Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và thực tiễn hội nhập của Việt Nam

Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và thực tiễn hội nhập của Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Tự do hóa thương mại hiện nay không còn là một xu thế mà đã trở thành một thực tiễn sôi động và phổ biến của nền kinh tế thế giới. Để phát triển, các quốc gia phải xây dựng mô hình “kinh tế mở”, chuyển từ xu hướng bảo hộ thương mại (bảo hộ mậu dịch) sang thương mại tự do nhằm khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế mỗi nước. Tự do hóa thương mại không những tạo thuận lợi cho các nước đang phát triển mở rộng thị trường, có thêm vốn và công nghệ, tập hợp lực lượng đểbảo vệ lợi ích của mình mà còn giúp cho các nước này cải cách cơ cấu và thể chếnền kinh tế.

Khu vực thương mại tự do ASEAN được thành lập năm 1992 trên cơ sở Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho AFTA (CEPT) ký năm 1992 (các hiệp định này đã được sửa đổi, bổ sung bằng 13 nghị định thư sau đó) [162]. Theo đó, các rào cản thương mại đối với hàng hoá dần được dỡ bỏ cùng với các hoạt động thuận lợi hoáthương mại hàng hoá được xúc tiến, tạo ra một thị trường rộng lớn với quy mô 2,6 nghìn tỷ USD và hơn 622 triệu người của ASEAN [155]. AFTA đã và đang mang

lại những lợi ích rất lớn cho các nền kinh tếthành viên, doanh nghiệp, người dân ASEAN vàđược xác định là nội dung trọng tâm của một trong cáctrụcột đểxây dựng thành công Cộng đồng kinh tế ASEAN.

Nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN, ngày 26/02/2009, các nước ASEANđã ký Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA). Hiệp định này chính thức có hiệu lực vào ngày 17/05/2010 sau khitất cảcác quốc gia thành viên hoàn thành thủ tục phê chuẩn. Một mặt, Hiệp định ATIGAđược xây dựng trên cơsởtích hợp và nâng cấp các quy định vềthương mại hàng hoá của ASEAN nằm rải rác trong nhiều văn bản trước đây dưới các dạng hiệp

định,nghịđịnh thư,kếhoạch, chương trình, sáng kiến, gói camkết…. Mặt khác, Hiệp định đã bổ sung nhiều quy định mới so với trước đây, trong đó đáng chú ý là các nội dung mới vềxoá bỏhàng rào phi thuế quan, quy tắc xuất xứvà thuận lợi hoá thương mại, nhằm điều chỉnh toàn diện tất cảcác lĩnh vực hợp tác vềthương mại hàng hoá trong ASEAN.

Nhận thứcđượcýnghĩacủaviệchộinhập ASEAN nói chung và AFTA nói riêng, các vănbảncủa Đảngvà Nhà nước ta đều khẳng định vịtrí trung tâm của

ASEAN trên các lĩnh vực trong tiến trình hội nhập của Việt Nam: “… đặc biệt chú

2

trọng việc tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN, phát huy vai trò của Việt Nam trong ASEAN và các cơ chế, diễn đàn do ASEAN giữ vai trò trung tâm, nhằm tăng cường đoàn kết, gia tăng liên kết nội khối, củng cố quan hệ hợp tác với các bên đối thoại của ASEAN, thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực”

[40], “… ưu tiên đóng góp xây dựng và khai thác hiệu quả sự tham gia của nước ta trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và hợp tác kinh tế giữa ASEAN với các nước đối

tác…”[42], “…hỗtrợhiệu quảcác địa phương, doanh nghiệp và hiệp hộingành nghề mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại; đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về các cơhội và thách thức của hội nhập, đặc biệt là về Cộng đồng ASEAN” [11]. Theo tinh thần này, từ đầu những năm 1990, Việt Nam đã triển khai một cách tích cực và từng bước tiến trình hội nhập ASEAN nói chung và AFTA nói riêng. Các nước ASEANđã trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam (sau Trung Quốc), tổng giá trị thương mại trong AFTA của Việt Nam đã đạt con số khoảng 41 tỷ USD vào năm 2015 [105]. Tham gia AFTA không những mang lạicác tác động tích cực trong việc mở rộng thị trường xuất nhập khẩu mà còn góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách và cơ cấu lại nền kinh tế nước ta trong những năm vừa qua.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhất làtừkhi Hiệp định ATIGAđược ký năm 2009 cho đến nay, bối cảnh hợp tác khu vực đã có nhiều thay đổi. Sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN, sự bùng nổ của các hiệp định thương mại tự do và xuất hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, sự xoay trục của các cường

quốc trong chính sách đối ngoại đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương… cùng với quan điểm, cách tiếp cận và sự tham gia các hiệp định thương mại tự do của các quốc gia trên thế giới hiện nay rất khác so với trước đây đã tạo ra những tác động lớn và trực tiếp tới quá trình thực hiện AFTA, cả tích cực lẫn tiêu cực. Bối cảnh đóđòihỏiASEAN và các nước thành viên phải có những điều chỉnh và phản ứng chính sách kịp thời để đảm bảo thực hiện hiệu quả AFTAcả ở cấp độkhu vực vàcấp độquốc gia nhằm thúc đẩy hơn nữa thương mạihàng hoá nộikhối, góp phần xây dựng thành công Cộng đồng kinh tế ASEAN và phát triển các nền kinh tế thành viên.

Đểthực hiện được điều này, cần phải có những nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện và cóhệthốngvềcácvấnđềlý luận, pháp lý và thực tiễn thực hiện AFTA. Trong đó, các vấn đề lý luận về AFTA cần phải được nghiên cứu một cách sâu sắc và có hệthống; các quy định pháp luật hiện hành của AFTA (nhất là các quy định có những nội dung mới so với trước đây trong ATIGA và các văn bản kèm theo) cũng như thực tiễn thực hiện AFTA(đặcbiệt là sau khi HiệpđịnhATIGA

3

được ký năm 2009) cần phải được phân tích và đánh giá trong bối cảnh hợp tác đã có nhiều thay đổi. Đặc biệt, đối với Việt Nam, quá trình hội nhập AFTA kể từ khi gia nhập cho đến nay cần phải được phân tích, đánh giá một cách toàn diện, khách quan và khoa học trong mối quan hệ với đặc thù nền kinh tế quốc gia, quan điểm và định hướng hộinhập của Đảng và Nhà nước tađểkhông những có được các giải pháp tăng cường hiệu quả hội nhập AFTA mà thông qua đó còn rút ra được những bài học kinh nghiệm cho các tiến trình tự do hoá thương mại rộng lớn và phức tạp hơn mà Việt Nam đã và đang chuẩn bị tham gia như TPP hoặc EVFTA.

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và thực tiễn hội nhập của Việt Nam” là rất cần thiết hiện nay.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ một cách có hệ thống những vấn đềlý luận và pháp lývềAFTA (trọng tâm là làm rõ các quy định của ATIGA và các văn bản kèm theo); đánh giá thực tiễn thực hiện AFTA của cả khối ASEAN vàmột sốquốc gia thành viên, trongđótập trung đánh giá toàn diện thực tiễn thực hiện nghĩa vụ thành viên của Việt Nam để chỉ ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân; trên cơsởđó,đềxuất các cải cáchđối với AFTA trong bối cảnh hợp tác mới vàphương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập AFTA của Việt Nam.

Phù hợp với mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài sẽ bao gồm:

– Tổng kết, hệ thống hoá và làm sâu sắc thêm các vấn đề lý luận về tự do hoá thương mại, khu vực thương mại tựdo, lịch sửhình thành và phát triển của Khu vực thương mại tự do ASEAN. Nghiên cứu đặc thù, vị trí và vai trò của AFTA đối với Cộng đồng kinh tế ASEAN và các nền kinh tế thành viên, những điều kiện mới trong bối cảnh hợp tác hiện nay và những tác động của chúng đối với AFTA.

– Nghiên cứu toàn diện các vấn đề pháp lý của AFTA theo các văn bản pháp lýhiện hành (nhất làđối với các quyđịnh mới trong ATIGA và các văn bản kèm theo): Tự do hóa thuế quan, xoá bỏ hàng rào phi thuế quan, các vấn đề về quy tắc xuất xứ và thuận lợi hóa thương mại.

– Xem xét, đánh giá thực tiễn thực hiện AFTA của cả khối ASEAN và một sốquốc gia thành viên, tập trung vào giaiđoạn sau khi ATIGA 2009 được ký kết. Đồng thời, phân tích những tồn tại và thách thức đối với AFTA trong bối cảnh mới hiện nay và đưa ra các đề xuất cải cách đối với AFTA.

– Xem xét, đánh giá toàn diện quá trình hội nhập AFTA của Việt Namkểtừkhi gia nhập cho đến nay. Đồng thời, đưa ra các đề xuất về phương hướng và giải pháp tăng cường hiệu quả hội nhập AFTA của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

4

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tàiĐối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:

– Các vấn đề lý luận về AFTA (trong đó tập trung vào các đặc thù của AFTA và những điều kiện hợp tác mới trong bối cảnh hiện nay);

– Cácvấnđềpháp lýcủaAFTA,đốitượngtrọng tâm là các quyđịnhhiện hành của ASEAN (Hiệp định ATIGA và các văn bản kèm theo);

– Thực tiễn thực hiện AFTA của cả khối ASEAN và của một số quốc gia thành viên, trong đó trọng tâm là thực tiễn hội nhập của Việt Nam.

Với mục tiêu, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu nói trên, các nội dung của đềtài được giới hạn ở những phạm vi cụ thể như sau:

– Về các vấn đề lý luận về AFTA: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lýluận cơ bản nhất về AFTA, như bản chất, nội dung và cấp độ của tự do hoá thương mại; khái niệm và các lĩnh vực hợp tác của khu vực thương mại tự do; lịch sử hình thành và phát triển, đặc thù của AFTA; vai trò của AFTA đối với Cộng đồng kinh tếASEAN và các nền kinh tế thành viên; những điều kiện mới trong bối cảnh hợp tác quốc tế hiện nay và tác động của chúng đối với AFTA;

-Vềcác vấn đềpháp lý của AFTA:Đềtài nghiên cứu toàn diện các vấn đềpháp lý hiện hành của AFTA: Tự do hoá thuế quan; xoá bỏ hàng rào phi thuế quan; quy tắc xuất xứ; và thuận lợi hóa thương mại hàng hoá;

– Về thực tiễn thực hiện AFTA của cả khối ASEAN và một số quốc gia thành viên:Đềtài nghiên cứu thực tiễn của toàn ASEAN và tập trung nghiên cứu thực tiễn của một số quốc gia thành viên có điều kiện thực hiện AFTA tương đồng với Việt Nam, đồng thời đềxuất các cải cáchđối với hoạt động của AFTA trong bối cảnh hợp tác mới;

– Về thực tiễn hội nhập AFTA của Việt Nam: phạm vi nghiên cứu là thực tiễn hội nhập tất cảcác mặt hoạt động củaAFTA trong toànbộquá trình hội nhập AFTA,kểtừkhi Việt Nam gia nhập cho đến nay. Trên cơsởđó đềxuất phương hướng và một hệgiải pháp có tính tổng thểnhằm tăng cường hiệu quảhội nhập AFTA cho Chính phủ, doanh nghiệp và người dân.

4. Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin,vận dụng triệt đểcác quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử.

Luận án cũng đượctiến hành trên cơsởquán triệt sâu sắccác quan điểmvềđường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là quan điểm và định hướng

5

về hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập ASEAN, chiến lược hoàn thiện pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách nền hành chính quốc gia.

Luận án được thực hiện dựa trên cách tiếp cận:

– Cách tiếp cận liên ngành: đề tài được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp cách tiếp cận của nhiều ngành khoa học khác nhau như luật học, quốc tế học, kinh tế học…;

– Cách tiếp cận thực tiễn: Các đốitượng nghiên cứu của đềtài luôn được nghiên cứu, xem xét trong mối quan hệ với các đặc thù kinh tế – văn hoá – xã hội, luônđượcgắnliền với thực tiễn thực hiện AFTAcủaASEAN và các quốc gia thành viên và đặc biệt là thực tiễn thực hiện AFTA của Việt Nam.

Luận án vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu cụ thể, như: diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá.

5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện các vấn đề lýluận, pháp lý, thực tiễn của AFTA và quá trình hội nhập của Việt Nam. Luận án có các đóng góp mới về mặt khoa học sau đây:

Một là hệ thống hoá và làm sâu sắc hơn các vấn đề lý luận về Khu vực thương mại tự do ASEAN. Đặc biệt, luận án đã chỉ ra, phân tích và làm rõ đặc thù, vị trí vàvai trò của AFTA đối với Cộng đồng kinh tế ASEAN và các nền kinh tế thành viên, những điều kiện mới trong bối cảnh hợp tác khu vực hiện nay và những tác động của chúng đối với AFTA.

Hai là làm rõ một cách toàn diện những vấn đề pháp lý theo các quy định hiện hành của AFTA (theo ATIGA và các văn bản kèm theo), gồm:Tựdo hoá thuếquan, xoá bỏ hàng rào phi thuế quan, quy tắc xuất xứ và thuận lợi hóa thương mại hàng hoá.

Ba là phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực tiễn thực hiện AFTA của ASEAN và một số quốc gia thành viên. Đặc biệt luận án đã chỉ ra, phân tích và làm rõ những tồn tại, thách thức đối với AFTA trong điều kiện hợp tác mới; trên cơ sởđó đề xuất các cải cách đối với AFTA.

Bốn là đánh giá toàn bộ quá trình hội nhập AFTA của Việt Nam, kể từ khi gia nhập cho đến nay. Luận án đã phân tích các kết quả, hạn chế và nguyên nhân, trên cơ sở đó,Luận án đã đề xuất phương hướng và một hệ giải pháp tổng thể nhằm tăng cường hiệu quả hội nhập AFTA của Việt Nam.

6

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài luận án.

Kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện và làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về tự do hoá thương mại, khu vực thương mại tự do nói chung và AFTA nói riêng, qua đó góp phần phát triển và hoàn thiện những kiến thức lý luận trong khoa học luật quốc tếvà kinh tếquốc tế. Luận án sẽlà tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy và học tập về pháp luật quốc tếvà thương mại quốc tế, nhất là các vấn đềvềPháp luật ASEAN và thương mại hàng hoá quốc tế.

Những phân tích, bình luận và kết luận khoa học vềcác quy định pháp luật hiện hành của AFTA (nhất là về các nội dung mới trong ATIGA và các văn bản có liên quan) sẽ là những kiến giải có giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập và thực hành liên quan đến thương mại hàng hoá trong ASEAN.

Các đề xuất cải cách đối với AFTA mà luận án đưa ra có giá trị tham khảo tốt đối với ASEAN và các quốc gia thành viên trong việc đảm bảo hiệu quảthực thi AFTA trong bối cảnh hợp tác mới hiện nay.

Phương hướng và hệ giải pháp tăng cường hiệu quả hội nhập AFTA của Việt Nam mà Luận án đưa ra sẽ hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách, cơ quan quản lý trong hoàn thiện chính sách, pháp luật đáp ứng yêu cầu vừa đảm bảo thực hiện chủđộng,tích cực nghĩa vụthành viên AFTA, vừa bảo vệtối đa lợi ích của quốc gia và các doanh nghiệp trong các quan hệ thương mại hàng hoá với các đối tác ASEAN. Đồng thời, những kết quảnghiên cứu này cũng sẽgiúp ích trực tiếp cho các doanh nghiệp và người dân trong việc chủ động tận dụng những lợi ích màAFTA mang lại, cũng như hạn chế tối đa những tác động không mong muốn từ quá trình hội nhập AFTA nói riêng và những tiến trình tự do hoá thương mại phức tạp

và rộng lớn hơn mà Việt Nam đã và đang chuẩn bị tham gia như TPP, EVFTA….

7. Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc của luận án bao gồm 4 chương:

– Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đềtài luận án.

– Chương 2: Một sốvấn đềlý luận vềKhu vực thương mại tựdo ASEAN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

– Chương 3: Những vấn đề pháp lý và thực tiễn thực hiện AFTA.

– Chương 4: Thực tiễn thực hiện nghĩa vụthành viên và phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập AFTA của Việt Nam.

 

Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và thực tiễn hội nhập của Việt Nam
Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và thực tiễn hội nhập của Việt Nam

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Kể từ khi hình thành năm 1992 đến nay, Khu vực thương mại tự do ASEANđã trở thành đối tượng khảo cứu trong nhiều công trình của các tác giả khác nhau ởnước ngoài cũng nhưởViệt Nam. Vềquy mô, những nghiên cứu này được thực hiện ở nhiều cấp độ: từ sách chuyên khảo, bài viết hội thảo, bài viết trên các tạp chí

đến đề tài khoa học, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ…. Nhìn chung, các công trình đó đã phân tích những khía cạnh khác nhau vềtựdo hóa thương mại, vềcác thỏa thuận thương mại khu vực, Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), những tác động của AFTAđối với ASEAN, cácnước thành viên ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng, cũng như đối với các hoạt động thương mại ngoại khối của ASEAN.

Nghiên cứu các công trình liên quan trực tiếpđến đềtài luận án, có thểkhái quát thành nhóm công trình nghiên cứu tổng quan vềhợp tác kinh tếcủa ASEAN nói chung và Khu vực thương mại tựdo ASEAN (AFTA) nói riêng; nhóm công trình nghiên cứu về những tác động của AFTA đối với ASEAN, đối với từng quốc gia thành viên và mối quan hệ giữa Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) với các hoạt động thương mại ngoại khối; nhóm công trình nghiên cứu vềKhu vực thương mại tự do ASEAN và những vấn đề liên quan Việt Nam.

1.1. Nhóm công trình nghiên cứu tổng quan về hợp tác kinh tế của ASEAN và Khu vực thương mại tự do ASEAN

1.2. Nhóm công trình nghiên cứu những tácđộng của AFTAđối với ASEAN, đối với từng quốc gia thành viên và mối quan hệ giữa AFTA với các hoạt động thương mại ngoại khối

1.3. Nhóm công trình nghiên cứu vềKhu vực thương mại tựdo ASEAN và những vấn đề liên quan đến Việt Nam.

26

1.4. Đánh giá tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án Các công trình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài của Luận án đã có

những phân tích và hệ thống hóa ở mức độ nhất định các khía cạnh của AFTA và các vấn đề liên quan đến quá trình hội nhập AFTA của Việt Nam. Cụ thể:

Vềlý luận, những công trình này đã khái quát quá trình hợp tác kinh tếcủa ASEAN, phân tích bối cảnh thếgiới và khu vực trên cảphương diện kinh tếvà chính trị dẫn đến sự ra đời của AFTA, như xu thế khu vực hóa, sức ép cạnh tranh từnhững nền kinh tếlớn trong khu vực, cũng như nhu cầu cải thiện sựliên kết giữa các thành viên. Bên cạnh đó, những công trình này cũng đã phân tích những lợi ích của tựdo hóa thương mại và việc hình thành các khu vực thương mại tựdo nói chung, từ đó liên hệ cụ thể với Khu vực thương mại tự do ASEAN để chỉ ra những lợi ích mà AFTA mang lại cho mỗi quốc gia cũng như cho cả khối.

Về pháp lý, những công trình nghiên cứu, dù ở mức độ và phạm vi khác nhau nhưng đều làm rõ được những vấn đềpháp lý của AFTA theo quy định của Hiệp định CEPT 1992. Những bài viết hay cuốn sách này đều đã giới thiệu được cơ chếpháp lý của Khu vực thương mại tự do ASEAN theo CEPT, bao gồm mục tiêu, cách thức tiến hành,lộtrình cắt giảm thuế quan. Một sốcông trình được viết sau khi Hiệp định thương mại hàng hóa ATIGA năm 2009 rađời đã bước đầu đềcập đến một số nội dung còn lại của AFTA, như xóa bỏ rào cản phi thuế quan, quy tắc xuất xứ và thuận lợi hóa thương mại.

Vềthực tiễn, trên cơsởphân tích kết quảcủa quá trình cắt giảm thuế quan theo CEPT tại một sốnước thành viên đối với một sốloại hàng hóa nhất định, những công trình này đã đưa ra những đánh giá vềảnh hưởng của AFTAđối với những quốc gia này và tác động chung của AFTA đối với ASEAN trên cả phương diện kinh tếcũng như chính trị, đồng thời đềxuất một sốgiải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của AFTA.

Về những vấn đề liên quan đến Việt Nam, những công trình của các tác giả đã đề cập đến bốn vấn đề của AFTA. Một là, bối cảnh kinh tế, chính trị khi Việt Nam gia nhập AFTA. Hai là, quá trình thực hiện các cam kết của Việt Nam trong AFTA, chủ yếu là các cam kết về cắt giảm thuế quan theo lộ trình quy định tại CEPT. Ba là, tác động của AFTA, chủ yếu tập trung vào tác động của việc cắt giảm thuế quan đến nền kinh tế Việt Nam ở cả phương diện thuận lợi và khó khăn. Bốn là,một sốđề xuất, giải pháp tăng cường hiệu quả của quá trình thực hiện nghĩa vụ thành viên nói riêng và hiệu quả của quá trình hội nhập nói chung.

27

Về cơ bản, những công trình này đã cung cấp những kiến thức tổng quátđể có thể hình dung được về cơ chế hoạt động của AFTA ở cả cách thức thực hiện (như lộ

trình, cơ chế cắt giảm thuế quan…) cũng như phương diện thực tiễn thực hiện cam kết của các quốc gia thành viên, từđó đánh giá vềnhững tác động cảtích cực và hạn chế, cũng như phân tích những vấn đề cần lưu tâm nhằm tận dụng tối đa các lợi ích và hạn chế những thách thức mà AFTA mang lại.

Tuy nhiên, những nghiên cứu này nhìn chung vẫn tồn tại những hạn chế sau:

Thứ nhất, mặc dù có khá nhiều công trình ở trong và ngoài nước có nội dung vềAFTA nhưng chưa có một công trình nào tiếp cận và nghiên cứu một cách cóhệthống, toàn diện và đầy đủ về AFTA trên tất cả các phương diện lý luận, pháp lý và thực tiễn:

-Đối với các công trình không nghiên cứu chuyên biệt vềAFTA: Các công trình này là những công trình nghiên cứu tổng thể về ASEAN hoặc là các công trình nghiên cứu vềtựdo hoá thương mại và liên kết kinhtếquốc tếnói chung nên AFTA chỉlà một phần trong nội dung của các công trình này. Những công trình nghiên cứu tổng thểvềASEAN hoặc vềCộng đồng kinh tếASEAN đềcập đến AFTA với tư cách là một trong các nội dung hợp tác kinh tếcủa ASEAN nên chỉ

tập trung phân tích vai trò, mối quan hệ và tác động của AFTA đối với những lĩnh vực hợp tác khác của ASEAN. Những công trình nghiên cứu về tự do hoá thương mại hoặc liên kết kinh tế quốc tế nói chung khiđề cập đến AFTAthì xem xét AFTA như là một mô hình của liên kết kinh tế quốc tế nên chỉ tập trung phân tích những vấn đề lý luận về AFTA.

– Đối với các công trình nghiên cứu chuyên biệt về AFTA: Số lượng các công trình này không nhiều và đa số các công trình này chủ yếu chỉ dừng ở mức độ giới thiệu về AFTA nên thiếu những nghiên cứu, đúc kết sâu sắc về mặt lý luận và đặc biệt là không tiến hành đánh giá thực tiễn thực hiện AFTA của cảkhối cũng nhưquá trình thực hiện nghĩa vụ của các thành viên trên tất cả các phương diện hợp tác của Khu vực thương mại tự do ASEAN. Hơn nữa, các công trình này cũng không đánh giá được tác động của quá trình thực hiện AFTAđến liên kết nội khối của ASEAN với tư cách là một nội dung trong quá trình hợp tác giữa các thành viên trong một tổchức quốc tế. Do vậy, các nghiên cứu này thiếu những đềxuất giải pháp mang tính chiến lược và tổng thể nhằm tăng cường hiệu quả của AFTA và quá trình hội nhập của các thành viên.

– Ngoài ra, cũng có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về AFTA, nhưng chủ yếu các nghiên cứu này đều là các bài báo hoặc các công trình ngắn nên cũng

28

chỉ đề cập được một vài khíacạnh hợp tác của AFTA. Đại đa số các công trình này tập trung đề cập đến nội dung xóa bỏ hàng rào thuế quan, trong khinhững vấn đềđược thỏa thuận trong AFTA, ngoài thuế quan còn bao gồm cả xóa bỏ rào cản phi thuế quan, quy tắc xuất xứ cũng như những nội dung khác của thuận lợi hóa thương

mại hàng hoá như hợp tác hải quan, tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ….

Thứhai, thiếu vắng những công trình nghiên cứu được tiến hành trong thời gian gần đây, nhất là kể từ khi Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN (ATIGA)được ký vào năm 2009, những công trình nghiên cứu về AFTA đã được thực hiện từ cách đây khá lâu, chủ yếu vào khoảng cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000. Điều này dẫn tới những hạn chế sau:

-Vềkhía cạnh lý luận, một sốquan điểm,đúckết trước đây không còn phù hợp,đòihỏi cần phải được đánh giá và xem xét lại trong điều kiện, bối cảnh thực hiện AFTA có những thay đổi rất lớn như hiện nay (hình thành Cộng đồng kinh tếASEAN, sự bùng nổ của các hiệp định thương mại tự do và xuất hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, sự xoay trục của các cường quốc trong chính sách đối

ngoại đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương…) và nhất là khi mà quan điểm, sự “hào hứng”,cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của các chính phủ, doanh nghiệp và người dânởcác nước hiện nay đối với các tiến trình tựdo hoá thương mại vàliên kết kinh tế khu vực đã có những thay đổi so với trước đây.

-Vềkhía cạnh pháp lý và thực tiễn, các công trình vềAFTA đều chưa cập nhật được các văn bản pháp lý mới được ký kết cũng như các số liệu thực tiễn gần đây. Các vấn đề pháp lý trong đại đa số các nghiên cứu đều được phân tích theo các nội dung của Thỏa thuận vềchương trình ưu đãithuế quan có hiệu lực chung (CEPT 1992), trong khi hiện nay rất nhiều những nội dung pháp lý của AFTA đã có sựthayđổi vàđược bổsung mới theo quyđịnh của Hiệp định hàng hóa ASEAN (ATIGA 2009) và các văn bản kèm theo, chẳng hạn như việc tiếp tục đẩy mạnh nghĩa vụ cắt giảm thuế quan thay vì xuống mức 0-5 % như quy định của CEPT sẽgiảm tiếp xuống mức 0% theo ATIGA đối với hầu hết các hàng hóa của các nước thành viên, hoặc các quy định mới về quy tắc xuất xứ, thuận lợi hóa thương mại hay

xóa bỏ rào cản phi thuế quan…. Nói cách khác, những công trình này chỉ phản ánh được chính xác phương diện pháp lý và thực tiễn cũng như tác động của AFTAởthời điểm công trình được thực hiện. Hơn nữa, nhiều công trình được công bố trong những giai đoạn này chủ yếu phân tích và đánh giá dựa vào các số liệu thực tiễn của 6 nước thành viên đầu tiên của ASEAN là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore.

29

Thứ ba, tại Việt Nam, những công trình nghiên cứu về Khu vực thương mại tựdo ASEAN còn ít và những công trình này hoặc chỉdừng lại ởviệc giới thiệu AFTA như các ấn phẩm của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) hay của dự án MUTRAP nhằm cung cấp những thông tin pháp lý cơ bản nhất cho cộng đồng doanh nghiệp,chủyếu liên quan đến những vấn đềvềthuế quan, hoặc chỉ tiếp cận AFTAdưới góc độ làmột nội dung trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thành viên. Ngay cảcuốn sách Tựdo hoá thương mại ởASEAN của tác giảNguyễn ThịHồng Nhung, mặc dù là công trình nghiên cứu ởViệt NamvềAFTA khá toàn diện nhưng cũng mới chỉdừng lại ởnhững nội dung pháp lý vàthực tiễn mà chưa đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm hạn chế những tác động không mong muốn từ AFTA trong quá trình hội nhập.

Điều này xuất phát từmột sốnguyên nhân. Một là ASEAN và AFTA chưađược quan tâm đúng mức từ phía Nhà nước, người dân, các nhà nghiên cứu và đặc biệt là các doanh nghiệp. Hai là khi tiếp cận vềASEAN, nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu vẫn còn mang định kiến vềmột tổchức quốc tếthiếu sựliên kết chặt chẽtrong nội bộ, thiếu cơchếđảm bảo thực thi pháp luật nên hiệu quảcủa hoạt động tuân thủ cam kết từ phía các thành viên không cao – chỉ nói nhiều hơn là làm. Ngoài ra, còn do tâm lý hướng ngoại của người Đông NamÁnói chung và Việt Nam nói riêng nên các hoạt động trong chính Khu vực thường ít được quan tâm và đánh giá cao.

Thứtư, một điều rất đáng lưuýlà các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về AFTA đa số là của các nhà kinh tế học, chính trị học hoặc quan hệ quốc tếhọc nên cách tiếp cận và xử lý vấn đề chủ yếu dùng các phương pháp của chính trịhọc, kinh tế học, quốc tế học và toán học. Các công trình của giới luật học trong và ngoài nước nghiên cứu về AFTA, nếu có cũng chỉ là các bài báo hoặc chuyên đề hội thảo ngắn đềcập tới những lĩnh vực hợp tác hẹp của AFTA. Có thểnói rằng, hầu như chưa có công trình của giới luật học kể cả ở trong và ngoài nước đề cập và giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề pháp lý và thực tiễn của AFTA, cũng như đềxuất các giải pháp pháp lý nhằm tăng cường hiệu quả của AFTA và hội nhập AFTA của các quốc gia thành viên. Điều này dẫn đến hạn chếlà những kiến giải và các giải pháp, đề xuất được đưa ra chưa toàn diện và thiếu tính pháp lý.

1.5. Những vấn đề về AFTA và thực tiễn hội nhập của Việt Nam cần tiếp tục được nghiên cứu

Mặc dù các công trình trước đây ởcác nước và Việt Namđãlàm rõởnhững mức độ nhất định đối với một số vấn đề cơ bản liên quan đến đề tài như đã trình bày

30

ở phần trên, tuy nhiên còn nhiều vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về AFTA và tiến trình hội nhập của Việt Nam cần được nghiên cứu hoặc cần được tiếp tục làm sâu sắc hơn:

• Về lý luận

Một là, cần tổng kết, hệ thống hoá và tiếp tục làm sâu sắc thêmcác vấn đề lýluận về tự do hoá thương mại, chủ nghĩa khu vực và khu vực thương mại tự do. Các nghiên cứu này cần phải được đặt trong mối quan hệ với bối cảnh hợp tác quốc tếmới và quan điểm, cách tiếp cận và chính sách hội nhập hiện nay của các quốc gia đối với các tiến trình liên kết kinh tế quốc tế.

Hai là, cần làm rõ một cách có hệ thống những đặc thù của Khu vực thương mại tựdo ASEAN so với những liên kết kinhtế- thương mại khác trênthếgiới. Thứ nhất, với tính cách là một cấp độ của tự do hoá thương mại, Khu vực thương mại tựdo ASEAN có gì khác biệt vềphạm vi và mức độtựdo hóa so với những tiến trình tự do hoá thương mại hiện hành khác,đặc biệt làcác FTA thế hệ mới màcác nước ASEAN là thành viên cũng như những FTA mà ASEAN ký kết với cácđối tác bên ngoài. Thứhai, dưới gócđộlà một liên kết pháp lý giữa các quốc gia trong khu vực, cơ chế hoạt động của Khu vực thương mại tự do ASEAN có gìđặc biệt so với những liên kết khu vực khác, nhất là so với các tổ chức quốc tế khu vực như Liên minh châu Âu – là những tổ chức quốc tế khu vực có phạm vi hợp tác toàn diện cả về kinh tế, chính trị và xã hội tương tự như ASEAN.

Ba là, làm rõ vị trí, vai trò và những yêu cầu đặt ra đối với AFTA trong điều kiện hợp tác quốc tế mới trên cả hai phương diện. Thứ nhất, vai trò của AFTA đối với nền kinh tế của mỗi nước thành viên. Thứ hai, vai trò và vị trí của AFTA trong quá trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN với tư cách là nội dung hạt nhân của một trong những trụ cột để xây dựng Cộng đồng này, qua đó đánh giá tác động của AFTA đối với ASEAN dưới góc độ mối quan hệ giữa liên kết kinh tế với liên kết chính trị – an ninh và văn hóa – xã hội giữa các thành viên. Đồng thời chỉ ra những tồn tại xuất phát từ những vấn đề nội tại của ASEAN, các thách thức đối với AFTA trong bối cảnh hợp tác mới và đề xuất các cải cách đối với AFTA và giải pháp tăng cường hiệu quả hội nhập AFTA của các nước thành viên, trong đó có Việt Nam.

• Về pháp lý

Nghiên cứu một cách tổng thể, có tính hệ thống đối với tất cả vấn đề pháp lýcủa Khu vực thương mại tựdo ASEAN, nhất là cần tập trung làm rõ toàn bộcác vấn đề pháp lý theo những văn bản pháp lý hiện hành (Hiệp định ATIGA 2009 và các văn bản kèm theo), gồm:

31

(i) Tự do do hóa thương mại với ba nhóm vấn đề: Tự do hóa thuế quan, Xóa bỏ rào cản phi thuế quan, Quy tắc xuất xứ;

(ii) Thuận lợi hóa thương mại với những nội dung về Hải quan, Tiêu chuẩn kỹthuật, Biện pháp vệ sinh dịch tễ.

Đối với từng nhóm vấn đề, cần phải làm rõvềcơchếpháp lý, gồm các nội dung vềthểchếpháp lý, công cụ, cách thức thực hiện, thiết chếchịu trách trách

nhiệm giám sát, thực thi…. Các kiến giải và đánh giá cần được đặt trong mối quan hệvới kinh nghiệm pháp lý của các liên kết kinhtếkhu vực khác như Liên minh

châu Âu, Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA)….

• Về thực tiễn

Một là, tiếp tục đánh giá thực tiễn thực hiện AFTA của cả khối ASEAN và các nước thành viên trên cơsởnguồn dữliệu tin cậy được cập nhật từBan thư kýASEAN và các quốc gia thành viên đối với tất cả các nội dung pháp lý của AFTA, từđó chỉra được những thành tựu, hạn chếtrong quá trình thực hiện AFTA của ASEAN, của các quốc gia thành viên, lý giải nguyên nhân của những hạn chế này và đưa ra những đề xuất cải cách cho ASEAN nhằm đạt được mục tiêu của AFTA trong điều kiện mới, đồng thời đánh giá những tác động thực tế của AFTA đối với các nền kinh tế thành viên và liên kết thương mại nội khối trong toàn ASEAN.

Hai là, đánh giá toàn diện quá trình thực hiện nghĩa vụ thành viên AFTA của Việt Namtừkhi gia nhập AFTAđến nay trên cảhai phương diện.Thứnhất, hoạt động hoàn thiện pháp luật quốc gia để thực hiện nghĩa vụ thành viên theo tiêu chícóđảm bảo sựtương thích giữa pháp luật quốc gia với những quy định liên quan của AFTA hay không, pháp luật hiện hành đã đủlàm cơsởpháp lýđểthực hiện những cam kết quốc tế hay chưa, có bảo vệ được tối đa lợi ích của người dân, doanh nghiệp và lợi ích quốc gia hay không. Thứ hai, quá trình thực thi các quy định pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền trên thực tế có tuân thủ theo đúng những chuẩn mực đã được pháp luật quy định hay không. Việc đánh giá phải chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình thực hiện AFTA. Từđó,đưa ra phương hướng, giải pháp toàn diện trên các phương diện pháp lý, kinh tế,

xã hội…nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập AFTA của Việt Nam. Những giải pháp này đồng thời cũng sẽ là các bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong các tiến trình tự do hoá thương mại và liên kết kinh tế quốc tế khác rộng lớn và phức tạp hơn trong bối cảnh hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.

32

Chương 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHU VỰC THƯƠNG MẠI TỰ DO ASEAN

TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY

Chương 2 của Luận án bao gồm các vấn đề: bản chất, nội dung và cấp độ của tự do hoá thương mại; khái niệm và các nội dung hợp tác của khu vực thương mại tự do; lịch sử hình thành và phát triển, những đặc thù và khác biệt của AFTA so với các tiến trình tựdo hoá thương mại khác trênthếgiới; vai trò của AFTAđối với Cộng đồng kinh tếASEAN và các nền kinh tếthành viên trong điều kiện hợp tác kinh tế quốc tế hiện nay.

2.1. TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI VÀ KHU VỰC THƯƠNG MẠI TỰ DO 2.1.1. Tự do hoá thương mại

Tự do hoá thương mại đã trở thành thực tiễn rất sôi động và phổ biến hiện nay trên thế giới. Mỗi quốc gia đều đã và đang tham gia vào quá trình tự do hoá thương mại với nhiều phạm vi, tầng nấc và cấp độ đan xen nhau, từ song phương, khu vực, liên khu vực cho tới toàn cầu.

2.1.1.1. Bản chất và nội dung của tự do hóa thương mại

Các lý thuyết về thương mại quốc tế đã chỉ ra rằng trong bất kỳ thời đại nào, môi trường nào, cạnh tranh hoàn hảo hay không hoàn hảo, thương mại quốc tế luôn mang lại lợi ích cho các nước tham gia. Lợi ích này vừa là kết quả, vừa là nguyên nhân dẫn đến và thúc đẩy hoạt động thương mại giữa các quốc gia. Đó là sựđáp ứng tự nhiên và có lợi đối với những khác biệt về giá, vốn dĩ đã tồn tại ngay cả khi không có thương mại. Những khác biệt này chủ yếu bắt nguồn từ sự khác nhau giữa các quốc gia về các nguồn lực, công nghệ hoặc về lợi thế kinh tế về quy mô hoặc vìcả hai lý do đó. Tuy nhiên, cho dù luôn mang lại những lợi ích to lớn nhưng chưa khi nào có “thương mại tự do” một cách hoàn toàn và đầy đủ trong lịch sử phát triển của thương mại quốc tế. Với nhiều lý do khác nhau, các quốc gia luôn can thiệp và hạn chếởcác mức độkhác nhau đối với hoạt động di chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động quốc tế bằng các rào cản thương mại trong “chính sách thương mại quốc tế”1 của mình. Trên thực tế, chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia là rất khác nhau trong từng thời kỳ, bởi vì nó phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế – xã hội – chính trị và mục tiêu của Nhà nước trong việc can thiệp và điều chỉnh các

1 Chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia được hiểu là tổng thể các quanđiểm,mục tiêu, nguyên tắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà Nhànước sử dụng để tác động vàđiều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia.

33

hoạt động thương mại quốc tếtrong mỗi thời kỳcụthể. Tuy nhiên, dùthếnào, chúng cũng luôn chịu sự chi phối của hai xu hướng cơ bản là thương mại tự do và bảo hộ thương mại [45].

Tự do hoá thương mại là một thuật ngữ chung để chỉ hoạt động chuyển dần từchếđộbảo hộthương mại sangchếđộthương mại tựdo thông qua việc loại bỏ

từng bước các cản trởđối với thương mại quốc tếnhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là xoá bỏ hoàn toàn mọi rào cản đối với thương mại quốc tế, tức là đạt được chế độ thương mại tự do. Nói một cách cụ thể hơn, tự do hoá thương mại được hiểu là “quá trình cải cách nhằm xoá bỏ dần dần mọi cản trở đối với thương mại quốc tế, bao gồm thuế quan và phi thuế quan, được tiến hành trong mối liên hệ với các chính sách khác trong hệ thống chính sách kinh tế của chính phủ” [45, tr. 40].

Như vậy,vềbảnchất,tựdo hóa thương mạilàmộtquá trình chuyển từtình trạng của chủ nghĩa bảo hộ thương mại, tức là chuyển từ trạng thái đóng cửa hoặc hạn chế sự di chuyển của các dòng hàng hóa, dịch vụ, vốn và người lao động sang tình trạng thương mại tự do, tức là một nền tảng thể chế mà ở đó hàng hóa, dịch vụvà các tư liệu sản xuất (đặc biệt là vốn và lao động) có thể lưu chuyển tự do giữa các quốc gia. Tự do hóa thương mại phải là một quá trình đi từ thấp đến cao, từ cục bộ đến toàn thể. Các biện pháp để thực hiện tự do hóa thương mại chính là việc điều chỉnh theo hướng nới lỏng dần dần các công cụ bảo hộ thương mại đã và đang tồn tại trong thương mại quốc tế với những bước đi phù hợp trên cơ sở các thỏa thuận song phương và đa phương giữa các quốc gia.

Theo cách tiếp cận của WTO, các công cụ để thực hiện chính sách thương mại quốc tếđược phân thành hai loại: thuế quan và rào cản phi thuế quan.Đểbảo hộnền sản xuất trong nước, quốc gia sẽ sử dụng những công cụ này như những rào cản nhằm tạo ra những lợi thế cho nhà sản xuất trong nước và/hoặc cản trở, hạn chế các nhà sản xuất nước ngoài có thể tiếp cận thị trường quốc gia.

Thuế quan: Theo quyđịnh của WTO, thuế quan là loại thuế áp dụng tại cửa khẩu đối với hàng hoá dịch chuyển từ một lãnh thổ hải quan này sang một lãnh thổhải quan khác (Điều I GATT). Thuế quan bao gồm cả thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu. Tuy nhiên, rào cản chủ yếu mà các quốc gia muốn hạn chế và xóa bỏ là thuếnhập khẩu vì nó cản trở hàng hóa nước ngoài thâm nhập thị trường nội địa của một nước khác. Thuế quan ra đời với 2 mục đích chính là: (i) Góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước; và (ii) Bảohộsảnxuất trong nước. Bằng cách đánh thuế cao vào hàng hóa nhập khẩu, Nhà nước tạo áp lực tăng giá bán của hàng hóa nhập khẩu, qua đó, giúp các nhà sản xuất trong nước có lợi thế cạnh tranh về giá với

34

hàng hóa nhập khẩu. Thông thường,tựdo hóa thuế quan sẽđược thực hiện thông qua quá trình giảm dần tiến tới xóa bỏ thuế quan theo một lộ trình đã cam kết.

Rào cản phi thuế quan: Là các biện pháp phi thuế quan được sử dụng để cấm hoặc hạn chếhoạt động xuất nhập khẩu nhằm bảo hộhàng hóa và sản xuất trong nước. Nếu như thuế quan mang bản chất kinh tế thì các rào cản phi thuế quanchủyếu mang tính chất hành chính/kỹ thuật, như các quy định về cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu, giấy phép, hạn ngạch, hạn chếxuất khẩu tựnguyện… hoặc những tiêu chuẩn kỹthuật, biện pháp vệsinh, dịch tễdo một quốc gia quy định đối với hàng hóa nhưng lại được sửdụng như là một cách thức đểcản trởhàng hóa nhập khẩu vào thịtrường nội địa. Nguyên tắc chung trong tựdo hoá thương mại là các quốc gia phải xóabỏcác biện pháp phi thuế quan được xác định là rào cản đối với thương mại quốc tế và không được áp dụng những biện pháp mới trong tương lai.

Trên cơ sở mục tiêu, tốc độ và trình tự đã được xác định và dự đoán về những tác động mà chương trình tự do hoá thương mại có thể đem lại, căn cứ vào những điều kiện kinh tế ban đầu, tính khả thi về chính trị và năng lực hành chính, các nhà hoạch định chính sách sẽ xác định nội dung của chương trình tự do hoá. Nội dung của chương trình đó gồm những cải cáchcụthểvềthuế quan, các biện pháp phi thuế quan và các cải cách chính sách liên quan khác.

Việc thực hiện một chương trình tự do hóa thương mại luôn bị đe dọa sẽ quay ngược trở lại bởi các tác động không mong muốn. Vì vậy, các nước cần phải điều chỉnh các chính sách liên quan trong hệ thống chính sách quốc gia. Các chính sách có liên quan cần điều chỉnh có thể là chính sách tài chính, tỷ giá, tiền tệ, tiền lương,

tín dụng…. Chẳng hạn, liên quan đến chính sách tài chính, để bù đắp thâm hụt ngân sách có thể xảy ra do việc cắt giảm thuế nhập khẩu, Chính phủ cần phải tiến hành cải cách chính sách thuế bằng việc phát triển các nguồn thu thay thế, như thuế thu

nhập, thuếtrịgiá gia tăng hoặc giảmbớtchi tiêu….Sựnhất quán giữa chính sách

thương mại quốctếvà các chính sách khácsẽlànềntảngbảođảmchosựthành công của chương trình tự do hóa thương mại.

Bên cạnh việc điều chỉnh những chính sách nhằm hạn chế những tác động tiêu cực, các quốc gia còn cần thiết phải thực hiện những cải cách nhằm hỗ trợ cho quá trìnhtựdo hóa thương mại. Đểđạt mụctiêusửdụng có hiệuquảcác nguồn lực trong dài hạn, các chính phủ cần kết hợp cải cách thương mại với cải cách đầu tư và

liên quan với nó là chính sách thị trường lao động và chính sách giáo dục…. Chẳng

hạn, do mối quan hệ giữa giáo dục và mức độ mở cửa của nền kinh tế là mối quan hệ hai chiều: khimở cửa,người lao động do được tiếp xúc với những công nghệ và

35

kỹthuật tiên tiến sẽnâng cao được trình độchuyên môn, tay nghề của mình, và ngược lại, trình độ chuyên môn và tay nghề cao của người lao động được nâng cao sẽ góp phần tăng cường hiệu quả trong phát triển kinh tế, vì thế cải cách chính sách giáo dục là yêu cầu quan trọng khi tiến hành tự do hoá thương mại [45].

2.1.1.2.Cấp độcủa tự do hóa thương mại

Các quốc gia cóthểthực hiện chương trìnhtựdo hóa thươngmạithông qua việc thực hiện các chương trình cảicách ởcác cấp độkhác nhau: quốc gia, song phương, khu vực hay toàn cầu. Chúng được gọilà các chương trình tựdo hóa thương mại đơn phương, song phương, khu vực và toàn cầu.

Đốivớicấp độđơn phương, tựdo hóa thương mại được thực hiện một cáchđơn phương thông qua việc xóa bỏcác rào cản đốivớihàng hóa và dịch vụnhập khẩu từ tất cả các đối tác thương mại của mình theo nguyên tắc không phân biệt đối xử hoặc từ những đối tác nhất định trên cơ sở quy chế tối huệ quốc.Ví dụ điển về tựdo hóa thương mại kiểu này là Hồng Kông.

Ởcấp độsong phương, tựdo hóa thương mại được thực hiện giữa hai quốc gia hoặc giữa quốc gia và một tổ chức quốc tế thông qua việc ký kết các Hiệp định thương mại song phương, qua đó các bên thỏa thuận xóa bỏ các rào cản thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ có nguồn gốc từ các bên ký kết khi nhập khẩu sang thịtrường của nhau, cũng như dành cho nhau các ưu đãi thương mại khác trong quan hệthương mạigiữa hai bên. Nếu như trước đây,tựdo hóa thương mạiởcấp độsong phương chủ yếu diễn ra giữa các quốc gia với nhau thì hiện nay các hiệp định thương mại song phương giữa quốc gia với các tổ chức quốc tế cũng ngày càng trởnên phổ biến, như các hiệp định thương mại ASEAN ký kết với Hàn Quốc, Trung

Quốc, Nhật Bản,ẤnĐộ…hayđiểnhình là Liên minh châu Âu vớimộtloạt hiệp định ký kết với các đối tác khác nhau tại khắp các châu lục.

Ởcấp độkhu vực, trong thương mại quốc tế, chủnghĩa khu vực được định nghĩa là “những hành động của các chính phủ nhằm thực hiện tự do hóa hoặc thuận lợi hóa thương mại trong phạm vi một khu vực, thường là thông qua việc thành lập các khu vực thương mại tự do hoặc các liên minh hải quan” [32, tr. 178]. Các khu vực thương mại tự do, các liên minh hải quan cũng như các liên kết khu vực khác được thiết lập trên cơ sở các hiệp định thương mại khu vực (RTAs). RTAs có thể làcác hiệp định được kí kết giữa các thực thểmà không nhất thiết chúng phải cùng thuộc vềmột khu vực địa lý. Nội dung của các hiệp định khu vực có thểrất khác biệt, với những RTAs hiện đại nói chung và RTAs của những nền kinh tế phát triển nhất nói riêng thì chúng không chỉ bao gồm những cam kết cắt giảm thuế quan mà

36

còn qui định thêm một loạt các qui tắc để điều chỉnh thương mại nội khối, như các qui định về tiêu chuẩn, về biện pháp tự vệ thương mại, về thủ tục hải quan và chúng cũng thường xây dựng được một hệthống những qui tắc ưu đãidành cho thương mại khu vực. Những hiệp định thương mại khu vực phức tạp nhất đã vượt ra ngoài các công cụ chính sách thương mại truyền thống, bao gồm cả các qui tắc khu vực vềđầu tư, cạnh tranh, môi trường và lao động [151].

Về lý thuyết cũng như trên thực tế, hiện nay các liên kết khu vực được thành lập vô cùng đa dạng, phong phú với nhiều mô hình khác nhau. Sự đa dạng của các mô hình này được biểu hiện ở số lượng thành viên, trình độ phát triển kinh tế của mỗi thành viên, mức độ tự do hóa và tuân thủ các cam kết, trong đó yếu tố cơ bản để phân biệt các mô hình liên kết khu vực là mức độ tự do hóa.

Căn cứ vào mức độ tự do hóa, theo cách phân loại truyền thống trong thương mại quốc tế [118, tr. 3], các liên kết khu vực có thể được phân chia (một cách tươngđối)2 thành các mô hình liên kết sau:

– Câu lạc bộ thương mại ưu đãi (PTC). Có thể coi Câu lạc bộ thương mại ưuđãilà mô hình liên kết khu vực đầu tiên và có cấp độtựdo hóa thương mại thấp nhất khi hai hay nhiều nước tham gia ký kết thỏa thuận cắt giảm thuế quan ở một mức nhất định đối với chỉ một số loại hàng hóa nhất định trong xuất nhập khẩu giữa các thành viên. Hiệp định vềcác thỏa thuận ưu đãithương mại (PTA) năm 1977 giữa sáu thành viên ASEAN khiđó là Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore và Brunei với việc giảm thuế quan đối với một sốloại hàng hóa nhất định là một thoả thuận điển hình của Câu lạc bộ thương mại ưu đãi [71].

– Khu vực thương mại tự do (FTA). So với Câu lạc bộ thương mại ưu đãi thì phạm vi và mức độtựdo hóa thương mại của Khu vực thương mại tựdo là rộng hơn và cao hơn. Các thành viên của Khu vực thương mại thực hiện việc xóa bỏ các rào cản thương mại, bao gồm cả thuế quan và rào cản phi thuế quan đối với hầu hết các loại hàng hóa (trừ những hàng hóa liên quan đến an ninh quốc gia hay lợi ích chung của cộng đồng)có xuất xứtừmột thành viên trong khu vực khi nhập khẩu vào thị trường của một thành viên khác. Tuy nhiên, mỗi thành viên trong khu vực vẫn duy trì một biểu thuế quan ngoại khối độc lập với bên ngoài [71]. Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) là một ví dụ cho mô hình liên kết này, NAFTAđược thành lập trên cơ sở Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ ký ngày 12/08/1992

2 Việc phân chia như được trình bày ở phần này chỉ mang tính chất tương đối trong nghiên cứu. Trong thực tiễn liên kết kinh tế khu vực sôi động hiện nay, các liên kết kinh tế khu vực thường được thiết lập với môhình rất đa dạng, phức tạp và thường có sự giao thoa, kết hợp hoặc chồng lấn giữa các nội dung khác nhau của các mô hình liên kết kinh tế khu vực khác nhau.

37

giữa ba quốc gia Hoa Kỳ, Canada và Mexico. Theo quy định tại Mục B và Mục C của Hiệp định, các quốc gia không được thông qua hay duy trì bất kỳ nghĩa vụ thuếquan hay rào cản phi thuế quan nào đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giữa các thành viên, trừ những ngoại lệ liên quan đến bí mật, an ninh quốc gia, lợi ích công

cộng….Tuy nhiên, Hiệp định không điều chỉnh vấn đềthuế quan của các thành viên trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa với các đối tác bên ngoài. Nói cách khác, NAFTA chỉ tạo ra một thị trường chung giữa các thành viên với nhau thông qua việc xóa bỏ những rào cản thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa có xuất xứtừmột nước thành viên này khi xuất khẩu/nhập khẩu sang thịtrường của một nước thành viên khác mà không thiết lập một thị trường thống nhất trong mối quan hệ thương mại với bên ngoài khi không quy định một chính sách thuế quan chung với các thực thể thương mại ngoại khối.

– Liên minh hải quan (Custom Union – CU). Một Liên minh hải quanđược hình thành khi giữa các thành viên thực hiện việc xóa bỏtất cảnhững rào cản thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa giữa các thành viên với nhau, đồng thời thiết lập một biểu thuế quan ngoại khối chung đối với hàng hóa có xuất xứ từ một nước bên ngoài [71]. Liên minh kinh tế Á – Âu (EAEU) với năm quốc gia thành viên Armenia, Belarus, Kazakhstan, Nga và Kyrgystan là một Liên minh hải quanđược thành lập trên cơsởHiệp ước Liên minh liên minh kinh tếÁ – Âu kýngày 29/05/2014 [163]. Theo quyđịnh tại Hiệp ước, trong khuôn khổEAEU, các quốc gia thành viên không được phép áp dụng bất kì một nghĩavụthuế quan, các biện pháp phi thuế quan hay bất kì biện pháp nào mang tính chất cản trở thương mại đối với hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các thành viên. Đồng thời thiết lập một hệthống thuế quan chung, chính sách thương mại chung và các quy tắc thương mại chung đối với bên thứ ba (Điều 25, 28 và 32 Hiệp ước Liên minh kinh tế Á – Âu).

– Thị trường chung (Common Market – CM). Thị trường chung được thành lập khi hai hay nhiều nước thiết lập một Liên minh hải quan và thêm vào đó là sựcho phép các yếu tố sản xuất di chuyển tự do giữa những nước này. So với các mô

hình liên kết trên, Thị trường chung không chỉ giải quyết vấn đề tự do di chuyển của hàng hóa mà còn đảm bảo sự tự do di chuyển của những yếu tố sản xuất còn lại là

dịch vụ, vốn và lao động [71]. Thị trường chung Nam Mỹ là một minh chứng cho mô hình liên kết này. Được hình thành trên cơ sở Hiệp ước thành lập Thị trường chung giữa Argentina, Brazil, Paraguay và Uruguay ký ngày 26/03/1991, Thị

trường chung Nam Mỹ (MECORSURE) hiện nay bao gồm năm thành viên với hai

38

nội dung pháp lý cơ bản, thứ nhất là đảm bảo sự tự do di chuyển của hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất khác giữa các thành viên, trong đó, xóa bỏ thuế quan, rào cản phi thuế quan và các biện pháp tương đương đối với hàng hóa, thứ hai là xây

dựng hệ thống thuế quan ngoại khối chung đối với hàng hóa và thông qua chính sách thương mại chung trong mối quan hệ với các nước thứ ba hoặc các nhóm quốc gia khác (Điều 1).

– Liên minh kinh tế – tiền tệ (EMU). Liên minh kinh tế – tiền tệ được coi là mô hình liên kết kinh tế khu vực cao nhất hiện nay,bởi lẽ để đạt được mức độ liên kết này,đòihỏi các nước thành viên ngoài việc đảm bảo sự tự do di chuyển của tất cảnhững yếu tốsản xuất, xây dựng được một biểu thuế quan ngoại khối chung còn phải hình thànhđược một chính sách tiền tệchung và một đồng tiền chung.Đến nay, mới chỉ có duy nhất Liên minh châu Âu đạt đến mô hình liên kết này với đồng tiền chung châu Âu Euro và một chính sách tiền tệ chung áp dụng với các nước sửdụng đồng tiền này [71].

Cuối cùng là cấp độ toàn cầu.Ở cấp độ này,có sự tham gia của hầu hết các quốc gia trên thếgiới vào quá trình ký kết và thực hiện các thỏa thuận tựdo hóa thương mại. Điển hình cho cấp độnày là quá trình tựdo hóa thương mại trong khuôn khổWTO. TheoTừđiển chính sách thương mại quốc tế, hệthống thương mại đa phương (The Multilateral3 Trading System, MTS) được định nghĩa là “một tổchức không phân biệt đối xử đối với thương mại quốc tế tồn tại cùng với GATT từnăm 19474 và hiện nay được đại diện bằng hệ thống WTO” [32, tr. 145].

2.1.2. Khu vực thương mại tự do

Nhưđãtrình bàyởMục 2.1.1.2, Khu vực thương mại tựdo (FTA) là một trong các mô hình liên kết kinh tế ở cấp độ khu vực và là mô hình liên kết kinh tếkhu vực phổbiến nhất hiện nay. Tính đến ngày 21/06/2016, các thoả thuận thành

3Từ “đa phương” (“multilateral”) được sử dụng để chỉ hệ thống thương mại của WTO thay cho các từ như“toàn cầu” (“global”)hay“thế giới” (“wolrd”), bởi lẽ hiện nay vẫn còn một số quốc gia và vùng lãnh thổchưa phải là thành viên của WTO. Ngoài ra, trong khuônkhổWTO, thuật ngữ“đa phương” cũngđược dùng với ý nghĩa phân biệt với các liên kết mang tính khu vực hoặc các liên kết ở phạm vi hẹp của một nhóm nhỏ các quốc gia. Đặc điểm này khác với cách sử dụng thuật ngữ “đa phương” trong các lĩnh vực quan hệquốc tếkhác, vídụnhư trong lĩnh vực an ninh – chính trị, khái niệm “Thỏa thuận an ninh đa phương” (The multilateral security arrangement) có thể là thỏa thuận mang tính chất khu vực [147].

4 Hệthống thương mại đa phương bắt đầu được hình thành gắn liền với sựrađời của GATT 1947 (The General Agreement on Tariffs and Trade). Ban đầu, các nước dự định thành lập Tổ chức thương mại quốc tế (The International Trade Organization, ITO) và tiến hành đàm phán GATT 1947 để hiện thực hóa từng bước ý tưởngnày. Nhưng sau đó, với sự thất bại trong việc thành lập ITO, GATT 1947 mặc dù chỉ là một Hiệp định thương mại, nhưngđãgiữluôn vai trò là một thiết chếthương mại điều chỉnh các quan hệthương mại quốc tế trong suốt gần nửa thế kỷ, từ năm 1948 cho đến hết năm 1994, trước khi được thaythếbởi WTO từ ngày 01/01/1995.

39

lập khu vực thương mại tựdo chiếm đến gần 90% trong số320 hiệp định thương mại khu vực (RTAs) được thông báo cho WTO. Chỉcó khoảng hơn 40 hiệp định trongsốnày là các hiệp định vềthành lập các mô hình liên kết kinhtếkhu vực khác, trong đó có 12 hiệp định về thành lập Liên minh hải quan [158].

Cơ sở pháp lý thành lập các khu vực thương mại tự do là các hiệp định thương mại khu vực (RTAs) được ký kết giữa các nước thành viên. Chẳng hạn, Khu vực thương mại tựdo Bắc Mỹ(NAFTA) được thành lập trên cơsởHiệp định thương mại tựdo Bắc Mỹký ngày 17/12/1992 giữa ba quốc gia Hoa Kỳ, Canada và Mexico, Khuvựcthươngmạitựdo ASEAN (AFTA)đượchình thành trên cơsởHiệp định khung vềtăng cường hợp tác kinh tếASEAN ký ngày 28/01/1992 hay Khu vực thương mại tự do châu Âu (EFTA) thành lập trên cơ sở Hiệp định về Hiệp hội thương mại tự do châu Âu ký ngày 04/01/1960 giữa Áo, Đan Mạch, Nauy, BồĐào Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Vương quốc Anh [158].

Xétvềmặt sốlượng thành viên, các FTA song phương là loại hìnhphổbiến nhất hiện nay, bao gồm hai bên ký kết là quốc gia – quốc gia như Khu vực thương

mại tự do Canada – Chile, Canada – Colombia, Trung Quốc – Singapore… hoặc quốc gia – tổ chức quốc tế như Khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Ấn Độ, ASEAN – Hàn Quốc hay một loạt các Khu vực thương mại tự do hình thành giữa Liên minh châu Âu và các nước khác như EU – Hàn Quốc, EU – Chile, EU –

Isarel…. Ngoài ra, các FTA đa phương cũng chiếm một số lượng không nhỏ.

Nếu như trước đây, các FTA chủ yếu được hình thành giữa các quốc gia trong cùng một khu vực địa lý thì hiện nay khái niệm “khuvực” ngày càng được mởrộng, các FTA có thể được thiết lập giữa bất kì chủ thể nào với nhau, miễn là các bên tìm thấy lợi ích và dung hòađược những khác biệt. Chẳng hạn như các FTA giữa Liên minh châu Âu với một sốnước châu Ánhư Khu vực thương mại tựdo EU – Hàn Quốc, EU – Papua New Guinea…; với một số nước Trung Đông như EU – Ai Cập, EU – Isarel, EU – Palestine hay với một sốnước châu Phi như EU – Cameroon, EU – Bờ Biển Ngà.

Nộidung pháp lýcủacác khuvựcthươngmạitựdođượcghi nhận trong chính điều ước quốc tếthành lập các FTA và các điều ước quốc tếkhác có liên quan. Về cơ bản, nội dung hợp tác của khu vực thương mại tự do bao gồm: (1)tựdo hóa thuế quan; (2) xóa bỏ rào cản phi thuế quan; (3) qui tắc xuất xứ; (4) thuận lợi hóa thương mại; (5) giai đoạn chuyển đổi, lộ trình thực hiện và ưu đãi dành cho một số thành viên đang phát triển và kém phát triển; (6) đối xử MFN, NT và ưu đãi nội khối; (7) các điều kiện mở cửa thị trường; (8) các biện pháp khắc phục thương mại;

40

và (9) các vấn đềvềthểchếvà giải quyết tranh chấp. Trong đó,có thểnói, quan trọng nhất là các vấn đề về tự do hóa thương mại và thuận lợi hóa thương mại. Các nộidung khác đều là nhằmhỗtrợcho hainộidung này hoặc là giải quyết những vấn đềphát sinh từ các quá trình đó.

(1) Tự do hóa thuế quan: Trừ những ngoại lệ được phép duy trì đối với một sốloại hàng hóa nhất định liên quan đến an ninh quốc gia hay lợi ích công cộng, nghĩa vụthuế quan đốivớihàng hóa có xuấtxứtừmộtthành viên trong FTA khi nhập khẩu vào thị trường một thành viên khác sẽ được xóa bỏ. Nói một cách cụ thể, thuếxuất/nhập khẩu đối với hàng hóa khi tiến hành trao đổi thương mại giữa các thành viên trong khu vực sẽ được đưa về mức cuối cùng là 0%. Quá trình này có thể được thực hiện theo lộ trình giảm dần, tiến tới xóa bỏ thuế xuất nhập khẩu hoặc xóa bỏngay theo thời hạn quy định. Tự do hóa thuế quan theo cách thức nào, cơ chế và lộtrình ra sao sẽ do các thành viên thỏa thuận quyết định trên cơ sở phù hợp với đặc điểm của mỗi khu vực thương mại tự do. Tuy nhiên, FTA về bản chất chỉ tạo ra một thị trường hàng hóa tự do và thống nhất giữa các thành viên với nhau khi việc traođổi hàng hóa giữa các thành viên về cơ bản giống như trao đổi, mua bán hàng hóa trong cùng một nước do thuế nhập khẩu được cắt giảm về mức 0%, mà không nhằm

tạo ra một thị trường chung đối với bên ngoài.

(2) Xóa bỏ hàng rào phi thuế quan: Do những tác động tiêu cực không chỉ đối vớithương mạimà còn đốivớicảcác hoạtđộng quản lý của Nhà nước nên trong khu vực thương mạitựdo,trừnhững hàng hóa được xếp vào ngoạilệvì lý do an ninh quốc gia và/hoặc lợi ích công cộng, các biện pháp phi thuế quan được xác định là rào cản thương mại trong FTA đều phải xóa bỏ. Loại rào cản phi thuế quan phổbiến nhất,được quy định trước hếtlà những hạn chếvềsốlượng. Quy tắc chung của tất cả các FTA là mọi quy định cấm hoặc hạn chế về số lượng đối với hàng hóa xuất/nhập khẩu giữa các thành viên đều phải bị xoá bỏ. Nhóm rào cản phi thuế quan tiếp theođượcquyđịnh chủyếu là các biện pháp về/liên quan tính chất kỹthuật, chất lượng của hàng hóa và các biện pháp vệ sinh dịch tễ. Về bản chất, đây là những tiêu chuẩn/quy chuẩn kỹ thuật hoặc những tiêu chuẩn về y tế, vệ sinh dịch tễ được thiết lập nhằm đảm bảo chất lượng hàng hóa, hiệu quả của sản phẩm; đảm bảo sức

khỏe,sựan toàn của con người,động thực vật, môitrường….Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, những tiêu chuẩn/quy chuẩn, biện pháp này có thểtrởthành những rào cản đối với thương mại quốc tế khi được sử dụng như là những phương tiện/côngcụbảohộsảnxuất trong nước, cấmhoặchạnchếviệc thâm nhập của hàng hóa nước ngoài vào thị trường nước nhập khẩu. Đối với những tiêu chuẩn/quy

41

chuẩn và biện pháp bị các FTA coi là những công cụ bảo hộ thị trường trong nước thì các quốc gia sẽ phải xóa bỏ. Tương tự như thuế quan, việc xoá bỏ đối với hàng rào phi thuế quan có thể được tiến hành theo lộ trình hoặc xóa bỏ ngay tùy vàođặc điểm nền kinh tế của mỗi thành viên cũng như bản chất của từng loại biện pháp.

(3) Quy tắc xuất xứ: Do trong FTA, mỗi nước vẫn duy trì một chính sách thuếquan riêng đối với hàng hóa của các nước thứba nên dẫn tới hệquảlà hàng hóa nhập khẩu từbên ngoài FTA có thểxâm nhập vào nước thành viên có mức thuếquan cao thông qua các thành viên có mức thuế quan thấp (hiện tượng này được các nhà phân tích gọi là “chệch hướng thương mại” – trade deflection), hoặc các nhà sản xuất từ ngoài khu vực vẫn có thể tránh thuế quan cao bằng cách xây dựng các nhà máy để thực hiện công đoạn cuối cùng của quy trình sản xuất ở nước thành viên có mức thuế quan thấp, sau đó xuất khẩu sang các nước thành viên khác có mức thuếquan cao hơn.Để giải quyết vấn đề này,các nước thành viên phải có khả năng phân biệt hiệu quả giữa hàng hoá có nguồn gốc từ khu vực với hàng hóa bên ngoài trên cơ sở những quy tắc nhất định để xác định xuất xứ của các loại hàng hoá. Quy tắc xuất xứ được hiểu là “tập hợp những quy định pháp luật và quyết định hành chính đểxác định quốc gia xuất xứcủa hàng hoá. Những quy định này nhằm xácđịnh quốc gia nơi mà hàng hoá “thực sự” được thu hoạch hoặc sản xuất, chếbiến, gia công; quađó,xác định hàng hóa thuộc diện được hưởng ưu đãi thương mại mà FTA dành cho các thành viên” [62, tr. 66].

(4) Thuận lợi hóa thương mại: Nếu như bản chất của quá trình tựdo hóa thương mại là xóabỏrào cản thương mại giữa các thành viên thì thuận lợi hóa thương mại là quá trình “đơn giản hóa, hài hòa hóa và tiêu chuẩn hóa những thủ tục trong thương mại quốc tế” [146], qua đóthúc đẩy hoạt động thương mại giữa các quốc gia nhanh hơn, rẻ hơn và dễ dự đoán hơn.

Thuận lợi hóa thương mại liên quan đến bốn nguyên tắc cơ bản là minh bạch hoá, đơn giản hoá, hài hòa hoá và tiêu chuẩn hoá. Minh bạch hoá liên quan đến quyền tiếp cận và sử dụng các quy định, luật lệ và quyết định hành chính trong lĩnh vực thương mại cũng như quyền được tham gia, bày tỏquan điểm,ýkiến đối với những dự thảo chính sách, luật lệ thương mại trước khi chúng được ban hành; đơn giản hoá là quá trình xóa bỏtất cảnhững thủtục, luật lệvà quy định không cần thiết; hài hòa hóa là quá trình hài hòa giữa các thủ tục, hoạt động và luật lệ của quốc gia với các quyđịnh,thực tiễn và tiêu chuẩn quốc tế, thông qua việc ban hành và thực hiện những tiêu chuẩn tương tự giữa các thành viên; tiêu chuẩn hoá liên quan đến quá trình xây dựng những mô hình chung về thực tiễn, thủ tục, quy tắc, thông

42

tin và được các thành viên chấp nhận.

Bên cạnh vấn đề trọng tâm là hải quan, nội dung chính của các chương trình thuận lợi hóa thương mại còn gồm các vấn đề về tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn (thủ tục đánh giá sự phù hợp), các biện pháp vệ sinh dịch tễ. Đối với các tiêu chuẩn kỹ thuật, biện pháp vệ sinh dịch tễ không thuộc diện hàng rào phi thuế quan phải xoá bỏ trong FTA thì về nguyên tắc, các quốc gia thành viên được phép duy trì các biện pháp này. Nhưng khi ban hành hay áp dụng những tiêu chuẩn/quy chuẩn kỹ thuật, biện pháp vệ sinh dịch tễ đối với hàng hóa nước ngoài, các quốc gia thành viên phải tuân theo những quy tắc chung đã được thống nhất trong các chương trình thuận lợi hoá thương mại của mỗi FTA nhằm đảm bảo những tiêu chuẩn, biện pháp này không gây ra các trởngại cho quá trìnhtựdo di chuyển của hàng hóa. Về mặt kỹ thuật lập pháp, một số hiệp định thương mại tự do quy định các tiêu chuẩn kỹ thuật và biện pháp vệ sinh dịch tễ là một phần của nội dung thuận lợi hoá thương mại, một số hiệp định lại tách các vấn đề này thành các chương riêng ra khỏi phần quy định về nội dung thuận lợi hoá thương mại (tương tựnhư Hiệp định ATIGA), hoặc thậm chí tách thành các hiệp định riêng (tương tự nhưcách làm của WTO).

Ngoài các vấn đềtrên, tuỳtheo mỗi FTA, các chương trình thuận lợi hoáthương mại còn có thể bao gồm các vấn đề về môi trường thương mại, các yếu tố, quá trình liên quan đến giao dịch thương mại và những yếu tốhỗtrợtừquá trình

sản xuất đến giao hàng tận tay người tiêu dùng như giao thông, thanh toán….

(5) Những ưu đãi hoặc quy định dành riêng cho các thành viên đang phát triển hoặc kém phát triển hơn trong FTA. Trên thực tế, các khu vực thương mại tự do có thểđược hình thành giữa nhiều nước khác nhau và không phải lúc nào giữa các nước này cũng đạt được sự tương đồng về trình độ phát triển,đặc biệt làvề kinh tế. Do vậy, các FTA thường ghi nhận những quy định riêng cho những thành viên kém phát triển hơn, như dành các ưu đãi riêng hoặc quy định thời gian thực hiện nghĩa vụ (chủ yếu là về tự do hóa thuế quan và phi thuế quan) kéo dài hơn so với những thành viên khác trong khu vực. Mục đích của những quy định này là nhằm tạo điều kiện cho những thành viên chậm phát triển hơn có thời gian dài hơn đểtựđiều chỉnh, thích nghi khi tham gia các FTA, tránh tạo ra những cú sốc kinh tếhoặc những tác động không mong muốn mà tự do hóa thương mại gây ra.

(6) Các vấn đề về thể chế, chủ yếu liên quan đến hai nội dung. Thứ nhất là, cơchếgiám sát,đảm bảo thực thi những nội dung pháp lý trong FTA, bao gồm thiết lập các thiết chế khu vực, cách thức giám sát, biện pháp áp dụng nhằm điều chỉnh

43

cũng nhưxửlý khi có vi phạm.Thứhai là, cơchếphối hợp giữa các thành viên nhằm tăng cường và hỗ trợ cho nhau trong quá trình thực hiện FTA.

Các nội dung hợp tác nêu trên đều được quy định phổbiến trong hầu hết các hiệp định thành lập FTA. Đối với các vấn đề còn lại, như đối xử MFN, NT và ưu đãi nội khối; các điều kiện mở cửa thị trường; các biện pháp khắc phục thương mại; giải

quyết tranhchấp…đa sốđược các hiệp định FTA dẫn chiếu tới các quyđịnh của WTO hoặc có thểđược quy định tại các thoả thuận chuyên biệt khác của Khu vực (chẳng hạn như các tranh chấp phát sinh trong thực hiện AFTA hiện nay sẽ được giải quyết theo Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế – thương mại của ASEAN được quy định tại Nghị định thư về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN 2004).

Từnhững nội dung hợp tác nhưđã phân tích ởtrên, cóthểhiểu khu vực thương mại tựdo (nói chung)5là khu vực thương mại hình thành giữa hai hoặc nhiều quốc gia, lãnh thổ hải quan độc lập hoặc các tổ chức quốc tế, mà tại đó các rào cản thương mại được dỡ bỏ, đồng thời các hoạt động thuận lợi hoá thương mại được xúc tiến đối với hàng hoá qua lại giữa các thành viên. Về bản chất, đúng nhưtên gọi của nó, khu vực thương mại tựdo là một khu vực mà trong đó, hàng hóa được tự do di chuyển giữa các thành viên, qua đó, tạo ra một thị trường chung cho hàng hóa trong quá trình sản xuất và tiêu dùng trong khu vực. Đồng thời, cũng cóthể thấy rằng, khu vực thương mại tự do là một mô hình liên kết kinh tế không đòi hỏi mức độ hội tụ quá cao giữa các nền kinh tế thành viên. Vì để thực hiện các nội dung hợp tác của khu vực thương mại tự do, về lý thuyết, quan trọng nhất giữa các thành viên là cósựhài hòa vềthểchế, chính sách, pháp luật liên quanđến sựdi chuyển của hàng hóa; còn những nội dung khác như cơsởhạtầng, nguồn nhân

lực…thực chất chỉ là các yếu tố bổ trợ để hiện thực hóa những lợi ích kinh tế màkhu vực thương mại tự do mang lại. Ngược lại, những mô hình liên kết khác đòi hỏi mức độhội tụgiữa các thành viên rất cao trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo nguyên tắc mức độ liên kết càng cao thì mức độ hội nhập giữa các thành viên càng phải rộng và sâu trên nhiều phương diện khác nhau.6

5 Đây là cách hiểu chung nhất và mang tính truyền thống về khu vực thương mại tự do. Hiện nay, với thực tiễn hình thành rất sôi động các khu vực thương mại tự do trên thế giới, phạm vi điều chỉnh của các hiệp định thương mại tự do hiện nay có thể rộng hơn hoặc hẹp hơn so với khái niệm và các nội dung pháp lý của khu vực thương mại tự do như được trình bày ở phần này, nhất là đối với các khu vực thương mại tự do được thành lập theo các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (về các FTA thế hệ mới, sẽ được trình bày cụ thể hơn ở các phần sau của Luận án).

6 Ví dụ, để xây dựng một liên minh kinh tế – tiền tệ, đòi hỏi các thành viên phải hội tụ không chỉ về kinh tế

mà còn cả trên phương diện tài chính,tiền tệ… đểcó thể vận hành hiệu quả một đồng tiền chung vàmột

44

2.2. LỊCH SỬHÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG ĐẶC THÙ CỦA AFTA

2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của AFTA

ASEAN được thành lập từnăm 1967 nhưng trong 10 nămđầu tiên,từ1967 đến 1976, tổ chức này gần như không tiến hành được bất kì một hoạt động hợp tác chung nào về kinh tế, do bối cảnh chính trị khu vực cũng như các vấn đề nội bộ của các quốc gia thành viên [10]. Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ nhất năm 1976 đãđánh dấu sựthayđổi lớn trong các hoạt động hợp tác nội khối của ASEAN khi khẳng định kinh tếlà một trong những nội dung hợp tác của ASEAN nhằm xây dựng nền tảng cho một cộng đồng thịnh vượng và hoà bình của các dân tộc ở Đông Nam Á (Điều 4 Hiệp ước Bali 1976). Việc ký kết Hiệp định về các thỏa thuận ưu đãithương mại (PTA) năm 1977 giữa sáu nước thành viên ASEAN khi đó là Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore và Bruneiđược coi là dấu mốcđầu tiên trong tiến trình tự do hóa thương mại của Hiệp hội. Nội dung của PTA là thiết lập các ưu đãi thuế quan nhằm tự do hoá thương mại hàng hoá, thúc đẩy các hoạt động trao đổi buôn bán trong nội bộ khu vực thông qua cắt giảm thuế quan đối với một số loại hàng hóa. Phạm vi các sản phẩm được hưởng ưu đãi theo PTAchỉbao gồm những hàng hóa cơ bản, như gạo, dầu thô, các sản phẩm của các dựán công nghiệp với mức cắt giảm thuế quan ban đầu là 10%, sau đó được nâng lên 50%. Do các ưu đãi thuế quan chỉ được áp dụng đối với một số loại hàng hóa nhất định với mức cắt giảm khiêm tốn nên thực tế hiệu quả của Hiệp định này không cao và không thực sựđẩy mạnh được hoạt động thương mại hàng hóa giữa các nước thành viên [137].

Đến đầu những năm 90, sự kết thúc của chiến tranh lạnh và vấn đề Campuchiađược giải quyết xongđãchấm dứt sựđối đầu giữa ASEAN với cácnước Đông Dương, tạo tiền đềchính trịquan trọng cho khu vực Đông NamÁnói chung, ASEAN khi đó nói riêng có thể chuyển chuyển trọng tâm hợp tác từ chính trị sang kinh tế. Trong những năm 80 và 90, quá trình công nghiệp hoá đã làm tăng nhanh

chính sách tiềntệchung,đồngthời các quốc gia thành viên phải chấp nhận chuyển giaomộtphầnchủquyền quốc gia cho một thiết chế tiền tệ ở cấp độ liên minh với chức năng của một ngân hàng trung ương cho toàn khu vực. Như theo Điều 109 Hiệp ước Masstricht, chỉ xét riêng phương diện tài chính – tiền tệ, yêu cầu về mức độhội tụ của các quốc gia khi gia nhập đồng Euro được xác định và cụ thể hoá qua bốn tiêu chí: (i) tỷ lệ nợ chính phủ không vượt quá 60% GDP hàng năm; (ii) tỷ lệ lạm phát ngắn hạn khôngđược vượt quá1,5% so với mức lạm phát bình quân của ba nước thành viên có tỷ lệ thấp nhất; (iii) lãi suất dài hạn không được cao hơn quá 2% mức lãi suất bình quân của ba quốc gia có tỷ lệ lãi suất thấp nhất; (iv) duy trì một tỷ giá ổn định, nằm trong khuôn khổ dao động cho phép so với tỷ giá trung tâm theo quy định của Cơ chế tỷ giá hối đoái châu Âu (ERM) trong thời hạn ít nhất hai năm.

45

qui mô buôn bán giữa các nền kinh tế trong ASEAN, các nền kinh tế thành viên đãthể hiện xu thế hướng ngoại dựa vào xuất khẩu. Hơn bao giờ hết, lúc này chính phủcác nước đều nhận thấy nhu cầu bức thiết trong việc tìm kiếm và liên kết thị trường, trước hết là các thị trường láng giềng kề cận, đồng thời cũng thấy rõ những trở ngại của chủ nghĩa bảo hộ thương mại. Hơn nữa, các nước ASEAN khi đó đang phải đối mặt với sựcạnh tranh ngày càng khốc liệt từcác nền kinh tếkhu vực và trên thếgiới, sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của hàng loạt các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc đã khiến các nước ASEAN ngày càng phải cạnh tranh gay gắt về thu hút đầu tư và thương mại, càng làm cho nhu cầu liên kết khu vực trởnên bức thiết hơn. Song song với đó, sự xuất hiện và phát triển của những mô hình liên kết kinh tế như EU (Liên minh châu Âu), NAFTA (Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ), MERCOSUR (Khu vực thương mại tự do châu Mỹ Latin) đã minh chứng cho xu hướng tất yếu và những lợi ích to lớn mà các khu vực thương mại tựdo mang lại, nhưng đồng thời cũng tạo ra sức ép cạnh tranh không nhỏ đối với các nền kinh tế đơn lẻ [91, tr.129]. Bối cảnh đó đòi hỏi ASEAN phải có những điều chỉnh thích hợp, vừa để thích ứng với những thay đổi của thế giới và khu vực, vừa nhằm đáp ứng nhu cầu nội tại của các nước thành viên, và vì vậy, tự do hóa thương mại được coi là một lựa chọn tất yếu của Hiệp hội vào lúc này.

Ngày 28/01/1992, Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN vàHiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho AFTA (CEPT) đã được ký tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ IV tại Singapore, là cơ sở pháp lýcho sự hình thành Khu vực thương mại tự do ASEAN. Trong đó, CEPT là công cụpháp lý chủ yếu để thực hiện tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa của ASEAN với nội dung chính là Chương trình cắt giảm thuế quan chung xuống mức 0-5%đối với hầu hết các loại hàng hóa giữa các nước thành viên trong thời hạn 10 năm, kể từngày 01/01/1993 đến 01/01/2003. Hai hiệp định này đã được sửa đổi, bổ sung bằng một loạt các nghị định thư sau đó (tính đến nay đã có 13 nghị định thư) [162].

Thành lập AFTA là bước ngoặt của ASEAN trong việc chuyển trọng tâm hợp tác của Hiệp hội từ các hoạt động chính trị sang hợp tác kinh tế. Thông qua AFTA, ASEAN mong muốn sẽthúcđẩy mạnh mẽtựdo hóa thương mại hàng hoá trong khu vực, từđó hỗtrợcác quốc gia thành viên đẩy mạnh tăng trưởng, thay đổi cơcấu kinh tế, bổ sung lẫn nhau theo hướng trở thành một thế lực cạnh tranh có ưu thếso với cácthịtrường khu vực khác. Đồng thời, bằng việc xây dựng một khối thịtrường chung thống nhất, AFTA cũngđược hy vọng sẽtăng cường thu hútđầu tư

46

nước ngoài vào khu vực, cũng như giúp ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế mới [27, tr.17].

Năm 1996, Việt Nam và sau đó các nước thành viên mới khác của ASEAN là Lào, Myanmar và Campuchia cũng lần lượt gia nhập AFTA,mởra triển vọng đưa AFTA thành một Khu vực thương mại tự do toàn Đông Nam Á như đúng với tên gọi của nó.

Ngày 29/11/2004, Hiệp định khung về hội nhập các ngành ưu tiên của ASEAN (APIS) đã được ký nhằm xây dựng khung pháp lí cho tiến trình hội nhập các ngành ưu tiên trong ASEAN, bao gồm cả tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại đối với các ngành hàng hoá được lựa chọn ưu tiên hội nhập với mục đích tập trung nguồn lực cho các trọng tâm, trọng điểm trong hợp tác kinh tế ASEAN, đồng thời cũng đểtạo ra các lĩnh vực hợp tác kinh tếmũi nhọn và là chất xúc tácđểđẩy nhanh hội nhập kinh tế ASEAN.7

Đểphù hợp với yêu cầu xây dựng Cộng đồng kinh tếASEAN (AEC), Hiệp định về thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) đã được ký năm 2009 trên cơ sở kếthừa và bổ sung những nội dung pháp lý mới so với các hiệp định được ký kết trước đây,điều chỉnh toàn diện và nâng cấp tất cảcác lĩnh vực hợp tác vềthương mại hàng hoá trong ASEAN. ATIGA đã quy định lộ trình xóabỏhoàn toàn thuế quan (xuống mức 0%) đối với tuyệt đại đa số các mặt hàng, trừ nông sản chưa chế biến (đưa về 0-5%) và một số ngoại lệ liên quan đến an ninh quốc gia, lợi ích công cộng. Ngoài những nội dung pháp lý về xóa bỏ các rào cản thương mại, các vấn đề khác trong khu vực thương mại tựdo như thuận lợi hóa thương mại, hài hòa chính

sách…lần đầu tiên đã được tích hợp trong ATIGA, tạo nên một hiệp định toàn diện điều chỉnh toàn bộ những vấn đề pháp lý của AFTA.

Như vậy, việc cho ra đời AFTA chính là tạo lập một khu vực mở, một sự thíchứng cho sự phát triển của ASEAN trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá. Qua 25 năm hình thành và phát triển, Khu vực thương mại tự do ASEAN hiện đã trở thành một bộphận hợp thành rất quan trọng trong cấu trúc tựdo hoá thương mại ởkhu vực châu Á – Thái Bình Dương nói riêng và trên phạm vi toàn cầu nói chung.

7 12 lĩnh vực ưu tiên hội nhập được xác định theo Hiệp định và Nghị định thư bổ sung đến nay bao gồm: Sản phẩm nông nghiệp, cao su, gỗ, điện tử, xe hơi, dệt may và giày dép, e-ASEAN, đánh bắt cá, y tế, du lịch, hàng không và dịch vụ hậu cần logistic (xem thêm: Hiệp định khung của ASEAN về các lĩnh vực ưu tiên 2004 và Nghị định thư về hội nhập ngành dịch vụ hậu cần 2007).

47

2.2.2. Đặc thù của Khu vực thương mại tự do ASEAN

Xuất phát từ những đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của các nước trong khu vực và đặc biệt là từ định hướng hợp tác “thống nhất trong đa dạng” của ASEAN, Khu vực thương mại tự do ASEAN có những điểm rất khác biệt so với các tiến trình tự do hoá thương mại khác trên thế giới.

Thứ nhất, về đối tượng của tự do hoá

Khu vực thương mại tự do ASEAN chỉ bao gồm những vấn đề về thương mại

hàng hóa, không bao gồm các vấn đề về dịch vụ, đầu tư, lao động…. Theo các văn bản pháp lý của ASEAN, nội dung của AFTA bao gồm hai nhóm vấn đề chính:

– Một là về tự do hóa thương mại hàng hóa, gồm (1) tự do hóa thuế quan, (2) xóa bỏ rào cản phi thuế quan và (3) quy tắc xuất xứ;

– Hai là về thuận lợi hóa thương mại hàng hóa, gồm (1) thủ tục hải quan, (2) tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp và (3) các biện pháp vệ sinh dịch tễ.

Nếu so sánh với các FTA khác, nhất là với các FTA thế hệ mới (điển hình nhưTPP) thì đối tượng tự do hoá của AFTA là khá hẹp. Bởi AFTA không bao gồm tất cảcác lĩnh vực tựdo hoá mà chỉgồm duy nhất một lĩnh vực là tựdo hoá thương mại hàng hóa. Hơn nữa, AFTA cũng chỉthuần túy bao gồm những vấn đềliên quan/về khía cạnh thương mại của hàng hóa mà không đềcập đến những khía cạnh/nội dung phi thương mại như lao động, môi trường hay thể chế của các quốc

gia thành viên….

Sự khác biệt này xuất phát từ lý do lịch sử cũng như vị trí và vai trò của AFTA trong mô hình liên kết của Cộng đồng ASEAN. Khi AFTA được thành lập vào thời điểm năm 1992, là thời điểm mà các FTA trên thế giới và khu vực cũng mới chỉ tập trung vào thương mại hàng hóa. Trên thực tế, nếu xem xét toàn bộ lịch sử hợp tác kinh tế của ASEAN thì hàng hóa là lĩnh vực mà ASEAN tiến hành tự do hóa trước tiên. Ngaytừnăm 1977, các thành viên ASEAN thời kì đóđãký kết Thỏa thuận PTA dành cho một sốloại hàng hóa có xuất xứtrong khu vực những ưu đãinhất định về thuế nhập khẩu. Sau quyết định thành lập AFTA, ASEAN đã thực hiện các chương trình hợp tác trên nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau, như dịch vụ với việc kýHiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) năm 1995, đầu tư với việc thành lập

Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) năm 1998…. Do vậy, trong khuôn khổASEAN, AFTA chỉ điều chỉnh vấn đề thương mại hàng hóa; còn thương mại dịch vụ, đầu tư

hay lao động…được điều chỉnh bởi những khuônkhổpháp lý khác trong Cộng

48

đồng kinh tế ASEAN8. Hơn nữa, do tính chất của Cộng đồng ASEAN (AC) không chỉ là một liên kết về kinh tế mà AC là một tổ chức khu vực hợp tác toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế (với Cộng đồng kinh tế AEC), an ninh – chính trị (trong khuôn khổ Cộng đồng chính trị – an ninh APSC), văn hóa – xã hội (trong khuôn khổCộng đồng văn hoá – xã hội ASCC) nên những vấn đềphi thương mại (nhưđược quy định trong các FTAthếhệmới hiện nay)được ASEANđiều chỉnh trong các lĩnh vực hợp tác khác của AC mà không đưa vào AFTA. Chẳng hạn,những vấn đềvề phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ thuộc phạm vi hợp tác của trụ cột Khu vực kinh tế đồng đều của AEC, hay lao động, môi trường sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của của cả AEC và ASCC.

Thứ hai, về phạm vi và mức độ tự do hóa thương mại hàng hoá

Nếu như đối tượng tựdo hoá của Khu vực thương mại tự do ASEAN là khá hẹp thì ngược lại, phạm vi và mức độcủa tựdo hoá thương mại hàng hoá trong AFTA lại rộng và cao hơn so với WTO và các FTA giữa ASEAN với cácđối tác ngoại khối.

So sánh với những cam kết mà WTO đạt được qua các vòng đàm phán, có thểthấy phạm vi và mức độtựdo hóa thương mại hàng hoá của AFTA rộng và cao hơn. Vềphạm vi hàng hoá, theo quyđịnh của AFTA, việc cắt giảm thuế quan và xóa bỏ hàng rào phi thuế quan được tiến hành đối với tất cả các loại hàng hóa trong trao đổi nội khối, chỉ trừ một tỷ lệ nhỏ cácsản phẩm được xếp vàoDanh mục loại

trừ hoàn toàn do ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng…. Trong khi đó, các loại hàng hóa được cắt giảm thuế quan theo quy định của WTO chủ yếu vẫn là nhóm hàng công nghiệp, còn đối với nhóm hàng nông nghiệp thìvẫnlà nhóm hàng được lựa chọn để cắt giảm thuế quan dần dần.

Về mức độ tự do hoá thương mại hàng hoá, nếu như các quốc gia thành viên của AFTA thực hiện việc xóa bỏthuế quan (xuống mức thuế 0%) trong quan hệthương mại nội khối vào năm 2010đối với ASEAN 6 và vào năm 2015, với linh hoạt tới năm 2018 đối với CLMV9 thì tại WTO, thuế nhập khẩu mới chỉ được giảm xuống một mức độ nhất định.Cụ thể, sau Vòng đàm phán Uruguay, các nước phát triển cam kết tiến hành cắt giảm thuế quan hàng công nghiệp từ6,3% xuống còn trung bình là 3,8% trong vòng 5 năm, tính từ 1/1/1995. Giá trị hàng hoá nhập khẩu

8 Về các nội dung hợp tác của Cộng đồng kinh tế ASEAN, xem thêm: Hình 2.1 và Mục 2.3.1.1 của Luận án.

9“Linh hoạt tới năm 2018 của CLMV” được hiểu là thuế nhập khẩu của một số sản phẩm của CLMV không vượt quá 7% số dòng thuế, sẽ được xóa bỏ muộn hơn năm 2015 và muộn nhất là vào năm 2018. Danh mục các sản phẩm và lộ trình giảm thuế của các sản phẩm này được các nước CLMV xác định không muộn hơn ngày 1/1/2014.

49

vào các nước này được miễn thuế hoàn toàn (mức thuế 0%) là 44% (trước đó là 20%). Số lượng các sản phẩm phải chịu thuế suất hải quan cao được giảm xuống ởmức độ nhất định,số dòng thuế nhập khẩu phải chịu thuế suất trên 15% giảm từ 7% xuống còn 5% (riêng đối với các nước đang phát triển thì mức giảm này là từ 9% xuống 5%).Sốlượng các dòng thuế ràng buộc mà các nước phát triển cam kết là99%, các nước đang phát triển là 73% và các nền kinh tế chuyển đổi là 98% [152].

Không chỉ tự do hóa thương mại hàng hoá rộng và cao hơn WTOmà mức độvà phạm vitựdo hóa thương mại hàng hoá của AFTA còn cao hơn các FTA mà ASEAN đãký kết với cácđối tác thương mại bên ngoài. Tínhđến thời điểm hiện tại, ASEANđãký kết các hiệp định thành lậpFTA với 05đối tác, bao gồm Australia – Newzealand, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Theo các hiệp định này, quá trình tự do hóa thuế quan chỉ được thực hiện ở mức độ và phạm vi hạn chế. Nói cách khác, trong các FTA giữa ASEAN với các đối tác không tiến hành việc xóa bỏ thuế quan đối với tất cả các loại hàng hóa như AFTA mà chỉ xóa bỏthuế quan đối với “phần lớn” hàng hóa theo tỷlệkhác nhau giữa các FTA. Chẳng hạn, trong Khu vực thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), thuếsuất của không dưới90% tổng sốdòng thuế trong Biểu thuế nhập khẩu của mỗi nước được đưa vào Lộtrình thông thường, phảicắtgiảm dần dần và loạibỏhoàn toàn vào 2010, với một số dòng thuế linh hoạt đến 2012 đối với ASEAN 6 và thời hạn tương ứng với Việt Nam là 2016, linh hoạt đến 2018 [88]; hay trong Khu vực thương mại tự do ASEAN – Ấn Độ (AIFTA), 80% số dòng thuế cấp độ HS 6 số của Biểu thuế nhập khẩu được cắt giảm thuế, trong đó 71% số dòng thuế đạt mức 0% vào 2018 và 90% số dòng thuế đạt mức 0% vào 2021 [89]. Ngay cả Hiệp định thành lập Khu vực thương mại tựdo ASEAN – Australia – New Zealand (AANZFTA), được coi là hiệp định thương mại tựdo toàn diện nhất của khối ASEAN với bên ngoài, nhưng theo kế hoạch đến năm 2018, các nước cũng chỉ cam kết xóa bỏ thuếquan với ít nhất 90% số dòng thuế [84].

Thứ ba, về mức độ hội tụ của các nền kinh tế thành viên

Giữa các quốc gia thành viên Khu vực thương mại tựdo ASEAN tồn tại khoảng cách chênh lệch không nhỏvềtrìnhđộphát triển kinh tế, kinh nghiệm vàhiệu quả hội nhập AFTA nói riêng, hội nhập kinh tế quốc tế nói chung. Chênh lệch kinh tế trong ASEAN thể hiện rõ nét qua 4 lĩnh vực cơ bản: (i) cơ sở hạ tầng; (ii) thu nhập bình quân đầu người; (iii) cơ cấu kinh tế; và (iv) thể chế.

50

Vềcơsởhạtầng kinh tế, thực tếcho thấy vẫn còn khoảng cách khá xa giữa ASEAN 6 và ASEAN 4 về kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và năng lượng, như

mạng lưới đường cao tốc, đường sắt, hệ thống dây dẫn…. ASEAN 4 cũng thiếu hạtầng “mềm”, như công nghệ thông tin, viễn thông, hệ thống ITC. Những yếu tố hạ

tầng này là các điều kiện tối cần thiết cho phát triển kinh tế hiện nay. Trong khi các nước ASEAN 6 có hệthống giao thông công cộng tốt, internet rộng khắp… thìnhiều nơiởLào, Campuchia hay Myanmar,ngườidân không được tiếp cận với những thông tin liên lạc hiện đại, thậm chí có những nơi ở Myanmar còn chưa đủđiện sinh hoạt.

Chỉ số phát triển nhân lực HDI (dựa trên các thông số về trình độ chuyên môn, tỷ lệ biết chữ, mức đầu tư cho giáo dục) của các nước thành viên ASEAN hiện nayđược chia thành 4 nhóm khác nhau: Nhóm“pháttriển nguồn nhân lực cao” (HDI 1)

chỉ bao gồm Singapore và Brunei; Nhóm“Pháttriển nguồn nhân lực trung bình cao” (HDI 2) gồmMalaysia, Philippines và Thái Lan; Nhóm “Phát triển nguồn nhân lực trung bình” (HDI 3) gồm Indonesia, Việt Nam và nhóm cuối cùng “Phát triển nguồn nhân lực trung bình thấp” (HDI 4)gồmba nước còn lạilà Campuchia, Lào và Myanmar [148].

Năng lực cạnh tranh của các nước ASEAN cũng không đồng đều. Singapore liên tục giữ vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu, trong khi nhómnước gồmLào, Campuchia, Myanma có thứhạng năng lực cạnh tranh rất thấp, lần lượt đứng thứ 83, 90 và 131 [61].

Thu nhập bình quân đầu người (GDP) cũng là một trong những chỉsốphản ánh rõ nét nhất sựchênh lệch giữa hai nhómnước ASEAN 6 và ASEAN 4, khi GDP trung bình của các nước ASEAN 6 là 5.005 USD, còn ASEAN 4 là 1.709 USD, gấp gần 5 lần nhau. Thống kê của Ban thư ký ASEAN cho thấy Singapore, Brunei và Malaysia là ba quốc gia có GDP cao nhất. Ngược lại, GDP của các nước Việt Nam, Myanmar, Campuchia và Lào khá thấp, chênh lệnh rất lớn với ba nước trên. Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người năm 2015 của quốc gia có GDP cao nhất ASEAN là Singapore với 56.287 USD, gấp 56 lần so với Myanmar, quốc gia có GDP thấp nhất, chỉvới 1.278 USD và gấp 28 lần so với Việt Nam, quốc gia có GDP cao nhất trong ASEAN 4 với 2.053 USD. Ngay nội trong ASEAN 6, mức độchênh lệch giữa các nước cũng khá đáng kể khi thu nhập bình quân đầu người của ba nước thấp nhất trong nhóm này lần lượt là Philippines (2.816), Indonesia (3.901)

51

và Thái Lan (5.436), cộng lại chỉ bằng thu nhập bình quân đầu người của Malaysia (10.784), trong khi thu nhập bình quân đầu người của nước này mới chỉ bằng 1/4 so với Brunei và gần bằng 1/6 so với Singapore [100, tr. 8].

Ngoài sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế thì đặc biệt, khoảng cách vềthể chế là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hội nhập AFTA của các nước thành viên. Các nước trong ASEAN 6 là những nước đã có kinh nghiệm nhiều năm trong phát triển thểchếkinh tếthịtrường và hội nhập kinh tếquốc tế, với hệthống chính sách, pháp luật và con người khá đồng bộ. Ngược lại, những nước ASEAN 4 đều là những nền kinh tếvẫn còn đang trong quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tếthịtrường, cá biệt như Myanmar mới đang bắt đầu bước vào thời kì đổi mới.

Thứ tư, về cách thức thực hiện và thông qua quyết định

Sự khác biệt về đối tượng tự do hoá, phạm vi và mức độ tự do hoá thương mại hàng hoá và nhất là sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nền kinh tế thành viên dẫn đến cách thức thực hiện AFTA và nguyên tắc điều chỉnh liên kết kinhtếcủa ASEAN nói chung và AFTA nói riêng có nhiều điểm khác biệt so với các liên kết khu vực khác.

Theo các văn bản pháp lý của ASEAN, có sự khác biệt trong lộ trình thực hiện AFTA giữa ASEAN 6 và ASEAN 4, cũng như giữa các nước ASEAN 4 với nhau. Theo đó, thời điểm phải hoàn thành những nghĩa vụ pháp lý của AFTA đối với các nước ASEAN 4 được quyđịnh chậm hơn so với ASEAN 6. Cụthể, đối với nội dung tự do hóa thuế quan, các nước ASEAN 6 phải xóa bỏ thuế quan đối với tất cảcác sản phẩm trong quan hệ thương mại nội khối (trừ các sản phẩm thuộc diện loại trừhoàn toàn trong Danh mục Hđược quy địnhtại ATIGA) vào năm 2010, trong khi đối với ASEAN 4 là năm 2015, với linh hoạt tới năm 2018; đối với xóa bỏ hàng rào phi thuế quan (ngoài những hạn chế về số lượng phải xoá bỏ ngay), lộ trình thực hiện được quy định cho từng nước, Brunei, Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan xóa bỏ theo ba giai đoạn bắt đầu từ 01/01/2008, 2009 và 2010; Philippines theo 3 giaiđoạn 01/01/2010, 2011 và 2012; các nước ASEAN 4 theo 3 giaiđoạn vào 01/01/2013, 2014 và 2015 với linh hoạt tới năm 2018.

Nếu so sánh với một tổ chức quốc tế khu vực khác là Liên minh châu Âu, có thể thấy cách thức tiến hành tự do hóa thương mại hàng hóa của ASEAN rất khác biệt. Theo quyđịnh tại Điều 30 Hiệp ước vềchức năng của Liên minh châu Âu 2009 (TFEU): “Nghĩa vụ thuế quan và các nghĩa vụ có giá trị tương đương đối với

52

hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu giữa các các quốc gia thành viên cũng như những nghĩa vụ thuế mang tính chất tài chính công sẽ bị cấm”, tương tự đối với rào cản phi thuế quan, Điều 34 và 35 quy định: “Các hạn chế về số lượng nhập khẩu và các biện pháp có giá trịtươngđươngsẽbịcấm giữa các quốc gia thành viên” (Điều 34 TFEU),“Cáchạn chếvềsốlượng xuất khẩu và các biện pháp có giá trịtươngđương sẽ bị cấm giữa các quốc gia thành viên” (Điều 35 TFEU).

Như vậy, nếu như ASEAN thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa theo lộtrình có sự phân biệt giữa các thành viên trên cơ sở trình độ phát triển và phân biệt giữa các loại hàng hóa do vai trò cũng như sự tác động khác nhau của chúng đối với mỗi nền kinh tế, thì cách thức mà Liên minh châu Âu tiến hành là quy định nghĩa vụ xóa bỏ ngay thuế quan cũng như rào cản phi thuế quan, không phân biệt giữa các QGTV hay các loại hàng hóa theo lộ trình như trong ASEAN. Sở dĩ EU có thể thực hiện tựdo hóa nói chung và tựdo hóa thương mại hàng hóa nói riêng theo cách thức này là do chênh lệch về trình độ phát triển giữa các thành viên không quá lớn. Sự tương đồng nhất định giữa các thành viên mà EU có được, một phần là do ngay từ trong quá trình chuẩn bị gia nhập EU, những nước xin gia nhập đã phải tiến hành quá trình cải cách, trên cơsởsựhỗtrợtừEU, nhằm hài hòa hóavềtrìnhđộphát triển kinh tế, thể chế, pháp luật… với các thành viên hiện tại, qua đó thu hẹp khoảng cách giữa các thành viên. Ngược lại, ASEAN không có quá trình này nên nếu không tiến hành tựdo hoá theo lộtrình thì những nước kém phát triển hơn trong ASEAN cóthểkhông đủnăng lực thực hiện những cam kết pháp lý chung trong khuôn khổ Khu vực thương mại tự do ASEAN.

Về phương thức ra quyết định, theo quy định của ASEAN, các quyết định liên quan đến AFTA nói riêng và các nội dung liên kết của ASEAN nói chung đều được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận.Điều này có nghĩa là, bất kì nội dung nào của AFTA, từlộtrình thực hiện đến mức độ, phạm vi, cách thức tựdo hóa… chỉđược quyết định khi có sựđồng ýcủa tất cảcác quốc gia thành viên. Nguyên tắc đồng thuận đảm bảo sự nhất trí của mọi thành viên trước những vấn đề chung, tránh tình trạng chỉ một số thành viên trong khối đã có thể quyết định những vấn đề của cảKhu vực. Nhưng ngược lại, nguyên tắc này cũng có thểkhiến quá trình thông qua quyết định và thực hiện AFTA trở nên khó khăn và bị kéo dài, do không phải lúc nào cũng tìmđược tiếng nói chung, nhất là khi khoảng cách phát triển giữa những thành viên thực sự không nhỏ.

53

Để“bù đắp” và khắc phục những hạn chếdo nguyên tắc đồng thuận gây ra, ASEAN áp dụng Công thức – X trong quá trình thực hiện AFTA. Theo Công thức này, những thành viên có trình độ phát triển thấp hơn được thực hiện các cam kết kinh tế chậm hơn so với lộ trình chung nhưng không được hưởng các ưu đãimở cửa từcác quốc gia thực hiện theo lộtrình chung.Sựkhác biệt trong thời điểm phải hoàn thành những nghĩa vụxóa bỏthuế quan và hàng rào phi thuế quan giữa các QGTV như vừa trình bày ở trên chính là một trong những biểu hiện cụ thể của việc áp dụng công thức – X trong AFTA. Áp dụng công thức – X là nhằm tạo điều kiện cho những quốc gia có trình độ phát triển kém hơn trong ASEAN có thêm thời gian

tựđiều chỉnh, thích nghi và giải quyết các vấn đềnội tại của nền kinh tếđểtránh các cú sốc kinh tế do sức ép cạnh tranh khi tham gia vào quá trình tự do hóa thương mại trong khu vực; mặt khác, cũng là tạo điều kiện cho những nước này có đủ thời gian đểhài hòa thểchế, chính sách với các QGTV khác, từđó chuẩn bịđầy đủnhững điều kiện cần thiết để thực hiện các cam kết, hội nhập một cách hiệu quả và tận dụng được các lợi ích mà tự do hoá mang lại.

Nguyên tắc đồng thuận và công thức – X làsựbổsung cho nhau trong quá trình ra quyết định và thực hiện AFTA, một mặt, nó đảm bảo sự thống nhất giữa tất cả các thành viên khi quyết định những vấn đề chung, nhưng mặt khác, vẫn tạo điều kiện cho những thành viên kém phát triển hơn thực hiện được những quyết định chung đó theo cơ chế riêng phù hợp với trình độ và khả năng của mình.

2.3. VAI TRÒ CỦA AFTA TRONG BỐI CẢNH HỢP TÁC KINHTẾQUỐC TẾ HIỆN NAY

2.3.1. Những điều kiện mới trong bối cảnh hợp tác kinh tế quốc tế hiện nay Trong những năm gần đây, nhất là kể từ khi Hiệp định ATIGA được ký năm

2009, bối cảnh quốc tế và bối cảnh khu vực đã có nhiều thay đổi. Trong đó, có ba yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và tác động lớn tới vị trí, vai trò và hiệu quả của AFTA.

2.3.1.1. Sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN – khuôn khổ thể chế mới của hợp tác kinh tế ASEAN

Ýtưởngvềviệc hình thànhmộtcộngđồng kinh tếcủa ASEANđược Thủtướng Singapore Goh Chok Tong đưa ra tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VIII năm 2002 như một biện pháp nhằm hiện thực hóa kế hoạch đã được vạch ra trước đó trong Tầm nhìn ASEAN 2010:“xâydựng một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và cạnh tranh cao với sự tự do di chuyển của hàng hóa,dịch vụ và đầu tư, sựtựdo di chuyển hơn của dòng vốn, phát triển kinh tếcông bằng, giảm đói

54

nghèo và chênh lệch kinh tế – xã hội vào năm 2010”. Ý tưởng này sau đó đã được các nhà lãnh đạo ASEAN chấp thuận và chính thức ghi nhận trong Tuyên bố Bali II năm 2003 với quyết định thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN.

Tại Hội nghị Cấp cao năm 2005, các nhà lãnh đạo ASEAN đã yêu cầu các bộtrưởng, quan chức cao cấp của các nước thành viên nghiên cứu đẩy nhanh tiến trình hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế. Hội nghị Cấp cao năm 2007 đã nhất trí rút ngắn 5 năm thời hạn thực hiện Cộng đồng kinh tếASEAN (đếnnăm 2015), đồng thời thông qua Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN đến năm 2015 (AEC Blueprint 2015) và Lộtrình chiến lược xây dựng AECđã được Ban thư kýASEAN xây dựng trước đó trên cơ sở những khuyến nghị của Nhóm đặc trách cao cấp (HLTF).

Việc hình thành AEC là sự tiếp nối những thành tựu kinh tế đã đạt được của ASEAN trong gần bốn thập kỷ phát triển và tiếp tục mở rộng và nâng cấp các liên kết kinhtếsẵn có của ASEAN. Đồng thời, quyết định thành lập AEC cũng là sựphản ứng chính sách của ASEAN trước sức ép cạnh tranh từ bên ngoài, mối đe dọa có thể bị hòa tan trước những liên kết kinh tế giữa các nền kinh tế lớn hơn trong khu vực và sự kém hiệu quả trong chính thực trạng liên kết nội khối của ASEAN.

Từđịnh dạng ban đầu được ghi nhận trong Tuyên bốBali II, Hiến chương ASEAN tiếp tục bổ sung một số nội dung mới của AEC và đến bản Kế hoạch tổng thểxây dựng Cộng đồng kinh tếASEAN 2015 (AEC Blueprint 2015)được thông qua, tất cả cấu trúc nội dung của Cộng đồng kinh tế đã được quy định một cách chi tiết và đầy đủ. Theo đó, nội dung của AEC hiện nay bao gồm bốn trụ cột: (1) một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất; (2) một khu vực kinh tế cạnh tranh cao; (3) một khu vực phát triển kinh tế đồng đều; (4) một khu vực hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu.10 Có thể mô hình hoá cấu trúc về mặt nội dung của AEC thông qua Hình 2.1.

10 Theo bản Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN 2025 (AEC Blueprint 2025), cấu trúc nội dung của Cộng đồng này đến năm 2025 sẽbao gồm 5trụcột (so với 4trụcột theo AEC Blueprint 2015). Tuy nhiên, các nội dung thành phần của AEC về cơ bản là không thay đổi so với hiện nay. Thực chất, AEC Blueprint 2025 chỉ phân chia, sắp xếp lại các trụ cột, các nội dung thành phần với các tên gọi mới cho phù hợp với yêu cầu liên kết ngày càng cao và chặt chẽ hơn trong giai đoạn 2015-2025; đồng thời nhằm tăng cường tính cụ thể, thiết thực, hiệu quả và nhấn mạnh khía cạnh lấy con người làm trung tâm trong hoạt động của AEC. Trụ cột Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất được đổi tên thành trụ cột Kinh

tế gắn kết và hội nhập cao, với 05 nội dung thành phần như trước đây: Thương mại hàng hoá, Thương mại dịch vụ, Đầu tư, Tài chính, Lao động tay nghề cao và doanh nhân, và 01 nội dung được chuyển từ trụ cột Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu trước đây sang, là nội dung Tăng cường tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

55

Trên cơsởkết quảthực hiện của các thành viên, ngày 31/12/2015, các nhà lãnhđạo ASEANđã tuyên bốCộng đồng ASEAN chính thức được hình thành, trong đó gồm Cộng đồng kinh tế, Cộng đồng chính trị – an ninh và Cộng đồng văn hoá – xã hội. Sự ra đời của AEC đã tạo ra một khuôn khổ thể chế mới cho hợp tác kinh tế của ASEAN nói chung và cho Khu vực thương mại tự do ASEAN nói riêng.

HÌNH 2.1

Cấu trúc nội dung của Cộng đồng kinh tế ASEAN

Thứ nhất, AEC đã thiết lập một hệ thống thiết chế pháp lý mới cho hoạt động hợp tác kinh tếcủa ASEAN. Mặc dù vềthực chất, các thiết chếcủa AEC không phải là các cơ quan hoàn toàn mới màchủyếu chỉlàsựsắp xếp lại đểđặt trong cùng một Cộng đồng với tên gọi khác và quy định cụ thể mối quan hệ giữa các cơquan, nhưng sự hình thành AEC đã tạo ra một khuôn khổ thiết chế thống nhất cho các hoạt động hợp tác kinh tếcủa ASEAN theo nguyên tắc phân công, phối hợp giữa các thiếtchếtrong mộtcộng đồng và giữa ba cộng đồng vớinhau.Cụthể, trong AEC, các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng phụ trách từng lĩnh vực hợp tác cụ thể,11 trong khi Hội đồng AEC chịu trách nhiệm cao nhất cho Cộng đồng này và Hội đồng điều phối ASEAN sẽ có trách nhiệm phối hợp hoạt động của AEC với

Cộng đồngchính trị – an ninh và Cộng đồng văn hoá – xã hội.

Thứ hai, AEC đã tạo ra một hệ thống thể chế pháp lý mới điều chỉnh các hoạt động hợp tác kinh tếcủa ASEAN. Trước sựchật hẹp và không còn phù hợp của nhiều khuôn khổ pháp lý trước đó, do nhu cầu nâng cấp liên kết kinh tế nội bộ lên

11 Xem thêm chi tiết về các cơ quan này tại Phụ lục I Hiến chương ASEAN.

56

một tầm cao mới, nhiều văn bản pháp lý đã được ký kết, tạo thành một khuôn khổpháp lý mới, điều chỉnh toàn diện những nội dung liên kết kinh tế của ASEAN, thay thếcho những quy định trước đó không còn phù hợp.Đối với AFTA, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN ký năm 2009 (ATIGA) làhiệp địnhthương mại hàng hoá toàn diệnđầutiêncủaASEAN, thiếtlậpmộtkhuônkhổpháp lý hoàn chỉnh,điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực hợp tác thương mại hàng hóa nội khối của ASEAN. ATIGAđãđượcxây dựng trên cơsởtổnghợpcác camkếttrướcđótrong CEPT, các hiệpđịnh,nghịđịnhthư có liên quan nhưngởmứcđộchi tiết hơn vàvớiyêu cầutựdo hoá thươngmạihàng hoá cao hơn.Đồngthời, ATIGA cũngbổsung những vấn đề mới chưa từng được luật hoá trước đây, như yêu cầu về sự công khai,

minh bạch và chia sẻ thông tin về chính sách thương mại giữa các QGTV….

Thứ ba, AEC đã tạo ra một cơ chế pháp lý có tính tổng thể cho tất cả các hoạt động hợp tác kinh tế của ASEAN. Thay vì thực hiện theo những cơ chế pháp lý tách biệt như trước kia, các chương trình hợp tác kinh tếcủa ASEANđều đã được ghi nhận với tư cách là những nội dung cấu thành thống nhất trong AEC. Điều này đảm bảo sự thống nhất trong các hoạt động hợp tác kinh tế của ASEAN khibất kỳ nội dung hợp tác kinh tếnào cũng đều được đặt trong khuônkhổpháp lý chung của AEC;đồng thời nó cũng thúcđẩy sựtácđộng qua lại giữa các nội dung liên kết kinh tế với nhau, từ đó đẩy nhanh tiến trình liên kết kinh tế nội khối của ASEAN.

Sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN không chỉ có ý nghĩa là tạo ra một khuôn khổ thể chế mới cho AFTA, mà nó còn mang lại những tác động cụ thể rất tíchcựcđối với quá trình thực hiện AFTA. Những tácđộngnàyđượcbiểu hiện thông qua hai phương diện cơ bản sau đây:

Một là tác động trực tiếp của các yếu tố (tự do hoá dịch vụ, đầu tư, lao động) trong phạm vi trụ cột Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất đối với AFTA, với ýnghĩa hỗ trợ và thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại hàng hoá. Trong khi tự do hóa dịch vụcó khảnăng làm gia tăng khối lượng thương mại, nâng cao hiệu quảphân phối của thương mại và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa thì việc thực hiện các nội dung của Khu vực đầu tư ASEAN có thể nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như tăng khả năng đầu tư trong nội bộ ASEAN, từ đó khuyến khích sự tăng trưởng của mạng lưới sản xuất khu vực. Đồng thời, người lao động, nhất là lao động có tay nghề cao và doanh nhân được tự do di chuyển sẽ thúc đẩy

57

phân công lao động,phát triển nguồn nhân lực khu vực và sựgắn kếtthịtrường giữa các QGTV, từ đó làm gia tăng thương mại hàng hoá nội khối.

Hai là tác động hỗ trợ gián tiếp của những trụ cột còn lại trong AEC đối với AFTA thông qua mối quan hệ của chúng với trụ cột Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, mà trong đó, AFTA là hạt nhân của trụ cột này:

-Đểxây dựngtrụcộtKhuvựckinhtếcạnh tranh cao,đòihỏicácnước ASEAN phải xây dựng, điều chỉnh các chính sách, luật lệ cạnh tranh và những vấn đềkhác liên quan như phát triển cơsởhạtầng, bảo hộngườitiêu dùng,

bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ… thông qua đó tạo lập một môi trường kinh doanh lành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của mỗi thành viên cũng như khu vực, từ đó, thúc đẩy các tiến trình liên kết kinh

tế và tự do hoá thương mại của ASEAN.

– Trong mối quan hệ với trụ cột Khu vực kinh tế phát triển đồng đều, việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các thành viên cả về kinh tế, thể chế cũng nhưxã hội sẽ đẩy nhanh tiến trình thực hiện những cam kết tự do hóa của ASEAN và tạo điều kiện cho mỗi thành viên đều được thụ hưởng những thành quả mà hội nhập mang lại, qua đó thúc đẩy liên kết kinh tế khu vực, trong đó có Khu vực thương mại tự do ASEAN.

– Thiết lập mộtKhuvựchộinhập vàonềnkinhtếtoàncầutrong ASEAN, cũng có nghĩa là các quốc gia thành viên ASEAN phải tham gia mạnh mẽ vào chuỗi giá trịtoàn cầu,đồng thời phải có mộtchính sách tiếp cận chung giữa các quốc gia thành viên và phải đảm bảo được vị trí trung tâm của ASEAN khi tham gia vào các quan hệ kinh tế với các đối tác bên ngoài. Để làmđược điềuđó, đòihỏi các quốc gia thành viên phải thúc đẩy liên kết kinh tế nội khối, xây dựng ASEAN trở thành một “thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất” với quy mô và sức mạnh kinh tế tập thể của cả mười nước thành viên ASEAN.

Ngoài những tácđộngtrong phạm vi AEC,sựhình thành APSC và ASCC cũng có những vai trò và ảnh hưởng tới AFTA. APSC có vai trò duy trì nền tảng ổn định vềchính trịvà an ninh giữa các thành viên cũng như trong khu vực cho các hoạt động hợp tác của ASEAN. ASCC có vai trò xây dựng một nền tảng xã hội vàmôi trường cho AEC và APSC, trong đó có sựphát triển và vận hành của AFTA, như vấn đề nguồn nhân lực, thu hẹp khoảng cách phát triển, giải quyết những vấn

đề văn hoá – xã hội và môi trường phát sinh từ các hoạt động kinh tế….

Bên cạnh những tác động tích cực, sự hình thành AEC cũng rất có thể tạo ra những tác động không mong muốn đốivớiAFTA.Sựtác động của AECđốivới

58

AFTA, về bản chất, xuất phát từ mối quan hệ giữa các nội dung trong liên kết kinh tế của ASEAN được tích hợp và thực hiện trong một khuôn khổ chung. Điều này có nghĩa, chỉ cần một trong những yếu tố cấu thành AEC vận hành không hiệu quả, nó sẽ ảnh hưởng và cản trở sự vận hành của những yếu tố còn lại, từ đó tác động đến toàn hệ thống. Thực tế cho đến nay, các nội dung hợp tác kinh tế khác trong AECđều vẫn còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả chưa đạt như mong muốn, dẫn đến làm giảm hiệu quả hoạt động của AFTA.

Ngoài ra, nhiều thách thức mà AFTA và các nội dung liên kết kinh tế khác của AEC phải đối mặt hiện nay còn bắt nguồn từ những hạn chế trong hiệu quả liên kết chính trị – an ninh của APSC. Những dấu hiệu rạn nứt về chính trị khi có sự chia rẽgiữa các thành viên trước những vấn đềảnh hưởng đến toàn Hiệp hộitrong thời gian qua đãảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quảthực hiện AFTA và những cốgắng thúc đẩy liên kết kinh tế nội bộ của ASEAN lên một mức độ cao hơn. Tương tự nhưAPSC, sự hạn chế trong quá trình triển khai các sáng kiến hội nhập, thu hẹp khoảng

cách phát triển hay nâng cao nguồn nhân lực…trong ASCC cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến những khía cạnh xã hội là nền tảng cho việc thực hiện AFTA.

Như vậy, sự hình thành AEC đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các liên kết kinh tế của ASEAN, nhưng đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi mới đối với ASEAN nói chung và AFTA nói riêng. Một hệ thống thể chế mới đòi hỏi sựtăng cường trách nhiệm của tất cả các thiết chế của ASEAN trong việc định hướng chiến lược mang tính dài hạn cho đến giám sát quá trình thi hành các cam kết cũng như phối hợp hiệu quảhoạtđộng giữa các thiết chếcộng đồng. Đồng thời, một khuôn khổthểchếmới sẽđòihỏi trách nhiệm thực thi các cam kết ởmức độcao hơn đối với các QGTV, khi đó mỗi quốc gia đều phải có sự chuẩn bị kĩ lưỡng các

yếu tố, từ pháp luật đến con người, thể chế kinh tế… để một mặt, vừa hoàn thành những nghĩa vụpháp lý theo đúng quy định đặt ra nhưng không tạo ra những tác động không mong muốn đối với nền kinh tế quốc gia. Và cuối cùng, việc sắp xếp lại các lĩnh vực hợp tác kinh tế của ASEAN đã đặt tất cả trong một khuôn khổ chung là Cộng đồng kinh tếASEAN, bên cạnh việc tạo ra sựthống nhất, thúcđẩy liên kết giữa các nội dung hợp tác với nhau cũng sẽ đặt ra những đòi hỏi, nhất là những đòi hỏi riêngđối với những lĩnh vực hợp tác trung tâm. Khu vực thương mại tựdo ASEAN là nội dung hạt nhân có thể nói là quan trọng nhất trong “Thị trường và cơsởsản xuất thống nhất”-trụcột đầu tiên và cũng là trụcột căn bản đểxây dựng AEC, điều này đòi hỏi AFTA phải luôn đi tiên phong để tạo tiền đề động lực thúcđẩy việc thực hiện những nội dung còn lại trong AEC.

59

2.3.1.2.Sựbùngnổcủa các hiệp định thương mạitựdo và xuất hiện các FTA thế hệ mới

Với 162 thành viên tính đến hết năm 2015 [150], Tổ chức thương mại thế giới đã trở thành định chế thương mại lớn nhất điều chỉnh các hoạt động thương mại đa phương ở phạm vi toàn cầu. Nhưng chính sự đông đảo về thành viên với sự đa dạng về trình độphát triển và định hướng/chính sách thương mại đã khiến cho mục tiêu “thương mại ngày càng tự do” của WTO dường như đang gặp quá nhiều thách thức. Sự bế tắc của vòng đàm phán Doha (DDA – Doha Development Agenda) do những bấtđồng giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, cũng như giữa các nền kinh tế phát triển với nhau chính là một minh chứng rõ nét cho các thách thức đối với WTO hiện nay [47]. Một vấn đề nữa đối với WTO hiện nay là khuôn khổpháp lý của GATT/WTO đang ngày càng trở nên chật hẹp, không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh mộtloạt vấn đềmớinảy sinh trong thương mạiquốc tế.Đểkhắc phục những khiếm khuyết của hệthống thương mạiđa phương toàncầuvà giải quyết nhu cầu nội tại của các nền kinh tế, việc đàm phán, ký kết các FTA, nhất là các FTA song phương đang ngày càng được đẩy mạnh trên khắp các châu lục. Các thỏa thuận thương mại khuvực(RTAs) đang ngày càng phát huyđượcvai trò vàthế mạnh do tính ưu việt vốn có so với WTO khi thời gian đàm phán ngắn, lĩnh vựcđàmphán rộng và các thành viên dễ dàng tìm được sự nhất trí hơn.

ASEAN và các thành viên của tổ chức này cũng không nằm ngoài xu hướng đó.Ở cấp độkhu vực, mô hình phổ biến nhất đối với tổ chức này là các FTA theo công thức ASEAN+1, tức là kýkếtcác hiệp định thương mạitựdo giữa ASEAN với từng đối tác thương mại bên ngoài. Đến thời điểm này, ASEAN đã ký 05 FTA thành lập Khu vực thương mại tự do với 05 đối tác thương mại của khối gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,ẤnĐộvà Australia – Newzealand. Trong tương lai, con số các FTA mà ASEAN ký kết với các đối tác bên ngoài chắc chắn sẽ lớn hơn con số05 khá nhiều do ASEAN đang ngày càng trởnên “hấp dẫn” hơn cảtrên phương diện kinh tế lẫn chính trị, đặc biệt là đối với những cường quốc trên thế giới cũng như khu vực. Ít nhất tính đến thời điểm hiện tại, ASEAN đang trong quá trình đàmphán FTAvớiLiên minh châu Âu và đang tìm kiếm FTAvớiHoa Kỳ.Bên cạnh mô hình ASEAN+1, FTA theo công thức ASEAN+3 cũng đang có khả năng trở thành hiện thực khi tại Hội nghị Cấp cao ASEAN+3 tại Lào năm 2004, nguyên thủquốc gia 10nướcASEAN và 3 quốc gia ĐôngBắcÁlà Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản đã nhất trí về tính cần thiết của một Khu vực thương mại tự do toàn

60

Đông Á (EAFTA) và đã giao cho Bộ trưởng kinh tế của 13 quốc gia tổ chức nghiên cứu, sau đó soạn thảo Báo cáo về việc xây dựng EAFTA trong thời gian tới. Ngoài ra, khảnăngvềmột FTA theo mô hình ASEAN+6 giữa 16 quốc gia trong khuôn khổ Cấp cao Đông Á gồm 10 nước ASEAN, 3 nước Đông Bắc Á (Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản) và 3 quốc gia cònlạilà Australia, Newzealand vàẤnĐộcũngđang diễn biến khá nhanh và đã có được những nền tảng kinh tế, chính trị nhất định [20, tr. 249].

Ở cấp độ quốc gia, hiện nay tất cả các nước thành viên ASEAN đều tham gia ký kết các FTA với những thực thể không phải là thành viên của Hiệp hội, đặc biệt là Singapore đang có xuhướngđẩynhanh các hiệpđịnhsong phương. Trong sốnày, điều đáng lưu ý là các thành viên ASEAN và cả chính ASEAN đều đã ký kết hoặc đang đàmphán các FTAvớinhững đốitác thương mạichủchốt như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hoa Kỳ và EU.

BẢNG 2.2

Số lượng các FTA giữa các nước ASEAN với các đối tác ngoại khối

[16, tr. 43]

Quốc giaSố lượng FTAQuốc giaSố lượng FTA
Singapore38Brunei18
Thái Lan29Philippines16
Malaysia27Lào14
Indonesia22Myanmar13
Việt Nam19Campuchia12

Sự bùng nổ của các FTA nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại cũng đã cho rađời thế hệ các FTA mới. Kết quả của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa thương mại trên thế giới đã cho ra đời ba thế hệ FTA: FTA thế hệ đầu tập trung vào tự do hóa thương mại hàng hóa với việc cắt giảmthếquan và loại bỏcác ràocảnphi thuếquan, FTAthếhệthứhai tiếp tục ra đờivà phát triển vớiviệc tựdo hóa thêmvềthương mại dịch vụ, và FTA thế hệ thứ ba hay còn gọi là FTA thế hệ mới. So với các FTA truyền thống, các FTA thế hệ mới có ba điểm khác biệt cơ bản. Thứ nhất, vềmức độtựdo hóa, các FTAthếhệmớinhằm tiếntớithiếtlậpmộtkhu vực thương mại tựdo toàn diện với mứcđộtựdo hoá cao, “tiệmcận”với trạng thái “thương mại tự do hoàn toàn” đối với tất cả các yếu tố cơ bản của một thị trường và

61

cơ sở sản xuất thống nhất: hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động. Đồng thời các vấn đềvề thuận lợi hoá, như các biện pháp vệ sinh dịch tễ, rào cản kỹ thuật, giải quyết tranh chấp… đượcthực hiện với các cơchếhợptác mới, siết chặt hơnvềcác yêu cầu; các thủ tục có liên quan được thực hiện một cách minh bạch hơn [24]. Thứ hai, vềphạm vi cam kết, các FTAthếhệmớikhông chỉgiới hạn trong các lĩnh vực thương mại truyền thốngvềhàng hóa và dịchvụmà còn baogồmcảcác lĩnh vực/khía cạnh phi truyền thống như các khía cạnh của lao động,vấn đềmôi trường, muasắmcông, thương mạiđiện tử, khuyến khích sựphát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ…, nhất là các nội dung về lao động thường được ghi nhận chi tiết trong các FTA thế hệ mới, gồm: Quyền tự do lập hội, giải quyết tranh chấp, tôn trọng các quyền lao động cơ bản trong các công ước quốc tế, quy định về quyền tập hợp và đàmphán chung của ngườilao động,cấmsửdụng mọihình thức lao động cưỡng bức,cấmkhai thác lao động trẻem, không phân biệtđốixửđốivớingườilao động… [2, tr. 10]. Thứ ba, các FTA thế hệ mới quy định rất nhiều về các vấn đề liên quan đến thể chế của các quốc gia thành viên, khác với các FTA trước đây chủ yếu quy định về chính sách thuế quan tại biên giới, các FTA thế hệ mới sắp tới có nhiều

camkếtảnh hưởng trực tiếp và lớn đến thểchế, chính sách pháp luậtnộiđịa… (những vấn đề sau đường biên giới) [30].

Điểnhìnhcủacác hiệpđịnhthươngmạitựdothếhệmới có liên quanđến ASEAN và các quốc gia thành viên là Hiệpđịnhđốitác xuyên Thái Bình Dương

(TPP), với 4 trên tổngsố12 quốc gia tham gia ký thoả thuận này vào ngày 04/02/2016 là thành viên của ASEAN. Tính điển hình của TPP thể hiện ở chỗ các thỏa thuận của nó có tiêu chuẩn cao và quy mô lớn bậc nhất trong lịch sử tự do hóa thương mại. Ngoài ra, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệpđịnhđối tác thương mại và đầutư xuyênĐại Tây Dương (TTIP) cũng được xem là những FTA thế hệ mới với phạm viđiều chỉnh rộng, mức độtựdo hóa cao và khả năng tác động đến thể chế lớn.

Sựbùng nổcủacác Hiệp định thương mạitựdo,đặc biệt là các FTAthếhệmới đang tạo ra nhiều thách thức lớn đối với liên kết kinh tế nội khối của ASEAN nói chung và AFTA nói riêng. Đặc biệt là chúng gây ra tình trạng chồng chéo giữa các hiệp định và rất dễ tạo ra xu thế “ly tâm” trong liên kết kinh tế của các quốc gia thành viên ASEAN, xu thế ưu tiên cho những liên kết với các đối tác bên ngoài hơn

62

là tăng cường liên kết giữa các thành viên trong Hiệp hội, từ đó sẽ làm rạn nứt vàsuy yếu những gắn kết kinh tế nội bộ của ASEAN, trong đó có AFTA.12

2.3.1.3. Sự xoay chuyển trong chính sách đối ngoại của các cường quốc đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Vị thế địa -chính trị chiến lược của khu vực châu Á – Thái Bình Dương với cửa ngõ là Đông Nam Á ngày càng trở thành mối quan tâm đặc biệt của các cường quốc trên thế giới và khu vực, trong đó rõ nét nhất và có khả năng tạo ra những tác động lớn nhất hiện nay đốivớichâu Á- Thái Bình Dương nói chung và ASEAN nói riêng là các thay đổi trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Hoa Kỳ đối với khu vực này.

Từ sau công cuộc mở cửa, Trung Quốc đã vươn lên mạnh mẽ liên tiếp với hơn ba thập kỷtăng trưởng nhanh chóng,trởthành mộttrong ba cường quốc kinh tếmạnh nhất thế giới, nắm giữ những vị trí hàng đầu về xuất nhập khẩu hàng hóa, thu hút FDI, công xưởng sản xuất cũng như nắm giữ lượng ngoại tệ lớn nhất thế giới. Với mức tăng kim ngạch xuất nhập khẩu trung bình mỗi năm là 21,7%, Trung Quốcđã duy trì được nền kinh tế – thương mại khổng lồ, là quốc gia xếp thứ hai thế giới về nhập khẩu, đứng thứ nhất về xuất khẩu hàng hóa và là quốc gia có GDP cao nhất khu vực kể từ năm 2002 đến nay [82]. Sự trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế đã mang lại cho nước này tiềm lực kinh tếhùng hậu cùng vịthếchính trịngày càng gia tăng, tiềm lực quân sự ngày càng vượt trội.

Với sứcmạnh tổnghợptrên nhiều phương diện, Trung Quốcđãxây dựngđược một vị thế chiến lược ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Về kinh tế, từ chỗchỉ là một đối tác trung bình trong thương mại của các nền kinh tế khu vực, Trung Quốc đã vươn lên trở thành đối tác thương mại hàng đầu của hầu hết các quốc gia trong khu vực, trongđócó ASEAN. Liêntụclàđối tác thương mại lớnnhất của ASEAN từ năm 2009 đến nay với giá trị thương mại hai chiều lên tới 366.5 tỷ USD trong năm 2014, chiếm 14.5% tổng giátrịthương mại củaASEAN [105]. Vai tròchi phối kinh tếthương mạicủa nước này đốivớiASEAN nói riêng và khu vực châu Á nói chung ngày một gia tăng, điều này chính là một phần trong chiến lược toàncầucủaTrung Quốc với sựtậptrung vào khuvựcĐông Ávà đặc biệt là ASEAN. Cóthểthấy, Trung Quốc đang tiên phong trong việc phát triển các FTA theo phương thức ASEAN+1 cũng như xây dựng các cơchếhợptác khu vực. Vềchính trị, Trung Quốc đã thực hiện chiến lược “tấn công quyến rũ” từ hơn thập kỷ

12 Các vấn đề này sẽ được tiếp tục phân tích và làm rõ hơn tại các Mục 3.3.4 và 3.3.5.

63

trước đối với các quốc gia Đông Nam Á và đã thu được những thiện cảm cũng nhưảnh hưởng đáng kể trong khu vực, qua đó tăng cường ảnh hưởng chính trị tại khu vực này [74, tr.105].

Trướcxu thếdịch chuyển trọng tâm kinh tế,chính trịvềkhu vựcchâu Á- Thái Bình Dương đang diễn ra mạnh mẽ,đặcbiệt làsựdịch chuyển quyền lựcvềchâu Á, cũng như sự trỗi dậy của Trung Quốc trong nỗ lực tìm kiếm vị thế bá quyền trong khu vực, chính sáchđối ngoại của Hoa Kỳ đã có sự thay đổi với chiến lược “táicân bằng” hay “xoay trục” về châu Á – Thái Bình Dương với mục tiêu lâu dài làđưa các nước đi theo quỹ đạo do Hoa Kỳ định hình và đứng đầu; khôiphục vị thếvai trò siêu cường duy nhất của Hoa Kỳ trong khu vực và trên thế giới [51].

Vềan ninh – quốc phòng,BộQuốc phòng HoaKỳđã có những điều chỉnh nguồn lực nhanh chóng để thích ứng với chiến lược mới của Hoa Kỳ tại châu Á – Thái Bình Dương thông qua việc tăng cường trang thiết bị và lực lượng tới khu vực,đẩy mạnh hợp tác quốc phòng với một số nước trong khu vực cũng như khẳng định sựliên quan và vai trò của Mỹtrong việc giải quyết những tranh chấp trên biển Đông. Về thể chế khu vực, Mỹ đã tham gia vào một loạt sáng kiến hợp tác với các thể chế đa phương châu Á, trong đó có các vấn đề năng lượng, y tế thông qua Sáng kiến Hạlưu sông Mekong (LMI),đầu tư và thương mạithông qua APEC, tăng trưởng kinh tế và biến đổi khí hậu thông qua ASEAN, tội phạm xuyên quốc gia và

năng lượng sạch thông qua Cấp cao Đông Á (EAS)….

Về kinh tế – thương mại, Hoa Kỳ hiện đang theo đuổi chiến lược hai mũi nhọn về kinh tế tại khu vực, theo đó sử dụng chính sách ngoại giao để hỗ trợ tăng trưởng kinh tếHoaKỳ(còn gọi là ngoại giao thương mại) và đồngthời sửdụng candựkinh tế để hỗ trợ cho các ưu tiên trong chính sách ngoại giao. Mặc dù Tổng thống Donald Trump đã ký một mệnh lệnh hành pháp (executive order) rút khỏi TPP ngay sau ngày nhậm chức, nhưng nhữngnỗlực đàmphán và ký TPP của Chính quyền Tổng thống tiền nhiệmđã thểhiện ýđồtriển khai TPPtrướcđócủaHoaKỳnhưmột trụ cột trọng tâm về kinh tế của chiến lược “xoay trục” song song với việc phát triển quan hệ chiến lược Hoa Kỳ – Ấn Độ và mở cửa với Myanmar. Mặc dù các nhà kinh tếvà ngoại giao HoaKỳkhẳng định TPP đơn thuần chỉhướng đến mục tiêu thương mại nhưng cũng phải thấy rằng rất có thể TPP sẽ mang lại cho Hoa Kỳ cùng lúc nhiều lợi ích cả về kinh tế, chính trị khi mở đường cho Hoa Kỳ thực sự hội nhập vào nền kinh tế Đông Á, giải quyết được mối lo của những đồng minh tại châu Ánhư Nhật Bản, Philippines đang dần bị nền kinh tế Trung Quốc hấp dẫn, qua đó “lôi

64

kéo các nước trong khu vực Đông Á dần xa khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc và bước dần vào quỹ đạo mà Hoa Kỳ đang muốn định hình” [74, tr. 74].

Ngoài “cuộc cạnh tranh” trên nhiều phương diện của Trung – Mỹ, những tính toán chiến lược cả về kinh tế và chính trị của những thực thể lớn khác đối với khu vực như EU, Ấn Độ, Hàn Quốc và Nhật Bản, cũng như sự trở lại mạnh mẽ của Nga trong việc tìm lại vị thế của mình cũng sẽ tạo ra những tác động nhất định đối với khu vực châu Á- Thái Bình Dương nói chung và ASEAN nói riêng. Tuy nhiên, những tác động từcác thực thểnày là không quá lớn và rõ nét so vớinhững tác động và ảnh hưởng từ chính sách của Hoa Kỳ và Trung Quốc. Bởi những tính toán của những thực thể này chủ yếu là để nhằm hoặc tận dụng lợi ích từ các quan hệ với mộttrong hai cườngquốc này, hoặcđểthoát khỏisựtrỗi dậy của Trung Quốc, khẳng định vị thế của mình, hoặc tìm đến châu Á – Thái Bình Dương như một đối tác mới, một thị trường mới trong bối cảnh bị cô lập.

Chính sách đối ngoại của các cường quốc đối với khu vực mang lại cả những thuận lợi và những thách thức lớn đối với liên kết kinh tế của ASEAN, trong đó cóAFTA.Vềthuận lợi, dovịthếđịachiếnlượccủaĐông NamÁvà ASEAN, các cường quốc đều dành cho ASEAN những sựquan tâm và hỗtrợkhông nhỏtrên nhiều phương diện. Điều này góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại giữa các thành viên ASEAN với những đối tác bên ngoài, từ đó mang lại những lợi ích kinh tế trực tiếp cho mỗi quốc gia. Nhưngngượclại, những tính toáncủacáccườngquốc tại khu vực này rấtdễkhiến các thành viên bịlôi kéo vào cuộc chiến chạy đua tranh giành ảnh hưởng hay phô bày sức mạnh trong khu vực và kết quả sẽ khiến ASEAN bị chia rẽ theo những tác động từ bên ngoài.13

2.3.2. Vai trò của Khu vực thương mại tự do ASEAN

2.3.2.1. Vai trò của AFTA đối với Cộng đồng kinh tế ASEAN

Vị trí và vai trò của AFTA đối với Cộng đồng kinh tế ASEAN được thể hiện thông qua vai trò của AFTA với tư cách là yếu tố hạt nhân cấu thành nên một trong các trụ cột của AEC.

Như đã trình bày ở Mục 2.3.1, nội dung của Cộng đồng kinh tế ASEAN bao gồm: 1)Thịtrường và cơsởsản xuất thống nhất; 2) Khu vực kinh tếcạnh tranh cao; 3) Khu vực phát triển kinh tếđồng đều;4) Khu vực hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu, trong đó, trụ cột đầu tiên là Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất được tạo thành bởi năm yếu tố: 1) Tự do thương mại hàng hoá; 2) tự do thương

13 Những tác động này sẽ tiếp tục được nghiên cứu và làm rõ hơn tại Mục 3.3.

65

mại dịch vụ; 3) tự do đầu tư; 4) tự do dòng vốn và 5) tự do di chuyển lao động lành nghề và hai nội dung quan trọng khác là Các lĩnh vực hội nhập ưu tiên và Lĩnh vực thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp.

Trong số bốn trụ cột nói trên của AEC thì trụ cột Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất được coi là trụ cột hợp tác chính của Cộng đồng kinh tế ASEAN. Không những vậy, trụ cột này còn là tiền đề và là điều kiện tiên quyết để thực hiện ba trụcột còn lại. Các nội dung khác của Cộng đồng kinh tế ASEAN chỉ có thể được tiến hành hoặc/và tiến hành một cách có hiệu quả khi các quốc gia thành viên thực hiện tốt được nội dung này. Vị trí và vai trò này của Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất xuất phát từ những lý do cơ bản:

Thứ nhất, chỉ trên cơ sở hoàn thành mục tiêu xây dựng một thị trường và cơ sởsản xuất thống nhất, ASEAN mới cóthểhướng tới mục tiêu tạo ra một khu vực kinh tế cạnh tranh cao. Bởi lẽ, một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất tạo điều kiện cho các nước thành viên và khu vực phân công lại laođộng và sản xuất, qua đó,phân phối và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, giảm chi phí và nâng cao năng

lực sản xuất, năng suất lao động, trên cơ sở này, tạo ra tiền đề để nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực nói chung, các nước thành viên nói riêng.

Thứ hai, thông qua việc hình thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất sẽ tạo điều kiện nâng cao năng lực sản xuất, hiệu quả của các thành viên, từ đó những thành viên chậm phát triển hơn sẽ có điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện, nâng cao thu nhập, thu hẹp khoảng cách với những thành viên phát triển hơn.

Thứ ba, việc hình thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất cũng tạo điều kiện tốt nhất để ASEAN có thể hội nhập hiệu quả với phần còn lại của thế giới thông qua việc nâng cao hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh của toàn khu vực.

Với những ý nghĩa trên, có thể khẳng định, để xây dựng được Cộng đồng kinh tế ASEAN thì nhất thiết phải trên cơ sở một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất. Tuy nhiên,đểmột thịtrường và cơsởsản xuất thống nhất được hình thành thìnhiệm vụ trung tâm đối với ASEAN làđảm bảo được sự tự do dichuyển của hàng hóa thông qua việc xây dựng và thực hiện hiệu quảKhu vực thương mại tựdo ASEAN. Nói cách khác, AFTA chính là yếu tố hạt nhân của một Thị trường và cơsởsản xuất thống nhất. Vịtrí và vai trò này của AFTA xuất phát từnhững lý do sau:

Một là thông qua việc xóa bỏnhững rào cản thương mại đối với hàng hoá, hàng hoá được sản xuất tại một nước này khi di chuyển sang một nước thành viên

66

khác giống như đang di chuyển trên chính thịtrường nội địa của nước mình. Kết quả là chi phí sản xuất giảm, hiệu quả sản xuất, sức cạnh tranh được nâng cao, qua đó,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các nước thành viên. Đến lượt mình, quá trình này cũng tác động ngược trở lại với quá trình tự do hóa thương mại, từ đó góp phần vào việc loại bỏ những rào cản đối với thương mại, phá vỡ tính phân mảng của thịtrường các nước thành viên. Điều này sẽ tạo ra một thị trường thống nhất rộng lớn cho hàng hóa, nhà sản xuất và người tiêu dùng của các QGTV.

Hai là tự do hóa thương mại hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tốcòn lại của sản xuất, từ dịch vụ cho tới đầu tư và lao động:

– Đối với dịch vụ, những tác động tích cực mà AFTA mang lại sẽ thúc đẩy sựphát triển của thương mại dịch vụ tại mỗi nền kinh tế thành viên cũng như của cảASEAN. Sự tăng trưởng của thương mại dịch vụ gắn chặt với sự tăng trưởng chung của cả nền kinh tế theo hướng vừa là kết quả, vừa là một trong những nhân tố tácđộng đến tăng trưởng. Việc tạo ra các dòng hàng hóa tự do trên cơ sở quá trình thực hiện những nội dung pháp lý của AFTA sẽ góp phần quan trọng trong việc gia tăng thương mại giữa các nước, cộng với một thị trường chung rộng lớn mà trong đó, các rào cản bảo hộ nền sản xuất trong nước không còn sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tếcho các thành viên. Kết quả của quá trình này sẽ kéo theo sự phát triển của thương mại dịch vụ.

– Đối với đầu tư, việc hình thành một khu vực thương mại tự do không chỉ liên quan đến vấn đềcắt giảm thuế quan và biện pháp phi thuế quan mà còn tạo ra những hiệu ứng quan trọng đối với môi trường đầu tư và hành vi của nhà đầu tư[20, tr. 78]. Một khu vực thương mại tự do được hình thành có thể thúc đẩy cả dòng đầu tư nội địa và đầu tư nước ngoàibởi các lý do: Một là việc hình thành AFTA đã làm giảm đángkểnhững “thiếu sót” trong môi trường đầu tư, sản xuất của các thành viên, từđóthúcđẩy hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư; Hai là quá trình thực hiện các cam kết của AFTA, đặc biệt những cam kết vềtựdo hóa thuếquan sẽ tạo ra một thị trường rộng lớn hơn với sức mua lớn hơn, từ đó thúc đẩy hoạt động đầu tư giữa các thành viên trong khu vực. Hơn nữa, dòng FDI lưu chuyển giữa các thành viên với nhau còn xuất phát từmục tiêu tận dụng lợi thếvềchi phíđầu

vào của sản xuất, như chi phí lao động rẻ, giá cả hàng hoá, nguyên vật liệu thấp….

– Đối với lao động, tác động tăng trưởng kinh tế do quá trình tự do hóa trong AFTA mang lại sẽthúcđẩy sựmởrộng quy mô sản xuất của mỗi doanh nghiệp,

67

vừa đểđáp ứng nhu cầu tiêu dùng khithịtrường không bịgiới hạn, vừa đáp ứng nhu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Kết quả là nhu cầu đối với lao động,đặc biệt làlao động đã qua đào tạo của doanh nghiệp sẽ tăng lên. Đây chính là cơsởcho việc nâng cao nguồn nhân lực và di chuyển lao động giữa các quốc gia.

Như vậy, AFTA chính là yếu tốhạt nhânđểhình thành Thịtrường và cơsởsản xuất thống nhất, qua đó tạo cơ sở xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN. Trong bối cảnh hiện nay, với sựxuất hiện của nhiều điều kiện hợp tác kinh tếmới, Khu vực thương mại tự do ASEAN lại càng có một vị trí và vai trò đặc biệt. Trong các nội dung hợp tác kinh tế của ASEAN thì tự do hoá thương mại hàng hóa là nội dungđược tiến hành trước tiên và hiện vẫn là nội dung liên kết thành công nhất trong các liên kinhtếnói riêng và liên kết trên tất cảcác lĩnh vực hợp tác củaASEAN nói chung. Để xây dựng thành công Cộng đồng kinh tế ASEAN và Cộng đồng ASEAN thì ASEAN vẫn phải xuất phát từ nền tảng của AFTA để tăng cường liên kết kinh tếkhu vực. Hơn nữa, AFTA còn là hạt nhângiữvững sựgắn kết kinhtếnội bộcủa ASEAN trước xu thế “ly tâm” ngày càng gia tăng của các thành viên trong khối vànhững tác động tiêu cực từ bên ngoài.

2.3.2.2. Vai trò của AFTA đối với các nền kinh tế thành viên

Tự do hoá mang lại nhiều lợi ích cho tất cả các nước tham gia, nhất làđối với những nước đang phát triển như đasốcác nước thành viên ASEAN, tựdo hóa thương mại không những tạo thuận lợi cho các nước này mở rộng thị trường, tăng khả năng thương mại mà còn mang lại những lợi ích to lớn như cải thiện hiệu quả

nền kinh tế, cải cách thể chế, tăng khả năng thu hútđầu tư nước ngoài….

Về lý luận, những tác động của tự do hóa thương mại thường được chia thành hai loại là tác động “tĩnh” và tác động mang tính chất “động”. Các tác động “tĩnh” được coi là những phản ứng một lần của các nhóm đối tượng đối với những thay đổi về giá tương đối nhờ vào tự do hóa thương mại, từ đó có thêm vốn và công nghệ, tập hợp lực lượng để không chỉ bảo vệ lợi ích của mình mà còn giúp cho các nước này cải cách thể chế và mô hình nền kinh tế. Những tác động này xuất phát từ việc tái phânbổcác nguồn lực giữa các ngành khi giá cảcủa các nước ngày càng tiến gần hơn với giá thế giới và nhìn chung được hiểu như đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Ngược lại, các tác động mang tính chất “động” diễn ra có tính chu kỳ và ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Mặc dù, những tác động này rất khó được phân tách trên thực tế, bởi vì bên cạnh tự do hoá thương mại, còn có nhiều yếu tố

68

khác tác động lên các chỉ tiêu kinh tế – xã hội, và hơn nữa, chúng lại được thể hiện rất khác nhau ở các nước và trong mỗi giai đoạn phát triển của từng nước.

Trên thực tế, tự do hóa thương mại có những tác động rất đa chiều tới các mặt của đời sống kinh tế – xã hội của các quốc gia. Các tác động này thể hiện rõ nét nhất trên ba nhóm đối tượng: Người tiêu dùng, doanh nghiệp và rộng hơn là nền kinh tếvà chính phủ.

Đối với người tiêu dùng, việc cắt giảm và xóa bỏ thuế quan cũng như rào cản phi thuế quan trong AFTA mang lại những lợi ích kinhtếtrước tiên cho các đối tượng này.

Thông qua quá trình tự do hóa thương mại, người tiêu dùng được tiếp cận với một thị trường phong phú hơn về các loại hàng hóa với giá cả thấp hơn. Nói cách khác, người tiêu dùng với một sốtiền như trước đây sẽmua được nhiều hàng hóa hơn trong hiện tại và với một số tiền như vậy trong hiện tại sẽ mua được nhiều hàng hóa hơn trong tương lai. Tuy nhiên, tác động này sẽ không giống nhau trong cùng một thời điểm giữa các nhóm nước trong ASEAN. Do lộ trình thực hiện tự do hóa thuế quan của các nước ASEAN 6 được tiến hành nhanh hơn ASEAN 4 nên thời điểm các nước này hoàn thành việc cắt giảm thuế quan sẽ trước các nước còn lại. Vì thế, thời điểm người tiêu dùng của những nước này được hưởng những lợi ích kinh

tế do giá cả thấp hơn trước khi cắt giảm thuế quan mang lại sẽ sớm hơn tại những nước ASEAN 4.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\KHU VỰC THƯƠNG MẠI TỰ DO ASEAN (AFTA) VÀ THỰC TIỄN HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *