HIỆU LỰC CỦA KHÁNG CÁO KHÁNG NGHỊ THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Kháng cáo, kháng nghị hợp pháp theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự (sau đây gọi tắt là kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm) có hiệu lực phát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm. Việc nghiên cứu đề tài “Hiệulựccủa kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học có tính cấp thiết cả về lí luận cũng như thực tiễn vì những lí do sau:
Thứnhất, ý nghĩa quan trọng về pháp lí, chính trị và xã hội của hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự
Về pháp lí, việc thực hiện hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm góp phầnbảođảmthực hiện đúng thẩm quyềncủaToà áncấpphúc thẩm, quyền vàlợiíchhợpphápcủacácchủthểkháng cáo, kháng nghị, phát hiện, khắc phục những sai lầm, vi phạmcủaToà án cấp sơ thẩm, qua đónâng cao trách nhiệm của Toà áncấpsơ thẩm trong việc giải quyết vụán hìnhsự.Vềchính trịvà xã hội, việc thực hiện hiệu lựccủakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm góp phần bảo đảm yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Namcủanhân dân, do nhân dân và vì nhân dân,bảođảmquyền con người, quyềntựdo, dânchủcủacông dân,bảođảmcông bằng xã hội, nâng cao hiệuquảgiáodụcýthức pháp luật vàphòng ngừatộiphạm, góp phần củngcốlòng tincủanhân dân vào hoạt động xét xử của Toà án.
Nghiên cứu hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hìnhsự ở cấpđộ luận án tiến sĩ luậthọcgóp phần tăng cường ýnghĩa pháp lí, chính trị và xã hội của hiệu lực kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự.
Thứhai, sự cần thiết hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam vềhiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành chưa quyđịnh đầy đủ và hợp lí điều kiện hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm: chưa quy định rõ các quyết định sơ thẩm là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm; chưa quy định yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị không được vượt quá giới hạn xét xử sơ thẩm; chưa quy định trách nhiệm của Toà án cấp sơ thẩm giao, gửi bản án, quyết định sơ thẩm cho tất cả các chủ thể kháng cáo, kháng nghị; quy định không hợp lí thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành chưa quyđịnh đầy đủ và hợp lí nội dung hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm: chưa quyđịnh Toà án cấpphúc thẩm thực hiện thẩm quyền trong giới hạn xét xửsơ thẩm; chưa quy định đầy đủ các trường hợp Toà án cấp phúc thẩm xem xét và quyếtđịnh ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị; chưa quyđịnhđầy đủ cáctrường hợp Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo; chưa quyđịnh việcthay đổi,bổsung kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm khôngđược làm xấuhơn tình trạng của đương sự.
Nghiên cứu hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học góp phần hoàn thiện pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Thứba, sự cần thiết bảo đảm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trong thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam còn tồn tại tình trạng chưabảo đảm hiệulựccủa kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm như:
tình trạngtồnđọngán quá hạn tạiToà áncấpphúc thẩm; tình trạng kháng cáo, kháng nghị không hợppháp do vi phạmđiều kiện hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị; tình trạng Toà án cấpphúc thẩm chấp nhận kháng cáo, kháng nghị không hợp pháp trong khi không xem xét hoặc xem xét khôngđầy đủnội dung kháng cáo, kháng nghị hợppháp; tình trạng Toà án cấpphúc thẩm xem xét và quyết địnhngoài giới hạn xét xửsơ thẩm, ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị, làm xấu hơn tình trạng của bị cáo trong khi không có
kháng cáo hoặc kháng nghị theo hướng không có lợi cho họ…
Nghiên cứu hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học góp phần bảo đảm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong thực tiễn thi hành pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam.
Thứtư, sự cần thiết phát triển tri thức khoahọcluậttốtụng hìnhsự vềhiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
Trong khoa họcluậttố tụng hình sự Việt Nam hiện nay chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp, toàn diện và có hệ thống về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Trong khoa học luật tố tụng hình sự trên thế giới đã có các công trình nghiên cứu trực tiếpvềhiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm nhưng còn tồn tại nhiều vấn đề như: thiếu toàn diện và đầy đủ về nội dung và phạm vi nghiên cứu, còn nhiều quan điểm khác nhau về kết quả nghiên cứu.
Nghiên cứu hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hìnhsự ởcấpđộ luận án tiến sĩ luậthọcgóp phần vàosự phát triển tri thức khoa học luật tố tụng hình sự về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Thứnăm, yêu cầu thểchế hoáđường lối củaĐảng về chiếnlượccải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
Để thực hiện chiếnlược cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật Việt Nam, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002vềMột số nhiệmvụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyếtsố48-NQ/TW ngày 24/5/2005vềChiến lược xây dựng và hoàn thiệnhệ thống pháp luật Việt Nam đếnnăm 2010, định hướngđến năm 2020, Nghị quyếtsố49-NQ/TW ngày 02/6/2005vềChiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Các vănbảnnói trên xác định nhiệmvụxây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảovệcông lí, hoạt độngtư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và có hiệu lực cao, tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, phù hợp với nguyên tắc hai cấp xétxử, bảođảm quyền con người. Các yêu cầu nói trên là cơ sở chính trị, bảo đảm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Nghiên cứu hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hìnhsự ở cấpđộ luận án tiến sĩ luật học góp phần thểchếhoá kịp thời,đầy đủ, đúngđắn đường lối của Đảngvề chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đócó pháp luật tố tụng hình sự nói chung, pháp luậttố tụnghìnhsự về hiệulựccủa kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm nói riêng.
Thứsáu, yêu cầu cụ thể hoá quyđịnhcủa Hiến pháp nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoáXIII, kì họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 (sau đây gọi tắt là Hiến pháp). Hiến pháp quyđịnhToà án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, Toà án có nhiệm vụ bảo vệ công lí, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Điều 102); chếđộxét xửsơ thẩm, phúcthẩm đượcbảo đảm (Điều 103); bản án, quyết định của Toà án phảiđượccơ quan, tổchức, cá nhân tôn trọng, cơ quan, tổchức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành (Điều 106). Những quy định nói trên làcơ sở hiến định, bảo đảm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Nghiên cứu hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự ở cấpđộluận án tiến sĩ luậthọcgóp phần cụ thể hoá các quy định cóliên quancủaHiến pháp, bảo đảm tính thống nhất trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó có pháp luật tố tụng hình sựnói chung, pháp luật tốtụng hình sựvề hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm nói riêng.
2. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mụcđích nghiên cứu của luận án làtừ việc nghiên cứu lí luận, pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật,đềxuất các giải pháp bảođảm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Để đạt được mục đíchnghiên cứu nói trên, cần giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
Về phương diện lí luận, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là làm rõ khái niệm, cơ sở, điều kiện, nội dung và ýnghĩa hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự.
Vềphương diện pháp luật, nhiệmvụ nghiên cứu của luận án là phân tích, đánh giá quyđịnh củapháp luật tốtụng hình sự Việt Namvề hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Về phương diện thực tiễn, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là làm rõthực trạng hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong thi hành pháp luật tụng hình sự Việt Nam.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượngnghiêncứucủa luận án là lí luận, pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam vềhiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiêncứucủaluận án là hiệu lựccủakháng cáo, kháng nghị phát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm trongtốtụng hìnhsự.Thẩm quyền phát sinh và giớihạnbởikháng cáo, kháng nghị là thẩm quyền xem xét và quyết định về nội dung của Toà áncấpphúc thẩm (thẩm quyềncủaToà áncấpphúc thẩm trong việcbảođảm các điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vụ án như áp dụng, thay đổi hoặchuỷbỏbiện pháp ngăn chặn không thuộc phạm vi nghiêncứucủa luận án). Cụ thể:
Về phương diện lí luận, phạm vi nghiên cứu của luận án là nhữngvấnđềlí luận trong khoa học luật tốtụng hìnhsự Việt Nam và khoa học luật tố tụng hình sự trên thế giới về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Về phương diện pháp luật, phạm vi nghiên cứu của luận án là những quy định của pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam hiện hànhvề hiệu lựccủa kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm (có so sánh với pháp luậttốtụng hình sựViệt Nam trước khi pháp điển hoá lần thứhai để đánhgiá sự phát triển của pháp luật về lĩnh vực nghiên cứu).
Về phương diện thực tiễn, phạm vi nghiên cứu của luận án là thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm từ năm 2005 đến năm 2014.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 3.1. Ý nghĩa khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiêncứuđầutiên, trực tiếp và cóhệthống vềhiệu lực củakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trongtốtụng hìnhsựViệt Nam.
Kết quả nghiên cứu của luận án, đặc biệt là cácluận điểmkhoa học về khái niệm, cơ sở,điều kiện, nội dung và ýnghĩa hiệulựccủakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm góp phần bổ sung, hoàn thiện lí luận khoa học luật tố
tụng hình sự về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quảnghiên cứu của luận án, đặc biệt là các luậnđiểmkhoa học trong việc phân tích pháp luật, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị đóng gópvềmặt thực tiễn, giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong việc xây dựng, thi hành pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, trong chiến lược cải cách tư pháp, cụ thể hoá quy định của Hiến pháp, xây dựng và hoàn thiệnhệ thống pháp luật, trongđócó pháp luật tố
tụng hìnhsự Việt Nam nói chung, pháp luật tốtụng hìnhsự về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm nói riêng.
Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực trong nghiên cứu, giảng dạy, xây dựng và thi hành pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUANĐẾNĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.3. Những vấn đề còn tồn tạivà nhữngvấnđềđượctập trung nghiên cứu, giải quyết trong luận án
1.3.1. Những vấn đề còn tồn tại
Thứ nhất, về nội dung và phạm vi nghiêncứu
Các công trình nghiên cứu trong nước chỉ đề cập một cách gián tiếp và thiếuhệthống một số nội dung liên quan đến hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
21
Các công trình nghiên cứu ngoài nước chỉ nghiên cứu hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm theo truyền thống pháp luật củamỗi nước và so sánh pháp luật giữa các nước, chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp về hiệu
lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu ngoài nước chỉ tậptrung nghiên cứu nội dung hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Vấn đề điều kiện hiệu lựccủa kháng cáo, kháng nghịbị đặt ngoài phạm vi nghiên cứu trực tiếpvề
hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.Vấn đề cơsở và ý nghĩa của hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm chưa được nghiên cứu một cách hệ thống.
Thứ hai, về kết quả nghiên cứu
Những quan điểm khác nhau vềkhái niệm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm:
Trong khoa học luật tố tụng hình sự tồn tại hai quan điểm khác nhau về khái niệm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Quan điểm thứ nhất chỉ thừa nhận kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm; quan điểm thứ hai thừa nhận kháng cáo, kháng nghịkhông chỉ phát sinh mà còn giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấpphúc thẩm [138, tr. 447, 448]. Cả hai quan điểmnêu trên vềkhái niệm hiệu lựccủa kháng cáo, kháng nghị phúc thẩmđềukhông đề cập điều kiện hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị.
Những quan điểm khác nhau về nội dung cụ thể của hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm:
Trong khoa họcluật tốtụng hình sự tồn tại hai quanđiểm khác nhau vềnộidungcụthểcủahiệulựccủakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
[147, tr. 797-799]. Quan điểm thứ nhất thừa nhận tính tuyệtđối củahiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, theo đó, kháng cáo kháng nghị phát
sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp cao hơn, cấpxét xử thứ haiđồngthời là cấp xét xử cuối cùng, xem xét lại mặt sự việc cũng như mặt pháp luật của vụ án, xét xử lại nội dungvụ án và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án đó trong giới hạn xét xử sơ thẩm, phạm vi và hướng kháng cáo, kháng nghị [147, tr. 797-799]. Quan điểm thứ hai thừa nhận tính tươngđối củahiệulựccủakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, theo đó, kháng cáo kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án khác cùng cấp với Toà án cấp sơ thẩm [139, tr. 222], xét xử lần thứ hai chứ không xét xử lại nội dung vụ án [140, tr. 499], chủ yếu xem xét lại mặt pháp luật chứ không phải mặt nội dung của vụ án [126, tr. 84; 135, tr. 617, 618], xem xét và quyết định ngoài giới hạn xét xửsơ thẩm [143, tr. 416], xem xét và quyết địnhngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị [2, tr. 54; 39, tr. 83].
1.3.2. Những vấn đề được tập trung nghiên cứu, giải quyết trong luận án Thứ nhất, xây dựng khái niệm hiệu lựccủakháng cáo, kháng nghị phúc
thẩm trongtốtụng hình sự theo hướng khôngchỉ gồmyếu tốnội dung hiệu lực mà còn yếu tố điều kiện hiệulực củakháng cáo, kháng nghị.
Thứ hai, làm rõ cơ sở hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị gồm cơ sở lí luận, pháp lí và thực tiễn của sự tồntạihiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự.
Thứ ba, làm rõ điều kiện hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm theo hướng kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực khi thoả mãn cácđiều kiện hợp pháp về đối tượng, chủ thể, giới hạn, thời hạn, hình thức và thủ tục kháng cáo, kháng nghị. Điều kiện hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm được làm rõ trên tất cả các phương diện lí luận, pháp luật cũng như thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự ViệtNam.
Thứ tư, làm rõ nội dung hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm theohướngkháng cáo, kháng nghị không chỉ phát sinh mà còn giới hạn việc
23
thực hiện thẩm quyền của Toà áncấpphúc thẩm. Nội dung thứ nhất: kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp cao hơn, cấpxét xử thứ haiđồngthời là cấp xét xử cuối cùng, xem xét lại mặt sự việc cũng như mặt pháp luật của vụán, xét xửlại nội dung vụán. Nội dung thứ hai: kháng cáo, kháng nghị giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấpphúc thẩm trong giới hạn xét xử sơ thẩm, phạm vi và hướng kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm khôngđượcchấp nhận yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị vượtquá giới hạn xétxửsơ thẩm, khôngđượcxem xét vàquyếtđịnh ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị, khôngđượclàm xấu hơn tình trạng của bị cáo và đương sự nếu không có kháng cáo, hoặc kháng nghịtheohướngkhông có lợi chohọ.Nội dung hiệulựccủa kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm được làm rõ trên tất cả các phương diện lí luận, pháp luật cũng như thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự ViệtNam.
Thứ năm, làm rõýnghĩa hiệulựccủa kháng cáo, kháng nghịgồmý nghĩa pháp lí, chính trị và xã hội của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tốtụng hình sự.
Thứ sáu, làm rõ yêu cầu và giải pháp bảo đảm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Những vấn đề được tậptrung nghiên cứu, giải quyết nêu trên chính làđiểm mới củaluận án so với các công trình nghiên cứu khác về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự.
1.4. Giả thuyết khoa học, cơ sở lí thuyết và phươngpháp nghiên cứu 1.4.1. Giả thuyết khoa học
Giảthuyết khoa học củaluận án là: kháng cáo, kháng nghị hợppháp theo thủ tục phúc thẩm có hiệulựcphát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp cao hơn, cấp xét xử thứ hai, đồng thời làcấpxét xử cuối cùng và giới hạnviệc thực hiện thẩm quyền của Toà án đótrong giới hạn xét xử sơ thẩm, phạm vi và hướng kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
24
1.4.2. Cơ sở lí thuyết
Cơ sở lí thuyết của luận án làlí luận về sựkiện pháp lí, theo đó, kháng cáo, kháng nghị là sự kiện pháp lí làm phát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm. Luận án còn được nghiên cứu trên cơ sở các nguyên tắc truyền thốngđược thừa nhận phổbiến trong khoa học luật tốtụng hình sự trên thế giới như nguyên tắc hai cấp xét xử; kháng cáo, kháng nghị trong giới hạn xét xử sơ thẩm (tiếng La tinh: “tantum appellatum quantum judicatum” [57, tr. 874]); Toà án cấp phúc thẩm thực hiện thẩm quyền trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị (tiếng La tinh: “tantum devolutum quantum appellatum” [57, tr. 875]); Toà án cấp phúc thẩm không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo và đương sự nếukhông có kháng cáo hoặc kháng nghị theo
hướng không có lợi cho họ (tiếng La tinh: “ne pejorare” [138, tr. 79])…
1.4.3. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của luận án là học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí MinhvềNhà nước và pháp luật, quan điểmcủaĐảng Cộng sản Việt Namvềcải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhànướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa, các giá trị pháp luật quốc tế và các tư tưởng pháp lí tiến bộ của nhân loại về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Phương pháp nghiên cứu của luận án gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và vụ việc điển hình.
Phương pháp phân tích được sử dụng để làm sáng tỏ hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trên các phương diện lí luận, thực trạng quy định và thi hành pháp luật, lập luận các giải pháp bảođảm hiệu lực củakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Phương pháp tổnghợpđược sử dụng đểhệ thống hoá các quan điểm khoa học trong và ngoài nước về hiệulựccủakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
25
Phương pháp so sánhđược sử dụng để đối chiếu lịchsử pháp luật, các truyền thống pháp luật nhằm đánh giá sự phát triển của phápluật tốtụng hình sự ViệtNam hiện hành về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Phương pháp thống kê và vụviệc điển hìnhđượcsử dụngđể làm rõ thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự Việt Namvềhiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
1. Trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Một sốvấn đề liên quan đến hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm chỉ được đề cập một cách gián tiếp trong các công trình nghiên cứuvề phúc thẩm nói chung.
2. Trong khoa học luật tố tụng hình sự trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp về hiệulựccủa kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Đóng góp lớn nhất cho khoahọcluật tốtụng hình sự của các công trình nghiên cứuđólà xácđịnhđượcnội dung khái quát của hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị, bao gồm: sự phát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấpphúc thẩm. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm còn thiếu toàn diện và đầy đủ về nội dung và phạm vi nghiên cứu, còn tồn tại những quan điểm khác nhau về kết quả nghiên cứu.
3. Những vấn đề đượctập trung nghiên cứu trong luận án gồm: khái niệm, cơ sở, điều kiện, nội dung và ýnghĩa hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm; yêu cầu và giải pháp bảo đảm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam.
4. Giả thuyết khoa học của luận án là kháng cáo, kháng nghị hợp pháp theo thủ tục phúc thẩm có hiệulựcphát sinh việc thực hiện thẩm quyền của
26
Toà án cấp cao hơn, cấp xét xử thứ hai, đồng thời làcấpxét xử cuối cùng và giới hạnviệc thực hiện thẩm quyền của Toà án đótrong giới hạn xét xử sơ thẩm, phạm vi và hướng kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
5. Cơsở lí thuyết củaluận án là lí luậnvề sự kiện pháp lí, cụthể hoábởi kháng cáo, kháng nghị và các nguyên tắc truyền thốngđượcthừa nhận phổ biến trong khoa học luật tốtụng hình sự trên thếgiớivềhiệulựccủa kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
6. Phương pháp nghiên cứu của luận ángồmcác phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và vụ việc điển hình.
7. Kết quảnghiên cứu tạichương 1 của luận án là cơ sở định hướng nghiên cứu của luận ánvề hiệulựccủakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự.
27
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤNĐỀ LÍ LUẬN
VỀ HIỆU LỰC CỦA KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊTHEO THỦ TỤC PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
2.1. Khái niệm hiệulựccủakháng cáo, kháng nghị theothủtục phúc thẩm trong tố tụng hình sự
Để xây dựng khái niệm hiệulựccủakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tốtụng hìnhsự,trước hếtphải làm rõ khái niệm kháng cáo, kháng nghị.
Trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam, thuật ngữ “kháng cáo” được phân biệt vớithuật ngữ“kháng nghị” kể từ sau khi ban hành Luật tổchức Toà án nhân dân năm 1960. Trướcđó, thuật ngữ“chống án”hoặc “kháng cáo” được sử dụng chung đối với cả đương sự,biện lí và chưởng lí. Theo tác giả Đinh Gia Trinh, sự phân biệt giữa các thuật ngữ “kháng cáo” và“kháng nghị” “làhợplí, vì hai hành vi này có ý nghĩa khác nhau, tuy đưađếnkếtquảgiống nhau làvụánđượcđưalên Toà áncấptrên xétlại” [99, tr. 31]. Tuy nhiên,sự phân biệt nói trên thểhiện địa vị pháp lí khác nhau giữachủthểcủa quyền kháng cáo và chủ thể của quyền kháng nghịphúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam (một bên là bị cáo và các đương sự – người tham gia tốtụng hình sựvà bên kia là Viện kiểm sát – cơ quan tiến hànhtốtụng hình sự). Trong khi đó, luật tố tụng hình sự nhiều nước trên thế giới chỉ sử dụng một thuật ngữ, ví dụ “appel” trong tiếng Pháp, “appeal” trong tiếng Anh [135, tr. 614], thể hiện địa vị pháp lí bình đẳng của các bên trướcToà án cấp phúc thẩm.
Hiến phápnước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyđịnh:chếđộ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm (Điều 103). Ngay sau khi Toà
28
án ra bản án, quyết định sơ thẩm, bảnán, quyết địnhđócó“uy lực quyết
tụng”[44, tr. 195] hay còn gọilà“hiệulựcphán quyết”[57, tr. 65]. Hiệu lựcphán quyết được phân biệt với hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định của Toà án [57, tr. 65, 381]. Hiệu lực pháp luật củabản án, quyết định của Toà án phát sinh khibảnán, quyếtđịnh đótrởthành nhấtđịnh,coi như chân lí (tiếng La tinh: “Res judicata pro veritate habetur” [54, tr. 186]), làm cơ sởcho việc bắt buộc thi hành vàvụán khôngthểbị xétxửlạivềnội dung. Còn hiệu lực phán quyết “nghĩa làvụviệc đã đượcToà án có thẩm quyền xem xét và rabảnán, quyết địnhtheo đúng các quyđịnhcủapháp luật thì Toà án đó hoặc Toà án khác cùng cấp xét xử sẽ không thụlý để xét xử
lại nữa”[57, tr. 65]. Bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực phán quyết tức là Toà áncấpsơ thẩmđãkếtthúc thẩm quyền giải quyếtvụán; việc sửa hoặc huỷ bản án, quyết định đó thuộc thẩm quyền của Toà án khác. Toà án cấpsơ thẩm khôngthểtựmình làm mất hiệulựcphán quyếtcủabản án, quyết định sơ thẩm. Để làm mất hiệu lực phán quyết của bản án, quyết định sơ thẩm cần có kháng cáo, kháng nghị.
Kháng cáo phúc thẩm trongtốtụng hìnhsựlà phương thức thực hiện quyềncủabịcáo vàđươngsựtrong thời hạn, theothủtụcluậtđịnh yêu cầu Toà án cấpphúc thẩm xét xử lại vụán hoặc xét lại quyết địnhsơthẩm màbảnán, quyếtđịnhsơ thẩmđốivớivụánđóchưa có hiệu lực pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của họ hoặc của chủ thểmà họbảo vệ hay đại diện.
Kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự là phương thức thực hiện quyền và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thời hạn, theo thủ tục luậtđịnh yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ ánhoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyếtđịnhsơ thẩmđối với vụ án đóchưa có hiệu lực pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.
29
Vấn đề hiệu lựccủakháng cáo, kháng nghị có nguồn gốc từ pháp luật La Mã [137, tr. 628] vàtrởthành chế địnhphổbiến trong tất cả các nền pháp luật [135, 618]. Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự có hiệu lực chưa đưa ra thi hành bản án, quyết định sơ thẩm và hiệu lực phát sinh, giớihạnviệc thực hiện thẩm quyềncủaToà áncấpphúc thẩm. Các công trình nghiên cứu luậthọc củanhiềunướctrênthếgiới như Pháp [130, tr. 890-899], Bỉ [139, tr. 925-930, 942, 943], I-ta-li-a [125, tr. 35, 38, 145, 150, 207, 212, 369, 373], ThuỵĐiển[135, tr. 618-620], An-giê-ri
[140, tr. 496-504], Ca-mơ-run [144, tr. 159-160], Ga-bông [128, tr. 106-108]… và của miền Nam Việt Nam trước năm 1975 [98, tr. 408] đều thừa nhận các hiệu lực đó củakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Hiệu lực chưa đưa ra thi hành bản án, quyết định sơ thẩm tiếng Pháp là “effet suspensif”. Hiệulựcnàycủakháng cáo, kháng nghịđãđượcđềcậptrong các công trình nghiêncứutạimiền Nam Việt Namtrướcnăm 1975 với thuật ngữ “hiệu lực đình chỉ” [53, tr. 360; 46, tr. 236; 61, tr. 241]. Thuật ngữ “hiệulực đình chỉ”đã trở thành thuật ngữ pháp lí được quy định
tại Điều 670 Bộ luật hìnhsự tốtụng tại miền Nam: “… thời hạn kháng cáo của chưởng lí,dự liệunơi các Điều 484, 522 và 524, không có hiệu lực đình chỉ việc chấphành”. Hiệulựcchưađưara thi hành bản án, quyết địnhsơthẩm có thể là hiệu lực toàn bộ hoặc hiệu lực một phần phụ thuộc vào phạm vi kháng cáo, kháng nghị. Kháng cáo, kháng nghị toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm thì toàn bộbản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành. Kháng cáo, kháng nghị một phần bản án, quyết định sơ thẩm thì phần bản án, quyếtđịnh bị kháng cáo, kháng nghị chưa được đưa ra thi hành. Hiệu lực chưa đưa ra thi hành bản án, quyết định sơ thẩm tồn tại trong suốt trình tự phúc thẩm như quan điểm của các tác giả Philippe Conte và Patrick Maistre du Chambon: “Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm làm cho bản án, quyết định
30
sơ thẩm không được thi hành trong suốt trìnhtự phúc thẩm”[143, tr. 413]. Việc chưa đưa ra thi hành bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị làcầnthiết.Nếuthi hành ngay bản án, quyếtđịnhsơ thẩmbịkháng cáo, kháng nghị cóthểdẫnđếnhậuquảkhó khắc phục trong trường hợp bảnán, quyết địnhđó bịToà áncấpphúc thẩmsửahoặc huỷ. Trong khoa họcluậttốtụng hình sự Việt Nam hiện nay, thuậtngữ“hiệulực đìnhchỉ” tuyvẫnđượcsửdụng, nhưng không phổ biến [8, tr. 181-182]. Thuật ngữ được sửdụng phổ biến trong các công trình nghiên cứu, thể hiện nội dung hiệu lực chưa đưa ra thi hành bản án, quyết định sơ thẩm là thuậtngữ “hậu quả của việc kháng cáo, khángnghị”[63, tr. 34, 47; 108, tr. 416; 9, tr. 438]. Trong một công trình nghiên cứu luật học so sánh, tácgiảJean Pradel cho
rằng hiệulựcphát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền củaToà án cấpphúc thẩm “quan trọnghơn”hiệu lựcchưađưara thi hành bản án, quyết định sơ thẩm [135, tr. 619].
Hiệu lực phát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấpphúc thẩm tiếng Pháp là “effet dévolutif”. TheoTừ điểnPháp – Việt, danh từ “effet” có nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa là “hiệu lực” [112, tr. 717]. Tínhtừ “dévolutif” xuất pháttừdanh từ “dévolution” nghĩa là trao quyền theo quyđịnh của pháp luật [140, tr. 499]. Hiệu lực này củakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm đãđược đềcậptrong các công trình nghiên cứu tại miền Nam Việt Namtrướcnăm 1975vớithuậtngữ“hiệulựcphóthẩm” [53, tr. 360; 46, tr. 239-245; 98, tr. 411-416]. Trong khoa họcluật tốtụng hìnhsự Việt Nam hiện nay, thuật ngữ “hiệulựcphó thẩm” không đượcsửdụng. Tuy nhiên, đãcó công trình nghiên cứu như luận án tiến sĩ luật học “Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả VũGia Lâmsử dụng thuậtngữ“hiệu lực củakháng cáo, khángnghị” thểhiện nội dung hiệu lực phát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà
31
án cấp phúc thẩm [39, tr. 120, 144, 146]. Phạm vi nghiên cứu trong luận án của chúng tôi là hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà áncấpphúc thẩm (tương đương “effet dévolutif” trong các công trình nghiên cứu ngoài nước bằng tiếng Pháp). Vìvậy, chúng tôi cũngsử dụng thuật ngữ “hiệulực của kháng cáo, khángnghị” để trình bày nội dung nghiên cứu đó. Theo Từ điển tiếng Việt,“hiệulực” là“tác dụng đích thực”, “giátrị thi hành” [102, tr. 806] hoặc “tác dụng thực tế, đúng như yêucầu”[103, tr. 570]. Thuật ngữ “hiệulựccủakháng cáo, kháng nghị” thể hiện tác dụng, giá trị, hệ quả pháp lí của kháng cáo, kháng nghịđối với việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm. Việcsửdụng thuật ngữ “hiệu lực củakháng cáo, kháng nghị”làm phong phú hơn kho tàng thuật ngữ pháp lí Việt Nam.
Vềkhái niệm hiệulựccủakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong
tố tụnghình sự có hai quan điểm khác nhau. Theo quan điểm thứ nhất, kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm; theo quan điểm thứ hai, kháng cáo, kháng nghị không chỉ phát sinh mà còn giớihạnviệc thực hiện thẩm quyềncủaToà áncấpphúc thẩm
[138, tr. 447, 448].
Quan điểm thứ nhất về khái niệm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm được thể hiện trong các công trình nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước. Các tác giả Nguyễn Văn Lượng, Lê Tài Triển và Trần Thúc Linh đưa ra khái niệm:“Hiệulựcphó thẩm của sự kháng cáo có nghĩa là, dosựkháng cáo, việc kiệnđượcđem giao phó cho Toà phúc ánđểthẩm xétlạimộtlầnthứhaidưới mọikhía cạnh cũng nhưtrướcToà sơthẩm” [46, tr. 239]. Khái niệm này chỉ đề cập hiệu lực của kháng cáo phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm mà không đề cập hiệu lực của kháng cáo giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm.
32
Tương tự, các tác giả Philippe Conte và Patrick Maistre du Chambon đưa ra khái niệm: “Hiệu lực củakháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nghĩa làvụ án đượcchuyển cho Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại các yếu tố sự việc cũng như pháp luật củavụ ánđó” [143, tr. 414]. Khái niệm này tuy xác định cụthể hơn hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm xem xétlại mặt sự việccũng nhưmặt pháp luật của vụ án, nhưng cũng không đềcập hiệulựccủa kháng cáo, kháng nghị giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm.
Trong luận án tiến sĩ luật học “Les voies de recours en matière pénale – Essai d’une théorie générale” (Kháng cáo, kháng nghị trong lĩnh vực hình sự- Nghiêncứulí luận chung), tác giả Maud Orillard Léna phê bình quan điểmthứnhấtchỉđưara những khái niệm“đơngiản, thậm chídễdãi” [138, tr. 447], và khẳng định “tất cả những khái niệm đúng đắn [về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị]đềuphải trình bày việc phát sinh cũng như những giới hạnnội tại củaviệc phát sinh thẩm quyềnđó”[138, tr. 448]. Tương tự, tác giả Nguyễn Đức Mai trong luận án tiến sĩ luật học “Phúc thẩm trong tố tụng hình sự” cũng cho rằng: “Kháng cáo của bị cáo và các đương sự, kháng nghị củaViện kiểm sát cùngcấphoặccấptrên trực tiếpđối với bản án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp luật không chỉ là căn cứ làm phát sinh thủ tục phúc thẩm, mà còn xác định phạm vi hoạt động cũng như quyền hạncủa các chủthể; phạm vi xét xửphúc thẩm và quyền hạn củaToà án cấpphúc thẩmở giai đoạntốtụng này” [48, tr. 36]. Trên cơsở quanđiểmđó, tác giả Maud Orillard Léna đưa ra khái niệm: “Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị làsự chuyển giaovụán (không chỉ làbảnán, quyết địnhbịkháng cáo, kháng nghị)từ Toà ánđã kết thúc thẩm quyền giải quyết vụán cho Toà án có thẩm quyền giải quyết kháng cáo, kháng nghị, trong giới hạn do pháp luật quy định” [138, tr. 448].
33
Chúng tôi cho rằng quan điểm thứ hai về khái niệm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị thể hiện đầy đủ hơn nội dung hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị, baogồm“hai mặt”[147, tr. 797; 138, tr. 447]: phát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, quanđiểm thứ hai về khái niệm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm cũng chưa đầy đủ bởi vì mới chỉ đề cập hai mặt nội dung hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị mà chưa đề cập điều kiện phát sinh hiệu lực đó. Khái niệm khoa học vềhiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sựcầnđượcxây dựng theohướngkhông chỉ gồmnộidung hiệu lựcmà cònđiều kiện phát sinh hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị.
Nội dung hiệu lựccủa kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm làsự phát sinh việc thực hiện thẩm quyềncủaToà án cấp cao hơn, cấpxétxử thứ haiđồngthời là cấp xét xử cuối cùng và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án đótrong giới hạn xét xử sơ thẩm, phạm vi và hướng kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Theo Từ điển Luật học, thẩm quyền xét xử của Toà án là “quyềnxem xét và quyết địnhtrong hoạt động xét xửcủaToà án theo quyđịnhcủa phápluật”[111, tr. 701]. Như vậy, thẩm quyền phát sinh và giới hạn bởi kháng cáo, kháng nghị gồm thẩm quyền xem xét và thẩm quyền quyết định của Toà án cấp phúc thẩm. Trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị, Toà áncấpphúc thẩm xem xét lại mặt sự việc và mặt pháp luật của vụ án, xét xử lại nội dung vụ án, quyết định giữ nguyên, sửa hoặc huỷ bản án, quyết địnhsơ thẩm. Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm gồmhiệu lực theođối tượng tác động,hiệulựctheo không gian và hiệu lực theo thời gian. Theođối tượngtác động, kháng cáo, kháng nghị chỉ phát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền củamột Toà án cấp phúc thẩm nhấtđịnh. Theo không gian, kháng cáo, kháng nghị chỉ phát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của một Toà án cấpphúc thẩm thuộc địa hạttư pháp
34
nhất định.Theo thời gian, hiệulựccủa kháng cáo, kháng nghị phát sinh khi thỏa mãn các điều kiện hợp pháp và chấm dứt bởi việc rút kháng cáo, kháng nghị hoặc bởi quyết định của Toà án cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm phục hồi trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo quyếtđịnhgiámđốc thẩm hoặctái thẩm. Nội dung yêu cầu, phạm vi và hướng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trước đây vẫn là nhữngyếu tốgiới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm khi xét xử lại vụ án theo quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Kháng cáo, kháng nghị chỉ có hiệu lực khi thoả mãn các điều kiện nhấtđịnh. Điều kiện hiệu lựccủakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm làsự hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị về đối tượng, chủ thể, giới hạn, thời hạn, hình thức và thủ tục.Sự hợppháp của kháng cáo, kháng nghị là điều kiện tiên quyết để Toà án cấp phúc thẩm xem xét và quyết định về nội dung.
Như vậy, hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị là sự phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp cao hơn, cấp xét xử thứ hai đồng thời là cấp xét xử cuối cùng và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án đó trong giới hạn xét xử sơ thẩm, phạm vi và hướng kháng cáo, kháng nghị theo quyđịnhcủapháp luật với điều kiện kháng cáo, kháng nghịhợpphápvề đối tượng, chủ thể, giới hạn, thời hạn, hình thức và thủ tục.
Cũng có thể định nghĩa một cách khái quát: Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị là sự phát sinh và giới hạnviệc thực hiện thẩm quyền xem xét và quyếtđịnhcủaToà áncấpphúc thẩm bởi kháng cáo hoặc kháng nghịhợp pháp.
2.2. Cơsở hiệu lực củakháng cáo, kháng nghị theothủtụcphúc thẩm trong tố tụng hình sự
Cơ sở hiệulựccủa kháng cáo, kháng nghị là nền tảng lí luận, pháp lí vàthực tiễn vềsự tồn tạihiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trongtố tụng hình sự.
35
– Cơ sở lí luận của hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự là lí luận về sự kiện pháp lí, cụthểhoá bởi kháng cáo, kháng nghị.
Kháng cáo, kháng nghị làsựkiện pháp lí, tức là“sự kiệnthực tếmà sự xuất hiện hay mất đi của chúng được pháp luật gắn vớiviệc phát sinh, thayđổi hay chấm dứt quanhệ pháp luật” [107, tr. 160].
Kháng cáo, kháng nghị làsự kiệnpháp lí làm phát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm.
Trongsựphân loại sự kiện pháp lí theo tiêu chuẩn ýchí, kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là hành vi pháp lí, tức làsự kiệnxảy ra theo ý chí của chủthể kháng cáo, kháng nghị, biểu hiệndướidạng hành động. Cũng như “Mọi hànhvi pháp luật đềuphải có một sốgiới hạn chủthể nhất định,chứkhông thể là hành vi trừutượng”[116, tr. 265], hành vi kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm chỉ được thực hiện bởi nhữngchủthể nhất định.Hành vi kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm do ý chí của chủthểkháng cáo, kháng nghịquyết định, làm phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà áncấpphúc thẩm: “vụ án cóđược xét xử lại hay khôngchỉ phụthuộc vào ý chí của các bên trong vụ án, không thể phụ thuộc vào ý chí của bất cứ chủ thể nào khác” [51, tr. 30, 31].Ýchícủa chủthểkháng cáo, kháng nghị còn quyếtđịnh nội dung, phạm vi vàhướngkháng cáo, kháng nghị,tứclà quyết địnhgiới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm.Ýchí củachủthểkháng cáo, kháng nghị đượcthể hiện ra thế giới khách quandưới dạnghànhđộng kháng cáo, kháng nghị.
Căn cứ vàoýnghĩa và hậu quả pháp lí, kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm làsự kiện pháp lí tích cực.“Sự kiện pháp lí tíchcựclà nhữngsự kiện khi nó xảy ra thì mang lại những giá trịhữuích nhất định cho chính chủ thể và cho cả xã hội” [45, tr. 70]. Những giá trị hữu ích đó thể hiện ở ý nghĩa của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trongtốtụng hìnhsự vềcác mặtpháp lí, chính trị và xã hội.
36
– Cơ sở pháp lí của hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị là tổng hợp các quy phạm pháp luật tốtụng hìnhsự về điều kiện phát sinh và nội dung hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Quan hệ tố tụng chỉ tồn tại khi có các quy định của pháp luật [107, tr. 232]. Thực hiện kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm theo quy định củapháp luật là hành vi hợppháp,“lànhững hành vi cóýnghĩa xã hội rất cao, việc dùng pháp luật quyđịnh,bảo vệ vànhân rộng nó làhết sứccầnthiết”[45, tr. 72]. Khi nói về nhu cầu tăng cường hành vi hợp phápmà ở đây làhành vi kháng cáo, kháng nghị phải thấy được nhu cầu tạo ra những bảo đảm về mọi mặt cho sự phát triển đó. Pháp luật có vai trò ghi nhận và điều chỉnh nhu cầucủachủ thể kháng cáo, kháng nghị phù hợp với ý chí của Nhà nước, mang lại lợi ích cho Nhà nước, xã hội và nhân dân. Để chủ thể đạt đến mục đích của hành vi kháng cáo, kháng nghị, pháp luật tố tụng hình sự phải quy định điều kiện phát sinh và nội dung hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
– Cơ sở thực tiễn của hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm làsự thựchiện pháp luật tố tụng hình sự về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện thực hoá các quyđịnh của pháp luật tốtụng hìnhsự vềhiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Đây là hoạt động có lí trí và ý chí của cácchủthể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật tố tụng hình sự vềhiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm đi vào thực tiễn. Dưới gócđộpháp lí, thực hiện pháp luật là hành vi pháp luật hợp pháp, nghĩa làđược tiến hành phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi trong phạm vi các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Chủ thể kháng cáo, kháng nghị thực hiện pháp luật thông qua hình thức sử dụng pháp luật tố tụng hình sự về hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc
37
thẩm. Đây là hình thức mà trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền, tự do pháp lí của mình, tức là hành vi kháng cáo, kháng nghị mà pháp luật cho phép chủ thể tiến hành.
Toà áncấpphúc thẩmvớitư cách làđối tượng tácđộngcủa hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị thực hiện pháp luật thông qua hình thức thi hành phápluật tốtụng hình sự vềhiệu lực của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Đây là hình thức mà trong đó Toà án cấp phúc thẩm thực hiện nghĩa vụ, thẩm quyền pháp lí xem xét và quyếtđịnh củamình bằng hành động tích cực.
2.3. Điều kiện hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự
Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm trongtố tụnghình sựphát sinh hiệu
lựckhi thoả mãn các điều kiện hợp pháp về đối tượng, chủ thể, giới hạn, thời hạn, hình thức và thủ tục.
Thứ nhất, điều kiện về đối tượng của kháng cáo, kháng nghị
Đối tượngcủa kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
lựcpháp luật là bản án, quyết định chưa phát sinh hiệulựcthi hành, thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định đó vẫn còn. Bảnán, quyết định sơ thẩm đãcó hiệu lựcpháp luật không còn là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm (trừ trường hợp có lí do chính đáng) mà cóthể trở thành đối tượng của kháng nghị theo thủ tụcđặc biệt như giámđốc thẩm hoặc tái thẩm. Không phải mọi quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đều là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Về hình thức, quyết định là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm phải là quyết định sơ thẩm, tức là quyết định có khả năng được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm. Về nội dung, quyếtđịnh là đối tượng củakháng cáo, kháng nghị phúc thẩm phải làquyếtđịnhgiải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm. Những quyếtđịnhhành
38
chính tư pháp nhằmbảođảmhoạtđộngđúng đắn của trình tự phúc thẩm, không“địnhđoạt việc giải quyếtvụán” [62, tr. 27] thì không phải là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Thứ hai, điều kiện về chủ thể của kháng cáo, kháng nghị
Chủ thểcủa quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là các bên trong vụ án gồm bị cáo, các đương sự khác, Viện kiểm sát cùngcấpvới Toà án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sátcấptrên trực tiếp. Các bên trong vụ án mới có“lí do để kháng cáo, khángnghị”[137, tr. 516].Chủthểcủa quyền kháng cáo, kháng nghị phải là“bênthất bại”[141, tr. 145], “bị kết phạt hay thất kiện” [61, tr. 236] ở cấp sơ thẩm, hoặc là“chủthể không thoả mãn” [137, tr. 453] với bảnán, quyết định sơ thẩm. Chủ thể không phải là các bên trongvụán thìkhông có quyền kháng cáo như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. Trong tố tụng hình sự Việt Nam, Viện kiểm sát không chỉ là một bên trong vụ án (bên công tố) mà còn là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.
Chủ thể của quyền kháng cáo phúc thẩm là bị cáo và các đương sự khác như người bị hại, nguyên đơn dân sự,bị đơn dân sự,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụán và người đại diện hợppháp,ngườibào chữa, người bảo vệ quyền lợi của họ.
Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm là Viện kiểm sát cùng cấp với Toà án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Quyền kháng nghị của Viện kiểm sátcấptrên trực tiếp làquyền độc lập chứkhông phải chỉ bổ sung cho quyền kháng nghịcủaViện kiểm sát cấpdưới [59, tr. 26]. Trong trường hợpkháng nghị của Viện kiểm sátcấpdưới và Viện kiểm sátcấptrên trực tiếp có nội dung bổsung cho nhau thì Toà án cấp phúc thẩm xem xét cả hai quyếtđịnhkháng nghị. Trong trường hợp kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có nội dung mâu thuẫn nhau mà Viện kiểm sát cấp dưới không rút kháng nghị của mình, Viện kiểm sát cấp trên trực
39
tiếp không rút kháng nghị của Viện kiểm sát cấpdưới thì Toà áncấpphúc thẩm chỉ xem xét kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.
Thứ ba, điều kiện về giới hạn của kháng cáo, kháng nghị
Giới hạn của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là phạm vi quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy địnhcủa pháp luật phù hợp với tư cách pháp lí tố
tụng của chủthể kháng cáo, kháng nghị. Các chủthểchỉ được kháng cáo, kháng nghị trong phạm vi liên quan đến quyền lợi, trách nhiệm của mình hoặc quyền lợi, trách nhiệm của chủthể mà mình đại diện hay bảovệ. Nói cách khác, giới hạn kháng cáo, kháng nghị phải phù hợpvới tư cách pháp lí của chủthể trongtốtụng hìnhsự.Chủ thể của quyền côngtốnhân danh xã hội hoặc Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội nên chỉ có quyền kháng nghị về hình sự như tội phạm, hình phạt, biện pháp tư pháp mà không có quyền kháng nghị vềmứcbồi thường, bồi hoàn. Ngược lại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chủthể liên quan đến vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nên chỉ có quyền kháng cáo phần dânsự củabản án hình sự. Bị cáo là chủ thểchịu tác độngcủacảquyền công tố và quyền dân sự trong vụ án hình sự nên có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm.
Thứ tư, điều kiện về thời hạn của kháng cáo, kháng nghị
Thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là khoảng thời gian cần thiết theo quy định của pháp luật để chủthểcủa quyền kháng cáo, kháng nghị thực hiện việc kháng cáo, kháng nghị.
Thời hạnkháng cáo, kháng nghị phúc thẩm tính từ thờiđiểmbắtđầuđến thời điểmkết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Để xác định thờiđiểm bắt đầuthời hạn kháng cáo, kháng nghị, pháp luật quy định ngàyđược xác định (tiếng La tinh: “dies a quo” [123, tr. 180]). Tuỳ từng trường hợp, ngày được xác định là ngày tuyên án, ra quyết định hoặc ngàybảnán, quyết
40
địnhsơ thẩmđược giao hoặc được niêm yết. Trong trườnghợpthờiđiểm tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày đượcxácđịnh thì kháng cáo, kháng nghị ngay trong ngày được xácđịnhvẫn có hiệu lực. Để xác địnhthời điểm kết thúc thờihạnkháng cáo, kháng nghị, pháp luật quy định ngày cuối cùng củathời hạn(tiếng La tinh: “die ad quem” [123, tr. 180]). Ngày cuối cùng củathời hạnlà ngày tròn thì thờiđiểmkết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị vào hai mươi tư giờ của ngày đó. Ngày cuối cùng củathờihạnkhông phải là ngày tròn thì thời điểmkếtthúc thời hạnkháng cáo, kháng nghị lúc hết giờ làm việc của Toà án. Trong trường hợpngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ theo quy định của pháp luật thì thời hạn kháng cáo, kháng nghị được kéo dài đến hết ngày làm việcđầu tiên tiếp theo ngày nghỉ đó.
Sự kếtthúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị có hậu quả tước bỏ quyền kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể, làm cho bản án, quyết định sơ thẩm cóhiệu lực pháp luật. Vì vậy, kháng cáo, kháng nghị quá hạn là kháng cáo, kháng nghị vô hiệu, trừ trườnghợpcó lí do chính đáng vàđược Toàán cấp phúc thẩm chấp nhận. Lí do chính đáng của việc kháng cáo, kháng nghị quá hạn là trườnghợpdo trở ngại khách quan không thểvượt qua, chủthểcủa quyền kháng cáo, kháng nghị tuyệt đối không thể thực hiện việc kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định.
Thứ năm, điều kiệnvề hình thức và thủ tục của kháng cáo, kháng nghị Kháng cáo, kháng nghị phảiđược thểhiện dưới hình thức nhất định.
Hình thức của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là phương thức theo quyđịnh của pháp luật thể hiện nội dung của kháng cáo, kháng nghị. Hình thức của kháng nghị là hình thức văn bản. Hình thứccủakháng cáo có thể là văn bản hoặc bằng miệng. Trong trường hợp chủ thể kháng cáo trình bày trực tiếp việc kháng cáo bằng miệng thì Toà án tiếp nhận kháng cáođó phải lập biên
41
bản. Hình thức văn bản, biên bản của kháng cáo, kháng nghị là cơsở để Toàán cấp phúc thẩm xem xét nội dung của kháng cáo, kháng nghị.
Kháng cáo, kháng nghị phải đượcthực hiện theothủtụcdo pháp luật quy định. Thủ tục của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là cách thức theo quyđịnh của pháp luật đểthực hiện việc kháng cáo, kháng nghị. Thủtục kháng cáo, kháng nghị phải thuận tiện cho chủ thểkháng cáo, kháng nghị. Chủ thểkháng cáo có thể thực hiện việc kháng cáo tại Toà án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm, kháng cáo qua Bưuđiện hoặcBan giám thị Trại tạmgiam. Toà ánđã ra bản án, quyết định sơ thẩm phảilà đầu mối tiếp nhận kháng cáo, kháng nghị, kiểm tra các điều kiện hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị, thông báo việc kháng cáo, kháng nghị, chuyển kháng cáo, kháng nghị và hồ sơ vụ án cho Toà án cấp phúc thẩm.
2.4. Nội dung hiệu lựccủakháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự
Kháng cáo, kháng nghị phát sinh và giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm.
2.4.1. Phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm
Vềhình thức, kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp cao hơn, về nội dung, kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp xét xử thứ hai, đồng thời là cấp xét xử cuối cùng.
2.4.1.1. Phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp cao hơn Kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án
cấpcao hơn theo hình thức phúc thẩm thứ bậc.
Hình thức phúc thẩm thứ bậc là thể thứctốtụng, trongđó kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp cao hơn Toà án cấp sơ thẩm. Hình thức phúc thẩm thứ bậc là truyền thống pháp lí bắt nguồntừ
42
pháp luật La Mã, theo đó,“cần phảicoi kháng cáo phúc thẩm như là yêu cầuđối với Toà án cấp trên chứ không phải chỉ là đưa bản án, quyết định sơ thẩm ra trước những Thẩm phán mới” [148, tr. 15]. Ngày nay, quy định Toà án cấp phúc thẩm cóđịavị pháp lí là Toà án cấpcao hơn đãtrở thành nguyên tắc quốc tế và là bảo đảm thực hiện quyền con người. Khoản 5 Điều 14 Công ước quốc tếvề các quyền dân sự và chính trị quy định: “Bất cứ người nào bị kết án là phạm tội đều có quyền yêu cầu Toà án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật” [101, tr. 115].
Tùy theo truyền thống pháp luật, Toà áncấpcao hơn trong hình thức phúc thẩm thứ bậc cóthểlà Toà án phúc thẩm (Pháp) [135, tr. 387] hoặc Toà án cấptrên trực tiếp của Toà án cấpsơ thẩm (Liên Xô [146, tr. 164], Việt Nam). Toà án phúc thẩm chỉ thực hiện thẩm quyền xét xử phúc thẩm chuyên biệt. Toà án cấp trên trực tiếpcủaToà án cấp sơ thẩm không chỉ thực hiện thẩm quyền xét xử phúc thẩm mà còn thực hiện thẩm quyền theo các thủ tục khác, có thể là sơ thẩm hoặc giám đốc thẩm, tái thẩm.
Hình thức phúc thẩm thứ bậclà hình thức phổ biến trên thế giới. Hình thức này cũng thểhiện trong mô hình phúc thẩm đặcbiệt của Nhật Bản. Trong tố tụng hình sự Nhật Bản có hai hình thức kháng cáo phúc thẩm: kháng cáo lần đầu (koso) lên Toà án phúc thẩm do “không tuân theo luật tố tụng, sai sót trong việc áp dụng luật và sai sót trong việc tìm ra các tìnhtiết vụán mà có vẻ là đã ảnh hưởng đến bản án, cũng như kết án không hợp lí”; kháng cáo
lần thứ hai (jukoku) lên Toà án tối cao do “vi phạm Hiến pháp hoặc giải thích sai về Hiến pháp và mâu thuẫnvới tiền lệcủa Toà án tối cao” [7, tr. 44]. Toà án phúc thẩm và Toà án tối cao đều là những Toà án cấp cao hơn Toà án cấp sơ thẩm trong hệ thống tổ chức Toà án Nhật Bản.
Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị theo hình thức phúc thẩm thứ bậc khác hiệu lực của kháng cáo khuyết tịch.Chếđịnhkháng cáo khuyết tịch có
43
nguồn gốctừ pháp luật Pháp thời kì Napoléon [129, tr. 205]. Kháng cáo khuyết tịch đượcquy định trong pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam (trước khi phápđiển hoá lần thứ nhất) và trong pháp luật tốtụng hình sự một sốnước hiện nay (Pháp, Bỉ). Kháng cáo khuyết tịch là kháng cáocủa người bịxét xử vắng mặt có lí do chính đáng yêucầuToà án đã xét xử vắng mặt xét xử lại vụán có mặt mình. Kháng cáo khuyết tịch chỉ có“hiệulựctiêuán” [130, tr. 877], tức là hiệu lực đương nhiên huỷ bản ánbị kháng cáo. Kháng cáo khuyết tịch không trao thẩm quyền xét xử lại vụ án cho Toà án cấp trên mà chính Toà án đãxét xử khuyết tịch phải xét xử vụán lần thứ hai. Đây không phải là xét xử lại nội dung vụ án bởi vì “bản án khuyết tịch bị coi như
không có. Toà ánsẽ xét lại vụkiện theo tình trạnghồsơ khi tuyênbảnán khuyết tịch” [61, tr. 235].
Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị theo hình thức phúc thẩmthứbậc khác hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị theo hình thức phúc thẩm ngang cấp. Hình thức phúc thẩm ngang cấp là thể thức tố tụng, trong đó, kháng cáo, kháng nghị làm phát sinh thẩm quyềncủaToà án khác cùng cấp với Toà áncấpsơthẩm. “Theo thể thức này, không có sự kháng cáo từ Toà dưới lên Toà trên, mà chỉ có sự xê dịch hàng ngang giữa các Toà án bình đẳng” [106, tr. 444]. Hình thức phúc thẩm ngangcấpđượccác nhà làm luật Cách mạng Pháp thiết lập nhằm xoábỏhình thức phúc thẩm thứbậccủachếđộcũđược sử dụng như cách thức tậptrung kiểm soát quyềnlựcvào nhà vua. Hình thức phúc thẩm ngangcấpbị huỷ bỏ tại Bỉ năm 1849, tại Pháp năm 1856. Tuy nhiên, từ năm 2000, hình thức phúc thẩm ngangcấpđượcthiếtlậplại tạiPháp. Trước thờiđiểm này, Toà đại hình chỉ xét xử theothủ tụcsơ thẩm đồng thời là chung thẩm theo quan điểm nhân dân không thể sai lầm, quyền lực của nhân dân là tối cao (Bồi thẩm đoàn là đại diện của nhân dân tại Toà đại hình). Từ khi thiết lập lại hình thức phúc thẩm ngang cấp, bản án, quyết địnhcủaToà đại hình sơ thẩm
44
có thể bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Tuy nhiên, Toà đại hình phúc thẩm không phải là Toà án cấp trên mà là Toà án khác cùng cấp với Toà đại hình sơthẩm. Phúc thẩm ngang cấp không phải là hình thức phổ biến, không thể hiện tính chất truyền thống của phúc thẩm. Tác giả luận án đồng ý quan điểm“Chỉphúc thẩm thứ bậc mới đáp ứng được đòi hỏi của pháp luật quốc tế và đòi hỏi củanhững nguyên tắc chung về kháng cáo, kháng nghị” [138, tr. 222].
Sự phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm theo hình thức phúc thẩmthứ bậclà phù hợp với nguyên tắc hai cấp xétxử. Địa vị pháp lí Toà án cấp cao hơn tạo cơ sở cho Toà án cấp phúc thẩm xem xét tính hợppháp và tính có căn cứ của bản án, quyết địnhsơ thẩm, quyết địnhgiữnguyên, sửa hay huỷ bản án, quyết định đó.
Sự phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm theo hình thức phúc thẩmthứ bậclà phù hợp với nguyên tắc giám đốc việc xét xử. Xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm là một trong những hình thức giám đốc việc xét xử của Toà án cấp phúc thẩm đối với Toà án cấp sơ thẩm. Địa vị pháp lí Toà án cấp cao hơn tạo cơ sở cho Toà án cấp phúc thẩm giámđốc việc xét xử đối với Toà án cấpsơ thẩm, “uốn nắn,sửachữa những sai sót”[1, tr. 37] của Toà án cấp sơ thẩm.
2.4.1.2. Phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp xét xử thứhai đồng thời là cấp xét xử cuối cùng
Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp xét xử thứ hai đồng thời là cấp xét xử cuối cùng:
– Trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại mặt sự việc cũng như mặt pháp luật của vụ án.
Xem xét lạimặt sự việc cũng như mặt pháp luật của vụ án là thẩm quyền của Toà án cấp xét xử thứ haiđồngthời là cấp xét xử cuối cùng. Sau khi có bản án, quyết định phúc thẩm, việc xem xét lại mặt pháp luật của vụ án
45
chỉ đượcthực hiện theothủtục đặcbiệt là giám đốcthẩm, việc xem xét lại mặt sự việc của vụ ánchỉ được thực hiện theo thủ tụcđặcbiệt là tái thẩm. Mặt pháp luật của vụ án được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm trong trường hợpcó vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lí vụ án, “Toàán có thẩm quyền giámđốc thẩmkhông xem xétvề sự việc,vốnthuộc thẩm quyền xét xử của các Thẩm phán xét xử về mặt nội dung ở Toà áncấpdưới màchỉxem xét việc áp dụng luật vào các sự việc đó có đúng hay không” [51, tr. 22]. Mặt sự việc của vụ án được xem xét lại theo thủ tục tái thẩm trong trường hợp có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyếtđịnhmà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyếtđịnhđó. Mặcdù việc xem xét lại mặt sự việc của vụ án bị hạn chế trong pháp luật một số nướcnhư Anh [135, tr. 617], Mỹ [135, tr. 618] Ca-na-đa [126, tr. 84], nhưng không có nghĩa Toà án cấpphúc thẩm của những nướcđókhông cóthẩm quyền xem xét lại mặt sự việc của vụ án. Nếu Toà án chỉ có thẩm quyền xem xét lại mặt pháp luật của vụ án thì Toàán đóthực hiện chức năng giám đốc thẩm chứ không phải chức năng phúc thẩm.
Xem xét lại mặt sự việc và mặt pháp luật củavụ ánlà việc Toà án cấp phúc thẩm xem xét lạicác tình tiết vềsự thật khách quan của vụ án, việc áp dụng luật nội dung và thi hành luật hình thức của cấp sơ thẩm trong việc giải quyết vụ án. Qua việc xem xét lại mặt sự việc và mặt pháp luật của vụ án, Toà án cấp phúc thẩm thực hiện giám đốc việc xét xử đối với Toà án cấp sơ thẩm, kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm. Tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm thể hiện ở việc những kết luận trong bản án, quyết định đó phù hợp với nhữngsự kiện thực tế của vụán. Tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm thể hiện ở việc bản án, quyết định đó phù hợp vớinhững quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức [108, tr. 408]. Tác giả luận án đồng ýquan điểmcủa tác giả Trần Văn Độ: “Toàán cấp
46
phúc thẩm kiểm tra tính hợp pháp, tính phù hợp pháp luật tốtụng cũng như pháp luật vềnội dungcủaToà án cấp sơ thẩm khi xét xửvụán; đồngthời kiểm tra tính có căn cứ, sự phù hợp của các kết luận của Toà áncấpsơ thẩm với các tình tiết khách quan của vụ án được chứng minh” [14, tr. 228].
– Trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị, Toà áncấpphúc thẩm xét xử lại nội dung vụ án, quyết định cuối cùng về việc giải quyết nội dung vụ án.
Việc xét xử lại nội dung vụ án là thẩm quyền của Toà án cấp xét xử thứhai đồng thời là cấp xét xử cuối cùng. Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm không xét xử lại nội dung vụ án mà chỉ xét lại bản án, quyết định đãcó hiệu lực pháp luật. Xét xử lại nội dung vụ án là thẩm quyền đặc trưng của Toà án cấp phúc thẩm. Vì vậy, mô hình phúc thẩm tại Liên Xô thời kì đầu sau Cách mạng tháng Mười là mô hình đặc biệt, không phản ánh tính chất truyền thống của phúc thẩm. Theo tác giả Lam Sơn, “Ở Liên Xô, ngay trong những nămđầucủa chính quyền Xô Viết các nhà lập pháp đã quan niệm chức năng của Toà án phúc thẩm là kiểm tra việc xét xử của Toà án cấp dưới chứ không
xét xử lại vụ ánvềthực chất…Các luật gia Xô viết đã xác định trình tự nói trên là chế độ một cấp xét xử vì Toà án phúc thẩm chỉ kiểm tra chứ không xét xử lại vụán vềthực chất”[69, tr. 17, 18]. Tính chất đặcbiệt đó đượclí giải bởi yêucầuthoát khỏi ảnh hưởng của pháp luật chế độ cũ: “Sau Cách mạng tháng Mười, chính quyền Xô Viết ra Sắc lệnh một mặtbỏ chế độphúc thẩm cũ tương tự như củaPháp”[10, tr. 10], và đề cao vai trò của nhân dân trong xét xử sơ thẩm: “Giao rộng quyền cho sơ thẩm vì sơ thẩm có Hội thẩm nhân dân do nhân dân lao động trực tiếp bầu ra, sát với thực tế đời sống của nhân dân. Giao rộng quyền cho sơ thẩm tức là giành lại quyền định đoạt về sinh mệnh chínhtrịvàvề sinh mệnh vật chất củangười công dân về cho những người gầndân nhất”[10, tr. 10]. Thẩm quyền của Toà đại hình phúc thẩm tại Pháp hiện nay cũng không phản ánh tính chất truyền thống của phúc thẩm vì kháng
47
cáo, kháng nghị theo thủtụcphúc thẩm đại hình có hiệu lực tiêu án, nghĩa làbản án sơ thẩmbị kháng cáo, kháng nghịđươngnhiênbịhuỷ, Toà án cấp phúc thẩm không xét xử lạinội dungvụán, không giữ nguyên, sửahay huỷbản án sơ thẩm, mà chỉ đơn giản là xét xử vụ án lần thứ hai [140, tr. 499].
Toà án cấpphúc thẩm phảikếtthúc việc giải quyết nội dung vụán. Quyết định giải quyết nội dungvụán của Toà án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật được coi như chân lí (tiếng La tinh: “Res judicata pro veritate habetur”
[54, tr. 186]). Quyết địnhđóchỉ có thể bị xem xét lại theo thủ tụcđặc biệt.
Sự phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp xét xử thứhaiđồngthời là cấp xét xử cuối cùng là phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử. Theo nguyên tắc này, sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất, phúc thẩm là cấp xét xửthứ haiđồngthời là cấp xét xử cuối cùng, còn giám đốc thẩm, tái thẩm không phải làcấpxét xử thứ ba, mà chỉ là thủ tụcđặc biệtxem xét lại bản án, quyếtđịnh của Toà án đã có hiệulựcpháp luật.
2.4.2. Giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm Kháng cáo, kháng nghị giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án
cấpphúc thẩm trong giới hạn xét xử sơ thẩm, phạm vi và hướng kháng cáo, kháng nghị.
2.4.2.1. Giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm trong giới hạn xét xử sơ thẩm
Toà án cấp phúc thẩm thực hiện thẩm quyền trong giới hạn xét xử sơ thẩm. Giới hạn xét xử sơ thẩm gồmgiới hạn xét xử theosự việc (tiếng La
tinh: “in rem” và giới hạn xét xử theo chủ thể (tiếng La tinh: “in personam”) [143, tr. 356, 358]. Giới hạn xét xử theo sự việc là giới hạn xét xử của Toà ánđối với hành vi bị Viện kiểm sát truy tố. Giới hạn xét xử theo chủ thể là giới hạn xét xử của Toà án đối với người bị Viện kiểm sát truy tố.
Toà án cấp phúc thẩm chỉ được thực hiện thẩm quyền trong giới hạn xét xử sơ thẩm theosự việc cũng như chủ thể. Vấn đề này đãđược đềcậpở
48
nhữngmứcđộ khác nhau trong khoa học luật tốtụng hình sự Việt Nam. Ở mức độkhái quát có quan điểm của tác giả Đinh Văn Quế: “Toà áncấp phúc thẩm chỉ xét và quyết định những gì mà Toà án cấp sơ thẩm đã xét và quyết định”[63, tr. 9], tác giả Nguyễn Văn Huyên: “Khi xét lại bản án, quyếtđịnh bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm chỉ xem xét những gì Toà án cấp sơ thẩmđã xem xét và quyết định”[37, tr. 96], tác giảVũ Gia Lâm: “phạmvi xét xử phúc thẩm phải được xácđịnhrõ ràng và khôngvượt quánhững vấn đề đãđược cấp sơ thẩm xétxửvà kết luận”[39, tr. 120], tác giảTrần ĐứcDương: “không thể “phúc thẩm một vấn đề mà vấn đề đó chưa được “sơ thẩm” [11, tr. 21, 23]. Những quan điểm nói trên chỉ đề cập chung chung giới hạn thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm trong giới hạn xét xử sơ thẩm, chưa làm rõ giới hạn xét xử theo sự việc cũng như chủ thể. Quan điểm của tác giả Phan Huy Xương vào những năm 60 của thế kỉ XXtạimiền Bắc thể hiện rõ hơn giới hạn thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm trong giới hạn xét xửsơ thẩm theosự việc cũng như chủ thể: “phạmvi xétxửtheo trìnhtự phúc thẩm chỉ có thể là những bị can và những hành vi phạm pháp đã bị truy tố vàđã xét xử trướcToà án sơ thẩm” [121, tr. 21].
Kháng cáo, kháng nghị chỉ được thực hiện trong giới hạnxét xử sơ thẩm (tiếng La tinh: “tantum appellatum quantum judicatum”) [57, tr. 874].Điều đó là cần thiết “để khôngbiến cấp phúc thẩm thành Toà sơ thẩm thứ hai xét xử lại vụán”[48, tr. 39].Chủthểkháng cáo, kháng nghị khôngđược đưa ra yêu cầu mới vềnội dung,vượtquá yêu cầu banđầutrước Toà án cấp sơ thẩm. Việc Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu mới sẽ làm mất một cấp xét xử. Cấp xét xử bị tước bỏ chính là cấp sơ thẩm vì bản án, quyết định phúc thẩm làbảnán, quyết định chung thẩm. Vì vậy, tác giả Lefort Christophe cho rằng “Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị không thể mở rộng hơn phạm vi vụ ánđã được đưa ra ở cấpsơ thẩm”[137, tr. 97].
49
Yêu cầu của kháng cáo, khángnghị định lạitội danh không phải là yêu cầu mới. Các tác giả Serge Guinchard và Jacques Buisson cho rằng“Yêucầu địnhlại tội danh không phải là yêucầumớinếunhư yêu cầu đókhông dựa trênsự việc mới, chưađượcđưaratrướcToà án cấp sơ thẩm bằng quyết định truy tố”[147, tr. 798]. Toà án cấp phúc thẩm chỉ bị ràng buộc trong giới hạn xét xử sơ thẩm theo sự việc và chủ thể nên cóthểđịnhlại tội danh. Việc Toà án cấp phúc thẩm định lại tội danh là phù hợp với nguyên tắc xét xử độc
lập, với hình thức phúc thẩm thứ bậc và thẩm quyền xét xử lại nội dung vụ án. Tuy nhiên, việc Toà án cấp phúc thẩm định lại tội danh nặng hơn phải trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị hợp pháp yêu cầu áp dụng điều luật về tội nặng hơn và phải bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo.
Toà án cấp phúc thẩm khôngđược chấp nhậnyêu cầu mới về nội dung nhưng có thể chấp nhận chứngcứ vàcơ sở pháp lí mới được viện dẫn, không vi phạm giới hạn xét xử sơ thẩmvề sự việcvà chủ thể. Việc chấp nhận chứng cứ và cơ sở pháp lí mới được viện dẫn là tất yếu của việc xét xử lại vụ án, bảo đảm hiệu quả của phúc thẩm như quan điểm của tác giả M. Faustin Hélie (dẫn theo luận án của Mohamed Korichi): “Để việcxem xét cóhiệu quả, cần được tự dođưara những luận cứ chưađược xem xét ở cấpsơ thẩm. Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩmđể làm gì nếukhông cho đưa ranhững luận cứ mới?”
[140, tr. 501]. Để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo và quyền bảovệquyền
lợi củađươngsự,chứng cứ mới phải được thông báo cho bị cáo vàđươngsự có quyền lợi, nghĩa vụliên quan đến kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn hợp lí trước khi xét xử phúc thẩm. Phúc thẩm là cấp xét xử cuối cùngvềnội dung vụ án nên quyền đưa ra chứng cứ mới của các bên phải được Toà án cấp phúc thẩm tôn trọng.
Sự giới hạnviệc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm trong giới hạn xét xử sơ thẩm là phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử. Nguyên tắc
50
này đòi hỏi Toà án cấp phúc thẩm xét xử lạivụán chứ không phải xét xử vụ án lần thứ hai, xét lại quyết địnhsơ thẩm chưa có hiệulựcpháp luật chứ không phải ra quyết định lần đầu.
2.4.2.2. Giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị
Toà án cấp phúc thẩm thực hiện thẩm quyền trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị (tiếng La tinh: “tantum devolutum quantum appellatum” [57, tr. 875]).
Trong trường hợpphạm vi kháng cáo, kháng nghị là toàn bộbản án, quyếtđịnh sơ thẩm thì Toà án cấpphúc thẩm phải xét xử lại toàn bộvụ án hoặc xét lại toàn bộ quyết định sơ thẩm. Tác giả luận án đồng ý với quan điểm của tác giả Trần VănĐộ: “Toà áncấp phúc thẩm xem xét lại toàn diện vụ án nếukhông bị giới hạn bởi kháng cáo, kháng nghị” [14, tr. 228]. Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị buộc Toà án cấp phúc thẩm phải xem xét tất cả các nội dung của kháng cáo, kháng nghị. Việc Toà áncấpphúc thẩm xem xét khôngđầy đủ nội dung của kháng cáo, kháng nghị là vi phạm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị (tiếng La tinh: “infra petita” [147, tr.286]).
Trong trườnghợpphạm vi kháng cáo, kháng nghị là một phần bản án, quyếtđịnhsơ thẩm thì Toà án cấp phúc thẩm chỉ được xét xử lại phần vụ án hoặc xét lại phần quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu chỉ kháng cáo, kháng nghị phần hình sự,Toà án cấpphúc thẩm không đượcxem xét phần dân sự của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật. Nếu chỉ kháng cáo phần dân sự, Toà án cấp phúc thẩm không được xem xét phần hình sự của bảnán sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật. Nếu chỉ kháng cáo, kháng nghị về việc vi phạm nghiêm trọng pháp luật tốtụng hìnhsự ở cấpsơ thẩm thì Toà án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại mặt pháp luật của vụ án, chứ không xem xét lại nội dung vụ án. Việc Toà án cấp phúc thẩm xem xét và quyết định ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị là vi phạm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị (tiếng La tinh: “ultra petita” [145, tr. 529]).
51
Việc Toà án cấp phúc thẩm thực hiện thẩm quyền trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị là phùhợpvới nguyên tắc bảođảm hiệulựccủa bản án, quyếtđịnhcủa Toà án. Nguyên tắc này đòi hỏi bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Phạm vi kháng cáo, kháng nghị là toàn bộ bản án, quyếtđịnhsơ thẩm thì toànbộ bảnán, quyết địnhđóchưa có hiệu lực pháp luật và Toà áncấpphúc thẩm phải xét xử lại toàn bộ vụ án hoặc xét lại toàn bộquyết địnhsơ thẩm. Kháng cáo, kháng nghị một phần bản án, quyết định sơ thẩm thì Toà áncấpphúc thẩm khôngđược xem xét phần bản án, quyếtđịnh sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị vì phần nàycủa bảnán, quyếtđịnh sơ thẩm đãcó hiệu lực pháp luật. Việc thi hành án đòi hỏi tính ổn định của bản án, quyếtđịnh được thi hành. Nếu Toà án cấpphúc thẩm xem xét phần bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị là làm mất tính ổn định của việc thi hành án.
Việc Toà án cấp phúc thẩm thực hiện thẩm quyền trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị là phù hợpvới đặc điểm của quyền tư pháp do Toà án thực hiện. Tác giả Tocqueville tại Mĩ cho rằng quyền tư pháp có ba đặc tính. Ngoài hai đặc tính là Toà án “làm trọngtài”và “phán quyết về những trường hợp riêng rẽ chứ không phát ngôn về những nguyên tắc chung” thì“đặc tính thứ bacủaquyền lực tư pháp là chỉ có thể hànhđộngkhi người ta yêucầunó, hoặc nói theo ngôn từ pháp lí, khi nóđượcgiao xét xử”[97, tr. 231, 232]. Phùhợpvới đặc tính thứba của quyền lực tư pháp, Toà án cấpphúc thẩmđược thiết lậpkhôngphải để tự mìnhxét lại bản án, quyết định sơ thẩm, Toà án cấpphúc thẩm chỉ xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của bảnán, quyết định đó khi có kháng cáo, kháng nghị.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận việcchỉxem xét, quyết địnhtrong phạm vi kháng cáo, kháng nghị làm cho Toà án cấp phúc thẩm không thể trực
52
tiếp khắc phục sai lầmvềsựviệc và vi phạmvề pháp luật tạiphầnbảnán, quyếtđịnhsơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị. Điều này đòi hỏi phải cónhững giải pháp hợp lí.
2.4.2.3. Giới hạn việc thực hiện thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm theo hướng kháng cáo, kháng nghị
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\HIỆU LỰC CỦA KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM


