Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, trước yêu cầu xây dựng Nhànước pháp quyền Việt Nam XHCN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước và để đáp ứng yêucầucủa cuộc đấu tranh phòng chống tội phạmởnước ta trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó việc đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND là một nội dung quan trọng được thể hiện trong nhiều nghị quyếtcủaĐảng về cải cách tư pháp. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BộChính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó xác định nhiều nội dung về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, về VKSND, Nghị quyết nêu rõ: “Trước mắt, VKSND giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạtđộng tư pháp. VKSND được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án. Nghiêncứuviệc chuyển VKS thành Viện côngtố,tăngcườngtrách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”; Nghị quyết số 08/NQTW ngày 2/1/2002 của Bộchính trịđã đặt rayêu cầu: “VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tốvà kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công
tốphảiđược thực hiện ngaytừkhi khởitốvụán và trong suốt quá trìnhtốtụng nhằmbảođảmkhông bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến
hành tố tụng làm nhiệm vụ. Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảmđúng pháp luật; những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ. VKS các cấp chịu trách nhiệmvề những oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạmgiam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình”.
Vì vậy, đểnâng cao chấtlượngcông tác thực hành quyền côngtốvàKSĐT, thì yêu cầu đặt ra là phải gắn hoạt động công tố với hoạt động điều tra. Từ đó, đặt ra yêu cầu VKSND cần phải nâng cao chất lượng KSĐT các vụ án về ma túy để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn công tác cũng như yêu cầu của cải cách tư pháp.
Như chúng ta đã biết, điềutra là hoạtđộngcóýnghĩa hếtsức quan trọng trong TTHS. Điều tra là giai đoạn đầu tiên trong quá trình tố tụng, đồng thời nó cũng là giai đoạn rất quan trọng bởi vì, hầu hết các tội phạm được xác minh và làm rõ trong quá trình điều tra. Chính vì vậy, chức năng KSĐT của VKS là yêu cầu tất yếu nhằm hạn chế tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, hiện nay tình trạng vi phạm các quy định trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lạm dụng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, vi phạm trong hoạt động đình chỉ, tạm đình chỉ, tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung vẫn còn
tồn tại.
Thông qua thực tiễn công tác, tác giả quyết định chọn đề tài:“Kiểm sátđiều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sỹ luật học nhằm đi sâu vào tìm hiểu những quyđịnhcủa pháp luậtvềáp dụng pháp luật trong KSĐT của VKSND. Bên cạnh đó, đề tài cho chúng ta cái nhìn khách quan về thực trạng vềhoạtđộng KSĐTđồngthời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượngcông tác KSĐT các vụánvềma túy cũng như các vụán hình sự trênđịa bàn thành phố Đà Nẵng.
2. Tình hình nghiên cứuđề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiêncứuđềtài luận văn là làm rõ cácvấnđềlý luận vàthực trạng hoạt động KSĐT vụ án hình sự các tội phạm về ma túy của các cơquan VKSND thành phố Đà Nẵng, chỉ rõ những hạn chế tồn tại và các nguyên nhân của vấn đề trên. Từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả KSĐT vụ án ma túy của các Cơ quan VKSND thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Trên cơ sở mục đích nghiêncứu được xác định, đề tàiluận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Nghiên cứu phân tích làm rõ các vấn đề lý luận về tội phạm ma túy,điều tra vụ án ma túy, KSĐT vụ án ma túy của cơ quan Viện kiểm sát.
+ Đánh giá thực trạng hoạt động KSĐT vụ án ma túy của các Cơ quan VKSND thành phố Đà Nẵng.
+ Đềxuất hệ thống giải phápđểnâng cao hiệu quả KSĐTvụán hình sự các tội phạm về ma túy của các cơ quan VKSND thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung vào những vấn đề sau:
+ Nhữngvấnđềlý luậnvềthi hành pháp luật và thi hành pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy.
+ Thực tiễn thi hành pháp luật trong KSĐTđốivớihoạtđộngcủa CQĐT.
+ Nguyên nhân phát sinh những tồn tại trong thi hành pháp luật của quátrình KSĐT và của CQĐT.
+ Những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy của VKS.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật TTHS về việc thi hành pháp luật của VKSND trong KSĐT các vụ ánvềma túy.
Về thời gian: Tính từ ngày 01/12/2010 đến 01/12/2015.
Về địa bàn: Luận văn chọn khảo sát thực tế tại VKSND thành phố Đà Nẵng.
5. Phương pháp lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận
Là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các quanđiểm của Đảng và pháp luật TTHS hiện hành quy định về việc thi hành pháp luật của VKSND đối với hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiệnđềtài, tác giảsửdụng các phương pháp:
Lôgíc, thống kê, phân tích, tổng hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận
Qua kếtquảnghiêncứuvà những kiến nghị của luận văn cóýnghĩa góp phần nâng cao hiệuquảhoạtđộngcủa VKSND nói chung cũng như làcủa KSV nói riêng trong công tác KSĐT. Thông qua kếtquảnghiêncứuvà các kiến nghị, tác giảmong muốn góp phần hoàn thiện những quyđịnhcủa pháp luật TTHS hiện hành để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn công tác.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cóthểđược sửdụng làm tài liệu tham khảo cho các cánbộđang làm công tác tạiVKS, đặc biệt là các KSV giải quyết án hìnhsự.Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại các trường Kiểm sát, Công an nhân dân, Tòa án, các Học viện, trường đại học đào tạo cử nhân Luật.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Nhữngvấnđềlý luận và pháp luậtvềhoạtđộngkiểm sátđiều tra các vụ án về ma túy của các cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân.
Chương 2: Thực trạng kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng từ năm 2011-2015.
Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy của Viện Kiểm sát nhân dân thành phốĐà Nẵng
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬTVỀ
HOẠTĐỘNGKIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. Những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy
1.1.1. Khái niệm về ma túy và những vấn đề lý luận về điều tra các vụán về ma túy
Ma túy là gì? Và cótừbaogiờchođếnnayvẫnchưa có câutrảlời chính xác nhất mà chỉ có thể khẳng định rằng từ xa xưa, do trình độ nhận thức của conngườicòn thấp, nềny học chưa phát triễn, việc chữa bệnh của con người phần lướn là sử dụng các loại cây cỏ, trong đó có những loại câycỏ cótính đặc trị một số bệnh và được lưu truyền cho đén nay, trong những loại cây chữa bệnh có cả cây thuốc phiện, cây cần sa và cây côca. Trong quá trình sửdụng, bên cạnh tác dụng của những loại cây này trong việc chữa một số bệnh, thìngườita cũng phát hiện ra tác hạicủa nó. Tuyđược coi là dược phẩm, songvẫnđềlà phảisảnxuất quản lýhợplý và sửdụng chính đáng, nếusửdụng không chính đáng hoặc lạm dụng, thì cácchất được gọi là “dược phẩm” đó sẻ mất đi hàm ý và tác dụng về mặc y học, dần dần bị người ta coi là “chất độc”, nó làmcho con người mê mẫn, ngây ngất, túy lúy, không làmchủ được hành vi, có nhiều hành xử lạc chuẩn với đạo đức, bị xã hội lên án. Đứng trước quan điểm pháp luật mà xét thì ma túy được lý giải là một chất đặc biệt có hại nghiêm trọng đến con người và xã hội, thuộc chất bị cấm, là loại hàng hóa bịpháp luật quản lý nghiêm ngặt và khống chế sử dụng. Tuy quan điểm và định nghĩa về chất ma túy ở các quốc gia có sự khá nhau, song có một điểm chungđólà vềviệc ban hành luật kiểm soát ma túy của cácnướcđềuđềcậpvà khẳng định: ma túy bao gồm các chất gây nghiện và các chất hướng thần.
Hiện có nhiều khái niệm khác nhau về ma tuý như:
Theo LiênHợpQuốc: Ma tuý là các chất hóa học có nguồn gốc tựnhiên hoặc nhân tạo, khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ có tác dụng làm thayđổi tâmtrạng, ý thức trí tuệ của con người, làm cho người lệ thuộc vào các chất đó, gây nên nhữngtổnthương cho từng cá nhân và cộng đồng. Do vậy, việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán, sử dụng các chấtđó phảiđược quyđịnhchặt chẽ trong các vănbảnpháp luật và chịusựkiểm soát của cơ quan bảo vệ pháp luật.
Theo Từ điển bách khoa Công an nhân dân: “Ma túy là thuật ngữ dùngđể chỉ các hợp chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành, có tác dụng kích thích, gây ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác khiến người sử dụng bị lệ thuộc vào chúng”.
Theo Bộ luật hình sự năm 1999 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namđã quyđịnhcác tộiphạmvề ma túy. Theo đó: Ma tuý bao gồm:
nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côca, lá hoa, quả của cây cần sa, lá côca, quả thuốc phiện khô, quả thuốc phiện tươi, herôin, côcain, các chất ma tuýkhác ở thể lỏng, các chất ma tuý khác ở thể rắn.
Theo Luật phòng, chống ma tuý quy định
Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chấthướngthầnđược quyđịnh trong các danh mục do Chính phủ ban hành.
Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chếthần kinh, dễgây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
Tiền chất là các hóa chất khôngthểthiếuđược trong quá trìnhđiều chế, sản xuất chất ma tuý, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành.
Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được
quy định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa các chất quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Luật phòng, chống ma túy.
Từ những khái niệm trên ta có thể đưa ra khái niệm về ma túy như sau:
“Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi được đưa vào cơthểconngười(bằng cách: tiêm, chích, hút, hít, nhai, nuốt…) nósẽlàm thayđổi trạng thái ý thức và sinh lý người đó. Nếu lạm dụng ma tuý, con người sẽlệ thuộc vào nó, khi đó sẽ gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng, cho gia đình và cộng đồng, được quy định trong các công ước của Liên Hợp Quốc và luật pháp Việt Nam về kiểm soát ma tuý.”
Tạikhoản 1-Điều8 BLHS năm 1999củaNước Cộng hòa xã hộichủnghĩa Việt Nam quy định:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, dongườicó năng lực trách nhiệm hìnhsựthực hiệnmộtcáchcốý hoặc vô ý, xâm phạmđộc lập, chủquyền, thống nhất, toànvẹnlãnhthổTổquốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tựdo, tài sản, các quyền, lợiích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Từquyđịnhtrên ta cóthểđưa ra khái niệmtộiphạmvềma túy nhưsau:
Tộiphạmvềma túy là những hành vi nguy hiểm choxã hội được quyđịnhtrongBộluật hình sự, dongườicó năng lực trách nhiệm hìnhsựthực hiện một cách cố ý xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước.
Đối với tội phạm về ma túy, Pháp luật hình sự Việt Nam quy định trong BLHS năm 1999, tội phạm về ma túy được quy định tại Chương XVIII, gồm có 10 điều, từ điều 192 đến điều 201. Như vậy BLHS năm 2015 các tội phạm vềma túy quyđịnhtạiChương XX , gồm 13điềuluật, sovớiBLHS năm 1999 tăng thêm 3 điều luật (từ Điều 247 – Điều 259).

1.1.2. Khái niệm về kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy
Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, BLTTHS năm 2003, Viện kiểm sát vừa được giao trách nhiệm THQCT, vừa thực hiện chức năng KSĐT vụ án hình sự, nhằmđảm bảoviệc khởi tố, điều tra có căncứvàhợp pháp, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, góp phần bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích nhà nước; quyền và lợi ích hơp pháp của công dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.
Trong lĩnh vực hình sự, THQCT và KSĐT là khâu công tác quan trọng, có ý nghĩa nền tảng, then chốt, làm cơ sở cho toàn bộ quá trình thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong TTHS. Hai chức năng nàyđộc lậpcóđối tượng tác động và nội dung khác nhau nhưng chúng có quanhệ chặtchẽ vớinhau. Kếtquả của hoạtđộng kiểmsát là cơ sở cho hoạt động công tố có hiệu quả vàngược lại kếtquả việc THQCT cũng là tiền đề cho hoạt động KSĐT.
KSĐT các vụán hìnhsựvề ma túyđược hiểu là hoạtđộngcủa Viện kiểm sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệpháp luật hìnhsựphát sinh trong giaiđoạnđiềutra, nhằmđảmbảocho quátrình điều tra vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Pháp luật TTHS nước ta quy định, CQĐT phải áp dụng mọi biện pháp hpựp phápđểxác địnhsự thậtcủa vụánmộtcách khách quan, toàn diện vàđầyđủ, làmrõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can. Các biện pháp mà CQĐT áp dụng trongđiềutra rấtnhiều, tuy nhiên có thể xem xétởhai nhóm sau:
10
Thứ nhất, các biện pháptốtụng nhằm thu thập và kiểm tra chứngcứgồm: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lấylờikhaingườilàm chứng, ngườibịhại, khám xét, thugiữvậtchứng, giám định, nhận dạng… Việc áp dụng các biện pháp TTHS để tiến hành điều tra các vụ án về ma túy của CQĐT được gọi là các hoạt động điều tra. Trong đó VKSND mà chủ thểlà KSV được phân công có trách nhiệm kiểm sát hoạt động điều tra nhằm đảm bảo cho các hoạt động này đúng theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, các biện pháp nhằm thực hiện các Quyếtđịnhtốtụng quan trọng của các Cơ quan tiến hànhtốtụng như: Quyếtđịnhkhởitốvụán, bịcan; áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (bắt, tạm giữ, tạm giam);đình chỉ điều tra vụ án; tạm đình chỉ điều tra các vụ án về ma túy.
Các biện pháp trên khi áp dụng đều liên quan trực tiếp tới các quyền cơbản của công dân nên đòi hỏi việc áp dụng phải tuân thủ đúng về trình tự theo quy định của pháp luật. Nênrấtcần việc giám sát chặtchẽ đảmbảoquá trìnhđiều tra các vụ án về ma túy được thực hiện theo đứng quy định của BLTTHS năm 2003 là trách nhiệm của VKSND. KSĐT các vụánvề ma túy của VKSND thực chất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật các hoạt động tư pháp của CQĐT và các Cơ quan khác được giao tiến hànhmộtsố hoạtđộngđiều tra trong qua trình giải quyết các vụ án về ma túy nhằmbảođảm việc khởi tố,điềutra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oanngườivô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội.
Từ những vấn đề trên, chúng ta cần xem xét đối tượng và phạm vi của hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy. Đối tượng của hoạt động KSĐT các vụán về ma túy là sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể tiến hành hoạt động điều tra (về thẩm quyền, thời hạn, thủ tục điều tra…) và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật TTHS phát sinh trong giai đoạn điều tra vụ án hìnhsự gồm:
+ Sự tuân thủ pháp luật của CQĐT khi tiến hành các hoạt động tố tụng
11
như khám nghiệm hiện trường, khởi tố vụ án, bị can, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, hỏicungbịcan…Vớiđốitượngtác độngnày, hoạtđộngKSĐT nhằm hướng tới mục đích đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của CQĐT trong giaiđọanđiều tra. Theo quy định của pháp luật thì các CQĐT gồm có: CQĐT của Công an nhân dân; CQĐT trong Quân đội nhân dân; CQĐT của VKSNDTC
+ Sự tuân thủ pháp luật của các cơ quan được giao nhiệmvụ tiếnhành mộtsốhoạtđộngđiềutra như Biên phòng, Hảiquan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Kiểm ngư…
+ Sựtuân theo pháp luậtcủanhữngngườitham gia tốtụng trong quá trình điều tra vụ án, gồm cóngười bị tạmgiữ, bị can, người bị hại, người làm chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Phạm vi của KSĐT các vụ án về ma túy bắt đầu từ khi cósự kiệnphạm tội xảyra hoặc phát hiệnđược dấu hiệucủa tội phạm cho tới khi kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền chuyển Viện kiểm sát đề nghị truy tố hoặc khi CQĐT đình chỉ, tạmđình chỉ điềutra vụ án. Việc xác địnhphạm vi nhưvậylà thế hiện tínhđầyđủ, toàn diện của hoạtđộngđiều tra vụ án hình sự của VKSND, cũng như thể hiệnđầyđủ bảnchất pháp lý của hoạtđộngkiểm sát tuân theo pháp luật trong khởi tố, điềutra vụán hình sự, trongđócó các vụánvề ma túy, là kiểm tra tính có căncứvà tính hợppháp trong hoạtđộngtốtụng của cơ quan tiến hànhtốtụng trong giaiđoạnđiều tra.
Từnhữngnộidung trên, cóthểđịnhnghĩavềKSĐT các vụánvềma túy như sau: KSĐT các vụ án về ma túy là chức năng hiến định của VKSND, có nội dung là giám sát trực tiếp mọi hoạt động tổ tụng của cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra các vụ ánvềma túy, nhằm đảm bảo cho pháp luật TTHS được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và thống nhất.
12
1.2. Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo quyđịnh củapháp luật tố tụng hình sự
1.2.1. Kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các vụ án vềma túy
Trong giai đoạn này, KSV được phân công KSĐT có trách nhiệm phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc tiếp nhận, giải quyếtđối vớicác tố giác, tin báo về tội phạm; kiểm tra giám sát chặt chẽ tính hợp pháp đối với quyếtđịnh khởi tố, hoạt động khởi tố của CQĐT.
– Theo quyđịnhtạiđiều103 BLTTHS thì CQĐT có nhiệmvụtiếp nhận, giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố do các cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp. Là một trong những cơ quan trực tiếp đấu tranh chốngtộiphạm, bảovệ pháp luật, qua nhiều nguồn thông tin trực tiếp và gián tiếp, VKSND có trách nhiệm tiếp nhậnđầyđủ mọi tố giác, tin báo về
tội phạm do các cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang và cá nhân chuyển đến, sauđó chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho CQĐT có thẩm quyền.
Song songvớiviệc trực tiếp tiếp nhận, xửlýtốgiác, tin báovề tội phạm, VKSND phải tiến hành hoạtđộngkiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết của CQĐT đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, thông qua việc yêucầuCQĐT cùng cấp thông báođầyđủ cho VKSND các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố mà CQĐT đã tiếpnhận được, đồng thời phối hợp để phân loại, xử lý kịp thời.
– Kiểm sát việc khởi tố các vụ án về ma túy là nhiệm vụ, quyền hạn của VKSNDđược pháp luật quy định. Thông qua hoạtđộngnày, VKSND cótrách nhiệmbảođảmviệc khởi tố các vụ án về ma túy của cơ quan có thẩm quyền là có căn cứ và hợp pháp, kịp thời phát hiện tội phạm và người phạm
tội để điềutra, xử lý theo pháp luật.
13
Theo quyđịnhtạiĐiều100, BLTTHS năm 2003 thìchỉđược khởitốvụán hìnhsựkhiđãxác địnhcác dấuhiệu của tộiphạm, việc xácđịnhdấu hiệu phạm tội dựa trên cơ sở: “Tin báo của công dân; tin báo của cơ quan Nhànước hoặc tổchức xã hội; tin báo trên các thông tinđạichúng; CQĐT, VKSND, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển vàcác cơ quan khác của Công an nhân dân trực tiếp phát hiệntộiphạm; người phạm tội tự thú”[16].
– Kiểm sát việc khởi tố bị can phạmtội vềma túy là nhiệm vụ, quyền hạncủa VKSND trong công tác KSĐT nhằmđảmbảochomọiquyếtđịnh khởitốbịcanđềucó căn cứ, họppháp, đúng người, đúngtộitrên cơ sở đótiến hành điều tra, xử lý theo pháp luật,
+ Đảmbảotính hợp pháp của việc khởi tố bị can phạm tội về ma túy: Thẩm quyền ra quyếtđịnh khởitố bị can; nội dung, hình thức của quyếtđịnh khởi tố bị can phải theo đúng quy định tại khoản 2, Điều 126, BLTTHS năm 2003: “Quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họtên, ngày tháng năm sinh, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình của bị can; bịcan bị khởi tố về tội gì, theo điều nào của BLHS; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm” [16].
Việc pháp luật quy định chặt chẽ như vậy để tránh nhầm lẫn các bị can (nếu trong vụ án có nhiều bị can) hoặc để cho chính bị can nắm chắc mình bịkhởi tố về tội gì, khung hình phạt mà bị can phải gánh chịu là baonhiêu để bịcan biết hướng bào chữa hay nhờ người bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho mình.
Cũng như việc khởitốvụán ma túy, trong quá trìnhđiềutra, nếucócăn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm tội vào tội ma túy đãbị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì CQĐT, VKS ra quyết định thayđổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can. Như vậy, thay đổi quyết định khởi tố bị can là trường hợp việc xác định tội danh trong quyết định khởi tố bị can
14
chưa đúng, cầnphải áp dụng khung, khoản khác, điềukhác hoặc có sai sót trong quyết định khởi tố bị can cần phải sửa chữa, bổ sung; ví dụ, nhầm ngày tháng, năm sinh. Bổsung quyếtđịnhkhởitốbịcan là trườnghợpquá trìnhđiềutra đã xác địnhbịcan có thêm hành vi phạmtộimớihoặc trước đâybịcan đã thực hiện các tội phạm khác.
Kiểm sát việc khởitốvụán, khởitốbịcan là những hoạtđộngthực hành quyền công tố và KSĐT rất quan trọng của VKS. Đó là những hoạt độngđầutiên của mộtvụ ánhình sự, của mộtcông dân chính thức bị nghivấnlàthực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hoạt động của VKS được xem như là một “trạm kiểm duyệt” sự oan sai, tránh bỏ lọt tội phạm của VKS đối với CQĐT ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra cho KSV phải có tinh thần trách nhiệm thì mới có thể làm tốt công tác này.
1.2.2. Kiểm sát việc áp dụng, thayđồi,hủybỏcác biện pháp ngăn chặn
Các biện pháp ngăn chặnđược quyđịnhtrong TTHS gồm:Bắtbịcanđể tạmgiam;bắtngườitrong trườnghọpkhẩn cấp;bắtngườitrong trường hợp phạm tội quả tang; tạm giữ; tạm giam; biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp bảo lĩnh; biện pháp cho đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
Hoạtđộng kiểmsát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhằm: đảm bảo tính đúng đắn, có căncứvà tính cần thiết của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bảovệ các quyền và lợiíchhợpphápcủangườiphạm tội. Đối tượng kiểm sát là việc tuân theo pháp luật của các cơ quan và người có thẩm quyền trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặnđốivớitộivề ma túy. Phạm vi kiểm sátbắtđầu từ khi có người bị áp dụng biện pháp ngăn chặnđến khi kết thúc, bị hủy bỏ, chấm dứt.
Kiểm sát việc phạm tội quả tang: Kiểm sát việc bắt quả tang có đúng là bắtquả tang không; việc bắt có đúng thủ tục không. Theo quy định tại khoản
15
1, Điều82, BLTTHS năm 2003:“Đốivớingườiđang thực hiệntộiphạm hoặc ngay sau khi thực hiện hành vi tội phạm thì bị phát hiệnhoặc bịđuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyềnbắt và giải ngayngườibị bắt đến cơ quan Công an, VKSND hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất…” [16].
Sau khi VKSND nhậnđược thông báo cótộiphạmvề ma túybịbắt quả tang, VKSND phảicửKSV sang CQĐT và yêucầucungcấpbiên bản phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai của người bị bắt; nếu cần thiết thì hỏi người bị bắtđể kiểmtra xem việc bắtđó cóthoả mãn các điều kiện quy định
tạiĐiều303, BLTTHS năm 2003. Nếuphát hiệnđốitượngphạm tôivề ma túy không đủ các điều kiệnbắtquả tang thì yêucầuCQĐT trả tự do ngay cho người bị bắt.
Kiểm sát việc bắtkhẩncấpngườiphạmtộivề ma túy: Kiểm sát việc bắtkhẩn cấp nhằm kiểm sát tính có căn cứ, tính họp pháp về thẩm quyền, thủtục của việc bắt khẩn cấp, bảo đảm việc bắt khẩn cấp phải đúng theo quy định của pháp luật. Theo quyđịnhtạikhoản 1, Điều81, BLTTHS năm 2003, Ngườiphạmtộivề ma túy có thể bịbắtkhẩncấpnếu: “Khi có căncứcho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạmrấtnghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; khi người bị hại hoặc người cómặttại nơixảyra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đó đã thực hiện hành vi phạm tội mà xét thấycầnngăn chặn ngay việc người đó trốn; khi có dấu vết của tội phạmở ngườihoặc chỗở của ngườibịnghi thực hiệntộiphạm và xét thấy cầnngăn chặn ngay việc ngườiđótrốn hoặc tiêuhủychứngcứ” [16]. Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp mang tính cấp bách nên không cần cósựphê chuẩn trước của VKS, nhưng trong mọi trường hợp, sau khi đã bắt người,
người ra lệnh bắt phải báo ngay cho VKS cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩncấp để xétphê chuẩn. Trường hợp CQĐT trả
16
tự do cho người bị bắt thì CQĐT vẫn phải thông báo cho VKS. Trong trường hợpCQĐTđã ra quyếtđịnhtạmgiữ, nhưng khôngđủcăncứđể phê chuẩn việc bắt khẩn cấp, thì VKS ra quyết định không phê chuẩn và yêu cầu CQĐT ra quyết định huỷ bỏ tạm giữ và trả tự do ngay cho người bị bắt.
Kiểm sát việc Bắtngườiđangbịtruy nã phạmtộivềma túy: Là bắt người đã thực hiện tội phạm, đã bị khởi tố bị can, đang trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và đang bị cơ quan có thẩm quyền ra lệnh truy nã, thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tinđạichúng, được niêm yết công khai nơi công cộng để mọi người phát hiện, bắt giữ.
Pháp luậttốtụng quyđịnhbấtkỳngườinào cũng cóthểbắt,tước vũkhí, hung khí của người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và giải ngay người đó đến cơ quan VKS, ủy ban nhân dân nơi gần nhất để các cơ quan này tiến hành lập biên bản và giải người bị bắt đến cơ quan có thẩm quyền.
Nhưđã nêu trên, theo quyđịnhtạiĐiều82 BLTTHS thìngườinào cũng có quyềnbắtngườiphạmtộiquảtang hoặc đangbịtruy nã, nên chức năng, nhiệm vụ của VKS chưa thể hiện rõ trong giai đoạn này.
– Biện pháp tạm giữ :Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn trong TTHS, do cơ quan có thẩm quyền áp dụngđối vớingườibịbắt trong trườnghợpbắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc đối với bị can bị bắt theo lệnh truy nã; người phạmtộitựthú,đầuthú. Tuy nhiên, thựctếáp dụng pháp luậtcủacácđịa phương thì không phải tất cả các đối tượng trên đều có thể bị tạm giữ mà chỉquyết định tạm giữ khi cần đủ thời gian để CQĐT có thể thẩm tra, xác minh
tính chất, mức độ tội phạm, nơi cư trú, nhân thân người bị bắt … thì mới áp dụng việc tạm giữ.
Vềthẩm quyền, thủtục, thờihạntạmgiữđược quyđịnhtạiĐiều86 BLTTHS năm 2003.
Để đảm bảo công táckiểm sát việc tạm giữ, KSV cần: Kiểm tra tính có
17
căncứvà hợp pháp của quyếtđịnhtạmgiữ, thờihạnra quyếtđịnhtạmgiữ, nắm vững các căn cứ của việc gia hạn tạm giữ để báo cáo lãnh đạo VKS kịp thời ra quyếtđịnhphê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyếtđịnhgia hạntạm giữ, hoặc trả tự do cho người bị tạm giữ.
– Biện pháptạmgiam :Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do CQĐT, VKS, Tòa án áp dụngđốivớibịcan, bịcáo phạmtộiđặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS hiện hành quy định hình phạt tù từ trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xửhoặc tiếp tục phạm tội. Tạmgiam là biện phápcưỡngchếnghiêm khắc nhất, đối tượng tạm giam bị tước bỏ một số quyền tự do thân thể và bị hạn chếmột số quyền nhân thân khác.
Vềthẩm quyền, thủ tục, thờihạntạmgiamđược quyđịnhtại Điều 88 BLTTHS năm 2003. Việc gia hạntạmgiam và phê chuẩn gia hạntạmgiamđược quy định tại Điều 120 BLTTHS năm 2003.
Việc xét phê chuẩn lệnhtạmgiambịcan cũng giống như việc xét phêchuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, KSV cần phải kiểm tra tính có căncứ vàtính hợp pháp của lệnh tạm giam bị can. Thời hạn xét phê chuẩn là 03 ngày kể
từngày VKS nhậnđược lệnhtạmgiam và đềnghị xét phê chuẩn lệnh tạm giam. Trong khitạmgiam, nếuxét thấy khôngcầnthiết phải tiếp tục tạm giam thì CQĐT phải có vănbảnđềnghị VKS cùngcấpáp dụng biện pháp ngăn chặn khác hoặchủybỏbiện pháptạmgiamđểtrảtựdo chobịcanbị
tạm giam.
Ngoài các biện pháp ngăn chặn trên, trong quá trình khởitốđiềutra các vụ án ma túy; tùy vào các vụ án cụ thể, tùy vào các bị can, bị cáocụ thểmà các cơ quan tiến hànhtốtụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác như: Cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lĩnh; đặt tiền hoặc tài sản cógiá trị để bảo
18
đảm. Việc các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp trên là trong trườnghợpcácvụán ma tuy có cácbịcan là nhữngđốitượngphạmtộiít nghiêm trọng, có nhân thân, lai lịch rõ ràng. Khi áp dụng các biện pháp này là nhằmđảmbảochohọphải cómặttạicác cơ quan tiến hànhtốtụng khiđược triệu tập.
Hủybỏhoặc thaythếbiện pháp ngăn chặn: Trong trườnghợpvụán ma túybịđìnhchỉtheo quyđịnhtạiĐiều164, 169, 180 của BLTTHS năm 2003 thì CQĐT, VKS, Tòa án phải hủy bỏ biện pháp ngăn chặn.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử khi xét thấy không cần thiết tiếp tục duy trì biện pháp ngăn chặn đang áp dụng; CQĐT,VKS, Tòa án cóthểhủy bỏ biện pháp ngăn chặn đang áp dụng hoặc có thể thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn hoặc nghiêm khắc hơn.
Luật TTHS đã giao quyền và trách nhiệm quyết định việc thayđổi, huỷbỏ biện pháp tạm giam cho VKS. Do đó, trong quá trình KSĐT, truy tố KSV phải luônchủđộng, thường xuyên kiểm sát tínhcầnthiết phải tiếp tục cần tạmgiambịcan (nhất là những trườnghợpphạmtộiít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng nhưng là phạm tội lần đầu hoặc các trường hợp bị can luôn kêu oan), không nên có tư tưởng thụ động ngồi chờ CQĐT.
Tính phổ biến áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong hoạt động điềutra các tộiphạmvềma túy. Xuất pháttừđặc điểmtộiphạm học của nhóm tội phạm về ma túy là khép kín, có tổ chức cao nên việc áp dụng biện pháp ngăn chặn với hình thức tạm giam trong quá trình điều tra nhóm tội này là phổ biến thường được áp dụng trên thực tế với tỉ lệ gần như 100%. Trong sốcác biện pháp ngăn chặn thìtạmgiam là biện pháp nghiêm khắc nhất nhưngđồngthời cũng là biện pháp hiệntỏra hữuhiệu nhấtđểngăn chặn không cho kẻ phạm tội tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho quá trình tố
tụng. Dovậyđốivớinhómtộinày áp dụng biện pháp ngăn chặntạmgiam
19
1.2.3. Kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án hình sựSau khi vụ án được khởi tố, VKSND tiếp tục thực hiện chức năng của
mình là kiểm sát các hoạtđộngđiềutra và việc lậphồsơ vụán của CQĐT. TheoĐiều10, BLTTHS năm 2003 thì:“CQĐTcó quyền áp dụngmọibiện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầyđủ, làm rõ những chứngcứxác địnhcótộivà chứngcứxác địnhvôtội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, bịcáo” [16]. Hoạt động kiểm sát các hoạtđộng điềutra được thực hiện đó là:
– Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, tử thi: Khám nghiệm hiện trường quyđịnhtạiĐiều150, BLTTHS năm 2003:“ĐTVtiến hành khám nghiệm nơixảyra, nơi phát hiệntộiphạm nhằm phát hiệndấuvếtcủatộiphạm, những chứng cứ và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án” [16].
Khám nghiệm tử thi được tiến hành khi phát hiện có người chết chưa rõnguyên nhân. Việc khám nghiệm do ĐTVchủtrì, cósựtham gia của bác sĩpháp y và người chứng kiến và thành phần quan trọng quyết định giá trị pháp lý của Biênbảnkhám nghiệmtửthi là KSV. Theo quyđịnhcủa Điều151, BLTTHS năm 2003: “Trongmọitrườnghợpkhám nghiệmtửthi phảiđược thông báo trước cho VKSND cùng cấp biết. KSV phải cómặtđể giámsát quátrình khám nghiệm tử thi” [16].
Để việc tham gia kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, tửthịcủa KSV có hiệu quả đòihỏiKSV phảichủđộngnắmtình hình thông qua việc yêucầuĐTV thông báo về sự việc xảy ra. Từ đó có thể tham gia ý kiến vào việc chuẩn bị khám nghiệm cũng như chủ động yêucầuĐTV tiến hành khám nghiệm hiện trường. Tương tự như vậy, việc khám nghiệm tử thi của CQĐT cũng phải thực hiện dưới sự kiểm sát của KSV.
– Kiểm sát việc hỏicung, lấy lờikhaicủacơ quanđiềutra: Việc hỏi
20
cungbịcan và lấylờikhaingườilàm chứng, ngườibịhại, nguyênđơndân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là một hoạt động bắt buộc trong mỗi vụ án hình sự.
Kiểm sát việc hỏicungbịcan trongvụán ma túy là hoạtđộngcủa VKSND, sử dụng các quyền năng pháp lý độc lập để kiểm sát việc tuân theo pháp luật của ĐTV hoặc KSV trong quá trình hỏi cung bị can nhằm đảm bảo cho việc hỏicungđược khách quan, toàn diện, đầyđủvà đúng pháp luật. KSV cần chủ động, có thể cùng tham gia hỏi cung với ĐTV trong trường hợp khi CQĐT ra quyết định khởi tố bị can để tạo cơ sở và niềm tin cho KSV khi phê chuẩn quyếtđịnhkhởitốbịcan. Ngoài ra, KSVcầntrực tiếp tiến hành hoặc cùng tham gia với lãnh đạo VKS, cần thiết có thể yêu cầu ĐTV tham gia trong trường hợp vụ án ma túy có nhiều tình tiết phức tạp, khi bị can lúc nhận tội, lúc không nhận tội, khi có nghi ngờ về việc mớm cung, bức cung, dụ cung hoặc sau khi vụ án đã kết thúc điều tra.
Mục đích và yêucầucủa kiểm sát hỏi cung bị can nhằm: Đảm bảo việc hỏi cung phải được tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can, quyếtđịnh phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; đảmbảocho việc hỏi cung bị can phảiđượctiến hành trực tiếp bằng lời nói và ghi lại bằng biên bản; đảm bảo cho việc hỏicungbịcan phảiđược tiến hành bằng các phương pháp theođúng quy định của pháp luật.
Không được hỏi cung vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãnđược, nhưng phải ghi rõ vào biên bản hỏi cung. Thời gian ban đêm theo quyđịnh củapháp luật là từ 22h ngày hôm trước đến 6h sáng ngày hôm sau.
Trong trường họp cần thiết, KSV có thể trực tiếp hỏi cung bị can. Việc hỏicung phảiđược tiến hành theo quyđịnhchungtạiĐiều131, BLTTHS năm 2003. KSV trực tiếp hỏi cung trong các trường hợp cần thiết như: Trong hồ sơ chưa thể hiện rõ lời khai của bị can, nghi ngờ ĐTV trong quá trình hỏi
21
cungbịcan còn thiếu khách quan, còn có sai sót, lọttộiphạm hoặc có dấu hiệu oan, sai, khi các yêucầuđiềutra củaKSV khôngđạtđược, ĐTV thực hiện không đúng.
Biên bản hỏi cung bị can là biên bản pháp lý ghi lại toàn bộ quá trình, nộidung, kếtquảcủa việc hỏicungbịcancủaĐTV, KSV; là mộttrong những nguồn chứng cứ. Do đó biên bản hỏi cung phải được lập chặt chẽ theo quy định tại Điều 95 và Điều 125 của BLTTHS năm 2003, mỗi lần hỏi cungđều phải được lập biên bản.
Biên bản hỏi cung phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và các câutrảlời. NghiêmcấmĐTV, KSVtựmình ghi thêm, bớt, sửa chữa lời khai của bị can trong các biên bản. Sau khi kết thúc việc hỏi cung, ĐTV, KSV phải đọc lại biên bản cho bị can nghe hoặc để cho bị can tự đọc (trong trườnghợpbịcan không biếtchữhoặc hạnchếkhảnăng khác trong nhận thức thì khi thông qua biên bản cần có sự chứng kiến của người khác). Trong trường hợp có bổ sung hoặc sửa chữa biên bản thì bị can và ĐTV hoặc KSV cùng ký xác nhận. Nếubiênbảncó nhiều trang thìbịcan phải kí nhận vào
từng trang của biên bản. Trong trườnghợpbịcantựviếtlờikhai thì ĐTV hoặc KSV cùng ký xác nhận vào tờ khaiđó.
Nếu việc hỏi cung được ghi âm thì sau khi hỏi cung phải phát lại để bịcan và ngườihỏicung cùng nghe; biênbảnphải ghilạinộidung việc hỏi cung, bị can và người hỏi cung cũng phải ký xác nhận.
Trong trườnghợphỏicungbịcan cóngườiphiên dịch thìngườihỏi cung phải giải thích quyền lợi, nghĩa vụ của người phiên dịch, đồng thời giải thích chobịcanbiết được quyền yêu cầu, thayđổingườiphiên dịch. Người phiên dịch và bị can cùng ký vào biên bản hỏi cung.
Khihỏicungbịcan mà cómặtngườibào chữa, ngườiđạidiện hợp phápcủabịcan thì người hỏi cung phải giải thích cho người này biết quyền
22
và nghĩa vụcủa họtrong khihỏicungbịcan. Bịcan, người bào chữa, người đạidiệnhợppháp cùng ký vào biênbảnhỏicungbịcan. Trong trường hợp người bào chữa được hỏi bị can thì trong biên bản phải ghi đầy đủ câu hỏi của người bào chữa và câu trả lời của bị can.
Lờikhai người làm chứng là một nguồn chứng cứ quan trọng của một vụánvề ma túy. Qua việc lấylờikhaingườilàm chứng ĐTV, KSV cóthểhình dungđược diễn biến của hành vi phạm tội, biếtđượccácmốiquanhệcủa bị can, từ đó hoạch định phương hướng kế hoạch điều tra tiếp theo… Dođó, KSV phải chủ động, kịpthời cùng ĐTVlậpkế hoạchlấylờikhai người làm chứng và xác địnhcác nhân chứng quan trọng, những nhân chứng trực tiếp. Việc lấylờikhai người làm chứng phải được tiến hành khẩn trương kịp thời. Nếuđể thời gian dàimớilấylờikhai, thì có thể kýức của họbịquên, không thể khai đúng hoặc khaihếtnhững chi tiết mà họ nhìn thấy, nghe thấy hoặc có thể họ di chuyển chỗ ở đi chỗ khác…gây khó khăn cho việc điều tra. Việc lấy lời khai người làm chứng phải được lập thành biên bản theo quy định
tại Điều95, 125, 135, 136, BLTTHS năm 2003.
Kiểm sát việclấylời khaingườibị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và ngườicó quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về trình tự và thủ tục như việc lấylờikhai người làm chứng, tuy nhiên KSVcầnchú ý kiểm sát về nội dung của việc lấylờikhai của ĐTVđối vớitừng đối tượng nêu trên, vì những lời khai của họ sẽ góp phần không nhỏ vào việc làm sáng tỏ nội dung vụ án.
Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ các thủ tục tố tụng nêu trên. Nếu phát hiện ĐTV có vi phạm pháp luật không nghiêm trọng thì KSV có thể nhắc nhở yêu cầu ĐTV khắc phục, nếu vi phạm nghiêm trọng thì phải báo cáo lãnhđạo để có biện pháp xử lý kịp thời.
– Kiểm sát việc đối chất, nhận dạng, thực nghiệmđiềutra:Đâylà một loạt các hoạtđộng điềutra và cũng là các biện pháp nghiệp vụ được sử dụng
23
trong quá trìnhđiềutra nhằm làm tái hiện và kiểm chứnglạinhững nguồn thông tin có liên quanđếntộiphạmđã cóđược trước đó. Khi kiếm sát các hoạt động nàycầnđặc biệtchú ý đếnhoàn cảnh, điều kiện nơi tiến hành việcđốichất, nhận dạng hoặc thực nghiệmđiềutra và xác địnhđâylà những nguồn chứngcứđược tái hiệnlạinên không thể dùng làm nguồn chứngcứduy nhất để kết luận một vấn đề cần chứng minh, mà phải kết hợp với nhiều nguồn chứng cứ khác để có luậnđiểm đúng đắn.
– Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT: Ngoài việclậphồ sơ kiểm sát, KSV phải kiểm sát việc lậphồsơ của CQĐTđảmbảohồsơ cóđầyđủcác tài liệu, được sắp xếp, đánh bút lục theo trình tự, phục vụ cho việc nghiên cứu, truy tố, xét xử, KSV phải yêucầuĐTV cungcấptài liệuđầyđủ, kịp thời. CQĐT căncứQuyđịnhtạiđiểm21.1 TTLTsố05/2005/TTLT-VKS- BCA- BQP ngày 07/5/2005 của VKSNDtốicao, BộCông an, BộQuốc phòngvề quanhệphốihợpgiữa CQĐT và VKSND trong thực hiệnmộtsốquyđịnhcủa BLTTHS năm 2003 [36]; Công vănsố71/CSĐT(C16) ngày 26/2/2007 của CQĐT hướng dẫn đóng dấu bút lục và đánh số thứ tự tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Nếuthấy tài liệubịmất, hư hỏng, tẩyxóa, sửa chữa thì KSV yêu cầu CQĐT khắc phục và làm rõ nguyên nhân, điềukiệndẫnđếnvi phạm, trách nhiệm của từng cá nhân liên quan để đề xuất biện pháp xử lý.
– Kiểm sát hoạt động khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản của Cơquanđiềutra: Hoạtđộngkhám nghiệm hiện trường, khám nghiệmtửthi, khám xét bắt khẩn cấp là những hoạt động nghiệp vụ trong TTHS, do các cơquan tiến hành tố tụng tiến hành. Xuất phát điểm của mọi hoạt động điều tra, khám phá vụán sau này, vì hiện trườngvụán và tửthi là nơi lưugiữnhiều nhất các dấuvết, chứngcứchứng minh hành vi phạm tội. Nếuhoạtđộng khám nghiệm có sai sót dễ dẫn đến hoạt động điều tra sẽ đi lệch hướng, khó
24
khăn cho việcđiềutra tộiphạm. Vì vậy, pháp luật quyđịnhtrách nhiệm CQĐT phải thông báo cho VKS biết về việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để cùng tham gia.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp sau khi khám nghiệm hiện trường vàthu thập các tài liệu, chứng cứ khácmới đủ cơsở xác định có phải là hành vi tội phạm đã xảy ra hay không. Vì vậy, Luật TTHS hiện hành quy định khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự.
– Kiểm sát việc đình chỉ, tạmđìnhchỉđiềutra và phục hồiđiềutra:
Xuất phát từ bản chất của chế độ ta là nhân đạo: những người ốm đau, bệnh tậtnguy hiểm mặc dùhọphạmtộinhưnghọđược cộngđồngvà gia đình chăm sóc và chữa bệnh, có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì cóthể được tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạnđiềutra.
Trong trường họp đã xác định được bị can nhưng do chưa kịp tiến hành các biện pháp ngăn chặnkịpthời nênđể bịcanbỏtrốn thì căncứĐiều160 BLTTHS năm 2003 thì CQĐT ra quyết định truy nã bị can trước khi ra quyếtđịnh tạm đình chỉ điều tra bị can khi đã hết thời hạnđiềutra vụ án hình sự.
Trong trường hợpvụ áncó nhiều bị can mà lý do tạm đỉnh chỉ điều tra không liên quan đếntấtcả các bị can thì có thể tạmđình chỉ điềutra đối với từng bị can. Đó là trường họp hành vi phạm tội của từng bị can đã được xácđịnhrõ, đủcơ sở đểtruy tố, xétxửnhưng cóbịcan dobịmắc bệnh hiểm nghèo hoặc bỏ trốn thì CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ đối với bị can đó.
Khi bị can bị bệnh tâm thần hay mắc bệnh hiểm nghèo khác mà phải ra quyếtđịnhtạmđìnhchỉđiềutra thì căncứvàokếtluận của Hộiđồnggiámđịnh y khoa, VKSND có thể đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh theo quy định tại Điều 43 BLHS năm 1999.
Quyếtđịnhtạmđìnhchỉcủa CQĐT phải gửi ngay cho VKS cùngcấpđể thực hiệnchức năng kiểm sát và quyếtđịnh đó phảigửi ngay chobịcan,
25
người bị hạiđể họ biết và thực hiện.
Nếu hết thời hạn điều tra vụ án về ma túy mà tài liệu thu thập được xácđịnh không đủ cơ sở cấu thành tội phạm hoặc kết luận không phải là tội phạm thì CQĐT phải ra quyếtđịnhđìnhchỉđiềutra vụán hình sự. Bảnkếtluận phải nêu rõ quá trình điều tra, lý do và các căn cứ đình chỉ điều tra.
– Đìnhchỉđiềutra là việc chấmdứthoạtđộngTTHS đốivớivụán hoặc đối vớibị can được thực hiện khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107, BLTTHS năm 2003 [16]hoặc Điều19, Điều 25; khoản 2, Điều 69, BLHS năm 1999 [14].
Sau khi nhậnđược kếtluận điều tra kèm theo quyếtđịnh đình chỉ điều tra vụ án, VKSND phải thực hiện kiểm tra ngay tính có căn cứ, tính hợp pháp của quyếtđịnhđó. Điềuđóđồngnghĩa với việc phải nghiêncứulạitoànbộhồ sơ để đảmbảoviệc đình chỉ điều tra vụ án là cần thiết, đúng đắn, bảo vệđược quyền lợi của nhà nước, cá nhân công dân cũng như các bên đã thamgia tố tụng.
Việc đình chỉ đối vớimột hay nhiều bị can trong vụ án có đồng phạm mà căncứđể đình chỉ không liên quan đến các bịcan cònlạithì vẫn cóthểtiến hành bình thường. CQĐT vẫn chuyển hồ sơ đề nghị truy tố đối với các bịcan còn lại đó mà không ảnh hưởng đến việc giải quyết chung đối với vụ án.
– Phục hồi điều tra là biện pháp tố tụng được sử dụng trong hai trường hợpsauđâyđể đảmbảoviệc tạmđình chỉ, đìnhchỉvụán không làm ảnh hưởng đếnviệc truy cứu trách nhiệm hình sự một hành vi phạm tội.
+ Thứ nhất là: Qua việc kiểm sát các quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, VKSND phát hiện thấy các quyết định này không có căn cứ, trái pháp luật và ra quyết định hủy bỏ đồng thời yêu cầu CQĐT ra quyết định phục hồi vụ án.
+ Trường họp thứ hai là: Khi đã cókếtquả giámđịnh, đã bắt được bịcan bỏ trốn hoặc có căncứxácđịnh đối tượng phạmtội trong vụ án tạm đình
26
chỉ điều tra hoặc bị can đã khỏi bệnh, đủ khả năng chịu trách nhiệm hình sự… thì CQĐT ra quyếtđịnhphục hồiđiềutra để tiếp tục điềutra theothủtục chung.
1.2.4. Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra
Thực tế điều tra VAHS có trường họp xảy ra tranh chấp về thẩm quyềnđiều tra giữa các CQĐT với nhau như: Thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ,theo vụ việc; thẩm quyềnđiềutra của từng loại CQĐT, các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Trường họp thấy vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp mình, VKSND yêucầuCQĐT tiến hành các thủ tục để VKSND cùng cấp ra quyết định chuyểnvụ áncho CQĐT có thẩm quyền tiếp tục điềutra theo quyđịnhtạiĐiều116, BLTTHS năm 2003 [16]. Nếu phải chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thì CQĐT cấp huyện tiến hành các thủ tục để VKSND cấp huyện có văn bản đề nghị VKSND cấp tỉnh ra quyết định chuyển vụ án. Nếu vụ án do CQĐT cấp tỉnh đề nghị chuyển thì VKSND cấp tỉnh ra quyết định chuyển vụ án.
Khi có tranh chấpvề thẩm quyềnđiềutra giữa các CQĐT thuộc các ngành khác nhau, thì Viện trưởng VKSND cùngcấpnơi cótộiphạmxảyra hoặc nơi phát hiệntộiphạm quyếtđịnh.Khi có tranh chấpvề thẩm quyềnđiều tra giữa các CQĐT cùng ngành ở cấp nào thì Viện trưởng VKSNDcấpđó yêu cầu Thủ trưởng quản lý cùng cấp giải quyết.
1.2.5. Yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra
Trong quá trình kiểm sát các hoạt động điều tra, KSV phải kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật của CQĐT và của ĐTV. Các vi phạm trong quátrìnhđiềutra vụánđược thể hiệndướidạng khác nhauvớinhiều tính chất khác nhau như: các quyết định khởi tố, không khởi tố VAHS, khởi tố bị can,
27
quyếtđịnháp dụng biện pháp ngăn chặn, quyếtđịnhkhám xét, thugiữvật chứng, có căncứhợppháp hay cócầnthiết không; các biện phápđiềutra khác như cóđảmbảocác quyđịnhcủa pháp luật không. Việc thu thập, bảo quản, đánh giá chứngcứcó khách quan không. Việc đề nghị truytốngười phạm tội về tội danh, điều luật, mức độ đã phù hợp với các chứng cứ trong vụán và quy định của pháp luật chưa.
Khi phát hiện các vi phạm thì VKSND phải có văn bản kiến nghị hoặc văn bản yêu cầu CQĐT khắc phục ngay các vi phạm đó, yêucầuThủ trưởng CQĐTxửlý ĐTVđã vi phạm pháp luật;nếuvi phạmđócóđủyếutốcấu thànhtộiphạm xâm phạm hoạtđộngtư pháp thì phải chuyển tài liệu cho CQĐT của VKSND tối cao để xử lý theo thẩm quyền.
1.2.6. Kiểm sát việc đề nghị truy tố
Sau khi kết thúc việc điều tra và có đầyđủ chứng cứđể xác định hành vi phạm tội của bị can thì CQĐT làm bảnkếtluận điều tra đề nghị truy tố, nêu rõnộidung, diễn biến của hành vi phạmtộivà các chứngcứchứng minh, đồng thời nêu những ý kiếnđề xuấtgiải quyết vụ án. Kèm theobản kếtluậnđiều tra đề nghị truy tố là hồ sơ vụ án với các thủ tục tố tụng, các tài liệu chứađựngchứngcứchứng minhtộiphạm và các tài liệu liên quan khác để đảm bảo cho việc truy tố được khách quan, toàn diện và đầy đủ.
Như vậy, thực hiệnmộtquy trình KSĐTvụán hìnhsựchính là hoạtđộngtổnghợptính có căn cứ, tínhhợplý và hợppháp của VKSNDđốivới hàng loạt các hoạt động điều tra của CQĐT. Nó không chỉ dừng lại ở việc hợp lý hóa các thông số khoa học một cách thông thường mà nó còn là việc chọn lọc tính có căn cứ, tính hợp lý trong từng biên bản, từng lời khai, từng chi tiết nhỏ nhấtđược phảnánh từ sự thật khách quan của mỗi vụ ánđã được táihiện lạibằng các biện pháp, thủthuật nghiệpvụdựatrênnềntảng của thủtục tốtụng chặt chẽ. Do đó đòi hỏi KSV khi KSĐT không những phải tinh tường và
28
thông thạo tất cả các quy trình hoạt động tố tụng, mà còn có một vốn hiểu biết tựnhiên, xã hộiphong phú và trìnhđộkhoa học lý luận vững chắc để thực hiện tốt hoạt động này.
Và Sau khi kết thúc điều tra vụ án về ma túy, CQĐT chuyển toànbộ hồsơ vụ án sang VKS để VKS thực hiện chức năng truy tố bị can theo quy định của pháp luật. “Truy tố là một giai đoạn của TTHS, trong đó VKS tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm truy tố bị can ra trước Tòa án bằng một bản cáo trạng hoặc những quyết định truy tố khác để giải quyết đúng đắn vụ án về ma túy”.
Viện Kiểm sát ra quyết định truy tố bằng một bản cáo trạng là giai đoạn cuối cùng của công tác KSĐT các vụ án về ma túy của VKSND.
Điều 166 BLTTHS năm 2003 quy định trong thời hạn hai mươi ngày, đối vớitộiphạm ít nghiêm trọng vàtộiphạm nghiêm trọng và trong thờihạnba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; kể từngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, VKS phải ra một trong các quyết định sau: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; Trả hồ sơđể điều tra bổ sung; Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án hình sự.
Trong trườnghợpcầnthiết Viện trưởng VKS cóthểgia hạn, nhưng không quá mườingàyđốivớitộiphạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mườilăm ngàyđốivớitộiphạmrấtnghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra một trong các quyết định trên, VKS phải thông báo cho bị can, người bào chữa biết, phải giao cáo trạng, quyết định cho bị can.
Sau khi nhận hồ sơ vụ án; VKS có quyền áp dụng, thayđổi hoặc hủy bỏcác biện pháp ngăn chặn; yêu cầu CQĐT truy nã bị can.
Trong trường hợp truy tố thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết
29
định truy tố bằng bản cáo trạng, VKS phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Tòa án để Tòa án thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Bảncáo trạng là mộtvănbảnpháp lý nhân danh Nhà nướcthể hiện quan điểm, thái độ của cơ quan Kiểm sátđối với người phạmtội và vụ ánvề ma túy. Do đó, bản cáo trạng phải ghi rõ: Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểmxảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm vànhững tình tiết quan trọng khác; những chứngcứxác địnhtộitrạng của bịcan, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Nộidungbảncáo trạng giớihạnphạm vi xétxửcủa Tòa án theo quyđịnh tại Điều 196 BLTTHS 2003: “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xétxử”. Tòa án khôngđược xétxửngườivà những hành vi mà VKS chưa truy tố. Nếunhư qua xétxửtạiphiên tòa, Tòa án xác địnhrằngbịcáo vànhững hành vi phạm tội đã bị truy tố còn có người khác phạm tội hoặc hành vi phạm tội chưa được truy tố thì Tòa án tiếp tục xét xử những bị cáo, những tội phạm đã bị truy tố và có thể ra quyết đinh khởi tố vụ án hình sự đối với tội phạm mới, hoặc yêu cầu VKS khởi tố.
1.2.7. Kiến nghịvớicơ quan, tổchức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
Trong quá trình THQCT, KSĐT các vụánvề ma túy, KSV có trách nhiệm phát hiện những nguyên nhân và điềukiện phạm tội, yêucầucác cơquan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. KSV phải phối hợp với CQĐT, với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội để đề ra và thực hiện các biện pháp phòng ngừa đối với tội phạ về ma túy.
Đâylà một hoạt động rất quan trọng của VKSND trong việc đấu tranh, phòng ngừa vi phạm và tộiphạm. Qua thực tế KSĐT từngvụáncụthể,
30
VKSND sẽ cóđiều kiệnđể tìm ra nguyên nhân và tính chất của từng loại tội phạm;từđósẽ rút rađược những quy luật khách quan và chủ quan của loại
tội phạm và đề ra được những biện pháp hữu hiệu nhằm khắc phục, hạn chế sự gia tăng của tội phạm, đặc biệt là đối với các vụ án về ma túy.
Kết luận Chương 1
Chương 1, luận văn tập trung phân tích những vấn đề lý luận: khái niệm,đặc điểmcủa điềutra các vụánvềma túy, KSĐT các vụánvềma túy của VKSND. Phân tích đưa ra khái niệm cũng như các đánh giá trong việc kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo tố tụng hình sự. Các quá trình xử lý một vụ án sơ thẩm trong kiểm sát điều tra đối với các vụ án về ma túy.
Trên cơ sở phân tích lý luận, pháp luật TTHS, luận văn làm sángtỏ ở bình diện khoa học vị trí, vai trò, nội dung chức năng của VKSND trong hoạtđộngKSĐT. Luận văn cũng nêu rõnộidung biện pháp kiểm sát hoạtđộng điềutra các vụánvềma túy như: giải quyếttốgiác, tin báovề tộiphạm và kiến nghị khởitố;khởitốvụán; áp dụng,hủybỏbiện pháp ngăn chặn; các hoạtđộngđiềutra cụthể; kiến nghị vi phạm, phòng ngừa… Đồngthời, luận văn còn làm rõ quan hệ giữa VKSND với CQĐT trong giai đoạn điều tra tội phạm này. Kếtquả nghiêncứunày cóýnghĩa khoa học, góp phầnbổsung vào lý luậnvề hoạt động kiểmsát của VKSND trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung, điều tra tội phạm về ma túy nói riêng.
31
THỰC TRẠNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
TỪ NĂM 2010 – 2015
2.1. Khái quát kết quả hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
2.1.1. Những kếtquảđạtđược trong kiểm sátđiều tra các vụ án về ma tuý
Đà Nẵnglà một thành phố thuộc vùng Nam Trung Bộ, Việt Nam. Đây là trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệlớncủa khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Đà Nẵng hiện là mộttrong 13đôthịloại 1đồng thời là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương ở Việt Nam.Nằm ởvị trí trung độ của Việt Nam, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế – xã hội và quốc phòng – an ninh; là đầumốigiao thông quan trọngvềđườngbộ, đườngsắt, đườngbiển và đườnghàng không, cửa ngõ chính ra biển Đông của các tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên và các nước tiểu vùng Mê Kông. Đà Nẵng hiện nay có tám quận, huyệnvớitổng diện tích là 1285,4 km², dânsốthànhphốlà 951.700 người. Những năm trở lại đây, Đà Nẵng đã khác trước nhiều, những vậnđộngnộilực đã khiếnĐà Nẵng ngày càngmởrộngtầmvóc của mình. Bắtđầutừkếhoạch phát triển cơ sởhạtầng, nhất là cơ sởvềhạtầng giao thông, tiến hành chỉnh trang đô thị, xây dựngmộtmôi trường mới hiểu theo nghĩa rộng, tạo điều kiện cho công cuộc phát triển mới. Chủ trương lấy công nghiệp làm đòn bẩy phát triển, cơ cấu kinh tế Đà Nẵng có chuyển dịch đáng kể theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ phù hợp với xu thế chung của cả nước và những đô thị lớn. Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ nhân dân; nền kinh tế đã được ổn định và
32
phát triển, đời sống mọi mặt của nhân dân được nâng lên.
Song song với sự phát triển nhanh về kinh tế, văn hóa, các mặt trái của cơchế thị trường, mức độ đô thị phát triển mạnh, nhiều tiêu cực đã xảy ra, tình hình vi phạm vàtộiphạm còn diễn biến phức tạp, nhất là trong lĩnhvựctrậttự,an toàn xã hội. Ngành kiểm sát thành phố Đà Nẵng mặc dù còn khó khăn nhiều mặt nhưng cán bộ, KSV đã nỗ lực phấn đấu, nắm chắc vào chức năng, nhiệm vụcủa ngành, hoàn thành tốt nhiệm vụ được Nhà nước giao. Tuy đã nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tích đáng kể, nhưng qua hoạt động thi hành pháp luật, đơn vị vẫn còn vấp phải những vi phạm, những hạn chế trong KSĐT các vụ án về ma túy.
Dưới đây, tác giả luận văn sẽ tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giáthực trạng, nguyên nhân và hạn chế áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án về ma túy của VKSND thành phố Đà Nẵng từ năm 2010 – 2015. Để
từ đó đề ra những giải pháp cơ bản nhằm khắc phục sai sót, hạn chế; góp phần đưa công tác KSĐT các vụ án về ma túy đápứng được với yêucầu, nhiệm vụmới trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay.
Khởi tố vụ ánlà giai đoạn mở đầu của TTHS, trong đó các cơ quan cóthẩm quyền khởitốxác địnhcódấuhiệu của tộiphạmđểmởcuộc điềutra theo TTHS còn khởitố bịcan là việc CQĐT hoặc VKS xác địnhmộtngười đã thực hiện hành vi phạmtộicụthểbằng một quyếtđịnhđểbắtđầutiến hành TTHS về người đó với tư cách là bị can. Khởi tố bị can phải có đầy đủtài liệu xác địnhmộtngườiđã thực hiện hành vi phạmtộicụthểđược quyđịnh trong BLHS hiện hành. Do tính chất quan trọng của việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can nên pháp luật TTHS quy định chặt chẽ các căn cứ để khởi tố vụán về ma túy và khởi tố bị can phạm tội về ma túy. Pháp luật TTHS cũng quyđịnh chặt chẽ chức năng giám sát và quy trình giám sát của VKSND đối với hoạt động khởi tố vụ ánhình sự nhằm đảm bảo cho việc khởi tố vụ án hình sự
33
phạmtộivềma túy của CQĐTđược tuânthủtheo đúng quyđịnhcủa pháp luật.
* Những kết quả đạt được: Theo báo cáo thống kê của VKSND thành phố Đà Nẵng thì từ năm 2010 đến năm 2015 số lượng khởi tố vụ án, khởi tốbịcan phạmtộivềma túy và hoạtđộngáp dụng pháp luật trong công tác KSĐT như sau:
Bảng 2.1. Số vụ án, bị can VKS phải thụ lý KSĐT
| Năm | Số vụ | Số bị can | Số vụ kết thúc điều tra | Số bị can kết thúcđiều tra | Số vụ quá hạn điều tra | Đạt tỷ lệ xử lý (vụ)** |
| 2011 | 588 | 1.077 | 569 | 1.079 | 0 | 77,83 |
| 2012 | 589 | 981 | 557 | 1.001 | 0 | 76,4 |
| 2013 | 665 | 1.182 | 638 | 1.183 | 0 | 95,93 |
| 2014 | 757 | 1.364 | 718 | 1.311 | 0 | 94,84 |
| 2015 | 711 | 1.257 | 678 | 1.221 | 0 | 95,35 |
Ghi chú: ** Không kể số vụ án đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc chuyển thẩm quyền.
Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã chủ động phối kết hợp chặtchẽvớicác cơ quanbảovệpháp luật, tăngcườngcông tác đấutranh phòng chốngtộiphạmvềma túy; kiềmchếsựgia tăng của tộiphạm; góp phầngiữvững an ninh chính trị, trậttựan toàn xã hội. VKS đãcó nhiềuđềxuất, kiến nghịvớicấp ủyvà chính quyềnđịa phương, tăngcườngcông tác lãnhđạo, chỉđạotrên lĩnh vực quản lý Nhà nước, kinhtếxã hội, góp phần phụcvụnhiệmvụchínhtrịcủa địa phương. Trong những năm qua công tác KSĐT việc khởitốvụán, khởitốbịcan trong các vụánvềma túy của VKSND thành phố Đà Nẵng đã đạt được những tiến bộ đáng kể. Về nguyên
tắc cơ bản, đã đảm bảo đạt được: Các hành vi vi phạm và tội phạm đều được
34
kịp thời phát hiện vàxửlý; đã hạn chế thấp nhất làm oan người vô tội cũng như để lọt kẻ phạm tội.
Bảng 2.2. Số vụ án, bị can VKS phải xử lý
| Năm | Số vụthụ lý | Số bị can thụ lý | Số vụ đã truy tố | Số bị can đã truy tố | Số vụquá hạn điều tra | Đạt tỷ lệ xử lý (vụ)** |
| 2011 | 597 | 1.119 | 579 | 1.057 | 0 | 96,98 |
| 2012 | 574 | 1.063 | 559 | 1.021 | 0 | 97,38 |
| 2013 | 655 | 1.229 | 639 | 1.195 | 0 | 97,5 |
| 2014 | 734 | 1.335 | 722 | 1.307 | 0 | 98,3 |
| 2015 | 694 | 1.257 | 691 | 1.249 | 0 | 99,5 |
Ghi chú: ** Không kể số vụ án đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc chuyển thẩm quyền.
Vớisốliệu trên cho thấy, mặc dùsốlượngán vềma túy phảithụlýKSĐT không lớn; nhưng so với tỷlệdân số của địa phương thìsố lượngán trên là khá cao sovớicác địa phương trongcảnước. Các vụánvềan ninh chính trị không xảy ra; các vụ án về kinh tế xảy ra nhiều nhưng hành vi gây thiệthạikhông lớn. Sốlượngma túy trong các vụánvềma túy không lớn; nhưng điều đáng chú ý là các vụ án về ma túy xảy ra khá phổ biến từ thành thịđếnnông thôn. Các vụán tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy đang làđiểm nóng, gây nhức nhối tại địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Các vụ án về ma túy khi được khởi tố điều tra, nhất là từ khi khởi tố bịcanđã được các KSV kiểm sát chặt chẽ; diễn biến và kếtquảđiềutra của ĐTV đã được các KSV theo dõi giám sát thường xuyên, kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra sát thực tế và có hiệu quả, góp phần làm cho công tác điều tra của CQĐT được thi hành pháp luật đầy đủ và đúng luật, hạn chế thấp nhất việc trảhồ sơ để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ, đình chỉ không có lý do chính đáng.
35
Do đã thực hiện được việc KSĐT ngay từ giaiđoạn đầu nêncác quyết định của VKS thường là chuẩn mực, đúng quy định của pháp luật TTHS; khi hồsơ kếtthúcđiềutra chuyển sang VKS, phầnlớncông tác truytốđược tiến hành nhanh.Tỷlệxửlý án của VKS đạtrấtcao, năm 2010 – 2015kếhoạch của toàn ngành đề ra là đạt tỷ lệ xử lý 95%; đến nay 100% cácđơnvịtrong toàn ngành đã đạt và vượt tỷ lệ trên.
– Kết quả kiểm sát việc khởi tổ; kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏcác biện pháp ngăn chặn và kiểm sát việc khám xét, thu giữ, kê biên tài sản:
Viện kiểm sát haicấpthànhphốĐà Nẵngđã phốihọpchặt chẽ vớiCQĐT cùng cấp trong việc tiếp nhận, quản lý phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT. Tất cả các đơn vị Viện kiểm sát hai cấpthành phố Đà Nẵng đều mở sổ sách và phân công KSV theo dõi tố giác, tin báovề tội phạmvà kiến nghị khởi tố trên địa bàn do đơn vị mình quản lý. Kếtquả nổi bật trong hoạt động nàylà số vụ phạmtội và đối tượng phạmtộiđược phát hiện kịp thời; các vụ án, CQĐT và VKSND trao đổi với nhau thông tintừgiaiđoạngiải quyếttốgiác, tin báovề tộiphạm và kiến nghị khởi tố, CQĐT đã cung cấp tài liệu, thông tin vụ án cho VKSND cơ bản là đầyđủ, kịp thời, tạo điều kiện để VKSND phê chuẩn các quyếtđịnh của CQĐT đảmbảo chính xác.
Công tác kiểm sát việc áp dụng, thayđổi,hủybỏcác biện pháp ngăn chặn đối vớicác vụ án về ma úy luôn được coi trọng, do đó đã khắc phục tình trạng khởi tố, bắt giữ, tạmgiam thiếu căn cứ, vi phạm quyềntựdo, dânchủcủa công dân, đảmbảođúng quy định tại BLTTHS năm 2003. Đã thực hiện tốt việc phê chuẩn bắt giữ, tạm giam, bảođảmviệc phê chuẩn cóđủ căncứ, đúng pháp luật. Không có trường họp nào bắt, tạm giữ hình sự sau đó chuyển xửlý hành chínhđốivớitộiphạmvề ma túy. Nhờ phê chuẩnbắtgiữ, tạm giam thận trọng, kiên quyết từ chối phê chuẩn bắt khẩn cấp, gia hạntạmgiữ,
36
bắttạmgiam trong các trườnghọpkhôngcầnthiếtđã khắc phục mộtbước quan trọng việc lạm dụng bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam không đúng pháp luật, bắtoan, sai, nhất là những trườnghợpáp dụng biện pháptạmgiữ, tạm giam đối với người phạm tội về ma túy.
KSVđã thực hiện đúng các quyđịnhcủa pháp luậtvề khám xét, thu giữ, kê biên tài sản. Việc khám xét, thu giữ, tạmgiữ, kê biên tài sản, vật chứng trong các vụán do NCTN gây ra được thực hiện khẩn trương nhưng không qua loa, đạikháiđãhạnchếviệc tẩutánvậtchứng, tiền, tàisảnliên quan hoặc không tìm thấy những vật chứng cần thiết ở nơi bị khám xét.
– Kết quả kiểm sát trong quá trình CQĐT thực hiện các công tác điều tra và lập hồ sơ vụ án hình sự: Khi KSĐT các vụ án về ma túy các KSVđều xem xét thận trọng các căncứkhởitốvụán, khởitốbịcan; luônnắmchắc tiếnđộgiải quyếtvụán, kịpthờiđề ra yêucầuđiềutra phùhọpđể làm rõdiễn biến hành vi phạm tội; kiểm sát chặt chẽ các hoạtđộngkhám nghiệm; thu thập tang chứng,vậtchứng của vụán;kếtquả giámđịnh;các chứngcứbuộc tội, chứng cứ gỡ tội cũng như các tài liệu khác có liên quan, làm rõ tính chất mức độ hành vi phạm tội, xác định trách nhiệm dân sự và nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội.
Một số trường hợp VKSND trả hồ sơ điều tra bổ sung cho CQĐT, KSV trong quá trình KSĐTđã đề ra yêucầuđiềutra, tuy nhiên sau khikếtthúcđiều tra, chuyển hồ sơ sang VKSND truy tố, KSV khi nghiên cứu hồ sơ vụ án thấy CQĐT chưa thực hiệnđầyđủ yêucầu điều tra nên phảitrả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Viện kiểm sát hai cấp thành phố Đà Nẵng đã thực hiện tốt việc kiểm sát lậphồ sơ vụ án của CQĐT. Qua kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT cho thấy, về cơ bản ĐTV thực hiện đúng quy định về lập hồ sơ, việc lập hồ sơ vụán có sự phối hợp chặt chẽ của VKSND với CQĐT, nhất là sau khi có Thông
37
tư liên tịch số 05/2005/TTLT- VKS-BCA-BQP ngày 07/5/2005 của VKSNDTC, BộCông an, BộQuốc phòngvề quanhệphốihợpgiữa CQĐT và VKSND trong thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003 và Công văn số 71/CSĐT (C16) ngày 26/02/2007 của CQĐT- Bộ Công an.
-Kếtquảkiến nghị yêucầuCQĐT khắc phục viphạm trong quá trìnhđiềutra và kiến nghị các cơ quanhữuquan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vỉ phạm pháp luật: Qua hoạt động KSĐT của Viện kiểm sát haicấpthànhphốĐà Nẵng, qua mỗinămđềucó nhũng tiếnbộnhất định, nhất làđốivớicácvụtrọng án, ánđiểm,án cóbịcan phạmtộivềma túy. Nhờ đó đã phát hiện, kiến nghị yêucầuCQĐT khắc phục những vi phạmphổbiến trong hoạtđộngđiềutra như: Vi phạmvề xửlývậtchứng; vi phạmvề trưng cầu giám định; vi phạmvề bắt, tạmgiữ, tạm giam; vi phạm trong việc lậphồ sơ vụ án, vẽ sơ đồ hiệntrường nhất là những vụ án tainạngiao thôngđường bộ… Cụ thể: Năm 2011, ban hành 04 kiến nghị; năm 2012 ban hành 9 kiến nghị; năm 2013 ban hành 7 kiến nghị; năm 2014, ban hành 8 kiến nghị; năm 2015, ban hành 12 kiến nghị về các vi phạm trên [41].
Thông qua việc kiểm sát giải quyết án hình sự, Viện kiểm sát hai cấp thànhphốĐàNẵngđã chúýxác địnhnhững nguyên nhân, điềukiện phạm tội, những bất cập trong cơ chế, chính sáchđể kiếnnghị với cơ quan tổ chức liên quan có biện pháp phòng ngừa tội phạm, khắc phục những thiếu sót trong quản lý như:đốivớitệ nạnma túy trên các địa bànxảyra nhiều, hoạtđộngđịnh giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản; trong đăng ký, quản lý hộ khẩu, quản lýtạmtrú… Cụthể: Năm 2013 ban hành 12 kiến nghị; năm 2014, ban hành 6 kiến nghị; năm 2015, ban hành 10 kiến nghị về các vi phạm trên [41].Điểnhình, trong năm 2015, thông qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ án về ma túy, VKSND thành phố Đà Nẵng nhận thấy tình hình học sinh vi phạm pháp luật và phạmtộicó chiềuhướnggia tăng, đặcbiệt là học sinhởcác
38
Trường trung học cơsở đã phạmtộiđặcbiệt nghiêm trọng, đơnvịđã ban hành kiến nghị phòng ngừa đối với Giámđốc Sở giáodục đàotạothành phốĐà Nẵng có biện pháp chỉ đạo việc quản lý, giáo dục học sinh để hạn chế, tiến tớikhông đế xảy ra tình trạng học sinh vi phạm pháp luật và phạm tội [41].
2.1.2. Nguyên nhân của những kếtquảđạt được
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng Kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng


