Hoàn thiện hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Trung tâm Sản xuất Thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung

Hoàn thiện hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Trung tâm Sản xuất Thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập của nền kinh tế thế giới, vai trò của chuỗi cung ứng rất quan trọng bởi vì các doanh nghiệp muốn cạnh tranh thành công thì không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà còn phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của mình nhằm đạt được hiệu quả tối ưu nhất.

Ngoài yếu tố vận hành một cách nhịp nhàng, có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng ở mức cao nhất thì vấn đề quản trị chuỗi cung ứng là một trong những yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Để kiểm soát và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thì việc quản trị chuỗi cung ứng là hết sức cần thiết cho Doanh nghiệp.

Việc chọn đề tài Quản trị chuỗi cung ứng vì đây là một lĩnh vực quan trọng và đang ngày càng được quan tâm trong quản trị doanh nghiệp. Quản trị chuỗi cung ứng không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm chi phí mà còn giúp cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ, tăng cường hiệu suất làm việc và nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

Ngoài ra, Doanh nghiệp thường đối diện với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, tăng cường cạnh tranh từ các đối thủ, nhu cầu thay đổi thị trường… Việc áp dụng các phương pháp quản trị chuỗi cung ứng sẽ giúp doanh nghiệp đối mặt và giải quyết những thách thức này một cách hiệu quả và linh hoạt. Đồng thời, cung cấp thông tin và dữ liệu quan trọng cho các quyết định chiến lược của doanh nghiệp. Việc hiểu rõ hoạt động của chuỗi cung ứng giúp các doanh nghiệp dự đoán và ứng phó hiệu quả với biến động trên thị trường.

Xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn nói trên, tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Trung tâm Sản xuất Thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung” làm đề tài luận văn thạc sỹ, với mong muốn từ nghiên cứu của đề tài có những giải pháp khả thi trong việc hoàn thiện chất lượng quản trị chuỗi cung ứng đáp ứng tốt hơn trong công tác sản xuất kinh doanh của Trung tâm tạo tiền đề vững chắc để phát triển trong thời gian đến.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu tổng quát: Làm rõ thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị chuỗi cung ứng trong sản xuất tại Trung tâm sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng trong sản xuất tại Trung tâm.

Mục tiêu cụ thể:

Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị chuỗi cung ứng.

Phân tích việc quản trị chuỗi cung ứng trong sản xuất tại Trung tâm.

Một số giải pháp gì được đề xuất nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng phục vụ sản xuất kinh doanh tại Trung tâm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Quản trị chuỗi cung ứng trong sản xuất tại Trung tâm sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung.

Phạm vi nghiên cứu: tại địa bàn hoạt đông của Trung tâm sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung và số liệu được tổng hợp từ năm 2021-2023.

Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể là phương pháp quan sát đối tượng nghiên cứu là chuỗi cung ứng sản phẩm/dịch vụ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Trung tâm sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung, trên cơ sở phân tích, diễn giải các nguồn dữ liệu thứ cấp là các dữ liệu thu thập từ các tài liệu báo cáo công khai, các bài báo về hoạt động kinh của Trung tâm trong thời gian từ 2021-2023 để đánh giá thực trạng việc quản trị chuỗi cung ứng trong sản xuất các sản phẩm\dịch vụ của Trung tâm. Những phân tích, đánh giá này là cơ sở khoa học cho việc đưa ra các giải pháp nhằm giảm tăng cưởng quản trị chuỗi cung ứng, giảm thiểu rủi ro.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện nhằm giúp Trung tâm hiểu rõ hơn về cấu trúc của quản trị chuỗi cung ứng trong sản xuất sản phẩm\dịch vụ của Trung tâm, cũng như những nhân tố chính ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng; và tìm ra cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chuỗi cung ứng thông qua các giải pháp nhằm tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm chi phí, cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ, tăng cường hiệu suất làm việc và nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

Kết quả nghiên cứu là nguồn thông tin đáng tin cậy cho Trung tâm đang trên đường tìm kiếm giải pháp nhằm giảm chi phí của chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực cạnh tranh cho Trung tâm.

Hoàn thiện hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Trung tâm Sản xuất Thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung
Hoàn thiện hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Trung tâm Sản xuất Thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung

Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1. Cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng và hoạt động quản trị chuỗi cung ứng.

Chương 2. Thực trạng hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Trung tâm sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung.

Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Trung tâm sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung.

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

\CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG

Khái niệm chuỗi cung ứng

Ngày nay, để thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào, các doanh nghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó. Bởi lẽ, khi doanh nghiệp muốn đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng, họ buộc phải quan tâm sâu sắc hơn tới dòng dịch chuyển của nguyên vật liệu, cách thức thiết kế, đóng gói sản phẩm, và dịch vụ của nhà cung cấp, cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm, và những mong đợi thực sự của người tiêu dùng, hoặc khách hàng cuối cùng. Cạnh tranh có tính toàn cầu ngày càng khốc liệt, chu kỳ sống của sản phẩm mới ngày càng ngắn hơn, mức độ kỳ vọng của khách hàng ngày càng cao hơn, đã thúc ép các doanh nghiệp phải đầu tư và tập trung nhiều hơn vào chuỗi cung ứng của mình. Thêm vào đó, những tiến bộ liên tục và đổi mới trong công nghệ truyền thông và vận tải, đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹ thuật để quản lý chuỗi cung ứng. Vậy, chuỗi cung ứng là gì?

Dựa trên các thành phần cơ bản trong cấu trúc của chuỗi cung ứng, các mối quan hệ trong chuỗi cung ứng. Trong nghiên cứu của luận văn, học viên trích lược một số định nghĩa chuỗi cung ứng nhằm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu của mình, bao gồm:

“Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến khách hàng” theo (Ganeshan và Harrison, 1995).

“Chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ ra thị trường” theo (Lambert và cộng sự, 1998).

“Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn gồm nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng” theo (Chopra và Meindl, 2007).

Như vậy, theo các định nghĩa và trích dẫn Học viên nghiên cứu thì chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua 4 hoạt động cơ bản: từ việc hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu, cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho đến sản xuất tạo thành phẩm và phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng với mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa các nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối, vận tải, nhà bán lẻ và khách hàng. Ngoài ra, trong một chuỗi cung ứng còn có sự luân chuyển của 3 dòng chảy chính đó là: dòng chảy hàng hóa, dòng chảy thông tin và dòng chảy tài chính. Một chuỗi cung ứng hoạt động tốt khi 3 dòng chảy trên vận hành một cách xuyên suốt, không bị gián đoạn.

Nội dung của Quản trị chuỗi cung ứng.

Để các hoạt động trong chuỗi cung ứng diễn ra một cách nhịp nhàng và hiệu quả, hoạt động quản trị chuỗi cung ứng rất cần thiết trong bất kỳ công đoạn nào của chuỗi.

Theo (Jeffrey, 2004) lập luận rằng “Quản trị chuỗi cung ứng đồng nghĩa với việc quản lý mọi hoạt động của chuỗi cung ứng”.

Theo (Hugos, 2006) cho rằng “Quản trị chuỗi cung ứng là việc phối hợp hoạt động sản xuất, lưu kho, địa điểm và vận tải giữa các thành viên của chuỗi cung ứng nhằm mang đến cho thị trường mà bạn đang phục vụ sự kết hợp tiện ích và hiệu quả nhất”.

Theo (Christopher, 2011, trang 3), “Quản lý chuỗi cung ứng là quản lý các mối quan hệ nhiều chiều giữa các nhà cung cấp và khách hàng nhằm phân phối đến khách hàng giá trị cao hơn với chi phí ít hơn trong toàn bộ chuỗi cung ứng”.

Theo (Đoàn Thị Hồng Vân và cộng sự, 2011) cho rằng, “Quản trị cung ứng là chuỗi hoạt động phức tạp nhằm quản lý mọi hoạt động của chuỗi cung ứng, trong đó tập trung đặc biệt vào quản trị các mối quan hệ giữa các bộ phận, các thành tố của chuỗi cung ứng nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động của tổ chức diễn ra liên tục, nhịp nhàng và hiệu quả. Nói cách khác, quản trị cung ứng là tổng hợp các hoạt động hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động cung ứng của đơn vị nhằm đạt mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”.

Trích lược một số quan điểm trên của các nhà nghiên cứu về quản trị chuỗi cung ứng. Quản trị chuỗi cung ứng có thể hiểu là tập hợp tất cả những phương thức sử dụng một cách tích hợp, hiệu quả nhà cung ứng, người sản xuất, kho bãi cũng như các cửa hàng để phân phối sản phẩm, hàng hóa được sản xuất tới đúng địa điểm, kịp thời, đảm bảo yêu cầu chất lượng giúp giảm thiểu tối đa chi phí toàn hệ thống nhưng vẫn đáp ứng được những yêu cầu về mức độ phục vụ. Ngoài ra, tập trung quản lý các mối quan hệ giữa các thành phần trong chuỗi cung ứng dựa trên 3 dòng chảy luân chuyển trong chuỗi là dòng hàng hóa, dòng thông tin và dòng tài chính.

Mô hình chuỗi cung ứng.

Mô hình tham chiếu hoạt động chuỗi cung ứng kết hợp các yếu tố trong qua trình thiết kế quy trình kinh doanh, các thước đo, xây dựng thương hiệu và tổ hợp các ứng dụng thành một cơ cấu duy nhất, quản trị chuỗi cung ứng được định nghĩa là các quy trình tích hợp: Hoạch định, đầu vào, sản xuất, đầu ra.

Hình 1.1: Mô tả Mô hình chuỗi cung ứng điển hình.

(Nguồn: Sandeep Jagdale, 2013)

Mô tả một Mô hình chuỗi cung ứng điển hình, chúng ta có thể hình dung các doanh nghiệp nằm ở khu vực giữa được xem như doanh nghiệp trung tâm. Thực tế, doanh nghiệp trung tâm không chỉ là doanh nghiệp lắp ráp sản phẩm cuối cùng, nó cũng có thể là bất cứ doanh nghiệp nào tham gia trong chuỗi cung ứng, tùy thuộc vào phạm vi tham chiếu và mục tiêu của nhà quản trị khi xem xét mô hình.

Cấu trúc chuỗi cung ứng

Theo (Michael Hugos, 2018) chuỗi cung ứng đơn giản nhất bao gồm: nhà cung cấp, doanh nghiệp, và khách hàng của doanh nghiệp. Đây là những thành phần cơ bản tạo nên một chuỗi cung ứng đơn giản.

Các chuỗi cung ứng mở rộng ngoài 3 thành phần cơ bản trên, còn thêm 3 thành phần nữa. Thứ nhất là nhà cung cấp của các nhà cung cấp, hay được gọi là nhà cung cấp đầu tiên, ở vị trí đầu tiên của chuỗi cung ứng mở rộng. Thứ hai là khách hàng của khách hàng, hay khách hàng cuối cùng, ở vị trí cuối cùng của chuỗi cung ứng mở rộng. Cuối cùng là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho những doanh nghiệp khác trong chuỗi cung ứng. Những doanh nghiệp này chuyên cung cấp các dịch vụ về: logistics, tài chính, marketing, và công nghệ thông tin.

A diagram of a flowchart  Description automatically generated

Hình 1.2: Cấu trúc chuỗi cung ứng.

(Nguồn:Michael Hugos,2018)

Chuỗi cung ứng chính là sự kết hợp của nhiều doanh nghiệp thực hiện những chức năng khác nhau. Các doanh nghiệp đó bao gồm: nhà sản xuất, nhà phân phối hay nhà bán buôn, nhà bán lẻ, những khách hàng cá nhân, hoặc khách hàng tổ chức. Hỗ trợ những doanh nghiệp này là các doanh nghiệp được biết đến với tên: nhà cung cấp dịch vụ.

Nhà sản xuất: là những tổ chức sản xuất sản phẩm, gồm: các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu, và các doanh nghiệp sản xuất thành phẩm. Các nhà sản xuất nguyên vật liệu như: khai thác khoáng sản, khoan tìm dầu khí, khai thác gỗ….và cũng bao gồm những tổ chức trồng trọt, chăn nuôi, hay đánh bắt thủy hải sản. Các nhà sản xuất thành phẩm tạo ra sản phẩm từ việc sử dụng nguyên vật liệu và các bộ phận lắp ráp được sản xuất ra từ các doanh nghiệp khác. Nhà sản xuất cũng có thể tạo ra các sản phẩm vô hình như: nhạc, các sản phẩm giải trí, phần mềm, hoặc các bản thiết kế. Hàng hóa cũng có thể là dịch vụ như: cắt cỏ, dọn về sinh văn phòng, tiến hành ca phẫu thuật, hoặc giảng dạy.

Nhà phân phối: là những doanh nghiệp tiến hành lưu kho một khối lượng hàng hóa từ nhà sản xuất, và phân phối chúng đến khách hàng. Nhà phân phối cũng được nhắc đến như nhà bán buôn. Về cơ bản, họ bán hàng với khối lượng lớn cho các chủ thể kinh doanh khác. Để hạn chế tác động xấu từ sự biến động nhu cầu hàng hóa, nhà phân phối thường lưu kho hàng hóa, rồi tiến hành các hoạt động bán hàng nhằm tìm kiếm, phục vụ khách hàng. Để làm thỏa mãn khách hàng, nhà phân phối thực hiện theo tiêu chí giao hàng đúng lúc, đúng địa điểm khách hàng mong muốn. Các nhà phân phối thường sở hữu phần lớn hàng hóa lưu kho mà họ mua từ nhà sản xuất rồi bán lại cho khách hàng. Bên cạnh việc xúc tiến bán hàng, nhà phân phối còn phải thực hiện các hoạt động khác như: quản lý tồn kho, lưu kho, vận chuyển hàng hóa, cũng như dịch vụ hỗ trợ khách hàng. Đôi khi, nhà phân phối chỉ là người môi giới sản phẩm giữa nhà sản xuất và khách hàng. Trong trường hợp này, họ không sở hữu hàng hóa, vì thế họ chủ yếu chỉ thực hiện việc xúc tiến bán hàng. Với cả hai trường hợp này, nhà phân phối luôn là cầu nối đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến những khách hàng có nhu cầu.

Nhà bán lẻ: lưu trữ và bán hàng với số lượng ít hơn đến khách hàng đại chúng. Họ cũng quan tâm nhiều đến sở thích và nhu cầu của khách hàng. Quảng cáo kết hợp với giá, lựa chọn sản phẩm, dịch vụ và sự thuận tiện là ưu thế hàng đầu nhằm thu hút khách hàng.

Khách hàng: hay người tiêu dùng là bất kỳ cá nhân, tổ chức mua và sử dụng sản phẩm. Khách hàng tổ chức có thể mua sản phẩm để kết hợp với một sản phẩm khác rồi bán chúng. Hoặc khách hàng có thể là người tiêu dùng cuối cùng, mua sản phẩm để tiêu dùng, sử dụng nó.

Nhà cung cấp dịch vụ: là những tổ chức cung cấp các dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phối, người bán lẻ, và khách hàng. Nhà cung cấp dịch vụ có kiến thức chuyên sâu, và các kỹ năng đặc biệt ở một hoạt động riêng biệt trong chuỗi cung ứng. Chính vì thế, họ có thể thực hiện những dịch vụ này hiệu quả hơn, với mức giá rẻ hơn so với việc chính các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, hay người tiêu dùng thực hiện. Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào, nhà cung cấp dịch vụ phổ biến nhất là cung cấp dịch vụ vận tải và dịch vụ kho hàng. Đây là các doanh nghiệp vận tải và doanh nghiệp kho hàng, thường được biết đến là nhà cung cấp logistics. Nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp các dịch vụ như cho vay, phân tích tín dụng và thu các khoản nợ đáo hạn. Đó chính là ngân hàng, doanh nghiệp định giá tín dụng và doanh nghiệp thu nợ. Một số nhà cung cấp thực hiện nghiên cứu thị trường, quảng cáo, thiết kế sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ pháp lý, và tư vấn quản lý. Trong khi những nhà cung cấp khác tiến hành các dịch vụ về công nghệ thông tin, thu thập dữ liệu. Tất cả các nhà cung cấp dịch vụ được kết hợp vào những hoạt động liên tục của nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, và khách hàng ở mức cao hoặc thấp trong chuỗi cung ứng.

Lợi ích của chuỗi cung ứng hiện nay:

Thứ nhất, Chuỗi cung ứng giúp giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường sức cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong chuỗi cung ứng, toàn bộ quá trình hoạt động từ nguyên liệu đầu vào đến thành phẩm đầu ra để cung cấp cho người tiêu dùng là cả một quá trình mà ở đó buộc doanh nghiệp phải lựa chọn khắt khe từ nhà cung cấp nguyên vật liệu đến các nhà phân phối, nhà vận chuyển với chi phí thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo tối ưu hóa về chất lượng, tối thiểu hóa khoảng cách, vị trí và thời gian. Chuỗi cung ứng cung cấp giải pháp tồn kho an toàn trên cơ sở chia sẻ thông tin trong toàn chuỗi giúp doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm và góp phần nâng cao lợi nhuận.

Thứ hai, Chuỗi cung ứng giúp doanh nghiệp kiểm soát đầu ra của hàng hóa/ dịch vụ tốt hơn, tăng tính chủ động và sự phản ứng linh hoạt của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh. Việc đầu tư hệ thống công nghệ thông tin trong xây dựng chuỗi cung ứng không những giúp doanh nghiệp giảm chi phí mà còn thắt chặt mối quan hệ với đối tác, khách hàng và hợp tác với nhau trên cả hai phương diện mua bán và chia sẻ thông tin lẫn nhau.

Thứ ba, Kết nối các mắt xích của chuỗi lại với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng cuối cùng một cách tốt nhất và đồng thời tối đa hóa giá trị cho toàn hệ thống chuỗi. Với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, không một doanh nghiệp nào có thể tự mình thực hiện tất cả các quá trình từ đầu vào cho đến đầu ra vì nếu làm như vậy sẽ tốn kém thời gian và tiền bạc, dẫn đến hiệu quả không cao. Chính việc liên kết chặt chẽ giữa các mắt xích đã giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và quy trình làm việc được suôn sẻ.

Thứ tư, Chuỗi cung ứng góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng. Các doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh ở quy mô sản phẩm hay dịch vụ mà họ còn biết tập trung vào việc tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng. Bằng cách tương tác với khách hàng, theo dõi nhu cầu cũng như mong muốn của họ, các doanh nghiệp có thể tìm cách cải thiện hiệu suất chất lượng dịch vụ và sản phẩm của chính mình. Lấy khách hàng làm trung tâm có thể thúc đẩy tăng trưởng lâu dài và cùng có lợi cho cả doanh nghiệp và người mua hàng.

QUY TRÌNH QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG

Theo (Michael Hugos, 2003) quy trình quản trị chuỗi cung ứng hoạt động nhờ 4 yếu tố, gồm: Lập kế hoạch, tìm nguồn cung ứng, sản xuất, và phân phối.

Lập kế hoạch

Quản trị tồn kho

Tồn kho là số lượng hàng hóa có sẵn trong kho. Hàng tồn kho có thể là nguyên vật liệu, thành phẩm, và đôi khi là bán thành phẩm. Nguyên nhân xuất hiện hàng tồn kho là: thứ nhất và quan trọng nhất đó là đảm bảo tính không chắc chắn do sự thay đổi nhu cầu hoặc khan hiếm nguồn cung. Thứ hai, lưu trữ hàng hóa để tránh hàng lỗi. Thứ ba, tồn kho cũng là phương pháp để ổn định sản xuất. Ví dụ, nhu cầu về quần áo rét vào mùa đông tăng mạnh, để đáp ứng được nhu cầu, quần áo rét sẽ được sản xuất quanh năm và lưu kho. Phương pháp này được sử dụng trong việc sản xuất rất nhiều sản phẩm mùa vụ, cũng như trong việc sản xuất mặt hàng công nghệ đắt tiền, nhằm để tái đầu tư hiệu quả. Thứ tư, hàng được lưu kho nhằm mục đích dự phòng: ví dụ, khi ra đời một sản phẩm đột phá như iPhone, nhu cầu về sản phẩm thường chưa xuất hiện, nên rất khó dự đoán. Vì thế, doanh nghiệp Apple sẽ quyết định sản xuất một lượng sản phẩm để dự phòng trước khi tung sản phẩm ra thị trường, nhằm đảm bảo đủ hàng khi nhu cầu tăng vọt. Cuối cùng, tồn kho là phương pháp để cân bằng cung và cầu.

Các dạng tồn kho: Có nhiều dạng tồn kho, nhưng 2 dạng cần chú ý nhất trong quản trị tồn kho đó là: tồn kho chu kỳ và tồn kho an toàn.

Tồn kho chu kỳ: là lượng hàng tồn kho cần thiết để đáp ứng nhu cầu về hàng hóa đó trong khoảng thời gian giữa các lần đặt hàng. Tồn kho chu kỳ hiệu quả vì tính kinh tế theo quy mô. Các doanh nghiệp thích đặt một số lượng lớn hàng hóa trong một vài lần hơn là liên tục đặt các đơn hàng với số lượng nhỏ. Tồn kho chu kỳ làm gia tăng hàng tồn kho trong chuỗi cung ứng, vì trên thực tế các doanh nghiệp luôn sản xuất và lưu kho hàng hóa với số lượng lớn hơn nhu cầu hiện tại của hàng hóa đó.

Tồn kho an toàn: là phương pháp để bảo hiểm tính không chắc chắn luôn tồn tại trong chuỗi cung ứng. Các nhà bán lẻ và nhà phân phối để tránh tình trạng hết hàng do nhu cầu tăng mạnh của khách hàng hoặc do chậm trễ nguồn cung, họ luôn lưu trữ một lượng hàng. Thường thì mức độ không chắc chắn càng cao, tồn kho an toàn càng lớn. Tồn kho an toàn của một loại sản phẩm là số lượng lưu kho sản phẩm đó tại thời điểm nhập thêm lô hàng mới cùng chủng loại. Điều này cho thấy, lượng hàng tồn kho an toàn không đổi, và vì thế nó là một loại tài sản cố định của doanh nghiệp.

Giảm tồn kho: Có nhiều cách để giảm hàng tồn kho. Đặt hàng thường xuyên hơn để làm giảm lượng hàng tồn kho chu kỳ, ví dụ, thay bằng đặt hàng một tháng một lần, ta đặt hàng một tuần một lần. Tương tự, để giảm lượng hàng tồn kho an toàn, thường có 4 phương pháp sau:

  • Giảm thời gian thực hiện đơn hàng.
  • Giảm tính không chắc chắn của nhà cung ứng.
  • Giảm sai số trong các dự báo cầu.
  • Giảm mức độ dịch vụ.

Rút ngắn thời gian thực hiện đơn hàng của nhà cung cấp, ví dụ giảm từ 4 ngày xuống 1 ngày, thì số lượng hàng tồn kho an toàn để đảm bảo nguồn cung sẽ ít đi. Tương tự, khi các nhà cung cấp trở nên đáng tin cậy hơn, tồn kho an toàn cũng giảm đáng kể. Tiếp theo, việc giảm sai số trong các dự báo làm hạn chế tính không chắc chắn về nhu cầu; kết quả làm giảm mức hàng hóa cần lưu trữ. Cuối cùng, việc giảm các mức độ dịch vụ sẽ tác động tích cực đến lượng hàng tồn kho. Giảm mức độ dịch vụ tức là giảm tính sẵn sàng của sản phẩm. Nếu thỏa thuận này được khách hàng chấp thuận, doanh nghiệp sẽ cải thiện đáng kể lượng hàng tồn kho an toàn phải nắm giữ.

Lên kế hoạch cung và cầu

Nhận dạng và phân loại nhu cầu của thị trường giúp kế hoạch tập trung nguồn lực vào những mặt hàng có tiềm năng, dự báo nhu cầu sản phẩm đó chính xác, và quản trị tồn kho hiệu quả, cơ bản có 4 phương pháp được sử dụng trong việc dự báo nhu cầu:

  • Phương pháp định tính: dựa vào trực giác, khả năng quan sát hay ý kiến chủ quan về thị trường. Phương pháp này thường được sử dụng khi có rất ít dữ liệu quá khứ để tiến hành dự báo. Khi có một dòng sản phẩm mới tung ra thị trường, doanh nghiệp có thể dự báo dựa vào việc so sánh với các sản phẩm khác, hoặc với các tình huống mà doanh nghiệp cho rằng có sự giống nhau.
  • Phương pháp nhân quả: giả thiết rằng nhu cầu có liên quan mạnh đến các yếu tố thị trường. Ví dụ, nhu cầu vay vốn có liên quan mạnh đến tỉ lệ lãi suất.
  • Phương pháp dãy thời gian: sử dụng các số liệu quá khứ để dự báo nhu cầu tương lai. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả khi các dữ liệu quá khứ là đáng tin cậy.
  • Phương pháp mô phỏng sử dụng kết hợp giữa phương pháp nhân quả và phương pháp dãy thời gian để mô phỏng hành vi của người tiêu dùng trong các hoàn cảnh khác nhau.

Tìm nguồn cung ứng

Trong hoạt động tìm nguồn cung ứng, có 4 hoạt động chính: mua hàng, lựa chọn nhà cung cấp, thương lượng hợp đồng, và quản lý hợp đồng.

Mua hàng

Theo (Wisner, Tan, Leong, 2009, trang 39) mua hàng được hiểu là hành động trao đổi tiền hoặc tương đương tiền để có được hàng hóa, tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, dịch vụ; hoặc được cung cấp dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa, điều hành.

Khi quyết định mua hàng thì bộ phận cung ứng phát bản chào hàng, liên hệ với nhà cung cấp và cuối cùng là đặt hàng. Giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp, có nhiều hoạt động tương tác trong quá trình mua hàng như: danh mục sản phẩm, số lượng đơn đặt hàng, giá cả, phương thức vận chuyển, ngày giao hàng, địa chỉ giao hàng và các điều khoản thành toán.

Lựa chọn nhà cung cấp

Lựa chọn nhà cung cấp là quá trình liên tục để xác định khả năng cung ứng cần có của nhà cung cấp nhằm hỗ trợ cho kế hoạch kinh doanh cũng như mô hình hoạt động của doanh nghiệp. Khả năng cung ứng của nhà cung cấp sẽ được đánh giá dựa vào: mức giá của sản phẩm, chất lượng sản phẩm, mức độ dịch vụ, khả năng giao hàng đúng thời hạn, và các hỗ trợ công nghệ. Một khi doanh nghiệp xác định rõ được nhu cầu về sản phẩm cũng như những yêu cầu khác đối với nhà cung ứng, doanh nghiệp có thể tìm kiếm được người cung cấp đáp ứng tốt nhất những yêu cầu đó. Một nguyên tắc chung là doanh nghiệp luôn phải thu hẹp dần số lượng nhà cung cấp để lựa chọn đối tác phù hợp. Đây chính là đòn bẩy quyết định quyền lực của người mua với nhà cung cấp để có được mức giá tốt nhất khi mua sản phẩm khối lượng lớn.

Thương lượng và ký kết hợp đồng

Khi phát sinh nhu cầu kinh doanh cụ thể, hợp đồng sẽ được đàm phán riêng với từng nhà cung cấp có tên trong bản danh sách các nhà cung cấp được lựa chọn. Trong quá trình đàm phán, các điều khoản cụ thể về hàng hóa, giá cả, và mức độ dịch vụ sẽ được giải quyết. Việc đàm phán giữa hai bên phải được thực hiện trên cơ sở cân bằng giữa đơn giá của sản phẩm với các dịch vụ làm gia tăng giá trị khác. Các dịch vụ này có thể được trả dựa vào mức chênh lệch so với đơn giá, hoặc được thanh toán riêng, hay cũng có thể kết hợp cả hai hình thức. Các điều khoản về việc thực hiện hợp đồng phải được quy định rõ ràng, cũng như những điều khoản phạt, và các mức phí phạt nếu việc thực hiện không đúng như quy định. Bên cạnh đó, các nhà cung cấp cần thiết phải thiết lập cho mình những năng lực chung. Để hoạt động mua hàng hiệu quả, nhà cung cấp phải có khả năng kết nối dữ liệu điện tử nhằm mục đích nhận các đơn đặt hàng, gửi thông báo giao hàng, gửi hóa đơn, và nhận thanh toán.

Quản lý hợp đồng

Khi hợp đồng được ký kết, việc thực hiện hợp đồng của nhà cung cấp cần được đo lường và giám sát. Do các doanh nghiệp thường chỉ lựa chọn một số nhà cung cấp, nên hoạt động của mỗi nhà cung cấp được lựa chọn có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Khi đó, một nhà cung cấp có thể là nguồn cung duy nhất cho một loại hàng hóa của doanh nghiệp, vì thế nếu nhà cung cấp đó không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như trong hợp đồng thì những hoạt động phụ thuộc vào loại hàng hóa đó của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng. Công ty cần có khả năng đánh giá hiệu quả hoạt động nhà cung cấp và kiểm soát mức đáp ứng dịch vụ cung ứng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Tương tự như quản lý kênh tiêu thụ, nhân viên trong doanh nghiệp phải thường xuyên thu thập dữ liệu về tính hiệu quả của nhà cung cấp.

Thông thường, bản thân nhà cung cấp luôn có khả năng giám sát các hoạt động của mình. Họ có khả năng phản ứng nhanh trước những vấn đề phát sinh để giữ hợp đồng.

Sản xuất

Nghiên cứu thiết kế sản phẩm

Việc thiết kế và lựa chọn các yếu tố cần thiết để sản xuất ra sản phẩm dựa trên tính năng yêu cầu và công nghệ sẵn có. Khi xem xét thiết kế sản phẩm trên quan điểm chuỗi cung ứng, mục tiêu là nhằm thiết kế những sản phẩm đơn giản hơn, có ít bộ phận cấu thành hơn, và có tính chất mô hình hóa từ tổ hợp nhiều đơn vị cấu thành riêng lẻ. Bằng cách này, các bộ phận có thể được cung cấp từ một nhóm nhỏ các nhà cung cấp. Và hàng tồn kho được lưu trữ dưới dạng các bộ phận riêng lẻ ở một vị trí thích hợp trong chuỗi cung ứng, nên doanh nghiệp không cần nắm giữ khối lượng lớn thành phẩm. Sản phẩm càng linh hoạt, tính đáp ứng cao, và đạt hiệu quả chi phí thì khả năng thành công của sản phẩm trong thị trường càng cao. Thiết kế sản phẩm xác định hình dạng của chuỗi cung ứng, và điều này có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí và tính sẵn có của sản phẩm. Một khi một sản phẩm có sự kết hợp của 3 yếu tố: thiết kế, cung ứng, và sản xuất, thì sản phẩm ấy có được cơ hội rất lớn để thành công và tạo ra lợi nhuận.

Lập kế hoạch sản xuất

Là phân bổ những nguồn lực sẵn có (thiết bị, lao động, nhà máy) cho việc sản xuất các sản phẩm nhằm sử dụng các nguồn lực đó một cách hiệu quả nhất, và tạo ra lợi nhuận. Hoạt động lập kế hoạch sản xuất là một quá trình nhằm tìm ra sự cân bằng giữa các mục tiêu:

  • Mức sử dụng cao: sản xuất trong dài hạn, tập trung hóa sản xuất và các trung tâm phân phối nhằm đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô.
  • Mức tồn kho thấp: chia nhỏ sản xuất, giao nguyên vật liệu đúng lúc nhằm tối thiểu hóa tài sản và dòng tiền mặt bị ứ đọng trong hàng tồn kho.
  • Dịch vụ khách hàng ở mức cao: hàng tồn kho được giữ ở mức cao nhằm tăng khả năng đáp ứng khách hàng, tránh tình trạng hết hàng.

Các bước trong quá trình lập kế hoạch sản xuất gồm: thứ nhất, xác định quy mô kinh tế cho việc sản xuất sản phẩm. Quyết định quy mô kinh tế là việc cân đối giữa chi phí sản xuất sản phẩm với chi phí lưu giữ hàng tồn kho. Cụ thể, sản xuất thường xuyên với khối lượng nhỏ, giảm chi phí tồn kho nhưng gia tăng chi phí sản xuất và ngược lại. Thứ hai, xác định số lần sản xuất cho sản phẩm dựa vào thời gian sử dụng hàng tồn kho tối đa (là số ngày hay tuần doanh nghiệp sẽ dùng hết sản phẩm tồn kho để đáp ứng nhu cầu phát sinh).

Phân phối

Quản lý đơn hàng trong phân phối

Quản lý đơn hàng là quá trình truyền thông tin phản hồi của khách hàng thông qua chuỗi cung ứng từ nhà bán lẻ đến nhà phân phối, đến những nhà cung cấp dịch vụ, và nhà sản xuất. Quá trình này cũng đồng thời truyền tải thông tin về ngày giao hàng, sản phẩm thay thế và những đơn hàng thực hiện trước đó của khách hàng. Quản lý đơn hàng hiện đại tập trung vào những kỹ thuật có thể giúp dòng dữ liệu liên quan đến đơn hàng diễn ra nhanh hơn và hiệu quả hơn. Trong quá trình quản lý đơn hàng cũng cần xử lý một số trường hợp ngoại lệ, từ đó đưa ra cách nhận diện vấn đề nhanh chóng và quyết định đúng đắn hơn. Điều này có nghĩa là quá trình quản lý đơn hàng hàng ngày nên tự động hóa và có những đơn hàng đòi hỏi quá trình xử lý đặc biệt do nhầm lẫn ngày giao hàng, yêu cầu của khách hàng thay đổi … Với những yêu cầu như vậy, quản lý đơn hàng thường bắt đầu bằng sự kết hợp chồng chéo chức năng của bộ phận tiếp thị và bán hàng, được gọi là quản lý mối quan hệ khách hàng. Có một số nguyên tắc cơ bản được liệt kê dưới đây có thể giúp quá trình quản lý đơn hàng hiệu quả:

  • Nhập dữ liệu cho một đơn hàng: nhập một và chỉ một lần.
  • Tự động hóa trong xử lý đơn hàng.
  • Đơn hàng luôn ở trạng thái sẵn sàng phục vụ khách hàng.
  • Tích hợp hệ thống đặt hàng với các hệ thống liên quan khác để duy trì tính toàn vẹn dữ liệu.

Kế hoạch phân phối

  • Phân phối trực tiếp: Phân phối trực tiếp là quá trình phân phối từ một địa điểm gốc đến một địa điểm nhận hàng. Với phương thức này, đơn giản nhất là lựa chọn lộ trình vận tải ngắn nhất giữa hai địa điểm. Kế hoạch phân phối gồm những quyết định về số lượng và số lần giao hàng cho mỗi địa điểm. Thuận lợi trong mô hình này là hoạt động đơn giản và có sự kết hợp phân phối. Phương pháp này vận chuyển sản phẩm trực tiếp từ một địa điểm sản phẩm được sản xuất/tồn kho đến một địa điểm sản phẩm được sử dụng. Nó cắt giảm hoạt động trung gian thông qua vận chuyển những đơn hàng nhỏ đến một điểm tập trung, sau đó kết hợp thành một đơn hàng lớn hơn để phân phối đồng thời.
  • Phân phối theo lộ trình đã định: Phân phối theo lộ trình đã định là phân phối sản phẩm từ một địa điểm gốc đến nhiều địa điểm nhận hàng, hay phân phối sản phẩm từ nhiều địa điểm gốc đến một địa điểm nhận hàng. Kế hoạch phân phối theo lộ trình đã định phức tạp hơn so với phân phối trực tiếp. Kế hoạch này cần quyết định về số lượng phân phối các sản phẩm khác nhau; số lần phân phối. . . và điều quan trọng nhất là lộ trình phân phối và hoạt động bốc dỡ khi giao hàng. Điểm thuận lợi của phương pháp phân phối theo theo lộ trình đã định là sử dụng hiệu quả các phương tiện vận chuyển sử dụng và chi phí nhận hàng thấp do địa điểm nhận hàng ít và khối lượng giao hàng nhiều hơn.

Nguồn phân phối

Việc phân phối sản phẩm đến khách hàng được thực hiện từ hai nguồn: địa điểm lẻ, và trung tâm phân phối. Địa điểm lẻ như nhà máy, nhà kho. . . , là những nơi có một loại sản phẩm hay có danh mục một vài sản phẩm có liên quan với nhau đang sẵn sàng để phân phối. Các địa điểm lẻ được sử dụng khi nhu cầu về sản phẩm ở mức cao và có thể dự báo, đồng thời chúng có vị trí thuận tiện cho việc giao hàng thẳng tới khách hàng với khối lượng lớn. Trung tâm phân phối là nơi tồn trữ, xuất- nhập khối lượng lớn sản phẩm bằng phương tiện vận chuyển có tải trọng lớn đến từ nhiều địa điểm khác nhau. Khi vị trí nhà cung cấp xa khách hàng thì việc sử dụng trung tâm phân phối có tính kinh tế cao do rút ngắn khoảng cách vận chuyển, và tồn trữ khối lượng lớn sản phẩm gần địa điểm với khách hàng, người sử dụng cuối.

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG

Quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management – SCM) là sự phối hợp hoạt động sản xuất, kho, vận chuyển,… giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng một cách trôi chảy, nhịp nhàng và hiệu quả các nhu cầu của thị trường.

Một chuỗi cung ứng được coi là hiệu quả khi thỏa mãn các yếu tố sau:

– Phù hợp với chiến lược, mục tiêu kinh doanh của công ty. Một chuỗi cung ứng hiệu quả cần gắn liền và phù hợp với chiến lược của công ty trong từng giai đoạn, phù hợp với các yếu tố về nguồn lực, thị trường, thế mạnh của công ty

– Kết hợp với nhu cầu của khách hàng: Với một chuỗi cung ứng hiệu quả, doanh nghiệp có thể tạo ra các sản phẩm phù hợp với các phân khúc thị trường, cung cấp hàng hóa/sản phẩm chất lượng một cách kịp thời tới khách hàng.

– Kết hợp với vị thế của công ty: Công ty hiện tại đang ở vị thế nào, là thương hiệu mạnh, nổi tiếng hay không, quy mô ra sao. Từng vị thế lại có từng lựa chọn về nhà cung cấp cũng như khách hàng khác nhau.

– Thích nghi với sự thay đổi: Trong chuỗi cung ứng, các bên sẽ trao đổi thông tin qua lại lẫn nhau về tình hình thị trường, khách hàng. Chính vì thế, khi quản lý được chuỗi cung ứng một cách hiệu quả, doanh nghiệp có thể đưa ra những quyết định thay đổi kịp thời, phù hợp với tình hình thị trường, đối thủ, cạnh tranh,…

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI TRUNG TÂM SẢN XUẤT THIẾT BỊ ĐO ĐIỆN TỬ ĐIỆN LỰC MIỀN TRUNG

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TRUNG TÂM SẢN XUẤT THIẾT BỊ ĐO ĐIỆN TỬ ĐIỆN LỰC MIỀN TRUNG

Thông tin khái quát

Tên đầy đủ tiếng Việt:Trung tâm sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung – Chi nhánh Tổng công ty Điện lực miền Trung (CPCEMEC)
Tên giao dịch quốc tế:Central Power Electronic Measurement Equipment Manufacturing Center
Trụ sở chính:552 Trưng Nữ Vương, phường Hòa Thuận Tây,

quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Xưởng sản xuất điện tử:Đường số 5, KCN Hòa Cầm, Q. Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng
Điện thoại:0236.2488777
Website::https://emec.cpc.vn

Trung tâm sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung là đơn vị chuyên nghiên cứu, thiết kế, sản xuất công tơ và các thiết bị điện tử; cung cấp các giải pháp thu thập số liệu tự động và điều khiển thiết bị từ xa phục vụ kinh doanh điện năng, hướng đến xây dựng và phát triển lưới điện thông minh tại Việt Nam theo lộ trình được Chính phủ và EVN phê duyệt.

Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm:

Trung tâm sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung (CPCEMEC) được thành lập vào tháng 6/2015 theo quyết định số 3899/QĐ-EVNCPC ngày 11/6/2015 do Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Trung ban hành. CPCEMEC tiền thân là Trung tâm Máy tính trực thuộc Công ty Điện lực 3 từ năm 1994 và qua nhiều lần đổi tên và điều chỉnh chức năng nhiệm vụ, (2005: Trung tâm Viễn thông và Công nghệ thông tin; 2010: Công ty Viễn thông và Công nghệ thông tin Điện lực miền Trung; 2012: Công ty Công nghệ thông tin Điện lực miền Trung) đến nay CPCEMEC đã hoạt động được hơn 8 năm.

Xem thêm tại hình 2.1: Quá trình phát triển của CPCEMEC.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE AN 2024\SAU BAO VE\Hoàn thiện hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Trung tâm sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *