉ răng to++
(44)SoleidaeHọ cá Bơn+
112Euroglossa siamensis (Sauvage, 1878)Cá Bơn lá mít++
(45)CynoglossidaeHọ cá Bơn cát
113Cynoglossus puncticeps Richardson, 1846Cá Bơn điểm+
XIVTETRAODONTIFORMESBỘ CÁ NÓC
(46)TriacanthidaeHọ cá Nóc ba gai
114Triacanthus revirostris (Bloch, 1786)Cá Nóc ba gai+
(47)TetraodontidaeHọ cá Nóc
115Takifugu oblongus (Bloch, 1786)Cá Nóc chày++

*Ghi chú: * Các loài cá kinh tế. ** Các loài cá quý hiếm.

3.1.2. Cấu trúc thành phần loài

Taxon bậc loài: Trong 115 loài thì bộ cá Vược (Perciformes) có số loài nhiều nhất 45 loài chiếm 39,13%, tiếp đến là bộ cá Chép (Cypriniformes) 33 loài chiếm 28,70%, bộ cá Nheo (Siluriformes) 13 loài chiếm 11,30%, bộ cá Trích (Clupeiformes) có 5 loài chiếm 4,35%, bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) và bộ cá Mang liền (Synbranchiformes) cùng có 4 loài chiếm 3,48%, bộ cá Chình (Anguilliformes), bộ cá Nhái (Beloniformes) và bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) đều có 2 loài chiếm 1,74%. Các bộ còn lại, mỗi bộ có 1 loài chiếm 0.87%.

Hình 3.1. Biểu đồ tỉ lệ số loài trong các bộ cá ở sông Bàn Thạch

Taxon bậc giống: Trong 47 họ và 85 giống, đa dạng nhất là bộ cá Vược (Perciformes) với 29 giống chiếm 34,12% trong tổng số giống. Tiếp đến là bộ cá Chép (Cypriniformes) có 26 giống chiếm 30,59%, bộ cá Nheo (Siluriformes) với 10 giống chiếm 11,76%, bộ cá Trích có 4 giống chiếm 4,71%, bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) và bộ cá Mang liền (Synbranchiformes) đều có 3 giống chiếm 3,53%, bộ cá Nhái (Beloniformes) và bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) cùng có 2 giống chiếm 2,35%. Các bộ còn lại, mỗi bộ có 1 giống chiếm 1,18%.

Hình 3.2. Biểu đồ tỉ lệ số giống trong các bộ cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên

Taxon bậc họ: Trong số 14 bộ và 47 họ đa dạng nhất là bộ cá Vược (Perciformes) với 21 họ chiếm 44,68%. Tiếp đến là bộ cá Nheo (Siluriformes) 7 họ chiếm 14,89%, bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) có 3 họ chiếm 6,38%. Các bộ có 2 họ chiếm 4,26% là: Bộ cá Trích (Clupeiformes), Bộ cá Chép (Cypriniformes), Bộ cá Nhái (Beloniformes), Bộ cá Mang liền (Synbranchiformes) và Bộ cá Nóc (Tetraodontiformes). Còn lại các bộ chỉ có 1 họ chiếm tỷ lệ thấp 2,13%.

Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở sông Bàn Thạch
Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở sông Bàn Thạch

Hình 3.3. Biểu đồ tỉ lệ số họ trong các bộ cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên

Thành phần các taxon bậc họ, bậc giống và bậc loài của bộ cá Vược (Perciformes) có số lượng chiếm ưu thế chứng tỏ sự mặn hóa của sông Bàn Thạch. Phần lớn cá đều có nguồn gốc từ biển.

Sự đa dạng cá sông Bàn Thạch không chỉ thể hiện ở bậc taxon loài mà còn cả bậc giống, họ, bộ. Trung bình mỗi bộ có 3,36 họ, mỗi họ có 1,81 giống, mỗi giống có 1,35 loài. Trong đó, các bộ chỉ chứa 1 họ, 1 giống, 1 loài đó là các bộ cá Thát lát (Osteoglossiformes), bộ cá Cháo (Elopiformes), bộ cá Suốt (Atheriniformes), bộ cá Hồng nhung (Characiformes) và bộ cá Mù làn (Scorpaeniformes) (bảng 3.2).

3.1.3. Nhóm loài ưu thế

Sự đa dạng về các bậc taxon trong khu hệ cá sông Bàn Thạch không giống nhau. Ở mỗi bậc taxon, một vài quần thể có số lượng cá thể khá nhiều được xem là nhóm cá ưu thế.

Trong 47 họ và 85 giống cá phân bố ở sông Bàn Thạch, ưu thế về họ thuộc bộ cá Vược (Perciformes) với 21 họ nhưng ưu thế về giống lại là họ cá Chép (Cyprinidae) với số lượng là 23 giống và 29 loài. Tiếp đến là họ cá Sặc (Belontidae) có 4 giống và 6 loài. Họ cá Đối (Mugilidae) có 3 giống và 6 loài. Họ cá Bống trắng (Gobiidae) có 3 giống và 5 loài. Họ cá Chạch (Cobitidae) có 3 giống và 4 loài. Còn ưu thế về loài thuộc giống cá Đối (Mulgil) với 4 loài.

3.1.4. Các loài cá quý hiếm

Trong thành phần loài cá ở Sông Bàn Thạch tỉnh Phú Yên, đã xác định được 8 loài cá quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 như cá Cháo lớn (Megalops cyprinoides), cá Chình hoa (Anguilla marmorata), cá Chình mun (Anguilla Bicolor), cá Mòi cờ chấm (Konosirus punctatus), cá Mòi mõm tròn (Nematolosa nasus), Cá Ngạnh thon (Cranoglanis bouderius), cá Chiên (Bagarius bagarius) và cá Lóc bông (Channa micropeltes). (bảng 3.5).

Bảng 3.5. Các loài cá quý hiếm ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên

TTTên khoa họcTên Việt NamMức độ
1Megalops cyprinoides Cá Cháo lớnVU
2Anguilla marmorataCá Chình hoaVU
3Anguilla bicolor Cá Chình munVU
4Konosirus punctatus Cá Mòi cờ chấmVU
5Nematolosa nasus Cá Mòi mõm trònVU
6Cranoglanis bouderius Cá Ngạnh thonVU
7Bagarius bagarius Cá ChiênVU
8Channa micropeltes Cá Lóc bôngEN

*Ghi chú: EN (Endangered): nguy cấp

VU (Vulnerable): sẽ nguy cấp

3.1.5. Các loài cá kinh tế

Trong tổng số 115 loài cá thu được ở Sông Bàn Thạch tỉnh Phú Yên, đã thống kê được 28 loài cá kinh tế chiếm 24,35% thuộc 24 giống, 17 họ nằm trong 5 bộ khác nhau. (bảng 3.6).

Bảng 3.6. Các loài cá kinh tế ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên

STTTên khoa họcTên Việt Nam
1Notopterus notopterusCá Thát lát
2Hemiculter leucisculus Cá Mương xanh
3Barbonymus gonionotus Cá Mè vinh
4Hampala dispar Cá Ngựa chấm
5Cirrhinus molitorella Cá Trôi
6Carassius auratus Cá Diếc
7Cyprinus carpioCá Chép
8Cyprinus centralusCá Dầy
9Aristichthys nobilis Cá Mè hoa
10Hypophthalmichthys molitrixCá Mè Trắng
11Misgurnus tonkinensis Cá Chạch bùn núi
12Misgurnus anguillicaudatusCá Chạch bùn
13Silurus asotusCá Nheo
14Clarias fuscus Cá Trê đen
15Monopterus albus Lươn đồng
16Macrognathus siamensis Cá Chạch lá tre
17Lates calcarifer Cá Chẽm
18Terapon jarbua Cá Ong căng
19Gerres filamentosus Cá Món gai dài
20Acanthopagrus latus Cá Tráp vây vàng
21Mulgil kelaartii Cá Đối lá
22Mulgil cephalus Cá Đối mục
23Glossogobius giuris Cá Bống cát tối
24Anabas testudineus Cá Rô đồng
25Trichogaster pectoralis Cá Sặc rằn
26Oreochromis niloticus Cá Rô phi vằn
27Oreochromis mossambicus Cá Rô phi đen
28Channa striatus Cá Lóc

Qua bảng 3.6 ta thấy trong tổng số các loài cá kinh tế của sông Bàn Thạch chủ yếu là các loài cá sống trong môi trường nước lợ và nước ngọt, một số ít loài sống trong môi trường nước mặn. Bộ cá Vược (Perciformes) ưu thế nhất với 12 loài chiếm 42,86%, tiếp đến là bộ cá Chép (Cypriniformes) có 11 loài chiếm 39,29%, bộ cá Nheo (Siluriformes), bộ cá Mang liền (Synbranchiformes) cùng có 2 loài chiếm 7,14%, bộ cá Thát lát (Osteoglossiformes) có 1 loài chiếm 3,57% (hình 3.5).

3.1.6. Các loài cá nhập nội

Trong 115 loài cáởsông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên đã xác định 5 loài cá có nguồn gốc nhập nội. Các loài cá nhập nội này đã đóng góp đáng kể cho sản lượng cũng như cho giá trị thương phẩm cao. Các loài cá này trước kia do con người nhập từ nơi khác đến nuôi và trong quá trình nuôi đã phát tán ra sông trong mùa mưa lũ, lâu ngày thành những “cư dân” ở sông Bàn Thạch (bảng 3.7).

Bảng 3.7. Các loài cá nhập nội ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên

STTTên khoa họcTên Việt NamNguồn gốc
1Aristichthys nobilis Cá Mè hoaTrung Quốc
2Hypophthalmichthys molitrixCá Mè TrắngTrung Quốc
3Clossoma branchypomun Cá Chim nước ngọtNam Mỹ
4Oreochromis niloticus Cá Rô phi vằnChâu Phi
5Oreochromis mossambicus Cá Rô phi đenChâu Phi

3.2. ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CÁ Ở SÔNG BÀN THẠCH, TỈNH PHÚ YÊN

3.2.1. Đặc điểm phân bố theo không gian và theo thời gi a. Cá nước ngọt

Nhóm cá nước ngọt phân bố ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên có 14 họ với 57 loài chiếm 49,57% tổng số loài cá. Trong đó, họ cá Chép (Cyprinidae) có số loài nhiều nhất với 29 loài chiếm 25,22% tổng số loài cá; Tiếp đến là họ cá Sặc (Belontidae) có 6 loài chiếm 5,22%; Họ cá Chạch (Cobitidae) có 4 loài chiếm 3,48%. Họ cá Chạch sông (Mastacembelidae) 3 loài chiếm 2,61%; Họ cá Chình (Anguillidae), họ cá Nheo (Siluridae), họ cá Trê (Clariidae), họ cá Rô phi (Cichlidae), họ cá Quả (Channidae) mỗi họ có 2 loài chiếm 1,74%; Họ cá Thát lát (Notopteridae), họ cá Hồng nhung (Characidae), họ cá Chiên (Sisoridae), họ Lươn (Synbranchidae), họ cá Rô đồng (Anabantidae) đều có 1 loài chiếm 0,87%. Như vậy, nhóm cá nước ngọt tương đối đa dạng về họ và có số loài nhiều nhất.

b. Nhóm cá nước lợ

Nhóm cá nước lợ có 21 họ chiếm 44,68% với 42 loài chiếm 36,52% tổng số loài cá. Đây là nhóm có số họ nhiều nhất. Trong 21 họ thì họ có số loài nhiều nhất là họ cá Đối (Mugilidae) với 6 loài chiếm 5,22% tổng số loài. Tiếp đến là họ cá Bống trắng (Gobiidae) có 5 loài chiếm 4,35%. họ cá Sơn (Ambassidae), họ cá Lăng (Bagnidae), họ cá Căng (Teraponidae) đều có 3 loài chiếm 2,61%. Có 6 họ có 2 loài chiếm 1,74% đó là: Họ cá Trỏng (Engraulidae), Họ cá Ngạnh (Cranoglanididae), họ cá Úc (Ariidae), họ cá Móm (Gerridae), họ cá Tráp (Sparidae) và họ cá Bống đen (Eleotridae); Các họ còn lại có 1 loài chiếm 0,87% là: Họ cá Cháo lớn (Megalopidae), họ cá Suốt (Atherinidae), họ cá Ngát (Plotosidae), họ cá Chẽm (Centropomidae), họ cá Đục (Sillaginidae), họ cá Hồng (Lutjanidae), họ cá Sạo (Pomadasyidae), họ cá Đù (Sciaenidae), họ cá Nầu (Scatophagidae), Họ cá Dìa (Siganidae). Ta thấy có đến 16 họ chiếm 76,19% tổng số họ trong nhóm cá nước lợ chỉ có 1 đến 2 loài. Nhóm cá nước lợ có số họ đa dạng nhất do vùng phân bố của nhóm cá nước lợ tương đối rộng và chúng có khả năng thích nghi với sự thay đổi về nồng độ muối ở mùa khô và mưa.

c. Nhóm cá nước mặn

Nhóm cá nước mặn ở sông Bàn Thạch có tổng số 12 họ chiếm 25,53% tổng số họ và 16 loài chiếm 13,91% tổng số loài cá. Trong đó, có nhiều loài nhất là họ cá Trích (Clupeidae) có 3 loài chiếm 2,61%. Có 2 họ có 2 loài chiếm 1,74% là: Họ cá Bơn vỉ (Paralichthyidae) và họ cá Liệt (Leignathidae). 9 họ chỉ có 1 loài chiếm 0.87% đó là: Họ cá Nhái (Belonidae), họ cá Lìm kìm (Hemiramphidae), họ cá Chai (Platycephalidae), họ cá Mú (Seranidae), họ cá Chim mắt to (Monodactylidae), họ cá Bơn (Soleidae), họ cá Bơn cát (Cynoglossidae), họ cá Nóc ba gai (Triacanthidae) và họ cá Nóc chày (Lagocephalidae). Đa số các họ có 1 hoặc 2 loài chiếm tỉ lệ thấp nhưng số họ đa dạng nên số loài cũng khá phong phú. Vì vậy, nhóm cá nước mặn ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên cũng khá phong phú.

d. Nhóm cá di cư

– Di cư kiếm mồi: Một số loài cá ở sông Bàn Thạch có đặc tính di chuyển từ vùng nước ngọt hoặc lợ đến vùng nước mặn như cá Nhái đuôi chấm (Strongylura strongylura), cá Kìm sông (Hyporhamphus unifasciatus)… và ngược lại, cá biển di cư vào như cá bống cát tối (Glossogobius giuris) cá Hồng ánh vàng (Lutjanus fulviflammus)…

– Di cư sinh sản: một số loài thường di chuyển xuôi dòng sông ra biển để sinh sản như cá Chình hoa (Anguilla marmorata), cá Chình mun (Anguilla bicolor)… hoặc ngược lại, cá biển di cư vào đẻ trứng như cá Mòi cờ chấm (Konosirus punctatus)….

3.2.2. So sánh thành phần loài cá sông Bàn Thạch với các khu hệ cá khác ở Việt Nam

a. Đặc trưng đa dạng về thành phần loài

Để có thể đánh giá độ đa dạng thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên chúng tôi tiến hành so sánh tỷ lệ các bậc taxon của khu hệ cá đang nghiên cứu với một số khu hệ cá khác ở Việt Nam (bảng 3.12).

Bảng 3.12. Số họ, giống, loài ở các khu hệ phân bố cá cửa sông Việt Nam

Tỷ lệCác khu hệ cá trong nước
Sông Bàn Thạch Miền NamNam Trung BộSông BaSông Thu Bồn-Vu GiaSông Ô Lâu Sông Sài GònSông Bến HảiSông GianhMiền Bắc
Loài/giống1,351,831,651,641,631,431,701,281,311,73
Loài/họ2,455,934,323,314,103,523,882,222,517,44
Loài/bộ8,2118,2113,4012,1313,139,9116,508,3310,2518,27
Giống/họ1,813,232,612,022,522,452,281,731,924,29
Giống/bộ6,079,938,107,408,076,919,696,507,8310,55
Họ/bộ3,363,073,103,673,202,824,253,754,082,45

– Tỉ lệ loài/giống ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên cao hơn so với tỉ lệ loài/giống ở các khu hệ sông Bến Hải và sông Gianh nhưng thấp hơn so với khu hệ cá Miền Nam, Nam Trung Bộ, sông Ba, sông Thu Bồn-Vu Gia, sông Ô Lâu, sông Sài Gòn và khu hệ cá Miền Bắc.

– Tỉ lệ giống/họ ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên chỉ cao hơn so với tỉ lệ giống/họ của khu hệ cá sông Bến Hải còn lại thì thấp hơn các khu hệ cá được so sánh là Miền Nam, Nam Trung Bộ, sông Ba, sông Thu Bồn-Vu Gia, sông Ô Lâu, sông Sài Gòn, sông Gianh và khu hệ cá Miền Bắc.

– Tỉ lệ họ/bộ ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên chỉ thấp hơn so với tỉ lệ họ/bộ khu hệ cá sông Ba, sông Sài Gòn, sông Bến Hải và sông Gianh nhưng cao hơn các khu hệ cá còn lại.

Như vậy, thành phần loài cá sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên đa dạng về bậc họ, bậc bộ nhưng kém đa dạng về bậc giống và loài so với các khu hệ cá cửa sông ở nước ta.

b. Quan hệ thành phần loài cá sông Bàn Thạch với các khu hệ cá ở Việt Nam

Bảng 3.13. Quan hệ thành phần loài cá sông Bàn Thạch với các khu hệ cá khác

TTKhu hệ cáSố loàiSố loài chungHệ số S (**)Tác giả năm công bố
Số lượngTỉ lệ (%) (*)
1Miền Nam2555850,430,21Mai Đình Yên, 1992 [80].
2Nam Trung Bộ2517968,700,38Nguyễn Hữu Dực, 1995 [18]
3Sông Ba1828372,170,63Nguyễn Minh Ty,

Hoàng Đức Đạt, 2010 [71].

4Thu Bồn-

Vu Gia

1977161,740,42Vũ Thị Phương Anh,

Võ Văn Phú, 2010 [1].

5Sông Ô Lâu1094337,390,35Võ Văn Phú,

Nguyễn Duy Thuận, 2009 [53].

6Sông Sài Gòn2646253,910,24Tống Xuân Tám, 2012 [62].
7Sông Bến Hải1004135,650,31Võ Văn Phú,

Nguyễn Vinh Hiển, 2007 [24].

8Sông Gianh1233227,830,18Nguyễn Hữu Dực, Mai Thị Thanh Phương, 2011 [19].
9Miền Bắc2014135,650,14Mai Đình Yên, 1978 [76].

* Ghi chú: (*): Tỷ lệ so với 119 loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên

(**): S là hệ số Sorencen – Hệ số gần gũi

Như vậy, thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên và khu hệ cá sông Ba vừa gần gũi về mặt địa lý vừa có những đặc điểm tương đồng rất lớn về điều kiện sinh thái nên hai khu hệ này có số lượng loài chung nhiều nhất là 83 loài chiếm 72,17% và hệ số gần gũi cao nhất S=0,63.

Thành phần loài khu hệ cá sông Bàn Thạch có số loài chung với thành phần loài cá nước ngọt phía Bắc và số loài chung với thành phần loài cá nước ngọt phía Nam mang nhiều khác biệt. Tỷ lệ thành phần loài cá sông Bàn Thạch chung với thành phần loài cá nước ngọt phía Nam là (50,43%). Ngược lại tỷ lệ này giảm đối với thành phần các loài cá nước ngọt phía Bắc (35,65%), tỷ lệ số loài mang yếu tố Bắc giảm dần từ ngoài vào trong, số loài mang yếu tố Nam chiếm tỷ lệ cao. Điều này chứng tỏ cá ở sông Bàn Thạch mang tính chất chuyển tiếp giữa khu hệ cá miền Bắc và khu hệ cá miền Nam.

3.3. TÌNH HÌNH KHAI THÁC CÁ VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI THỦY SẢN Ở SÔNG BÀN THẠCH, TỈNH PHÚ YÊN

3.3.1. Tình hình khai thác cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên

a. Tình hình khai thác ở Sông Bàn Thạch

b. Một số nghề đánh bắt chính ở Sông Bàn Thạch

* Nghề lưới

* Nghề rớ giàn

* Nghề trủ

* Nghề kích điện

* Nghề lờ Trung Quốc

3.3.3. Một số giải pháp để phát triển bền vững nguồn lợi

a. Khai thác hợp lý nguồn lợi cá sông Bàn Thạch

b. Bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi

c. Phối hợp quản lý liên ngành

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. KẾT LUẬN

1.1. Kết quả nghiên cứu ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên đã xác định được 115 loài cá thuộc 85 giống nằm trong 47 họ và 14 bộ khác nhau.

1.2. Trong 14 bộ cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên, bộ cá Vược (Perciformes) là bộ có số loài ưu thế nhất với 45 loài chiếm 39,13%. Đa dạng nhất là họ cá Chép (Cyprinidae) với số lượng là 23 giống chiếm 27,06% và 29 loài chiếm 25,22%. Sự ưu thế về thành phần loài của bộ cá Vược (Perciformes) đã thể hiện tính chất nước lợ điển hình ở sông Bàn Thạch.

1.3. Trong tổng số 115 loài cá có mặt ở sông Bàn Thạch thì có 28 loài cá kinh tế. Có 8 loài nằm trong danh lục Sách Đỏ Việt Nam (2007), trong đó có 1 loài ở mức EN – nguy cấp và 7 loài ở mức VU – sẽ nguy cấp. Xác định 5 loài cá có nguồn gốc nhập nội.

1.4. Thành phần loài cá sông Bàn Thạch được chia theo 3 nhóm sinh thái khác nhau dựa theo nồng độ muối: gồm nhóm cá nước ngọt, nhóm cá nước lợ, nhóm cá nước mặn và một nhóm di cư có số lượng không nhiều. Sự phân bố của các nhóm cá này tùy thuộc vào địa điểm và thời gian.

1.5. Thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên mang tính chất chuyển tiếp giữa khu hệ cá miền Bắc và khu hệ cá miền Nam, trong đó mang yếu tố gần với khu hệ cá miền Nam nhiều hơn.

1.6. Tình hình khai thác cá trên sông Bàn Thạch diễn ra quá mức với nhiều ngư cụ khai thác mang tính tận diệt. Nuôi trồng thủy sản mang tính tự phát, chưa quy hoạch tổng thể nên gây ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng đến nguồn lợi cá và năng suất giảm sút nghiêm trọng. Đó là dấu hiệu cơ bản của suy thoái tài nguyên và đa dạng sinh học.

2. KIẾN NGHỊ

2.1. Cần có các đề tài nghiên cứu về sinh thái, sinh học các loài cá kinh tế, loài cá quý hiếm, các đối tượng nuôi nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc quản lý và phát triển nguồn lợi một cách bền vững.

2.2. Cần quy hoạch tổng thể và chi tiết các khu vực nuôi thủy sản. Sử dụng hợp lý các mặt nước trên lưu vực sông nhằm nâng cao hiệu quả và hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước.

2.3. Cần nuôi các loài cá có giá trị kinh tế cao như cá Chẽm (Lates calcarifer), cá Lóc (Channa striata), cá Chạch bùn (Misgurnus anguillicaudatus), cá Chạch bùn núi (Misgurnus tonkinensis) để mang lại nguồn thu nhập cho người dân.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN KHOA HỌC\DIEP\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *