Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội

Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội

Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014, VKS có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013, Viện trưởng VKSND tối cao đã yêu cầu từng cán bộ, công chức ngành Kiểm sát khi thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động tố

tụng hình sự phải tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, phải gắn công tố với hoạt động điều tra nhằm tăng hiệu quả của hoạt động điều tra; các Kiểm sát viên phải phối hợp, cùng bắt tay vào tiến hành các hoạt động cùng với Điều tra viên nhằm nhanh chóng, kịp thời khám phá, thu thập chứng cứ, xửlý vụán, đápứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên trên thực tế, không phải trong mọi trường hợp điều tra vụ án hình sự đều được tiến hành một cách thuận lợi từ khi phát hiện tội phạm, khởi tố vụ án, khởi tố bị can đến khi kết thúc điều tra, đềnghị truy tố. Trong quá trình điều tra, khi có căn cứđược quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổsung năm 2021) (sau đây gọi là BLTTHS năm 2015), CQĐT sẽ ra quyết định tạm đình chỉ điều tra và gửi quyết định này cho VKS cùng cấp. VKS có trách nhiệm kiểm tra, xem xét nhằm đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp trong việc quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT.

Trong những năm qua, việc theo dõi, quản lý, giải quyết các vụ án tạm đình chỉ của VKSND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả tích cực. VKSND quận Cầu Giấy đã thực hiện một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát án tạm đình chỉ điều tra, để việc phân loại, xử lý án tạm đình chỉ điều tra được kịp thời và thường xuyên, góp phần đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân và điều kiện khách quan, chủ quan nên việc xử lý án tạm đình chỉ điều tra trênđịa bàn quận đến nay vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc nhất định. Điển hình nhưtrong một số vụ án, VKS đã không kịp thời phát hiện vi phạm của CQĐT trong việc tạm đình chỉ điều tra để yêu cầu khắc phục, dẫn tới CQĐT khônghủy bỏ quyết định tạm đình chỉđiều tra đểphục hồi điều tra hoặc VKS không kịp thời hủy bỏ quyết định tạm định chỉkhông đúng căn cứ. Bên cạnh đó,vẫncònsốlượngkhông nhỏcác vụ án tạm đình chỉ điều tra trên địa bàn quận Cầu Giấy tồn đọng nhiều qua các năm, phần lớn là những vụ án chưa xác định được bị can dẫn đến việc tạm đình chỉkéo dài nhiều năm, mặc dù đã hếtthời hiệu truy cứutrách nhiệm hình sựnhưng VKS không có biện pháp yêu cầu CQĐT giải quyết dứt điểm. Ngoài ra đây cũng là vấn đề rất nóng mà dư luận xã hội quan tâm.

Đểnhận thức đúng vềtầm quan trọng trong việc kiểm sát án tạm đình chỉđiều tra trong lĩnh vựchình sự, đánh giá đầyđủnhững hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn địa phương, từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị phù hợp để thực hiện cóhiệu quả công tác kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tác giả đã lựa chọn đề tài “Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp của mình.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ một cách có hệthống về mặt lý luận những nội dung cơ bản của kiểm sát tạm đình chỉ điều travụán hình sự, các quy định của pháp luật tốtụng hìnhsựViệt Nam có liên quan và việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn từ địa bàn quận Cầu Giấy, thành phốHà Nội, chỉra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc này trong hoạt động kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, việc nghiên cứu luận văn nhằm đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quảkiểm sát việc tạm đình chỉđiều tra vụán hình sựtrên địa bàn quận Cầu Giấy trong thời gian tới.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

– Giải quyết một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụán hình sự như khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa.

– Phân tích những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

– Khái quát tình hình và đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội trong thời hạn 04 năm (từ năm 2019 đến năm 2022),đồngthời, phân tích, làm rõ những nguyên nhân làm phát sinh những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn.

– Đưa ra những yêu cầu và những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quảkiểm sát việc tạm đình chỉ điều travụ ánhình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một sốvấn đềlý luận, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam liên quan đến về kiểm sát việc tạm đình chỉđiều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam hiện hành, trong đó có BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), các vănbản hướng dẫnthi hành và các văn bản pháp luật khác có liên quan và thực tiễn hoạt động kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự của cơ quan điều tra trên địa bàn quận Cầu Giấy, trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2022.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng HồChí Minhvềnhà nước và pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, vềchính sách hình sự, về cải cách tư pháp.

Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của khoa luật luật tốtụng hình sựnhư: Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh…

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn có những đóng góp mới và có ý nghĩa trên cả hai phương diện khoa học và thực tiễn:

Về phương diện khoa học:

Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu vềkiểm sát việc tạm đình chỉđiều tra vụán hình sựmột cách toàn diện, có hệthống trên cơ sởnhững tài liệu tham khảo cũng như những kinh nghiệm thực tiễn tích luỹ được trong quá trình học tập và công tác. Luận văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, những quy định của BLTTHS về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, qua đó, đưa ra được những đóng góp hoàn thiện về mặt pháp luật.

Về phương diện thực tiễn:

Luận văn đã chỉ ra một số khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong công tác áp dụng pháp luật liên quan đến kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, từđó, đưa ra một sốgiải pháp nâng cao chất lượng công tác này củaKiểm sát viên trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự. Bên cạnh đó, luận văn còn là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích trong nghiên cứu khoa học. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các VKS, CQĐT, Toà án trong quá trình áp dụng vàthực thi pháp luật.

7. Bố cục của đề tài

Xuất phát từ nội dung, yêu cầu của luận văn, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương lớn như sau:

Chương I: Một số vấn đề chung về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự.

Chương II: Thực tiễn kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trênđịa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Chương III: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Chương I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ

ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm, đặc điểm về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự1.1.1. Khái niệm, căn cứ tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

1.1.1.1. Khái niệm tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Theo quy định của BLTTHS, điều tra vụ án là giai đoạn thứ hai của tố tụng hình sự, trongđócơ quan có thẩm quyền căn cứ các quyđịnhcủa pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụán nhằm phát hiện kịp thời hành vi phạm tội vàngười thực hiện hành vi phạm tội đểtruy cứu trách nhiệm hình sự,làm cơ sởcho việc giải quyết đúng đắn vụ án [9, tr. 36]. Giai đoạn điều tra giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự. Trên cơ sở kết quả điều tra, CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra trong trường hợp có căn cứ do pháp luật quy định. Kết quả điều tra là cơ sở đểVKS quyết định truy tố bị can trước Tòa án hoặc quyết định khác để giải quyết vụán, từ đó, tạo cơ sở để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Không có kết quả điều tra của giai đoạn điều tra, VKS sẽ không thể truy tố, Tòa án không thể xét xử vụ án và vụ án không thể được giải quyết một cách xác đáng.

Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợpđiều tra vụán đều được tiến hành một cách thuận lợi từ khi phát hiện tội phạm đến khi kết thúc điều tra, đề nghịtruy tố. Trong quá trình điều tra, có thểdo nhiều yếu tốkhác nhau dẫn đến việc chưa có đủcăn cứxác định hành vi phạm tội của bịcan. Vì vậy, BLTTHS năm 2015 quy định trong một sốtrường hợp khi có căn cứnhất định, CQĐT có thểra quyết định tạm đình chỉ điều trađể đảm bảo quyền vàlợi ích hợp pháp của người bịnghi thực hiện tội phạm. Việc ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đúng căn cứ pháp luật góp phần đảm bảo quá trình giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.

8

Từđiển tiếng Việt không có khái niệm vềthuật ngữ“tạm đình chỉ” vì bản chất của thuật ngữ nàyđược ghép từ hai cụm từ “tạm” (tạm thời) và“đình chỉ” [4, tr. 9-13]. “Tạm” có nghĩa là “trong một khoảng thời gian nào đó”, còn “đình chỉ” cóthểhiểu là “ngừnglại trong một khoảng thời gian hay ngừng lại vĩnh viễn”.Nhưvậy, “tạm đình chỉ” được hiểu làviệc tạm dừng giải quyết haytạmdừng một tình trạng trong khoảng thời gian nhất định khi có các điều kiện phát sinh và sẽchấm dứt việc tạm dừng khi các điều kiện đó không còn.

Trong khoa học luật tố tụng hình sự ở Việt Nam, có một số quan điểm cơ bản sau đây về tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, “tạm đình chỉ điều tra là tạm ngừng việc điều trađối với vụ án hoặc đối với từng bị can trong một thời gian nhất định”[21, tr.356].

Quan điểm thứ hai cho rằng, “tạm đình chỉ điều tra là việc CQĐT tạm ngừng hoạt động điều tra đối với toàn bộ vụ án hoặc đối với từng bị can khi có những căn cứ do BLTTHS quy định [20, tr. 360].

Ngoài hai quan điểm trên, còn có quan điểmkhác cho rằng, “tạm đình chỉđiều tra là tạm ngừng việc tiến hành điều tra đối với toàn bộ vụ án hoặc đối với một hoặc một sốbịcan của vụán đó trong thời hạn nhất định. Thời hạn tạm đình chỉđiều tra tùy thuộc vào căn cứ tạm đình chỉ điều tra của vụ án hoặc đối với bị can. Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra chính là cơ quan đang tiến hành điều tra vụ án. Cơ quan này không được tùy tiện ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, mà phải căn cứ vào quy định của pháp luật”[2, tr.225].

Nhìn chung, các quan điểm trên đều chỉ ra được những nội dung cơ bản của tạm đình chỉđiềutra,đó là việc tạm ngừng việc điềutra trong một thời gian nhất định khi có những căn cứđược quy định trong BLTTHS. Tuy nhiên, đây đều là những khái niệmvềtạm đìnhchỉđiều tra nói chung, chưa tách bạch được trường hợp tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và trường hợp tạm đình chỉ điều trađối với bịcan. Ngoài ra, các quan điểm này cũng chưa thểhiện được rõ chủthểcó thẩm quyền ta quyết định tạm đình chỉđiềutra bao gồm cảCQĐT và các cơ quan cóthẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Từ những phân tích nêu trên, tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự có thể được định nghĩa như sau: Tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là biện pháp tố tụngmà ởđó cơquan có thẩm quyền điều tra tạm ngừng việc điều tra đối với vụ án hìnhsựtrong một thời gian nhất định khi có những căn cứ được quy định trong BLTTHS.

Từđịnhnghĩa trên cho thấy,tạmđìnhchỉđiều travụán hìnhsựcó những đặc điểm sau:

Thứ nhất, quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hìnhsự làmột quyết địnhtốtụng thuộc thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền điều tra trong giai đoạn điều tra.

Trong giai đoạn điều tra, chỉ có cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án mới có thẩm quyền tạm đình chỉ điều tra. Theo quy định của Luật Tổ chức CQĐT năm 2015, cơquan có thẩm quyềnđiều tra bao gồm CQĐT trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, VKSND tối cao và cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra. Ngoài ra,điểm g khoản 2 Điều 39 BLTTHS năm 2015 còn quy định, khi tiến hànhtốtụng hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng, những người quy định tại các điểm a, b, c, d vàđ khoản 2 Điều 35 BLTTHS năm 2015 có quyền ra “kết luận điều tra, đề nghị truy

tốhoặc kết luận điều tra và quyết định đình chỉđiềutra; quyết định tạm đình chỉđiều tra; quyết định phục hồi điều tra”. Do vậy, cấp trưởng hoặc cấp phó (được ủy quyền) các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngưđược giao nhiệm vụtiến hành một sốhoạt động điều tra cũng cóthẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra. Tuy nhiên trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu về hoạt động tạm đình chỉ điều travụ ánhình sự thuộc thẩm quyền của CQĐT, không nghiên cứu thẩm quyền của cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra.

Thứhai,hậuquảpháp lý của tạmđìnhchỉđiều tra vụán hình sựlà tạm ngừng hoạt động điều tra vụán hình sự. Việc cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định tạm thời ngừng hoạt động điều tra do xuất hiện sựkiện nhất định chứkhông phải ngừng hẳn hoạt động điều tra và đã kết thúc điều tra.

Khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT chưa phải ra những kết luận cuối cùng về vụ án và bị can, mọi hoạt động điều tra đối với vụ án hoặc bị can phải tạm ngừng lại cho đến khi có căn cứ để ra quyết định phục hồi điều tra vụ án, bị can như: Bị can đã chữa trị khỏi bệnh; có căn cứ để xác định được bị can; đã bắt được bịcan bỏ trốn…

Thứba, tính chất giánđoạn tạm thời của hoạt động điều tra do quyết định tạm đình chỉđiều tra đem lại sẽđược khắc phục, mọi hoạt động điều tra sẽđược

phục hồi khi có lý do đểhủy bỏquyết định tạm đình chỉđiều tra –khi lý do tạm đình chỉ điều tra không còn hoặc đã được khắc phục.

Việc CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra là nhằm hạn chế tối đa khảnăng kéo dài thời hạn điều tra khi không cần thiết, sẽ giúp CQĐT khả năng xin gia hạn điềutra, khi không cần thiết kéo dài thời hạn chờđợi đểtiến hành các hoạt động điềutra cần thiết. Ngoài ra, tạmđìnhchỉđiều tra còn nhằm khắc phục hiện tượng quá tải, tồn đọng án ở giai đoạn điều tra khi có các yếu tố bất khả kháng, đểgiảm bớt nhu cầu sử dụng lực lượng điều tra và giảm tối đa những chi phí, vật chất không cần thiết cho hoạt động tố tụng ở giai đoạn điều tra. Đồng thời, việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự còn là một giải pháp có ý nghĩa chủ động trong việc đềphòng những oan sai có thể xảy ra trong thực tiễn điều tra.

Tạm đình chỉđiều trachỉlà tạm thời dừng hoạt động điều tra, chứkhông phải đã kết thúc việc điều tra. Vì vậy, khi có lý do để phục hồi hoạt động điều tra thìCQĐT phải ra quyết định phục hồi điều tra đểtiếp tục điều tra theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 235 BLTTHS năm 2015 thì “khi có lý do đểhủy bỏquyết định tạm đình chỉđiều tra thì CQĐT ra quyết định phục hồi điều tra, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự”.

“Lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra” ở đây được hiểu là lý dođể tạm đìnhchỉ điều tra đã được khắc phục hoặc có tình tiết mới như đã xácđịnhđược bị can (người thực hiện hành vi phạm tội), xácđịnhđược bị can ở đâu; đã cókết quả trưng cầu giám định, định giá tài sản, ủy thác tương trợ tư pháp; bị can tâm thần hay bệnh hiểm nghèo đã được chữa bệnh… Để xác định lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra thì cần phải căn cứ vào lý do tạm đình chỉ điều tra để xem xét việc phục hồi điều tra là có căn cứ, đúng pháp luật hay không.

Thứ tư, Tạm đình chỉ điều tra vụ án khác với tạm đình chỉ điều tra bị can ởviệc: Tạm đình chỉđiều travụán có thểbao gồmtạmđình chỉđiều trabịcan. Trường hợp tạm đình chỉ điều tra vụ án thì sẽ tạm đình chỉ tất cả bị can trong vụ án (đối với vụ án có bị can); Tạm định có thể bao gồm tạm đình chỉ điều tra bị can thì có thể không tạm đình chỉ điều tra vụ án mà tạm đình chỉ điều tra một phần vụ án cóliên quan đến bị can được tạm đình chỉ điều tra.

1.1.1.2. Căn cứ tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Theo quy định tạiĐiều 229 BLTTHS năm 2015, trong quá trình điều tra cũng như khi đã hết thời hạn điều tra, nếu có những căncứsau đâythì CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra:

Thứ nhất, khi chưa xác định được bị can nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án. Trong trường hợp này,tội phạm đãđược khởi tố, điều tra nhưng đã quá thời

hạn điềutra, tuy CQĐT đã xin giahạnvà sửdụng hết thời hạn điều tra vụán màvẫn không xác địnhđược ailà bị can hoặc chưa có đủ căncứ để khởi tố bị can.Đểra quyết định tạm đìnhchỉđiều tra trong trường hợp này, CQĐT phải căn cứvào

Điều 172 BLTTHS năm 2015 – quy định về thời hạn điều tra và tính chất của vụ án, tội phạm đã được khởi tố, điều tra để xác định có còn thời hạn điều tra hay không, xác định đã hết thời hạn điều tra mới ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án.

Thứ hai, khi không biết rõ bị can ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án.Đây là trường hợp đãxác địnhđược hành vi phạm tội, CQĐT đã ra quyết

định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án màchưa bắt được bị can, không rõ bị can đang ở đâu hoặc đã bắt được bị can nhưng bịcan đã bỏ trốn. Cũng giống với trường hợp không xácđịnhđược bị can, để ra quyết

định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT phải căn cứ vào Điều 172 BLTTHS năm 2015 –quy định về thời hạn điều tra và tính chất của vụ án, tội phạm đã được khởi tố, điều tra để xác định có còn thời hạn điều tra hay không, xác định đã hết thời hạn điều tra mới ra quyết định tạm đình chỉ điều tra. Tuy nhiên trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 231 BLTTHS năm 2015, trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT phải ra quyết định truy nã bịcan và quyết định truy nã bịcan được thông báo rộng rãi trên phương tiện đại chúng để mọi người có thể bắt giữ bị can.Nếu vụán có nhiều bị can thì chỉ ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can đó, còn các bị can khác vẫn thực hiện hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật.

Thứba, khi trưng cầugiámđịnh,yêucầuđịnh giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra.

Trong quá trình điều tra, trường hợp cần phải trưng cầu giám định như giámđịnh tâm thần, định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp thì mới cóđủtài liệu, chứng cứ để đánh giá toàn diện và khách quan hành vi phạm tội nhưng vì một lý do khách quan nào đó chưa có kếtquảgiám định, định giá hay kết quảủy thác tương trợ tư pháp mà thời hạn điều trađãhết thì CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra.

Mặc dù cáchoạt độngđiều trađãđược tạm đình chỉ nhưng việc giám định,định giá tài sản, ủy thác tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.

Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội
Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội

Thứ tư, khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra.

Trong trường hợp này, việc tạm đình chỉđiều tra là quyền của cơ quan cóthẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ. CQĐT có thể không tạm đình chỉ điều tra nếu xét thấy, việc bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác không làm cản trở cho việc làm sáng tỏ vụ án. Tuy nhiên, nếu có quyết định tạm đình chỉ điều tra vì lý do bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác thì phải thực hiện thủ tục trưng cầu giám định và có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y. Việc trưng cầu giám định và có ý kiến xác nhận của Hội đồng y khoa là nhằm làm rõ tình trạng bệnh tâm thần của bị can, xem bị can có đủ năng lực trách nhiệm hình sự hay không; bệnh hiểm nghèo khác của bịcan cókhảnăng ảnh hưởng đến kết quảcủa các hoạt động điều tra hay không. Nếu bịcan bịbệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác mà có ảnhhưởng đến hoạt động điều tra thì CQĐT ra quyết định tạm

13

đình chỉ điều tra cho đến khi sức khỏe của bị can không còn cản trở việc tiến hành các hoạt động điều tra và sẽ được phục hồi để tiếp tục làm rõ vụ án hình sự theo quyđịnh của pháp luật.

Trong trường hợp này, việc tạm đình chỉ điều tra có thể được thực hiện ở bất cứthời điểm nào trước khi hết thời hạn điều tra. Nếu vụ án có nhiều bị can thì có thể tạmđình chỉ điều tra đối với bị can nào bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác.

Thứ năm, khi không thể kết thúc điều tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra.

Đây là quy định mới được bổ sung vào Điều 229 BLTTHS năm 2015 và có hiệu lực từ ngày 01/12/2021. Theo quy định tại Điều 3 và Điều 4 Thông tư liên tịch số01/2021/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BNN&PTNN-BTC ngày 29/11/2021, cơquan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được tạm đình chỉ đièu tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai hoặc do dịch bệnh khi có đủ các căn cứ sau đây: (1) Đãáp dụng mọi biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật mà không thể tiến hànhđược một hoặc một số hoạt động tố tụng để kết thúcđiều tra do thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 hoặc khoản 2 Điều 4 Thông tư này; (2) Đãhết thời hạn điều tra.

Các trường hợp bất khả kháng do thiên tai bao gồm: Người tham gia tố tụng hoặc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang ở vùng được ban bố tình trạng khẩn cấp về thiên tai hoặc vùng có tình huống khẩn cấp về thiên tai theo quyđịnh của pháp luật về tình trạng khẩn cấp, pháp luật về phòng, chống thiên tai; địa điểm cần tiến hành các hoạt độngtố tụngtrong vùng được ban bố tình trạng khẩn cấp vềthiên tai hoặc vùng có tình huống khẩn cấp vềthiên tai theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp, pháp luật về phòng, chống thiên tai.

Các trườnghợpbất khảkháng do dịch bệnh bao gồm: Người tham gia tốtụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc địa điểm cần tiến hành các hoạt động tố tụng trong vùng được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch theo quy

định của pháp luật vềtình trạng khẩn cấp, pháp luật vềphòng, chống bệnh truyền nhiễm; người tham giatốtụng đang bịcách ly y tếtheo quyết định củacơ quan,

14

người có thẩm quyền do bị mắc bệnh dịch thuộc nhóm A hoặc do thuộc trường hợp khác liên quan đến bệnh dịch thuộc nhóm A theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm; người tham gia tốtụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tốtụng hoặcđịa điểm cần tiến hành các hoạt động tốtụng trong vùngđược Thủtướng Chính phủhoặc BộtrưởngBộY tếcông bốdịch đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A theo quyđịnhcủa pháp luật vềphòng, chống bệnh truyền nhiễm.

Khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT phải gửi quyết định này cho VKS cùng cấp,bịcan, người bào chữa hoặc người đại diện củabịcan; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ trừ trường hợp không biết rõbị can đang ở đâu.

1.1.2. Khái niệm kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Theo Từđiển Tiếng Việt, “kiểmsát” có nghĩa là “kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của nhà nước”[18,tr.532]. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật với ýnghĩa là hoạtđộng mang tính chất kiểm tra và giám sát nhằm đảmbảoviệc tuân thủ pháp luật là một khái niệm rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực của đời sống xãhội và được giao cho nhiều chủ thể thực hiện.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, VKSND là cơ quan THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của nước CHXHCN Việt Nam. Như vậy, “kiểm sát hoạt động tư pháp” là chức năng Hiến định của VKSND. Đây là một dạng giám sát nhà nước vềtư pháp, đâylà hoạt độngmang tính quyền lực nhà nước. Trong đó, “kiểm sát hoạt động tư pháp” được hiểu là kiểm tra, giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh vàthống nhất [3, tr.441]. Đồng thời, chức năng này của VKS còn nhằm kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luậtcủacác cơ quan có thẩm quyền tiến hànhtốtụng, người có thẩm quyền tiến hành tốtụng và người tham gia tốtụng, áp dụng những

15

biện pháp theo quy định của BLTTHS hiện hành để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này.

Hoạt động kiểm sát của VKS khác hoạt động kiểm tra, giám sát đơn thuần của các chủ thể khác ở chỗ, pháp luật chỉ cho phép VKS mới có quyền thực hiện một sốquyền năng, một số biện pháp tác động đặc thù nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật nghiêm ngặt trong các lĩnhvựcthuộc phạm vi kiểm sát. Chính các quyền này cũng đồngthời là nghĩavụcủaVKSND,từđótạonênsựkhác biệtvềphương thức thực hiện hoạt động mà các chủ thể kiểm tra, giám sát thông thường khác không có.

Khoản 1 Điều 4 Luật Tổchức VKSND năm 2014 đã đưa ra khái niệm vềkiểm sát hoạt động tư pháp như sau: “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND đểkiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổchức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từkhi tiếp nhận vàgiài quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụán hình sự; trong việc giải quyết vụán hành chính, vụviệc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật”.

Theo đó,đối tượngcủa hoạt độngkiểm sát việc tuân theo pháp luật trongtố

tụng hình sựbao gồm sựtuân theo pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng. Phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp được bắt đầu từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.

Trong giai đoạn điều tra, VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình qua việc THQCT và kiểm sát điều tra từkhi phát hiện có sựviệc phạm tội xảy ra đến khi kết thúc điều tra. Trong đó, đối tượng của kiểm sát điều tra vụ án hình sự là việc

16

tuân theo pháp luật của CQĐT trong quá trình điều tra vụán hình sự. VKS thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trongđiềutra các vụán hình sựnhằm bảo đảm việc điều tra phải khách quan, toàn diện, chính xác, đúng pháp luật; bảo đảm những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lí nghiêm minh.

Từ những phân tích trên và từ khái niệm về tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tác giả đưa ra khái niệm về kiểm sát việc tạm đình chỉ vụ án hình sự như sau:

Kiểm sát việc tạm đình chỉ vụ án hình sự là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính có căn cứ, tính hợp pháp của các hành vi, quyết địnhtố tụngcủa CQĐT, cơquan có thẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc tạm ngừng điều tra vụ án hình sự trong một thời gian nhất định khi có những căn cứ được quyđịnhtrong BLTTHS, nhằm bảo đảm việc tạm ngừng điều tra được tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.

1.1.3. Đặc điểm của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hìnhsự

Thứ nhất, đối tượng của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự làviệc tuân theo pháp luật của CQĐT trong quá trình điều tra vụ án hình sự.

Theo quy địnhtại khoản 1 Điều 4 Luật Tổchức VKSND năm 2014, đối tượng của hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự nói chung là việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổchức, cá nhân trong hoạt động tư pháp. Trong quátrình giải quyết vụ án hình sự, VKS có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động tố tụng nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án hình sự đúng pháp luật, mọi hành vi vi phạm được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh. Do đó, đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự chính là việc tuân theo pháp luật của CQĐT, cơ quan có thẩm quyền đượcgiao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình điều tra vụ án hình sự.

Thứhai, phạm vi của kiểm sát việc tạm đìnhchỉđiều tra vụán hình sựbắt đầu từ khi xácđịnh cóđủ căn cứđể tạm dừng việc điều tra, kết thúc khi có quyết định phục hồi điều tra hoặc đình chỉ điều tra.

17

Theo quy định của BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014, hoạt động THQCT và kiểm sát việc giải quyết vụán hình sựbắt đầu từkhi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và trong suốt quátrình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Đối với hoạt động kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, phạm vi này bắt đầu sau khi khởi tố vụ án hình sựvà trước khi kết thúc điều tra. Cụthểhơn, phạm vi của kiểm sát việc tạm đình chỉđiều tra vụán hình sựbắt đầu từkhi xácđịnh có đủcăn cứđểtạm dừng việcđiều tra, kết thúc khi có quyết định phục hồi điều tra hoặc đình chỉ điều tra.

Thứ ba, kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS.

Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 và Luật Tổchức VKSND năm 2014 đều quy định rõ chức năng, nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự của VKSND. Trong quá trình giải quyết vụ án,một sốvụán chưa thể kết thúc điều tra, CQĐT phải căn cứ vào các quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2015để ra quyết định tạm đình chỉ điều tra. VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc tạm đình chỉđiều tra nên mọi quyết định tố tụng cũng như hoạt động tố tụng liên quan đến tạm đình chỉ điều tra của CQĐT đều phải thông báo, gửi đến VKS để kiểm sát tính cócăn cứ và tính hợp pháp. Do vậy, VKS cóđầy đủ quyền hạn để kiểm tra,xem xét,đánh giáhồ sơvụ án, tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc tạm đình chỉ, nội dung vụ án trong bất cứ giai đoạn nào, thời điểm nào trong quá trình giải quyết vụ án.

Thứ tư, mục đích của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự nhằm đảm bảo hoạt động tạm dừng việc điều tra của CQĐT, cơ quan có thẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tuân thủ đúng quy định của pháp luật, chống oan sai, bỏ lọt tội phạm.

Trước tiên, mục đích của kiểm sát việc tạm đình chỉđiều tra vụán hình sựnhằm hạn chế tối đa khả năng kéo dài thời hạn điều tra khi không cần thiết, CQĐT không cần thiết kéo dài thời hạn chờ đợi để tiến hành các hoạt động điều tra. Ngoài ra, tạm đình chỉ điều tra còn nhằm khắc phục hiện tượng quá tải, tồn đọng án ở giai đoạn điều tra khi có các yếu tốbất khảkháng, đểgiảm bớt nhu cầu sửdụng lực

18

lượng điều tra và giảm tối đa những chi phí, vật chất không cần thiết cho hoạt động tố tụng ở giai đoạn điều tra.

Đồng thời, việc tạmđình chỉđiều tra còn là một giải pháp có ý nghĩa chủđộng trong việc đềphòng những oan sai cóthểxảy ra trong thực tiễn điều tra. Thông qua việc kiểm sát việc tạmđình chỉđiều tra, VKS có trách nhiệm kịpthời phối hợp CQĐT, cơ quan đượcgiaomộtsốhoạt động điều tra nhanh chóng phát hiện và xửlý tội phạm cũng như những hành vi vi phạm của người bịbuộc tội, người tham gia tốtụng. Đồng thời, VKS nhanh chóng và kịp thời phát hiện xửlý những vi phạm pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điềutra, Thủtrưởng, Phó Thủtrưởng CQĐT, cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụtiến hành một sốhoạt động điều tra, điều tra viên, các bộđiều tra trong việc tạm đình chỉ. Những vi phạm trình tự, thủtục tốtụng, thẩm quyền tiến hành cũng như việc áp dụng pháp luật không đúng đắn nhanh chóng được phát hiện và khắc phục những hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Qua đó, vụ án hình sự sẽ được giải quyết đúng đắn cả về trình tự, thủ tục cũng như nội dung áp dụng pháp luật, tình trạng khởi tố oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm sẽ được khắc phục,loại trừ, quyền con người, quyền công dân của người tham gia tố tụng được bảo đảm.

1.2. Nội dung kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

1.2.1. Kiểm sát tính có căn cứ của việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sựKhi nhận được quyết định tạm đình chỉ của CQĐT, Kiểm sát viên được phân

công THQCT và kiểm sát trong giai đoạn điều tra cần nhanh chóng kiểm tra, nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ để xác định việc tạm đình chỉ điều tra là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật hay không. CQĐT chỉ được ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi có các căn cứ quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2015. Đối với mỗi căn cứ

tạm đình chỉ điều tra, Kiểm sát viên cần kiểm sát chặt chẽ các tài liệu xác định rõcăn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ và các vấn đề cần thực hiện khi quyết định tạm đình chỉ điều tra. Cụ thể, Kiểm sát viên cần xác định những vấn đề sau:

19

1.2.1.1. Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp chưa xác định được bị can nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án

Trong trường hợp chưa xác địnhđược bị cannhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án, Kiểm sát viên phải chủ động yêu cầu CQĐT tích cực áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để xác định bị can. Kiểm sát viên cần kiểm tra CQĐT đã thực hiện đầy đủ cácnội dung yêu cầu điều tra của VKS hay chưa; CQĐTđãtiến hành điều tra, thu thập các tài liệu, chứng cứ đầy đủ để xác định người thực hiện hành vi phạm tội hay chưa; trường hợp đã xác định được đối tượng nghi vấn thì tài liệu, chứng cứ có đủ điều kiện để khởi tố bị can hay không… Nếu chưa có đủ tài liệu, chứng cứ để xác định bị can, Kiểm sát viên cần đảm bảo CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra (bao gồm cả thời hạn gia hạn điều tra) được quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2015.

1.2.1.2. Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp không biết rõbị can ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án

Trong trường hợp không biết rõ bị can ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án, Kiểm sát viên cần kiểm tra lại các tài liệu thể hiện rõ căn cứ không biết rõ bịcan đang ở đâu hoặc bị can bỏ trốn. Cụ thể, Kiểm sát viên cần kiểm tra lại các tài liệu của CQĐT để xác định việc thực hiện các thủ tục xác minh nơi cư trú, nơi làm việc, lấylờikhaicủanhững ngườicó liên quan đến bịcanđểxác địnhrõ việc không ai biết bị can hiện đang ở đâu và làm gì. Trong trường hợp khi kiểm tra các biên bản xác minh, lấy lời khai, còn có thông tin thể hiện bị can có thể đang ở một địa điểm nhất định thì Kiểm sát viên cần tiếp tục yêu cầu CQĐT xác minh về việc cư trú của bị can tại địa điểm đó.

Nếu không rõ bị can đang ở đâu thì trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT phải ra quyết định truy nã bị can. Nếu CQĐT chưa ra quyết định truy nãbị can thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, Lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu CQĐT ra quyết định truy nã bị can trước khi tạm đình chỉ điều tra theo quyđịnh tại Điều 231 BLTTHS năm 2015 và khoản 2 Điều 61 Quy chếcông tác THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố(Quy chếsố111). Nếu hết thời

20

hạn điều tra mà việc truy nã không có kết quả thì CQĐT mới ra quyết định tạm đình chỉđiềutra. Khi kiểm sát việc truy nã của CQĐT, Kiểm sát viên phảiđảmbảo quyết định truy nã bị can có căn cứ và hợp pháp; nội dung của quyết định truy nã đã ghi đầy đủ thông tin của bị can, tội phạm mà bị can bị khởi tố; đảm bảo quyết định truy nã được thông báo để mọi người phát hiện, bắt, giữ người bị truy nã.

Trên thực tế, vẫn còn một sốtrường hợp mặc dù Kiểm sát viên đãyêu cầu CQĐT ra quyết định truy nã, nhưng trong hồ sơ không tồn tại quyết định truy nã đối với bị can bỏ trốn. Điều này cũng được khắc phục dần trong giai đoạn vừa qua, qua các cuộc rà soát án tạm định. Thậm chí có trường hợp tội phạm, đối tượng liên quan bị “bỏ quên” đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì cũng không có căn cứđểtiếp tục điều tra, truy tố, xét xửđối với các đối tượng đó. Một trường hợpphổbiến mà CQĐT và VKS đã “bỏ quên” là trường hợp mặc dù có đủ căn cứ xác định hành vi của bị can đã phạm vào một tội phạm khác nhưng CQĐT, VKS không kịp thời ra quyết định khởi tốvụán, khởi tốbịcan đối với tộiphạm đó trước khi ra quyết định truy nã và ra quyết định tạm đình chỉ. Cụ thể, Kiểm sát viên cần lưu ýđối với trườnghợp bị can trốn khi đang bị tạm giam, trường hợp bị can bỏ trốn khỏi nơi giam giữ mà việc tổ chức truy bắt của cơ sở giam giữ không có kết quả thì khi nhận được thông báo của cơ sởgiam giữ, CQĐT cần ra quyết định khởi tốvụán, khởi tố bị can về tội trốn khỏi nơi giam giữ, ra quyết định nhập vụ án, sau đó mới ra quyết định truy nã bị can. Trong quyết định truy nã cần ghi rõ cả hai tội danh của đối tượngbao gồm cả tội trốn khỏi nơi giam giữ và tội danhmà đối tượng đã phạm trước đó.

1.2.1.3. Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tươngtrợtư phápđã hết thời hạn điều tra nhưng chưa có kết quả

Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả, vì vậy, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ các hoạt động tiếp theo của Điều tra viên, Giám định viên theo đúng quy định tại các điều 209, 210, 211, 212, 213 BLTTHS năm 2015. Kiểm sát viên cần

21

kiểm tra, đánh giá việc trưng cầu giám định,định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp có thực hiện theo quy định của pháp luật hay không? Lý do chưa có kết quả kết quả giám định, định giá tài sản, kết quả tương trợ tư pháp là gì?… Sauđó, xác định đã hết thời hạnđiều tra được quy định tại Điều 174 BLTTHS năm 2015 hay chưa khi CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra.

Đối với vụ án tạm đìnhchỉ do chưa có kết luận giám định, VKS khi kiểm sát cần rà soát lý do tạm đình chỉ, thời hạn chờ kết quả giám định để có các biện pháp kiểm sát, đôn đốc với CQĐT. Thời gian có kết quả giám định theo quy định tại Điều 208 BLTTHS năm 2015 kể từ thời điểm có quyết định trưng cầu giám định và thực hiện các thủ tục tiếp nhận đối tượng giám định. Nếu quá thời hạn trên mà không cóphản hồi của cơ quan giám định, thì CQĐT, VKS phải có biện pháp tác động, tránh tình trạng vụ án để kéo dài 01 năm, 02 năm chỉ vì chờ kết luận giám định.

Kiểm sát viên xem xét thời hạn trưng cầu giám định để kịp thời có công vănđôn đốc đến CQĐT,cơ quan có thẩm quyền giám định nhanh chóng có kết quả đểkết thúc điều tra vụ án, trong trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời gian quy định thì tổ chức, cá nhân tiến hành giám định phải có thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định biết và lưu tại hồsơ vụán. Đối với một sốtrường hợp VKS, CQĐT nhận thấy cần bổsung thêm tài liệu và cần thiết phải giám định bổsung, giám định lạiđểlàm rõ mâu

thuẫn, nội dung vụ án. Việc này đòi hỏi VKS, Kiểm sát viên, CQĐT, Điều tra viên

chủ động rà soát hồ sơ tạm đình chỉ vì lý do chờ kết luận giám định nêu trên… tránh trường hợp đã hết thời hạn giám định nhưng chưa có kết quảgiám định, vụán cứtạm đình chỉmà căn cứtạm đình chỉkhông phù hợp với các điều luật khác nhưĐiều 208 BLTTHS năm 2015 nêu trên.

Kiểm sát viên có trách nhiệm yêu cầu Điều tra viên trong quá trình tạm đình chỉđiềutravụán phải tiếptụcthực hiện đúng quy định tại khoản 5Điều88 BLTTHS năm 2015 nhằm mục đích kiểm sát kịp thời các tài liệu mà CQĐT đã thu thập được trong thời gian tạm đình chỉ điều tra để xem xét căn cứ để phục hồi điều tra vụ án.

22

1.2.1.4. Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra

Khi kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra của CQĐT đối với căn cứ này, Kiểm sát viên cần kiểm tra, nghiên cứ tài liệu, chứng cứ để xác định bị can có bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo hay không? Bị can đã có kết quả trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền xác nhận bịbệnh tâm thần hay bệnh hiểm nghèo hay chưa? Xác định tình trạng bệnh của bị can trong các thời điểm: Trước, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can có mắc bệnh tâm thần hay không. Kết luận củacơ quan giámđịnh vềviệc tại các thời điểmtrên đối tượngđược giám định có mất hay hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Quađó, đánh giá toàn bộtình trạng bệnh của bịcan, KSV báo cáo đềxuất Lãnhđạo Viện đường lối giải quyết vụ án tạm đình chỉ hay đình chỉ.

Khi xem xét kết luận bị can mắc bệnh tâm thần, Kiểm sát viên cần chú ý đến tình trạng bệnh tâm thần của bị can. Vì việc xác định bệnh tâm thần của bị can mới chỉlàmộttrong những điềukiệnđểbịcan có thểđược tạm đình chỉđiềutra.Để

tạm đình chỉ điều tra đối với bị can còn phải làm rõ bệnh đó đã làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của bị can. Nếu bị can mắc bệnh tâm thần nhưng chỉ làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì bịcan vẫn tiếp tục bịđiều tra, tuy nhiên được xem xét giảm nhẹtrách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Trong giai đoạn điều tra vụán, khi phát hiện thấybịcan mắcbệnh hiểm nghèo thì CQĐT phải trưng cầu giám định. Nếu Hộiđồnggiám định pháp y hoặc bệnh viện cấp tỉnh trở lên kết luận bị can đang mắc bệnh hiểm nghèo thì CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra. Hiện nay, việc xác định thế nào là mắc bệnh hiểm nghèo và danh mục các bệnh được coi là bệnh hiểm nghèo được quy định tại một sốvăn bản như:

– Theo Nghịđịnh số76/2003/NĐ-CP ngày 27/6/2003 của Chính phủquyđịnh vàhướngdẫncụthểviệc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sởgiáo dục, người

23

mắc bệnh hiểm nghèo là người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng, như: Ung thư, bại liệt, xơ gan cổtrướng, phong hủi, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tếcoi là bệnh hiểm nghèo;

– Thông tưsố26/2014/TT-BQP ngày 20/5/2014 củaBộtrưởng BộQuốc phòng quy định danh mục bệnh hiểm nghèo, danh mục bệnh cần chữa trị dài ngàyđể thực hiện chế độ, chính sách trong quân đội có quy định 09 loại bệnh nguy hiểm, bao gồm: Các bệnh ung thư, các bệnh hệ thần kinh; các bệnh về gan; các bệnhhệtiết niệu; các bệnh chuyển hóa; các bệnh hệ hô hấp; các bệnh hệ tuần hoàn; các bệnh hệ cơ, xương, khớp; hội chứng suy giảm miễn dịch;

– Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu khôngđịnh nghĩa thếnào là bệnh hiểm nghèo nhưng đã liệt kê 42 loại bệnh được coi làbệnh hiểm nghèo;

– Theo khoản 4 Điều 8 Nghị quyết số02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều65 BLHS năm 2015 vềán treo thì: Mắc bệnh hiểm nghèo là trường hợp mà bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện quân đội cấp quân khu trởlên có kết luận là người đượchưởng án treođang bị bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị, như: Ung thưgiai đoạn cuối, xơ gan cổ trướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3, suy thận độ 4 trở lên; HIV giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội không có khả năng tự chăm sóc bản thân và có nguy cơ tử vong cao.

Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có giấy chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì CQĐT có thể ra quyết định tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra, đồng thời ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, chỉđịnh một cơ sởchuyên khoa y tếchữa bệnh cho bịcan. Kiểm sát viên cần lưu ý khi tạmđình chỉđiều tra theo căn cứnày thì Kiểm sát viên cần đềnghị Lãnh đạo Viện ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc khi cơ quan có thẩm quyền kết luận tình trạng bệnh hiểm nghèo của bịcan trước khi

24

CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra. Căn cứ tạm đình chỉ điều tra này có thểchuyển hóa thành căn cứ đình chỉ điều tra theo các quy định tại Điều 230 BLTTHS năm 2015. Theo đó, có thể đình chỉ điều tra khi có căn cứ xác định hành vi của bịcan không cấu thành tội phạm và bị can bị mắc bệnh hiểm nghèo không còn nguy hiểm cho xã hội. Do đó, đối với trường hợp bị can mắc bệnh tâm thần, ngoài việc xác định mức độ tâm thần của bị can, Kiểm sát viên cần chú ý yêu cầu giám định vàkết luận giám định vềthời gian mắc bệnh tâm thần của bịcan nhưđã nêu ởtrên. Trường hợp bị can mắc bệnh tâm thần (mất hoàn toàn khả năng nhận thức, khả năngđiều khiển hành vi) trong khi thực hiện hành vi phạm tộithì CQĐT phải ra quyết định đình chỉđiều tra (không phải quyếtđịnh tạmđìnhchỉđiềutra). Hoặc trường hợp bị can bị mắc bệnh hiểm nghèo thì Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo Viện đánh giá vềtình trạng bệnh hiểm nghèo của bịcan, trường hợp bệnh của bịcan ởgiaiđoạn nặng, không còn khả năng có thể gây nguy hiểm cho xã hội thì đề xuất Lãnhđạo Viện yêu cầu CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra [16, tr.6].

1.2.1.5. Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra khi không thể kết thúc điều tra vìlý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra

Trong trường hợp này, Kiểm sát viên cần kiểm tra lại các tài liệu thể hiện rõCQĐT đãáp dụng mọi biện pháp cầnthiết theo quy định của pháp luật hay chưa, dẫn đến việc không thểtiến hành được một hoặc một sốhoạt độngtốtụng đểkết thúc điều tra do thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 hoặc khoản 2 Điều 4 TTLT số 01/2021/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BNNPTNT-BTC.

Kiểm sát viên khi tiến hành kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra trong trường hợpkhôngthểkếtthúcđiềutra vì lý dobấtkhảkháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra cần căn cứ quy định tại TTLT số 01/2021 quy định chi tiết việc áp dụng căn cứ tạm đình chỉ vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh theo điểm c khoản 1 Điều 148, điểm d khoản 1 Điều 229 và điểm d khoản 1Điều 247 BLTTHS năm 2015 để xem xét việc CQĐT ra quyết định tạm đình chỉđiềutra có đúng nguyên tắc,điềukiện, trườnghợptạmđìnhchỉvì lý dobất khảkháng do thiên tai, dịch bệnh hay không? Kiểm sát việc tạm đình chỉ trong trường

25

hợptrênđòihỏi cầncósựthận trọng, cân nhắckỹlưỡng đốivớiquyếtđịnhcủa CQĐT áp dụng căn cứ này đối với từng vụ án, vụ việc cụ thể, tránh không để xảy ra tình trạng lạm dụng…

Trong tất cả các trường hợp trên, sau khi nghiên cứu, đánh giá, nếu Kiểm sát viên xác định được quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT là có căn cứ và hợp pháp thì vào sổthụlý đểquản lý, theo dõi. Nếu thấy các quyết định tạm đình chỉđiều tra của CQĐT là không có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất với Lãnhđạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT và yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra để điều tra theo quy định của pháp luật.

Khi phát hiện thấy lý do, căncứtạm đìnhchỉkhông còn nữathì Kiểm sát viên chủđộng yêu cầuCQĐT ra quyết định phục hồi điều tra. Trong trường hợp CQĐT không ra quyết định phục hồi điều tra theo yêu cầu của VKS, thì Kiểm sát viên phải báo cáo Lãnh đạo Viện để yêu cầu CQĐT ra quyết định phục hồi điều tra vụ án đối với bị can hoặc VKS tự ra quyết định phục hồi điều tra và gửi cho CQĐTđể tiến hành điều tra.

1.2.2. Kiểm sáttính hợp pháp củaviệc tạm đìnhchỉđiều tra vụ ánhình sự1.2.2.1. Kiểm sát quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Trong quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT phải nêu rõ căn cứ, lý do tạm đình chỉ. Trường hợp vụ án có nhiều bị can nhưng chỉ có căn cứ để tạm đình chỉ điều tra đối với một hoặc một số bị can thì chỉ ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can đó. Trong trường hợp này, Kiểm sát viên cần chú ý, trên thực tế việc vận dụng căn cứ để tạm đình chỉ điều tra đối với một hoặc một số bị can trong vụ án có nhiều bị can sẽ gây khó khăn cho quá trình điều tra của CQĐT cũng như hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra của VKS, vì trong nhiều trường hợp, lời khai nhận của bị can đãđược tạm đìnhchỉ có ý nghĩa quyết định trong việc xác định tính chất, diễn biến của vụ án và vai trò của các đồng phạm… dẫn tới có những trường hợp sau đó, vụ án phải tạm đình chỉ vì không xác định được sự thật khách quan của vụ án.

Khi tạm đình chỉ điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 229 BLTTHS năm 2015, CQĐT phải áp dụng mẫu quyết định tạm đìnhchỉđiều tra vụán đối với bị

26

can và quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can được ban hành tại biểu mẫu quyđịnh tại Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021 quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổsách về điều tra hình sự. Bên cạnh đó, CQĐT cũng phải lập hồ sơ tạm đình chỉ điều tra đốivớitừngbịcan; hồsơ baogồmcác quyết định tốtụng, tài liệu, chứngcứtrong hồ sơ vụ án có liên quan đến bị can tạm đình chỉ. Các quyết định tố tụng, tài liệu, chứng cứ này phải là bản gốc hoặc bản sao y bản chính và việc sao y phải được thực hiện theo quy định của các bộ, ngành có liên quan.

Đối với trường hợp tạm đình chỉtoàn bộbịcan trong vụán thì CQĐT áp dụng mẫu tạm đình chỉ vụ án và mẫu quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can được ban hành tại biểu mẫu quy định tại Thông tư số 119/2021/TT-BCA.

Bên cạnh đó, trong quyết định tạm đình chỉ điều tra, Kiểm sát viên cũng cần chúýđến thẩm quyền ra quyết định này. Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉđiều tra quy định tại khoản 1 Điều 229 và các khoản 2, 3 Điều 36 BLTTHS năm 2015 thuộc vềThủtrưởng CQĐT. Phó thủtrưởng CQĐT cũng có quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp được Thủ trưởng CQĐT phân công điều tra vụ án hình sự.

1.2.2.2. Kiểm sát về thời hạn thông báo quyết định tạm đình chỉ điều travụán hình sự

Quyết định tạm đình chỉđiều tra của CQĐT phải được gửi cho VKS cùng cấp, bị can (gửi cho gia đình bị can đối với trường hợp bị can mắc bệnh tâm thần) và người bị hại. Nếu xác định việc ra quyết định tạm đình chỉ điều tra là có căn cứvàhợppháp thì Kiểm sát viên được phân công giải quyết vụán báo cáo với lãnh đạo Viện và vào sổ thụ lý để quản lý, theo dõi riêng. Nếu thấy quyết định tạm đình chỉđiềutra không có căn cứnhưbịcan không bịbệnh tâm thần hoặc bệnh hiềm nghèo khác hoặc bị can đã khỏi bệnh… thì Kiểm sát viên báo cáo với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng ủy quyền ra quyết định hủy bỏ quyết địnhtạm đình chỉ điều tra của CQĐT và yêu cầu CQĐT phục hồi điều trađể tiếp tục điều tra theo quy định của pháp luật. Việc gửi, thông báo quyết định tạm đình chỉ điều tra thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 229 BLTTHS năm 2015.

27

Trường hợp vụán do cơ quan đượcgiao nhiệm vụtiến hành một sốhoạt động điều tra khởi tố sau đó chuyển cho CQĐT để giải quyết theo thẩm quyền, thìkhi CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra phải thông báo bằng văn bản cho cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

1.2.2.3. Kiểm sát việc lập hồ sơ, quản lý, theo dõi án tạm đình chỉ điều tra vụán hình sự

Hồ sơvụ án tạm đình chỉ điều tra là toàn bộ tài liệu liên quan đến vụ án hình sự, lý do tạm đình chỉ, do điều tra viện lập ngay từ khi tiếp nhận được nguồn tin về

tội phạm chođến khi tạm đìnhchỉđiều tra. Hồsơ bao gồm các tài liệu thểhiện nguồn tin về tội phạm, việc tiếp nhận, phân loại, kiểm tra, xác minh; các quyết định

tố tụng; các biên bản thể hiện các hoạt động điều tra, thu thập, bảo quản chứng cứ;

các kết luận giám định, định giá tài sản… Thông qua hồ sơ vụ án, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tố tụng xác định được bản chất vụ án,điều khoản tội danh áp dụng trong vụ án, quá trình tố tụng, thời hạn điều tra, nguyên

nhân tạm đìnhchỉ điều tra vụ án…để có thể theo dõi, quản lý, rà soát kịp thời căn cứ tạm đình chỉ để phục hồi điều tra vụ án hình sự. Do vậy, hồ sơ vụ án tạm đình chỉ phải được lập một cách đầy đủ và theo đúng quy định của pháp luật. Hình thức văn bản tài liệu phải đúng mẫu của nhà nước quy định và được thu thập theo đúng trình tự,thủtụctốtụng hình sự, đúng thẩm quyền, đầy đủthông tin vềtội phạm,

người phạm tội, các tình tiết liên quan đến vụán… Hồsơ này cầnđầy đủcác tài liệu để khi chuyển sang, Kiểm sát viên có thể nghiên cứu các căn cứ tạm đình chỉ cóđúng theo quy định của BLTTHS hay không.Đồng thời, Kiểm sát viên cũng phải thiết lập hồ sơ kiểm sát điều tra theo đúng quy định, đầy đủ tài liệu, quyết định tố

tụng, trích cứu hồ sơ đúng quy định phản ánh đầy đủ nội dungvụán, đề xuất của Kiểm sát viên qua từng giai đoạn đến khi tạm đình chỉ.

Việc kiểm lập hồsơ, quản lý, theo dõi án tạm đình chỉđiều tra, được quyđịnh tại Chỉthịsố06/CT-VKSTC ngày 02/10/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường trách nhiệm của VKSND trong việc theo dõi, quản lý, giải quyết các vụ án hình sự tạm đình chỉ và quy định tại Quyết định 46/QĐ-VKSTC 2019 về

28

việc quản lý hồ sơ tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tạm đình chỉ và hồsơ vụán hình sựtạmđình chỉcủa VKSND. Điều 14 TTLT số01/2020/TTLT- VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP ngày 01/6/2020 quyđịnh phối hợp thực hiện một số điều của BLTTHS về quản lý, giải quyết các vụ án tạm đình chỉ, quy địnhcơ quan có thẩm quyền điều tra, VKS cần phối hợptrong việc lập hồ sơ, quản lý hồ sơ vụ án tạm đình chỉ như sau: Phân công đầu mối theo dõi, thường xuyên trao đổi các vấn đề phát sinh liên quan đến vụ án tạm đình chỉ; thống kê đầy đủ, chính xác số lượng vụ án tạm đình chỉ phát sinh trong tuần, tháng;

tổng số vụ án tạm đình chỉ do cơ quan mình theo dõi; theo dõi, quản lý chặt chẽ hồsơ vụ án tạm đình chỉ; thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự của mỗi vụ án; việc bổ sung tài liệu, chứng cứ vào hồ sơ vụ án (nếu có); việc khắc phục lý do tạm đình chỉ; kịp thời ra các quyết định giải quyết vụ án, vụ việc khi đủ điều kiện.

Định kỳ (hằng tháng, 06 tháng, 01 năm), VKS chủ trì, phối hợp với CQĐT rà soát, đối chiếu, phân loại, thống nhất xử lý, giải quyết các vụ án tạm đình chỉ đưa ra khỏi danh sách vụán tạm đình chỉđiều tra đối với những trường hợp đã có quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, quyết định phục hồi điều tra.

Theo quy định tại Điều 32 TTLT số 04/2018, Kiểm sát viên phải vào sổ theo dõi và quản lý các vụán, bịcan tạm đình chỉđiều tra. Điều tra viên và Kiểm sát viên thường xuyên rà soát để thống nhất các vụ án, bị can tạm đình chỉ điều tra. Khi thấy lý do tạm đình chỉđiều tra không còn thì CQĐT phải ra quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can. Đối với trường hợp đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc do thay đổi quy định của pháp luật mà hành vi phạm tội không bị coi là tội phạm nữa, thì CQĐT trao đổi với VKS trước khi ra quyết địnhđình chỉ điều tra theo quy định của BLTTHS.

1.2.2.4. Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chếkhi tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Khi kiểm sát các vụ án tạm đình chỉ điều tra của CQĐT, Kiểm sát viên cần chú ý đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với đối tượng

29

đã được tạm đình chỉđiều tra. Theo quy định tại Điều 12 Thông tư liên tịch số01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP ngày 01/6/2020 quy định phối hợp thực hiện một sốđiều của BLTTHS vềquản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ, sau khi có quyết định tạm đình chỉ vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, quyết định hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đã áp dụng. Như vậy, sau khi tạm đình chỉ điều tra vụ án thìKiểm sát viên cần kiểm sát việc ra quyết định hủy bỏbiện pháp ngăn chặn mà CQĐT đã ápdụng hoặc yêu cầu CQĐT làm văn bản đềnghị VKShủy bỏ đối với các biện pháp ngăn chặn mà VKS phê chuẩn. Bên cạnh đó, Kiểm sát viên cần nghiên cứu, đềxuất Lãnh đạo Viện xem xét việc áp dụng hoặc hủy bỏbiện pháp cưỡng chế kê biên tài sản hoặc phong tỏa tài khoản theo quy định tại mục 2 Điều 12 TTLT số01/2020. Tuy nhiên, hướng dẫn của Thông tư này vẫn còn chưa sát với thực tếthực hiện, bởi lẽvềnguyên tắc khi tạm đình chỉđiều tra thì cơ quan tiến hành tốtụng chỉđượcphép tiến hành các hoạtđộng đểgiải quyết lý do tạm đình chỉ. Dođó,không có căn cứ để tiếp tục tiến hành hoạt động hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế. Vì vậy, Kiểm sát viên cần chủ động phối hợp với Điều tra viên giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra [16, tr.6].

1.2.2.5. Kiểm sát việc quản lý, xử lý vật chứng, tại liệu, đồ vật tài sản tạm giữkhi tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Việc quản lý, xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ trong vụ án tạm đình chỉđược thực hiện theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 90, khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 và Điều 13 Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT- VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP ngày 01/6/2020 về việc quy định phối hợp thực hiện một số điều của BLTTHS về quản lý, giải quyết các vụán, vụ việc tạm đình chỉ. Trường hợp xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ có tính chất phức tạp thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần traođổi, thống nhất bằng văn bản biện pháp xử lý trước khi ra quyết định xử lý. Quyết định xửlý vật chứng, tài liệu,đồvật, tàisảntạmgiữđượcgửingay cho cơ quan

30

quản lý vật chứng, tài sản tạm giữ, người có liên quan để thực hiện. Trường hợp tạm đình chỉ vụ án, vụ việc nhưng không xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữthì cơ quan ra quyết định thông báo cho cơ quan quản lý vật chứng, tài sản tạm giữđể tiếp tục bảo quản. Trong quá trình quản lý, nếu phát hiện vật chứng, tài sản tạm giữ bị hư hỏng, biến chất hoặc có thể gây mất an toàn thì cơ quan, người quản lý vật chứng, tài sản tạm giữ kịp thời thông báo cho cơ quan ra quyết định tạm đình chỉ đểcó biện pháp xử lý.

1.2.2.6. Kiểm sát việc tách, nhậpvụán khi ra quyết định tạm đình chỉđiều tra vụ án hình sự

Một vấn đề còn nhiều tranh cãi hiện nay trong các vụ án tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp vụ án có nhiều bị can là vấn đề có cần phải ra quyết định tách vụán hay không, khi lý dotạmđìnhchỉđiềutrachỉliên quanđếnmộtbịcan. Theo quan điểm của tác giả, trường hợp lý do tạm đình chỉ chỉ liên quan đến một bị can và CQĐT đã đủ tài liệu, chứng cứ để kết luận điều tra và đề nghị truy tố đối vớicácbịcan cònlạithì CQĐTcầnra quyếtđịnhtáchvụánđểđảmbảoquyền lợi của các bị can còn lại. Quan điểm này là phù hợp với tinh thần của các điều 12, 13 Thông tư liên tịch số13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 hướngdẫnthi hànhmộtsốquyđịnhcủaBLTTHS và Luật Thi hànhán hìnhsựvềtruy nã, khi yêucầuCQĐT ra quyếtđịnhtáchvụán trong trường hợp tạm đình chỉ điều tra với căn cứ bị can bỏ trốn hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu. Tuy nhiên, hướng dẫn về trình tự thực hiện thủ tục tách vụ án và tạm đình chỉ vụ án trong trường hợp này của Thông tư là chưa thực sự phù hợp. Đối chiếu với quy định tách vụ án trong giai đoạn truy tố thì VKS chỉ ra quyết định tách vụán khiđãcó quyếtđịnhtạmđìnhchủđốivớicác trườnghợpnêu trên. Như vậy, quyết định tạm đình chỉ là cơ sở để ra quyết định tách vụ án. Vì vậy, đối với các trường hợp bị can bó trốn hoặc bị can mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bị can áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì CQĐT phải ra quyết định tạm đình chỉ điều trađối với bị can, sau đó mới ra quyết định tách vụ án để phù hợp với tinh thần của BLTTHS năm 2015 [16, tr.6].

31

1.2.2.7. Kiểm sát thời hạn điều tra đối với các vụ án tạm đình chỉ điều tra Theo quyđịnhtại Điều 229 BLTTHS năm 2015 thìnếutạm đìnhchỉtheo

quy định tại điểm a và c thì Kiểm sát viên lưu ý CQĐT chỉ được ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra. Thời hạn điều tra trong trường hợp nàyđược hiểu bao gồm cả thời hạn gia hạn điều tra. Cụ thể, thời hạn điều tra đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 04 tháng; thời hạn điều tra đối với tội phạm nghiêm trọng tối đa không quá 08 tháng; thời hạn điều trađối với tội phạm rất nghiêm trọng tối đa không quá 12 tháng; thời hạn điều tra đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội xâm phạm an ninh quốc gia tối đa không quá 24 tháng; và không quá 20 tháng đối với tội phạm khác. Kiểm sát viên cũng cần chú ý thời hạn điều trađối với các trường hợp nhập vụ án để điều tra hoặc trường hợp đang điều tra vụ án mà CQĐT bổsung quyết định khởi tốvụán, khởi tốbịcan vềtội phạm khác thìthời hạn điều tra được tính theo tội nặng nhất. Trường hợp thay đổi quyết định khởi tố bị can về tội phạm khác thì thời hạn điều tra được tính theo tội nặng nhất. Trường hợp thay đổiquyếtđịnh khởitốbịcantừtộinặng hơn sang tội nhẹhơn hoặc xácđịnh được hành vi củabịcan phạm vào khoản có khung hình phạtnhẹhơn trong cùng tội danh thì thời hạn điều trađược tínhtheo tội nhẹ hơn theo quy địnhtại Điều 14 Thông tư liên tịchsố04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định vềviệc phốihợpgiữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một sốquyđịnh của BLTTHS [16, tr.6].

1.3. Mối quanhệ giữa kiểm sát và thực hành quyền công tố trong việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015,Luật Tổchức VKSND năm 2014, VKSND có hai chức năng là THQCT và kiểm sát hoạt động tưpháp. Đây là hai chức năng độc lập nhưng của VKSND nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. THQCT là tiền đề cho kiểm sát hoạt động tư pháp và ngược lại, kết quảcủa kiểm sát hoạtđộng tư pháp là cơ sởcho THQCT có hiệu quả. Hai chức năng này của VKSND có mối quan hệ hỗn hợp, tác động lẫn nhaunhằm đảm bảo cho quá trình tố tụng được thực hiện một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, bảo

32

đảm cho việc giải quyết vụ án hình sự được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏlọt tội phạm. Khi kết hợp cùng nhau, hai chức năng này sẽ thực hiện được nhiệm vụ mà Hiến pháp quy định cho ngành Kiểm sát là “bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (theo quy định tại khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013).

Thực hành quyền công tố trong tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự thể hiện ởviệc yêucầuhoặchủybỏQuyếtđịnhtạmđìnhchỉđiềutra, còn kiểm sát tạm đình chỉ điều tra là kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp trong việc tạm đình chỉ điều tra.

Tuy nhiên, hoạt động THQCT phải dựa trên kết quả của hoạt động kiểm sátđiều tra. Để thực hiện tốt chức năng THQCT, đòi hỏi VKS phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ các tài liệu, chứng cứ để xác định việc tạm đình chỉ điều tra của CQĐT làcó căn cứ, đúng quy định của pháp luật hay không. CQĐT chỉ được ra quyết định tạm đình chỉđiều travụán hình sựkhi có các căncứquyđịnh tạiĐiều229 BLTTHS năm 2015. Đối vớimỗi căn cứtạm đình chỉđiều tra, Kiểm sát viên cần kiểm sát chặt chẽcác tài liệu xác định rõ căncứđểra quyết định tạm đình chỉvàcác vấn đềcần thực hiện khi quyết định tạm đình chỉđiều tra. Hoạtđộng này của VKS chính là thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp.

Trên cơ sở kết quả của hoạt động kiểm sát có thể thấy rằng, nếu quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT có căn cứ và hợp pháp thì VKS tiếp tục theo dõi

quá trình tạm đình chỉ điều tra vụ án đến khi có căn cứ phục hồi, ngược lại nếu xét thấy quyết định tạm đình chỉđiều tra của CQĐT không có căn cứvà không hợp pháp, VKS sẽra quyết định huỷbỏquyết định tạm đình chỉđiều tra của CQĐT, đồng thời yêu cầu CQĐT phục hồiđiềutra vụán theo quy định tại Điều 165 BLTTHS. Như vậy, trong giai đoạn điều tra, hoạt động THQCT của VKS được thực hiện cũng sẽ làm tiền đề phát sinh hoạt động kiểm sát.

33

Bên cạnh đó, việc thực hiện tốt công tác kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự nhằm đảm bảo các hoạt động tư pháp diễn ra đúng pháp luật sẽ làm tiền đề, căn cứ pháp lý để VKS thực hiện chức năng THQCT một cách chính xác. “Những sai sót, vi phạm trong hoạt động tư pháp luôn có khả năng dẫn đến những thiệt hại không thể bù đắp được. Do vậy, hoạt động tư pháp phải chịu sự kiểm tra, giám sát của nhiều cơ chế khác nhau, bao gồm cả cơ chế tự kiểm tra bên trong hệthống và cơchếgiám sát bên ngoài hệthống, cơchếgiám sát trực tiếp và gián tiếp”[5, tr.35-36]. Những vi phạm pháp luật phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xửlý nghiêm minh cũng là thúc đẩy, thực hiện tốt hoạt động THQCT của VKS. Nếu có sai sót, vi phạm trong việc thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra nói chung và khi kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sựnói riêngsẽkéo theosựvi phạm pháp luật của hoạt động THQCT. Như vậy, nếu VKS thực hiện không tốt hoạt động kiểm sát hoàn toàn có thể dẫn đến việc truy tốoan, sai.

Trong việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, khi phát hiện thấy lý do, căn cứtạm đình chỉkhông còn nữa thì Kiểm sát viên cần chủđộng yêu cầu CQĐT ra quyết định phục hồi điều tra. Trong trường hợp CQĐT không ra quyết địnhphục hồi điều tra theo yêu cầu của VKS, thì Kiểm sát viên phải báo cáo Lãnh đạo Viện đểyêu cầuCQĐT ra quyết địnhphục hồi điều tra vụán hoặc VKStựra quyết định phục hồi điều tra và gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra.

THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự tuy có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng giữa chúng có những điểm khác nhau, đòi hỏi phải được nhận thứcđầy đủvà thống nhất. Hai hoạt độngnày có những sự khác nhau sau đây:

Thứ nhất: Về mục đích, hoạt động THQCT của VKS trong việc tạm đình chỉđiều tra vụ án hình sự thể hiện ý chí, quyền năng của Nhà nước thông qua hoạt động của VKS nhằm phát hiện và thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sựđối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Hoạt động THQCT được tiến hành thông qua các dạng hoạt động có mục đích, ý nghĩa phát động, duy trì hoạt

34

động điều tra, tiến trình buộc tội; củng cốvà tăng cường hiệu quảbuộc tội. Còn kiểm sát việc tạm đình chỉđiều tra vụán hình sựnhằm đảm bảohoạt động tạm dừng việc điều tra của CQĐT, cơ quan có thẩm quyền được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra tuân thủ đúng quy định của pháp luật, chống oan sai, bỏ lọt tội phạm. Dựa vào mục đích riêng của từng loại hoạt động, có thể phân biệt trong các quyền năng của VKS trong việc tạm đình chỉđiều tra vụán hình sự, quyền năng nào thuộcvềnhóm quyền năng THQCT, quyền năng nào thuộc vềnhóm quyền năng kiểm sát.

Thứ hai:Về đối tượng,đối tượngcủa THQCT là tội phạm và người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội, còn đối tượng của kiểm sát việc tạm đình chỉđiều tra vụ án hình sự là việc tuân theo pháp luật của CQĐT trong quá trình điều tra vụ ánhình sự. Căn cứ vào đối tượng của từng nhóm quyền năng, có thể thấy quyền năng nào có ý nghĩa quyết định việc truy cứu TNHS thì thuộc về nhóm quyền năng THQCT, quyền năng nào có ý nghĩa trong việc phát hiện vi phạm pháp luật, khắc phục, xử lý vi phạm nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra được thực hiện một cáchđúng đắn và đạt đượcmục đích mà BLTTHS đã quy định thì thuộc nhóm quyền năng kiểm sát.

Thứba:Vềhậu quảpháp lý, việc VKS ban hành các văn bản pháp lý khi THQCT sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý có tính chất quyết định đến việc truy cứu hay không truy cứu TNHS đối với người phạm tộihoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Còn khi tiến hành kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, VKS ban hành các văn bản dẫn đến việc xử lý các vi phạm, thiếu sót tronghoạt động tạmđình chỉđiềutra của CQĐT có tính chất bảo đảm tính đúng đắn pháp lý cho hoạt động điều tra, chống oan sai, bỏ lọt tội phạm.

Như vậy, với những yếu tố đặc trưng như mục đích, đối tượng, hậu quả pháp lý của hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS, có thểphân định một cách tương đối rõ ràng những hoạt động nào thuộc nội dung chức năng THQCT hay thuộc nội dung chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm đìnhchỉđiều tra vụ án hình sự.

35

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

Trong phạm vi của Chương I, luận vănđãlàm rõđược một số vấn đề lýluận về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, bao gồm những nội dung chính như sau:

Thứ nhất, từ việc phân tích khái niệm về tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sựvà trên cơsởnhận xét, đánh giámộtsốquan điểmvềkiểm sát việc tạmđìnhchỉđiều tra vụ án hình sự, tác giả đã đưa ra được một khái niệm tương đối hoàn chỉnh về nội dung này; đồng thời, cũng chỉ ra được những đặc điểm cơ bản của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự.

Thứ hai, tác giả cũng tập trung làm rõ những nội dung của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều travụ ánhình sự, trong đó bao gồm kiểm sát tính có căn cứ và kiểm sát tính hợp pháp của việc tạm đình chỉ này. Để làm rõ phần nội dung này, tác giảđã viện dẫn các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam làm cơ sở pháp lýcho việc phân tích.

Việc làmrõ một số vấn đề lýluận về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụán hình sự trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam sẽ giúp luận văn đưa ra được những định hướng nhận thức thống nhất,là cơ sở để đánhgiá đúng thực trạng thực hiện những quy định vềkiểm sát việctạmđình chỉđiều travụán hình sựtừthực tiễn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội trong Chương II của luận văn.

36

Chương II.

THỰC TIỄN KIỂM SÁT VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH

SỰ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1. Đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội và cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

2.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội quận Cầu Giấy, thành phố HàNội

Quận Cầu Giấy được thành lập vào ngày 22/11/1996, theo Nghị định số 74- CP và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/9/1997. Quận có tổng diện tích đất tựnhiên là 12,44 km2, quy mô dân sốtheo sốliệu thống kê năm 2020 là 292.536 người, mật độ dân số đạt 23.516 người/km2. Về địa giới hành chính, quận Cầu Giấy có phía Bắc giáp quận Tây Hồvà quận Bắc TừLiêm, phía Nam giáp quận Thanh Xuân, phía Tây giáp các quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm, phía Đông giáp quận Đống Đa, quận Ba Đình và quận Tây Hồ. Quận Cầu Giấy được chia thành 08 đơn vịhành chính cấp xã trực thuộc, đó là các phường: Dịch Vọng, Dịch Vọng Hậu, Quan Hoa, Nghĩa Tân, Nghĩa Đô, Mai Dịch, Yên Hòa và Trung Hòa.

Về kết cấu hạ tầng, Cầu Giấy có 3 tuyến đường huyết mạch chạy qua gồm:

Trục Trần Thái Tông –Nguyễn Phong Sắc –Hoàng Quốc Việt; trục Trần Duy

Hưng kết nối trung tâm với Đại lộ Thăng Long; trục Cầu Giấy – Xuân Thủy – HồTùng Mậu kết nối với quốc lộ 32. Đây đều là các tuyến đường lớn, hiện đại và nhờđó, cư dân sống tại quận Cầu Giấy có thể dễ dàng di chuyển đến các quận lân cận. Bên cạnh đó, quận còn có nhiều khu đô thị lớn và các công trình công cộng tươngđối đầy đủ, nhưhệ thống các trường học, trường đại học, công viên lớn, hệ thống y tế, bệnh viện…

Về kinh tế, là một quận nội thành, sở hữu hệ thống giao thông khá phát triển nên Cầu Giấy có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế của Hà Nội. Nhờsở hữu vị trí tọa lạc đắc địa, Quận Cầu Giấy còn là nơi có tốc độ giao thương phát triển. Các lĩnh vực như thương mại, dịch vụ, hành chính, giáo dục cũng được đầu tưđẩy mạnh, trong đó có các ngành nghề xu hướng như tài chính, ngân hàng, tin học,

37

viễn thông… Hệ thống chợ dân sinh, trung tâm thương mại và hệ thống các siêuthịcũng được quận đầu tưtương đối hoàn chỉnh.

Cầu Giấy còn là quận duy nhất của Hà Nội có khu công nghệ thông tin tập trung, thu hút 415 năm doanh nghiệp với hơn 20.000 lao động, trong đó có gần 100 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, có những doanh nghiệp hàng đầu về công nghệ thông tin tại Việt Nam. Trong năm qua, kinh tế quận tiếp tục duy trì ổn định và có bước tăng trưởng ấn tượng. Tính đến hiện tại, quận Cầu Giấy có hơn 28,524 doanh nghiệp đang hoạt động đa lĩnh vực. Nơi đây thu hút lượng lớn nhân lực hằng năm đến để sinh sống và làm việc. Trên địa bàn quận Cầu Giấy có sựhiện diện của một sốtập đoàn công nghệ, nhà phát triển bất độngsản lớn như:

Vimeco, Sun Group, Vinaconex, Tân Hoàng Minh, FPT, Viettel…

Nhìn chung, tình hình kinh tế, xã hội diễn ra trên địa bàn quận Cầu Giấy đãlàm đẩymạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóađô thịvới tốc độcao. Cầu Giấy đang phải đối mặt với dòng người nhập cư từ các quận khác nhau của Hà Nội cũng như từ các tỉnh, thành khác. Tốc độ tăng dân số cơ học cao gây sức ép đối với công tác quản lý xã hội và môi trường khu vực. Điều này gây khó khăn trong việc quản lý dân cư trên địa bàn và do đó, tình hình tội phạm cũng ngày càng tăng lên vàdiễn ra theo chiều hướng phức tạp.Từtháng 06/2021đến nay, công an quận Cầu Giấy đang tích cực triển khai, đang đồng bộ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, tập hợp thông tin cơ bản của tất cả công dân được chuẩn hóa, số hóa, lưu trữ, quản lýbằng cơ sở hạ tầng thông tin góp phần quản lý dân cư tốt hơn, tra cứu thông tin giúp cho việc giải quyết các vụ án hình sự.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Tại VKSND quận Cầu Giấy, các công tác vềtổchức, sắp xếp, phân công công việc cho cán bộcông chức và người lao động được quan tâm, thực hiện nghiêm túc và hiệu quả. VKSND quận Cầu Giấy luôn chú trọng củng cốvà kiện toàn tổ chức cán bộ trong đơn vị tạo ra bộ máy hoạt động có hiệu lực và hiệu quảcao; sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ gắn với triển khai thực hiện các Đề án xác định

38

vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức trong Ngành, các đề án về cải cách công vụ, công chức và cải cách hành chính – tư pháp.

Hiện nay, VKSND quận Cầu Giấy gồm có 25 đồng chí, trong đó có 01 đồng chí Viện trưởng, 03 đồng chí Phó Viện trưởng, 13 đồng chí Kiểm sát viên, 02 Kiểm tra viên, 02 chuyên viên, 01 kếtoán và 03 nhân viên làm việc theo hợp đồng.Sốlượng Kiểm sát viên làm việc tại VKSND quận Cầu Giấy có những thuận lợi nhất định trong việc đáp ứng yêu cầu vềchức danh khi tham gia THQCT và kiểm sátđiều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự. Tuy nhiên bên cạnh đó, số lượng Kiểm sát viên trong vài năm trở lại đây đang được trẻ hóa, do đó có thể kinh nghiệm trong công tác chưa có nhiều.

Bên cạnh đó, mật độ dân số tại quận Cầu Giấy so với các quận, huyện khácởHà Nội đang ở mức cao, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp qua từng năm. Trong khi đó, số lượng cán bộ, Kiểm sát viên còn tương đối ít so với số lượng công việc, tạo ra nhiều áp lực đối với mỗi cán bộ, Kiểm sát viên đang công tác tại VKS quận.

Mỗi năm trung bình một KSV phải thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết từ 25- 30 vụ án. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả quản lý, ràsoát các vụ, việc nói chung và các vụ án hình sự bị tạm đình chỉ nói riêng.

Tuy nhiên, VKSND quận Cầu Giấy trong những năm qua luôn chú trọng, thực hiện nhiều biện pháp đểnâng cao chất lượng công tác THQCT và kiểm sátđiều tra, kiểm sát xét xử nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử được khách quan, toàn diện theo quy định của pháp luật.Đối với những vụán có khó khăn, vướng mắc, tổ chức họp liên ngành đánh giá chứng cứ, thống nhất quan điểm xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong điều tra, truy tố, xét xử, hạn chế đến mức thấp nhất án tạm đình chỉ điều tra.

2.1.3. Tình hình giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy Theo sốliệu báo cáo thống kê của VKSND quận Cầu Giấy, tình hình giải

quyết các vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy qua các năm như sau:

39

Bảng 1. Tình hình giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy từ

năm 2018 đến năm 2022

NămTố giác, tin báo

về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Điều traTruy tốXét xử
2018781298 vụ/413 bị can282 vụ/ 435 bị

can

280 vụ/ 412 bị

cáo

20191125360 vụ/559 bị can322 vụ/ 485 bị

can

322 vụ/485 bị cáo
20201620389 vụ/553 bị can360 vụ/594 bị can354 vụ/517 bị cáo
20211360417 vụ/495 bị can337 vụ/561 bị can339 vụ/566 bị cáo
20221753554 vụ/596 bị can342 vụ/572 bị can395 vụ/659 bị cáo
Tổng55392018 vụ/2616 bị

can

1643 vụ/2647 bị

can

1690 vụ/2639 bị

cáo

(nguồn: VKSND quận Cầu Giấy) Sốliệu trên cho thấy, sốlượng tin báo, tốgiác và kiến nghị khởi tốcác cơ

quan tiến hành tố tụng thụ lý, giải quyết ngày càng tăng lên (năm 2019 tăng 344 tin báo, tốgiác so với năm 2018; năm 2020 tăng 495 vụviệc so với năm 2019; năm 2021 do tình hình diễn biến dịch bệnh covid nên tỷlệvụviệc giảm 260 vụviệc; năm 2022 tăng sovớinăm 2021 là 393vụviệc). Dosốlượng tin báo, tốgiác vàkiến nghị khởi tố tăng lên dẫn đến số vụ án khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử cũng ngày một tăng.

Qua đó, nhận thấy kết quả thụ lý, giải quyết án của các cơ quan tiến hành tố

tụng trong những năm qua đã đạt hiệu quả cao, thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhànước và ngành giao phó.

Kết quảđạt được như trên là do Lãnh đạođơn vịcác cơ quan tiến hành tố

tụng đã quán triệt, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ làm công tác giải quyết các vụ án hìnhsự. Từ đó,nhận thức và áp dụng pháp luật của đội ngũ cán bộđiều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán được nâng lên, tỷ lệ án trả điều tra bổ sung thấp, cấp phúc thẩm hủy án vẫn còn nhưng chiếm tỷ lệ thấp.

40

2.2. Những kết quả đạt được trong kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụán hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Thực hiện Hướng dẫn số 16/VKS-P1 ngày 22/4/2019 của Viện trưởng VKSND thành phố Hà Nội về việc “Thực hiện chuyên đề án tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉvụán”;Công vănsố1209/VKSTC-V4 ngày 31/3/2021 của VKSNDtốicaovềviệc quản lý, giải quyết vụ án tạm đình chỉ điều tra theo Thông tư liên tịch số01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP ngày 01/6/2020 của liên ngành Trung ương; Căn cứ Công văn số 716/VKS-P1 ngày 6/4/2021, Công vănsố1062/VKS-P1 ngày 18/5/2021, Công vănsố1842/VKS-P1 ngày 12/8/2021, Công văn số 3000/VKS-P1 ngày 16/11/2022 của VKSND thành phốHà Nội về việc “Thực hiện quản lý, giải quyết các vụ án tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án”, VKSND quận Cầu Giấy về cơ bản đã được được nhiều kết quả tích cực khi thực hiện, quản lý việc tạm đình chỉ, phục hồi, đình chỉ trong những năm vừa qua.

Tính từngày 01/1/2019 đến ngày 01/12/2022, VKSND quận CầuGiấy đãthực hiện kiểm sát tạm đình chỉ điều tra đối với tổng cộng 310 vụ án/62 bị can. Sốliệu cụ thể được thể hiện qua biểu đồ sau đây:

Biểu đồ 1. Diễn biến số vụ án, số bị can mà VKSND quận Cầu Giấy đã kiểm sát

tạm đình chỉ điều tra từ năm 2019 đến năm 2022

200

160

150

100

85

50

24

0

39

26

8

11

19

2022

2021

2020

2019

Số bị can

Số vụ án

(nguồn: VKSND quận Cầu Giấy) Có thể thấy, số vụ án mà VKSND quận Cầu Giấy đã kiểm sát tạm đình chỉ

điều tra có xu hướng tăng trong những năm trở lại đây, đặc biệt vào các năm 2021 và 2022. Điều này cho thấy, cácvụán hìnhsựngay từgiaiđoạnkhởi tốđãđược các Kiểm sát viên VKSND quận Cầu Giấy quan tâm, phối hợp sát sao cùng Điều tra

41

viên để xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đánh giá nhìn nhận vụán ở những góc độ khách quan khác nhau, từ đó sớm phát hiện được các căn cứ tạm đình chỉđiều tra đểCQĐT ra quyết định tạm đình chỉđiều tra đúng thủtục, kịp thời, đúng pháp luật. Đây là dấu hiệu của việc kiểm sát tạm đình chỉ điều tra đang ngày càng được chú trọng, quan tâm;vấn đề tạm đìnhchỉ điều tra và kiểm sát tạm đình chỉ điều tra trong pháp luật tố tụng hình sự cũng được quy định ngày càngcụthể, dễ dàng hơn cho việc áp dụng trên thực tế.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *