KIỂM SOÁT VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các nền chính trị dân chủ hiện đại, kiểm soát quyền lực nhà nước màtrọng tâm là kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp làđiều kiện cơ bản đểbảo đảmthực hiệntựdo, dânchủchính trị. Bởilẽ,quyền hành pháp do Chính phủđảmnhiệm là quyền lực nhà nướcvềtổchức thực thi quyền lực,đưapháp luật vàođời sốngxã hội.Hoạt độngquản lý của Chính phủ bao trùm toàn bộ các lĩnhvựctrong phạm vicảnướctừkinhtế,văn hóa xãhộichođếnlĩnhvựcđối ngoại và an ninh quốc phòng nên luôn trực tiếp đụngchạm đến mọi mặt của đời sống xã hội,đến cáclợi ích thiết thân nhất của người dân. Có thể nói sức mạnh củaquyền lực nhà nướctrên thựctếđượcthểhiện trực tiếp thông qua quyền hành pháp. Chính vìbộphận quyền hành pháp là nơitậptrung quyền lực nhà nước, tài sản, tiền tài của quốc gia nên luôn có xuhướnglạm dụng quyền lực màxâm phạmđếnlợiíchcủaNhân dân, biểu hiện rõ nhất là phầnlớncác hành vi tham nhũng thường liên quanđến cánbộ, công chức công tác trong ngành hành pháp. Vì thế cần phải có sự kiểm soát chặt chẽ bộ phận quyền lực này thông qua việc tăng cường các thiết chế kiểm tra, giám sát cả từ phía Nhà nước và từ phía xã hội nhằm ngăn ngừa tình trạng lạm quyền, hạn chế các hành vi vượt quá giới hạn pháp luật trong thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ; khắc phục những vấnđềbấtcậpđểhoàn thiệnthểchế, cơ chế, phương thức kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ;hướngtớixây dựngmộtNhànướcpháp quyền minh bạch, trong sạch, hiệu lực và hiệu quả.
ỞViệt Nam, kiểm soát thực hiện quyềnlựcnhànướcluôn làmộtquanđiểm quan trọng của Đảng, là một nguyêntắc hiến định, đồngthời không ngừngđược bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Tronglần sửa đổi Hiến pháp 1992 vào năm 2001, nguyêntắc“Quyền lực nhà nước là thống nhất, cósựphân công và phốihợpgiữa các cơ quan nhà nướctrong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”đã được hiến địnhtại Điều 2. Tiếp sauđó,
từyêucầucủanhiệmvụxây dựng và hoàn thiện Nhànướcpháp quyền xã hội chủnghĩa (XHCN),ĐạihộiXIcủaĐảngCộngsảnViệt Nam năm 2011đãbổsung nội dung “kiểm soátquyền lực”vào thành một yếu tố mới của cơ chế quyền lực nhà nướcởViệt Nam.Đặcbiệt,vớiviệcbổsungcụmtừ“kiểmsoát”trong Khoản 3 Điều 2 thì Hiến pháp 2013đãtiến thêmmộtbướcmớitrong việc hiếnđịnhnguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyềnlậppháp, hành pháp, tư pháp”. Bên cạnhđó,việc Hiến pháp năm 2013địnhdanh rõ ràng Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư phápđã tạo điều kiện thuậnlợicho việc xácđịnhphạm vi nhiệmvụ,quyềnhạncủacác cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư phápđồngthời thiết lập được cơ chếphối hợp và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền
cơbảntrên. Chính cácyếutốnày là cơsởhiếnđịnhđểxây dựng cơchếkiểm soát quyền lực nhà nước nói chung và kiểm soát thực hiện quyền hành pháp nói riêng nhằm phòng, chốngsựtha hóacủaquyền lực nhà nước,đảmbảocho quyền lực nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân.
Kểtừsau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, Việt Namđã có nhiều công trình nghiên cứu luận giải nội dung, tinh thần qui định của Hiến pháp năm 2013 vềnguyên tắc kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nướcgiữa các cơquan nhà nước, việc cụ thể hoá nguyên tắc này trong các văn bản pháp luật hiện hành, thực tiễn tổchức thực hiện những quiđịnh đó;kếtquảđạtđược,những hạn chế, bất cập trong qui định và thực hiện qui định của pháp luật về kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp; từđó đềxuất kiến nghị, giải pháp hoàn thiện nguyên tắc kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước, kiếm soát việc thực hiện quyền hành pháp. Tuy nhiên, khoảng thời gian từkhi Hiến pháp 2013 ra đờicho đến nay là chưa đủdàiđểkiểm nghiệm và làm bộc lộ những mặt tích cực, hạn chế, những yêu cầu đặt rađểvận hành mộtnguyên tắc mớiđược bổsung trong tổchức và hoạtđộng của bộmáy nhà nước. Thực tế cho thấy, hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam thời gian qua được Đảng Cộng sản, các cơ quan nhà nước, các thiết chế xã hội chú trọng thực hiện và đã đạt được một số thành
tựu đáng ghi nhận song vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trên nhiều phương diện nên hiệu quả kiểm soát chưa cao; nguyên nhân cơ bản là do còn tồn tại nhiều hạn chếvềpháp luật, vềtổchức hoạt động, vềnguồn nhân lực vậtlực của các chủthể có thẩm quyền kiểm soát. Vì vậy, yêu cầu đang được đặt ra cấp bách ở Việt Nam hiện nay làcầnphải cósựnâng cao nhận thức, hoàn thiện pháp luật,đổi mới tổ chức hoạt động, bảo đảm nguồn nhân lực vật lực của các chủ thể có thẩm quyền kiểm soát nhằm nâng cao hiệu quảkiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ của các chủ thể này; thông qua đó, góp phần bảo đảm quyền hành pháp được sử dụng đúng mục đích và thực hiện hiệu quả, ngăn ngừa nguy cơlạmquyền của Chính phủ, bảo đảmquyền làmchủcủa Nhân dân, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm lợi ích của Nhà nước và của xã hội.
Trên cơ sở quanđiểm của Đảngvề mục tiêu vàđộnglực của chiến lược xây dựng Nhànướcpháp quyền XHCN và thực trạng nănglựckiểm soátcủaĐảng Cộng sản, các cơ quan nhà nước, các thiết chếxãhộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành phápcủaChínhphủởViệt Nam hiện nay, tácgiảnhận thấy, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ hiện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, cần phải tiếp tục xây dựng, đổi mới và hoàn thiện. Vì vậy, việc tiếp tục nghiêncứucác vấn đềlý luận và thực tiễn vềkiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ để từ đó xây dựng những giải pháp khoa học phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị Việt Nam nhằm bảo đảm kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủlà việc làm cóýnghĩa khoa học, xãhộisâusắcgóp phần quan trọng thúcđẩyquá trình xây dựng Nhànướcpháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân thành công.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Kiểm soát việc thực hiện quyền hành phápcủaChính phủởViệt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩluậthọccủamình với mong muốn góp phần bổsung lý luận vềkiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp; phân tích, đánhgiá những kết quả đạt được đặc biệt là những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong hoạt động kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, TAND, KTNN, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên, các phương tiện thông tin đại chúng và Nhân dânvớitư cách cá nhân công dânđốivớiviệc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ để làm cơ sở cho việc đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm hiệu quả hoạt động kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và kiểm soát của các thiếtchếxã hộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủởViệt Nam hiện nay. Việc thực hiện quyền hành phápcủaChínhphủnếuđược kiểm soát chặtchẽsẽgóp phần bảo đảmChínhphủtrong quá trình thực hiện quyền hành pháp hoạt động đúng qui định của Hiến pháp và pháp luật từ đó bảo đảm quyền hành pháp được sử dụng đúng mục đích và thực hiện hiệu quả; ngăn ngừa nguy cơlạmquyền, lộng quyền, chuyên quyền của Chính phủtrong việc thực hiện quyền hành pháp; bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mụcđíchcủaluận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễnvềkiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phù hợp,khảthi nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đíchtrên, luận án có các nhiệm vụ sau:
– Hệthống hoá và đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đềtài: Kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở trong và ngoài nước, từ đó rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;
– Làm rõ những phương diện lý luận cơbảnvềkiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ;
– Phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ thông qua việc phân tích những kết quả đạt được, những hạn chếvà làm rõ nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm soátcủaĐảng cầm quyền (Đảng Cộng sản Việt Nam), kiểm soát của các cơ quan nhà nước (bao gồm kiểm soátcủaQuốc hội,Chủtịchnước,TAND, KTNN) và kiểm soát của các thiết chế xã hội (bao gồm kiểm soát của MTTQ Việt Nam các tổ chức thành viên, các phương tiện thông tin đại chúng và Nhân dân với tư cách cá nhân công dân) đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam;
-Đềxuất quan điểm và giải phápbảođảmhiệu quảhoạtđộngkiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiểm soát của các cơ quan nhà nước và kiểm soát
của các thiết chế xã hội đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ởViệt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam, cụ thể là:
– Các học thuyết, tư tưởng, quan điểm khoa học về quyền hành pháp, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ.
– Các quan điểm,quiđịnh của Đảng Cộng sản Việt Namvềkiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ.
– Các quiđịnh của Hiến pháp và pháp luật Việt Namvềkiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ.
– Các vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủbao gồm các vấn đềnguồn gốc, bản chất, cácđặc trưng, mục đích, nội dung, chủ thể, hình thức, mô hình, kinh nghiệm nước ngoài.
– Thực tiễn hoạt động kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, của các cơquan nhà nước và của các thiếtchếxã hộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi nội dung: Nghiên cứu vềkiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủcó nội dung rất rộng vàđược các nhà nghiên cứu luật học tiếp cậndưới nhiều góc độ khác nhau. Với cách tiếp cận cấu trúc hệ thống dựa trên tiêu chí chủ thể kiểm soát, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở việc phân tích lý luận, đánh giá thực trạng,đềxuất các quan điểmvà giải pháp bảo đảm kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam bao gồm kiểm soátcủaĐảng cầm quyền (Đảng Cộng sản Việt Nam), kiểm soát các cơquan nhà nước và kiểm soát của các thiết chế xã hội. Trong đó, đối với kiểm soát của các cơ quan nhà nước, luận ánchỉtậptrung nghiêncứuvềkiểm soát của Quốc hội, Chủ tịch nước, TAND và KTNN. Đối với kiểm soát của các thiết chếxãhộiluận ántậptrung nghiêncứukiểm soátcủaMTTQ Việt Nam và cáctổchức thành viên của Mặt trận, các phương tiện thông tin đại chúng và Nhân dân với tư cách cá nhân công dân đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ. Ngoài ra, Chính phủ trong phạm vi đề tài này được nghiên cứu dưới gócđộlà hoạtđộng của tậpthểChính phủ, hoạtđộngcủacác thành viên Chínhphủ
(Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng,Thủtrưởng cơ quan ngang Bộ) vàhoạt độngcủa cácBộ vàcơ quan ngangBộ
– Phạm vi không gian: Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, ngoài ra có nghiên cứu khái quát về kiểm soát quyền hành phápở một số nước trênthế giới là Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Cộng hoà liên bang Đức, Phần Lan, Trung Quốc, Australia.
– Phạm vi thời gian: Luận ántậptrung nghiêncứuvềkiểm soátcủa Đảng Cộng sản Việt Nam, của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền,của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, của các phương tiện thông tin đạichúng và của Nhân dân vềthực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam kể từ khi kiểm soát quyền lực nhà nước được quy định trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cho đến nay, cụ thể làtừ năm 2013 đến năm 2021.
4. Cơ sở lý luận, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận
Đềtài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duyvậtbiện chứng vàchủnghĩa duyvậtlịchsửvềxây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN;
các quan điểm của chủnghĩa Mác –Lênin vềquyền lực nhân dân, quyền con người, về Nhà nước và pháp luật và về mối quan hệ giữa Nhà nước và Nhân dân; các quanđiểm,đườnglối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhànước về tổ chức vàthực hiện quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền hành pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện Nhànướcpháp quyền XHCN Việt Nam; một số học thuyết hiện đại đang được áp dụng phổ biếnở nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay về chủ quyền nhân dân, quyền con người,
tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước trong phạm vi nghiên cứu của Luật học so sánh. Ngoài ra, những quan điểmlý luận,kếtquảnghiên cứu thực tiễn vềkiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền hành pháp của các nhà khoa học, tác giả đi trước cũng là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng của luận án.
4.2. Cách tiếp cận
Trên cơ sở định hướng nghiên cứu đã được xác định, luận án giải quyết các luận điểm khoa học theo các cách tiếp cận sau:
– Tiếp cận cấu trúc hệ thống dựa trên tiêu chíchủthểkiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ: Việc phân tích các vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ; đánh giá thực trạng kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ; xây dựng các giải pháp bảo đảm kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay được đặt trong một phức hợp những yếu tố có liên quan, tác động qua lạivớinhau tạo ra mộtthểthống nhất.Đểbảo đảmtính hệthống của luận án, trong quá trình nghiên cứu, tác giả thống nhất phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp dựa trên tiêu chí chủ thể tham gia kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp, bao gồmkiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiểm soátcủacác cơ quan nhà nước(với các chủthểkiểm soát là Quốc hội,Chủtịch nước,TAND, KTNN) và kiểm soát của các thiếtchếxã hội(với các chủ thể kiểm soát là, MTTQ Việt Nam, các phương tiện thông tin đại chúng, Nhân dân với tư cách cá nhân công dân).
– Tiếp cận liên ngành khoa học xã hội và liên ngành luật học: Việc nghiên cứu luận án cósựkết hợptri thứccủanhiều ngành khoahọcxã hội, như khoa học chính trị, khoa học triết, khoa học luật trong đó đặcbiệt chú trọngđến khoa học
luật vớisựkếthợp liên ngành luật học mà chủyếu là khoa học luật Hành chính, khoa học lý luận Nhà nước và pháp luật, khoa học luật Hiến pháp, khoa học quyền con người. Cách tiếp cận này được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận án để luận chứng các vấn đềđa chiều thuộc chủ đề nghiên cứu.
– Tiếp cận lịch sử: Quan điểm lịch sử được nhất quán sử dụng trong toàn bộquá trình nghiên cứu đặc biệt là trong quá trình đánh giá những kếtquảđạtđược,những hạn chế, tồn tại trong kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam của các chủ thể có thẩm quyền.
– Tiếp cận luật học so sánh được sử dụng chủ yếu trong việc làm rõ các cơchế, cách thức kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở một sốnước trên thếgiới; đánh giá thực trạng kiểm soát củaĐảngCộngsảnViệt Nam,củacác cơ quan nhà nướcvà của các thiếtchếxã hộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủvà trong việc đềxuất các giải pháp bảo đảm kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam.
4.3.Phương pháp nghiên cứu
Đểgiải quyếtmụctiêu và các nhiệmvụnghiêncứucủađềtài, tácgiảsửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
– Chương 1 của luận án sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sửvà lôgic nhằm chỉra những vấn đềlý luận, thực tiễnđã được các nhà khoa học ởtrongnước và ởnước ngoài nghiên cứucó nội dung liên quan đến luận án; đồng thời xác định những vấn đề mà luận án cần phải tiếp tục nghiên cứu.
– Chương 2 của luận án sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sửvà lôgic, phương pháphệthống hoá, khái quát hoá và so sánh, phương pháp chuyên giađểnghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận của luận án (phân tích và luận giải khái niệm,đặc điểm,mục đích, nội dung, chủ thể, hình thức kiểm soát việc thực hiện quyền hành phápcủaChính phủ và cácđiềukiện bảo đảm kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ); nghiên cứu,đánh giá hoạtđộngkiểm soát việc thực hiện quyền hành phápcủaChính phủởmột số nước trên thế giới và chỉ ra kinh nghiệm cho Việt Nam.
– Chương 3 của luận án sử dụng phương pháp mô tả và phân tích quy phạm,
phân tích thông tin, tài liệu có sẵn kết hợp với phương pháp thống kê – so sánh, phân tích và tổng hợp, lịch sửvà lôgic, phương pháp chuyên giađểđánh giá, phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong thực tiễn hoạt động kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, TAND, KTNN, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên, các phương tiện thông tin đại chúng, Nhân dân với tư cách cá nhân công dân đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ.
– Chương 4 của luận án sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgic, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích- dự báo khoa học để phân tích, luận chứng, làm sáng tỏ các quan điểm và giải phápbảođảm kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ.
5. Những đóng góp mới của Luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ trongđiều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Thứ nhất, về phương diện lý luận, luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện lýluận về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam. Luận án đã phân tích và làm rõ khái niệm,đặc điểm,mục đích, nội dung, chủ thể, hình thức kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ. Luận án cũng đã phân tích, làm rõ những điều kiện bảo đảm hiệu quảhoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ; phân tích, đánh giá mộtcách khái quát việc kiểm soát quyền hành pháp ởmộtsốnước trên thếgiới (HoaKỳ,Vương quốc Anh, Cộng hoà liên bangĐức,Phần Lan, Trung Quốc, Australia)từđórút ra những bài học kinh nghiệmtừcác mô hình tham khảo có thểvận dụng ởViệt Nam. Việc luận án phân tích khá toàn diện những vấn đề lý luận liên quan đến kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủđã tạo cơ sởcho việc phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, về phương diện thực tiễn, luận án đã phân tích, đánh giá tương đốiđầy đủ, có hệ thống và khá toàn diện thực trạng kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam trong khoảng thời giantừnăm 2013đến năm 2021. Luận án tập trung đánh giá nhữngkết quả đạt được, đặc biệt lànhững hạn chế trong hoạt động kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiểm soát của các cơ quan nhà nước (Quốc hội, Chủtịchnước,TAND, KTNN) và kiểm soát của các thiết chếxã hội (MTTQ Việt Nam và cáctổchức thành viêncủaMặt trận, các phương tiện thông tin đại chúng và Nhân dân với tư cách là cá nhân công dân)đốivớiviệc thực hiện quyền hành phápcủaChính phủ;đồngthờichỉra những nguyên nhân cơbảncủanhữnghạnchếđó.Các phân tích, luận giải của luận ánvềnhữnghạnchếvà nguyên nhâncủahạnchếtrong trong hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ, một mặt cho thấy sựcầnthiết phải tăngcườngkiểm soát vấn đềnày;đồng thời là cơsởđểluận án nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, trên cơ sở lý luận và thực trạng về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ, luận án đã luận giải các quan điểm, đề xuất những giải pháp mang tính khoa học và thực tiễn nhằm bảo đảmhiệu quảhoạtđộngkiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay. Từ các giải pháp đã đềxuất, luận án góp phần thúc đẩy sựđổi mới vềtư duy, sự hoàn thiện pháp luật, sự đổi mới tổ chức hoạt động, sự tăng cường nguồn nhân lực vật lực cho hoạt động kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, của các cơ quan nhà nướcvà của các thiết chếxãhộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành pháp của
Chính phủ; từ đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam trong thời gian tới.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần xây dựngcơ sởlý luận khoa học của kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ởViệt Nam.Cụthể, luận ánđãgóp phầnbổsung, làm phong phú thêm, hoàn chỉnh thêm sự hiểu biết về khái niệm kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ; đặc điểm, mục, nội dung, chủ thể, hình thức kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ; phân tích cácđiều kiện bảo đảm hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành phápcủaChính phủ; phân tích, đánh giámộtcách khái quátvềviệc kiểm soát quyền hành phápởmộtsốnướctrênthếgiới từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm tốt từ các mô hình tham khảo có thểvận dụng ở Việt Nam để nâng cao hiệu quả kiểm soát của Nhà nước và của các thiết chếxãhộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành phápcủaChínhphủởViệt Nam hiện nay.
Về mặt thực tiễn: Luận án góp phần khắc phục những hạn chế, tồn tại trong kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, của các cơ quan nhà nước và kiểm soát của các thiết chế xã hội đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ởViệt Nam bằng việc đề xuất các giải pháp mang tính khoa học và thực tiễn, phùhợp vớiđiềukiện vàđịnhhướngxây dựng Nhànướcpháp quyền XHCN cho
từng chủ thể có thẩm quyền kiểm soát, bao gồm: giải pháp hoàn thiện pháp luật, đổi mới tổ chức hoạt động,bảo đảm nguồn nhân lực, vật lực cho hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủcủa các chủthểcó thẩm quyền nhằm bảo đảm hoạt động kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, của các cơ quan nhà nướcvà kiểm soátcủacác thiếtchếxãhộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam được thực hiện có hiệu quả.
Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo tin cậy và cần thiết phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học và giảng dạy cho các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở giáo dục và đào tạo, sinh viên,họcviên và nhữngngườiquan tâmvềkhía cạnh Luật hiến pháp,tổchức bộ máy Nhà nước vàđặc biệt làvề khía cạnh kiểm soát quyền lực nhà nước.
7. Kết cấu của luận án
Ngoàimởđầu,kếtluận, danh mụccông trình khoahọcđãcôngbốvà danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quanđến đềtài luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ.
Chương 3: Thực trạng kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong khoa học pháp lý ở nước ngoài, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ được nhiều tác giả ở nhiều quốc gia khác nhau nghiên cứu, tiếpcậntrên nhiều phương diện, nhiều góc nhìn khác nhau.Dưới đâylà một số công trình nghiên cứu khoa học liên quanđến kiểm soát quyền lực nhà nướcvà kiểm soát việc thực hiện quyền hành phápcủaChính phủ mà tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu luận án.
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước
1.1.2. Các công trình nghiên cứu vềvịtrí, vai trò, tổchức, thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ và kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ
Đốivớiviệc nghiêncứuvềquyền hành pháp và kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ, các tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài dưới góc độluật học cho thấy bức tranh đa màu sắc về cách thức hiến định vị trí, vai tròChính phủ, mối quanhệgiữa Chínhphủvớicác cơ quan nhà nướckhác trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, cách thức kiểm soát quyền hành pháp của Chính phủ.
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu vềvịtrí, vai trò,tổchức và thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ
1.1.2.2. Các công trình nghiên cứu về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ
c. Các công trình nghiên cứu về kiểm soát của xã hội đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt NamỞViệt Nam, trong những nămgầnđây, vấnđềkiểm soát quyền lực nhà
nướcđược nghiên cứu khá rộng rãi,vớinhiều góc độkhác nhau trên các diễn đàn khoa học, trên các sách, báo, tạp chí. Xét riêng dướigóc độluật học, Việt Nam hiện có khá nhiều công trình khoa học pháp lý nghiên cứu vềkiểm soát quyền lực nhà nước. Các công trình nghiên cứu này tập trung làm rõ hai vấn đềchính là: lý luận, thực tiễn vềkiểm soát quyền lực nhà nướcởViệt Nam và những kinh nghiệm quốc tế trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước. Theo đó, trongmụcnày, luận án đánh giá các công trình nghiêncứutheo hai khía cạnh sau:
1.2.1.1. Các nghiên cứu về lý luận, thực tiễn kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam –
1.2.1.2. Các nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước
1.2.2. Các công trình nghiên cứu vềvịtrí, vai trò, tổchức, thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ và kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam
1.2.2.1. Các công trình nghiêncứuvềvịtrí, vai trò, tổchức và thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ
1.2.2.2. Các công trình nghiên cứu về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam
a. Các công trình nghiêncứuvềkiểm soát quyềnlựchành pháp ởViệt Nam.
b. Các công trình nghiêncứuvềkiểm soát củacác cơ quan nhà nướcđối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam
c. Các công trình nghiên cứu về kiểm soát của xã hội đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam
1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài của luận án
Thông qua việc khảo cứu các công trình nghiên cứu về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở cả haicấp độquốc tế và trong nước nhưđã đềcập ở trên, tác giả có một số nhận xét, đánh giá các kết quả nghiên cứu nhưsau:
1.3.1. Những ưu điểm và kết quảnghiên cứu mà luận án sẽkếthừa và tiếp tục phát triển
– Các công trình nghiên cứu (đặc biệt là ở trong nước) đã đề cập và phân tích cơ sở lý luận của việc kiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm soát của các cơquan nhà nước và kiểm soát của các thiết chế xã hội đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ. Các nghiên cứu này đã đã góp phần làm sáng tỏ khái niệm, nội dung, mục đích, các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước; khái niệm cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước; vị trí, vai trò của Quốc hội và TAND trong kiểm soát quyền hành pháp của Chính phủ; các phương thức kiểm soát quyền hành pháp của Quốc hội và Toà án; sự hình thành và phát triển của cơ chế giám sát xã hội; khái niệm các bộ phận cấu thành của cơ chế giám sát xã hội; xác định vai trò và tiêu chí hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sátxã hội đốivới việc thực hiện quyền lực nhà nước; vai trò của MTTQ, Đảng phái chính trị, đoàn thể Nhân dân, truyền thông báo chí đối với việc kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ. Vì rằng kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ là trọng tâmcủakiểm soát quyền lực nhà nước; đồngthời, việc kiểm soát quyền hành pháp của Chính phủ được thực hiện dưới hai hình thức cơ bản là kiểm soát của các cơ quan nhà nước và kiểm soát của các thiết chế xã hội nên việc luận giải cơsởlý luận của kiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm soát củacác cơ quan nhà nướcvà kiểm soátcủacác thiếtchếxã hộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ là điểm xuất phát rất quan trọng, là cơ sở lý luận mang tính tiền đề để tác giả luận án tiếp tục đi sâu phân tích cơ sở lý luận về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ.
– Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài cũng đã cung cấp cho tác giả quan điểm toàn diện về quan niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm của quyền hành
pháp.Để từ đó,tác giả có thể luận giải khái niệm, đặc điểm cũng như xác định nội dung, nguyên tắc kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ.
– Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài cũng đã cung cấp cho tác giả bức tranh toàn diện về vai trò, cơ chế, cách thức, hiệu quả kiểm soát quyền hành pháp từ phía Đảng, Quốc hội, Tòa án và kiểm soát của các thiết chếxã hội đối với quyền hành pháp. Những tri thức này (chủ yếu là từ các công trình nghiên cứu ởnước ngoài) là cơsởgiúp tác giảnghiên cứu, so sánh dướigóc nhìn của luật học so sánh và khoa học luật Hiến pháp về thực trạng vị trí, vai trò, cơ chế, cách thức kiểm soát quyền hành pháp Quốc hội, Tòa án, Nhân dân, tổchức xã hội Việt Nam; rút ra những ưu điểm, những bài học kinh nghiệm trong hoạtđộng kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của các nước từđó xây dựng những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam.
– Một trong những nghiên cứu có ý nghĩa và quan trọng đối với tác giả của luận án là các công trình nghiêncứunói trênđãkhái quát kháđầyđủvềthực trạng pháp luật về kiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước, pháp luật về giám sát của Nhân dân đối với cơ quan hành chính Nhà nước. Đây là cơ sở khoa học quan trọng giúp tác giả có thể đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ của các chủ thể có liên quan.
– Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã phân tích một số điều kiện kinh tế và xã hội, một số giá trị đạo đức thì dân chủ mới có thể hình thành và tồn tại; đồng thời xác định những bảo đảm về chính trị, pháp lý, kinh tế – xã hội của cơ chế pháp lý Nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước nước. Trên cơ sởcác phân tích này, tác giả đã kế thừa và phát triển trong việc phân tích, luận giải những bảo đảm chính trị, pháp lý, kinh tế – xã hội của hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam.
– Những đánh giá thực trạng trong hoạtđộngkiểm soát quyền lực nhà nước nói chung, trong hoạt động kiểm soát của Nhà nước và kiểm soát xã hội đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ của các công trình nghiên cứu là những tưliệu khoa học quan trọng để luận án tổng hợp, so sánh và làm rõ những hạn chế bất cập của hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam.
– Ngoài ra, các công trìnhđãđềcậpđếnnhững yếu tốtác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung, hiệu quả hoạtđộng kiểm soát xã hội, kiểm soát của Nhà nước đối với thực hiện quyền lực nhà nướcnói riêng;đồng thời cũng đã đềxuấtmộtsốđịnh hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảkiểm soát của xã hội, kiểm soát của Nhànướcđốivớiviệc thực hiện quyền lực. Đây là những tư liệu khoa học quan trọng để giúp tác giả có thểđềxuất những giải pháp hiệu quả, khoahọcnâng cao hiệuquảhoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp.
1.3.2. Những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Từ tổng quan nghiên cứu trên có thể thấy nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn vềquyền hành pháp và kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ đã được nghiêncứukhá công phu, cungcấpnhiều thông tin trên nhiều khía cạnh. Nhữngkếtquảnghiêncứutrênđâyđãgợimở,cungcấpthông tin tham khảo quan trọng,hỗtrợnghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện nhiệmvụnghiên cứu đềtài của luận án. Tuy nhiên, khoảng thời gian từ khi Hiến pháp 2013 ra đời cho đến nay là chưa đủdàiđểkiểm nghiệm và làm bộc lộnhững mặttích cực, hạn chế, những yêu cầu đặtra đểvận hành mộtnguyên tắc mớiđược bổsung trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Thực tế cho thấy, thời gian qua kiểm soát việc thực hiện quyền hành phápcủaChính phủvẫn tồn tạinhiều khókhăn, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặtra. Chínhsựvậnđộngcủathực tiễn đã đặt ranhiều vấn đềlý luận, thực tiễn về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ cần được tiếp tục nghiên cứu làm rõ. Trên cơ sở tiếp cận, kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình trên cơ sở phù hợp với quan điểm khoa học của tác giả, luận án “Kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay” tiếp tục nghiên cứu làm rõ những nội dung sau đây:
Vềmặtlý luận: cácvấnđềcầntiếptụcnghiên cứu, làm rõ bao gồm: xây dựng khái niệm kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ; xácđịnh đặc điểm,mục đích của kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ; dựa trên tiêu chíchủthểkiểm soát, phân tích chủthểvà các hình thức mà từng chủ thể sử dụng để kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ, theo đó luận án nghiên cứu kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiểm soát các cơ quan nhà nướcvà kiểm soát của các thiếtchếxã hộiđốivới việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ; phân tích những bảo đảm chính trị, pháp lý, kinh tế – xã hội cho hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hộinhập quốc tế; đềcậpđến những kinh nghiệm có giá trịtham khảo đốivới Việt Nam thông qua việc giới thiệu có chọn lọc về hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp ở một số nước trên thế giới
Về mặt thực tiễn: các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ bao gồm: đánh giá thực trạng kiểm soát của Đảng cầm quyền, của các cơ quan nhà nước và của các thiết chế xã hội đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ trong thời gian từ năm 2013 cho đến nay thông qua việc phân tích và làm rõ những kết quảđạtđượcđặc biệt là nhữnghạnchế,tồntạitrong hoạtđộng kiểm soátcủaĐảngCộngsảnViệt Nam, kiểm soát của Quốc hội, Chủtịchnước,TAND, KTNN và kiểm soát của MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các phương tiện thông tin đại chúng và Nhân dân với tư cách cá nhân công dân đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ; phân tích và làm rõ những nguyên nhân của những hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kiểm soát củaĐảng, của các cơ quan nhà nước và kiểm soát của các thiết chế xã hội đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay.
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, luận án sẽ xác định hệ thống cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nhằm đề xuất các quan điểmvà hệthống các giải pháp bảo đảmkiểm soátcủaĐảngCộngsảnViệt Nam, củacác cơ quan nhà nướcvà của các thiếtchếxã hộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủởViệt Nam; từđó đảmbảoquyền hành phápđược sử dụngđúng mục đích và được thực hiện hiệu quả, ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền, lộng quyền, chuyên quyền của bộ phận quyền này; góp phần phát huy quyền làmchủcủaNhân dân, góp phầnbảovệcác quyền vàlợiích chínhđáng của Nhân dân, bảo vệ các quyền con người và quyền công dân.
1.4. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Giảthuyết nghiêncứucủaluận án:“Hoạtđộng kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam thời gian qua được Đảng Cộng sản, các cơ quan nhà nước, các thiết chế xã hội chú trọng thực hiện vàđã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận song vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trên nhiều phương diện nên hiệu quảkiểm soát chưa cao. Vì vậy, yêu cầucấp bách hiện nay là cần phải có sự nâng cao nhận thức, hoàn thiện pháp luật, đổi mới tổ chức hoạt động, bảo đảm nguồn nhân lực vật lực của các chủ thể có thẩm quyền kiểm soát nhằm bảo đảmhiệu quảhoạtđộngkiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam; thông qua đó, góp phần bảo đảm quyền hành pháp được sửdụng đúng mục đích và thực hiện hiệu quả, ngăn ngừa nguy cơ
lạm quyền của Chính phủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm lợi ích của Nhà nước và của xã hội”.
Đểchứng minh chogiảthuyết khoa học trên, Luận án trực tiếp giải quyết các vấn đề khoa học (dưới dạng các câu hỏi nghiên cứu), gồm:
– Kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ được hiểu nhưthế nào, có những đặc điểm quan trọng gì? (Khái niệm, đặc điểm của kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ?)
– Kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ có phải là yếu tố quan trọng, góp phần bảo đảm quyền hành pháp được sử dụng đúng mục đích và thực hiện hiệu quả, ngăn ngừa nguy cơlạmquyền của Chính phủ, phát huy quyền làmchủcủa nhân dân, bảo đảmquyền con người, quyền công dân, bảo đảmlợiích của Nhà nước và của xã hộikhông? (Mụcđích của kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ?)
– Chínhphủthực hiện quyền hành pháp thông qua những hoạtđộngchủyếu nào? Phạm vi, khía cạnh, những phương diện hoạt động nào của Chính phủphải được kiểm soát? (Nội dung kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ?)
– Việt Nam có nhữngchủthểnào được trao quyền kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ và các chủ thể đó sử dụng những hình thức nào đểkiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ? (Chủ thể, hình thức kiểm soát?)
– Nhữngđiềukiện nào bảo đảmhiệu quảhoạtđộng kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ?(Điềukiệnbảođảmhiệuquảhoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ?)
– Hiệu quả kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ nhưthế nào? Những kết quả đạt được và đặc biệt là những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chếcủa kiểm soátcủaĐảng,của các cơ quan nhà nướcvàcủacác thiết chếxã hộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ? (Thực trạng kiểm soát?)
– Làmthếnào đểbảo đảmhiệu quảhoạtđộng kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của ChínhphủởViệt Nam? (Các quan điểm, giải pháp bảo đảmhiệu quảhoạtđộng kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ).
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong xãhộipháp quyền dân chủ, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp làđiều kiện cơ bản đểbảo đảmthực hiệntựdo, dân chủchính trị. Trong chương 1, luận án nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ởnước ngoài có liên quan đến đề tài kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ. Tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về kiểm soát của các cơ quan nhà nướcvà kiểm soátcủacác thiếtchếxã hộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước công bố trong các công trình khoa học như: đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, sách chuyên khảo, luận án, luận văn, các bài báo đăng trên các tạp chí thuộc
nhiều khoa học khác nhau như: Luật học, chính trị học,xã hội học…
Nhìn chung, các công trình đã nghiên cứu đều đi sâu luận giải tính tính tất yếu, khách quan của việc kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung và kiểm soát quyền hành pháp nói riêng; phân tích lý luận, đánh giá thực trạng, nêu lên yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát của Đảng cầm quyền, cơ chế kiểm soát của các cơ quan nhà nước, cơ chế kiểm soát của các thiết chế xã hội đối việc thực hiện quyền hành pháp nói riêng, trong đó có nhiều công trình đề cập đến vai tròcủaĐảng Cộng sản, Quốc hội, Tòa án, MTTQ, các phương tiện thông tin đại chúng, công dân đối với kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống, toàn diện,đầy đủcả về lý luận và thực tiễn kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, của các cơquan nhà nướcvà củacác thiếtchếxã hộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị, tri thức trong các công trình đã được công bố, luận ánđã đặtra những vấn đềcần phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn đểtừđó đềxuất các giải pháp khoa học, có giá trị nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam, của các cơ quan nhà nước và của các thiết chếxã hội đối vớiviệc thực hiện quyền hành pháp của Chínhphủtrongđiều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay.
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT VIỆC
THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ
2.1. Khái niệm, đặc điểm của kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ
2.1.1. Khái niệm kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ
Kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ là một khái niệm pháp lý tương đối phức tạp,bởi vậy đểxây dựng khái niệm này cần giải thích rõ nội hàm các thuật ngữ “quyền hành pháp”, “cơ quan thực hiện quyền hành pháp” và “kiểm soát quyền lực nhà nước”.
Quyền hành pháp, theo Montesquieu, là một trong ba bộ phận quyền lực nhà nước nên đểhiểu rõ nội hàm quyền hành pháp thì cần phải xem xét trong mối tương quan vớiquyền lập pháp và quyền tư pháp. Thông qua trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Montesquieu đã có sự giải thích rằng nếu quyền lập pháp là quyền đặt ra các quy tắc pháp lý cơ bản, quyền tư pháp là quyền xét xửnhững hành vi vi phạm pháp luật, những tranh chấp và xung độttrong xã hộithì quyền hành pháp chính là quyền “quyết định việc hòa bình hay chiến tranh, phái hoặc tiếp nhận cácđạisứ,thiết lập sựan ninh chung và dựphòng đềchống lạisựxâmlược”[77, tr.151], ngoài ra ông còn bổ sung:“Quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia, quyền hành pháp thì thực hiện ýchí chung ấy”[77, tr.100-103]. Nghĩa là quyền hành pháp chính là quyền thực hiện các hoạt động đối nội và đối ngoại trong khuôn khổ các đạo luật quốc gia (thực hiện luật) hay chính là quyền thi hành pháp luật. Nói một cách khái quát nhất, quyền hành pháp là đưa luật vào cuộc sống, đụng chạm đến mọi mặt đời sống xã hội được thể hiện chủ yếu bằng cách áp dụng pháp
luật, đồng thời tổ chức thực tiễn, thanh tra, kiểm tra…nhằm làm cho luật cũng được thực hiện trên cơ sở luật.
Ởnướcngoài, xétdướigócđộngôn ngữ,“quyềnhànhpháp”(executive power)được định nghĩa theo Black’s law dictionarycủaBryan A. Garner là:
“Executive power –The power to see the law a duly executed and enforced” nghĩa là “Quyền hành pháp là quyền làm cho pháp luậtđượcthực hiện hoặc cưỡng chế thực hiện một cách đúng đắn” [122, p.591]. Ngoài ra, trong bách khoa thưvềquyềnlực(Encyclopedia of Power) do Keith Dowding chủbiên, các tác giả có định nghĩa rằng:“the executive power is the authority to enforce laws and to ensure that they are implemented as intended” [120, p.228], nghĩa là “quyền hành pháp là thẩm quyền thực thi các đạo luật và bảo đảmrằng các đạo luật này được thi hành như ý định đặt ra các đạo luật ấy”. Xét dưới góc độ pháp lý, Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới khi qui định về quyền hành pháp thường xác định “nhiệm vụ chính của hành pháp là hoạch định và điều hành chính sách quốc gia” [58, tr.10]; đồng thời trao cho Chính phủ thẩm quyền thực hiện một sốhoạtđộng như lãnh đạo quốc gia,ấn định mục tiêu cụthể, phác thảo chương
trình hànhđộngnhằm thực hiệnmụctiêu chính trị. Xem xét cácĐiều20 Hiến pháp nước Cộng hòa Pháp, Điều95, Hiến pháp Italia, Điều146 Hiến pháp HàLan, Điều 64 Hiến pháp của Cộng hòa liên bang Đức, các quy định trong mục 2Điều2 Hiến pháp HoaKỳđềucho thấy, theo quan niệm của các Nhànướctưsản, hai bộ phận cơ bản cấu thành quyền hành pháp là “quyền hoạch định chính sách và quyền điều hành chính sách”.
Về tổ chức quyền hành pháp trong các Nhà nước phân quyền, tùy thuộc vào hình thức chính thểmà quyền hành pháp được trao cho Tổng thống (chính thểcộng hòa tổng thống) hoặc là TTCP (chính thể đại nghị) hoặc giao cho cả Tổng thống và TTCP (chính thể cộng hòa lưỡng tính). Chức năng hành pháp được trao cho Chínhphủđảmtrách không chỉđơn thuần là chức năng tổchức thực hiện pháp luật mà đó là tổchức thực hiện quyền lực nhà nướctrên cơsởpháp luật [93, tr. 96-97]. Theo đó, các yếu tố cơ bản của chức năng hành pháp ở Nhà nước tưsảnlà: “(i) Xác lập đườnglối, chính sáchcủaChínhphủvềđốinộivà đối ngoại phù hợp với quy định của Hiến pháp và các luật;(ii) Tổ chức thực thi các quy định của Hiến pháp và các luật bằng việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và luật;(iii) Xây dựng và duy trì hoạt động thường xuyên một bộ máy công quyền từ trung ương xuống địa phương nhằm điều hòa các mối quan hệ xã hội trên các lĩnh vực khác nhau của đờisống xã hộinhằmđảmbảo mộttrậttựan toàn chung cho mọicông dân trong xã hội;(iv) Tổ chức và quản lý các dịch vụ công, quản trị các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, quản lý hành chính việc tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước; (v) Tổchức kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật tronghệthống các cơ quan hành chính Nhànướcvà tổchức kiểm toán tấtcảcác cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước” [93, tr.97].
ỞViệt Nam, các nhà nghiên cứuluật họcởViệt Namđã có những quan điểm, cách tiếp cận khác nhau khi giải thích về quyền hành pháp.
Theo GS. Đào Trọng Tuyến thì“quyền hành pháp là quyền thực thi pháp luật và tổ chức đời sống theo pháp luật, bao gồm quyền lập quy và quyền hành chính” [98]. Trong đó, quyền lập quy (regulatory power) là quyền ban hành các văn bản pháp quy (văn bản dưới luật) như Nghị định, Quyết định, Thông tư, Chỉ
thị… nhằm hướng dẫn các văn bản luật và các hoạt động của Nhà nước theo luật, cũng nhưđiều chỉnh những mốiquan hệkinh tế- xã hộithuộc phạm viđiều chỉnh của quyền hành pháp. Quyền hành chính (administration power) là quyền tổ chức và điều hành mọi hoạt động kinh tế – xã hội. GS.TS. Nguyễn Đăng Dung nhận định rằng, theo quan niệm truyền thống quyền hành pháp có mộtýnghĩa rất thụđộng, đólà quyền thực thi các đạo luật của cơ quan đạidiện của dân chúng, một cách khái quát là “quyền sử dụng các lực lượng vật chất của quốc gia đểgìn giữan ninh đốinộivà đốingoại”[151], tức là “quyềncai trịtheoluật” [151]. Tuy nhiên, do quyền lực của Chính phủ ngày càng được mở rộng nên khái niệm quyền hành pháp cần phải hiểu rộng hơn. Theo đó, có thể định nghĩa quyền hành pháp là “quyền hoạch định và điều hành chính sách quốc gia” [151]. GS.
Phạm Hồng Thái khi bàn về sự liên tục của quyền hành pháp và quyền lực hành chính thì cho rằng quyền hành pháp chính là “quyền điều hành đất nước”[167].Đây là bộ phận quyền lực trung tâm của quyền lực nhà nước, có tính quyết định việc phát triển hay ngưng trệ của đất nước nói chung và hệ thống quyền lực nhà nước nói riêng, vì vậy việc phải bảo đảm tính liên tục của quyền lực hành pháp. GS.TS. Trần NgọcĐườngkhi bàn vềnộidung phối hợp trong việc thực hiện quyền hành pháp đã đưa ra nhận định rằng quyền hành pháp là “quyền khởi xướng, hoạch định, soạn thảo và điều hành chính sách quốc gia”[49, tr.230]. Trong Nhànướcpháp quyền XHCN, đểxây dựng ChínhphủViệt Nam theo nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước cần phải xác định vịtrí, vai trò của Chínhphủlà một thiết chếkhởi xướngchính sáchchứkhông chỉlà thi hành chính sách, làchủthểchủđộng, sángtạotrong việc xây dựng và thực thi chính sách quốc gia,tứclà Chínhphủphải là cơ quan hành pháp chứkhông chỉlà cơ quan hành chính [49, tr. 260]. Như vậy, theo quan niệm của GS. TS Trần Ngọc Đường thì quyền hành pháp là quyền “xây dựng và thực thi chính sách quốc gia” và quyền này được giao cho Chính phủ đảm trách. TS. Trần Anh Tuấn khi tìm hiểu về nội hàm của quyền hành đã quan niệm rằng:
“hành pháp hiểu theo nghĩa rộng không chỉbó hẹp ởchấp hành pháp luật, mà còn cảởđịnh hướng chính sách và tổchức thực hiện chính sách”[166]. Đặc trưng cơbảncủaquyền hành pháp là“hành động đểđưa pháp luật vào cuộc sống”[166, tr.1], hànhđộngđóbao gồm: “đềxuất chính sách, pháp luậtđểQuốchộiphê chuẩn, thông qua,đểrồitheo nhiệmvụ,quyền hạn của mình, Chính phủ lại thực thi chính sách, pháp luật, truy tố tội phạm và đưa các hành vi vi phạm pháp luật (công tố) đểtòa án xétxử”[166]. PGS.TS Vũ Thưlạicho rằng cùng với sự phát triển kinh tế, khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa thì quan niệm truyền thống về quyền hành pháp là “quyền thi hành pháp luật” thìchưa đủvà không còn phù hợp. Trong Nhà nước hiện đại, quyền hành pháp được hiểu là “quyền thi hành pháp luật, bao gồm các hoạt động làm chính sách và các hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật khác, nói một cách khái quát là thực thi chính sách và pháp luật”[96, tr. 86-87]. PGS.TS Tô Văn Hòa thì quan niệm rằng: “quyền hành pháp là quyền của Nhà nước, trong đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chủ động thi hành các chủ trương, chính sách đã được thông qua hoặc pháp luật đã được ban hành” [62, tr.35]. Xét về bản chất, quyền hành pháp là quyền hành động, là bộ phận của bộ máy Nhà nước phải thích ứng nhanh nhất với tình hình,nhận biết sự vận động đểđềxuất chính sách hoặc đưa ra các chính sách phù hợp nhằm giải quyết khôngchỉtrong hiện tại màcảtương lai [62, tr.35].
Qua việc phân tích một quan niệm về quyền hành pháp của các nhà nghiên cứu luật học Việt Nam, có thể thấy, dù có sự khác nhau về cách tiếp cận, ngôn ngữthểhiện nhưng nhìn chung đã có tương đồng giữa các nhà nghiên cứu khi cho rằng, cùng với sự phát triển kinh tế, khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa thì quan niệm truyền thống về quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật
một cách thụ động đã không còn phù hợp. Trong Nhà nước hiện đại, quyền hành pháp được hiểu là quyền thi hành pháp luậtmộtcách chủđộng,bao gồmcác hoạt động hoạch định, thực thi chính sách và hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật. Nói một cách khái quát, quyền hành pháp là quyền hoạch định và điều hành chính sách quốc gia.
Thống nhấtvớiquan niệmvềquyền hành pháp hiện đại,Hiến pháp Việt Nam năm 2013 không những đã xác lập rõ vị trí của Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp (Điều 94 Hiến pháp Việt Nam năm 2013) mà trong thẩm quyền của Chính phủkhông chỉquiđịnh có việc “tổchức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội” như trước đây mà còn bổ sung nội dung “đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội,Ủy ban thường vụQuốchộiquyếtđịnh hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tạiĐiều này” cùng với thẩm quyền “trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước vàcác dựán khác trước Quốc hội” (Điều 96 Hiến pháp năm 2013). Phù hợp với những bổsung kểtrên,Điều 98 Hiến pháp năm 2013 qui địnhthẩm quyền của Thủtướng Chính phủcũng đượcbổsung nộidung “lãnh đạo việc xây dựng chính sách”.
Trên cơsởkếthừa các quan niệmcủacác nhà khoa học vềquyền hành pháp, trong luận án này“quyềnhànhpháp”đượchiểu như sau: “Quyền hành pháp làbộphận quyền lực nhà nước, trong đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành pháp luật một cách chủ động. Quyền này được thể hiện thông qua quyền hoạch định chính sách và quyền điều hành chính sách quốc gia, qua đó hiện thực hóa quyền lực nhà nước theo pháp luật trong đời sống xã hội”.
Khái niệm trên đã xác định hai bộ phận cơ bản cấu thành quyền hành pháp là quyền hoạchđịnhchính sách và quyền điều hành chính sách quốc gia; trong đó,quyền hoạch định chính sách được hiểu là quyền vạch ra những mục tiêu tổng quát cho quốc gia cùng các phương tiện phải sử dụng để đạt được mục tiêuđó.Hoạch định chính sách quốc gia được xác định là một trong những chức năng quan trọng của Chính phủ và được thể hiện rõ nét nhất ở quyền trình dự án luật của Chính phủ. Quyền điều hành chính sách tức là quyền vận dụng những phương tiện cần thiếtđểthực hiện những mục tiêu đã vạch ra, quyền nàyđược thểhiệnởba loại quyền cơ bản là:tổchức nhân sự,điều khiển chính sách và giám sát chính sách. Trong đó, tổ chức nhân sự gắn liền với việc Chính phủ thiết lập nên các công sở, đào tạo, tuyển dụng và sử dụng một đội ngũ công chức đểchấp hành chính sách; điều khiển chính sách tức là Chính phủ tiến hành các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, các hoạt động điều hành trực tiếp và lập quy; giám sát chính sách là trong quá trình theo dõi, kiểm tra quá trình thực thi chính sách nếu Chínhphủphát hiện có vi phạm pháp luật thì Chínhphủcó quyền xử lý hoặc đềnghị cơ quan có thẩm quyền xử lý [151, tr.3-6].
Cơ quan thực hiện quyền hành pháp –Chính phủ: Theo quan niệmphổbiến hiện nay thì cơ quan thực hiện quyền hành pháp được hiểu là “Cơ quan nhànướcthực hiện quyền hành pháp, một trong ba quyềncủaquyền lực nhà nước
thống nhất”. Tuy nhiên, cơ quan nhà nước nào được giao thực hiện quyền hành pháp là vấn đềcần được làmrõ.
Montesquieu khi xây dựng thuyết phân quyền đã đặt ra yêu cầu ba bộ phận quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp phải có nội dung khác nhau và phải được chia tách với nhau, phải được trao cho các chủ thể khác nhau thực hiện mới có thể kiểm soát được quyền lực. Tuân thủ nguyên tắc đó, trong tổ chức Nhà nước phân quyền hiện đại, nếu quyền lập pháp được trao cho cơ quanđại diện cao nhất của Nhân dân là Nghị viện; quyền tư pháp thường được trao cho Tòa án; thì quyền hành pháp được trao cho Chính phủ và tùy thuộc vào hình thức chính thểmà quyền này do Tổng thống (chính thể cộng hòa tổng thống) hoặc là Thủ tướng Chính phủ (chính thể đại nghị) hoặc giao cho cả Tổng thống và Thủ tưởng Chính phủ (chính thể cộng hòa lưỡng tính) đảm trách. Nhìn chung, tuy ở mỗi quốc gia, cách tổ chức và thực hiện quyền hành pháp có khác nhau để phù hợp với đặc thù của nước mình, nhưng “quyền hành pháp luôn đượctổchức và thực hiện bởi Chính phủ-chủthểcao nhất thực thi quyền lực nhà nước vềhành pháp”[52, tr.112].
ỞViệt Nam, việc xácđịnh“Chínhphủlà cơ quan thực hiện quyền hành pháp” đã được hiến định trong Hiến pháp hiện hành. Tuy nhiên, việc xác định cơquan hành chính Nhànướcởđịa phương có phải là cơ quan thực hiện quyền hành pháp ở địa phương không vẫn là vấn đề còn tranh luận. Dù quan niệm rằng: “quyền hành pháp” và “quyền hành chính” là không đồng nhất,bởi lẽtrong khi quyền hành pháp là hoạch định,đềxuất chính sách và định hướng vĩ mô do Chínhphủđảmtrách thì hành chính là hoạt độngquản lý, điềuhành, tổchức triển khai thực hiện chính sách đó do toàn bộ hệ thống cơ quan hành chính các cấp thực hiện; tức là chủthểcủa quyền hành pháp là Chính phủ; chủthểcủa
quyền hành chính là toàn bộhệthống các cơ quan hành chính các cấp –được thừa nhận rộng rãi. Nhưng việc khẳng định ở Việt Nam chính quyền địa phương các cấp đều là các cơ quan nhà nước, quyền hành pháp Việt Namđược phân công tới các cơ quan nhà nước ở địa phương nên quyền hành pháp ở Việt Namđược thực hiện bởi toàn bộ hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước ở trung ương (Chính phủ) và cơ quan hành chínhởđịa phương(Ủyban nhân dân các cấp) và cả các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương[167] là có cơ sở. Cơ sởcủa quan niệm này xuất pháttừ(i) lý luận vềmốiquan hệgiữa quyền lực nhà nướcvà pháp luật và (ii) nguyên tắc tổchức và thực hiện quyền lực nhà nước. Theo đó, thứ nhất (i), xét mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước và pháp luật thìvề mặt nguyên tắc quyền lực nhà nước tác động đến nơi nào thì pháp luật cũng hiện diện nơi đó. Do vậy, quyền lực nhà nước không chỉ được thực hiện và tác động ở trung ương mà ở địa phương cũng phải sử dụng đến quyền lực nhà nước với sự hiện diện của hoạt động pháp luật. Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 2013 khi đã đổi tên chương IX là Chính quyền địa phương (so với cótên gọi trước đây ở Hiến pháp 1992 là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân) và khẳng định rõ “Chính quyềnđịaphươngtổchức vàbảođảm việc thi hành
Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên” (Khoản 1,Điều112, Hiến pháp năm 2013); đồngthời xác định “Hộiđồngnhân dân là cơquan quyền lực nhà nướcởđịa phương”(Khoản 1, Điều113, Hiến pháp năm 2013), “Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương” (Khoản 1, Điều 114, Hiến pháp năm 2013) tức làở địa phương (mà cụ thể là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp) cũng có quyền lực.Điềunàyđượchiểu chính quyềnđịaphương thuộcbộphận quyền hành pháp. Thứ hai (ii) là, ở Việt Nam, quyền lực nhà nước được tổ chức và hoạtđộng theo nguyên tắc: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và nguyên tắc tập trung dân chủ. Quyền lực nhà nước thống nhất khôngchỉthểhiện ởviệc quyền lực thuộc vềNhân dân mà còn thểhiện ở sự thống nhất các bộ phận quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong thểthống nhất quyền lực nhà nước và đặc biệt là còn thể hiện ở sự thống nhất quyền lựcnhànướcởtrung ương và địa phương. Xuất pháttừnhững nguyêntắcnày nên ở Việt Nam, Chính phủ là cơ quan nhà nước cao nhất thực hiện quyền hành pháp và ủy quyền cho chính quyền địa phương các cấp thực hiện quyền hành pháp ở địa phương. Thế nên, hoạt động thi hành pháp luật tại địa phương với sựtham giacủacơ quan hành chính Nhà nước tại địaphương cũng phảiđược xác định là hành pháp và thực hiện quyền hành pháp [96, tr.87-88].
Trên cơ sở phân tích các quan điểm trên, tác giả đồng ý với quan điểm xácđịnh cơ quan thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam là hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong đó Chính phủ là chủ thể cao nhất thực hiện quyền hành pháp ở trung ương và Thủ tướng Chính phủ (TTCP) là người đứng đầu hệ thống các cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Tuy nhiên, giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ tập trung nghiên cứu về kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ.
Ở Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, theo qui định của Hiến pháp hiện hành thì Chínhphủdo Quốc hộilập ra,“là cơ quan hành chính Nhànướccao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơquan chấp hành của Quốc hội” (Điều 94 Hiến pháp 2013). Điểm mới bổ sung so vớicác bản Hiến pháp trước đó là Hiến pháp 2013 đã định danh rõ vịtrí của Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp trong tổ chức bộ máy thực hiện quyền lực nhà nước. Với tư cách là chủ thể cao nhất thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp của mình bằng các hoạt động chủ yếu sau:
Thứ nhất, Chính phủ đề xuất chính sách và dự thảo luật để Quốc hội thông qua.
Thứhai, Chínhphủbảo đảmchính sách và pháp luậtđược thi hành trong thực tế. Để thực hiện được điều này, Chính phủ tập trung vào các hoạt động: 1) Ban hành các kế hoạch, chính sách cụ thể và các văn bản dưới luật (lập quy) đểcụ thể hoá hoặc hướng dẫn thực thi các chủ trương, chính sách và luật đã được Quốc hội thông qua; 2) Giải thích các kế hoạch, chủ trương, chính sách và hướng
dẫn thực thi các kế hoạch,chủtrương, chính sách; 3) Giám sát và đánh giá các hoạtđộng cụthểthực thichủtrương, chính sách và luật do các cơ quan hành chính Nhà nước, mà trước tiên là các cơ quan hành chính Nhà nước ở trung ương tiến hành; trong quá trình giám sát, Chính phủ phát hiện, điều tra, xử lý vi phạm theo thẩm quyền hoặc yêu cầu tòa án xét xử theo thủ tục, trình tự tư pháp.
Thứ ba, Chính phủ thiết lập trật tự công (trật tự hành chính) trên cơ sở các qui định của luật trong các lĩnh vực cần sựcan thiệp của Nhà nước vìlợiích công và duy trì trậttựcông đó.Đây chính là hoạtđộng lập qui của Chínhphủđược tiến hành với mục đích là ban hành khung pháp lý để thiết lập trật tự quản lý hành chính trong những lĩnh vực Nhà nước cần quan tâm vì lợi ích công cộng [62, tr.36-37].
Việc Chính phủ thực hiện tốt ba mặt hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định hiệu quả thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam.
Kiểm soát quyền lực nhà nước: Lý thuyết về kiểm soát quyền lực nhà nướcđã được khởi xướng bởicác học giảphương Tây như Aristote, John Locke, Montesquieu, Rousseau, John Stuart Mill từ nhiều thế kỷ trước. Montesquieu khi bàn về mối quan hệ giữa ba loại quyền lực, ông cho rằng nó phải diễn ra theo cơchế “quyền lực ngăn cản quyền lực”. Theo đó, cách thức tổ chức Nhà nước của một quốc gia tự do là, “Cơ quan lập pháp trong chính thể ấy gồm có hai phần, phần này ràng buộc phần kia do năng quyền ngăn cản tương hỗ. Cả hai quyền sẽbịquyền hành pháp ràng buộc và quyền hành pháp sẽbịquyền lập pháp ràng buộc”[78, tr.97].Cụthểlà, quyền hành pháp phải có quyền ngăncảncácdựđịnh của quyền lập pháp, bởi vì “Nếu quyền lực hành pháp không có quyền ngăn cản sự xâm lấn của cơ quan lập pháp thì sau đó, cơ quan này sẽ trở nên chuyên quyền; vì nó có thể nhận xằng cho nó những quyền lực mà nó muốn, nó sẽ tiêu diệt các quyền lực khác”; và “nếu cơ quan lập pháp không có quyền ngăn cản cơ quan hành pháp thì nó phải có chức năng xem xét các đạo luật đã được ban hành được thực hiện như thế nào” [78, tr.157]. Từ sự phân tích đó, có thể nhận thấy, Montesquieu quan niệm “kiểm soát quyền lực nhà nước” được thể hiện qua “chức năng ngăn cản” hay “chức năng xem xét”, đồng thời ông giải thích “chức
năng ngăn cản là quyền làm cho quyết định của người khác trở thành vô hiệu… và aiđã có quyền ngăn cản thì cũng có quyền chuẩn y, mà đã chuẩn y tức là không dùng tới quyền ngăn cản nữa” [77, tr.106]. Ở các nước tư sản hiện đại, lýthuyết và thực tiễnvềkiểm soát quyền lực nhà nướcđã được kếthừa và phát triển phù hợp với đặc điểm chính trị – kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, trở thành vấn đềtrung tâm trong tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước. Tuy mỗi Nhà nước tư sản, cósựkhác nhauvềcơchếkiểm soát quyền lực nhà nước, nhưng thống nhất ở quan điểm kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện dựa trên cơ sởnhững nguyên lý cơ bản của nguyên tắc phân chia quyền lực (mà trọng tâm là áp dụng cơ chế kiềm chế – đối trọng giữa các bộ phận quyền lực để kiểm soát quyền lực nhà nước), nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền, thiết lập nền kinh tếthịtrường và xã hội dân sự, bảođảmcác giátrịdân chủ, bảođảmcác quyền công dân và quyền con người.
ỞViệt Nam, cùng với việc Đảngvà Nhànướcchủtrương xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN (khẳng định chính thức tại Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ
sung năm 2001) và đặc biệt là việc xác lập nguyên tắc “Quyền lực nhà nướclàthống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước trong việc thực hiện các quyềnlậppháp, hành pháp và tưpháp”trongtổchức quyền lực nhà nước trong Hiến pháp 2013 thì việc nghiên cứu, luận giải các quan niệm vềkiểm soát quyền lực nhà nước được các học giả quan tâm. Trên cơ sở kế thừa các khái niệm về kiểm soát quyền lực nhà nước đã được các nhà nghiên cứu sử dụng trong các công trình khoahọcpháp lý Việt Nam, trong luận án này, kiểm soát quyền lực nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹp:“là toàn bộ những hoạt động xem xét, theo dõi, đánh giá, những biện pháp mà thông qua đó có thể ngăn ngừa, loại bỏnhững nguy cơ, những việc làm sai trái của Nhà nước,cơ quan, nhân viên Nhànướctrong việctổchức và thực hiện quyềnlựcnhànước,bảođảm cho quyền lực nhà nước được tổ chức và thực hiện đúng mục đích mong muốn và đạtđược hiệu quả cao” [47].
Khái niệm trên về kiểm soát quyền lực nhà nước được xác định là hiểu theo nghĩa hẹp bởilẽvớikhái niệm này kiểm soát quyền lực nhà nướcchỉgiới hạn hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước hợp pháp, chính thống bằng thể chế của xã hội với mục tiêu nhất định, nghĩa là quyền lực nhà nước chỉ có thể được kiểm soát khi có cơchếxác định và các điều kiện cần thiết cho sựvận hành của nó trên thựctế[116, tr.37]. Trong khi đó, xét theo nghĩa rộng thì kiểm soát quyền lực nhà nước được hiểu “là một hệ thống những cơ chế được thực hiện bởi Nhànướcvà xã hội nhằm giữ cho việc thực thi quyền lực nhà nước đúng mục đích, hiệu quả”[116, tr.36], nội hàm của khái niệm này là tất cả các hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước, (từ các hoạt động kiểm soát chính thống, hợp pháp chođến các hoạt động ngầm, không chính thống trong xã hội) bao gồm kiểm soát của Nhà nước, kiểm soát của các nhóm, tổchức, xã hộivà kiểm soát của cá nhân bằng các phương thức, nội dung, mục đích khác nhau tác động lên các bộ phận quyền lực nhà nước hướng việc thực thi quyền lực nhà nước đi đúng mục đích và đạt hiệu quả cao.
Lý thuyết và thực tế về tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước cho thấy rằng do các đặc tính của quyền lực nhà nước như tính uỷquyền, tính chính đáng, tính độc quyền cưỡng chế, tính chủquan và khách quan, tính trừu tượng và cụthể, tính trực tiếp và
gián tiếp, tính cấp độ và hệ thống…đã làm cho việc kiểm soát quyền lực nhà nước làmột quá trình khó khăn và phức tạp. Chính sự phức tạp của kiểm soát quyền lực nhà nước, sự khác nhau về chủ thể, hình thức, phương tiện, nội dung, qui trình, thời điểm kiểm soát, cùng vớitính cấp độvà hệthống của quyền lực nhà nướcnên kiểm soát quyền lực nhà nước thườngđượcchia thành (i) kiểm soát củaNhà nước và (ii) kiểm soát của xã hội. Kiểm soát của Nhà nước là kiểm soát từ bên trong Nhà nước, do các cơquan nhà nướcthực hiện. Trong khi đó, kiểm soát củaxã hội đượcxácđịnhlà kiểm soát từ bên ngoài Nhà nước, do Nhân dân và xã hội thực hiện. Trong phạm vi luận án này, chỉ nghiên cứu về kiểm soát của Nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp của ChínhphủởViệt Nam do Quốc hội,Chủtịchnước,TAND, KTNN thực hiện; kiểm soát của xã hội đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ doĐảng
CộngsảnViệt Nam, MTTQ Việt Nam và cáctổchức thành viên, các phương tiện thông tin đại chúng và cá nhân công dân thực hiện.
Khái quát lại, trên cơsởkếthừa những kếtquảnghiên cứu củacác nhàkhoa học, với mục đích và phạm vi nghiên cứu đã nêu, trong luận án này tác giảxây dựng khái niệm “kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ” trên cơ sở xác định chủ thể kiểm soát là các cơ quan nhà nước và các thiết chế xã hội;đối tượngkiểm soát là hoạt động hoạch định và điều hành chính sách quốc gia, phương thức kiểm soát bao gồmhoạtđộng xem xét, theo dõi, đánh giá, những biện pháp khác mà các chủ thể tiến hành; và mục tiêu kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chínhphủlà phát hiện, ngăn ngừa, loạibỏnhững nguy cơ, những việc làm sai trái của Chínhphủtrong việc hoạchđịnhvàđiều hành chính sách quốc gia, từ đó điều chỉnh việc thực hiện quyền hành pháp, bảođảmtrong quá trình thực hiện quyền hành pháp Chínhphủhoạt độngđúng qui định của Hiến pháp và pháp luật.Vớisựxácđịnhnhư vậy, trong luận án này khái niệm “kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ” được hiểu như sau:“Kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chínhphủlà toànbộnhững hoạt động xem xét, theo dõi, đánh giá, những biện pháp do các cơ quan nhà nước và các thiết chế xã hội thực hiện theo qui định của pháp luật mà thông qua đócác cơ quan nhà nướcvà các thiếtchếxã hộicó thểphát hiện, ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm sai trái của Chính phủ trong việc hoạch định và điều hành chính sách quốc gia;từđóđiềuchỉnh việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ, bảo đảm trong quá trình thực hiện quyền hành pháp Chính phủ hoạt động đúng qui định của Hiến pháp và pháp luật”.
2.1.2. Đặc điểm của kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủNộihàm củakhái niệm kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của
Chính phủ cho thấy hoạt động kiểm soát này có những đặc điểm cơ bản như sau:
Thứnhất, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủlà trọng tâm của kiểm soát quyền lực nhà nước. Như đã phân tích ở trên, trong ba bộ phận quyền lực của Nhà nước thì bộ phận quyền hành pháp có vị trí và vai trò quan trọng, đây là bộ phận quyền vừa tham gia hoạch định chính sách quốc gia, vừa huy động mọi nguồn lực để điều hành, quản lý các công việc hàng ngày của Nhà nước. Thẩm quyền được giao và tính chất công việc đòi hỏi bộ phận quyền hành pháp phải nhanh nhạy,chủ động,sáng tạo trong việc đánh giá tình hình,sựvận động của xã hội đểđềxuất các chính sách phù hợp với đất nước không chỉhiện tạivà tương lai. Chính vì vậy, đây làbộphận quyền quyếtđịnh hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước đồng thời cũng là bộ phận quyền chịu trách nhiệm chính trong việc bộmáy nhà nước hoạtđộng kém hiệu quả. Bên cạnh đó, do hoạtđộng của Chính phủkhi thực hiện quyền hành pháp trực tiếpđụng chạmđến mọingóc ngách của đờisống xã hội, các lợiích thiết thân của người dân nên quyền hành pháp có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân. Bộ phận quyền hành pháp lại nắm trong tay tài sản, tiền tài, nhân lực quốc gia nên khả năng xuất hiện các “mặt trái”, các tệ nạn do “tha
hoá quyền lực” gây ra mà vi phạmđến lợiích của Nhân dân diễn ra phổbiến nhấtởbộphận quyền này. Vì thế, trong các bộphận cấu thành của quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền hành pháp là được chú trọng nhất, được xác định là trung tâm của kiểm soát quyền lực nhà nước.
Thứhai, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủlà một vấn đềkhó khăn, phức tạp. Sự khó khăn, phức tạp của kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủxuất pháttừnhững đặc tính của quyền hành pháp,đó là tính “động”,tính “trội” trong việc thực thi pháp luật, tính độc quyền cưỡng chế, tính trừu tượng và cụ thể, tính khách quan và chủ quan, tính hữu hình
và vô hình, tính gián đoạn và liên tục… Chính bởi là bộ phận quyền “trội”, mang tính“động”, phạm vi vàđối tượngtácđộngrộnglớnnên khónắmbắt, kiểm soát; do đó việc kiểm soát quyền hành pháp tuy có thểkiểm soátđược nhưng không thể kiểm soát được toàn bộ bộ phận quyền này. Ngoài ra, việc kiểm soát quyền hành pháp gặp khó khăn còn có nguyên do từ phía các chủ thể có quyền kiểm soát vừa thiếu công cụ,phương tiện vừa thiếu quyết tâm trong việc kiểm soát, dẫn đến việc kiểm soát bộ phận quyền này đôi khi được tiến hành một cách hình thức, hiệu quả không cao.
Thứ ba, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ, đa dạng về chủ thể và phong phú về hình thức kiểm soát. Trong phạm vi luận án này,đối tượng bị kiểm soát là Chính phủ trong quá trình thực hiện quyền hành pháp,cụthể là các hoạt động: đề xuất chính sách và dự thảo luật để Quốc hội thông qua; bảo đảmchính sách và pháp luậtđược thi hành trong thực tế;thiết lập trậttựcông của Chính phủthìchủthểkiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ rất đa dạng. Các chủ thể này bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, các cơ quan nhà nướclà Quốc hội, Chủtịch nước, TAND, Viện kiểm sát, các thiết chếhiến định độc lập (KTNN) và MTTQ Việt Nam, các tổchức chính trị- xã hội(là các tổchức thành viên của MTTQ Việt Nam có vai trò quan trọng nhất hiện nay: Liên đoàn lao động Việt Nam,Hộiliên hiệp phụnữViệt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh), các tổ chức xã hội, công dân, các phương tiện thông tin đại chúng. Tuỳ thuộc vào vịtrí của các chủ thể trong hệ thống chính trị mà các chủ thể nêu trên tham gia kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở các mức độ khác nhau, tổng hợp hoạt động kiểm soát của các chủ thể này quyết định hiệu quả hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp. Xétvềhình thức kiểm soát, pháp luật hiện hành qui định phong phú về hình thức kiểm soát quyền hành pháp của Chính phủ, bao gồm: bầu Thủtướng,bổnhiệm các thành viên khác của Chính phủ; xem xét giải quyết các khiếu nại,tốcáo có liên quan đến hoạtđộng của Chính phủ, các thành viêncủaChính phủ; hoạt độnggiám sát vănbảnvà các báo cáocủaChính phủtạikỳhọp Quốc hội; hoạtđộng chất vấn,điều trần, lấy phiếu tín nhiệm,bỏphiếu tín nhiệm; hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra, trưng cầu dân ý, phản biện
xã hội….Việc áp dụng hình thức kiểm soát nào tuỳthuộc vào chủthểkiểm soát, mục đích, yêu cầu và nội dung kiểm soát quyền hành pháp.
Thứ tư, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ vừa mang tính Nhà nước, vừamang tính xã hội. Do kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp là vấn đề khó khăn, phức tạp nên việc kiểm soát việc thực hiện quyền lực củabộ phận quyền này phải được triển khai thành hệ thống bao gồm kiểm soát của các cơ quan nhà nước và kiểm soát của xã hội. Trong đó, kiểm soát của các cơ quan nhà nước chỉ do các cơ quan nhà nước thực hiện với các hình thức kiểm soátchủyếu là bầu Thủtướng,bổnhiệm các thành viên khác của Chính phủ; xem xét giải quyết các khiếu nại,tốcáo có liên quan đến hoạtđộng của Chính phủ, các thành viên của Chính phủ; hoạt động giám sát văn bản và các báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội; hoạt động chất vấn, điều trần, lấy phiếu tín
nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm; hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra…. Như vậy, kiểm soát của Nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, tínhcưỡngchế; nội dung, phạm vi, thẩm quyền, quy trình,thủtục kiểm soátđược quiđịnh cụthể, chặt chẽ trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Kiểm soátcủacác thiếtchếxã hộilà kiểm soát do các chủthểbên ngoài Nhànước,bao gồm cáctổchức chính trị, cáctổchức chínhtrị- xã hội, các tổchức xã hội, công dân, các phương tiện thông tin đạichúng tiến hành vớicác hình thức chủ yếu là giám sát, phản biện, tư vấn, thẩm định,kiến nghị, đềxuất,
góp ýkiến, tạo dư luận xã hội, trưng cầu dân ý…Các chủthểnày là thiếtchếthuộc vềxã hội, mang tính chất xã hội, không mang tính cưỡng chếcủa quyền lực nhà nước, điều nàyđược thể hiện rõở việc khi tiến hành kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ, các chủthểcủa kiểm soát xã hộichỉcó quyền yêu cầu,kiến nghị, đềnghị đối với đối tượng kiểm soát là Chính phủ, chứkhông có quyền xử lý… Tuy nhiên, phương thức kiểm soát này lại có sự lan toảnhanh chóng, sự ảnh hưởng sâu rộng trên qui mô toàn xã hội. Vì vậy,sự kết hợp kiểm soát của Nhà nước và kiểm soát của xã hộiđốivớiviệc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủbảo đảmtính hiệu lực, hiệu quảcủa kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ.
Thứnăm, hiệu quảhoạtđộng kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ phụ thuộc vào nhiều yếu tố về pháp lý, kinh tế, chính trị, xã hội. Thực tiễn hoạt động kiếm soát quyền hành pháp cho thấy hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm sự phát triển của môi trường dân chủ, pháp quyền của đất nước; trình độ dân trí, hiểu biết pháp luật, ý thức và kỹ năng thực hiện quyền của công dân; tính công khai, minh bạch, chịu trách nhiệm của Nhà nước trước Nhân dân; ngoài ra các điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử, dân tộc, văn hoá,đạo đức, tôn giáo, phong tục, tập quán cũng có tác động,ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả hoạt động kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ. Trong điều kiện đất nước đề cao tính dân chủ, nguyên tắc Nhà nước pháp quyền được coi trọng, trình độ dân trí và hiểu biết pháp luật, kỹ năng thực hiện quyền của công dân được nâng cao, Chính phủ hoạt động công khai, minh bạch, dám chịu trách nhiệm, kết hợp với nền kinh tế phát triển, xã hội ổn định là
những bảo đảm vềchính trị, pháp lý, kinhtế- xã hội rất quan trọng cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát quyền hành pháp của Chính phủ.
Thứsáu, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủso với kiểm soát việc thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội, kiểm soát quyền tư pháp của Toà án có sựkhác nhau vềchủthể, nộidung, phạm vi, hình thức, phương pháp, trình tự thủ tục hậu quả pháp lý nhưng có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ, tương hỗ với nhau tạo thành một tổng thể cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm mục đích chung là bảo đảm quyền lực nhà nước được thực hiện đúng mục đích, hiệu quả, hạn chếtình trạnglạmquyền, lộng quyền, bảođảmquyền làm chủcủa Nhân dân, hướng tớixây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN mạnh, trong sạch, hiệu lực và hiệu quả.
Thứbảy, kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủđang trong quá trình hoàn thiện và tiếptụcphát triển. Trong tổchức và thực hiện quyền lực nhà nước, vấnđềkiểm soát quyền lực nhà nướcnói chung và kiểm soát quyền hành pháp nói riêng đã đượccáchọcgiảtừthờicổđạinhấn mạnh, xemđây là điều kiện cơ bản đểthực hiện tự do, dân chủ chính trị. Ở Việt Nam, kểtừkhiđấtnước bước vào thờikỳđổimới,hộinhập quốc tếsâu rộng đã tạo điều kiện cho giới nghiên cứu khoa học chính trị pháp lý làm sáng tỏ một số vấnđềlý luận và thực tiễn vềNhà nước pháp quyền và khảnăng, nguyên tắc vận dụng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; những hạt nhân hợp lý của nguyên tắc phân chia quyền lực trong tổ chức hoạt động bộmáy Nhà nước trong đó có yếu tố kiểm soát quyền lực nhà nước. Trên cơ sở tiếp thu có chọnlọcnhững giátrịtinh hoa pháp lýcủanhân loại, vấnđềkiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước được xác định là một quan điểm quan trọng của Đảng, là một nguyên tắc pháp luật, đồng thời không ngừng được bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn pháttriển của đất nước.Trong lần sửa đổi Hiến pháp 1992 vào năm 2001, nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” đã được hiến định tại Điều 2. Tiếp sau đó, từ yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, Đại hội XI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 2011 đã bổ sung nội dung “kiểm soát quyền lực” vào thành một yếu tố mới của cơ chế quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Đặc biệt,vớiviệc bổsung cụmtừ“kiểmsoát”trong Khoản 3Điều2 thì Hiến pháp 2013đã tiến thêmmộtbước mớitrong việc hiến định nguyên tắc:“Quyềnlực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nướctrong việc thực hiện các quyềnlậppháp, hành pháp, tưpháp”. Nhưvậy, chính thức vềmặtpháp luật, kiểm soát quyền lực (trong đó có kiểm soát quyền hành pháp)mớitrởthành mộtnguyên tắc hiến định được xác lập trong Hiến pháp 2013 nên chắc chắn có nhiềuvấnđềvềthểchế, thiết chế,điềukiện bảo đảm kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung và kiểm soát quyền hành pháp nói riêng còn chưa được hoàn thiện, còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Tuy nhiên, cùng vớiquá trình hộinhập kinh tế- quốc tế,quá trình dân chủhoá đờisống
chính trị- xã hội, trình độdân trí ngày càng được nâng cao, cùng vớiquy luật vận động,phát triển của đời sống xã hội, chắc chắn cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủsẽđược hoàn thiện theo hướng tích cực,đồng bộ và hiệu quả hơn trong thời gian tới.
2.2. Mục đích của kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\KIỂM SOÁT VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN HÀNH PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM HIỆN NAY

