Nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng tại Việt Nam

Nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng tại Việt Nam

Nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng tại Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) là động lực chính của hội nhập kinh tế quốc tế. Với khuôn khổ chính sách đúng đắn, FDI có thể mang lại sự ổn định về tài chính, thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi xã hội. Các quốc gia đang phát triển, các nền kinh tế mới nổi và đang trong quá trình chuyển đổi ngày càng coi FDI là nguồn lực phát triển và hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao thu nhập và việc làm. Mỗi quốc gia theo đuổi chính sách thu hút FDI khác nhau, nhưng đều chung một mục đích nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế của doanh nghiệp FDI đối với nền kinh tế trong nước.

“Tại Việt Nam, xét quy mô trong các ngành công nghiệp, ngành công nghiệp phần cứng được coi là một trong những ngành công nghiệp chủ đạo, có tiềm năng phát triển, đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế hiện đại và tác động mạnh mẽ đến các ngành công nghiệp khác. Các doanh nghiệp FDI trong ngành này phát triển rất mạnh trong những năm qua. Năm 2011, số lượng doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực này là 255 doanh nghiệp với tổng nguồn vốn đạt 137,5 nghìn tỷ đồng; đến năm 2016 là 709 doanh nghiệp với tổng nguồn vốn đạt 747,3 nghìn tỷ đồng, doanh thu năm 2016 đạt 1.538,9 tỷ đồng, tăng 5,8 lần so với năm 2011. Hiện nay có rất nhiều tập đoàn lớn mang tính toàn cầu đầu tư vào Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp điện tử như Tập đoàn Samsung, Nokia, Canon. Bên cạnh đó cũng có các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa sản xuất linh kiện cho các doanh nghiệp lắp ráp lớn, thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cho Việt Nam [Tổng cục Thống kê 2017, Tổng Điều tra Kinh tế năm 2017].”

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các dự án FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng được hưởng những ưu đãi cao nhất. Đồng thời, kết hợp với sự hội nhập kinh tế quốc tế từ sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization – WTO) vào năm 2007, làn sóng đầu tư mạnh mẽ của các doanh nghiệp FDI, ngành công nghiệp phần cứng Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc, đạt nhiều thành tựu to lớn. Một số thành tựu nổi bật đã được ghi nhận như:

Doanh thu xuất khẩu sản phẩm điện tử của Việt Nam hiện được xếp vào top 12 trên thế giới.

Giai đoạn 2008-2019, ngành công nghiệp phần cứng có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt từ 15% đến 30%.

Số lượng lao động trong ngành công nghiệp phần cứng hiện đạt trên 700.000 người.

Mặc dù ghi nhận nhiều thành tựu về sản xuất, xuất khẩu các sản phẩm điện tử, tuy nhiên phần nhiều là do các doanh nghiệp FDI mang lại. Ngành công nghiệp phần cứng đang lệ thuộc vào doanh nghiệp FDI, đóng góp từ doanh nghiệp trong nước rất ít, khoảng 2% giá trị sản phẩm, còn lại chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài. Doanh nghiệp FDI thực hiện các dự án đầu tư lớn chủ yếu nhằm mục đích tận dụng ưu đãi thuế và lực lượng lao động giá rẻ tại Việt Nam. Khả năng Việt Nam tham gia trong chuỗi giá trị sản phẩm thường là hoạt động lắp ráp, kiểm thử và chiếm giá trị gia tăng rất thấp chỉ khoảng 5-10% [nguồn: Báo cáo ngành công nghiệp phần cứng Việt Nam năm 2018]. Đối với nguồn thu ngân sách, thực tế sự đóng góp của các doanh nghiệp FDI còn rất hạn chế.

Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu và đánh giá về hiệu quả FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng, nếu nhìn nhận một cách khách quan, hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp điện tử hiện nay mang bóng dáng của làn sóng đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài những năm đầu tập kỷ 90, khi đó các doanh nghiệp này đầu tư hàng loạt các liên doanh lắp ráp tại Việt Nam để tận dụng ưu đãi về thuế, đất đai, nhân công giá rẻ,… Nhưng khi những ưu đãi này bị thu hẹp theo lộ trình giảm thuế linh kiện khi Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế, các doanh nghiệp này đã rút khỏi Việt Nam. Do chỉ chú trọng hoạt động lắp ráp, các doanh nghiệp hầu như không có sự chuyển giao công nghệ và đào tạo cho Việt Nam lực lượng kỹ sư chất lượng làm nền tảng cho phát triển công nghiệp phần cứng. Các doanh nghiệp này chủ yếu đào tạo lực lượng quản đốc, công nhân phục vụ cho các hoạt động lắp ráp sản phẩm của họ. Một hệ quả dễ nhận thấy là cho đến nay nền tảng phát triển ngành công nghiệp phần cứng của Việt Nam còn rất hạn chế.

Trong mối tương quan giữa các ngành nghề kinh tế, công nghiệp phần cứng đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của khoa học công nghệ. Nhận thấy tầm quan trọng, ảnh hưởng của FDI đến ngành công nghiệp phần cứng, tác giả đã quyết định lựa chọn thực hiện đề tài “Nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng tại Việt Nam”. Đề tài có ý nghĩa thực tiễn đối với cơ quan quản lý, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng, hiệp hội, đồng thời là tài liệu hỗ trợ cho tác giả trong quá trình công tác tại cơ quản quản lý nhà nước.

2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan tới Đề tài

3. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của đề tài là thực trạng hiệu quả FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng, đồng thời đánh giá hiệu quả FDI dựa trên các tiêu chí được đề xuất phù hợp với ngành công nghiệp phần cứng.

Các mục tiêu cụ thể của đề tài gồm:

– Xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả FDI phù hợp đối với ngành công nghiệp phần cứng tại Việt Nam.

– Đánh giá thực trạng hiệu quả FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng tại Việt Nam.

– Đề xuất định hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp phần cứng tại Việt Nam trong thời gian tới.

Nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng tại Việt Nam
Nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng tại Việt Nam

4. Đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn chỉ nghiên cứu các doanh nghiệp FDI, vai trò, trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông, các bộ, ngành liên quan để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp phần cứng tại Việt Nam.

4.3. Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp sau đây: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.

Đề tài sử dụng các số liệu được lấy từ các nguồn đáng tin cậy, được trích dẫn từ các bài báo có uy tín, báo cáo quốc tế, báo cáo ngành của cơ quan quản lý nhà nước.

5. Cấu trúc đề tài

Cấu trúc của luận văn được tổ chức theo 03 phần chính, bao gồm:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hiệu quả FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng.

Chương 2: Thực trạng hiệu quả FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng tại Việt Nam.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng tại Việt Nam.

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ FDI TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP PHẦN CỨNG

1.1. Lý thuyết chung về FDI

1.1.1. Các khái niệm về FDI trong nước và quốc tế

a. Quốc tế

“FDI là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này [Wikipedia]. Tuy vậy, trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về FDI, trong đó có thể kể đến một số khái niệm của các tổ chức quốc tế được sử dụng phổ biến như sau:

WTO:

FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút, nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty.

Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF):

FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.

Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD):

FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách:

Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư.

Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có.

Tham gia vào một doanh nghiệp mới.

Cấp tín dụng dài hạn (> 05 năm).

Quyền kiểm soát : nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên.

Theo định nghĩa của Chính phủ Hoa Kỳ:”

Ngoài những nội dung tương tự khái niệm FDI của IMF và OECD, FDI còn gắn với “quyền sở hữu hoặc kiểm soát 10% hoặc hơn thế các chứng khoán kèm quyền biểu quyết của một doanh nghiệp, hoặc lợi ích tương đương trong các đơn vị kinh doanh không có tư cách pháp nhân”.

“Như vậy, tựu trung lại, FDI có thể hiểu là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và phản ánh lợi ích dài hạn và quyền kiểm soát (control) của một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế (được gọi là chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài (được gọi là doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp chi nhánh hay chi nhánh nước ngoài).”

b. Việt Nam

Luật pháp Việt Nam không có khái niệm về FDI. Luật đầu tư 2020 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 chỉ có khái niệm về “dự án đầu tư”, “nhà đầu tư nước ngoài”, không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài” mà chỉ định nghĩa một cách khái quát tại Khoản 19, 22 Điều 3 như sau:

“+ Khoản 19, Điều 3: Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

+ Khoản 22, Điều 3: Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.

Như vậy, pháp luật Việt Nam không ghi nhận hay đưa ra khái niệm về FDI mà chỉ ghi nhận hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài (là các doanh nghiệp FDI) trong nền kinh tế ở một phạm vi rộng hơn (tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

1.1.2. Các hình thức FDI

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài bỏ 100% vốn tại nước sở tại, và có quyền điều hành toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp theo quy định, pháp luật của nước sở tại.

Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Các bên tham gia điều hành doanh nghiệp , chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỉ lệ góp vốn của mỗi bên vào vốn điều lệ. Phần góp vốn của bên nước ngoài không được ít hơn 30% vốn pháp định.

Hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh: đây là một văn bản được kí kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước để tiến hành một hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước chủ nhà trên cở sở quy định về trách nhiệm để thực hiện hợp đồng và xác định quyền lợi của mỗi bên, nhưng không hình thành một pháp nhân mới.

Các hình thức khác: ngoài các hình thức kể trên ở các nước và ở Việt Nam còn có các hình thức khác như : hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT) nhằm khuyến khích thu hút FDI.

1.1.3. Tìm hiểu các đặc điểm, ý nghĩa và vai trò của FDI trong nền kinh tế

a. Đặc điểm

FDI ra đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác vài ba thập kỷ nhưng FDI nhanh chóng xác lập vị trí của mình trong quan hệ kinh tế quốc tế, FDI trở thành một xu thế tất yếu của lịch sử, một nhu cầu không thể thiếu của các quốc gia trên thế giới kể cả những nước đang phát triển, những nước công nghiệp mới hay những nước trong khối Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (Organization of Petroleum Exporting Countries – OPEC) và những nước phát triển.

FDI có một vị trí vô cùng quan trọng. Nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và toàn diện hơn. FDI làm tăng khả năng về vốn, kinh nghiệm quản lý cho quốc gia nhận đầu tư. FDI là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để đưa quốc gia nhận đầu rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực và thế giới. Đối với các quốc gia đang phát triển, FDI là một trong các yếu tố cần thiết và quan trọng để có thể đưa nền kinh tế bắt kịp với thế giới.

b. Ý nghĩa của FDI

FDI tạo thu nhập cho nước nhận đầu tư.

FDI tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp và tạo ra công ăn việc làm cho người lao động.

c. Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế

FDI là yêu cầu tất yếu của quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Với những đặc điểm của mình, FDI đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đối với cả nước nhập khẩu đầu tư và nước xuất khẩu đầu tư, thúc đẩy các nước này gia tăng liên kết, nhằm duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế của nước mình.

FDI có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của bất cứ một quốc gia nào trên thế giới. FDI đã đem lại một hơi thở mới cho nền kinh tế thế giới, mở cửa cho sự toàn cầu hóa lan rộng khắp thế giới.”

1.1.4. Các nguyên tắc thực hiện FDI

Dựa trên các hình thức FDI, các quốc gia nhận đầu tư thường xây dựng một số nguyên tắc thực hiện FDI như sau:

Tập trung phát triển:

FDI tập trung vào phát triển bền vững trong thời gian dài. Các nguồn vốn FDI cần được sử dụng để tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội trong tương lai, không phải trong thời gian ngắn hay các hoạt động tạm thời cần gấp nguồn vốn. Do đó, các chương trình/dự án sử dụng vốn FDI cần được song hành với các kế hoạch phát triển ngành và Chương trình Phát triển Kinh tế- Xã hội của quốc gia nhận đầu tư. Đồng thời, các chương trình/dự án sử dụng vốn FDI phải đảm bảo hiệu quả dựa trên các mục tiêu đề ra của các kế hoạch này.

Mối quan hệ cùng có lợi:

Để đảm bảo thành công của các chương trình/dự án FDI thì phải có quan hệ cùng có lợi (như đôi bên cùng có lợi) giữa nhà đầu tư/tài trợ nước ngoài và quốc gia nhận đầu tư / tài trợ. Trong hầu hết các trường hợp, nhà đầu tư / tài trợ nước ngoài sẽ mong đợi những mục tiêu của mình sẽ được thực hiện bởi quốc gia nhận đầu tư / nhận tài trợ. Tương tự, nước nhận đầu tư / tài trợ cũng mong đợi nhà đầu tư / tài trợ nước ngoài phải đáp ứng những mục tiêu của mình. Khi cả hai bên cùng đồng ý giúp đỡ lẫn nhau để cùng đạt được những mục tiêu của riêng mình thì thỏa thuận đôi bên cùng có lợi sẽ được thiết lập.

Động lực và kỳ vọng của các nhà đầu tư cũng như quốc gia thụ hưởng nguồn vốn FDI:

Hiểu rõ những động cơ cũng như kỳ vọng của các nhà đầu tư và quốc gia nhận các khoản viện trợ FDI tiềm năng sẽ mang đến mối quan hệ đôi bên cùng có lợi chặt chẽ hơn. Điều này sẽ đảm bảo thành công cho các dự án FDI.

Tại bảng 1.1, 1.2 bên dưới ta có thể nhận thấy rằng những động cơ và kỳ vọng của các doanh nghiệp FDI (chủ yếu là những doanh nghiệp khu vực tư nhân) và quốc gia nhận đầu tư khá khác biệt và thường mâu thuẫn với nhau. Doanh nghiệp FDI, lấy lợi nhuận làm động lực và luôn muốn khai thác tối đa các nguồn lực và lợi thế chi phí của các quốc gia nhận đầu tư (bao gồm các khoản ưu đãi). Bên cạnh đó, quốc gia nhận đầu tư cũng muốn nhận được càng nhiều lợi ích càng tốt từ doanh nghiệp FDI.

Trong nhiều trường hợp cần phải thỏa thuận giữa hai bên để đạt được mục tiêu đôi bên cùng có lợi. Do vậy, việc “trói buộc” doanh nghiệp FDI trong dài hạn và đảm bảo họ thực hiện các cam kết với quốc gia nhận đầu tư ngay từ đầu là rất quan trọng. Điều này thường được thực hiện thông qua hợp đồng hoặc thỏa thuận kinh doanh có ràng buộc pháp lý.

Bảng 1.1. Động cơ thúc đẩy

Động cơ thúc đẩy FDI
Nhà đầu tư nước ngoàiQuốc gia nhận đầu tư
Tiếp cận lao động giá rẻ

Tiếp cận đất đai mặt bằng giá rẻ và các nguồn lực khác

Tiếp cận các thị trường (trong nước và trong khu vực)

Tiếp cận các nhà cung cấp nguyên vật liệu thô & linh kiện

Tiếp cận các công nghệ phụ trợ

Bản địa hóa sản phẩm dịch vụ

Tiếp cận nguồn vốn

Tạo việc làm

Chuyển giao công nghệ

Phát triển kỹ năng/khả năng mới

Có trang thiết bị sản xuất & phát triển mới

Tham gia vào mạng lưới sản xuất, phân
phối, marketing toàn cầu

Tiếp thu kinh nghiệm thực hành tốt nhất

Bảng 1.2. Những kỳ vọng từ FDI

Những kỳ vọng từ FDI
Nhà đầu tư nước ngoàiQuốc gia nhận đầu tư
Tối đa hóa lợi nhuận đầu tư (ROI)

Tăng thị phần

Tăng kim ngạch xuất khẩu

Tăng doanh thu và lợi nhuận

Tăng khả năng cạnh tranh

Tăng trưởng và mở rộng công ty

Tối đa hóa lợi ích

Nâng cao khả năng và năng lực ngành

Phát triển cụm công nghiệp (Cluster)

Tăng kim ngạch xuất khẩu

Tăng doanh thu ngành

Tăng doanh thu thuế

Hiệu ứng lan tỏa đối với các ngành khác

Mặt khác, doanh nghiệp FDI phải chịu những rủi ro khi đầu tư vào quốc gia khác, đây có thể là yếu tố quan trọng quyết định nơi họ sẽ đầu tư vào. Những ví dụ của những rủi ro này là:

Rủi ro chính trị.

Rủi ro quốc gia.

Chính sách và quy định không ổn định và không nhất quán.

Chất lượng lao động thấp hơn mong đợi.

Thiếu các ngành công nghiệp phụ trợ.

1.2. Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam

“Doanh nghiệp FDI là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài bao gồm:

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài và đối tác trong nước.

Trên thực tế, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, loại hình doanh nghiệp này ngày càng phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, thông qua hình thức FDI, doanh nghiệp đã tiếp thu được những công nghệ hiện đại trong các lĩnh vực viễn thông, khai thác dầu khí, hoá chất, điện tử,… phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước.

Một số ngành sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu trong nước như dệt, may, sản xuất giầy dép cũng có công nghệ thuộc loại trung bình tiên tiến ở khu vực. Nguồn vốn FDI cùng các phương thức kinh doanh mới đã tạo ra sự cạnh tranh ngay tại thị trường trong nước, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phải đổi mới chất lượng sản phẩm và áp dụng phương pháp kinh doanh hiện đại. Có thể nói, bộ phận doanh nghiệp FDI đã đóng góp không nhỏ đối với sự tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua.”

1.3. Khái niệm về hiệu quả FDI và ngành công nghiệp phần cứng

1.3.1. Ngành công nghiệp phần cứng

Theo quy định tại Điều 47 Luật Công nghệ thông tin (CNTT) số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006, công nghiệp phần cứng là công nghiệp sản xuất các sản phẩm phần cứng, bao gồm phụ tùng, linh kiện, thiết bị số.

“Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 71/2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật CNTT về công nghiệp CNTT, hoạt động công nghiệp phần cứng bao gồm các loại hình thiết kế, chế tạo sản phẩm phần cứng, lắp ráp, gia công sản phẩm phần cứng; cung cấp dịch vụ công nghiệp phần cứng. Sản phẩm phần cứng bao gồm các nhóm sản phẩm sau đây:

Máy tính, thiết bị mạng, thiết bị ngoại vi;

Điện tử nghe nhìn;

Điện tử gia dụng;

Điện tử chuyên dùng;

Thông tin-viễn thông, thiết bị đa phương tiện;

Phụ tùng, linh kiện điện tử;

Các sản phẩm phần cứng khác.

Ngành công nghiệp phần cứng được coi là một trong những ngành công nghiệp chủ đạo có tiềm năng phát triển to lớn, có vị trí then chốt trong nền kinh tế hiện đại và có tác động mạnh mẽ đến các ngành công nghiệp khác. Việc ứng dụng công nghệ vào các ngành nghề khác sẽ trợ giúp hiệu quả, tăng khả năng sáng tạo, năng suất và tạo ra những thị trường mới với nhiều việc làm hơn.”

1.3.2. Hiệu quả FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng

Hiệu quả FDI nhìn từ mọi khía cạnh là góp phần phát triển kinh tế thông qua tác động trực tiếp đến tăng vốn đầu tư, tạo việc làm, xuất khẩu, ngoại hối và thu thuế; tác động gián tiếp đến các nhà cung cấp địa phương, chuyển giao công nghệ, năng suất, đổi mới và quản trị.

Xét một cách cụ thể hơn, một dự án FDI chất lượng, hiệu quả mang các yếu tố sau:

Góp phần tạo ra việc làm tốt và giá trị gia tăng cao.

Tăng cường kỹ năng nhân lực cho nước nhận đầu tư.

Tạo điều kiện chuyển giao công nghệ, kiến thức, bí quyết sản xuất, kinh doanh cho nước nhận đầu tư.

Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp của nước nhận đầu tư và cho phép tiếp cận thị trường.

Đóng góp vào các hoạt động xã hội một cách có trách nhiệm và bảo đảm môi trường.

Để các dự án FDI đạt hiệu quả cao, không chỉ đòi hỏi một phía từ doanh nghiệp FDI mà bản thân nước nhận đầu tư phải thực hiện các chính sách phù hợp để khắc phục những khiếm khuyết trong nước, cản trở sự hội nhập của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài vào mạng lưới chuỗi cung ứng trên toàn thế giới.

Công nghiệp phần cứng là một ngành trong hệ thống ngành nghề kinh tế quốc dân. Việc đưa ra khái niệm hiệu quả FDI trong ngành công nghiệp phần cứng dựa vào các yếu tố nêu trên. Do đó, có thể hiểu hiệu quả FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng là việc đạt được tiến bộ về các mục tiêu phát triển bền vững. Nó tạo ra việc làm, phát triển kỹ năng, kích hoạt sự đổi mới và cải thiện năng suất lao động, tiêu chuẩn, hỗ trợ phân phối lại toàn diện hơn các nguồn lực của cải thông qua các mối liên kết với các doanh nghiệp FDI.

1.4. Tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng

Năm 2019, OECD xuất bản Báo cáo “FDI Qualities Indicators – Measuring the sustainable development impacts of investment”. Báo cáo trình bày một bộ chỉ số mới đo lường tác động phát triển bền vững của FDI ở quốc gia nhận đầu tư. Bộ chỉ số này tập trung vào 5 yếu tố: (i) Năng suất và đổi mới; (ii) Việc làm và chất lượng công việc; (iii) Kỹ năng; (iv) Bình đẳng giới và (v) Môi trường và năng lượng.

Bảng 1.3. Chỉ số đo lường hiệu quả FDI của OECD

Tiêu chíMục tiêuKết quả
Năng suất và đổi mới sáng tạoCung cấp thông tin về mối liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, tăng năng suất và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo thông qua hoạt động chuyển giao công nghệNăng suất lao động

Tăng năng suất lao động

Đổi mới sản phẩm

Đổi mới quy trình

Chi tiêu cho R&D

Sử dụng công nghệ của nước ngoài

Việc làm và chất lượng công việcTìm hiểu xem FDI có liên quan như thế nào đến việc làm và chất lượng công việc ở các quốc gia nhận đầu tư và mối quan hệ đó là tích cực hay tiêu cực ở mức độ nào. Chất lượng công việc là điều cần thiết để đảm bảo rằng lao động có thể làm việc một cách hiệu quảTạo việc làm trên 1 đơn vị FDI

Tăng trưởng việc làm

Tiền lương

Bảo đảm về công việc (công việc tạm thời)

An toàn lao động

Kỹ năngĐiều tra mức độ mà các doanh nghiệp FDI đầu tư vào nguồn nhân lực và kỹ năng, có thể qua hình thức trực tiếp đào tạo lao động và quản lý nội bộ hoặc gián tiếp thông qua chuyển giao kiến thức cho các doanh nghiệp trong nướcKỹ năng chuyên sâu

Đào tạo trong công việc

Thiếu / dư thừa kỹ thuật

Bình đẳng giớiKiểm tra xem FDI gắn với bình đẳng giới như thế nào ở các nền kinh tế chủ nhà. Sự tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động và cơ hội bình đẳng ở tất cả các cấp độ lao động từ góc độ xã hội và cơ hội kinh tếKhoảng cách việc làm theo giới

Chênh lệch lương theo giới

Nữ quản lý hàng đầu (trao quyền cho nữ)

Doanh nhân nữ

Môi trườngNghiên cứu mức độ ảnh hưởng của FDI đến khí thải carbon, FDI đang đóng góp vào quá trình chuyển đổi năng lượng xanh.Phát khí thải CO2

Hiệu suất năng lượng

Năng lượng tái tạo

Báo cáo này là một kết quả nghiên cứu quan trọng để thực hiện Kế hoạch hành động OECD về Phát triển mục tiêu bền vững. Nó bổ sung cho lợi ích và chuyên môn lâu dài của OECD trong việc cải thiện môi trường chính sách để không ảnh hưởng đến xã hội của đầu tư tư nhân, doanh nghiệp đa quốc gia.

OECD đưa ra 5 nhóm chỉ số này trên cơ sở có tính đến sự tham gia của tất cả các bên liên quan. Các chỉ số ở các nhóm được xác định và sử dụng để tạo ra sự liên quan đến FDI hoặc hoạt động của các doanh nghiệp FDI, cho phép so sánh với doanh nghiệp trong nước để đưa ra đánh giá.

“Hiện nay, thành công của FDI tại Việt Nam được đo lường và báo cáo hàng tháng về số lượng, giá trị các dự án FDI và giấy phép đầu tư được phê duyệt. Hiệu quả của đầu tư FDI giá trị cao thường không thể nắm rõ nếu chỉ nhìn vào tổng vốn đầu tư. Với tầm quan trọng ngày càng tăng của FDI liên quan đến các dịch vụ CNTT, gia công phần mềm, đầu tư vào R&D, nếu báo cáo về những loại dự án chỉ dựa trên chi phí vốn gắn với những khoản đầu tư này thì sẽ không nêu bật được tầm quan trọng đáng kể của những khoản đầu tư này đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Để đo lường hiệu quả FDI trong giai đoạn hiện nay thì những tiêu chí này chưa phù hợp. Hiệu quả của FDI giá trị cao thường không thể nắm rõ nếu chỉ nhìn vào tổng vốn đầu tư hay số lượng dự án, giấy phép được phê duyệt.”

Do vậy, tham khảo một số tiêu chí của OECD về việc đo lường, đánh giá hiệu quả đầu tư FDI và đặc điểm ngành công nghiệp phần cứng tại Việt Nam, sơ bộ có thể sử dụng các nhóm tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng như sau:

1.4.1. Nhóm tiêu chí đánh giá tác động kinh tế

Nhóm tiêu chí đánh giá tác động kinh tế bao gồm:

Đóng góp của dự án FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng vào tăng trưởng kinh tế.

Nhóm chỉ số đầu tiên của OECD “Productivity and innovation” nhằm mục đích đo lường mức độ liên quan đến năng suất và đổi mới của FDI và có thể hỗ trợ hoặc làm suy yếu tiến trình phát triển của quốc gia nhận được sự đầu tư. Nói rộng hơn, FDI có liên quan đến năng suất lao động và đổi mới sáng tạo.

Chúng ta có thể thấy, các ngành thu hút FDI thường có mức tăng trưởng năng suất lao động và R&D cao hơn các ngành khác. Sự tăng năng suất và đổi mới sáng tạo được tạo ra bởi công nghệ tiên tiến, trình độ quản lý vượt trội do các doanh nghiệp FDI mang lại.

Nhóm chỉ số này cũng làm sáng tỏ tiềm năng về năng suất và sự lan tỏa đổi mới của FDI thông qua mối liên kết với các doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp trong nước đòi hỏi phải có đủ năng lực hấp thụ để hưởng lợi từ sự hiện diện của FDI và sự chuyển giao kiến thức, công nghệ liên quan. Khả năng hấp thụ được đo bằng khoảng cách hiệu suất giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI.

Có thể nói, tác động của FDI có thể tích cực hoặc tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của nước nhận đầu tư. Nghĩa là, bên cạnh việc mạng lại điểm tích cực, FDI cũng có thể gây ra tổn thất cho nền kinh tế. Do đó, tiêu chí “Đóng góp của dự án FDI vào tăng trưởng kinh tế” sẽ là một tiêu chí quan trọng bao gồm các yếu tố sau:

  • GDP.
  • Phát triển cơ sở hạ tầng.
  • Cải thiện năng suất lao động trong khu vực đầu tư.
  • Vốn FDI cam kết, giải ngân.

Thông thường, trước đây việc đánh giá hiệu quả đầu tư FDI thường nhìn vào các con số về định lượng như: tổng số dự án đăng ký, vốn đăng ký. Tuy vậy, trong việc đánh giá hiệu quả đầu tư cũng như thu hút FDI, quan trọng nhất là vốn giải ngân phải tiệm cận gần với số vốn đăng ký. Điều đó mới đánh giá đúng thực chất hiệu quả của hoạt động đầu tư nước ngoài, đồng thời, thể hiện niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Do đó, tiêu chí đánh giá vốn FDI cam kết, giải ngân trong thực tế là một tiêu chí quan trọng để đo lường mức độ hài lòng, hiệu quả của nhà đầu tư cũng như dự án đầu tư vào Việt Nam.

Tỷ lệ nguồn vốn đầu tư đến những địa bàn khó khăn để thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế giữa các địa phương đồng bộ với chiến lược phát triển kinh tế vùng miền của Việt Nam.

Tiêu chí này giúp cơ quan quản lý nhà nước có cái nhìn tổng thể về số lượng các dự án FDI triển khai trên toàn quốc, qua đó có sự điều chỉnh về chính sách thu hút, giúp các khu vực có sự phát triển kinh tế đồng bộ, bền vững.

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư – doanh thu thuế thuần so với chi phí của những chế độ ưu đãi đã cho nhà đầu tư.

Tiêu chí này là một tiêu chí quan trọng, nó giúp cơ quan quản lý nhà nước nhận biết các lợi ích thu lại được từ dự án đầu tư cụ thể so với các ưu đãi mà Việt Nam cung cấp cho doanh nghiệp nước ngoài. Việc xác định các phần nộp lại (thuế, trách nhiệm xã hội, môi trường) từ phía doanh nghiệp nước ngoài có xứng đáng với các mức ưu đãi mà Việt Nam cung cấp, qua đó có thể thấy rõ hiệu quả đầu tư của dự án là đạt hay không đạt.

1.4.2. Nhóm tiêu chí đánh giá tác động xã hội

Nhóm tiêu chí đánh giá tác động xã hội và môi trường bao gồm:

Hiệu quả tạo công ăn việc làm trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Nhóm chỉ số của OECD “Employment and job quality” cũng đề cập đến cách thức FDI tác động đến kết quả thị trường lao động tại các quốc gia nhận đầu tư về cả số lượng và chất lượng. Bộ chỉ số này xác định mức độ liên quan đến FDI với tạo việc làm, tăng trưởng việc làm, tiền lương và các điều kiện bảo đảm việc làm (cơ sở vật chất, an toàn lao động tại nơi làm việc).

Do vậy, tiêu chí này là một trong các tiêu chí quan trọng và việc các dự án FDI thực hiện hiệu quả sẽ góp phần tạo ra công ăn việc làm trong khu vực, cải thiện đời sống của người dân tại khu vực đó. Bên cạnh đó, cơ quản quản lý nhà nước cũng sẽ có cái nhìn tổng quan về tình hình phát triển nguồn nhân lực dựa trên nhu cầu lao động của doanh nghiệp FDI.

Hiệu quả thu nhập của lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Các dự án FDI hiệu quả thường mang lại lợi ích về kinh tế cho người lao động. Tiêu chí này đánh giá mức độ tăng trưởng về tiền lương, phúc lợi xã hội của người lao động cho doanh nghiệp FDI.

Tác động môi trường của dự án FDI.

Rủi ro môi trường được coi là mối đe dọa toàn cầu trong thập kỷ tới. Một nền kinh tế toàn cầu phụ thuộc vào nhiên liệu, khí thải, hiệu ứng nhà kính đang ngày một tăng cao. Điều này đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ đối với khí hậu. Thiệt hại tài chính trung bình hàng năm từ vấn đề môi trường toàn cầu lên đến hàng trăm tỷ USD.

Nhóm chỉ số của OECD “Carbon footprint” xem xét cách thức FDI liên quan đến vấn đề môi trường như: rác thải, biến đổi khí hậu, tiếp cận năng lượng, sự đóng góp của FDI cho cơ sở hạ tầng năng lượng tái tạo. Thông qua đó, đánh giá ảnh hưởng của môi trường, năng lượng đến các hoạt động kinh tế, thúc đẩy việc áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng và sự hấp thụ, tạo ra của các nguồn năng lượng sạch.

Tiêu chí này là một trong các tiêu chí quan trọng nhất trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Việc các dự án FDI có tính hiệu quả về kinh tế nhưng lại làm nguy hại đến môi trường, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân cũng sẽ không được đánh giá là hiệu quả. Tiêu chí này sẽ giúp cơ quan nhà nước trong việc đánh giá các dự án FDI một cách thiết thực, qua đó bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam.

1.4.3. Nhóm tiêu chí đánh giá tác động lan tỏa của FDI

Nhóm tiêu chí đánh giá tác động lan tỏa của FDI bao gồm:

Sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và nội địa.

Trong 30 năm thu hút FDI, mặc dù kinh tế Việt Nam có sự tăng trưởng nhanh, tuy nhiên Việt Nam quá lệ thuộc vào doanh nghiệp FDI. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước chưa có sự chặt chẽ, kết nối. Do đó, tiêu chí này giúp cơ quan quản lý nhà nước đánh giá sự hiệu quả của dự án FDI đối với doanh nghiệp nội địa (hợp tác làm ăn, trao đổi công nghệ, xúc tiến thương mại giữa hai nước).

Chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Mở cửa thị trường, thu hút dự án FDI nhằm mục tiêu giúp các nước đang phát triển được tiếp cận các công nghệ cao, công nghệ hiện đại qua đó học hỏi được các công nghệ cốt lõi từ phía dự án FDI và phát triển thành thương hiệu của mình. Do đó, tiêu chí này sẽ phản ánh chính xác mức độ công nghệ Việt Nam tiếp thu được từ dự án FDI qua đó giúp cơ quan quản lý nhà nước điều chỉnh các chính sách (yêu cầu, bắt buộc, tự nguyện) trong việc chuyển giao công nghệ.

Các chương trình, đào tạo kỹ năng cho người lao động từ phía doanh nghiệp FDI.

Theo bộ chỉ số của OECD, tăng cường kỹ năng lao động là nền tảng cho sự phát triển bền vững. Kỹ năng lao động là một yếu tố quan trọng cho phép tăng năng suất lao động và đổi mới, tạo điều kiện chuyển giao kiến thức, công nghệ. FDI có thể hỗ trợ phát triển kỹ năng bằng cách cung cấp cơ hội đào tạo cho nhân viên hoặc nhà cung cấp với việc tạo ra cơ hội đào tạo kỹ năng quản lý và kỹ thuật.

Trình độ, kỹ năng của người lao động là vấn đề then chốt trong việc phát triển kinh tế xã hội. Tiêu chí này giúp cơ quan quản lý nhà nước có sự nhận biết về trình độ người lao động trong khu vực dự án FDI có được nâng cao, cải thiện (xuất hiện nhiều kỹ sư, nhà nghiên cứu Việt Nam).

Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp phần cứng, việc đầu tư vào nghiên cứu khoa học là rất quan trọng. Chỉ khi sở hữu các công nghệ lõi mới giúp thúc đẩy lĩnh vực khoa học công nghệ tại Việt Nam. Các dự án FDI hiệu quả sẽ kéo theo công tác thúc đẩy nghiên cứu khoa học tại nước đó. Tiêu chí này giúp cơ quan quản lý nhà nước có sự nhận biết về tiến bộ khoa học kỹ thuật tại khu vực của dự án FDI đầu tư.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng

Căn cứ lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia (Porter’s Diamond Model) và thực trạng phát triển của ngành công nghiệp phần cứng tại Việt Nam, chúng ta có thể đưa ra 02 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả FDI trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng: nhóm yếu tố bên trong thuộc về nội bộ ngành công nghiệp phần cứng của Việt Nam; nhóm yếu tố bên ngoài thuộc về doanh nghiệp FDI. xu thế phát triển kinh tế trong khu vực và trên thế giới.

1.5.1. Yếu tố bên trong

– Tác động từ chính sách thu hút FDI trong nước

Chính sách thu hút FDI là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thu hút các dự án FDI hiệu quả. Quốc gia có chiến lược thu hút FDI phù hợp sẽ thu hút được nhiều dự án FDI có chất lượng cao và hiệu quả. Ngoài ra, một quốc gia có chính sách cởi mở, thông thoáng sẽ tăng chất lượng và hiệu quả của các dự án FDI. Ngược lại, chính sách có nhiều rào cản sẽ kìm hãm khả năng thu hút FDI chất lượng.

– Kỹ năng lao động và mức lương

Một động lực chính để một tập đoàn đa quốc gia đầu tư ra nước ngoài là thuê lao động ngoài để sản xuất, sử dụng lao động có mức lương thấp. Tuy nhiên, tỷ lệ tiền lương không quyết định FDI, các quốc gia có tỷ lệ tiền lương cao vẫn có thể thu hút FDI do có chất lượng nguồn lao động cao, đáp ứng nhu cầu sản xuất.

Ngành công nghiệp phần cứng đòi hỏi kỹ năng lao động cao. Do đó, các doanh nghiệp FDI sẽ đầu tư vào những nước có chất lượng nguồn lao động cao kèm theo mức lương thấp. Ví dụ: Ấn Độ đã thu hút được nhiều dự án FDI chất lượng do tỷ lệ dân số nói tiếng Anh cao kèm theo đó mức lương của lao động thấp. Điều này biến Ấn Độ trở thành nơi hấp dẫn để thu hút đầu tư cho ngành công nghiệp phần mềm.

– Quy mô nền kinh tế và tiềm năng tăng trưởng

FDI thường nhắm đến việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa trực tiếp cho quốc gia nhận đầu tư. Do đó, quy mô nền kinh tế và tiềm năng tăng trưởng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định đầu tư. Các quốc gia nhỏ có thể gặp bất lợi trong vấn đề thu hút đầu tư các dự án FDI chất lượng cao.

– Ổn định chính trị

“FDI là một yếu tố rủi ro. Các quốc gia có tình hình chính trị không ổn định thường không nhận được sự đầu tư từ các doanh nghiệp FDI. Khi môi trường chính trị ổn định, không có sự biến động khủng hoảng thì các nhà đầu tư sẽ tập trung nguồn lực để thực hiện đầu tư. Ngược lại, khi có biến động thì các nguồn đầu tư sẽ thay đổi, các nhà đầu tư gặp khó khăn rất nhiều về kinh tế nên ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả FDI.

– Vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật và chất lượng nguồn nhân lực

Vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật của quốc gia nhận đầu tư là một trong những yếu tố cơ bản để thu hút dự án FDI chất lượng và cũng là yếu tố thúc đẩy dự án FDI hoạt động một cách có hiệu quả, các yếu tố này có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Khi tiến hành đầu tư vào các dự án, doanh nghiệp FDI tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh với cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật được đầu tư tốt. Điều này sẽ rút ngắn thời gian thực hiện các dự án, bên cạnh đó sẽ làm giảm chi phí vận chuyển, thông tin liên lạc cho các khâu và sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư.

Một quốc gia có vị trí địa lý phù hợp và cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật tốt với hệ thống đường sá, bến cảng, sân bay, thông tin liên lạc tốt sẽ giúp cho các doanh nghiệp FDI thuận tiện trong việc vận chuyển, xây dựng các hệ thống sản xuất hiện đại đáp ứng về yêu cầu kỹ thuật, tối ưu hóa chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, mang lại hiệu quả cao. Do đó, để các dự án FDI hoạt động có hiệu quả, chính phủ của quốc gia nhận đầu tư phải đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI được thuận lợi thông qua việc ưu tiên phát triển đường sá, nhà ga, sân bay, bến cảng, hệ thống điện, nước, hệ thống thông tin, liên lạc.”

1.5.2. Yếu tố bên ngoài

– Tình hình kinh tế và xu hướng đầu tư trên thế giới

Yếu tố đầu tiên phải kể đến là tình hình kinh tế thế giới, tình hình kinh tế thế giới có biến động tích cực hay tiêu cực đều ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khi tình hình kinh tế thế giới giảm sút, các nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn sẽ làm giảm lượng đầu tư FDI và chất lượng từ các dự án FDI cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng.

– Chiến lược kinh doanh, định hướng thị trường của nhà đầu tư

“Doanh nghiệp FDI chỉ quyết định đầu tư ra nước ngoài nếu thấy việc đầu tư ở nước ngoài mang lại hiệu quả từ việc đầu tư, đem lại lợi nhuận cao hơn so với việc đầu tư trong nước. Tuy nhiên, tùy vào đặc điểm riêng của mỗi thị trường mà nhà đầu tư nước ngoài lại có những chiến lược và định hướng đầu tư khác nhau, căn cứ vào các điều kiện về môi trường đầu tư của nước thu hút đầu tư. Mục đích đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài có thể được phân chia thành các loại như sau: FDI với mục tiêu tìm kiếm thị trường, FDI với mục tiêu khai thác tài nguyên thiên nhiên, FDI với mục tiêu khai thác hiệu quả. Trong ba loại FDI trên đây, loại FDI với mục tiêu khai thác tài nguyên thiên nhiên thường được thực hiện đối với các quốc gia đang phát triển, mà ở đó doanh nghiệp FDI có thể tận dụng nguồn nguyên liệu thô, lao động phổ thông giá rẻ. Với loại đầu tư này, quốc gia tiếp nhận đầu tư rất dễ rơi vào tình trạng bị khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách thiếu khoa học, ảnh hưởng rất lớn đến yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất trong dài hạn, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững. Do vậy, cần phải hạn chế những doanh nghiệp FDI với mục đích khai thác tài nguyên thiên nhiên.

– Trình độ công nghệ và tiềm lực tài chính, quy mô của doanh nghiệp FDI

Một dự án FDI chất lượng thì phải bảo đảm yếu tố nước tiếp nhận đầu tư sẽ được chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại từ doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp FDI có trình độ công nghệ cao thường làm chủ công nghệ lõi và khi thực hiện đầu tư sẽ nâng cao năng suất lao động, rút ngắn thời gian sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Do vậy, một dự án FDI có hiệu quả cao cần phải thu hút những doanh nghiệp FDI có trình độ công nghệ tiến tiến, tiềm lực và quy mô lớn, đặc biệt là các tập đoàn công nghệ.”

– Sự cạnh tranh thu hút FDI từ các quốc gia trong khu vực

Mỗi quốc gia đều có lợi thế về vị trí, đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội khác nhau vì thế mỗi quốc gia sẽ có những lợi thế cạnh tranh cho riêng mình. Nếu sức cạnh tranh của Việt Nam yếu hơn so với các quốc gia khác trong khu vực thì sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút được các dự án FDI chất lượng.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ FDI TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP PHẦN CỨNG TẠI VIỆT NAM

2.1. Tổng quan ngành công nghiệp phần cứng Việt Nam

2.1.1. Số liệu thống kê của ngành công nghiệp phần cứng Việt Nam

“Ngành công nghiệp phần cứng được coi là một trong những ngành công nghiệp chủ đạo có tiềm năng phát triển to lớn, có vị trí then chốt trong nền kinh tế hiện đại và có tác động mạnh mẽ đến các ngành công nghiệp khác. Việc ứng dụng công nghệ vào các ngành nghề khác sẽ trợ giúp hiệu quả, tăng khả năng sáng tạo, năng suất và tạo ra những thị trường mới với nhiều việc làm hơn.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ Luan_van_FDI_LDHIEP_o_v_n

Nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng tại Việt Nam

Nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng tại Việt Nam

Nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp phần cứng tại Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *