Kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng

Kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong hoạt động của các ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều loại rủi ro khác nhau gây ra những tổn thất nhất định đối với hoạt động của ngân hàng hoặc cả hệ thống ngân hàng và cao hơn nữa nó có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế của cả một quốc gia, toàn cầu. Một trong những loại rủi ro ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng là RRTD, đây cũng chính là loại rủi ro chính ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động của các ngân hàng.

RRTD phát sinh trong trường hợp ngân hàng cho vay nhưng không thu được nợ gốc và lãi của khoản vay đầy đủ và đúng hạn. RRTD tiềm ẩn trong suốt quá trình trước, trong và sau khi cho vay và biểu hiện dưới các hình thức món vay không thu hồi được, nợ quá hạn, nợ khó đòi, lãi tồn đọng cao, mất vốn….

Các nghiên cứu về RRTD và kiểm soát RRTD của NHTM đã được rất nhiều các công trình nghiên cứu đề cập đến và được áp dụng phổ biến trong hoạt động của NHTM hiện nay. Tuy nhiên đối với hoạt động của NHCSXH có những đặc thù riêng thì khi áp dụng các cơ sở lý luận này không hoàn toàn giống như NHTM hoặc không thể áp dụng được đối với hoạt động của NHCSXH. Chính vì vậy cần có nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm soát RRTD đối với hoạt động của NHCSXH.

Hoạt động tín dụng của NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng những năm gần đây mặc dù đã đi vào ổn định, chất lượng hoạt động tín dụng ngày một nâng cao. Tuy nhiên chất lượng tín dụng chưa bền vững, đặc biệt hoạt động tín dụng của Chi nhánh thực hiện là cho vay theo chỉ định, và khách hàng vay vốn của Chi nhánh chủ yếu là các đối tượng yếu thế trong xã hội nên tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chương trình tín dụng HSSVCHCKK là một trong những chương trình tín dụng có dư nợ lớn và mức độ RRTD cao. Việc kiểm soát RRTD đối với chương trình tín dụng cho vay HSSVCHCKK là cần thiết nhằm góp phần ổn định chất lượng hoạt động tín dụng của toàn chi nhánh.

Xuất phát từ thực tế trên và bản thân là người trực tiếp tham mưu cho Ban giám đốc Chi nhánh điều hành hoạt động tín dụng của toàn Chi nhánh, trong đó có hoạt động kiểm soát RRTD giúp hoạt động tín dụng của Chi nhánh ngày càng ổn định và đạt được mục tiêu đặt ra, do đó tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng” làm đề án tốt nghiệp.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát:

Mục tiêu của đề án là nghiên cứu thực trạng kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng, đề xuất khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động này của chi nhánh.

2.2. Mục tiêu cụ thể:

Để đáp ứng được mục tiêu tổng quát, đề án chia nhỏ thành 3 mục tiêu cụ thể:

Thứ nhất: Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về hoạt động cho vay HSSV, kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK của NHCS.

Thứ hai: Phân tích thực trạng hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng từ đó xác định những thành công đã đạt được và những hạn chế cùng nguyên nhân trong hoạt động này của chi nhánh.

Thứ ba: Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK ở trên, tác giả đề xuất khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng.

2.3. Câu hỏi nghiên cứu:

Để đáp ứng mục tiêu tổng quát cũng như 3 mục tiêu cụ thể, đề án cần trả lời các câu hỏi: “Làm thế nào để kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng?”. Để trả lời câu hỏi đó, đề tài đặt ra những câu hỏi liên quan sau:

  • Kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK là gì? Đặc điểm kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK của NHCSXH? Nội dung kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK bao gồm những vấn đề gì? Các tiêu chí nào phản ánh kết quả hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK? Hoạt động này chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố nào?
  • Thực trạng hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng diễn ra như thế nào? Đã đạt được những thành công gì? Còn có những hạn chế gì? Vì sao?
  • NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng và các chủ thể liên quan cần làm gì để hoàn thiện hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK trong thời gian tới?

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề án là thực tiễn hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK của NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng.

Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK, một nội dung quan trọng của hoạt động quản trị RRTD trong cho vay HSSVCHCKK, số liệu được thu thập trong thời gian 2021-2023 để phân tích đánh giá.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Đề án được nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu hỗn hợp để tổng hợp các lý thuyết và nghiên cứu trước để hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK.

– Về phương pháp phân tích, Đề án vận dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh để làm rõ nội dung nghiên cứu. Phân tích thực trạng kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng. Từ thực trạng nghiên cứu tác giả nghiên cứu thực trạng, đánh giá từng vấn đề để tìm hiểu một cách cụ thể và xác định nguyên nhân vì sao dẫn đến thực trạng đó.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

5.1. Ý nghĩa khoa học

Trên cơ sở đánh giá thực trạng kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng, Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm các cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, quy trình liên quan đến kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK

5.2. Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài đánh giá được thực trạng và đưa ra những ưu điểm và hạn chế cũng như các yếu tố tác động đến việc triển khai áp dụng kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng; Đồng thời, đề tài đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho đơn vị và cho xã hội. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu hữu ích cho kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK của NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng, là nguồn tư liệu tham khảo của hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK hiện đại trong thời gian đến.

Kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam - Chi nhánh thành phố Đà Nẵng
Kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng

6. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề án được chia thành 3 chương:

Chương 1 : Cơ sở lý luận về kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK của Ngân hàng Chính sách lẻ

Chương 2 : Thực trạng kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỌC SINH SINH VIÊN CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH

KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Rủi ro tín dụng trong cho vay của Ngân hàng thương mại

  1. Khái niệm RRTD

Ngân hàng có rất nhiều hoạt động mang lại nguồn thu nhập và lợi nhuận như hoạt động cấp tín dụng, hoạt động thanh toán, bảo lãnh… Đối với các nước phát triển thì nguồn thu nhập của các NHTM chủ yếu đến từ các hoạt động dịch vụ, nhưng ở Việt Nam thì phần lớn thu nhập của các ngân hàng lại đến từ hoạt động tín dụng, một hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Trong tài liệu “Financial Institutions Management: A Modern Perspective”, Anthony Saunders định nghĩa RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn. Trong tác phẩm Modern Banking của Shelagh Heffernan, RRTD là rủi ro mà một tài sản hoặc một khoản vay không có khả năng thu hồi được hoàn toàn hoặc rủi ro về chậm trễ không mong đợi trong hoạt động cho vay. Theo Hannie van Greuning – Sonja Brajovic Bratanovic thì RRTD được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. RRTD tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng lưu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng (The World Bank).

Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.

Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại RRTD là khả năng (xác suất) xảy ra những tổn thất về mặt kinh tế cho các ngân hàng, là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ và lãi vay hoặc trả nợ và lãi không đúng hạn cho ngân hàng. Tuy nhiên cần hiểu RRTD theo nghĩa xác suất, là khả năng, do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất.

  1. Đặc điểm của RRTD

– RRTD mang tính gián tiếp: trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi nên những thất thoát về vốn xảy ra trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng. Ngân hàng thường biết sau hoặc nhận biết không đầy đủ và chính xác những khó khăn và thất bại trong hoạt động kinh doanh của khách hàng gây ra RRTD.

– RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của RRTD do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý RRTD phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do RRTD đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.

– RRTD có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng: tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.

c) Phân loại RRTD

Có nhiều cách phân loại RRTD của ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau.

Theo nguyên nhân phát sinh, RRTD có 2 loại: Rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục

  • Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro xét duyệt (rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi ro liên quan đến chính sách và hợp đồng cho vay); rủi ro kiểm soát (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề).
  • Rủi ro danh mục: là RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro cá biệt (liên quan đến từng loại cho vay) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao).

Theo tính chất khách quan hay chủ quan của nguyên nhân, RRTD được chia thành 2 loại rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan

  • Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách.
  • Rủi ro chủ quan: là rủi ro do nguyên nhân thuộc về ý thức chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.

Theo phạm vi tác động của rủi ro, RRTD được chia thành 2 loại rủi ro đặc thù và rủi ro hệ thống

– Rủi ro đặc thù: rủi ro mà phạm vi ảnh hưởng mang tính cá biệt, chỉ xảy ra trong từng khoản cho vay, từng khách hàng vay riêng lẻ.

– Rủi ro hệ thống: là rủi ro phát sinh do bối cảnh chung của nền kinh tế hoặc những điều kiện vĩ mô tác động lên toàn bộ hoặc một nhóm khách hàng vay như khủng hoảng kinh tế, suy thoái nền kinh tế, lạm phát…

d) Hậu quả của RRTD

RRTD luôn tiềm ẩn trong kinh doanh ngân hàng và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu.

Thứ nhất, RRTD gây ra hậu quả nặng nề đối với các chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ tín dụng. Khách hàng vay khi gặp rủi ro thì tình trạng kinh doanh bị sa sút, thậm chí có nguy cơ phá sản. Đối với ngân hàng, RRTD sẽ làm gia tăng chi phí (do phải trích dự phòng rủi ro để bù đắp), kìm hãm mở rộng tín dụng vì sợ rủi ro khiến hiệu quả kinh doanh bị giảm sút. Khi gặp RRTD, ngân hàng không có khả năng thu hồi vốn gốc và lãi vay trong khi vẫn phải thanh toán gốc và lãi cho các khoản huy động khi đến hạn, làm ngân hàng mất cân đối thu chi. Nếu tình trạng này kéo dài, khả năng mất một lượng vốn lớn của ngân hàng sẽ trở thành hiện thực, có thể đẩy ngân hàng vào tình trạng mất khả năng chi trả hoặc có thể rơi vào tình trạng phá sản.

Thứ hai, RRTD sẽ làm giảm lòng tin của công chúng vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính cũng như hiệu lực của chính sách tài chính – tiền tệ của nhà nước. Nguy cơ rút tiền ồ ạt của người gửi tiền có khả năng trở thành hiện thực, do đó sẽ làm cho ngân hàng bị tê liệt. Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, doanh nghiệp không có vốn để đáp ứng các kế hoạch kinh doanh đã định nên có khả năng phải ngừng hoạt động kinh doanh, người lao động không được trả lương, đời sống sẽ thêm khó khăn. Hơn nữa, sự khủng hoảng của hệ thống ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định.

Thứ ba, hệ thống tài chính quốc gia có thể bị lung lay bởi ảnh hưởng của RRTD. Do mối liên kết chặt chẽ của các trung tâm tài chính trong hệ thống tài chính đã làm trầm trọng hơn những ảnh hưởng này, châm ngòi cho sự đổ vỡ dây chuyền khiến hệ thống trung gian tài chính bị khủng hoảng nghiêm trọng. Ảnh hưởng đó không gói gọn trong một quốc gia mà mở rộng trên phạm vi toàn cầu vì ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

RRTD của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.

Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay của NHTM

  1. Khái niệm

Kiểm soát RRTD là việc ngân hàng sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và các chương trình hành động nhằm chủ động điều khiển, biến đổi RRTD tại một ngân hàng bằng cách kiểm soát tần suất, mức độ rủi ro góp phần làm giảm thiểu tổn thất hay những ảnh hưởng bất lợi do RRTD gây ra trong giới hạn mà ngân hàng hoạch định

  1. Nội dung kiểm soát RRTD trong cho vay của NHTM

Hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay của NHTM thể hiện ở các nội dung dưới đây:

+ Né tránh rủi ro: là việc né tránh những đối tượng, những hoạt động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể xảy ra. Thông qua hoạt động thẩm định, xếp loại và sàng lọc khách hàng. Trong quá trình thẩm định nhận thấy việc cho vay đối với khách hàng này sẽ có nguy có xảy ra rủi ro lớn, không phù hợp với chính sách cho vay hoặc nằm ngoài giới hạn mức độ rủi ro đã hoạch định thì tốt nhất là né tránh, tức là từ chối cho vay đối với các khách hàng này.

+ Ngăn ngừa rủi ro: Là biện pháp loại bỏ những nguyên nhân làm phát sinh rủi ro nhằm ngăn ngừa khả năng xảy ra rủi ro. Bằng cách thực hiện kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay thì ngân hàng có thể cân nhắc để cho vay và thực hiện việc giám sát nhằm hạn chế tối đa các nguy cơ gây ra rủi ro như: Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không đảm bảo vốn tự có tham gia dự án, tiến độ triển khai dự án, tuân thủ việc thực hiện các hợp đồng với ngân hàng…

+ Giảm thiểu rủi ro: Là biện pháp nhằm làm giảm mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra, mặc dù biện pháp này được đặt ra trước khi một rủi ro xuất hiện nhưng nó phát huy hiệu quả sau khi rủi ro đã xảy ra. Các biện pháp giảm thiểu tổn thất: Áp dụng sản phẩm, quy trình cho vay phù hợp; Áp dụng các điều khoản chặt chẽ trong hợp đồng tín dụng, các biện pháp bảo đảm tiền vay, trích lập dự phòng rủi ro….

+ Chuyển giao rủi ro: là biện pháp sắp xếp để một vài đối tượng gánh chịu hoàn toàn hay một phần tổn thất xảy ra. Có thể chuyển giao cho công ty bảo hiểm, người kinh doanh rủi ro hoặc ngân sách nhà nước. Các cách thức chuyển giao rủi ro gồm: chuyển giao rủi ro cho người kinh doanh rủi ro (các công ty bảo hiểm); chuyển giao rủi ro cho bên mua nợ; chuyển giao rủi ro cho ngân sách nhà nước (đối với các khoản vay theo chỉ định của Chính phủ); sử dụng công cụ phái sinh, chứng khoán hóa khoản vay.

+ Phân tán rủi ro: là việc ngân hàng đa dạng hóa danh mục cho vay, thực hiện cho vay với nhiều loại sản phẩm, nhiều khách hàng, không tập trung cho vay quá nhiều vào một số ít ngành nghề, lĩnh vực, hình thức cấp vốn, một ít khách hàng hoặc nhóm khách hàng nhằm phân tán rủi ro. Bản chất của đa dạng hóa là hạn chế rủi ro đặc thù, rủi ro dao động phụ thuộc theo một vài công ty, một ngành, một lĩnh vực hoạt động…

  1. Các tiêu chí phản ánh kết quả kiểm soát rủi ro tín dụn trong cho vay của NHTM
  • Cơ cấu dư nợ cho vay theo khả năng và mức độ RRTD

Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam thì tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài thực hiện phân loại nợ theo 05 nhóm từ nhóm 01 đến nhóm 05, cụ thể

Nhóm 01: Nợ đủ tiêu chuẩn

Nhóm 02: Nợ cần chú ý

Nhóm 03: Nợ dưới tiêu chuẩn

Nhớm 04: Nợ nghi ngờ

Nhóm 05: Nợ có khả năng mất vốn.

Nội dung cụ thể của mỗi nhóm nợ phản ánh chất lượng nợ của ngân hàng. Trong cơ cấu dư nợ, tỷ trọng nợ nhóm 1 càng cao, các nhóm nợ còn lại theo thứ tự thấp dần cho thấy chất lượng tín dụng tốt; nợ xấu thấp, rủi ro càng thấp và ngược lại.

  • Tỷ lệ nợ xấu

Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam thì nợ xấu bao gồm các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5. Tỷ lệ nợ xấu là một tiêu chí rất quan trọng nhằm đánh giá mức độ RRTD trong cho vay của NHTM. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ càng cao thì mức độ RRTD trong cho vay càng lớn và ngược lại. Tỷ lệ nợ xấu đồng thời thể hiện năng lực kiểm soát RRTD của NHTM hiệu quả cao hay thấp. Mức giảm tỷ lệ nợ xấu kỳ này so với kỳ trước cho thấy hiệu quả công tác kiểm soát RRTD của NHTM. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng được tính theo công thức sau:

Dư nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu =x 100(%)
Tổng dư nợ
  • Tỷ lệ dự phòng rủi ro cụ thể

Dự phòng RRTD là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng. Dự phòng rủi ro bao gồm dự phòng rủi ro cụ thể và dự phòng rủi ro chung. Dự phòng rủi ro cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể. Dự phòng rủi ro chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể

Số tiền trích lập và tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro phản ánh được nguồn dự phòng rủi ro của ngân hàng. Dự phòng rủi ro cụ thể càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng không tốt và rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải càng cao. Chỉ tiêu tỷ lệ dự phòng rủi ro cụ thể được tính theo công thức sau:

Dự phòng rủi ro cụ thể
Tỷ lệ dự phòng rủi ro cụ thể =x 100%
Tổng dư nợ
  • Tỷ lệ nợ xóa ròng

Nợ xóa ròng là một số khoản cho vay không còn giá trị và Ngân hàng xóa khỏi sổ sách (theo dõi ngoại bảng) được gọi là khoản cho vay được xóa nợ. Nếu một trong các khoản cho vay đó mà cuối cùng ngân hàng cũng thu được thì khoản thu nhập đó sẽ khấu trừ tổng các khoản xóa nợ tạo thành khoản nợ xóa ròng. Khoản nợ xóa ròng là mức tổn thất thật sự, phản ánh RRTD trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xóa ròng càng cao cho thấy công tác kiểm soát rủi ro của ngân hàng càng hạn chế.

Nợ xóa ròng = Dư nợ xóa – số tiền đã thu hồi.

Nợ xóa ròng
Tỷ lệ nợ xóa ròng =x 100(%)
Tổng dư nợ

CHO VAY ƯU ĐÃI CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH

Ngân hàng chính sách

  1. Khái niệm Ngân hàng chính sách

Quá trình phát triển của các trung gian tài chính gắn liền với quá trình phát triển kinh tế. Các NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng như Quỹ đầu tư, công ty tài chính… đóng vai trò ngày càng quan trọng, thu hút tiết kiệm từ dân cư và tài trợ cho phát triển, hạn chế rủi ro và tăng khả năng sinh lời cho các hoạt động kinh tế. Mục tiêu chung của các tổ chức này là an toàn và sinh lời. Nhưng bên cạnh đó cũng có một số tổ chức hoạt động với mục tiêu là đối tượng phục vụ đặc biệt, sinh lời không phải là mục tiêu hàng đầu cần đạt tới.

Chính sách cho vay ưu đãi đối với các đối tượng chính sách được Chính phủ nhiều nước trên thế giới thực hiện thông qua các TCTD khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia. Một số nước, Chính phủ thông qua NHTM hoặc các tổ chức tài chính vi mô, nhưng một số nước khác, Chính phủ thành lập những ngân hàng đặc biệt để thực hiện mục đích này như tại Hà Lan có ngân hàng Rabobank, tại Băng la đét là Grameen Bank, Banco Popular do Brasil của Braxin, Bank Rakjat của In-đô-nê-xia, Savings Bank của Thái Lan, Nayoby Bank của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào….

Trong xu thế phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, ở mỗi quốc gia đều nảy sinh tình trạng có những ngành, những khu vực kinh tế, những đối tượng khách hàng có sức cạnh tranh kém, không đủ các điều kiện tiếp cận với dịch vụ tài chính của các NHTM. Ví dụ, các ngành hàng mang tính lợi ích công cộng, vùng sâu, vùng xa …chịu chi phí lớn, rủi ro cao, đòi hỏi vốn đầu tư lớn thời gian dài, lợi nhuận thấp hoặc không có lợi nhuận sẽ khó có điều kiện để tiếp cận với các dịch vụ tài chính của NHTM. Những ngành hàng, những khu vực kinh tế và những đối tượng khách hàng này cần sự hỗ trợ của Chính phủ để tồn tại và phát triển bởi tính xã hội của nó: nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế cân bằng giữa các vùng, miền, giữa các thành phần, đảm bảo sự chênh lệch giàu nghèo không quá lớn và nhằm giải quyết các mục tiêu chính trị xã hội. Để đảm bảo thực hiện các mục tiêu nêu trên, Chính phủ các nước đã sử dụng nhiều công cụ khác nhau, trong đó công cụ TDCS được đánh giá là công cụ có hiệu quả nhất. Tùy điều kiện và nhu cầu của mỗi quốc gia, Chính phủ sẽ thiết lập các kênh tín dụng hoặc thiết lập các ngân hàng chuyên biệt để cho vay các khu vực kinh tế ưu tiên; các ngành kinh tế có tính chất chiến lược; các công trình có tính khả thi về tài chính nhưng đòi hỏi vốn lớn, thời gian dài, xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn và các khu vực xã hội.

Từ những phân tích nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm NHCS là loại hình ngân hàng đặc biệt được Chính phủ các nước thiết lập, chuyên cho vay các đối tượng chính sách theo chỉ định của Chính phủ.

  1. Đặc điểm của Ngân hàng chính sách

Cũng như các TCTD khác, NHCS thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn, cho vay, cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên, với đặc thù là một TCTD hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nên NHCS có những đặc điểm riêng như:

  • NHCS là loại hình tổ chức tín dụng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận; nguồn vốn phục vụ cho hoạt động cấp tín dụng của NHCS chủ yếu do chính phủ cấp hoặc do chính phủ đứng ra bảo lãnh để ngân hàng vay hoặc huy động trên thị trường;
  • Hoạt động cho vay chủ yếu là cho vay theo các chương trình cho vay do chính phủ chỉ định; hoạt động cung cấp dịch vụ ngân hàng thì chủ yếu là các dịch vụ không thu phí.
  • Vốn tín dụng đầu tư mang tính rủi ro rất cao bởi NHCS không được lựa chọn đối tượng cho vay;
  • Đối tượng phục vụ của NHCS thường là những đối tượng yếu thế trong xã hội hoặc các lĩnh vực ưu tiên đầu tư theo chính sách của chính phủ.

Cho vay ưu đãi của NHCS

  1. Khái niệm cho vay ưu đãi của NHCS:

Cho vay ưu đãi của NHCS là một hình thức cấp tín dụng đặc biệt theo chỉ định của chính phủ theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi với những điều kiện ưu đãi nhất định theo quy định của chính phủ.

Cho vay theo các chương trình, chính sách của chính phủ là hoạt động chủ yếu của NHCS, bao gồm các khoản cho vay bắt buộc để hỗ trợ chính sách kinh tế của chính phủ và cho vay các hoạt động không đáp ứng các tiêu chí thương mại nhưng lại có tác dụng chính trị, xã hội quan trọng. Như vậy, cho vay chính sách là hoạt động của ngân hàng không đáp ứng các tiêu chí kinh doanh thương mại, mang lại ít hoặc không mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nhưng ngân hàng được chỉ định bắt buộc phải thực hiện nhằm hỗ trợ các chính sách kinh tế, chính trị và xã hội của bộ máy quản lý Nhà nước.

b) Phân loại cho vay

Phân loại cho vay của NHCS cũng tương tự như cách phân loại của NHTM phân loại theo thời hạn cho vay; tính chất luân chuyển vốn vay; mục đích sử dụng vốn, biện pháp bảo đảm tiền vay để phân loại cho vay. Ngoài ra theo tính chất của đối tượng cho vay, cho vay chính sách có thể được chia làm 3 loại:

+ Cho vay xóa đói giảm nghèo: nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội của Nhà nước, đây là một chương trình kinh tế xã hội rộng lớn ở nhiều nước đang phát triển.

+ Cho vay hỗ trợ các chính sách xã hội, giáo dục, y tế, tạo công ăn việc làm: Chính phủ hỗ trợ các đối tượng chính sách thông qua cho vay với các điều kiện ưu đãi giúp họ có cơ hội học tập, chữa bệnh, học nghề hoặc xuất khảu lao động, loại cho vay này khác với cho vay tiêu dùng của NHTM ở điều kiện và lãi suất, thời hạn cho vay ưu đãi.

+ Cho vay doanh nghiệp không đủ điều kiện cho vay thông thường với các điều kiện ưu đãi: Đây là những khoản cho vay không có tính thương mại, thực hiện theo chiến lược phát triển của quốc gia nhằm trợ giúp cho các doanh nghiệp Nhà nước khó khăn hoặc những khu vực kinh tế Nhà nước bắt buộc phải duy trì vì lợi ích quốc gia v.v…

Mặc dù không mang lại lợi nhuận, nhưng NHCS và cho vay chính sách vẫn tồn tại không chỉ ở nền kinh tế chỉ huy tập trung mà cả trong nền kinh tế thị trường, không chỉ ở các nước đang phát triển mà ở cả các nước tư bản phát triển. Đó là do:

+ Thứ nhất, do yêu cầu của chính sách kinh tế, xã hội. Với vai trò quản lý xã hội về mọi mặt, bộ máy cơ quan quản lý nhà nước phải hoạch định các chính sách kinh tế, xã hội hợp lý nhằm đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối, đảm bảo sự tồn tại của một số ngành, lĩnh vực cần thiết cho xã hội nhưng bản thân không mang lại lợi nhuận; bảo đảm cho xã hội ổn định, không có chênh lệch giàu nghèo nhiều, tức là phải đầu tư phát triển những ngành kinh tế then chốt đồng thời có chiến lược xóa đói giảm nghèo hợp lý.

+ Thứ hai, do tính chất khan hiếm của nguồn vốn và yêu cầu quay vòng vốn. Trong nhiều trường hợp, chính phủ không thể dùng ngân sách nhà nước để cấp phát trực tiếp cho doanh nghiệp, hộ gia đình. Với các nguồn vốn được cấp và tự huy động, NHCS có thể cho vay các đối tượng theo nguyên tắc tín dụng và qua đó sẽ bù đắp một phần chi phí của ngân hàng. Qua đó, vốn sẽ được quay vòng, tạo điều kiện mở rộng đối với đối tượng được hưởng lợi, góp phần thực hiện chính sách phát triển dài hạn của Chính phủ.

RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HSSVCHCKK CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH

Cho vay HSSVCHCKK của NHCS

  1. Quan niệm và đặc điểm của HSSVCHCKK

+ Quan niệm về HSSVCHCKK

Theo từ điển tiếng Việt của các tác giả: Hoàng Phê, Hoàng Thị Tuyền, … “học sinh” là người học ở bậc phổ thông, trung học; còn “sinh viên” là người học ở bậc cao đẳng, đại học [13]. Với cách diễn đạt này, nhóm tác giả tiếp cận khái niệm “học sinh” với nghĩa là tên gọi chung của những người học ở bậc phổ thông, trung học còn “sinh viên” là tên gọi chung của những người học ở bậc cao đẳng, đại học. Với cách tiếp cận này, nhóm tác giả chưa làm rõ được nội hàm của khái niệm “học sinh” và “sinh viên”.

Theo tác giả Nguyễn Hồng Ánh, sinh viên là “một bộ phận của thanh niên đang theo học ở các trường đại học và cao đẳng. Họ là một nhóm xã hội đặc thù, đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện nhân cách, tích cực học tập, rèn luyện chuẩn bị gia nhập đội ngũ trí thức, lao động kỹ thuật cao của đất nước. Trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, thanh niên sinh viên luôn là lực lượng năng động, sáng tạo và là nguồn nhân lực được đào tạo cao của xã hội. [3].

Chi phí cho quá trình học tập của học sinh, sinh viên: Trong quá trình học tập, HSSV phải chi trả nhiều khoản chi phí, trong đó có 3 khoản chi cơ bản là học phí, sinh hoạt phí và chi phí mua tài liệu học tập.

Học phí: Học phí là số tiền HSSV phải chi trả cho cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp khi họ sử dụng các dịch vụ giáo dục, đào tạo. Thông thườnng học phí được các cơ sở đào tạo tính theo tín chỉ, tháng, học kỳ hoặc năm. Học phí có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự công bằng trong việc thụ hưởng các dịch vụ giáo dục, nâng cao ý thức của người học đối với cộng đồng và góp phần làm giảm gánh nặng chi cho ngân sách nhà nước. Hiện nay, hầu hết các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp trên thế giới đều thu học phí của HSSV, mức học phí HSSV phải đóng cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố: cơ sở giáo dục đào tạo là công lập hay ngoài công lập; trình độ đào tạo; chương trình đào tạo; chất lượng đào tạo

Sinh hoạt phí: Sinh hoạt phí là những khoản chi phí HSSV phải chi trả để duy trì cuộc sống hàng ngày trong suốt thời gian theo học tại các cơ sở giáo dục, đào tạo như: tiền thuê nhà, điện, nước; tiền ăn, mua vật dụng cá nhân và các nhu cầu khác. Số tiền sinh hoạt phí HSSV phải chi trả hàng tháng phụ thuộc vào mức giá cả sinh hoạt của địa phương nơi HSSV cư trú để theo học. Thời gian theo học của HSSV dao động từ 2-4 năm, đặc biệt có những chương trình kéo dài đến 6 hoặc 7 năm nên số sinh hoạt phí mà HSSV phải chi trả trong thời gian đi học là không nhỏ. …Cho nên, sinh hoạt phí đã, đang và sẽ còn là gánh nặng tài chính đối với mỗi HSSV

Chi phí mua tài liệu học tập: Chi phí mua tài liệu học tập là một khoản mục chi phí không thể thiếu trong quá trình học tập của HSSV. Trong thời gian lên lớp nghe giảng, giảng viên chỉ nêu vấn đề, gợi ý phương pháp nghiên cứu, định hướng cách thức giải quyết vấn đề, giới thiệu các tài liệu cần tìm đọc từ đó người học phải tự tìm những tài liệu này để mượn, thuê hoặc mua nhằm phục vụ mục đích học tập để nâng cao trình độ, mở rộng sự hiểu biết của mình. Chi phí mua tài liệu học tập sẽ tỷ lệ thuận với cấp đào tạo mà HSSV theo học, ở những quốc gia có luật về bản quyền tác giả và việc thực thi luật bản quyền tác giả nghiêm, ở đó chi phí mua tài liệu học tập sẽ cao hơn ở những quốc gia chưa có luật bản quyền tác giả hoặc việc thực thi luật bản quyền tác giả chưa nghiêm.

Từ những phân tích trên có thể quan niệm HSSVCHCKK là những HSSV đang theo học tại các cơ sở đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề nhưng vì một lý do nào đó, họ đang không có đủ nguồn tài chính để chi trả các chi phí cơ bản cho quá trình học tập như: học phí, sinh hoạt phí, chi phí mua tài liệu…và nếu không tìm được các nguồn tài trợ thì nhiều khả năng các HSSV này sẽ không đủ kinh phí để tiếp tục con đường học vấn của mình.

Theo quan điểm hiện nay của Việt Nam, HSSVCHCKK là những HSSV là con em hộ nghèo, hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 150% gia đình hộ nghèo, HSSV mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động, HSSV mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú.

  • Đặc điểm HSSVCHCKK

HSSVCHCKK là một phần của tầng lớp HSSV nói chung, họ cũng là những người trẻ tuổi, có khát vọng và nhiệt huyết, có điều kiện tốt nhất để phát triển trong xã hội tương lai. Tuy nhiên, đối với những HSSVCHCKK xuất phát chủ yếu từ góc độ gia đình khó khăn về tài chính thì vẫn có những đặc điểm riêng có đó là:

Do xuất thân từ gia đình nghèo, khó khăn nên HSSV thường bị hạn chế về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc so với những HSSV khác. Ngay từ những bậc học thấp hơn thì HSSVCHCKK chỉ được học theo khung chương trình của bộ giáo dục, họ có ít cơ hội được học tập mở rộng kiến thức, ít cơ hội được học các môn học về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc và đọc các tài liệu, sách tham khảo…

HSSVCHCKK cũng thường có ít bạn bè hơn những HSSV khác do khả năng tài chính bị hạn chế nên hầu hết các HSSVCHCKK thường tự ti, mặc cảm với bạn bè, ngại tiếp xúc và mở rộng các mối quan hệ ra bên ngoài do sợ phát sinh chi phí mà mình không thể trang trải được…

HSSV thường chịu khó học tập hơn những HSSV khác: Chính điều kiện kinh tế gia đình khó khăn làm cho quyết tâm học tập tốt để thay đổi cuộc sống trong tương lai là động lực thúc đẩy các HSSV này quyết tâm học tập để đạt kết quả cao hơn, họ thường phấn đấu để giành những xuất học bổng để tài trợ cho việc học tập của mình nhằm giảm nhẹ gánh nặng về tài chính cho gia đình.

b) Khái niệm, mục tiêu và đặc điểm cho vay HSSVCHCKK của NHCS

– Khái việm về cho vay HSSCHCKK

Cho vay HSSVCHCKK là việc NHCS giao hoặc cam kết giao cho HSSVCHCKK một khoản tiền nhất định trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định, nhằm hỗ trợ HSSVCHCKK có thêm nguồn tài chính để đóng học phí, chỉ trả các khoản sinh hoạt phí, tiền mua tài liệu trong quá trình học tập.

– Mục tiêu cho vay HSSVCHCKK

Chương trình cho vay HSSV ngày càng được quan tâm, thảo luận tại các chương trình nghị sự về chính sách của nhiều quốc gia. Chương trình cho vay HSSV đã có mặt tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới, trong đó hầu hết các chương trình cho vay HSSV là dành cho giáo dục đại học. Tại nhiều nước, các đề xuất về cho vay HSSV đã trở thành một đề tài nổi bật trong các cuộc thảo luận chính trị bởi sự đóng góp của chương trình vào việc giải quyết các vấn đề chính sách cấp bách mà các chính phủ đang phải đối mặt như: xóa đói giảm nghèo, cung cấp nguồn nhân lực có qua đào tạo, mở rộng hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp…. Các chương trình quốc gia về cho vay HSSV được thiết lập vì nhiều lý do khác nhau, tuy nhiên chúng ta có thể kể đến một số lý do cơ bản như sau:

Thứ nhất: tăng khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục cho thanh niên có hoàn cảnh khó khăn: Ở hầu hết các quốc gia, tỷ lệ thanh niên có hoàn cảnh khó khăn tham gia các chương trình giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp là không cao. Đây là nguyên nhân dẫn đến nhiều hệ lụy xã hội như: làm gia tăng tỉ lệ thất nghiệp, chênh lệch giàu nghèo, tệ nạn xã hội…Do đó, tăng tỉ lệ thanh niên có hoàn cảnh khó khăn tham gia các chương trình giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp trở thành một yếu tố chính trong chính sách giáo dục của mỗi quốc gia. Để giải quyết vấn đề này, có một số quốc gia đã thông qua các khoản trợ cấp học tập dưới hình thức cấp học bổng để giúp HSSV trang trải học phí và các chi phí sinh hoạt khác. Tuy nhiên, một chương trình trợ cấp học tập cho thanh niên có hoàn cảnh khó khăn dưới hình thức cấp học bổng chỉ khả thi khi áp dụng ở quy mô nhỏ và sẽ không khả thi khi triển khai trên diện rộng vì ngân quỹ quốc gia không cho phép. Do đó, một chương trình quốc gia về cho vay HSSV với các điều kiện ưu đãi sẽ giúp nhiều thanh niên có hoàn cảnh khó khăn có được nguồn tài chính để tiếp cận với dịch vụ giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.

Thứ hai: mở rộng giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp: Cùng với sự phát triển của nền kinh thế giới, nhu cầu học đại học và học nghề nghiệp ngày càng tăng. Tuy nhiên, Chính phủ các nước không thể đáp ứng nhu cầu này của HSSV bằng cách tăng mức hỗ trợ tài chính cho các sơ sở giáo dục công lập để họ mở rộng quy mô đào tạo vì ngân quỹ quốc là có hạn. Các chương trình quốc gia về cho vay HSSV đã góp phần làm gia tăng đáng kể số lượng HSSV tham gia giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Điều này đã góp phần mở rộng quy mô giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Thứ ba: giảm gánh nặng tài chính cho bố mẹ học sinh, sinh viên: Bố mẹ HSSV luôn phải lo tìm kiếm nguồn tài chính để chi trả các khoản: học phí, sinh hoạt phí, tiền mua tài liệu học tập, v.v… cho con cái. Áp lực về tài chính càng lớn hơn đối với những hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Các chương trình quốc gia về cho vay HSSV sẽ góp phần giảm nhẹ áp lực tài chính đối với những hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vì những chương trình này đã cung cấp nguồn tài chính ổn định với nhiều ưu đãi về lãi suất, điều kiện vay vốn, thời gian vay, đặc biệt chương trình chỉ thu nợ, thu lãi sau khi HSSV tốt nghiệp ra trường.

Thứ tư: Các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập trên thế giới hoạt động dựa vào nguồn tài chính do Chính phủ cấp. Trong điều kiện ngân sách ngày càng eo hẹp, Chính phủ các nước đang từng bước cắt giảm chi tiêu trong đó có các khoản chi cho giáo dục, đào tạo. Việc này sẽ tạo áp lực về tài chính lên các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập, buộc các cơ sở giáo dục công lập phải bù đắp phần tài chính bị thiếu hụt bằng cách tăng học phí và tăng số lượng HSSV. Các chương trình quốc gia về cho vay HSSV sẽ góp phần làm tăng nguồn thu cho các cơ sở giáo dục; phân phối lại ngân quỹ quốc gia cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo; tạo tính tự chủ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập.

  • Đặc điểm cho vay HSSVCHCKK

Cho vay HSSVCHCKK không giống như cơ chế tín dụng thông thường mà nó chứa đựng các đặc điểm cơ bản sau:

  • Chương trình TDCS có tính xã hội hóa cao, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức, cá nhân.
  • Tổ chức tín dụng thực hiện cho vay đối với HSSVCHCKK được Nhà nước chỉ định hoặc do Nhà nước thành lập. Nhà nước hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ nguồn vốn để thực hiện cho vay nhằm thực hiện mục tiêu giúp HSSVCHCKK có nguồn tài chính để trang trải học phí và các chi phí có liên quan đến học tập của HSSV.
  • Đối tượng thu hưởng là HSSVCHCKK đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hoặc các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
  • Thủ tục và quy trình cho vay đơn giản, thuận tiện để HSSV có thể tiếp cận được với tín dụng ngân hàng một cách dễ dàng. HSSV không cần phải thế chấp tài sản để được vay vốn.

Rủi ro tín dụng trong cho vay HSSVCHCKK của NHCS

  1. Khái niệm RRTD trong cho vay HSSVCHCKK

Cũng giống như những hoạt động tín dụng khác, cho vay HSSVCHCKK cũng là một hoạt động tín dụng do đó nó cũng mang đầy đủ các tính chất của hoạt động tín dụng và rủi ro xảy ra là điều khó tránh khỏi. Từ khái niệm về rủi ro nói chung, ta có thể đưa ra khái niệm về RRTD cho vay HSSVCHCKK như sau: RRTD trong cho vay HSSVCHCKK là những tổn thất về mặt tài chính khi NHCS cho vay đối với các đối tượng HSSVCHCKK nhưng không thu được nợ gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn

  1. Nguyên nhân và hậu quả của RRTD trong cho vay HSSVCHCKK
  • Nguyên nhân của RRTD trong cho vay HSSVCHCKK
  • Nhóm nguyên nhân khách quan:
  • Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh xảy ra làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn, dẫn đến rủi ro làm mất một phần hoặc toàn bộ tài sản, công cụ, phương tiện …người vay vốn không thể khôi phục sản xuất kinh doanh hoặc có khôi phục được thì cũng cần một khoảng thời gian dài và các chính sách hỗ trợ khác của Nhà nước.
  • Nhà nước thay đổi chính sách làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng dẫn đến không còn nguồn cung cấp nguyên vật liệu; mặt hàng sản xuất, kinh doanh bị cấm…
  • HSSV bị mất năng lực hành vi dân sự; người vay vốn ốm đau thường xuyên, mắc bệnh tâm thần, có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt không nơi nương tựa; chết; mất tích hoặc bị tuyên bố là chết, mất tích không còn tài sản để trả nợ hoặc không có người thừa kế hoặc người thừa kế thực sự không có khả năng trả nợ thay cho khách hàng.
  • HSSV ra trường không tìm được việc làm hoặc có việc làm nhưng thu nhập thấp, không ổn định chỉ đủ để trang trải những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.
  • Nhóm nguyên nhân chủ quan:

+ Nguyên nhân từ phía khách hàng: Khách hàng không thực hiện đúng hợp đồng đã ký với ngân hàng trong khi những khách hàng vay vốn này có đầy đủ điều kiện để thực hiện nó. Trên thực tế có một số trường hợp thu nhập của gia đình các HSSV có khả năng trả nợ đầy đủ và đúng hạn cho NHCS nhưng các khách hàng này vẫn cố tình không trả nợ, trả lãi cho ngân hàng.

+ Những nguyên nhân từ công tác quản lý của NHCSXH: Chương trình cho vay HSSVCHCKK có sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành do đó các RRTD đối với chương trình tín dụng này có thể đến từ quy trình cho vay của NHCS, việc yếu kém trong việc quản lý nguồn vốn TDCS của chính quyền địa phương, và các đơn vị phối hợp thực hiện cho vay. Một số quy định về việc thu nợ, thu lãi, thoái lãi còn bất cập dễ dẫn đến những rủi ro trong hoạt động cho vay HSSVCHCKK

+ Một số nguyên nhân chủ quan khác cũng dẫn đến RRTD trong hoạt động cho vay HSSVCHCKK của NHCS là việc một số cá nhân cố tình vi phạm các quy định để chuộc lợi cá nhân như việc TCCTXH không được ủy thác thu nợ, thu lãi nhưng vẫn thu và không nộp cho NHCS, một số Tổ trưởng Tổ TK&VV thu nợ, thu lãi, thu tiền gửi tiết kiệm của khách hàng không nộp cho NHCS hoặc nộp nhưng không đầy đủ số tiền khách hàng đã gửi Tổ TK&VV để trả cho NHCS.

+ Công tác kiểm tra giám sát của NHCS, các cấp ủy chính quyền địa phương còn chưa chặt chẽ, chưa thương xuyên dẫn đến nhiều cá nhân lợi dụng chính sách để chuộc lợi.

  • Hậu quả của RRTD trong cho vay HSSVCHCKK

– RRTD do các nguyên nhân khách quan gây hậu quả tổn thất về mặt tài chính cho NHCS và nếu không có những biện pháp quản lý, kiểm soát và dự phòng những RRTD này thì khi xảy ra trên quy mô lớn sẽ dẫn đến những hậu quả hết sức nghiêm trọng trong hoạt động của NHCS. Những tổn thất về mặt tài chính mà cụ thể là NHCS không thu được đầy đủ tiền lãi, tiền gốc theo hợp đồng thì sẽ dẫn đến việc thu không đủ bủ đắp các chi phí quản lý, thất thoát vốn và tăng thêm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.

– RRTD xảy ra còn ảnh hưởng lớn đến chính sách của chính phủ vì hàng năm chính phủ đều giao chỉ tiêu cho NHCS trên cơ sở cân đối nguồn lực tài chính, tính toán khả năng thu hồi nợ cho vay quay vòng và các nguồn tài trợ khác để đưa ra quyết định bố trí vốn để NHCS thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi; khi rủi ro xảy ra, đặc biệt trên diện rộng thì NHCS không thu hồi được nợ gốc, cũng có nghĩa là lượng vốn cho vay quay vòng bị giảm mạnh và kế hoạch tín dụng bị phá vỡ, các đối tượng chính sách sẽ không được hưởng đầy đủ chính sách tín dụng của chính phủ do không đủ lượng vốn cần thiết đáp ứng nhu cầu vay vốn của các đối tượng này. Điều này cũng có thể làm giảm lòng tin của người dân đối với chính phủ khi một chính sách được ban hành nhưng không thực thi được hoặc thực thi nhưng không đầy đủ.

– RRTD sẽ làm làm giảm uy tín của ngân hàng: Khi NHCS có mức độ rủi ro cao thì điều này cũng dẫn đến tỷ lệ nợ xấu cao và NHCS sẽ mất uy tín với chính phủ và người dân. Chính phủ có thể sẽ xem xét lại các hoat động tín dụng do NHCS thực hiện, đánh giá hiệu quả việc cho vay các chương trình TDCS và xem xét có nên tiếp tục đầu tư vốn sang NHCS để cho vay nữa hay không. Điều này rất bất lợi cho hoạt động của NHCS và cả các đối tượng thụ hưởng chính sách.

– RRTD xảy ra do các nguyên nhân chủ quan nếu không được xử lý kịp thời và triệt để bằng nhiều biện pháp thì sẽ dẫn đến phản ứng dây truyền và ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của NHCS. Trên thực tế việc này vẫn thường xuyên xảy ra khi chính sách lãi suất của NHCS là khá thấp so với các NHTM, kể cả khi bị chuyển nợ quá hạn thì mức lãi suất này cũng chỉ xấp xỉ hoặc tương đương với lãi suất cho vay của các NHTM, chính vì vậy có nhiều trường hợp người vay có điều kiện nhưng vẫn không trả nợ gốc mà chấp nhận để nợ quá hạn.

KIỂM SOÁT RRTD TRONG CHO VAY HSSVCHCKK CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH

Khái niệm kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay HSSVCHCKK

Kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK của NHCS là việc NHCS sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và các chương trình hành động nhằm chủ động kiểm soát tần suất và mức độ RRTD trong cho vay HSSVCHCKK góp phần làm giảm tổn thất hay những ảnh hưởng bất lợi do RRTD gây ra trong cho vay HSSVCHCKK trong giới hạn mà NHCS hoạch định.

Đặc điểm kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay HSSVCHCKK

Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay có hiệu quả, việc nhận biết đặc điểm của kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay là rất cần thiết và hữu ích, với những đặc thù trong hoạt động tín dụng cho vay HSSVCHCKK của NHCS thì việc kiểm soát RRTD cũng có những đặc đểm riêng cần được nghiên cứu từ đó giúp hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK của NHCS được hiệu quả hơn, các đặc điểm cơ bản đó là:

  • Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay HSSVCHCKK của NHCSXH có tính chất phực tạp và đa dạng: Đặc điểm này thể hiện ở sự đa dạng và phức tạp trong nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng. Chương trình cho vay HSSVCHCKK của NHCS có phạm vi đối tượng cho vay rộng, thời gian cho vay dài và chủ yếu là các đối tượng yếu thế trong xã hội, do đó tiềm ẩn rất nhiều rủi ro
  • Quy mô cho vay nhỏ, số lượng khách hàng lớn dẫn đến việc kiểm soát rủi ro tín dụng sẽ khó khăn và mất nhiều thời gian.
  • Công tác đánh giá mức độ và khả năng rủi ro đối với từng khách hàng là rất khó khăn do phần lớn thu nhập để trả nợ phụ thuộc vào việc HSSV sau khi ra trường tìm kiếm việc làm và có thu nhập để trả nợ.
  • Không thể áp dụng một số nội dung trong hoạt động kiểm soát RRTD: Việc cho vay đối với HSSVCHCKK của NHCS là cho vay theo chỉ định, do đó chỉ cần đối tượng vay vốn đủ điều kiện thì đều được vay vốn mà không cần chú ý đến khả năng trả nợ của khách hàng. Đây là một đặc điểm riêng có trong hoạt động kiểm soát RRTD của NHCS nói chung và cho vay HSSVCHCKK của NHCS nói riêng.

Nội dung kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay HSSVCHCKK

Khác với hoạt động tín dụng của NHTM, hoạt động tín dụng của NHCS nói chung và hoạt động cho vay HSSVCHCKK có những đặc trưng riêng, và việc cho vay của NHCS là cho vay theo chỉ định do đó các nội dung kiểm soát RRTD của NHTM không thể áp dụng hết vào hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay HSSVCHCKK của NHCS mà chỉ có thể áp dụng một số nội dung cụ thể như sau:

+ Ngăn ngừa rủi ro: là việc NHCS loại bỏ những nguyên nhân phát sinh rủi ro nhằm ngăn ngừa khả năng xảy ra rủi ro đối với hoạt động cho vay HSSVCHCKK. Bằng biện pháp giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng tránh trường hợp khách hàng sử dụng vốn sai mục đích; phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan trong việc đôn đốc thu hồi nợ và lãi của khách hàng, thường xuyên phối hợp với nhà trường để nắm bắt tình hình học tập của HSSV, đặc biệt là HSSV sau khi ra trường thì ngân hàng cần nắm bắt tình hình việc làm của HSSV để thu hồi nợ.

+ Giảm thiểu rủi ro: Là việc NHCS sử dụng các biện pháp nhằm làm giảm mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra, mặc dù biện pháp này được đặt ra trước khi một rủi ro xuất hiện nhưng nó phát huy hiệu quả sau khi rủi ro đã xảy ra. Các biện pháp giảm thiểu tổn thất: nghiên cứu áp dụng quy trình cho vay chặt chẽ và phù hợp; áp dụng các điều khoản chặt chẽ trong hợp đồng tín dụng, trích lập dự phòng rủi ro v.v…

Một số nội dung kiểm soát RRTD của NHTM không thể áp dụng được vào hoạt động kiểm soát RRTD của NHCS đó là: Né tránh rủi ro, chuyển giao rủi ro và phân tán rủi ro. Nguyên nhân chính là NHCS cho vay theo chỉ định do đó ngân hàng không thể lựa chọn khách hàng để cho vay và cũng không được từ chối cho vay khi khách hàng nằm trong đối tượng thụ hưởng chính sách mặc dù cho vay các đối tượng này thì khả năng mất vốn là rất lớn. Việc chuyển giao rủi ro cũng không thực hiện được do các món vay của NHCS thường là những món vay có rủi ro cao, dư nợ cho vay thấp và các quy định của chính phủ làm cho việc chuyển giao rủi ro là không thể, các công ty bảo hiểm, người kinh doanh rủi ro cũng không tiếp cận được và việc sử dụng các công cụ phái sinh lại càng không khả thi…. Việc phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hóa các loại hình cho vay, không cho vay tập trung vào một ngành nghề, một khách hàng…cũng không thể thực hiện được với NHCS cũng bởi các ràng buộc về mặt quy định là NHCS cho vay theo chỉ định của chính phủ và các chủ đầu tư, do đó dù lĩnh vực, ngành nghề hay nhóm khách hàng đó có rủi ro cao thì NHCS vẫn phải thực hiện cho vay.

Các tiêu chí phản ánh kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay HSSVCHCKK

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE AN 2024\SAU BAO VE\Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay học sinh sinh viêncó hoàn cảnh khó khăn tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *