MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngân hàng và những hoạt động ngân hàng cólịch sửra đời từrất lâu, từ nghề đổitiền của một số thương nhân [50], dần hình thành nên các tổ chức nhận tiền gửi,

cho vay, chuyển tiền, thanh toán,… hoạt động như các NHTM. Cùng với sựphát triển của nền kinh tế thị trường theo xu hướng hộinhập quốc tếhiện nay, các NHTM không ngừng phát triển hình thành mạng lưới rộng khắp toàn cầu.Sựphát triển bền vững của NHTM gắn liền với vấn đề quản trị các khoản nợcủa mình, trong đó đặc biệt là xử lý nợ nói chung và xử lý nợ xấu nói riêng. Mặc dù có nhiều biện pháp khác nhau để xử lý nợ như tiến hành cơ cấu lại khoản nợ, trích lập và sửdụng dựphòng rủi ro, xử lý tài sản bảo đảm, chuyển nợ thành vốn góp cổ phần tại

doanh nghiệp khách nợ, tái cơ cấu doanh nghiệp khách nợ, … Nhưng trong số các biện pháp đó, mua bán nợđược xem là một trong những biện pháp phổ biến vàmang lại hiệu quả cao cho NHTM.

Hoạt động mua bánnợxuất hiện vàđặtnhững bước điđầutiên tại Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XX, khi mà NHNN ban hành Quyết định số140/1999/QĐ-NHNN14 ngày 19 tháng 04 năm 1999 quy định quy chế mua, bán nợcủa tổ chức tín dụng. Với Quyết định 140/1999/QĐ-NHNN14, hoạt động mua bán nợđã được pháp luật Việt Nam chính thức công nhận và bảo vệ.

Từthời điểm đó cho đến nay, pháp luật về mua bán nợ của NHTM ngày càng hoàn thiện, không chỉ hình thành được khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh mà các nội dung quy định cũng dần trở nênđầy đủ, cụ thểhơn, từ đó góp phần không nhỏvào việc phát triển hoạt động kinh doanh của các NHTM, tạo điều kiện cho các NHTM quản trị nguồn vốn tín dụng an toàn, hiệu quả. Tuy nhiên, thực tế triển khai các quyđịnhpháp luậtvề mua bán nợcủaNHTM vẫn còn bộclộnhiều điểmbất cập. Hệ thống các quy định pháp luậtcòn chưa đồng bộ, đầy đủvà rõ ràng. Ví dụnhưvề vấn đềchủ thể tham gia mua bán nợ của NHTM thì một số quy định về điều kiện năng lực tài chính và phạm vi hoạt động kinh doanh ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tham gia vào hoạt động mua bán nợcủa các chủ thểnhư Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam, Công ty Trách nhiệmhữuhạn Một thành

1

viên Quản lý tài sản các Tổ chức tín dụng Việt Nam, doanh nghiệp kinh doanh mua bán nợ, doanh nghiệp môi giới nợ, sàn giao dịch nợ. Việc không thu hútđược các chủ thể trong xã hội tham gia vào thị trường mua bán nợđồng thời khiến cho thịtrường mua bán nợ của NHTM chưa thực sự phát triển. Bên cạnh đó, có nhiều văn bản quy phạm điều chỉnh hoạt động của các chủ thể khác nhau. Điều đóthể hiện tình trạng tản mát, không tập trung và mang tính hệ thống cao của các quy định của pháp luật về hoạt động mua bánnợcủa NHTM, thậm chí còn có những nội dung chồng chéo, không thống nhất và sẽ gây ra những khó khăn, vướngmắctrong quátrình thực hiện và quản lý giám sát. Ngoài ra, công tác xây dựng pháp luật còn chưa thực sựgắn kết vớitổ chức thực thi pháp luật, làm cho hiệu quả thi hành pháp luật bị giảm sút.

Như vậy, có thể thấy pháp luật về hoạt động mua bán nợcủa NHTM còn những khiếm khuyết nhất định, chưa trở thành công cụhữu hiệuđểgiúp cho việc xửlý nợcủacác NHTM đạt hiệu quả cao, góp phần làm lành mạnh và phát triểnổnđịnh hệ thống ngân hàng nói riêng cũng như hệ thống tài chính quốc gia nói chung. Vì vậy, nghiên cứu các quyđịnh của pháp luật về mua bán nợcủaNHTM là việc làm cần thiết để đánh giá được chính xác thực trạng, những điểm bất cập và phương hướng hoàn thiện chúng.

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, nợ xấu của các tổ chức tín dụng nói chung và NHTM nói riêng có xu hướng tăng cao trước những biến động tiêu cực của nền kinh tế trong và ngoài nước. Theo kết quả giám sát của NHNN: nợ xấu năm 2010 khoảng 38 tỷđồng(chiếm 2,1% tổng dư nợ), năm 2011 khoảng 78 nghìn tỷđồng (chiếm 3,2% tổng dư nợ). Đến cuối tháng 9/2017, theo báo cáo của Thống đốc Lê Minh Hưng trả lời chất vấn của Quốc hội sáng 07/11/2017 thì tổng mức nợ xấu là khoảng 566.000 tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ 8,61%. Đến quý IV năm 2019 vàtrong năm 2020, theo số liệu thống kê chính thức được công bố trên website sbv.gov.vn của NHNN, có sựgia tăng tỷlệ nợ xấu nội bảngtừmức1,6% tại thờiđiểm quý IV/2019 lên mức 2,4% tại thời điểm cuối quý III/2020.Ở đây, vấn đề đặt ra là cần hoàn thiện pháp luật về hoạtđộngmua bán nợ của NHTM theo hướng nàođể có thể xửlý thực tế nợ xấu nêu trên một cách có hiệu quả và bềnvững? Để giải

2

quyết vấn đềnày, Chính phủ đã đề ra giải pháp là phải đẩy mạnh xử lý nợ xấu, phát triển thị trường mua bán nợ.Đồng thời, tạiMục III.2 Nghị Quyết 77/2014/QH13 “về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2015”, được Quốc Hội khóa XIII, thông qua tại Kỳ họp thứ tám, ngày 10 tháng 11 năm 2014, Quốc hội cũng yêu cầu phải “Tập trungđẩynhanh tiếnđộxửlýnợxấugắnvớicơcấulạicáctổchức tín dụng theo hướngsớmhoàn thiện khuônkhổpháp lý chothịtrường mua bán nợ…”.Tuy nhiên, những quy định, chính sách này còn mang tính chung, chưa được hướng dẫn cụ thể. Đểtriển khai thực hiện được những quy định, chính sách này về mặt pháp luật đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn trong hoạtđộngmua bánnợcủaTCTD nói chung và NHTM nói riêng,đồngthờiđềra những kiến giải cần thiết để hoàn thiện pháp luật về hoạt động mua bán nợ của NHTM ở Việt Nam thực sự là hành lang pháp lý quan trọng giúp phát triển thị trường mua bán nợ, góp phần thúc đẩy hoạt động xử lý nợ xấu tại Việt Nam.

Xuất pháttừnhu cầuthực tếnêu trên, nghiên cứu sinhđãlựa chọn đề tài:

“Mua bán nợ của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay” với mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ những vấn đề lý luận, đặc điểm, nộidung và thực trạng pháp luậtvềmua bánnợcủacác NHTM, nhằmđềxuất hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ, tạo hành lang pháp lý ổn định cho các NHTMcó thể đẩy mạnh hoạt động mua bán nợ, đặc biệt là việc mua bán nợ xấu của NHTM.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu

Luận án có mục đích là nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động mua bán nợcủaNHTM; luận giải và đánh giá thực trạng pháp luật về mua bán, nợ của các NHTMở Việt Nam; trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về mua bán nợvà phát triển thị trường mua bán nợcủacác NHTM tại Việt Nam.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ của luận án là:

– Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài pháp luật về mua bán nợ của các NHTM tại Việt Nam; Đánh giá những kết quả nghiên cứu của

3

các công trình nghiên cứu đó và xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án;

– Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của pháp luật về mua bán nợ của các NHTM;

– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về mua bán nợ của các NHTM tại Việt Nam;

– Luận chứng, xây dựng hệ thống quan điểm hoàn thiện pháp luật vàđề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ của các NHTM tại Việt Nam.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứu của luận án là nhữngvấn đề lý luậnvềmua bán nợ; các quy định hiện hành của pháp luật Việt Namvề mua bán nợ và thực tiễn thực hiện pháp luật về mua bán nợ của các NHTM tại Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: Nghiên cứu pháp luật về mua bán nợcủa NHTMở Việt Nam, đồng thời có tham khảo pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật vềmua bán nợ của NHTM ở một số nước trên thế giới.

Phạm vivề thời gian: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu từkhi Luật Các tổchức tín dụng 2010đượcban hành cho đếnnay, mặc dù trong nghiên cứu có thể phân tíchsựphát triển của pháp luật về các TCTDkểtừthời điểm Luật Các tổ chức tín dụng lần đầu đượcban hành năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004.

Phạm vi về nội dung: Luận án nghiên cứu về hoạt động mua bán nợcủa NHTM mà không đi sâu vào hoạt độngmua bán nợ của các chủ thể khác như các TCTD phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và qu tín dụng nhân dân. Mặt khác, các khoản nợ được đềcập đến trong luận án là những khoản nợ phát sinh từhợpđồng cho vay giữa NHTMvớikhách hàng vay, không bao gồmcác khoản nợ trái phiếu doanh nghiệp, nợ trái phiếu chính phủ.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Luận án đã vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp nghiên cứu, bao gồm một số phương pháp nghiên cứu điển hình là:

4

(i) Phương pháp luận biện chứng: là phương pháp xem xét sự vật, hiện tượng trong sựràng buộc lẫnnhau, trong sựvận động và phát triển không ngừng, nhằm phân tích pháp luật mua bán nợ trong mối quan hệ chịu sự ảnh hưởng, tác động của nhiều đốitượngkhác, đồng thời, nhờ nhận thức được việc này mà đề ra định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về mua bán nợ của NHTM.

(ii) Phương pháp thống kê, thu thập số liệu: là phương pháp sửdụng những thông tin sẵn có từ các nguồn khác nhau, phương pháp nàyđược sửdụng để đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về mua bán nợ của NHTM.

(iii) Phương pháp chuyên gia: phương pháp này được vận dụng trong việc tiếp cận các quan điểm, đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng nói chung và mua bán nợnói riêng, ví dụnhư các quan điểmvềkhái niệm nợ, nợ xấu của NHTM, để kế thừa, cải tiến các kết luận trong các công trình trước đây.

(iv) Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: là phương pháp nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từngbộ phậnđểtìm hiểu sâu sắc về đối tượng, đồng thời liên kếttừng mặt, từng bộ phận thông tin đãđược phân tích tạo thành một hệ thống lý thuyết mới từ đầu đến cuối và sâu sắc hơn về đối tượng. Phương pháp nàyđượcsửdụng trong việc phân tích, tổng hợp các khía cạnh lý luận và thực trạng pháp luật về mua bán nợ của NHTM.

(v) Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: là phương pháp sắp xếp các tài liệu khoa học theo từng mặt, từngđơnvị, từng vấn đềcó cùng dấu hiệu bản chất, cùng mộthướngphát triển, tổ chức tri thức thành một hệ thống trên cơ sở mô hình lý thuyết làm sự hiểu biếtvề đối tượngtoàn diện hơn. Phương pháp này đượcáp dụng nhằm phân loại và hệ thống các vấn đề được nghiên cứu trong luận án thành hệ thống lý thuyết được sắp xếp hiệu quả, giúp cho sự hiểu biết về mua bán nợcủa NHTM được hệ thống và toàn diện.

(vi) Phương pháp nghiêncứulịchsử:là phương pháp nghiêncứubằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của đối tượng từ đó rút ra bản chất và quy luật của đối tượng. Phương pháp này được áp dụng trong quá trình nghiên cứu sự hình thành và phát triển một số quy định pháp luật về mua bán nợ của NHTM tại Việt Nam, sự hình thành và phát triển của một số thị trường mua bán nợ trên thế giới.

5

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Thứ nhất, luận ánđãgóp phần hoàn thiện các khái niệmnợ,nợ xấu của NHTM bằng việc định nghĩa một cách đầy đủ, rõ ràng và đúng với bản chất pháp lýcủa vấn đề hơn. Theo đó, khái niệm nợ của NHTM được định nghĩa là một khoản tiền bao gồm khoản gốc, lãi và các chi phí khác mà khách hàng vay phải thanh toán cho NHTM tại một hoặc nhiều thời điểmnhất định được gọi là hạn thanh toán do NHTM và khách hàng thoả thuận trong hợp đồng; khái niệm nợxấu đượcđịnh nghĩa là những khoản nợ có rủi ro tín dụng cao, khả năng thu hồi vốn thấp, có khảnăng gây thiệt hại cho NHTM cho vay, dựa trên sự đánh giá về lượng thời gian quáhạn mà chưa thanh toán nợ và sự đánh giá thấp của NHTM về khả năng trả nợ của khách hàng. Trên cơ sở định nghĩa chính xác về nợcủa NHTM, từđó luận án đãphân tích, nêu rađầy đủ những đặcđiểm về nợ của NHTM là: (i) phát sinh trên cơsở hợpđồng cấp tín dụng của NHTM; (ii) là quan hệ về tài sản; (iii) bao gồm số nợgốc, lãi vay và chi phí khác nếu có; (iv) luôn mang rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, luận án có những nội dung phân tích về hoạt động phân loại nợ với tưcách là một hoạt độngquản trị rủi ro đặc biệt quan trọng của NHTM, quađó thấyđược nợ được phân ra làm nhiều loại khác nhau, mỗi loại nợ sẽ có những biện pháp pháp quản lý riêng biệt mà mua bán nợ là một trong những biện pháp đó, những ảnh hưởng của việc phân loại nợ đến những bên tham gia vào hoạt động mua bán nợ.

Thứ hai, trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện các công trình nghiên cứu trước đây, luận án đã đưa ra khái niệm mua bán nợ của NHTM đầy đủ và chính xác hơn, đó là giao dịch dựa trên sự tự nguyện thoả thuận giữa bên bán nợ và bên mua nợ với đối tượng giao dịch là quyền yêu cầu khách hàng vay nợ thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn thanh toán và những quyền yêu cầu khác của NHTM được chuyển giao toàn bộ hoặc một phần cho bên mua nợ. Từ đó, luận án làm rõ hơn nhữngđặc điểm pháp lý của hoạt độngmua bán nợ của NHTM, vai trò của hoạt động mua bánnợđốivới các chủ thể tham gia mua bán nợvàđối với nền kinh tế, các nguyên tắc trong hoạt động mua bán nợcủa NHTMtừnhững nguyên tắc chung của quan hệhợp đồng dân sựđến các nguyên tắcđặc thù của hoạt động này như là: (i) không trái với nội dung quyđịnh tại hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm, (ii) các

6

chủ thể tham gia hoạtđộng mua nợ phải đápứng các điều kiện kinh doanh, hoạt động cụ thể của pháp luật, (iii) đối tượng giao dịch là khoản nợ trong một số trường hợpphải đáp ứng một số yếu tố mới được phép đưa vào mua, bán.

Thứ ba, luận án đã nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý luận pháp luật vềmua bán nợcủa NHTM, chỉra những đặc điểmcơ bản, đặc thù của pháp luật mua bán nợ của NHTM thông qua các vấn đề: (i) nguồn luật điều chỉnh hoạt động mua bán nợ của NHTM, (ii) chủ thể chính chịu sự điều chỉnh của pháp luật về hoạt động mua bán nợ của NHTM, (iii) đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hoạt động mua bán nợ của NHTM. Luận án cũng bổ sung thêm những nội dung lý luận pháp luật vềmua bán nợcủa NHTM trong các vấn đề: (i) đối tượng mua bán nợcủa NHTM, (ii) chủ thể mua bán nợ, (iii) công cụ thanh toán trong giao dịch mua bán nợ của NHTM, (iv) hợp đồng mua bán nợ của NHTM, và (v) xử lý tài sản bảo đảm của khoản vay được mua, bán. Ngoài ra, luận án đã phân tích, làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về mua bán nợ của NHTM cụ thể là: (i) điều kiện kinh tế, xãhội và đường lối, chính sách của nhà nước, (ii) việc kết nối thị trường vốn, tài chính và nhu cầu thực tiễn, (iii) xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, (iv) sựhài hoà với các quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Thứ tư, luận án đã phân tích, đánh giá có hệ thống các quy định pháp luật hiện hành về mua bán nợ của NHTM và thực tiễn thực hiện những quy định đó, quađólàm rõ những thành tựuđạt được và những điểmbất cập, những khoảng trống mà pháp luật còn bỏ ngỏchưa điều chỉnh. Các quyđịnhchủ yếu được luận án phân tích, đánh giá gồm có: (i) khái niệm nợ của NHTM; (ii) điều kiện đối với khoản nợcủa NHTM được mua, bán; (iii) chủ thể mua bán nợ; (iv) công cụ thanh toán trong giao dịch mua bán nợ của NHTM; (v) giá mua bán nợ; (vi) hợp đồng mua bán nợcủa NHTM; (vii) xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ và giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động mua bán nợ của NHTM.

Thứ năm, luận án đã đưa ra được các định hướng cụ thể, rõ ràng cho việc hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ của NHTM, khắc phục tình trạng định hướng chung chung và không đầyđủ trong các công trình trước đây.Từđó, luận án đưara các giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ của NHTM nhằm hình thànhmột hệthống pháp luật đồng bộ, tạo thuận lợi cho hoạt động mua bán nợ và việc hình thành

7

đầy đủ cácđiều kiện cần thiết cho một thị trường mua bán nợ hoàn chỉnh bao gồm các loại nợ khác nhau, khắc phục những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành. Các giải pháp được đềxuất cho các vấn đềchủyếu của pháp luật mua bán nợ của NHTM, bao gồm đối tượng mua bán nợ; chủ thể tham gia hoạt động mua bán nợ; giá mua bán nợ; công cụ thanh toán trong giao dịch mua bán nợ; hợp đồng mua bán nợ; việcxửlý tàisảnbảođảmtrong hoạtđộngmua bánnợcủa NHTM … Đồngthời,đểhoàn thiện cơchếthực thi pháp luật mua bánnợcủa NHTMtạiViệt Nam nhằm đảm bảo cho các quy định pháp luật được thực hiện, triển khai trên thực

tế một cách có hiệu quả, luận ánđưaramộtloạtđềxuất như là:bổsung hình thức mua bánnợtheo lô, khắc phục tình trạng cung thừacầuthiếu trong mua bánnợcủa NHTM, hình thành và phát triển các tổ chức xếp hạng tín dụng chuyên nghiệp, thành lập hiệp hội các công ty mua bán nợ, tổ chức thị trường mua bán nợ, nâng cao năng lực

quản lý nhà nước, tổ chức thực thi pháp luật …

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án là công trình nghiên cứuchuyên sâu, toàn diện, tập trung về vấn đềmua bán nợ của NHTM, nhằm góp phần xây dựng hệ thống lý luận và pháp luật về mua bán nợ của NHTM, đồng thời đưa ra những đánh giá, đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về mua bán nợ của NHTM hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn như sau:

Thứ nhất, luận án cung cấp bức tranh tổng quan và góp phần hoàn thiện các cơ sở lý luận về mua bánnợcủa NHTM, tạo tiền đề và điều kiện cho các công trình sau có cơ sở tham khảo, vận dụng.

Thứhai, luận án cung cấp kiến thức pháp lý về mua bán nợ của NHTM, phục vụ công tác đào tạo, áp dụng pháp luật tại Việt Nam hiện nay.

Thứ ba, luận án đưa ra những đánh giá, kiến nghị mang tính tham khảo hữu ích đốivớicác cơ quan nhà nước trong việc hoàn thiện, nâng cao khả năng thực thi các quy định pháp luật về mua bán nợ của NHTM.

7. Cơ cấu của luận án

NgoàibốnphầnMở đầu, Kếtluận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận án chia thành bốn chương:

MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

– Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu;

– Chương 2: Lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại và pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại;

– Chương 3: Thực trạng pháp luật mua bán nợ của ngân hàng thươngmại ởViệt Nam hiện nay;

– Chương 4: Định hướng và đềxuất hoàn thiện, nâng cao hiệu quảthi hành pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại.

9

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại

1.1.2. Các công trình nghiên cứu những vấn đềlý luận pháp luật vềmua bán nợ của ngân hàng thương mại

1.1.3. Các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật mua bán nợ của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

1.2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2.1. Những vấn đềđã được giải quyết qua các công trình nghiên cứu trước đây và được kế thừa trong luận án

Các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập, nghiên cứu một số vấn đề lý luận về mua bán nợ của NHTM, thông qua các khía cạnh về khái niệm, đặc điểm, phân loại nợ của NHTM; khái niệm, đặc điểm mua bán nợ của NHTM; vai trò của hoạt động mua bán nợ của NHTM, các nguyên tắc của hoạt động mua bán nợ của NHTM và các vấn đề lý luận pháp luật về mua bán nợ của NHTM.

Một là, về vấn đề lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại:

Về khái niệm, đặc điểm, phân loại nợ của ngân hàng thương mại:

Nợ được hiểu là nghĩa vụ của một bên đối với một bên khác. Trong đó, nợ của NHTM phát sinh như một hệ quả tất yếu từhoạt độngtín dụng của NHTM trong quá trình hoạt động kinh doanh.Nợxấu là những khoản nợ được kinh doanh kém

23

hiệu quả, khó có khả năng thu hồi. Nợ xấu của NHTM phát sinh từ hoạt động kinh doanh, kiểm soát rủiro kém hiệu quả và có thể ảnhhưởngđến sựphát triển bền vững của hệ thống ngân hàng. Do đó, nợ xấu luôn được các ngân hàng quan tâm vàđặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ.

Về đặc điểm, nợ của NHTM có một số đặcđiểmnhư: (i) phát sinh từhoạt động kinh doanh của NHTM, (ii) làmốiquan hệ về tàisảnvà (iii) thường mang nhiều rủi ro.

Về phân loại nợ, nợ được phân loại thành hai nhómđối tượng chính là (i) khoản nợ hoạtđộngbình thường và (ii)nợxấu. Khoảnnợ hoạt độngbình thường lànhững khoản nợ có khả năng sinh lời cho ngân hàng, có khả năng thanh toán đúng hạn hoặc không quá trễ so với hạn thanh toán. Nợ xấu thường bị xem là những khoản nợmấthoặc cókhảnăngmấtkhôngthểthanh toán.Đểphân loạinợcóthểdựavào phương pháp định lượng hoặc định tính. Phương pháp định lượng đưa ra những con sốcụ thể để quy định một khoản nợ đạt những con số đó thì sẽ bị xem là nợ xấu, ví dụ quámột thời hạn nhất định mà khoản nợ vẫn chưa được thanh toán. Phương pháp định tính không đưa ra consốcụ thểmà dựa trên những thước đo khác, như nghi ngờvềviệc con nợ không có khả năng thanh toán để đánh giá một khoản nợ là nợ xấu.

Về khái niệm, đặc điểm, vai trò của mua bán nợ của ngân hàng thương mại:

Mua bánnợlà việc chuyển quyền sở hữu đối với quyềnđòi nợ từbên bán nợsang bên mua nợ theo nguyên tắc có đền bù, bên bán bán quyền đòi nợ còn bên mua thanh toán cho bên bán một khoản tiền để được sở hữu quyền đòi nợ đó.

Mua bán nợđóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt đối với hoạtđộng ngân hàng, hoạt động này như một biện pháp xửlý nợ xấu được ưa chuộng, giúp NHTM thu hồi được một phần vốn kinh doanh, cải thiện khả năng thanh khoản và giúp hạn chế những rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Ngoài ra, đối với bên mua nợ, mua bán nợ đóng vai trò là một kênh đầu tư với mục tiêu lợi nhuận.

Về nguyên tắc của hoạt động mua bán nợcủa ngân hàng thương mại: Hoạtđộng này được thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản như nguyêntắc tựnguyện, bình đẳng, thỏa thuận, không trái với quy định pháp luật.

24

Hai là, về vấn đề lý luận pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mạiĐây là quan hệ xã hội cần thiết được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật,

là phương tiện để nhà nước quản lý hoạt động mua bán nợ thông qua việc ban hành các quy tắc ứng xửcụthể đối với các đối tượng tham gia hoặc liên quan đến hoạtđộng mua bán nợ của NHTM.

Bên cạnhđó,mộtsố công trình nghiên cứu cũng đềcập đến khía cạnh thực trạng pháp luật mua bán nợ hiện nay thông qua cácnộidung như quy định vềđối tượng mua bán nợ;chủ thể mua bán nợ;công cụ thanh toán trong hoạt độngmua bán nợ và các vấn đề pháp lý khác có liên quan.

Về đốitượng của hoạt độngmua bán nợ của ngân hàng thương mại:được xácđịnh là các khoản nợ phát sinh từhoạt động cấp tín dụng của NHTM và cần phảiđáp ứng một số điều kiện nhấtđịnhtheo quy định của pháp luật để có thể đưa vào hoạt động kinh doanh.

Về chủ thể tham gia hoạt động mua bán nợcủa ngân hàng thương mại: các công trình trước đây tập trung nhiều vào các chủ thể VAMC và DATC.

Về các công cụ thanh toán trong hoạt động mua bán nợ của ngân hàng thương mại: các công trình nghiên cứu trước đây cũng đã nghiên cứu và đề cập đến những đặcđiểm của các công cụ thanh toán là trái phiếu, trái phiếu đặc biệt của VAMC và tiền.

Về hợp đồng mua bánnợcủa ngân hàng thương mại: các công trình nghiên cứu trước đâyđã có những kết quả nghiên cứu tương đối đầyđủ các vấn đề đối tượng, giá mua bán nợ, quyền và nghĩa vụ của các bên, hiệu lực của hợp đồng, chấm dứt hợp đồng và xử lý tranh chấp.

Về xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động mua bán nợ của ngân hàng thương mại: đâylà một giai đoạn quan trọng trong việc thu hồi khoản nợ. Theo đó,các công trình nghiên cứu trước đây đã đánhgiá tương đối đầy đủcác vấn đề phát sinh trong hoạt động xử lý tài sản bảo đảm và các phương pháp xử lý tài sản bảo đảm.

Về đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật: trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn hoạt động, các công trình nghiên cứu trước đây đã đưa ra một sốđề xuất nhằm hoàn thiện các quyđịnh pháp luật về mua bán nợcủa NHTM, như một số định

25

hướng hoàn thiện pháp luật vàđề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạtđộng mua bán nợ của NHTM.

Trên cơ sởkế thừa các nghiên cứu trước đây, luận án so sánh, đối chiếu vàphân tíchđểđưa ra các đánh giá toàn diện và cập nhật các quy định pháp luật hiện hành;từđó đưa ra những nhận định và đề xuất hoàn thiện các quyđịnh pháp luật một cách phù hợp.

1.2.2. Những vấn đềchưa được giải quyết qua các công trình nghiên cứu trước đây và được tiếp tục nghiên cứu trong luận án

1.2.2.1. Về lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại

Lý luận về mua bán nợ của NHTM đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập,đánh giá. Song, những vấn đề sau đây được nghiên cứu sinh nhận định rằng chưa hoàn thiện, do đó cần được tiếp tục nghiên cứu và phát triển trong luận án, bao gồm:

Thứ nhất, về khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ của ngân hàng thương mại:

(i) Đưa ra khái niệm về nợ dưới góc độ đánh giá toàn diệnmốiquan hệ giữa bên cho vay và bên vay, và nguồn gốc phát sinh khoản nợ đó.

(ii) Đưa ra khái niệm nợxấu dướigóc độ cả vềđịnh lượng vàđịnh tính, giúp NHTM có một cái nhìn toàn diện và đánh giá được nợ xấu dưới hai khía cạnh này.

(iii) Làm rõ mối quan hệ giữa nợ vànợ xấu củaNHTM; giữa các loại nợ(nợđủtiêu chuẩn và nợ xấu) đối với hoạt động mua bán nợ của NHTM.

(iv) Làm rõ các đặc điểm nợ của NHTMđể hiểu rõ đối tượng được mua,bán trong hoạt động mua bán nợ của NHTM.

(v) Làm rõ hệ thống, phương pháp phân loại nợ và vai trò của phân loại nợ đối với NHTM và hoạt động mua bán nợ của NHTM.

Thứ hai, về khái niệm, đặc điểm mua bán nợ của ngân hàng thương mại:

(i) Đưa ra khái niệm mua bán nợ của NHTM, qua đó làm rõ đây là mối quan hệ chuyển giao quyền yêu cầu thanh toán khoản nợ dựa trên sự tự nguyện.

(ii) Mô tả các đặc điểm mua bán nợ của NHTM một cách toàn diện để có cái nhìn tổng quát và hiểu rõ bản chất của hoạt động này.

Thứ ba, về vai trò của hoạt động mua bán nợ của ngân hàng thương mại:

Phân tích vai trò của hoạt động mua bán nợcủa NHTMdướigóc nhìn bao quát, sựảnh hưởng, tác động của hoạt động nàyđối với từng chủ thể trong hoạt

26

động mua bán nợ nói riêng và đối với nền kinh tế nói chung. Qua đó cho thấy được tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của hoạt động này đối với hoạt động ngân hàng, kinh tế, xã hội.

Thứ tư, về các nguyên tắc của hoạt động mua bán nợ của ngân hàng thương mại:

(i) Phân tích các nguyên tắc của hoạt động mua bán nợ của NHTM dựa trên các nguyên tắc chung trong quan hệ hợp đồng, cho thấy việc mua bán nợlà một phần của các quan hệ hợp đồng.

(ii) Phân tích các nguyên tắc đặc thù của hoạt động mua bán nợ của NHTM đểcho thấysựđặc trưng của hoạt động này so với các quan hệ hợpđồng nói chung. Bên cạnh những nguyên tắc chung, các chủ thể khi mua bán nợcòn phải đápứng các nguyên tắc đặc thù của hoạt động này.

Bên cạnhđó,lý luận pháp luật về mua bán nợ của NHTM cũngđược mộtsốcông trình nghiên cứu trước đây phân tích. Tuy nhiên, việc nghiên cứu phân tích đó vẫn chưa hoàn thiện, do đó, những vấn đề sau đây được nghiên cứu sinh nhận định

rằng cần được tiếp tụcnghiên cứu và phát triển trong luận án, bao gồm: (i) khái niệm pháp luậtvề mua bán nợcủa ngân hàng thương mại: phân tích quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong mua bán nợ, cho thấy vai trò và sựcần thiết của các quy phạm pháp luật đối với hoạt động mua bán nợ; từđóđưa ra khái niệm pháp luật về hoạt động mua bán nợ của NHTM một cách phù hợp nhất; (ii)đặcđiểmpháp luật mua bán nợcủangân hàng thương mại: phân tích các đặcđiểmnày một cách toàn diện, cung cấp một cái nhìn tổng quát từnguồn luật điều chỉnh và chủ thểchịu sựđiều chỉnh đến đối tượng điều chỉnh; (iii) các yếu tố ảnh hưởngtới pháp luậtvềmua bán nợ của ngân hàng thương mại: phân tích một cách cụ thể các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về mua bán nợcủa NHTM. Điều này nhằm hiểu rõ nguồn gốc của các quy định pháp luật hiện hành và có cơ sở đánh giá các quy định đó, cân nhắc việc đề xuất các quy định pháp luật một cách phù hợp với các yếu tố này; (iv) những nội dung lý luận pháp luật cơ bản về mua bán nợcủa ngân hàng thương mại: tập trung làm sáng tỏ đối tượng mua bán nợ tức quyền yêu cầu thanh toán khoản nợ của NHTMđể chỉ rõ rằng các khoản nợ được mua bán

27

không chỉ có nợ xấu, nhưng trên thực tiễn hoạt động hiện nay, nợ xấu lại chiếm hầu hết các giao dịch mua bán nợ. Bên cạnh đó, phân tích chủ thể mua bán nợđể thấy rõtrong hoạt động này có những chủ thể nào tham gia và vai trò của những chủ thể đó trong thị trường như thế nào. Nghiên cứu sinh cũng nghiên cứu, phân tích nhằm làm rõ các công cụ thanh toán trong giao dịch mua bán nợcủa NHTM một cách toàn diện. Đồng thời, hợp đồng mua bán nợcủa NHTM cũng cần đượcphân tích dưới khía cạnh lý luận pháp luật để hiểu rõ về các nguyên tắc xác lập hợp đồng, hình thức, nội dung, hiệu lực của hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh. Đặc biệt, vấn đề xử lý tài sản bảo đảm dưới góc độ của bên mua nợ trở thành chủ nợ mới cũng cầnđược phân tích cụ thể, vì đây là một khía cạnh quan trọng trong các bài toán thu hồi nợ.

1.2.2.2. Về thực trạng pháp luật mua bán nợ của ngân hàng thương mại hiện nay Có mộtsốcông trình đã nghiêncứu một sốkhía cạnh về thực trạng pháp luật

mua bán nợ của NHTM hiện nay. Tuy nhiên, các công trình này chỉ tập trung khai thác một vài khía cạnh của vấn đềhoặc mới chỉ dừngở mức độ khảo sát, nghiên cứu một số hoạt động mua bán nợ và đưa ra các giải pháp mang tính chuyên ngành kinh tế tài chính, chưa đi sâu về khía cạnh pháp luật mua bán nợcủa các NHTM. Cũng có một số công trình nghiên cứu đã tập trung khai thác các khía cạnh pháp luật về mua bán nợcủa NHTM, song vẫn còn nhiều điểm có thể đượckhai thác, nghiên cứu sâu sắc hơn, cụ thể là:

Thứ nhất, vềđốitượngmua bán nợcủangân hàng thương mại: có nhiều khái niệm nợ trong văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, nên cần phân tích để chỉ ra mỗi vănbảnpháp luật đã định nghĩa, đánh giá về nợ nhưthế nào, để từđólàm rõkhái niệm nợ theo quan điểm của các nhà làm luật.Điều kiện đối với khoản nợ của NHTM được mua, bán cũng cần phân tích để làm rõ các điều kiện mà một khoản nợphải đáp ứng để có thểđưa vào giao dịch mua, bán trong các giao dịch mua bán nợthông thường. Không chỉ có vậy, VAMC với vai trò và sứmệnh đặcthù nhằm giải quyết bài toánnợxấu cho hệ thống ngân hàng và tiềm lực tài chínhtừngân sách nhà nước,cầnđược ban hành các điều kiện chặt chẽ, cụ thể hơn khi muốn mua một khoản nợ. Qua các phân tích đó có thể hiểu được toàn cảnh cácđiều kiện để một

28

khoản nợ được đưa vào mua bán bởi từng chủ thể khác nhau, đó là các điều kiện tối thiểu được đặt ra bởi các nhà làm luật nhằm đảm bảo hoạt động ngân hàng diễn ra bền vững, ổn định.

Thứ hai, về chủ thể mua bán nợ: làm rõ đặc điểm, vai trò và sứ mệnh của các chủ thể tham gia vào hoạt động mua bán nợ. Những thành tựu và những hạn chế đối với các chủ thể này. Những vấn đề cần được giải quyết để các chủ thể tham gia hoạtđộng mua bán nợ tiếp tục phát triển và có thể mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường mua bán nợ của NHTM. Ngoài ra, luận án cũng phân tích về vai tròvà sự cần thiết của các chủ thể khác không phải là hai bên mua bán nợ như là khách nợ, bên môi giới…

Thứ ba,về công cụ thanh toán trong giao dịch mua bánnợcủangân hàng thương mại: tập trung nghiên cứu để làm rõ các công cụ thanh toán trong các giao dịch mua bán nợ hiện nay, nhất là trái phiếu và trái phiếu đặc biệt của VAMC, qua đó làm sáng tỏ những điểm đặc thù, vai trò của các công cụ thanh toán này đối với sứmệnh của VAMC trong việc giải quyết bài toán nợ xấu của hệ thống ngân hàng, ưu điểm và nhược điểm của những công cụ thanh toán này, những thay đổi cần thiếtđể phù hợp với vai trò của VAMC trong thời gian tới.

Thứ tư, về hợp đồng mua bán nợ của ngân hàng thương mại: nghiên cứu làm rõ hình thức và nội dung hợp đồng cần giao kết. Luận án phân tích sâu một số nội dung cần có trong hợp đồng mua bán nợ thông qua việc phân tích đối tượng của hợpđồng; giá mua bán nợ; quyền và nghĩavụcủa các bên trong hợp đồng; hiệu lực của hợp đồng mua bán nợ; chấm dứt hợp đồng và xử lý tranh chấp phát sinh trong mua bán nợ của NHTM.

Thứ năm, về xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động mua bán nợcủa ngân hàng thương mại: làm rõ vai trò của biện pháp bảo đảmthực hiện nghĩa vụ trong quan điểm của quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng. Từ đó chỉ ra được rằng bên mua nợ cũng được chuyển giao quyền xử lý tài sản bảo đảm thông qua việc chuyển giao quyền đòi nợ. Luận án phân tích thêm nhằm làm rõ các cơ chế bảo vệ quyền xửlý tài sản bảo đảm của bên mua nợ trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

29

1.2.2.3. Về định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, cơ chế thực thi pháp luật để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại

Về địnhhướnghoàn thiện pháp luật vềmua bán nợcủangân hàng thương mại tại Việt Nam: vấn đề địnhhướng hoàn thiện pháp luật về mua bán nợcủa NHTM đã được trình bày trong nhiều công trình nghiên cứu đã công bố. Tuy nhiên, những công trình này phần nhiều mới nêu ra những định hướng hoàn thiện có tính chất chung tươngtựnhư những địnhhướnghoàn thiệnphổbiến cho các ngành luật khác hoặc quá tập trung vào việc xửlý nợxấu, chưa cụ thể hóa thành những chính sách đặc thù và áp dụng cho hoạt động mua, bán các loại nợ khác nhau của NHTM.

Vềgiải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật cụ thểvề mua bán nợcủa ngân hàng thương mại tại Việt Nam: các công trình nghiên cứu hiện nay đã đề xuất được nhiềugiải phápđể hoànthiện quy định pháp luật về mua bánnợcủaNHTM. Tuy nhiên, còn có mộtsố vấn đềbất cập đang tồn tại trong các quy định pháp luật về mua bán nợcủa NHTM mà chưa có giải pháp, hoặc giải phápđược đề xuất không phù hợp với tình hình mới trong thời gian gần đây.

Về giải pháp hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật mua bán nợ của ngân hàng thương mại tại Việt Nam: một số giải pháp hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật mua bán nợcủaNHTMđã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, những giải pháp này vẫn chưa đầy đủ, đồng bộ hoặc chỉ quá tập trung vào mục đích xử lý nợ xấu của NHTM.

1.3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 1.3.1. Lý thuyết nghiên cứu

Luận ánđược thực hiện dựa trênsựđúckết từnhiều lý thuyết nghiên cứu, trong đó tiêu biểu là các lý thuyết nghiên cứu sau đây:

Mộtlà, lý thuyết hành vi, lý thuyết về thông tin bất cân xứng,được áp dụng để nghiên cứu hành vi của các bên khi tham gia giao dịch mua bán nợvà rủi ro phải gánh chịu liên quan đến khoản nợ.

Hai là, lý thuyết hợp đồng, nhằm phân tích những điều khoản được thiết kế trong hợp đồng cũng như quá trình soạn thảo, ký kết và thực thi hợp đồng, nguyên nhân phát sinh các tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong hoạt động mua bán nợ của NHTM.

30

Ba là, lý thuyết tiền tệ là lý thuyết dựa trên ý tưởng rằng sựthay đổi trong cung tiền là động lực chính của hoạt động kinh tế.Lý thuyết tiền tệ lập luận rằng các ngân hàng trung ương có thể kiểm soát tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng cách sửdụng các đòn bẩycủa chính sách tiền tệ.Theo lý thuyết tiền tệ, nếucung tiền của một quốc gia tăng, hoạt động kinh tế cũng sẽ tăng và ngược lại. Lý thuyết được áp dụng để thấy rõ bản chất pháp lý của hoạt động mua bán nợ của NHTMvà sựcan thiệp của nhà nước trong việc xử lý các khoản nợ xấu của NHTM để đảmbảo sựan toàn cho hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia.

Bốnlà, lý thuyếtvề rủiro tín dụng và quảntrịrủi ro tín dụng, lý thuyết rủi ro tín dụng là lý thuyết chỉ ra cáctổnthất phát sinhtừviệc khách hàng khôngtrảđượcđầy đủcảgốcvà lãi của khoản vay hoặc khách hàng thanh toánnợgốcvà lãi khôngđúnghạnsau khiđượccấpcác khoản tín dụng (cả trong và ngoại bảng). Lý thuyết quảntrịrủiro tín dụngdựatrên quá trình ngân hàng tácđộngđếnhoạtđộngtín dụng thông quabộmáy và côngcụquản lýđểphòng ngừa, cảnh báo,đưara các biện pháp nhằm hạnchếđếnmức tốiđa việc không thuđượcđầy đủcảgốcvà lãi củakhoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn. Lý thuyếtđược áp dụng để phân tích các quy định về phân loại nợ và phương thức xử lý đối với từng nhóm nợ.

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu

Thứ nhất, về lý luận pháp luật mua bán nợcủa ngân hàng thương mại: Bản chất mua bán nợ của NHTM là gì? Những vấn đề lý luận pháp luật mua bán nợ của NHTM hiện nayđã đầyđủ, đúng đắn hay chưa, còn có những nộidung nào cầnđược hoàn thiện?

Thứ hai, về thực trạng pháp luật mua bán nợ của ngân hàng thương mại hiện nay: Thực trạng quyđịnh củapháp luật Việt Nam về mua bán nợcủa NHTM cónhững điểmthành tựuvà hạn chế, bất cậpnào? Thực tiễn áp dụng các quyđịnh pháp luật về mua bán nợ của NHTM như thế nào?

Thứ ba, về định hướng và đề xuất hoàn thiện, nâng cao hiệu quảthực hiện pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại:

Việc hoàn thiện pháp luật về mua bánnợcủa NHTM tại Việt Nam cần thực hiện theo những định hướng chung và những định hướng cụ thể nào? Các giải pháp

31

hoàn thiện quy định pháp luật về mua bán nợ của NHTM là gì để có thể thúc đẩy sựphát triển và mở rộng của hoạt động mua bán nợ cả về khối lượnggiao dịch, đối tượng giao dịch, chủ thể giao dịch, hình thành một thịtrường mua bán nợ hoàn thiện?

Những cơchếthực thi pháp luật nàocầnphải xây dựng, hoàn thiện nhằmđảm bảo việc thực hiện các quy định pháp luật mua bán nợ của NHTM tại Việt Nam có hiệu quả cao?

1.3.3. Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết thứ nhất, các vấn đề lý luận pháp lý về mua bánnợcủa NHTM chưa đầyđủ, chính xác và chưa bao quát hết được các vấn đề của hoạt động mua bán nợ của NHTM.

Giả thuyết thứ hai, các quyđịnh của pháp luật Việt Namvề hoạt động mua bán nợ của NHTM đã được ban hànhtương đối đồng bộvà đạt được nhữngthành tựu nhất định, tuy nhiên vẫn còn những điểm bất cập, hạn chế hoặc chưa đầy đủ, do vậy chưa xử lý được một cách hiệu quả và bền vững tình trạng nợ xấu của NHTM và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho thị trường mua bán nợ ở Việt Nam hiện nay.

Giả thuyết thứ ba, những định hướng hoàn thiện pháp luật mua bán nợ của NHTM hiện nay còn mang tính chung chung và thiếu cụ thể, các giải pháp hoàn thiện pháp luật chưa đầy đủ cũng như chưa có những giải pháp mang tính đột pháđể đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cũng như hình thành được một thị trường mua bán nợ của NHTM phát triển ở Việt Nam hiện nay.

1.3.4. Hướng tiếp cận nghiên cứu

Về lý luận, luận án phân tích, làm rõ các khía cạnh lý luận về mua bán nợ của NHTM cũng như các khía cạnh lý luận pháp luật về vấn đề này thông qua những nội dung như là: (i) các khái niệm về nợ, nợ xấu, mua bán nợ, khái niệm pháp luật về mua bán nợ của NHTM; (ii)đặc điểm của nợ, đặc điểm của mua bán nợvà đặcđiểm của pháp luật về mua bán nợ của NHTM (iii) vai trò của hoạt động phân loại nợ(iv) vai trò và các nguyên tắc của hoạt động mua bán nợ(v) các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về mua bán nợ và (vi) những nội dung lý luận pháp luật cơ bản về mua bán nợ của NHTM.

32

Về thực trạng pháp luật mua bán nợ của NHTM, luận án phân tích, làmrõ hệthống các quy định pháp luật hiện hành về mua bán nợ của NHTM, bao gồm: (i) đối tượng mua bán nợ;(ii) chủ thể mua bán nợ;(iii) công cụ thanh toán; (iv) giá mua bán nợ; (v) hợp đồng mua bán nợ và (vi) xửlý tài sản bảo đảm của khoản nợ được mua, bán và giải quyết tranh chấp. Đồng thời, luận án đánh giá thực tiễn thực hiện các quyđịnh này trên thực tế, đề từđó phát hiện nhữngđiểmphù hợp hay những bất cập của các quy định này.

Về việc đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về mua bán nợ, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, trước hết luận án làm sáng tỏ cácđịnhhướngcho việc hoàn thiện pháp luậtvềmua bánnợcủaNHTMtạiViệt Nam, thông qua những đánh giá, phân tích nội dung và ảnh hưởng của các yếu tố như là quanđiểm, đường lối của Đảng và Nhà nước, hệ thống pháp luật Việt Nam, điều kiện kinh

tế, xã hội, thực tiễn mua bán nợ, thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế, tính khả thi của pháp luật và kinh nghiệm xây dựng pháp luật từ một số nước khác. Từ đó, luận án đưa ra đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ của NHTM, khắc phục được những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật. Bên cạnh đó, luận án cũng đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật mua bán nợ của NHTM để đảm bảo tính hiệu quảcủa các quy định pháp luật trong hoạt động mua bán nợ của NHTM.

33

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Nội dung luận án“Mua bán nợ của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay” được thực hiện trên cơ sởkế thừa mộtcách có chọn lọctừcác công trình nghiên cứu trước đây và phát triểncác vấn đềmộtcáchđầy đủvà hoàn thiện hơn. Với nhiệm vụ và mục tiêu chính là hoàn thiện cácvấnđề lý luậnvề mua bán nợ của ngân hàng thương mại, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về mua bán nợ, từ đó đề xuất được những định hướng hoàn thiện và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về mua bán nợ của ngân hàng thương mại, đồng thời nâng cao hiệu quả của việc thực thi pháp luật.

Cho đến thời điểm hiện nay, mặc dù đã có một số công trình khoa học trong nước và nước ngoài nghiên cứu về một số nội dung liên quan đến đề tài và có giá trịtham khảo, nhưng trong đó vẫn còn những điểm hạn chế như:

Một là, liên quan đến lý luận về hoạt động mua bán nợ của ngân hàng thương mại và lý luận pháp luật về hoạt động mua bán nợ của ngân hàng thương mại: kết quả nghiên cứu tại các công trình khoa họctrước đâyđã xây dựng được mộthệthống lý luận tương đối hoàn chỉnh về những vấn đề này. Tuy nhiên, còn có một sốvấn đề chưa được làm rõ bản chất pháp lý của chúng như làcác khái niệm “nợ”, “nợxấu”, “mua bán nợ”, một số vấn đề chưa được đề cập hoặc đã đề cập nhưng chưađầy đủ nhưlà: những đặc điểm đặc trưng của nợ của ngân hàng thương mại, vai tròcủa hoạtđộngmua bán nợcủa ngân hàng thương mạiđối với các bên liên quan,

những đặc trưng của pháp luật mua bán nợ của ngân hàng thương mại, …;

Hai là, liên quan đếnthực trạng pháp luật về hoạt động mua bán nợcủa NHTM, nhìn chung các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã đề cập ở một mức độ nhất định thực trạng của nhiều quy định. Tuy nhiên, các công trình đóchưa đánhgiá được hết mộtsố vấn đềtồntạitrong hệ thống pháp luật mua bánnợcủa ngân hàng thương mại hiện nay, những điểm bất cập, hạn chế bên cạnh những thành tựu đạt được, những khoảng trống cần có pháp luật điều chỉnh, ví dụ nhưnhững vấn đề về đối tượng mua bán nợ, công cụ thanh toán, giá mua bán nợ,chủthể mua bán nợ, …

34

Ba là, liên quan đến việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động mua bán nợ của ngân hàng thương mại: các công trình nghiên cứu hiện nay đã có những đề xuất vềđịnh hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại, tuy nhiên nhiều đề xuất về định hướng còn mang tính chất chung và chưa được cụ thể hóa cho lĩnh vực mua bán nợ của ngân hàng thương mại, các giải pháp cũng chưa đầy đủ vàchưa giải quyết hết những điểm bất cập, hạn chếcủaquy định pháp luật hiện hành.

Từnhững kết quả đánh giá về tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu sinh đã đưa ra những vấn đề cần được giải quyết trong luận án này là tập trung vào việc nghiên cứu hệ thống và đầy đủnhững vấn đề lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại và lý luật pháp luật về mua bán nợ củangân hàng thương mại, qua việc làm rõ đượcbảnchất pháp lý và nhữngđiểm đặc thù củacác vấn đề lý luận kết hợp với việc phân tích thực trạng pháp luật,đánh giá thực tiễn thực hiện quy định pháp luật để có thể đưa ra được những định hướng, giải pháp hoàn thiện quyđịnh pháp luật và cơ chế thực thi quyđịnh pháp luật một cách chính xác, trọn vẹn, đầy đủ và đồng bộ, có tính ứng dụng cao. Những nội dungnày sẽ đượctrình bày trong những chương tiếp theo của luận án “Mua bán nợcủa các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay”.

35

Chƣơng 2

LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN NỢ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

2.1. Những vấn đề lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thƣơng mại 2.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ của ngân hàng thương mại

2.1.1.1. Khái niệm nợ, nợ của ngân hàng thương mại và nợ xấu của ngân hàng thương mại

Thuật ngữ “nợ” có lịch sử sử dụng lâu đời và không còn là một thuật ngữ mới hay xa lạđối với đời sống kinh tếxã hội, song khái niệm nàylạicó nhiều định nghĩa khác nhau, từđó dẫn đến cách hiểu và cách ứng phó với nợkhác nhau. Nợphát sinh nhưmột hệquả tất yếu từ hoạt động tín dụng của NHTM, qua quá trình NHTM hoạt động tín dụng và kiểm soát rủi ro kém hiệu quả, nợ xấu xuất hiện và cóthể tồn tại lâu dài. Như vậy, nợ và nợ xấu có mối quan hệ mật thiết với nhau, nợ bao gồm các khoản nợ xấu và các khoản nợ không phải là nợ xấu.

Trên thếgiới có nhiều quan điểmkhác nhau liên quan đến khái niệm nợ, nợcủa NHTM nói chung hay nợ xấu nói riêng. Nợ có thể được hiểu là một nghĩa vụ tài sản của một bên đối với một bên khác, mối quan hệ này tồn tại giữa hai chủ thể bao gồm chủ thể có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, mà ở đây là yêu cầu trả nợ, chủthể còn lại có nghĩa vụ thực hiện theo yêu cầu của chủ thể có quyền, tức thực hiện việc thanh toán khoản nợ[[16], tr.11]. Định nghĩa nàyđã đặt nợdưới sựxem xét toàn diện ởgóc độcủa cảhaichủthể, có quyền và có nghĩa vụ, theo đóthểhiện được quyền của bên này là nghĩa vụ với bên kia và ngược lại, bên có nghĩa vụ chỉphải thực hiện nghĩa vụ của mình khi bên có quyền yêu cầu.

Ngoài ra, một khái niệm nợ khác thường được sử dụng trong trường hợp phải thực hiện một nghĩa vụ hoàn trả hay đền bù về tài sản, vật chất. Tuy nhiên, nợ cũng có thể được sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác. Trong trường hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử dụng sức mua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó. Nợđược hình thành khi một người cho vayđồng ý cho người vay một lượng tài sản nhất định [68]. Khái niệm trênđâycho thấy rõ hơn sự hình thành “nợ”, đồng thời

36

trong khái niệm này, người vay có thể trả đúng tài sản mà họ đã vay mượn hoặc trảbằng một tài sản khác, bao gồm tiền, mang tính chất đền bù, tuỳ theo sự thoả thuận của các bên. Khái niệm này cũng xét đủ hai chủ thể cho vay và chủ thể đi vay, tuy nhiên chưa đềcập đến việc yêu cầu trả nợ của người cho vay mà chỉ nêu lên việc xác lập khoản nợ cho người cho vay khi họ đồng ý cho vay. Vì vậy, khái niệm này tuy xét nhiều mặt, song vẫn chưa hoàn thiện.

Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩavề “nợ”. Theo đó, nợ là cáivay phải trảmà chưa trả [93]. Định nghĩa này chỉ ra mối quan hệ vay mượn, theo đó tình trạng một bên vay mượn của bên kia tài sản, vật chất mà chưa thực hiện hành vi hoàn trảđược thể hiện dưới têngọi là nợ. Định nghĩa ngắn gọn này phần nào thể hiện được bản chất và sựhình thành khoản nợ. Ngoài ra, nợcòn được hiểu làđiều mang ơn phải đền đáp mà chưa đền đáp được [[33], tr. 741] hoặc đã hứa với ai đó mà chưa códịp thực hiện. Theo cách hiểu này, nợ không chỉ gói gọn trong quan hệ tài sản, vật chất mà còn mở rộng ra các đối tượng về tinh thần, đạo đức, lời hứa. Song, hiểu một cách ngắn gọn, nợlà mối quan hệmà một bên phải thực hiện việc trao một đối tượng cho một bên khác, hình thành dựa trên việc cho vay, hứa hẹn,…

Các khái niệm nêu trên đều chỉra bản chất của nợlà tình trạng một bên cóquyền yêu cầu, và một bên phải có nghĩa vụ trao cho bên kia đối tượng cụ thể màchưa thực hiện việc trao này, nghĩa vụ đó có thể phát sinh từ việc bên có quyền đãcho bên có nghĩa vụ vay mượn, mua bán nhưng chưa thanh toán, hoặc phát sinh từcác thoả thuận, quy định của pháp luật trong từng trường hợp.

Nợxấu của NHTM cóthểđược hiểu một cách đơn giản là những khoản nợkhó có khả năng thu hồi, do đặc thù hoạt động cấp tín dụng của NHTM nhiều rủi ro và việc đòi hỏi phải phân loại nợ để kiểm soát rủi ro tín dụng. Từ những lý do này mà NHTM dành sự chú trọng và quan tâm đặc biệt cho nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của mình.

Trên thế giới cũng tồn tại nhiều khái niệm về nợ xấu. Một khoản nợ được coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra:

Ngân hàng thấyngườivay không có khả năng trả nợ đầyđủ khi ngân hàng chưa

37

thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi nợ; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày [[48], Mục 452]. Theo đó,nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đãquá hạn 90 ngày và/hoặc có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Nhận định vềnợ không có khả năng thanh toán hay nợ xấu này được dựa trên việc đánh giá yếu tốđịnh tính khi xét khả năng trả nợ không đầy đủ của khách hàng, không những vậy, định nghĩa này còn dựa trên yếu tốđịnh lượng, mang tính chất cốđịnh và dễxácđịnh, vềtrường hợp quá hạn 90 ngày mà khách hàng vay chưa có thực hiện nghĩa vụ thanh toán, cả hai yếu tố này đều nhìn từ góc độ người vay và đánh giá hành vi của họ mà không đánh giá hành vi triển khai thu hồi nợ của ngân hàng.

Một khái niệm khác cho rằng, một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suấtđã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản) [[52], tr. 8]. Định nghĩa này, bằng một cách định lượng, lấy một khoảng thời gian quá hạn, 90 ngày, một khoảng thời gian đủdài,đểđánh giá khảnăng khó thu hồi củamột món nợ, bên cạnh đó cũng xét đến yếu tố định tính, dưới 90 ngày nhưng có các lýdo hợp lý để nghi ngờ về khả năng trả nợ.

Tại Việt Nam cũng có nhiều khái niệm về nợ xấu, theo đó nợ xấu, hay còn gọi là nợ khó đòi hoặc các khoản vay có vấn đề, được sử dụng phổ biến nhằm ám chỉcác khoản nợ bị suy giảm khả năng thu hồi hoặc mất khả năng thu hồi [[43], tr. 7], vềbản chất nợxấu là khoản nợmà người vay không trảnợđến hạn bao gồmcảtrường hợp không trảnợvà mất khảnăngtrảnợ. Nếu bên vaytrảnợkhông sòng phẳng, không đầyđủcảgốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thì nó trởthành nợxấu [37].

Những địnhnghĩa trênđã có cách xác định và hiểu khá tương đồng vềbản chất nợxấu. Qua đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu haynợgiảm giá trị khi nóxuất hiện một hoặc cảhai dấu hiệu sau: (i) Quá hạn thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định; (ii) Khách hàng vay bị coi là khó có khả năng trả nợ. Nợ xấu là một trong những tiêu chí hàng đầu để đánh giá tình trạng hoạt động của các NHTM,

38

thể hiện sức khỏe tài chính, khả năng kiểm soát rủi ro,… của NHTM đó và là một trong những vấn đề quan trọng trong tái cấu trúc hệ thống tài chính.

Trên cơ sở những phân tích nêu trên, khái niệm “nợ của ngân hàng thương mại” cóthể được hiểulà một khoản tiền bao gồm khoản gốc, lãi và các chi phí khác mà khách hàng vay phải thanh toán cho NHTM tại một hoặc nhiều thời điểm nhất định được gọi là hạn thanh toán do NHTM và khách hàng thoả thuận trong hợpđồng. Khái niệm “nợxấu” được hiểu là những khoản nợ córủi ro tín dụng cao, khả năng thuhồivốnthấp, có khả năng gây thiệt hại cho NHTM cho vay, dựa trên sựđánh giá về lượng thời gian quá hạn mà chưa thanh toánnợvà sựđánh giá thấp của NHTM về khả năng trả nợ của khách hàng.

Nợ và nợ xấucủa NHTM có mối quan hệ liên quan mật thiết đến nhau. Nợbao gồm cả nợxấu và nợ đủtiêu chuẩn. Nợ xuất phát từ hoạt động cấp tín dụng của NHTM, NHTM kinh doanh và tìm kiếmlợinhuận trên các khoản nợ. Tuy nhiên, khi mộtkhoảnnợ khó có khảnăng thu hồi và bị đánh giá là nợ xấu trong một khoảng thời gian dài, nó phản ánh hoạt độngkinh doanh kém hiệu quả và NHTM luôn muốn tránh điều đó. Nợ luôn tồn tại trong NHTM còn nợ xấuthì luôn bị đặt trong sự kiểm soát, mong muốn giải quyết của ngân hàng.

2.1.1.2. Đặc điểm nợ của ngân hàng thương mại

Nợ của ngân hàng thương mại có một số đặc điểm sau đây:

Thứnhất, nợcủa NHTM phát sinh trên cơ sởhợp đồng cấp tín dụng giữa NHTM và gắn liền với mối quan hệvềtài sản. Cấp tín dụng là việc NHTM thỏa thuận cho khách hàng sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cấp tín dụng. Hoạt động cấp tín dụng có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng,… và nợ của NHTM có thể phát sinh từ tất cả các hoạt động này. Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung nghiên cứu về nợphát sinh từ hoạt động cho vay của NHTM đối với người đi vay.

Thứhai, nợcủa NHTM là quanhệvềtài sản. Khi NHTMcấptín dụng cho khách hàng, tức là cho (hoặc cam kết cho) khách hàng sử dụng một khoản tiền. Dođó, đối tượngmà bên có nghĩa vụ phải hoàn trả cho bên có quyền là tiền, tức tài sản.

39

Thứ ba, nợ của NHTM bao gồm số tiền nợ gốc, lãi vay và chi phí khác nếu có. Theo đó, số tiền nợ gốc tức là số tiền mà NHTM đã giải ngân cho khách hàng vay dựa trên hợp đồng vay đã ký kết. Lãi vay là số tiền được xác định theo tỷ lệ so với sốtiền vay gốc, thường thểhiện bằng tỷlệphần trăm trên một khoảng thời gian nhất định được thoả thuận trong hợp đồng vay. Ngoài những khoản này ra, khách hàng vay có thể phải trả thêm một số chi phí khác cho NHTM, chẳng hạn như phí phạt khi khách hàng vaytrảnợtrước hạn, chi phí quản lý, lãi phạt chậm trả,… vàmột sốloại chi phí khác. Vậynên, khoản phải trảcủa khách hàng vay thường lớn hơn khoản mà ngân hàng đã cho họ vay ban đầu, phần chênh lệch mà họ phải gánh chịu xem như cái giá, chi phí để họ có thể được sử dụng vốn của người khác.

Thứ tư, nợ của NHTM luôn mang rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Rủi ro cóthể được hiểu là khả năng mất đi những giá trị về mặt vật chất hoặc tinh thần do việc thực hiện một hành động (hoặc không hành động)nhất định, thấy trước hoặc không lường trước được (dựđịnh hoặc không có kế hoạch) [85], là sựảnh hưởng của sựkhông chắc chắn đối với các mục tiêu. Trong định nghĩa này, sự không chắc chắn bao gồm các sự kiện (có thể xảy ra hoặc không xảy ra) và sự không chắc chắn gây ra bởi sựmơ hồ hoặc thiếu thông tin [75]. Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng của khoản nợ là việc khách hàng không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng dẫn đến TCTD không thể thu hồi được nợ [[21], tr. 19]. Hiểu theo nghĩa rộng, rủi ro tín dụng là tất cả những khả năng mà theo đó, TCTD sẽ không thể thu hồi đầy đủ vàđúng hạn các khoản tín dụng đã cấp. Rủi ro tín dụng sẽ gây nên những thiệt hại đối với các ngân hàng, làm mất mát nguồn vốn, suy giảm khả năng chi trả và khả năng thanh toán các khoản nợ của ngân hàng [72]. Một cách đơn giản, rủi ro tín dụngđược định nghĩa là tiềm năng mà khách hàng vay của ngân hàng không đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán nợ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận [62]. Trong quátrình hoạt động, nhiệm vụ kiểm soát rủi ro tín dụng luônđược đặtra đối với các chủnợ. Để khắc phục rủi ro tín dụng đòi hỏi cần phải có cả một hệ thống các biện pháp nhằm khắc phục tổn thất phát sinh trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, trong đó có cả các yếu tố đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm của cán bộ ngân hàng

40

với mục tiêu bảo đảm được quyền lợicủa ngân hàng cho vay cũng như khách hàng vay vốn [42].

2.1.1.3. Phân loại nợ của ngân hàng thương mại

Phân loại nợ đề cập đến quá trình các ngân hàng sử dụng để xem xét danh mục cho vay của họ và phân bổ các khoản vay cho các danh mục hoặc hạng dựa trên rủi ro cảm nhận và các đặc điểm liên quan khác của khoản vay.

Quá trình xem xét và phân loại các khoản vay liên tục cho phép các ngân hàng giám sát chất lượng của danh mục cho vay và khi cần thiết, sẽ có biện pháp khắc phục để chống lại sựsuy giảm chất lượng tín dụng của danh mục đầu tư của họ. Các ngân hàng thường cầnsửdụng các hệ thống phân loại nội bộ phức tạp hơn, được tiêu chuẩn hóa hơn mà các nhà quản lý ngân hàng yêu cầu cho mục đích báo cáo vànhằm tạo điều kiện giám sát và so sánh liên ngân hàng [47].

Phân loại nợlàmộtbiện pháp nghiệp vụ–pháp lý nhằm xếpmộtkhoản nợ vào mộtnhóm nhất định dựa trên việc đánh giá về khả năng thu hồi khoảnnợ ấy

[72]. Việc đánh giá này thường căn cứ vào các tiêu chuẩn định tính và định lượng để xác định mức độ rủi ro về khả năngthu hồi nợ của khách hàng vay. Phân loại nợlà một trong những nghiệp vụ quan trọng của NHTM nhằm kiểm soát tình hình chất lượng các khoản nợ của ngân hàng,từ đóđưa ra những phương án quản lý rủi ro, thu hồi nợ phù hợp.

Hoạt động phân loại nợ của NHTM có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của nền tài chính, vừa tác động đến chủ thể cho vay là NHTM, vừa tác động đến chủ thểđi vay là khách hàng vay nợ của NHTM. Bởi lẽ, căn cứ trên kết quả của việc phân loại này, ngân hàng cần có những hành động phù hợp nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng, chẳng hạn như việc trích lập dự phòng, quyết định việc bán nợ. Trường hợp việc phân loại nợ của NHTMxảyra sai sót dẫn đến đánh giá nợ thấp hơn mức độ

rủi ro củanó, NHTMsẽtrích lập dựphòng ít hơn, không quyết định bán nợsớm hơn, không kiểm soát khoản nợtrong phạm vi rủi ro mà đáng ra phải kiểm soát. Trường hợp việc phân loại nợ của NHTM có nhầm lẫn khiến cho khoản nợ bị đánh giá cao hơn mức độ rủi ro thực sự của nó, NHTM phải trích lập dự phòng cao hơn

41

mức mà họ cần trích lập, biến khoản dư thừa này thành khoản tiền không sinh lợi, ngân hàng có ít nguồn tiền đưa vào kinh doanh hơn, và làm tăng chi phí kiểm soát

rủi ro củangân hàng. Còn vềphía khách hàng vay, một khi khoảnnợbịxếp vào mức nợcó độrủi ro cao hơn, khách hàng vay phải gánh chịu hậuquảtừviệc bịđánh giá tín dụng xấu.Điều này tác động đến khảnăng huyđộng vốn của khách hàng, đặc biệt vay huy động vốn bằng phương thức vay từ NHTM do có lịch sử tín dụng xấu.

Việc thường xuyên xem xét và phân loại các khoản nợ giúp NHTM kiểm soát được chất lượng hoạt động cho vay của mình và có những biện pháp xửlý tươngứng một cách phù hợp nhằm bảo đảm sự hiệu quả của hoạt động cho vay. Mua bán nợ làmột trong những biện pháp xử lý đó. Căn cứ vào kết quả phân loại nợ, NHTM có thểlựa chọn biện pháp mua bán nợtheo hướng ưu tiên bán nợđối với những khoản nợ xấu và không bán những khoản nợ đủ tiêu chuẩn; đồng thời việc định giábán khoản nợ chính xác cũng chủ yếu dựa trên kết quả phân loại nợ này.

Kết quảphân loại nợcũng là căn cứđểNHTM kiểm soát rủi ro của những khoản nợ này thông qua biện pháp trích lập dự phòng. Đây là một trong những giải pháp hạn chếnhững thiệt hại có thểxảyra từviệc thất thu các khoản nợtừhoạt động cho vay của NHTM. Khoản dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy rađối với nợcủa NHTM. Các khoản nàyđược chia thànhdựphòng cụthểvà dựphòng chung, theo đó dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất cóthể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể, còn dự phòng chung là số tiền được trích

lậpđểdựphòng cho những tổn thất cóthểxảyra nhưng chưa xác định đượckhi trích lập dự phòng cụ thể.

Trên thực tế, do không có một tiêu chuẩn ràng buộc chung trên thế giới, từng quốc gia và các chuyên viên ngân hàng đã thiết lập các quy định riêng rất đa dạng cho hệ thống phân loại nợ và trích lập dự phòng theo tính chất cụ thể của mỗi môi trường pháp lý. Ví dụnhư các ngân hàng Đức phân loại các khoản vay nhấtđịnh thành bốn loại, bao gồm: các khoản vay không có rủi ro hiện rõ, các khoản vay códấu hiệu rủi ro, các khoản vay có dấu hiệu không thu hồi được và các khoản nợ xấu

42

[47]. Còn đối với các ngân hàng Ý, các khoản vay được phân thành năm loại, trongđó các khoản vay có dấu hiệu không thu hồi được được nhóm lại bằng thứ tự rủi ro, thành nợ xấu, các khoản vay dưới tiêu chuẩn, các khoản vay đang được cơ cấu lại, và các khoản vay đã được cơ cấu lại. Các khoản vay không có bảo đảmmà người vay đến từ các quốc gia có rủi ro cao được xem là có dấu hiệu không thu hồi được. Nợ xấu là nợ mà người vay không có khả năng thanh toán. Các khoản vay dưới tiêu chuẩn là các khoản vay mà người vay gặp khó khăn tạm thời trong đó ít nhất 20% khoản nợ quá hạn hơn 6-12 tháng. Các khoản vay đang được cơ cấu lại là các khoản vay mà con nợ đã nộp đơn xin cơ cấu nợ trong năm trước. Các khoản vay đã được cơ cấu lại là các khoản vay tạm ngưng trả nợ và được đàm phán lại với lãi suất dưới mức lãi suất thị trường [[47], tr. 37].

Hệ thống phân loại nợ của Ngân hàng thanh toán quốc tế – Bank for International Settlements, là một trong những hệ thống phân loại đang được áp dụng và thừa nhận rộng rãi, theo đó phân loại nợthành 5 loại bao gồm: (1) Nợđủtiêu

chuẩn – gồm những khoản vay có khả năng được thanh toán; (2) Nợ cần chú ý đặc

biệt – gồm những khoản cho doanh nghiệp vay mà có thể gặp khó khăn trong việc

thu hồi nợ; (3) Nợ dưới chuẩn – gồm những khoản cho vay mà tiền lãi hoặc gốc đãquá hạn thanh toán 3 tháng, ngân hàng sẽ trích tỷ lệ 10% dự phòng cho các khoản

vay bị xếp vào nhóm này; (4) Nợ nghi ngờ – gồm những khoản vay bị nghingờ vềkhả năng thanh toán và được xác định là sẽ gây ra tổn thất, ngân hàng cần tríchtỷ lệ

50% dựphòng cho các khoản vay này; (5) Nợcó khảnăng mất vốn –gồmcác khoản nợbịđánh giá là không có khảnăng thu hồi được thực hiện các biện pháp bảo vệ theo luật phá sản, các ngân hàng cần trích lập tỷ lệ dự phòng cho các khoản vay này là 100%. Đồng thời, nợ xấu được xác định là nợ thuộc ba nhóm cuối và cần đánh giá khả năng khó thu hồi theo mức độ [34].

Ở Việt Nam, NHTM thực hiện việc phân loại nợ dựa vào các tiêu chuẩn định tính vàđịnh lượng được quyđịnhtại Khoản 1, Điều 10, Thông tư 02/2013/TT- NHNN đểđánh giá mức độrủi ro của các khoản nợ, trên cơ sởđó phân loại các khoản nợ vào 1 trong 5 nhóm nợ thích hợp, gồm: (i) Nợ đủ tiêu chuẩn, (ii) Nợ cần

43

chú ý, (iii) Nợ dưới tiêu chuẩn, (iv) Nợ nghi ngờ, (v) Nợ có khả năng mất vốn. Mỗi phương pháp phân loại nợđềucó những ưu nhược điểmkhác nhau. Phương pháp định lượng mang ưu điểm về độ chính xác cao, khi bản chất phân loại của nó dựa trên số ngày quá hạn khoản nợ để phân loại nợ, số ngày này là chính xác trên thực tế và không có sự nhầm lẫn, tuy nhiên cũng chính cách phân loại ấy lại mangđến nhược điểm khiến NHTM ít có sự chủ động trước khi khoản nợ đến hạn. Trong khiđó, phương pháp định tính lại khắc phục được nhược điểmcủa phương pháp định lượng, giúp NHTM chủ động hơn trong việc phân loại nợ. Tuy nhiên, để được phân loại nợdựa trên phương phápđịnh tính, NHTMcầnphải được sựcho phép bằng văn bản của NHNN và bên cạnh đó vẫn phải áp dụng phương phápđịnh lượng.Vậy nên, nhiều NHTM hiện naychỉsửdụng phương pháp định lượng trong phân loại nợ. Việc bảo đảm NHTM có một hệ thống phân loại nợ là phù hợp với các tiêu chí của Basel, khi dựa trên hai tiêu chuẩn: (i) rủi ro không trả được nợ của người vay, và (ii) các yếu tố đặc trưng của giao dịch [[48], Mục 396] để từ đó phân khoản vay vào các nhóm có mức độ rủi ro khác nhau nhằm tạo ra sự kiểm soát phù hợp.

2.1.2. Khái niệm, đặc điểm mua bán nợ của ngân hàng thương mại 2.1.2.1. Khái niệm mua bán nợ của ngân hàng thương mại

Với các đặc trưng pháp lý của mình,nợ mang đến cho chủnợ quyền đòi nợ, một dạng quyền tài sản có giá trị kinh tế và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sựnhư những quyền tài sản khác được ghi nhận tại Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015. Xét về bản chất pháp lý, việc mua bán nợ chính là mua bán quyền đòi nợ và được coi là một trường hợp đặc biệt của việc chuyển giao quyền yêu cầu mà trong đó, đối tượng mua bán là quyền đòi nợ và việc chuyển giao mang đầy đủ tính chất của một hợp đồng mua bán, nghĩa là bên bán chuyển giao quyền sở hữu đốivới quyền đòi nợ, còn bên mua trả cho bên bán một số tiền [[65], tr. 123].

Trong công trình nghiên cứu “Pháp luật về các biện pháphạnchế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới” [[40], tr. 423 – 426], tác giả cho rằng mua bán nợ là hoạt động mà trong đó bên bán chuyển giao quyền đòi nợ cho bên mua nợ để sớm thu hồi vốn của mình.

44

Thực chất hoạt động mua bán nợ của TCTD (bao gồm NHTM) chính là việc chuyển nhượng lại một phần hoặc toàn bộ “quyền thu hồi nợ” từmột “khoản nợ phải thu” của bên bán nợ (TCTD) đối với bên khách nợ sang cho bên mua nợ, đểbên mua nợ trở thành chủ nợ mới của bên khách nợ. Nói cách khác, việc mua bán nợchính là việc mua bán quyền đòi nợ và được coi là một trường hợp đặc biệt của việc chuyển giao quyền yêu cầu mà trong đó, đối tượng mua bán là quyền đòi nợ và việc chuyển giao mang đầy đủ tính chất của một giao dịch hợp đồng mua bán mà đối tượng mua, bán chính là quyền đòi nợ với tư cách là một loại quyền tài sản [[31], tr. 67].

Khái niệm mua bán nợ phải thể hiện rõ được bản chất là chuyển quyền sở hữu đối với quyền đòi nợtừbên bán nợsang bên mua nợtheo nguyên tắc có đền bù. Theo đó, mua bán nợ là việc bên bán nợ chuyển quyền sở hữu đối với quyền đòinợcho bên mua nợ để nhận tiền, còn bên mua nợ thanh toán cho bênbán nợ để nhận quyền sở hữu đối với quyền đòi nợ theo thỏa thuận [63].

Trên thực tế, mục đích hướng đếncủacác bên khi tham gia vào hợp đồng mua bán nợ không chỉ là chuyển quyền sở hữu đối với quyền đòi nợ (quyền yêu cầu bên

nợ thực hiện trả nợ gốc, nợ lãi …) mà còn chuyển quyềnsở hữu đốivới các quyền liên quan phát sinh từquyền đòi nợ như: quyền xửlý tài sản bảo đảm(trong hoạtđộng tín dụng) [[56], tr.18]. Do đó, việc mua bán nợcũng có được hiểu theo một cách khác, rộng hơn về đối tượng mua bán, đó là việc chuyển giao một phần hoặc toàn bộ các quyền yêu cầu của chủ nợ đốivớikhoản nợ cho bên mua nợ và chủnợnhận tiền thanh toán từ bên mua nợ.

Trong quan hệnghĩa vụdân sự, chuyển giao quyền yêu cầu là sựthoả thuận giữa bên có quyền với bên thứ ba nhằm chuyển giao quyền yêu cầu cho bên thứ bađó. Bên thứ ba này kế thừa pháp lý về quyền yêu cầu của chủ thể có quyền trước đó,được xem là bên thếquyền [[15], tr. 26]. Thực chất, việc chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệnghĩa vụdân sựlà sựchuyển giao vềchủthểhưởng quyền, không giống như trường hợp uỷ quyền chỉ thay đổi người đại diện thực hiện hành vi nhưng chủthểhưởng quyền thì không thayđổi. Khi chuyển giao quyền yêu cầu, người đã chuyển giao sẽ chấm dứt quan hệ với người có nghĩa vụ và không phải bảo

45

đảm hay chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Nếu bên có nghĩavụkhông hoàn thànhđượcnghĩa vụcủa mình thì bên thứbathếquyền, lúc nàyđã trởthành bên có quyền yêu cầu, thông qua quyền yêu cầu màmình có để giải quyết theo khuôn khổ pháp luật cho phép. Việc chuyển giao quyền yêu cầu này không cần sựđồngý củabên có nghĩa vụ, bởi vì trước hay sau khi quyền yêu cầu được chuyển giao, nội dung công việc mà họphải thực hiện không thay đổi. Tuy nhiên, một thông báo trong một khoảng thời gian hợp lý nên được đưa ra cho bên có nghĩa vụ, để họ có thông tin về chủ thể có quyền yêu cầu đối với họbởi lẽ việc chuyển giao này đã thay đổi.

Xét dưới góc độ kinh tế, một số quan điểm cho rằng hoạt động mua bán nợ là hoạt động cấp tín dụng [[41], tr. 17]. Tuy nhiên, quan điểm này không đúng đối với việc mua bán nợ của NHTM theo pháp luật Việt Nam hiện tại. Bởi lẽ, cấp tín dụng là việc thỏa thuận đểtổchức, cá nhân sửdụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụcấp tín dụng khác. Còn trong quan hệmua bán nợ, bên nhận chuyển giao trảcho bên chuyển giao mộtkhoản tiền đểmua lấy quyền yêu cầu mà không đượcphép hoàn trả, vì pháp luật Việt Nam hiện tại không cho phép bên bán nợ có thể chuộc lại

(truy đòi) khoản nợ.

Qua những phân tích trên, hoạt động mua bán nợcủa NHTM là giao dịch trong đó, cósựchuyển quyềnsởhữuđốivớimộtphần hoặc toànbộquyền yêu cầu khách hàng vaynợthực hiện nghĩavụthanh toán khiđếnhạnthanh toán và những quyền yêu cầu khác của NHTM cho bên mua nợ, còn bên mua nợ có nghĩa vụ thanh toán cho NHTM.

2.1.2.2. Đặc điểm mua bán nợ của ngân hàng thương mại

Đối tượng của hoạt động mua bán nợcủa NHTM là các khoản nợ,bao gồm các khoản nợ đủ tiêu chuẩn nhưng phổ biến nhất vẫn là nợ xấu. Các khoản nợ nàyđược hình thành dựa trên việc NHTM giải ngân vốn cho khách hàng vay và khách hàng có nghĩa vụ phải hoàn trả theo hợp đồng tín dụng đã ký với NHTM.

46

Việc mua bán các khoản nợ đủ tiêu chuẩn thường xảy ra trong những trường hợp sau:

(1) Mua bán nợ trong hợp đồng cho vay hợp vốn.

Cho vay hợp vốn là việc có từ hai NHTM trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn. Trong đó, có một ngân hàng đầumối và (các) ngân hàng thành viên. Ngaytừkhi giao kếthợp đồng cho vay hợp vốn, các NHTM sẽ có những thỏa thuận về quyền được mua bán khoản nợcủa mỗithành viên, quyền ưu tiên mua khoản nợđócủa các thành viên còn lại. Việc mua bán nợ sẽ được thực hiện khi một ngân hàng thành viên không muốn tiếp tục tham gia vàodự ánvì một trong những lý do như: không thu xếp đủ số vốn cần thiết để giải ngân, hoặc là một ngân hàng thành viên sau một thời gian giữ hộ khoản vay giúp ngân hàng thành viên khác thì đến thời điểm nhấtđịnhngân hàng thành viên chuyển nhượng lại khoản vay giữ hộ đó cho thành viên nhờ giữ hộ.

(2) Mua bán nợ nhằm đảm bảo cho NHTM vẫn còn dư chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm do NHNN cấp hay không chạm ngưỡng các tỷ lệ an toàn hoặc giới hạn cấp tín dụng và có thểtiếp tục giải ngân các khoản vay mới. Nếu giữlại các khoản vay cũ, NHTM sẽ không giải ngân cho khoản vaymới được do đã sử dụng hết chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của mình hoặc chạm ngưỡng không cho phép của tỷ lệ an toàn, giới hạn cấp tín dụng.

Đểbảo đảman toàn cho hoạt động của NHTM, ngoài trách nhiệm tuân thủnhiều hạn chế về tỷ lệ an toàn và giới hạn cấp tín dụng nhất định, như là: giới hạn cấp tín dụng theo ngành, lĩnh vực hoạt động của khách hàng vay vốn; giới hạn cấp

tín dụng theo số vốn tự có của NHTM…,NHTM còn có trách nhiệm thực hiện cấp tín dụng, cho vay theo đúng chỉtiêu tăng trưởng tín dụng hàng nămđược NHNN

cấp cho NHTMđó…Khi một NHTMđã đạt đến (các) giới hạn của mình, ngân hàng đó không thể tiếp tục cho vay đối với những khách hàng mới hoặc tiếp tục giải ngân cho các khoản vay hiện tại của mình. Trong những trường hợp này, NHTM có thể bán một số khoản vay đủ tiêu chuẩn hiện có để có thể tiếp tục cấp tín dụng màkhông vi phạm (các) giới hạn.

47

(3) Mua bán nợ theo nhu cầu của khách hàng vay khi họ muốn thay đổi ngân hàng cho vay.

Một khách hàng vay có thể muốn chấm dứt một khoản vay đủ tiêu chuẩn của mình tại một NHTM này và chuyển sang vay tại một NHTM khác. Lý do chủ yếu làhọ sẽ nhận được nhữngđiều kiện vay ưu đãi hơn từ NHTM mua nợ.

Tuy nhiên trên thực tế, đối tượng giao dịch chủ yếu của hoạt động mua bán nợlà các khoản nợ xấu. Bởi lẽ, ngoài những trường hợp mua bán nợ đủ tiêu chuẩn nêu trên, NHTM có khả năng thu hồi nợ và tìm kiếm lợi nhuận trên các khoản nợ bình thường, do đó họ ít có động lực và nhu cầu bán các khoản nợ này. Trong khi đó, các khoản nợxấu tồn tại lâu dài trong hệthống tín dụng sẽảnh hưởngđến hoạt động kinh doanh và xếp hạng của các ngân hàng, lúc này, các NHTM có nhu cầu bán nợxấu như một công cụ giải quyết nợ xấu trong hoạt động của mình. Việc xử lý khoản nợbằng phương thức bán nợđược coi là biện pháp mang lại hiệu quảcao bởi phương thức này nhanh chóng cung cấp cho NHTM một lượng tiền cần thiết, góp phần cải thiện nhanh tình hình tài chính của NHTM, cải thiện khả năng thu hồi vốn từcác khoản nợ, và giúp NHTM tiếp tục có nguồn tiền vận hành dòng chảy vốn, hạn chế rủi ro thanh khoản và bảo đảm sự phát triển lành mạnh trong hoạt động cho vay của NHTM và sự phát triển bền vững đối với toàn hệ thống.

Chủthểcủa hoạt độngmua bán nợcủa NHTM luôn cósựtham gia của hai bên: Bên mua nợ và Bên bán nợ. Bên bán nợ ban đầu là NHTM mà đã cho khách hàng vay nợ. Bên mua nợ là những chủ thể được pháp luật cho phép thực hiện hoạt động mua nợ, điển hình là các TCTD, ngân hàng nước ngoài được chấp thuận hoạt động mua nợ, tổchức kinh doanh dịch vụmua bán nợđã đủđiều kiện kinh

doanh,… Sau khi mua nợ, bên mua trởthành chủnợmới của khoản nợvà có thểbán lại khoản nợđó trên thịtrường thứcấp. Một trong những chủthểmua nợcó chuyên môn cao, đóng vai trò quan trọng vàđịnh hướng hoạtđộngmua bánnợởnhiều nước trên thế giới là các công ty mua bán nợ quốc gia. Các công ty mua bán nợ quốc gia này có thể tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn với toàn bộ vốn thuộc sở hữu nhà nước, được nhà nước định hướng hoạt động, chịu những

48

ràng buộc khắt khe về mặt chuyên môn và tính chính xác trong hoạt động. Các công ty mua bán nợ quốc gia thường được thành lập khi bài toán nợ xấu tại quốc giađótrở thành một vấn đề cấp thiết cần được giải quyết. Khi thị trường mua bán nợ còn sơ khai, chưa có nhiều nhà đầu tư lớn đi đầu thì các công ty mua bán nợ quốc gia này, với sự định hướng đúng đắn bởi các chuyên gia kinh tế, tài chính, các nhà hoạch định chính sách hàng đầu của quốc gia, sẽ là kim chỉ nam đi đầu nhằm tạo ra một thị trường mua bán nợ phát triển, giải quyết được các vấn đề nợ xấu tồn đọng. Điều nàyđã được thể hiện trong lịch sử hoạt động mua bán nợ của nhiều quốc gia trên thế giới, điển hình

như Công ty quản lý tàisảncủaHàn Quốc –Korea Asset Management Corporation (KAMCO) ở Hàn Quốc [51], hay VAMC và DATC ở Việt Nam.

Hình thức pháp lý của giao dịch mua bán nợ là hợp đồng muabán nợ được kýkết giữa bên mua nợ và bên bán nợ. Hợp đồng này quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên và các thông tin liên quan đến giao dịch như chi tiết khoản nợ, giá bán,

phương thức, thời hạnthanh toán,… Bên mua nợsẽtrởthành người thếquyền, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ của bên bán nợ kể từ thời điểm theo thỏa thuận tại hợp đồngmua bán nợ. Hợp đồng này phải được ký bởi người đại diện có đủ thẩm quyền của mỗi bên trong giao dịch.

Hoạt động mua bán nợ của NHTM là một hoạt động có tính rủi ro cao. Bởi lẽ, bản chất của hoạt động cho vay của NHTM đã tồn tại nhiều rủi ro, điển hình nhất là

rủi ro tín dụng, tức là rủi ro về việc người đi vay không trả được nợ. Khi mà NHTM phải bán đi quyền đòi nợ của mình thì có thể có nhiều lý do, một trong số đó là việc ngân hàng thương mại không thể thu hồi được nợ đúng hạn hoặc nợ quá hạn nhiều lần. Những khoản nợkhó thu hồi này khiến ngân hàng thương mại cần có một khoản tiền khác đểđáp ứng cho hoạt động luân chuyển dòng tiền của mình, buộc NHTM đã cho vay phải bán đi khoản nợ này. Khi bên mua nợ mua lại khoản nợ này của NHTM đã cho vay, đồng nghĩa với việc bên mua nợ sẽ kế thừa những rủi ro tín dụng trên đây. Bên cạnh đó, hoạt động mua bán nợ còn tồn tại nhiều rủi ro khác, màmột trong những rủi ro đặc trưng cho hoạt động kinh doanh do thông tin bấtcân xứng tạo rađóchính là sự lựa chọn đối nghịch và rủi rođạo đức. Sự lựa chọn đối

49

nghịch là do vấn đềthông tin bất cân xứng tạo ra trước khi diễn ra giao dịch, khi một bên trong giao dịch có nhiều thông tin vềđối tượng giao dịch hơn bên kia, người có ưu thế về thông tin có thể cung cấp những thông tin không trung thực vềđối tượng được giao dịch cho bên kém ưu thế thông tin, kết quả là bên kém ưu thếvề thông tin đồng ý hoàn thành giao dịch và nhận được thứ không như mình mong muốn. Ngoài ra, thông tin bất cân xứng còn tạo nên rủi ro đạo đức sau khi giao kết hợp đồng, rủi ro đạo đức nảy sinh khi bên có ưu thế thông tinhiểu được lợi thế của mình và hình thành động cơ hành động theo hướng làm lợi cho bản thân bất kể hànhđộng đó có thể làm hại cho bên kém ưu thế thông tin, bản thân bên mua nợ có thểgặp phải những rủi ro đạo đức khi NHTM giấu đi những thông tin bất lợi đối với họcho bên mua nợ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ vượt ngoài dự tính của bên mua nợ khi giao kết hợp đồng, gia tăng rủi ro tín dụng mà bên mua nợ phải gánh chịu.

2.1.3. Vai trò của hoạt động mua bán nợ của ngân hàng thương mại

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY MUA BÁN NỢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *