Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam

Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài

Khi cómộttộiphạmđược thực hiện, việc giải quyết vụán hìnhsựnhanh chóng, chính xác nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm là nhiệm vụ của tố tụng hình sự. Việc giải quyết vụ án hình sự có thể trải qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau, trong đó giai đoạn khởi tố vụ án hình sự làgiaiđoạnđầutiên của tốtụng hình sự, mởđầucho quá trình chứng minhvụán. Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, các cơ quan có thẩm quyền sẽ xácđịnh sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tốhay không khởi tố vụ án hình sự.

Giaiđoạn khởi tố vụ ánhình sự là một giai đoạn tố tụng rất quan trọng,đóng vai trò tiềnđềcho các giaiđoạntốtụng tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Việc khởi tố vụán hình sựsẽ tạocơsởpháplý để thực hiện các hoạt động tố tụng tiếp theo và hầu hết các hoạt động tố tụng hình sựchỉ có thể được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Nếu việc khởitốvụán hìnhsựđược thực hiệnmộtcáchkịpthời, có căncứvà đúng pháp luậtsẽgóp phầnđảmbảocho phát hiện và xửlýtộiphạmđược được nhanh chóng, tránh tình trạng truycứutrách nhiệm hìnhsựoan saiđốivới ngườivô tội. Ngược lại, nếuviệc khởi tốvụán hìnhsựkhôngkịpthờisẽcóthể dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, còn việc khởi tố vụ án không chính xác thìsẽdẫnđếnoan sai chongườivô tội, ảnhhưởngđếnquyền và lợiích hợp pháp của công dân, tính nghiêm minh của pháp luật cũng như trật tự xã hội. Vìvậy, việc khởi tố vụ án hình sự cần phải đáp ứng được những yêu cầu chung vềbảo vệ an toàn các hoạt động trong trật tự quản lý nhà nước và quản lý xã hội, nhằmbảođảmmọihành vi phạmtộiphảiđượcphát hiện, điềutra, xửlý kịp thời, bảo vệđược những quyền và lợiíchhợppháp của tổchức, cá nhân cóliên quan đến hoạt động này.

2

Khởitốvụán hìnhsựlà mộttrong nhữngvấnđề lý luận và thực tiễn quan trọng trong khoa học Luật tố tụng hình sự. Quy định nàyđược pháp điển hóa lầnđầutiên trong BLTTHS năm 1988, tiếptụcđượcbổsung, phát triển trong BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015. BLTTHS quy định trình tự, thủtục khởitốvụán hìnhsựkhá đầyđủvà cụthể, trở thành cơ sởpháp lýquan trọng, đã và đang phát huy vai trò tích cực trong thực tiễn.Tuy nhiên, sau một thời gian dài áp dụng, các quy định về khởi tố vụ án hình sự cũng dần bộc lộ những vướng mắc, bất cập nhất định do còn nhiều điểm chưa hợp lý và thiếu đồng bộ, thống nhất; chưa dự liệu và điều chỉnh hết những trường hợp xảy ra trong thực tiễntốtụng hìnhsự;chưa thực sựđápứngyêucầubảovệquyền conngườitrongtốtụng hình sự. Nhữnghạnchếnày gây không ít khó khăn cho các cơ quan tiến hànhtốtụng trong việc nhận thức và áp dụng quyđịnh pháp luật, dẫn đến tình trạng khởi tố oan sai người vô tội hoặc bế tắc trong việc phát hiện và xử lý tội phạm.

Mặc dù là mộttrong nhữngvấnđềtrọng tâm của khoa học Luậttốtụng hình sự, lạilà vấnđềphức tạptrong công tác thực hiện pháp luật, nhưng lýluậnvềkhởitốvụán hìnhsựlạichưa được các chuyên gia pháp lý hìnhsựnghiên cứu chuyên sâu. Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về khởi tố vụ án hình sự. Lý luận về khởi tố vụán hìnhsựsovớicác vấnđềkhác của tốtụng hìnhsựvẫnchưa phát triển, mảng trithức về đề tàinày hiện còn rất nhiều hạn chế dẫn đến việc nhận thức chưa có sự thống nhất. Do hạn chế về mặt lý luận nên các quy định pháp luật về khởi tố vụ ánhình sự còn nhiều bất cập, từ đó thực tiễn khởi tố vụ án hình sự gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâuvềquyđịnhkhởitốvụán hìnhsựlà mộtyêu cầu khách quan và cần thiết, nhằm lý giải một cách khoa học những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra hiện nay.

3

Bên cạnh đó, nướcta đang trong tiến trìnhcảicách tư pháp nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hộichủnghĩa, triển khai thực hiện Hiến pháp 2013 về quyền con người, về tổ chức bộ máy nhà nước. Đảng và Nhà nước ta khẳngđịnhquyết tâm chínhtrịmạnhmẽcủa mình trong việc thực hiệnchủtrương và triển khai các nhiệm vụ cải cách tư pháp. Một trong những phương hướnghoàn thiện các thủtục tốtụng tư phápđượcNghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020đưa ra là: Hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Do vậy hoàn thiện các quy định về khởi tố vụ án hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam làvấnđềhếtsức cầnthiết nhằmbảovệcó hiệuquảcác quyền và lợiích hợp pháp không chỉ của người bị hại mà còn cả người thực hiện hành vi phạm tội trong tố tụng hình sự.

Tình hình như trên đặt ra nhu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn làcần phải có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về vấn đề khởi tố vụ án hình sự. Do đó, tác giả đã chọn đề tài:“Khởi tố vụ ántrong

tốtụng hình sựViệt Nam”làm Luận án Tiến sĩ luật học của mình nhằm nghiêncứu các vấn đề lý luận về khởi tố vụ ánhình sự và thực tiễn áp dụng, xác định những bất cập còn tồn tại và đưa ra những giải pháp hoàn thiện quyđịnh pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về vấn đề này.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2.1. Mục đích nghiên cứu

Luận án xác định mục đích nghiên cứu là đề ra các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Namvề khởi tố vụ ánhình sự, góp phần nâng cao hiệu quả thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự.

4

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sởmục đích nghiêncứunêu trên, Luận ánđặtra nhiệmvụnghiên cứu như sau:

– Nghiên cứu cơ sở lý luận về khởi tố vụ án hình sự trong tố tụng hìnhsựViệt Nam;

– Phân tích và đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về khởi tố vụán hình sự; những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thực hiện các quy định này trong việc giải quyết vụ án hình sự;

– Nghiên cứu so sánh pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thếgiới, rút ra nhữngđiểmkhác biệt và kinh nghiệm cho Việt Namvềquyđịnh khởi tố vụ án hình sự;

– Đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự hiện hành vềkhởi tố vụ án hình sự và nâng cao hiệu quả khởi tố vụ án hình sự.

3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 3.1. Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và pháp luật tố tụng hình sựmộtsốnước trênthếgiới, thực tiễn thực hiện các quyđịnhvềkhởitốvụán hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Phạm vi nghiêncứu vềthời gian là các vănbảnpháp luật có liên quanđến quy định khởi tố vụ án hình sự, chủ yếu là văn bản pháp luật tố tụng hình sự ban hành từ năm 1988 đến nay; số liệu giải quyết án được phân tích và đánh giá từ năm 2011 đến 2017.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Xuất pháttừmục đích nghiêncứucủaluận án, tác giảxácđịnhđối tượng nghiên cứu là:

5

– Các quan điểm lý luận về khởi tố vụ án hình sự;

– Quyđịnhkhởitốvụán hìnhsựtrong pháp luật tốtụng hìnhsựViệt Nam và pháp luật một số nước thế giới;

– Thực tiễn khởi tố vụ án; những khó khăn, vướng mắc, bất cập, tồn tại đểlàm cơ sởcho việc đềra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tháogỡvướng mắc trong thực tiễn.

4. Những điểm mới của luận án

Luận án là công trình chuyên sâuởcấpđộLuận án tiến sĩ nghiên cứu toàn diện, hệ thống về khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Điểm mới của Luận án thể hiện trong các điểm sau:

– Luận án đã làm rõ khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo hướng khẳngđịnhkhởitốvụán hìnhsựlà mộtgiaiđoạntốtụngmởđầucho quá trìnhtốtụng hình sự, cơsởlý luận và thực tiễn của quyđịnhkhởitốvụán hìnhsựtrong tố tụng hình sự Việt Nam.

– Luận án đã khái quát quá trình hình thành, phát triển và phân tích các quy định hiện hành về khởi tố vụ án hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam, rút ra những kế thừa cần thiết cho việc tiếp tục hoàn thiện quy định này.

– Luận án nghiêncứukhái quát quyđịnhpháp luậttốtụng hìnhsựvềvấn đề khởi tố vụ án hình sự của một số quốc gia trên thế giới như Liên bang Nga, Trung Quốc, Pháp, Đức… là những nước mà pháp luật Việt Nam có ảnh hưởng nhất định và từ đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam.

– Luận án đã phân tích thực tiễn khởi tố vụ án hình sự, những hạn chế, vướng mắc trong khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan có thẩm quyền và các nguyên nhân cụ thể dẫn đến những hạn chế này.

– Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn, Luận ánđề xuất các giải pháp hoàn thiện quyđịnhpháp luậtvề khởi tốvụán hình sự

6

trong tố tụng hình sự Việt Nam cũng như những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng quy định này trong thực tiễn.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

– Về mặt khoa học: Luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của khởitốvụán hìnhsựtrongtốtụng hìnhsựViệt Nam và đềra giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự.

– Về mặt thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của Luận án là cơ sở để cơquan có thẩm quyền nghiên cứu, vận dụng trong quá trình hoàn thiện pháp luật tốtụng hình sự. Đồngthời qua việc phát hiện nhữngtồntạitrong thực tiễn khởi tố vụ án hình sự, Luận án đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn khởi tố vụ án hình sự.

Ngoài ra, những kết quả nghiên cứu của Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảngdạyvà đàotạovềpháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

7

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Làm rõ khái niệm và đặcđiểmcủagiaiđoạnkhởitốvụán hình sự; Xác địnhmốiquanhệgiữa giaiđoạnkhởitốvà các giaiđoạntốtụng khác; Trên cơ sở đó phân tích làm rõbảnchất pháp lý và ý nghĩa của giai đoạn khởi

tố vụ án hình sự.

– Làm rõ quá trình hình thành, phát triển và nội dung quy định khởi tố vụán hìnhsựhiện nayởViệt Nam; so sánhvớiquyđịnhcủa pháp luậttốtụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới.

– Đánh giá thực tiễn khởitốvụán hìnhsựởViệt Nam trong thời gian qua; xác địnhnhữnghạnchếcòntồntạivà phân tích nguyên nhândẫnđến những hạn chế. Trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quyđịnh khởi tố vụ án hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế.

3. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 3.1. Cơ sở lý thuyết

3.1.1. Câu hỏi nghiên cứu

Nhằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài, Luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:

-Nộihàm khái niệm khởitốvụán hìnhsựtrongtốtụng hìnhsựViệt Nam? Khởi tố vụ án hình sự bao gồm những hoạt động gì?

18

– Quanhệgiữa hoạtđộngkhởitốvụán hìnhsựvớicác hoạtđộngtốtụng khác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự?

– Bản chất pháp lý của khởi tố vụ án hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam?

– Nội dung khởi tố vụ án hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam?

– Quy định về khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm gì cho Việt Nam?

– Thực tiễn khởi tố vụ án hình sự ở nước ta như thế nào? Có những bất cập, hạn chế nào trong thực tiễn khởi tố vụ án hình sự?

– Việc hoàn thiện quy quyđịnhpháp luậttốtụng hìnhsựViệt Namvềkhởitốvụán hìnhsựcầndựa trên những yêu cầu, điềukiện gì? Những giải pháp cụ thể nào cho việc hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, phù hợp với xu thế phát triển của đất nước?

3.1.2. Lý thuyết nghiên cứu

Lý thuyết nghiên cứu (những vấn đề lý thuyết sẽ được đề cập và sử dụng trong đề tài Luận án) bao gồm:

– Học thuyết của chủnghĩa Mác –Lênin và tưtưởngHồchí Minhvềnhà nước và pháp luật;

-Chủtrương, đườnglốicủa Đảngvềchính sách hìnhsựgắnliền với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thời kỳ đổi mới, bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự;

– Những vấn đề lý luận về khởi tố vụ án hình sự tại Việt Namvà một sốquốc gia khác trên thế giới.

3.1.3. Giả thuyết nghiên cứu

19

Hoạt động khởi tố vụ ánhình sự vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế nên dẫn đến tình trạng làm oan người không có tội, bỏ lọt tội phạm. Điều đó là do quyđịnh pháp luật tố tụng hình sự hiện hành vẫn còn nhiều bất cập, thiếu hợp lý, chưa thực sựxuất pháttừcác chức năngtốtụng, từyêucầubảovệcông lý, bảovệquyền conngườitrong tố tụng hìnhsự. Việc sửa đổi, bổsung các quyđịnhcủa pháp luậttốtụng hìnhsựvềkhởitốvụán hìnhsựđểkhắc phục nhữngbấtcập, điềuchỉnh các tình huống phát sinh trong thựctếlà cầnthiết nhằm hoàn thiện quy định khởi tố vụ án hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

3.1.4. Dự kiến kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của đề tàidù ở mức độ dự kiến cũng sẽ gắn liền với các câuhỏivà giảthuyết nghiêncứuđãđược xác định. Luận ándựkiếnđạt được những kết quả sau đây:

– Bổ sung, phát triển lý luận về khởitố vụ ánhình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam.

– Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện các quy định vềkhởi tố vụ án hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam.

– Đưa ra những giải pháp hoàn thiện quy định về khởi tố vụ án hình sựtrong tố tụng hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực hiện trong thực tiễn.

3.1.5. Nội dung kết cấu Luận án

Ngoài phầnmởđầu,tổng quanvềvấnđềnghiên cứu, kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì Luận án cấu trúc gồm 3 chương:

– Chương 1. Nhữngvấn đề lý luận về khởi tố vụ án hình sự

– Chương 2. QuyđịnhBLTTHS 2003 và BLTTHS 2015vềkhởitốvụán hình sự

20

– Chương 3. Thực tiễn khởi tố vụ án hình sự và giải pháp nâng cao hiệu quả khởi tố vụ án hình sự

3.2. Phương pháp nghiên cứu và hướng tiếp cận 3.2.1. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để phân tích và làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu.

Quá trình nghiên cứu đề tài được thực hiện trên cơ sở gắn liền lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Lý luận và phương pháp luận này đòi hỏi quá trình phân tích, đánh giá, so sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước, các kết luận đưa ra không thểmang tính chất khen hay chê mà chỉ là sự khác biệt hay tương đồng. Những sựkhác biệt hay tương đồng này phải được đánh giá trong bối cảnh lịchsử cụ thểcủa từng giai đoạn hình thành, phát triển của hiện tượng pháp luật này.

Trong quá trình nghiên cứu, Luận án vận dụng TưtưởngHồChí Minh về Nhà nước và Pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhànước pháp quyền xã hộichủnghĩa Việt Nam, vềcảicách tư pháp, nhằm bảo đảm các kết quả nghiên cứu và các đề xuất kiến nghị phù hợp với quan điểm,đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Các vấn đề trong Luận án được phân tích, lý giải trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát xã hội học, phỏng vấn chuyên gia, người tiến hànhtốtụng,ngườitham giatốtụng… nhằm giải quyết các mục đích, nhiệmvụnghiêncứucủa Luận án. Các phương pháp phân tích, so sánh tổng hợp được sử dụng khi phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, so sánh vớiyêu cầu, đòihỏi của thực tiễn, từ đótìm ra ưuđiểmcũng như những hạn chếbấtcậpcủa chúng, làm cơ sởcho việc hoàn thiện pháp luật. Các sốliệu giải quyết án hàng năm, điềutra xã hộihọc, thông tin về tình hình giải quyết

21

án từ báo cáo công tác, thông báo rút kinh nghiệm và phương tiện thông tin đại chúngsẽđượctổng hợp, phân tích, nghiên cứu, làm cơ sởchođềxuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

3.2.2. Hướng tiếp cận của đề tài nghiên cứu

– Luận án kế thừa (có chọn lọc, phân tích, đánh giá) các kết quả nghiên cứu đã được công bố trước đó với mục đíchbổ sung, hoàn thiện các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án.

– Luận án tiếp cận nghiên cứu các quy định của luật thực định liên quanđến đề tài để làmrõnhững vấn đề lý luận về khởi tố vụ ánhình sự cũng nhưnhững thiếu sót, hạnchế, vướngmắc củaquyđịnhnày trong quá trình nhận thức và áp dụng.

– Luận án tiếp cận thực tiễn thông qua việc nghiên cứu số liệu giải quyết án hàng năm, thông tin từ báo cáo công tác và thông báo rút kinh nghiệm trong giải quyết áncủacủa các cơ quan tiến hànhtốtụngcấptỉnh và Trung ương, thông tin về vụ án đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua khảo sát tại các địa phương và phỏng vấn những người tiến hành tố tụng hoặc trực tiếp nghiên cứu các hồ sơ vụ án.

– Các kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ được thực hiện trên cơ sở gắn kết chặt chẽ pháp luật thực định với các lý thuyết khoa học, gắn kết chặt chẽ lýluận và thực tiễn cuộc sống nói chung, thực tiễn áp dụng pháp luật nói riêng. Cách tiếpcậnnày cho phép đánh giá tính phù hợp, tính tương thích của các quy định pháp luật với lý luận và thực tiễn. Kết cấu các chương mục của Luận án phản ánh hướng tiếp cận này.

 

Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam
Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI TỐ

VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Khởi tố vụ án hình sự – giai đoạn độc lập của Tố tụng hình sự1.1.1. Khái niệm giai đoạn tố tụng hình sự

Nhiệm vụ của tố tụng hình sự là bằng những trình tự và thủ tục luật định phát hiện nhanh chóng, chính xác và xửlý công minh, kịpthờimọihành vi phạm tội. Đólà nhiệmvụtrọng tâm cũngđồngthời là mục đíchcủatốtụng hình sự.

Tuy nhiên, hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động phức tạp, gắn liền với việc phát hiện, xử lý tội phạm và người phạm tội. Hoạt động đó liên quan trực tiếpđếncác quyền, lợiíchhợppháp của con người. Vì vậy, nhiệmvụtrọng tâm, mục đích của tố tụng hình sự không thể đạt được bằng mọi giá; hoạt động

tố tụng hình sự phải được giới hạn trong những phạm vi nhất định. Mục đích tốtụng được thực hiện phải trên cơ sở không chỉ không bỏ lọt tội phạm, mà quan

trọng hơn là không làm oanngườikhông có tội, bảovệquyền vàlợiích hợp pháp của công dân. Vì vậy, không ngẫu nhiên mà BLTTHS quyđịnhmục đích, nhiệmvụcủa tốtụng hìnhsựlà phòng ngừa, ngăn chặntộiphạm; phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời tội phạm, không để

lọttộiphạm, không làm oanngườikhông có tội;bảovệlợiích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân.

Đểthực hiện có hiệuquảcác nhiệmvụtốtụng,đạtđược mục đíchtốtụng nêu trên, BLTTHS quy định trình tự, thủ tục toàn bộ quá trình tố tụng qua từng giai đoạn gắn liền với hoạt động phong phú của các cơ quan tiến hành tốtụng, những người tiến hành tố tụng và hoạt động của người tham gia tố tụng khác. Trình tự, thủ tục đó tạo ra khả năng tối ưu cho việc thực hiện mục đích tố

tụngđốivớiviệc xửlývụán nói chung và mục đích, nhiệmvụtrực tiếp của từng giai đoạn tố tụng nói riêng.

23

Nghiên cứu BLTTHSnướcta cũng như nhiều quốc gia trênthếgiới, chúng tôi thấy rằng dù cơ cấu của Bộ luật có khác nhau, các phân chia các giaiđoạn tố tụng cókhác nhau, nhưng có những điểm giống nhau nhất định. Theo pháp luật tố tụng của các quốc gia thì giai đoạn tố tụng được quy định như là một phần độc lập tương đối của tố tụng hình sự, có những đặc điểm sau:

Thứnhất, mỗigiaiđoạntốtụng có những nhiệmvụtốtụng nhất định. Nhiệm vụ chung cơ bản của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự là phát hiện, xửlýkịpthời, đúngđắn, khách quan, công minhtộiphạm. Tuy nhiên, đểhoàn thành được nhiệm vụ chung đó, quá trình tố tụng được thực hiện qua các giaiđoạn khác nhau;mỗigiaiđoạncó nhiệmvụcụthểriêng của mình: nhiệmvụgiai đoạn khởi tố vụ án là xác định dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tốhay không khởi tố vụ án; nhiệm vụ giai đoạn điều tra là xác định các tình tiết của tội phạm và người phạm tội để ra quyết định khởi tố bị can, kết thúc điều

tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra…

Mỗigiaiđoạntố tụnglà một phần độc lậptươngđối, nhìn chung được giớihạnbằng thờiđiểmbắtđầuvà thờiđiểmkếtthúc. Tuy nhiên, các giaiđoạn tố tụng không chỉ nối tiếp nhau một cách đơn thuần, mà có mối liên kết tốtụng qua lại,tạođiềukiện và kiểm tra lẫnnhaumộtcáchhệthống. Giaiđoạn trước là điều kiện làm phát sinh giai đoạn sau; giai đoạn tố tụng tiếp theo chỉđược thực hiện khi nhiệmvụgiaiđoạntrước đã được hoàn thành và giaiđoạn sau kiểm tra tính đúng đắn, khách quan kết quả tố tụng của giai đoạn tố

tụng trước.

Thứhai, mỗigiaiđoạncó những cơ quan, ngườitiến hànhtốtụng vànhững người tham gia tố tụng xác định. Khối lượng, phạm vi, quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể quan hệ tố tụng cũng khác nhau trong mỗi giai đoạn.

Trong giaiđoạnđiềutra vụán, cơ quan tiến hànhtốtụng chính là cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra; còn Viện kiểm sát là cơ quan thực hiện việc kiểm sát điều tra. Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm

24

sát là cơ quan tiến hànhtốtụng chính. Trong giaiđoạnxét xử, cơ quan tiến hành tố tụng chính là Tòa án; Viện kiểm sát thực hiện việc kiểm sát xét xử và

thực hành quyền công tố tại phiên tòa v.v…

Nhữngngườitham gia tốtụng cũng cósựkhác nhau trong từng giaiđoạntốtụng: trong giaiđoạnkhởitốvụán cóthểchưa có hoặc cóngườibịnghi thực hiệntộiphạm; trong giaiđoạnxétxửphúc thẩm, đặc biệt là giámđốc thẩm, tái thẩm người tham gia tố tụng lại càng hẹp hơn. Ngay đối với cùng một người tham gia tố tụng thì trong các giai đoạn tố tụng khác nhau, địa vị tố

tụng cũng khác nhau tùy theo nhiệm vụ, bảnchất của mỗigiai đoạn. Ví dụ, người bị tạm giữ cóđịa vị pháplý khác với bị can trong giai đoạn điều tra; bịcan trong giaiđoạnđiềutra, truytốcó quyền và nghĩa vụtốtụng khác với

quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị cáo trong giai đoạn xétxử v.v…

Khi nghiên cứu đặc điểm này của giai đoạn tố tụng, chúng tôi thấy một vấn đề cần xem xét là khái niệm bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự. Theo quyđịnh của khoản 1 Điều 50 BLTTHS thì bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Như vậy, trong giai đoạn xét xử người bị truy cứu trách nhiệm hình sự vừa là bị can (trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử), vừa là bịcáo. Điềunày không thật phùhợpvới đặc điểmvềchủthểtốtụng trong giaiđoạntốtụng. Theo chúng tôi, phải chăng nên coi là bịcáo “làngườiđãcóquyếtđịnhtruy tốbằngbảncáo trạng”.Điềunày không làm thayđổiđịa vịpháp lý của người bị truy tố nhưng phù hợp hơn với lý thuyết về giaiđoạn tố

tụng hình sự.

Thứ ba, mỗi giai đoạn có một trình tự, thủ tục các hành vi tố tụng riêng. Trình tự, thủ tục đó do bản chất pháp lý, nội dung các nhiệm vụ cần giải quyết và những đòi hỏi cụ thể của các nguyên tắc tố tụng chung được thể hiện trong giaiđoạnđóquyết định. Ví dụ, nhiệmvụtrongkhởi tốvụánchỉlà xác định dấu hiệu nào đó của tội phạm; trong khi đó nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là xác định đầy đủ, chính xác các dấu hiệu của tội phạm và người phạm tội, cho

25

nênthủtục xác minh tin báovềtộiphạm trong giaiđoạnkhởitốvụán khác với thủ tục các hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra; tuy cùng là xét xử, nhưng dobảnchất pháp lý khác nhau, cho nênthủtục xétlạibảnán, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (giám đốc thẩm, tái thẩm) khác với thủ tục xét xửphúc thẩm, và lại càng khác thủ tục xét xử sơ thẩm.

Thứtư, mỗigiaiđoạnđược kếtthúc bằng vănbảntốtụng khác nhau. Giaiđoạn khởi tố vụ ánđược kết thúc bằng quyết định khởi tố vụ án; giai đoạn điều tra vụ án được kết thúc bằng văn bản kết luận điều tra đề nghị truy tố; giaiđoạntruytốđược kếtthúc bằngbảncáo trạng; các giaiđoạnxétxửkếtthúc

bằng bản án, quyết định…

Tuy nhiên, các quyết định tố tụng trên thể hiện kết quả hoạt động tố tụng của cả quá trình tố tụng hoàn chỉnh. Nếu vụ án được chấm dứt giữa chừng vìnhững lí do luậtđịnhthìmỗigiaiđoạncóthểđược kếtthúc bằngmộtquyết định tố tụng khác: Ở giai đoạn khởi tố vụ án có thể là quyết định không khởi tốvụán;ởgiaiđoạnquyếtđịnhtruytốcóthểlà quyếtđịnhđìnhchỉvụán của Viện kiểm sát;ởgiaiđoạnchuẩnbị xét xửsơ thẩm cóthểlà quyết định đình

chỉ giải quyết vụ án của Thẩm phán v.v…

Nội dung cũng như hình thức các văn bản tố tụng trên có sự khác nhau tùy theo bản chất, nhiệm vụ tố tụng của từng giai đoạn cũng như kết quả hoạt động tố tụng đạt được trong từng giaiđoạn tố tụng.

Thứ năm, mỗi giai đoạn tố tụng, các quan hệ tố tụng có những đặc điểm riêng của mình tùy theo chức năng tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, địa vị tố tụng của người tiến hành tố tụng cũng như người tham gia tố tụng. Vídụ: Mặc dù Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, trongđócó hoạtđộngđiềutra và hoạtđộngxét xử, nhưngmốiquanhệcủaViện kiểm sát với cơ quan điều tra (chủ thể tiến hành tố tụng chính) trong giai đoạn điềutra khác vớiquanhệvớiTòa án (chủthểtiến hànhtốtụng chính) trong giai đoạn xét xử. Nếu như trong giai đoạn điều tra vụ án, Viện kiểm sát là cơ

26

quanchỉ đạo điềutra, có quyềntựmình ra mộtsốquyếtđịnhvà giao cho cơquan điều tra thực hiện hoạt động điều tra, có quyền hủy bỏ một số quyết định của cơ quan điều tra, giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng

củaĐiềutra viên, Thủtrưởng Cơ quanđiềutra…; thì trong giaiđoạnxétxửvai trò của Viện kiểm sát trong mối quan hệ với Tòa án hạn chế hơn nhiều, bógọn trong quyền kiến nghị, yêu cầu đối với hoạt động tố tụng, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án.

Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa: Giai đoạn tố tụng hình sự làcác phần độc lập, liên quan, kế tiếp nhau liên tục, giai đoạn trước là điều kiện, là cơsởpháp lý làm phát sinh giai đoạn sau, giai đoạn sau thay thế và kiểm trakếtquảcủagiaiđoạntrước, tạothànhmộtquá trìnhtốtụng hoàn chỉnh, liên tục; có nhiệm vụ tố tụng cụ thể; có cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hànhtốtụng vàngườitham giatốtụng tương ứng; có trình tự, thủtục thực hiện các hành vi tố tụng riêng; các quan hệ tố tụng riêng và những quyết định tốtụng riêngđảmbảogiải quyếtvụán hìnhsựmộtcách đúngđắn, khách quan, toàn diện và kịp thời.

1.1.2. Khái niệm giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Hiện nay, trong khoa học luật tố tụng hình sự, thuật ngữ“khởi tố vụ án hình sự”có thể được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau. Trước hết, khởi tố vụ án hìnhsựđược hiểudướigóc độlàmộtchếđịnhcủa luậttốtụng hình sự, bao gồm tập hợp những quy định về trình tự và thủ tục khởi tố vụ án hình sự. Bên cạnh đó, khởi tố vụ án hình sự cũng có thể được hiểu là một quyết định tố tụng mởđầuchomộtvụán hình sự, đólà quyếtđịnhkhởitốvụán hình sự. Tuy nhiên, thông thường thì thuật ngữ“khởi tố vụ án hình sự”được hiểu dưới gócđộlà mộtgiaiđoạnđộc lậpcủa quá trìnhtốtụng hình sự. Trong những năm qua, định nghĩa về“khởi tố vụ án hình sự”đã được nhiều chuyên gia pháp lýhình sự đề cập đến trong các từ điển luật học, các giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, các công trình nghiên cứu và bài báo khoa học, cụ thể như sau:

27

TheoTừđiểnLuật học củaViện Khoa học pháp lý(BộTư pháp) thì:

“Khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng xác định cósựviệc phạmtộiđểtiến hành điều tra phát hiện tội phạm”1. Theo quan điểm của tácgiảthìđịnhnghĩa này chưa chính xác vì bên cạnh các cơ quan tiến hành tố tụng thì hoạt động khởi tố vụ án hình sự còn được thực hiện bởi một sốcác cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như:

Bộđộibiên phòng, Hảiquan, Kiểm lâm, lực lượngCảnh sát biển… Các cơquan nàysẽ cóthẩm quyền khởi tố vụ án hình sự nếu sự việc có dấu hiệu tội phạmxảyra thuộc trườnghợpđược quyđịnhtạiĐiều111 BLTTHS hiện hành.

Giáo trình LuậtTốtụng hìnhsựViệt Nam của TrườngĐạihọc Luật Hà Nội đưa ra định nghĩa như sau: “Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của trình tự tố tụng, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra códấuhiệucủatộiphạm hay khôngđểquyếtđịnhkhởitốhay quyếtđịnh không khởi tố vụ án hình sự”2. Như vậy, theo quan điểm này thì khởi tố vụ án hình sự được xem là giai đoạn đầu tiên, mở đầu cho quá trình tố tụng hình sự. Trong giai đoạn này, nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền là xem xét, xácđịnh một sự việc xảy ra trên thực tế có dấu hiệu của tội phạm haykhông để từđó tiến hành ra một trong hai loại quyết định: khởi tố vụ án hình sự nếu có dấu hiệu của tội phạm hoặc không khởi tố vụ án hình sự nếu không có dấu hiệu của tội phạm.

Giáo trình LuậtTốtụng hìnhsựViệt Nam của TrườngĐạihọc Luật Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa khởi tố vụ án hình sự một cáchcụthể hơn: “Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập của quá trình chứng minhvụán hìnhsự,trongđócơ quan có thẩm quyền xác địnhcó hay không dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án.

1 Viện Khoa học pháp lý (2006),Từđiển luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.429.

2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, HàNội, tr.233;

28

Giaiđoạnkhởitốbắtđầutừviệc tiếp nhận thông tinvềtộiphạm hoặc phát hiệndấuhiệutộiphạm vàkếtthúc bằngmộtquyếtđịnhkhởitốhoặc không khởi tố vụ án hình sự”3. Dựa vào định nghĩa này, có thể hiểu khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận thông tin về tội phạm hoặc phát hiện dấu hiệu tội phạm và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền ra quyếtđịnhkhởitốhoặc ra quyếtđịnhkhông khởi tố vụ ánhình sự. Việc ra một trong hai loại quyết định này tùy thuộc vào việc cơ quan có thẩm quyền xác địnhmộtsựviệc xảyra trên thực tếcó dấu hiệu của tội phạm hay không. Tuy nhiên, khái niệm này cho rằng khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn trong quá trình chứng minh là thiếu chính xác.

Định nghĩa về khởi tố vụ án hình sự cũng được GS.TSKH Lê Cảm đưa ra, theođó:“Khởitốvụán hìnhsựlà giaiđoạntốtụng hìnhsựđầutiên màtrong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xãhội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyếtđịnhvềviệc khởitố(hoặc không khởi tố) vụán hìnhsựliên quanđếnhành viđó”4. Trongđịnhnghĩa này, ngoài các yếutốthuộc vềnội hàm của khởi tốvụ án hìnhsự đãđượcnêu như trên, GS.TSKH Lê Cảmcòn bổ sung một yếu tố rất quan trọng, đó là các cơ quan tư pháp hình sự phải “căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự” khi tiến hành việc xác định có hay không các dấuhiệu của tộiphạm.Yếutốnàyrấtquan trọng, vì hoạt độngxác minh không tuânthủcác quyđịnhcủa pháp luậttốtụng hìnhsựsẽkhông có giá trị chứng minh và không được sử dụng làm chứng cứ. Tuy nhiên, theo quanđiểmcủa tác giảthì bên cạnh việc “căncứvào các quy địnhcủa pháp luậttốtụng hìnhsự”thì trong khởitốvụán hìnhsự,cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền cần phải căn cứ các quy định của luật nội dung là pháp

3 Trường Đại học Luật TPHCM (2015), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXBHồng Đức,TPHCM, tr.330.

4 Lê Cảm (2004), “Một sốvấnđề lýluận chung về các giai đoạntốtụng hình sự”,Tạpchí Kiểm sát (02), tr.21.

29

luật hình sự để xác định chính xác hành vi được thực hiện có dấu hiệu của tội phạm hay không. Đồng thời, việc xác định có hay không có các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện để quyết định về việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự không chỉ thuộc thẩm quyền của các cơ quan tư pháp hình sự mà còn thuộc thẩm quyền của một số cơ quan khác như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển… trong một số trường hợp luật định. Ngoài ra, quan điểm cho rằng khởi tố vụ án hình sự do các cơ quan tư pháp hình sự thực hiện là không chính xác theo tinh thần xây dựng Nhà nước pháp quyền của Hiến pháp 2013.

GS.TS Võ Khánh Vinh đưa ra định nghĩa về Quyết định khởi tố vụ án hình sự, trong đó có bao hàm nội dung của định nghĩa khởi tố vụ án hình sự: “Quyếtđịnhkhởitốvụán hìnhsựlà hành vitốtụng hìnhsựcủamộtpháp nhân (chủ thể tiến hành tố tụng) có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự biểu hiện bằngmộtvănbảntốtụng hìnhsựxác địnhmộtsựkiện pháp lý xảy ra trong thực tế có dấu hiệu của tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS nhằm khởi phát những quan hệ tố tụng, mở đầu cho việc thực hiện những hành vi tố tụng cần thiết để làm rõ sự thật khách quan về sự kiện đó. Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền nhận được tin báo về tội phạm, kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra được một trong hai quyết định làquyết định khởi tố vụ án hình sự và quyết định không khởi tố vụ án hình sự”5. Theo quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh thì giai đoạn khởi tố vụ án hình sựđược bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền nhận được tin báo về tội phạm vàkết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra được một trong hai quyết định là quyết định khởi tố vụ án hình sự và quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Quyết địnhkhởitốvụán hìnhsựđượcđưara khi cơ quan có thẩm quyền xácđịnh một sự kiện pháp lý xảy ra trong thực tế có dấu hiệu của một tội phạm cụ thểđược quy định trong BLHS. Đồng thời, việc khởi tố vụ án hình sự sẽ làm khởi

5 Võ Khánh Vinh (2004), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.268, 269.

30

phát những quan hệ tố tụng, mở đầu cho việc thực hiện những hành vi tố tụng cần thiết để làm rõ sự thật khách quan về sự kiện pháp lý đó.

Như vậy, tuymộtsốnộidung trong các định nghĩa nêu trên về khởitốvụán hìnhsựvẫn chưa đượcthống nhất nhưng những định nghĩa nàyđềucóchung nội hàm như sau:

Thứ nhất, khởitố vụán hình sự là giaiđoạn tố tụng hình sự đầutiên, mở đầu cho quá trình tố tụng hình sự.

Thứhai, trong giaiđoạn khởitốvụán hình sự, các cơ quan có thẩm quyền phải xácđịnh cósự việc phạm tội xảy ra hay không; sự việc đó có dấu hiệu tội phạm hay không?

Thứ ba, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định khởi tố vụ án hình sự sau khi xác định hành vi có dấu hiệu của tội phạm hoặc không khởi tố vụ án hình sự sau khi xác định hành vi không có dấu hiệu của tội phạm.

Theo quan điểm của tác giả, bên cạnh những nội dung đã được thống nhất như trên, địnhnghĩa vềkhởitốvụán hìnhsựcòn phải bao hàm thêm những nội dung sau:

Một là, nêu lên những căn cứ mà các cơ quan có thẩm quyền phải dựa vàođể tiến hành việc xácđịnh cóhay không các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi đã được thực hiện, cụthểlà phải căncứvào“các quy địnhcủapháp luật hình sự và tố tụng hình sự”.

Hai là, xác địnhthờiđiểmbắtđầuvà thờiđiểmkếtthúc củagiaiđoạn khởi tố vụ ánhình sự. Tác giả đồng tình với quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh và quanđiểmđược đưa ra trong Giáo trình LuậtTốtụng hìnhsựViệt Nam của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, theođó: “Giai đoạn khởi tố bắt đầu từ việc tiếp nhận thông tin về tội phạm hoặc phát hiện tội phạm và kết thúc bằng một quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự”.

31

Từ những luận điểm như trên, tác giả đưa ra khái niệm như sau:Khởi tốvụán hình sự là một giaiđoạn tốtụng hình sự đầu tiên, trongđócơ quan hoặc người có thẩm quyền căn cứvào các quy định củapháp luật hình sựvàtố tụnghình sự xác định có hay không dấu hiệu tội phạm để quyết định khởitốhoặc quyếtđịnh không khởitốvụán. Giai đoạn khởitố bắtđầu từkhi tiếp nhận thông tin về tội phạm hoặc phát hiện tội phạm và kết thúc khi quyếtđịnh khởitốhoặc quyếtđịnhkhông khởitốvụán hình sựđược ban hành.

1.1.3. Đặc điểm, ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự1.1.3.1. Đặc điểm của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Vớitính chất là mộtgiaiđoạntốtụngđộc lập, khởitốvụán hìnhsựcónhững đặc điểm riêng biệt như sau:

Thứ nhất, nhiệm vụ đặc trưng của giaiđoạn khởi tố vụ ánhình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền sẽ xác định một sự việc xảy ra trong thực tế có hay không códấuhiệutộiphạmđểquyếtđịnhkhởitốhay không khởitốvụán hình sự, đảm bảo phát hiện kịp thời, nhanh chóng tội phạm và người phạm tội, xác định sự thật khách quan của vụ án, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tộivà tránh làm oanngườivô tội. Quyếtđịnhkhởitốvụán hìnhsựlà cơ sởpháp lý đầu tiên để các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện những hoạt động tố

tụng trong các giai đoạn tố tụng hình sự kế tiếp là điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Giữa các giai đoạn này có mối quan hệ qua lại và tácđộng lẫn nhau mà trong đó, giaiđoạntốtụng trước là tiềnđềcầnthiết cho việc thực hiện nhiệmvụcủagiaiđoạntốtụng sau còn giaiđoạntốtụng sausẽkiểm nghiệm kết quả của giaiđoạn tố tụng trước đó.

Thứ hai, chủ thể thực hiện các hoạtđộngtố tụngtrong giai đoạn khởi tốvụán hìnhsựrất đa dạng. Trước hết, theo quyđịnhcủa BLTTHS hiện hành, các cơ quan có thẩm quyền khởitốvụán hìnhsựbaogồmcác cơ quan tiến

32

hànhtốtụng, cụthểlà Cơ quanđiềutra, Viện kiểm sát và Tòa án. Bên cạnhđó, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, một số cơ quan khác như: Bộđộibiên phòng, Hảiquan, Kiểm lâm, lực lượngCảnh sát biển, Kiểm ngư, cơquan khác trong Công an nhân dân, Quânđộinhân dânđược giao nhiệmvụtiến hành một số hoạt động điều tra có quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong một số trường hợp luật định.

Để xác định hành vi xảy ra trên thực tế có dấu hiệu tội phạm hay không, các cơ quan này cần căncứvào các dấu hiệu pháp lý của tội phạmđược quyđịnh trong BLHS. Đồng thời, các cơ quan này cần phải nghiêm chỉnh thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao và tuân thủ các thủ tục tố tụng được quyđịnh trong BLTTHS.

Thứba, căncứkhởitốvụán hìnhsựlà sựviệc được tốgiác, thông báo hoặc phát hiện có dấu hiệu của tội phạm. Để khởi tố vụ án hình sự, phápluật tốtụng hìnhsựchỉyêu cầu ”códấuhiệucủatộiphạm”, mà không cần ”cóđủ

dấu hiệu của tội phạm”. Bởi vì, quyết định khởi tố vụ án chưa có nghĩa là buộc tội bất kỳmột ai, mà chỉ là mở đầu một vụ ánđể Cơ quan điều tra có căn cứtiến hành các hoạt động điều tra cụ thể được pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án.

Thứ tư, thời hạn tố tụng dành cho giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được luật tố tụng hình sự quy định chặt chẽ để hạn chế việc kéo dài, ảnh hưởng đến quyền và lợiíchhợpphápcủanhữngngườichịu tác độngcủa hành vi phạm tội, đặc biệt là ngườibị hại, cũng nhưsớmlập lại trật tựkỷcương pháp luật. Thông thường, thời gian dành cho giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là hai mươi ngày, kểtừngày cơ quan có thẩm quyền nhậnđược tốgiác, tin báovềtội phạm và kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báovềtộiphạm hoặc kiến nghị khởitốcó nhiều tình tiết phức tạphoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng. Kếtthúc thời gian này, cơ quan có thẩm quyền

33

phải ra quyếtđịnhkhởitốvụán hìnhsựnếuxácđịnhcódấuhiệutộiphạm hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nếu không có dấu hiệu tội phạm. Giai đoạn khởi tố kết thúc có thể là sự khởi đầu của các giai đoạn tố tụng tiếp theo hoặc cũng có thể là sự chấm dứt quá trình tố tụng hình sự.

Thứ năm, hoạt động tố tụng đặc trưng trong giaiđoạn khởi tố vụ ánhình sự là hoạt động tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Các hoạt động này nhằm xác định tiền đề pháp luật về nội dung của việc điều tra vụ án hình sự, tức xác địnhdấuhiệutộiphạm. Sau khi tiếp nhận thông tinvềtộiphạm, cơ quan cóthẩm quyền phải tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin, tùy từng sự việc màđề rabiện pháp kiểm tra, xác minh phù hợp. Qua kiểm tra, xác minh thông tin vềtộiphạm, xác địnhcódấuhiệu của tộiphạm thì cơ quan có thẩm quyền khởitốvụán hìnhsựphải ra quyếtđịnhkhởitố;nếukhông códấuhiệu tội phạm thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Thứ sáu, các quyết định tố tụng kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án hình sựlà Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Quyết định khởi tố vụ án hình sự được các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đưa ra khi xác định sự việc có dấu hiệu của tội phạm. Quyết định khởi tố vụ ánhình sự là văn bản pháp lý kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, mở ra giai đoạn tố tụng tiếp theo là giai đoạn điều travụ ánhình sự. Quyết định này là văn bản pháp lý làm cơ sở để tiến hành một cách hợp pháp các hoạt động tiếp theo nhằm làm rõvụ ánhình sự và là cơ sở pháp lý trực tiếp của các quanhệpháp luậttốtụng hìnhsựphát sinh liên quanđếnviệc giải quyết vụ án. Với giá trị pháp lý và các quy định chặt chẽ trong việc ban hành quyếtđịnhkhởitốvụán hìnhsựnên giaiđoạnkhởitốkếtthúc bằng việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đã xác định tiền đề pháp luật về hình thức của việc điều tra vụ án hình sự.

34

Quyếtđịnhkhông khởitốvụán hìnhsựđược các cơ quan có thẩm quyền đưa ra khi xác định sự việc không có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sựhoặc khi xác định được một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự, gồm: Không cósựviệc phạm tội; Hành vi khôngcấuthànhtộiphạm; Ngườithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạmtội của họ đã có bảnán hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tộiphạmđã được đạixá;Ngườithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộiđãchết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác. Trong trường hợp vụ ánđãbị khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền phải ra quyếtđịnh hủy bỏ quyếtđịnh khởi tố và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về

tội phạm biết rõ lý do.

1.1.3.2. Ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự với tính chất là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên có ý nghĩa rấtquan trọng vềmặtpháp lý và vềmặtchínhtrị- xã hội đối với quá trình tố tụng hình sự, cụ thể như sau:

Về mặt pháp lý: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của quá trình tốtụng, tạocơ sởpháp lýđểthực hiện các hoạtđộngtốtụng trong các giaiđoạntiếp theođểgiải quyếtvụán hìnhsựtrong trườnghợpcác cơ quan có

thẩm quyền xác định sự việc xảy ra trên thực tế có dấu hiệu tội phạm. Mọi hoạt động tố tụng hình sự (trừ một số trường hợp đặc biệt) chỉ có thể được tiến hành khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Đồng thời, việc khởi tố vụ án hình sựsẽlàm phát sinh quyền và nghĩavụcủa các cơ quan có thẩm quyền như: Cơ

quanđiềutra, Viện kiểm sát, Tòaán… khi thực hiện các hành vitốtụngđểphát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội. Khởi tố vụ án hình sự góp phần vào thực hiện mục tiêu chung của quá trình tố

tụng, tạođiềukiện thuậnlợicho các giaiđoạntốtụng tiếp theo vàđảmbảo cho toàn bộ quá trình tố tụng tiến hành đúng hướng.

35

Bên cạnh đó, thờiđiểmbắtđầusửdụng các quyđịnhcủaBLTTHSđểxửlýtộiphạm vàngườiphạmtộiđược xác địnhlà khi các cơ quan có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hình sự. Kể từ thời điểm này, quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa Nhà nước và người thực hiện tội phạm sẽ phátsinh.

Về mặt chính trị – xã hội: Khởi tố vụ án hình sự là một trong những biện pháp quan trọng nhằm phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của nhànước, xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Việc khởitốvụán hìnhsựmộtcáchkịpthời, có căncứvà đúng pháp luật là mộttrong nhữngbảođảmđểmọihành vi phạmtộiđềubịphát hiện nhanh chóng, tạođiềukiện thuậnlợicho việc điềutra tộiphạm. Ngược lại, khởi tố vụ ánhình sự một cách thiếu căn cứ, không kịp thời, không đúng pháp luật cóthểdẫnđếnnhững sailầmnghiêm trọng:mộtmặttộiphạm khôngbịphát hiện, ngườiphạmtộikhôngbịtruycứutrách nhiệm hình sự, các hoạt động tố tụng không được tiến hành đúng hướng, mặt khác, có thể dẫn đến việc bắt tạm giữ, tạm giam người trái pháp luật, khám xétngười, đồ vật, chỗ ở một cách vô căn cứ, thậm chídẫnđếnxétxửoanngườivô tội. Nói cách khác làkhởi tố vụ án hình sự liên quan chặt chẽ với việc bảo đảm pháp chế, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân được pháp luật bảo hộ.

Công tác khởitốvụán hìnhsựnếuđược các cơ quan có thẩm quyền thực hiện tốt sẽ góp phần quan trọng trong việc xác định sự thật của vụ án hình sự và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Việc khởi tố đúng pháp luật sẽ bảo đảm thực hiện nguyên tắc công bằng, nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm hìnhsựđốivớihành vi phạm tội. Ngườithực hiện hành vi phạm tội nếu có lỗi thì phải bị trừng phạt của pháp luật bất kể thành phần, địa vịxã hộicủa họ. Việc khởitốvụán hìnhsựđược thực hiện kịpthời, nhanh chóng và chính xác sẽ tạo sự tin tưởng của nhân dân vào sự nghiêm minh của pháp luật.

36

Việc khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và kịp thời sẽ góp phần bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân, bảođảmthực hiện công bằng xã hội. Đồngthời, việc khởitốvụán hìnhsựnhanh chóng, kịpthời và chính xác cóýnghĩa rấtquan trọng trong việc giáo dục công dân ý thức nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, răn đe những người cóý định thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, việc khởi tố kịp thời các vụ án hình sự còn góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm “ẩn”, khi tình trạng tội phạm “ẩn” vẫn là vấn đề ngày càng được xã hội và những nhà lập pháp quan tâm trongbốicảnh tình hìnhđấtnước đang trong tiến trình quá độnênchủnghĩa xã hội, chính vì vậy việc khởi tố kịp thời các vụ án hình sự sẽ góp phần làm giảm tội phạm ẩn đang diễn ra trên đất nước ta.

1.2. Mối quan hệ giữa giai đoạn khởi tố vụ án hình sự với các giai đoạn tốtụng khác

Việc giải quyết vụ án hình sự trải qua một quá trình và theo một trình tựnhất định. Quá trình giải quyếtvụán hìnhsựbaogồmcác giaiđoạntốtụng khác nhau (khởi tố, điềutra, truy tố, xét xử) do các chủthểkhác nhau thực hiện tại các thời điểm khác nhau. Các giai đoạn tố tụng đều mang tính độc lập vớicác giaiđoạnkhác, nhưng tínhđộc lậpcủa các giaiđoạnnày trong quátrình tố tụng chỉ mang tính tương đối. Giữa các giai đoạn này có mối quan hệqua lại và tác động lẫn nhau mà trong đó, giai đoạn tố tụng trước là tiền đề cần cho việc thực hiện nhiệmvụcủa giaiđoạntốtụng sau còn giaiđoạntốtụng sausẽkiểm nghiệmkếtquả của giai đoạn tố tụng trước đó. Do đó, trong quá trình giải quyếtvụán hìnhsựthì khởi tốvụán hìnhsựcũng cómốiquanhệqua lại với các hoạt động tố tụng tiếp theo là điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự.

1.2.1. Mối quan hệ giữa giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và giai đoạn điều tra vụ án hình sự

37

“Điềutra là giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyềnáp dụngmọibiện pháp do BLTTHS quy địnhđể xác địnhtộiphạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án”6.

Khởitố vụ ánhình sự là cơsở tiền đề đểthực hiện các hoạt động điều tra. Đây là giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng, phải có quyếtđịnh khởitố vụ ántrước, rồi mới được tiến hành các hoạt động điều tra, trừmột sốtrường hợp đặc biệt. “Hoạt động điều tra có đạt kết quả khách quan, toàn diện,đầy đủ hay không, các quyền lợi cơ bản của công dân có được tôn trọng hay không, phụthuộc rấtnhiều vào việc thực hiện đúngđắnvà nghiêm chỉnh những quy địnhcủapháp luậtvề khởitốvụán hìnhsự”7. Tuy nhiên, khi ra quyếtđịnh khởi tố vụ ánhình sự, cơ quan có thẩm quyền khởi tố chỉ dựa trên

cơ sở các nguồn tin banđầuvề tội phạm như: tin báo, tin tố giác tộiphạm… được gửitớinênmớicóđiềukiện xácđịnhcódấuhiệu của tộiphạm. Trong khi đó, vấn đề diễn biến cụ thể của tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội, các yếutố cấuthành tội phạmvẫnchưa được hoạt động khởitố vụ ánhình sựlàm rõ. Những vấn đề cần xác định rõ ràng, cụ thể, chính xác trong vụ án hình sự là tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội thuộc về nhiệm vụ của hoạt động điềutra. Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra phải thu thập đầyđủchứng cứ để xác định chính xác có hay không có sự việc phạm tội, thuộc điều khoản nàocủaBLHS cũng như xác địnhtấtcả các tội phạmxảyra để không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Hoạtđộngđiềutra được thực hiệnsẽ giúp kiểm tra tính chính xác của hoạt động khởi tố vụ án hình sự trước đó, đồng thời sẽ khắc phục những sai sót nếucóxảyra trong hoạtđộngkhởitốvụán. Đồngthời, hoạtđộngđiềutra cũng góp phần ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định khởi tố một cách không thận trọng, thiếu chính xác và do vậy, có thể sẽ kéomộtloạthậuquả

6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, HàNội, tr.265;

7 Mạc Giáng Châu, Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa Luật – Trường Đại học CầnThơ, 2010, tr. 192.

38

tiêu cực tiếp theoxảyra trong việc truycứutrách nhiệm hìnhsựở các giaiđoạntố tụng hình sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 106 BLTTHS năm 2003 thì: “Khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tộixảy ra hoặc còn cótộiphạm khác thì Cơ quanđiềutra, Viện kiểm sát ra quyếtđịnhthay đổihoặc bổsung quyếtđịnhkhởitốvụán hìnhsự”. Bởilẽ,

không phải tất cả quyếtđịnh khởi tố vụ án hình sự đều đảmbảotính chính xác, nên trong quá trình điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng có thể thayđổi hoặc bổsung quyết định khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện tình tiết mới.

1.2.2. Mối quan hệ giữa giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và giai đoạn truy tố

“Truy tốlà giaiđoạncủatốtụng hình sự, trongđóViện kiểm sát tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng hoặc ra những quyếtđịnhtốtụng khác để giải quyết đúngđắnvụán hình sự”8.

Việc khởitố vụ ánhình sự đồng nghĩa với việc cơ quan có thẩm quyền xác địnhsựviệc xảy ra đã códấuhiệutộiphạm cũng như xác định tội phạm xảyra tương ứng vớiđiềuluật nào trong BLHS, đây là điều kiệncần để Viện kiểm sát xem xét có quyết định truy tố hay không. Cũng giống như hoạt độngđiều tra, hoạt động truy tố của Viện kiểm sát chỉ cóthể đượcthực hiện khi vụán đã có quyếtđịnh khởitố. Đồng thời, hoạtđộng điềutra được thực hiện đểxácđịnhcụthểngườiphạmtộivà mức độtộiphạm như thế nàođểáp dụng chính xác điềuluật trong quá trình truy tố, đólà điềukiệnđủcủa hoạtđộng truy tố.

Truytốlà chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luậtđịnh để kiểmtra lại tính hợp pháp và có căncứcủa toàn bộ các hành vi tố tụng mà cơ quan có thẩm quyềnđã áp dụng; để loạitrừnhữnghậuquảtiêu cực của các sailầmhoặcsựlạmdụngđãbịbỏlọttrong

8 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, HàNội, tr.327;

39

giai đoạn tố tụng hình sự trước đó. Theo quy định của BLTTHS, với tính chất là cơ quan thực hiện nhiệmvụ kiểmsát việc tuân theo pháp luật, từ giai đoạn khởitốvụán hìnhsựđã cósựtham gia của Viện kiểm sátđểthực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động khởi tố, đảm bảo mọi tội phạm được phát hiện phảibị khởitố, việc khởi tố đúng người, đúng tội, có căn cứ và hợp pháp. Vìvậy, ở giaiđoạntruy tố, do đã tham gia ở giai đoạn khởi tố nên Viện kiểm sát chỉxem xét các tình tiếtvụánđể áp dụngđiềuluật sao cho phùhợpvớitội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, giữa 3 giaiđoạn tố tụng này có quan hệ mật thiết với nhau, giaiđoạntố tụng này có vai trò làm cơ sở cho giaiđoạnkia và ngược lại, giai đoạn tố tụng kia có vai trò giám sátvà bổtrợ cho giaiđoạntố tụng này.

1.2.3. Mối quan hệ giữa giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và giai đoạn xétxử vụán hình sự

“Xétxử vụ án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyếtvụán, rabảnán, quyếtđịnhtốtụng theo quy định của pháp luật”9.

Quá trình giải quyếtvụán hìnhsựtrải qua nhiều giaiđoạnkhác nhau, trong đó, giai đoạn xét xử vụ án hình sự đóng vai trò rất quan trọng. Tại phiên tòa hình sự, trên cơ sở kiểm tra, xem xét công khai các chứngcứđã thu thậpđược, Tòa án có thẩm quyền sẽ ra bản án xác định bị cáo có tội hay không cótội; nếu có thì là tội gì, quy định tại điều khoản nào trong BLHS để quyếtđịnh chế tàihình sự đối vớibị cáo. Xétxử được xemlà chức năng quan trọng nhất của Tòa án nói riêng và của toàn bộ quá trình tố tụng hình sự nói chung nhằmáp dụng các biện pháp cần thiết do luậtđịnh để kiểmtra lại tính hợp pháp vàcó căn cứ của quyết định khởi tố vụ án hình sự mà cơ quan có thẩm quyềnđãthực hiện, nhằm loạitrừcác nhữnghậuquả tiêu cực của các sơ xuất, sailầm

9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, HàNội, tr.345;

40

hoặc sự lạmdụng đã bị bỏ lọt trong giai đoạn tố tụng hình sự trước đó. Có thểnói, hoạt động xét xử vụ án hình sự sẽ phản ánh kết quả của hoạtđộng khởitố, xác địnhviệc khởitốcó đúng người, đúngtộihay không và cóxảyra tình trạng bỏ lọt tội phạm hay không.

Ở giai đoạn xét xử, Hội đồng xét xử làm việc độc lập, chỉ căn cứ vào hồsơ vụán và quá trình thẩmvấncông khaitạiphiên tòađể đốichiếuvớiquyđịnh của pháp luật hình sự và ra phán quyết. Việc khởi tố vụ án là rất cần thiếtđối vớigiai đoạn xét xử, do vụ án được khởi tố thì mới cóthể thực hiện được hoạt động xét xử. Tuy nhiên, không phảitấtcảvụ án có khởitố đềuđược xét xử. Vì vậy, giai đoạn khởi tố chỉ có vai trò làm tiền đề và bổ trợ cho giai đoạn xét xử, còn việc xácđịnhtộidanh là gì còn tùy thuộc vàoHộiđồngxétxửquyết định.

1.3. Lịchsửhình thành và phát triển các quyđịnh củapháp luật tốtụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự

1.3.1. Quy định pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự thời kỳ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến trước năm 1988

Ngày 21/2/1946, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 23 quy định thành lập tổ chức Việt Nam công an vụ với chức năng tìm kiếm, thu thập các tin tức liên quan đến an ninh chính trị, bảo vệ trậttự trịan và tiến hành cáchoạt động điều tra tội phạm. Ngày 20/7/1946, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 131 về tổ chức tư pháp công an, trong đó quyđịnh:“Tưpháp công an có nhiệmvụtruy tầm tất cảcác sự phạm pháp, sưu tầm các tang chứng, bắt người phạm pháp giao cho các tòa án xét xử trong phạm vi pháp luật ấn định”. Đến ngày 16/02/1953, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 141 quy định về Vụ chấp pháp trong Thứ bộ

Công an, trong đó nêu rõ:“Vụ chấppháp có nhiệmvụđiềutra, lập hồsơ đề nghị truy tố các vụ phạm tội phản cách mạng và hình sự khác”. Như vậy, việc xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không sẽ phụ thuộc vào quyếtđịnh của tổ chức ViệtNam công an vụ hoặc tư pháp công an. Căncứđể

41

xác định dấu hiệu tội phạm, các thủ tục tiến hành khởi tố vụ án, thời hạn khởi

tố… không được quy định hoặc quy định không rõ ràng nên rất dễ dẫn đến tình trạng oan sai, bỏlọttộiphạm, làm oanngườivô tội. Ngoài ra, có thể nhận thấy, khởitốvụán hìnhsựtrong giaiđoạnnàyđượccoi làmộttrong những hoạt động của quá trình điều tra vụ án hình sự chứ không phải là một giai đoạn tố tụng độc lập.

Từ năm 1961, trên cơ sở các quy định của Chương VIII Hiến pháp 1959 và Luậttổchức VKSND năm 1960, hệ thống VKSND các cấpđã được hình thành với nhiều chức năng trong đó có chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạtđộngtốtụng, trongđócó hoạtđộng khởitốvụan hình sự. Theo quyđịnhtạiĐiều11 Luậttổchức VKSND năm 1960 thì: “VKSND có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết các việc khiếu nại và

tố cáo của nhân dân về việc vi phạm pháp luật và trả lời người khiếu nại hoặc tố cáo”.Sự ra đời của hệ thống VKSND là điều kiện đảm bảo cho hoạtđộng tốtụng hìnhsựđạthiệuquảvà đúng pháp luật. Nốitiếp tinh thần của Luậttổchức VKSND năm 1960, Luật tổ chức VKSND mới ban hành năm 1981 đã quyđịnh cụ thể chức năng kiểm sát khởi tố – điều tra tại Chương II, cụ thể là quy định tại Điều 10: “Kiểmsát việc khởi tố hình sự của cơ quan điều tra, khởi tố hình sự và chuyểnvụ án đếncơ quan điều tra để yêu cầu tiến hành điều tra. Trong trườnghợpdo pháp luật quyđịnhthì VKSND trực tiếpđiềutra”. Tuy nhiên giai đoạn này chưa cómộtvănbảnquy phạm pháp luật nào quyđịnhmộtcách chặt chẽ, cụ thể về trình tự thủ tục hoạt động khởi tố, cũng như hoạt động kiểm sát việc xử lý tin báo, tố giác về tội phạm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ đó dẫn đến công tác kiểm sát hoạt động khởi tố còn gặp nhiều khó khăn.

Hoạtđộng khởi tố, điềutra vụ án hình sự được coi là một loại hoạtđộngđặc thù của Nhà nước, nó động chạm nhiều tới các quyền cơ bản của công dân. Xuất phát từ nhiệm vụ của tố tụng hình sự là vừa trấn áp tội phạm vừa bảovệcó hiệu quả các quyền và lợiíchhợppháp của công dân, Nhà nước đã ban

42

hành nhiều văn bản pháp luật nhằmhạnchế và loại trừ những hiện tượng tiêu cực có thể xảyra trong quá trình khởi tố, điềutra vụán hình sự. Ngày 20/5/1957, Nhà nước ban hành Luật số 103bảođảmquyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạmđối vớinhà ở, đồ vật, thư tín của công dân và tiếpđóngày 18/6/1957 có Sắc luậtsố02 – SLT quyđịnhvề thủtục bắtngườitrong trường hợp khẩn cấp và các trường hợp phạm tội quả tang. Công việc điều tra vụ án hình sự trong thời gian trước khi có Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự vềcơ bản giao cho cơ quan điều tra của Bộ công an trừmột số vụ ánphải cósựphối hợp giữa công an với viện kiểm sát hoặc với các cơ quan khác làm nhiệm vụ điều tra như bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm hay chỉ huy trưởng tàu biển hoặc máy bay. Điểm 2 Chương I Thông tư số 427-TTLB ngày 28/6/1963 của VKSND tối cao và Bộ công an đã quy định tạm thời một số nguyêntắc về quan hệ công tác giữa viện kiểm sát và cơ quan công an trong đó có nội dung:

Căncứvào nhiệm vụ và tình hình hiện tại của hai ngành, cơ quan công an đảm nhiệm việc điềutra tấtcả nhữngvụán phản cách mạng và nhữngtộiphạm phản cách mạng khác. Còn Viện kiểm sátchủ yếulàm nhiệmvụ kiểmsátđiều tra đồng thời trong phạm vi, điều kiện và khả năng của mình sẽ trực tiếp điều tra một số loại phạm pháp kinh tế và hành vi phạm pháp tương đối rõ.

Sau ngày miền Namđược hoàn toàn giải phóng, nướcnhà thống nhất, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tố quốc trong giaiđoạnmớiđược coi là nhiệmvụ cấpbách. Sau hơn 10 năm soạn thảovới sự cốgắng, nỗ

lực của các chuyên gia pháp lý trong nước và sự giúp đỡ của các nhà khoa học nước ngoài, ngày 28/6/1988, BLTTHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa VIII kì họp thứ 3 thông qua vàbắt đầu có hiệu lực pháp luật từ ngày 1/1/1989.

Nhìn lại hệ thống vănbảnpháp luậttốtụng của Nhà nước ta giai đoạn trước 1988 chúng ta thấy rằng các văn bản có tính pháp lý cao như luật, pháp

43

lệnh về cơ bản chỉ được sử dụng để quy định tổ chức bộ máy của các cơ quan tiến hành tố tụng còn trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết vụ án hình sự lạiđược ghi nhận trong các vănbản dướiluật là chính. Bên cạnh đó, các vănbảndưới luật không quyđịnhhoặc quyđịnhkhông rõ ràngvề các nộidung liên quanđếnhoạtđộngkhởitốnêndẫnđếnviệc thực hiện khá tùy tiện các quyđịnh pháp luật trong quá trình khởitốvụán hình sự. Đâylà nguyên nhândẫntới tình trạng không thống nhất trong thực tiễn khởitốvụán hình sự. Sựkhông thống nhất trong việc áp dụng các thủ tục khởi tố vụ án rất dễ dẫn tới những sai lầmlớnnhư bỏ lọt tội phạm, làm oanngườivô tội, xâm phạmtớicác quyền vàlợiích hợp pháp của công dân…

1.3.2. Quy định pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự giai đoạn từnăm 1988 đến năm 2003

Sựra đờicủa BLTTHS năm 1988 đánhdấubước phát triển của pháp luật tố tụng hình sự. Bộ luật đã kế thừa và phát triển pháp luật tố tụng hình sựcủa Nhà nước ta từ Cách mạng tháng tám, với tinh thầnđối mớitrên mọi mặt của đời sống xã hội. Liên quan đến giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, BLTTHS 1988 đã dành một chương riêng để quy định về giai đoạn này. Cụ thể như sau:

– Nhiệmvụcủagiaiđoạnkhởitốvụán hìnhsựlà việc các cơ quan cóthẩm quyền xác địnhmộtsựviệc xảyra trong thực tếcó hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự, đảm bảo phát hiện kịp thời, nhanh chóng tội phạm và người phạm tội, xác định sự thật khách quan của vụ án, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội và tránh làm oan người vô tội.

– Theo quy định tại Điều 87 BLTTHS 1988 thì chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự gồm:

+ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát: là hai cơ quan trực tiếp thực hiện các hoạt động tố tụng trong giaiđoạnkhởi tố vụ án hình sự;

44

+ ĐơnvịBộđộibiên phòng, cơ quanHảiquan, cơ quan Kiểm lâm ra quyết định khởi tố vụ án trong những trường hợp quyđịnh tại Điều 93 BLTTHS năm 1988;

+ Toà án ra quyếtđịnh khởitố vụ ánnếuqua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.

– Căncứkhởi tố vụán hình sự là sự việc có dấu hiệu của tội phạm.Việc xác định có dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sở được quy định tạiĐiều 83 BLTTHS 1988, gồm: Tố giác của công dân; tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội; Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; cơ quanđiều tra, Viện kiểm sát, Toà án, đơn vịBộđội biên phòng, cơ quanHảiquan và cơ quan Kiểm lâm trực tiếp phát hiệndấuhiệu của tộiphạm;ngườiphạm

tội tự thú.

– Theo quy định tại Điều 86 BLTTHS năm 1988 thì thời hạn tố tụng dành cho giai đoạn khởitốvụán hình sự là hai mươi ngày, kểtừ ngày cơ quan cóthẩm quyền nhậnđược tốgiác và tin báovềtộiphạm. Trong trườnghợpsựviệc bị tố giác, tin báo về tội phạm có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minhtạinhiềuđịa điểmthì thờihạnđểgiải quyết cóthểdài hơn, nhưng không quá hai tháng. Đâylà quyđịnhđược BLTTHS năm 2003kếthừa.

– Hoạtđộngtốtụngđặc trưng trong giaiđoạn khởitốvụán hìnhsựlàhoạt động tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Sau khi tiếp nhận thông tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin; qua đó ra quyếtđịnhkhởitốhoặc không khởi tố vụ án hình sự.

– Các quyết định tố tụng trong giaiđoạn khởi tố vụ ánhình sự mà cácchủthểtốtụng cóthểđưa ra là Quyếtđịnhkhởitốvụán hìnhsựvà Quyếtđịnh không khởitốvụán hình sự. Quyếtđịnhkhởitốvụán hìnhsựđược các cơ

45

quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đưa ra khi xác định sự việc có dấu hiệu của tội phạm.

Trong khi đó, Quyết định không khởi tố vụ án hình sự được các cơ quan có thẩm quyền đưa ra khi xác định được một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 89 BLTTHS 1988, gồm: Không có sựviệc phạm tội; Hành vi khôngcấuthànhtộiphạm;Ngườithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạmtộicủa họđã cóbảnán hoặc quyếtđịnhđìnhchỉvụán có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được đại xá; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

– Cuối cùng, Điều91 BLTTHS 1988đãquyđịnhcụthểvềhoạtđộng kiểm sát khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát, theo đó: “Viện kiểmsát kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm việc khởi tố vụ án hình sự có căn cứ vàhợp pháp”. Đồng thời, nếu quyết định khởi tố của cơ quanđiềutra, đơn vị Bộđộibiên phòng, cơ quanHảiquan và cơ quan Kiểm lâm không có căncứthìViện kiểm sát có quyền ra quyếtđịnh huỷ bỏ quyếtđịnh khởi tố đó. Bên cạnhđó, nếuquyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan này không cócăncứthì Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định đó và ra quyếtđịnhkhởi tố vụ án.Đối với quyếtđịnh khởi tố của Toà án không có căncứthì Viện kiểm sátchỉcó quyền kháng nghị lên Toà án cấp trên.

So với quy định pháp luật tố tụng hình sự trước đâyvề khởi tố vụ ánhình sự, BLTTHS 1988 chứa đựng nhiều điểmmớicảvềkỹthuật lập pháp và nội dungcủacácchếđịnh,quyđịnhvềtrình tự, thủtụckhởitốvụán hình sự. Theo đó, BLTTHS đã quy định cụ thể các căn cứ khởi tố, không khởi tố vụ án hình sự, thời hạn khởi tố, chủ thể có thẩm quyền thực hiện hoạt động khởi tốcũng như hoạt động kiểm sát khởi tố của Viện kiểm sát. Tuy trong quá trình áp dụng vào thực tiễn thì những quy định này cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cho dù đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 1990, 1992 và năm 2000 nhưng

46

BLTTHS năm 1988được ban hànhđã đánhdấumộtbước đổimớicủa pháp luật tố tụng hình sự nước ta khi lần đầu tiên nước ta đã có một BLTTHS hoàn chỉnh.

1.4. Quy định về khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới

Vấn đề khởi tố vụ án hình sự được các quốc gia quy định rất khác nhau, xuất phát từ hệ thống pháp luật và truyền thống chính trị – pháp lý của quốc giađó.Hiện nay, không phải quốc gia nào cũng phân chia trình tự giải quyết vụ án hình sự thành nhiều giai đoạn. Đối với các quốc gia thuộc hệ thống Thông luật (Common Law) như Anh, Mỹ, Canada, Australia, New Zealand… với mô hình

tốtụng tranh tụng thì trìnhtựtốtụng hìnhsựthườngđược chia làm hai giaiđoạn chính: giai đoạn tiền xét xử và giai đoạn xét xử. Giai đoạn tiền xét xử bao gồmtấtcảhoạtđộngtốtụng hìnhsựmangbảnchất của khởi tố, điềutra vàtruy tố với vai trò rất lớn của cơ quan công tố. Ngược lại, các quốc gia thuộc hệthống Dân luật (Civil Law)vớimô hìnhtốtụng hìnhsựthẩm vấn thì quátrình tố tụng được chia thành nhiều giai đoạn. Tuy nhiên, không phải quốc gia nào thuộc hệthống Dân luật cũng xácđịnhkhởitốvụán hìnhsựlà mộtgiaiđoạn độc lập và quy định thành một chương riêng biệt trong BLTTHS.

1.4.1. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Mô hình tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) vềcơ bản là mô hình tố tụng thẩm vấn cókết hợp với một số yếu tố của tố tụng tranh tụng. Đặc trưng điển hình của mô hình tố tụng thẩm vấn của Trung Quốc là quy định cả ba cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa ánđều cóquyền tiếp nhận các tin báo, tố giác về tội phạm và có quyền thu thập chứng cứchứng minh tội phạm và người phạm tội.

Tương tự như Việt Nam, Trung Quốc cũng xác định khởi tố vụ án hình sựcũng là một giai đoạn độc lập, và quy định thành một chương riêng biệt trong

47

BLTTHS. Theo quyđịnhcủa BLTTHS Trung Quốc, cơ sởđếkhởitốvụán hình sự bao gồm:

– Cơ quan công an hoặc VKSND phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc kẻ bịtình nghi14

– Thông báo về vụ án hoặc cung cấp thông tin của bất kỳ tổ chức hay cánhân nào sau khi phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc kẻ bị tình nghi15

– Báo cáo của người bị hại cho cơ quan công an, VKSND hoặc TANDvềcác dấu hiệu tội phạm hoặc tố giác kẻ bị tình nghi16

– Người phạm tội đến tự thú17.

Cơ quan công an, VKSND hoặc TAND phải tiếp nhận toàn bộ tin báo, tốgiác và thông tin. Đồngthời, ngườitiếp nhận tin báo hoặc tốgiác phải giải thích rõ cho người khiếu nại hoặc tố cáo biết trách nhiệm pháp lý phải chịu vìcáo buộc sai.

Nếu vụ án không thuộc thẩm quyền thì cơ quan tiếp nhận phải chuyển vụán cho cơ quan có thẩm quyền và thông báo chongườiđãtốgiác, khiếu nại hoặc cung cấp thông tin biết vụ án đã được chuyển. Trường hợp không thuộc thẩm quyền của cơ quan mình nhưng cần thiết phải có các biện pháp khẩn cấp thì cơ quan tiếp nhận phải tiến hành các biện pháp khẩn cấp trước khi chuyển vụ án cho cơ quan có thẩm quyền.

Theo quy định tại Điều 86 BLTTHS Trung Quốc: “Nếu thấy có dấu hiệu phạm tội và cần truy cứu trách nhiệm hình sự thì cần phải khởi tố vụ án. Nếu thấy rằng không có dấu hiệu phạm tội hoặc rõ ràng là không nghiêm trọng vàkhông cần truy cứu trách nhiệm hình sự thì không khởi tố vụ án và thông báo cho người cung cấp thông tin biết lý do”. Quy định này có sự khác biệt so với

14Điều83 Bộ luật Tố tụng hình sự Trung Quốc 15Điều84 Bộ luật Tố tụng hình sự Trung Quốc 16Điều84 Bộ luật Tố tụng hình sự Trung Quốc 17Điều84 Bộ luật Tố tụng hình sự Trung Quốc

48

quy định về căn cứ khởi tố theo quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Theo quyđịnhtạiĐiều100 BLTTHS Việt Nam thì “khiđãxác địnhcó dấu hiệutộiphạm” thì các cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành khởitốvụán hình sự. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 86 BLTTHS Trung Quốc thì cóthểhiểu:Nếucơ quan có thẩm quyền phát hiệnsựviệc xảyra códấuhiệu phạm tội nhưng tội phạm rõ ràng là không nghiêm trọng và không cần truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ không khởi tố vụ án.

Về hoạt động kiểm sát khởi tố vụ án hình sự, theo quy định tại Điều 87 BLTTHS Trung Quốc thì khi “VKSND cho rằng cơ quan công an cần khởi tố, điều tra vụ án nhưng cơ quan công an không thực hiện hoặc khi người bị hại cho rằng cơ quan công an cần khởi tố, điều tra vụ án nhưng cơ quan công an không thực hiện vàngườibịhạikhiếu nạiđến VKSND, thì VKSND phải yêu cầucơ quan công an nêu rõ lý docủaviệc không khởitốvụán”.Theo quyđịnhnày thì thẩm quyền khởitốvụán hìnhsựthuộc vềthẩm quyềncủacơquan công an. Trong trường hợp cơ quan công an không thực hiện việc khởi tốthì phải nêu rõ lý do của việc không khởi tốvụán cho VKSND biết. Sau đó, cũng theo quy định tại Điều 87: “nếu VKSND cho rằng lý do không khởi tố vụáncủacơ quan công an là không đúng thì phải thông báo cho cơ quan công an không khởi tố vụ án biết, và sau khi nhận được thông báo đó, cơ quan công an phải khởi tố vụ án”. Như vậy, yêu cầu khởi tố của VKSND đối với cơ quan công an là bắtbuộc và cơ quan công an phải tiến hành khởitốvụán khi cóthông báo của VKSND.

Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc cũng quy định về các vụ án thuộc tư tố (vụ án khởi tố theo yêucầu của người bị hại). Đối với vụ án công tố, ngườibịhạicó vai tròhạnchếtrong quá trình tiến hànhtốtụng, nhưng đối với các vụ án tư tố, người bị hại có vai trò rất lớn trong tố tụng hình sự.

49

Trong các vụán công tố, ngườibịhạitham gia tốtụng nhằm cung cấp thông tin liên quan đến vụ án. Trong trường hợp cơ quan công an không khởi tố vụ án nhưng người bị hại cho rằng vụ án cần được khởi tố, điều tra thì họ cóquyềnđềnghị Viện kiểm sát cùngcấpxem xét. Trườnghợpngườibịhại không đồng ý với quyết định miễn tố của Viện kiểm sát thì họ có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp và yêu cầu truy tố, nếu Viện kiểm sát cấp trên đồng ý với quyết định không truy tố, thì người bị hại có thể trực tiếp kiện ra Tòa án. Tạiphiên tòa, ngườibịhạicó trách nhiệm trình bàylậpluận của mìnhvềtộiphạmbịcáo buộc trong cáo trạng và vớisựcho phép của Thẩm phán chủ tọa, người bị hại được quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo.

Đối với cácvụ ántư tố, người bị hại có vai trò rất lớn trong tố tụng hình sựkhingườibịhạicó quyền trực tiếp đưa vụán ra trước Tòa án có thẩm quyền. Nếu người bịhạichết hoặc mấtnănglựchành vi, người đại diện theo pháp luật của họ và họ hàng thân thích có quyền đưa vụ án ra trước Toà án vàTòa án phải thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật18. Ngoài ra nếu người bịhại chịu thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội của bị cáo thì có quyền nộp đơn yêu cầu giải quyết việc bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Chủ thể có quyền đưa ra tư tố bao gồm người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, họ hàng gần của người bị hại. Người bị hại là người bịhành vi phạm tội xâm phạm những lợi ích của mình, do vậy đối với những vụán tưtố,ngườibịhạiđươngnhiên có quyền truytốngườiphạmtộira trước Tòa án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại gồm có bố mẹ, người giám hộcủa ngườibịhạitrong trườnghợpngườibịhạilà ngườichưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc đã chết. Họ hàng gần của người bị hại gồm có vợ, chồng, bố, mẹ, con, anh em cùng cha cùng mẹ. Đối với vụ án tư tố, nếu người bị hại đã chết hoặc bị mất khả năng tham gia tố tụng thì họ hàng gần có thể đưa ra tư tố.

18Điều88 Bộ luật Tố tụng hình sự Trung Quốc

50

1.4.2. Cộng hòa Liên bang Đức

Cộng hòa Liên bang Đức là nhà nước liên bang, với sự tồn tại của hai hệthống pháp luật Liên bang và pháp luật của các bang, tuy nhiên pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự được quy định thống nhất trên phạm vi toàn Liên bang và các bang. Pháp luật của Đức thuộc truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa, do đó mô hình tố tụng hình sự Đức về cơ bản là môhìnhtốtụng thẩm vấn, xéthỏicókếthợpvớimộtsốđặc điểmtranh tụng và được mô tả như một hệ thống hỗn hợp hay “lai ghép”19.

Quá trình tố tụng hình sự Cộng hòa liên bang Đức được chia làm ba giaiđoạnchính, đólà: giaiđoạntiền xétxử(gồm giaiđoạnđiềutra và giaiđoạn truy tố); giai đoạn Tòa án tiến hành tố tụng gồm giai đoạn trung gian và xétxử

tại phiên tòa; giai đoạn thi hành án. Ở giai đoạn tiền xét xử, theo quy định của BLTTHS Cộng hòa liên bangĐức thì cơ quan có thẩm quyềnđiềutra bao gồm: Cảnh sát, Viện công tố. Ngoài ra, Tòa án cũng tiến hànhmộtsốhoạt độngtốtụng trong giaiđoạnnày.Thủtụctốtụng hìnhsựcủaĐức giaiđoạn tiền xétxửnhấn mạnhđặc biệtđếnvai trò và chức năngcủacơ quan công

tố.Côngtốviên của quốc gia được đánh giá caovềtính khách quan và công tâm nhất và có vai trò gần như cán bộ tư pháp [quasi judicial officers]20.

Ngaytừkhi bắtđầu vụán, luậttố tụnghình sự Cộng hòa liên bangĐức quy định Cảnh sát tư pháp và Cơ quan công tố cùng có thẩm quyền tiến hành hoạtđộngđiềutra trongđóCơ quan côngtốnắmvai tròchỉđạo, kiểm soát hoạt động điều tra của Cảnh sát. Thủ tục tố tụng hình sự ở Đức được bắt đầu cũng tùy theo loạitộiphạm. Đốivớitộiphạm ít nghiêm trọng, cảnh sát cóquyền phát hiện và thẩm quyềnxửlí tươngđốiđộc lập. Nguồn thông tinđểcảnh sát thực hiện quyền này của mình thông qua hoạtđộngtựđiềutra hoặc

19Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2007), Số chuyên đề về luật tố tụng hình sự Cộng hòa liên bang Đức, Thông tin khoa học kiểm sát (5+6), tr.28;

20Boyne, Shawn Marie, The German prosecution service: Guardians of the Law, Springer, 2013, tr.21 và các trang tiếp theo;

51

được báotin. Đối với tội phạm nghiêm trọng, vai trò của công tố viên rất quan trọng và được thểhiệntừrấtsớm21. Theo tác giảJoachim Herrmann:“thông thường, hành vi phạm tội được báo cáo đến cơ quan cảnh sát giống như tất cảquốc gia khác. Cảnh sát tự điều tra độc lập với các tội phạm ít nghiêm trọng [misdeameanour cases], đối với các tội phạm nghiêm trọng khác [felony cases], cảnh sát phải báo cáo ngay cho cơ quan công tố”22.

Hầu hết các cuộc điều tra được bắt đầu từ tin báo, tố giác tội phạm của quần chúng. Ngay sau khi nhận được thông tin về tội phạm, Cơ quan công tốphải xác minh các tình tiếtđểquyếtđịnhcó khởitốhay không23. Hoạtđộng điều trađược bắt đầu bằng việc khởi tố24. Trong giai đoạn này, Cơ quan công

tố phải xác định thu thập cả những tình tiết buộc tội, tình tiết gỡ tội, những tình tiết quan trọng cho việc xác định hậu quả pháp lý và phải bảo đảm rằng những chứngcứđóđượcthu thậpmộtcách toàn diện, đúng luật. Đểđạtđược mục đích này, Cơ quan công tố cóthểyêu cầu thông tin từ tất cả các cơ quan nhànước và có thể thực hiện tất cả các hoạt động điều tra, trực tiếp hoặc thông qua các cấpcó thẩm quyền và nhân viên trong lực lượngCảnh sát. Cấpcó thẩm quyền và nhân viên trong lực lượng Cảnh sát có nghĩa vụ phải tuân thủ những yêu cầu hay mệnh lệnh của Cơ quan công tố25. Tuy nhiên, trên thực tế hầu hết quá trìnhđiềutra do Cảnh sát thực hiệnmộtcáchđộc lập. Cảnh sát có trách nhiệm đảm bảo độ tin cậy cao của chứng cứ trước Công tố viên. Ngay sau khi kếtthúc điềutra, nhân viên cảnh sát phải ngaylậptức chuyển giaohồsơ tới cho Cơ quan công tố. Cảnh sát cũng cóthểchuyển giao trực tiếp cho Tòa ánđịa phương nếu thấy cần thiết phải có việc điều tra của Tòa án26. Nếu Cơ quan côngtốxét thấycầnthiết phải có việc điềutra của Tòa án, Cơ quan côngtố

21Joege Martin Jehle, Criminal Justice System in Germany, 2015, xem trực tuyến tại cổng thông tin điệntử của Bộ tư phápĐức http://www.bmjv.de/SharedDocs/Downloads/DE/Broschueren/DE/Criminal-Justice-

Germany.pdf?__blob=publicationFile , truy cập ngày 18.12.2015;

22Xem Joachim Herrmann, bài giảng về tố tụng hình sự của Đức, trực tuyến tại

http://www.joachimski.de/StPO/Rechtsvergleich/rechtsvergleich.html truy cập ngày 19.12.2015; 23Điều169 Bộ luật Tố tụng Hình sự Cộng hòa liên bang Đức.

24Điều151 Bộ luật Tố tụng Hình sự Cộng hòa liên bang Đức.

25Điều160, 161 Bộ luật Tố tụng Hình sự Cộng hòa liên bang Đức. 26Điều163 Bộ luật Tố tụng Hình sự Cộng hòa liên bang Đức.

52

phải gửi yêu cầu tới Tòa án địa phưong nơi việc điều tra được tiến hành. Nếu xét thấycầnthiết phải có các lệnh Tòa ánđểtiến hànhđiềutra tạinhiềuđịa phương thì cơ quan công tố phải gửi yêu cầu tới Tòa án địa phương nơi cótrụsở27. Trong các trường hợp khẩn cấp, ngay cả khi không có yêu cầu Thẩm phán có thể thực hiện các hoạt động điều tra cần thiết nếu Công tố viên không thực hiện được28.

Trong luậttốtụng hìnhsựCộng hòa liên bangĐức, đốivớicác vụán khởi tố theo yêu cầu từ người bị hại (vụ án tư tố) thì người bị hại có vai trò rất quan trọng với quyền tư tố thể hiện rất rõ nét. Luật tố tụng hình sự Cộng hòa liên bangĐứckhông cóđiềuluật riêng quyđịnhvềngườibịhạinhưng các quy định rải rác trong Bộ luật thể hiện người bị hại có thể cá nhân, cũng cóthểlà mộttậpđoàn, mộtcông ty hoặc mộttổchức. CụthểĐiều374 BLTTHS Cộng hòa liên bang Đức quy định: “Nếu bên bị hại là một tập đoàn, một công ty hoặc mộttổchức khác thì cóthểkhởi kiện tranh chấp dânsựthông qua ngườiđạidiện chohọtrong tranh chấp dânsựđó”. CùngvớiCảnh sát vàViện Côngtố,thì Tưtốviên và ngườibịhạilà chủthểthực hiện chức năng buộc tội; chức năng bào chữa do người bào chữa, bị can, bị cáo thực hiện; chức năng xétxửdo Tòa án (Thẩm phán và Hộithẩm) thực hiện. Đốivớimộtsốloại tội ít nghiêm trọng thì người bị hại có quyền quyết định trong việc xử lý, họcóthểđưa ra yêucầutruy tố, chỉkhiđóCơ quan côngtốmớitiến hành khởi tố và vụ án được tiến hành điều tra, xét xử theo thủ tục chung; hoặc họ cóthểđưa ra yêucầutưtốtrực tiếptớiTòa án mà khôngcầnphảinhờđếnCơ quan Côngtốtruytốtrước, trong trườnghợpnàyvụánđượcgiải quyết theo thủ tục tư tố và Tư tố viên sẽ thực hiện việc buộc tội. Về thủ tục giải quyết các vụ án mà người bị hại yêu cầu, có hai thủ tục tương ứng với hai hình thức yêu cầu của người bị hại là thủ tục truy tố công và thủ tục tư tố.

27Điều162 Bộ luật Tố tụng Hình sự Cộng hòa liên bang Đức. 28Điều165 Bộ luật Tố tụng Hình sự Cộng hòa liên bang Đức.

53

Đối với các vụ án mà người bị hại đưa ra yêu cầu truy tố (truy tố công) thì yêucầuđóphảiđược làm thành vănbảnhoặc biênbảnghilạilờinói tại Toà án hay cơ quan Công tố. Trườnghợpyêucầuđược gửitớimộtcấpcóthẩm quyền khác, yêu cầu đó phải được làm thành vănbản29. Cơ quan Công tốsẽ tiến hành xác minh các tình tiết và ra quyết định khởi tố, tiến hành điều tra, kết quả điều tra xác định có đủ căn cứ để tiến hành truy tố thì cơ quan Công tốsẽ lập bản cáo trạng gửi tới Tòa án có thẩm quyền, nếu không có căn cứ thì cơquan Công tố sẽ kết thúc thủ tục tố tụng. Quá trình xét xử tại phiên tòa, Công

tố viên sẽ thay mặt người bị hại thực hiện việc buộc tội.

Đối vớicác vụ án mà người bị hạiđưa ra yêucầutư tố thì vụ ánđược giải quyết theothủtục tư tố, Tòa ánthụlý giải quyết mà khôngcầncơ quan Công tố truy tố30. Tuy nhiên, cơ quan Công tố sẽ tiến hành truy tố chỉ khi vụviệc đó có liên quan tới lợi ích công. Trong thủ tục giải quyết các vụ án tư tốthì Tư tố viên thực hiện việc bảo vệ yêu cầu tư tố, địa vị pháp lý của Tư tố viên về bản chất giống như Công tố viên trong các vụ án công tố. Tư tố viên tham gia phiên tòa khi có hoạt động tư tố, mọi quyết định của Công tố viênở các vụán công tố sẽ được Tư tố viên tham khảo ở vụ án tư tố. Tư tố viêncó thể được hỗ trợ hoặc được đại diện bởi một luật sư chỉ định trong phạm vi thẩm quyền của luật sư đó. Côngtốviên tham gia vàothủtục tưtốtrong trườnghợpcơquan Công tố sẽ tiến hành truy tố khi vụ việc đó có liên quan tới lợi ích công, trong các trườnghợpcònlạiCôngtốviên khôngbắtbuộc phải tham gia vào thủtục tư tố. Tòa ángửihồsơ cho Côngtốviênnếuthấy rằng Côngtốviên cần phải tiếp tục thực hiện truy tố vụ việc đó, cơ quan Công tố có thể tiếp tục

29Điều158 Bộ luật Tố tụng Hình sự Cộng hòa liên bang Đức.

30 Theo Điều 374 BLTTHS Đức các vụ án tư tố bao gồm: (1) Tội xâm phạm gia cư bất hợp pháp; (2) Tội xúc phạm danh dự nhân phẩm; (3) Tội vi phạm quyền tự do báo chí; (4) Tội gây thương tích (5) Tội đe doạ; (6) Tội nhận hoặc đưa hối lộ trong những giao dịch kinh doanh; (7) Tội gây thiệt hại về tài sản đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự; (8) Các tội phạm quy định tại các Điều 4, 6c, 15, 17, 18 và Điều 20 Luật chống cạnh tranh không công bằng; (9) Các tội phạm quy định tại Điều 142 khoản 1 Luật về bằng sáng chế, Điều 25 khoản 1 Luật về mô hình tiêu chuẩn, Điều 10 khoản 1 Luật về bảo vệ chất bán dẫn, Điều 39 khoản 1 Luật về bảo vệcác loài thực vật, Điều 143 khoản 1 và khoản 1a và Điều 144 khoản 1 và 2 Luật về Nhãn hiệu hàng hóa,Điều 14 khoản 1 Luật về thiết kế, Điều 106 đến Điều 108 Luật về quyền tác giả, Điều 33 Luật về quyền tác giả đối với tác phẩm nghệ thuật và nhiếp ảnh

54

thực hiện việc truytốthông qua mộtvănbảntrình bày quanđiểmtạibấtkỳgiai đoạn tố tụng nào trước khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Sau khi Tưtốviên đưa ra quyếtđịnhtruytốvà Tòa án xác địnhquyết định truy tố là đúng đắn, thì phải thông báo những cáo buộc đó cho bị cáo biết cùng với thời hạn để bị cáo đưa ra trả lời. Sau khi nhận được phản hồi từ phía bị cáo, hoặc sau khi hết thời hạn, Tòa án sẽ quyết định có mở phiên tòa chính thức hayhuỷbỏ lời buộc tội, trong thờihạnmộttuần phải hoàn tất việc triệu tập của tư tố viên về việc tham gia phiên tòa chính thức và ngày mở phiên tòa chính thức. Tưtốviên cóthểrútđơntưtốtạibấtcứgiaiđoạnnào của quátrình tố tụng, khi rút đơn tư tố thì phải có sự đồng ý của bị cáo sau khi đã bắt đầu thẩm vấn bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm chính thức, thủ tục tố tụng chấm dứt trong trường hợp Tư tố viên chết. Tuy nhiên, hoạt động tư tố vẫn có thể được tiếp tục thực hiệnnếucóngườiđược uỷquyềnđưa vụán ra tư tố. Khi Tưtốviên không phải là người bị hại, bị cáo có thể đưa ralời phản tố đối với bên bịhại. Trong trường hợp đó, yêucầu phản tốsẽ được tốngđạt tớibênbịhạivà ngườibịhạisẽđượctriệutậptớiphiên tòa chính thức nếuyêucầuphảntốkhông được đưa ra tại phiên tòa chính thức với sự có mặt của bị hại.

1.4.3. Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ

Mô hìnhtốtụng hìnhsựHoa Kỳkhông quyđịnhcụthểvềgiaiđoạn khởi tố vụ án hình sự. Quá trình giải quyết vụ án hình sự ở Hoa Kỳ được chia làm ba giai đoạn tố tụng hình sự, đó là: giai đoạn điều tra sơ bộ, giai đoạn truy

tố và giai đoạn xét xử. Giaiđoạn khởi tố vụ ánhình sự được xem là một trong những nội dung tại giai đoạn điều tra sơbộ.

Giai đoạn điều tra sơ bộ tội phạm được bắt đầu từ khi cảnh sát cócơ sởđể tin rằng có sự kiện phạm tội xảy ra (từ khi vụ án chưa được khởi tố). Cảnh sát cóthểtiến hànhđiềutra sơ bộtừcác nguồn thông tin sau đây:từtốgiác của nạn nhân; từ sự phát hiện của công việc tuần tra hàng ngày của cảnh sát; từnhững biểu hiện nghivấncủa mộtngườinào mà cảnh sát biếtđượchoặc khi

55

phát hiện thấy có dấu vết của tội phạm hoặc có cơ sở để tin rằng kẻ phạm tội đang chuẩn bị thực hiện tội phạm hoặc chắc chắn sẽ thực hiện phạm.

Một trong những cơ sở để cảnh sát có thể tiến hành điều tra sơ bộ là khi nạnnhân thực hiện việc tốgiác bằngđơnkhởi tố. Vềhình thức, đơnkhởitốđược quyđịnhtrong Luật(Điều3 Quyđịnhliên bangvềtốtụng hìnhsự)31, theo đó đơn khởi tố là văn bản khẳng định các tình tiết chính về hành vi bị cáo buộc. Đơn khởi tố có hai ý nghĩa trong quá trình tố tụng hình sự.Trong trường hợp người bị buộc tội bị bắt không có lệnh, đơn khởi tố là lời buộc tội đối với bịcáoởphiên tòa sơ bộ[initial appearance] trước thẩm phán quận/hạt.Việc chính thứcđọclờibuộc tộinàysẽchuyển tư cáchtốtụng của ngườibịtình nghi [suspect] thànhbịcáo [criminal defendant] trongtốtụng hình sự. Trong trườnghợpbịcáo khôngbịbắtvà không phải ra trình diện trước tòa án, đơn khởi tố đóng vai trò là cơ sở để lệnh bắt được ban hành. Đơnkhởi tố phải được bảo đảm bằng sự tuyên thệ, phải khẳng định được các tình tiết chính về hành vi bịcáo buộc dướihình thức vănbảnvà phảiđược lậptrước mộtnhân viên tưpháp có thẩm quyền phátđộngquá trìnhtốtụngđốivớivụán hình sự. Các nhân viên tư pháp này thường là thẩm phán [Magistrate, Justice of peace, Judge]. Thông tin trongđơnkhởitốcó cơsởtừhoạtđộngđiềutra của nhân viên chấp pháp, hoặc từ người bị hại, người làm chứng hoặc người cấp tin. Tuy vậy, chứng cứ trong đơn khởi tố phải đủ chặt chẽ để thuyết phục thẩm phán vềcăn cứ pháp lí [probable cause] cho thấy hành vi phạm tội và có thể là người đãthực hiện hành viđó32. Theo nghĩa này, đơnkhởitốcónộidung rộng và cóphần khác với quyết định khởi tố vụ án hình sự ở nước ta.

Việc điềutra cóthểđược tiến hành bằng các biện pháp nghiệpvụcủa trinh sát hoặc từnhững kinh nghiệm thu thập tíchluỹrút ra được trong quátrình làm việc của cảnh sát. Những biện pháp thường được áp dụng trong quá

31Federal Rules of Criminal Procedure of United States, xem trực tuyến tại

www.uscourts.gov/file/document/rules-criminal-procedure, truy cập ngày 03.12.2015;

32John Ferdico, Henry F. Fradella và Christopher D, Criminalprocedure for the criminal justice professional, 10th edition, Wadsworth Cengage Learning, 2009,tr.64;

56

trình điều tra ở Hoa Kỳ bao gồm xem xét dấu vết, vật chứng, chứng cứ để lại nơi hiện trườngxảyra tộiphạm, xéthỏingườibịtình nghi, khám người, tài sản, nơi ở của kẻ phạm tội, xem băng hình, ảnh, nghe ghi âm… Trêncơ sở điều tra sơ bộ, nếuthấyđủchứngcứđểbuộc tộingườitình nghiđã thực hiện tội phạm thì cảnh sát có thể bắt giam ngay người đó. Thông thường, Cảnh sát căn cứvào lệnh giam của Thẩm phánđểbắtgiamngườibịtình nghi. Tuy nhiên trong thực tế công tác, hầu hết các trường hợp bắt giam không nhất thiết phải có lệnh của Thẩm phán. Luật cho phép Cảnh sát được bắt những người phạm tộinhỏkhihọđang thực hiệntộiphạm (tội vi cảnh mà không phảitộiphạm hìnhsựnhưcướpcủa, giết người, huỷ hoại tài sản). Thường thì cảnh sát giải người bị bắt đến trụ sở để xét hỏi, lấy lời khai của người bị bắt và nhân chứng hoặc đưa đếnđộicảnh sátđiềutra đểnạnnhân hoặc các nhân chứng nhận dạng. Khiđã cóđủcăncứcho rằngngườibịbắtphạmtộithì cảnh sát mới trình lên thẩm phánđểxin lệnh giam. Những trườnghợpphạmtộinhỏ, cảnh sát cóthểgửigiấy triệutậpvà yêucầungườiđócómặtbấtcứlúc nào. Khi tiến hành xét hỏi, trong mọi trường hợp, cảnh sát phải chụp ảnh và lấy dấu vân tay của ngườiphạmtộivà gửiđếnCục điềutra của liên bangđểxác địnhlý

lịch tư pháp của họ đã bị can án chưa. Trước khi đưa họ vào giam để xét hỏi, cảnh sát phải thông báo cho người bị tình nghi quyền của họ được im lặng vàquyền được mời luật sư bào chữa. Một thời gian ngắn sau khi bị bắt, người bịtình nghi được đưa đến Toà tiểu hình để xem xét việc bảo lãnh. Những vụ việc vi phạm nhỏ về giao thông thì Toà tiểu hình xem xét giải quyết ngay. Trường hợp tội phạm thông thường thì Toà tiểu hình sẽ căn cứ vào tính chất tội phạm, mức độ phạm tội và các điều kiện bảo lãnh để xem xét việc bảo lãnh bằng tiền hoặc đặt tài sản nhằm bảo đảm sự cómặt của họ khi có giấy triệu tập trong các giai đoantốtụng sau. Tuy nhiên, đốivớinhững trườnghợpngườiphạm tội thuộc diện nghèo khó nhưng có nghề nghiệp, nhà cửa hoặc có những mối ràng buộc khác trong cộng đồng thì chỉ cần cho họ cam đoan có mặt bất cứ lúc nào mà không phảiđặttiềnđểbảođảm. Cũng nhưhầuhếtcác nước phát triển,

57

Luậttốtụng hìnhsựHoa Kỳquyđịnhcác tộiphạm hìnhsựcó tính chất nghiêm trọng như giết người, bắt cóc trẻ em thì không được áp dụng biện pháp bảo lãnh.

Như vậy, tạiHoa Kỳ, hoạtđộngtốtụng hìnhsựchính thức bắtđầutừkhi đơn khởi tố được đệ trình. Hình thức, thủ tục lập đơn khởi tố và vai trò của đơn khởi tố như là thủ tục chính thức bắt đầu đưa vụ án vào quá trình tố tụng,đồngthời chuyểnđịa vịpháp lí của ngườibịtình nghi sangbịcáo hình sự. Khởi tố vụán hình sự không được coi là một giaiđoạnđộc lậptrong tố tụng hình sự. Thay vào đó, khởi tố vụ án hình sự chỉ là một phần của giai đoạn điều tra (thường là các hoạtđộngcó tính chất nghiệpvụcủa cảnh sát). Vềquanđiểm này, ở Việt Nam, trong các giáo trình nghiệp vụ của ngành công an, giaiđoạn điều tra được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn điều tra ban đầu, giai đoạn điều tra tiếp theo, giai đoạn kết thúc điều tra và hoạt động có tính chất khởi tốvụ ánhình sự, hoạt động xác minh trong giai đoạnkhởi tố được xếp vào giaiđoạn điều tra banđầu.

1.4.4. Cộng hòa Pháp

Cộng hòa Pháp là quốc gia đại diện tiêu biểu cho các nước theo truyền thống luật lục địa (Civil Law), tốtụng hìnhsựPháp mangđặc trưng của môhình tố tụng thẩm vấn. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định cụ thể về thủ tục tố

tụng hình sự Pháp, nhận thấy có một số điểm tương đồng với mô hình tố tụng hìnhsựtranh tụngởcác nướctheo truyền thống luật án lệ. Đồngthời, thuật ngữkhởitốcũng khônghềđược nhắc đếnchính thức trongcảvănbảnpháp luật và công trình nghiên cứu khoa học.

Pháp có 2thủtục điềutra là điềutra sơ bộ(điều tracủacảnh sát) và điều tra của Tòa án (điều tra dự thẩm). Theo tác giả Edwin R. Keedy, khi viết vềthủtụcđiềutra sơ bộởPháp, ông khẳngđịnhthủtục điềutra sơ bộđược

58

quyđịnhtrong luậtvớithuậtngữchính thức là “Preliminary Investigation” bao hàm các hoạt động mang bản chất của khởi tố vụ án hình sự33.

Hoạt động điều tra sơ bộ chủ yếu do cơ quan cảnh sát và cơ quan quân cảnh tiến hành. Cơ quan cảnh sát trực thuộc Bộ Nội vụ và cơ quan quân cảnh trực thuộc BộQuốc phòng. Điềutra viên -ngườitiến hànhđiềutra sơ bộdù thuộc lực lượng cảnh sát hay lực lượng quân cảnh đều tiến hành điều tra dưới sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm. Mục đích của điềutra sơ bộlà tìm kiếmngườiphạm tội, xác nhậndấuhiệu của tộiphạm. Trong đoạn điều tra sơ bộ, cơ quan cảnh sát tư pháp có các thẩm quyền kiểm tra căn cứ, khám xét, kê biên và tạm giữ.

Các cơ sởđểbắtđầuhoạtđộngđiềutra sơ bộđốivớihành vibịcáo buộc bao gồm: Đơn tố cáo của người bị hại; Tố giác tội phạm của người khác chứng kiến tội phạm hoặc biết về tội phạm; Báo cáo bằng văn bản của sĩ quan cảnh sát đang thi hành nhiệm vụ và biết về tội phạm.

Về thủ tục, theo quy định của luật, các tố giác và tố cáo về tội phạm cóthểgửiđếnmộttrong hai nơi:Gửiđếncho côngtốviên nơitộiphạmxảyra hoặc nơi người bị tình nghi cư trú hoặc được tìm thấy, hoặc nộp cho trợ lí của công tố viên ở cơ quan cảnh sát tư pháp. Ngoài ra, tố giác tội phạm còn cóthểnộpcho thẩm phánđiềutra, sauđóđơnnàysẽđược chuyểnlạicho côngtốviên. Tuy nhiên, báo cáo về tội phạm thì chỉ có thể gửi cho công tố viên. Ngoài ra, công tố viên cũng có thể tự mình khởi động thủ tục điều tra sơ bộ mà không cầnphải nhậnđược tốcáo, tốgiác hay báo cáovềtộiphạm.Điềunàyđược tiến hành dựa trên kiến thức của côngtốviên hoặc dư luận công chúng màcông tố viênbiết được34.

33Edwin R. Keedy, Preliminary Investigation in France, Law Review of University of Pennsylvania, Vol88/4, 1940, tr. 313

34Edwin R. Keedy, Preliminary Investigation in France, Law Review of University of Pennsylvania, Vol88/4, 1940, tr. 412;

59

Kể từ khi cảnh sát bắt đầu điều tra, công tố viên phải được thông báo vềviệc điềutra đó.Trongmọitrường hợp, côngtốviênđềucó quyền yêu cầu điềutra thêmnếucông tố viên chorằng hồsơ chưa hoàn chỉnh. Khi cảnh sát cho rằng việc điều tra đã hoàn thành, họ đã có đủ bằng chứng đưa vụ án ra Tòa hoặc họ không thể tiếp tục tiến hành điều tra thêm do thiếu những thẩm quyền đặc biệt thì lúc đó họ sẽ chuyển hồ sơ vụ án cho công tố viên có thẩm quyền. Quyếtđịnhcó tiếp tục tiến hànhtốtụngđốivớivụán hay không do côngtốviên đưa ra và quyết định không thể bị xem xét lại.

Khi kết thúc điều tra sơ bộ, Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơthẩm có quyền đìnhchỉvụán, tạmthời đìnhchỉvụán, khởitốvụán hoặc chuyển vụ án đến Tòa án để điều tra. Nếu nhận thấy vụ án không bắt buộc phải tiến hành điều tra tại Tòa, Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm cóthể chuyển trực tiếp vụ việc cho Tòa tiểu hình xét xử.

Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng hình sự của Pháp cũng có quy định liên quanđếnhoạtđộngkhởitốhoặc yêucầukhởitốcủa ngườibịhại. Theo đó, mộtvụán hìnhsựcóthểđượcphátđộngđầutiênbởimộtđơnyêucầubồi thường thiệt hại tới thẩm phán điều tra với mục đíchchủ yếu của người bị hại là mong muốn được bồi thường thiệt hại. Những vụ án này có thể liên quan tới hành vi làm nhục ngườikhác, cướptàisảnhay gianlậntrong buôn bán. Sau khi tiến hành điều tra ban đầu, vụ án có thể được phát động chính thức về hình sự.Tác giảEdwin R. Keedy khẳngđịnh“mộtnét thúvịcủatốtụng hìnhsựPháp là vụ án hình sự và việc dân sự có thể được phát động và xét xử cùng với nhau”35.

1.4.5. Liên bang Nga

Liên bang Nga là quốc gia có hệ thống pháp luật mới chuyển đổi, từ hệthống tố tụng thẩm vấn có xu hướng thiên về công tố vào thời kỳ Xô Viết sang

35Edwin R. Keedy, Preliminary Investigation in France, Law Review of University of Pennsylvania, Vol88/4, 1940, tr. 414;

60

hệthống tranh tụng dựa trên cơ sởtính bìnhđẳngvà công bằng, bảovệcác quyền cá nhân và trao cho các Bồi thẩm viên quyền quyết định việc có tội hay vô tội trong những vụ án hình sự nghiêm trọng. Vai trò của cơ quan tiến hành tố tụng và của các bên trong chứng minh tội phạm cũng thay đổi theo hướng bị

cáo và Công tố viên tham gia một cách bình đẳng vào tiến trình tố tụng, Thẩm phán từ vai trò tích cực trong việc buộc tội chuyển sang vai trò là một trọng tài trung lập. Tố tụng Hình sự Liên bang Nga vừa có yếu tố cơ bản của tranh tụng, vừa mang đặc điểm của tố tụng hình sự thẩm vấn.

Về các giai đoạn tố tụng, nếu như toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự của mô hình Xô viết được cấu trúc theo các giai đoạn tố tụng nối tiếp nhau thì hoạt độngtốtụng theo mô hình của nước Nga mớiđược chia làm hai giaiđoạn chính: Giaiđoạntốtụng tiền xétxửvà giaiđoạntốtụngởTòa án, trong đó, khởitốvụán hìnhsựlà mộttrong các thủtục được thực hiện ởgiaiđoạntố

tụng tiền xét xử.

Hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự Nga chia các vụ án hình sự thành ba loại là: vụ án công tố, vụ án tư tố và vụ án công – tư tố. Từ đó, thủ tục khởi tố vàgiải quyết ba loại án này cũng có sự khác nhau. Trong đó:“Các vụ án hình sự vềcáctộiphạm quyđịnhtạicácđiều115, 116, khoản 1Điều129 vàĐiều130 BLHS được coi là các vụ án tư tố. Các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 131, 132, 136, 137, 138, 139, 146, 147 và Điều 145 BLHS được coi là các vụ án công – tư tố. Những vụ án hình sự còn lại là những vụ án công tố”36.

Đối với các vụ án công tố, BLTTHS Liên bang Nga năm 2001 quy định vụ án hình sự được khởi tố vào thời điểm mà tội phạm được phát hiện cho dùđã phát hiện được người phạm tội hay chưa. Các Dự thẩm viên, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều có thẩm quyền ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Khi có quyếtđịnhkhởitốvụán hình sự, thủtục điềutra chính thức

36Điều20 Bộ luật Tố tụng Hình sự Liên bang Nga

61

bắt đầu và hồ sơ vụ ánđược Điều tra viên (hoặc Dự thẩm viên), những nguời sẽ tiến hành điều tra vụ án trong suốt giai đoạn điều tra, lập ra. Tài liệu đầu tiên trong hồ sơ vụ án thường là quyết định khởi tố vụ án hình sự. Tất cả mọi chứng cứđượcthu thập sauđócũngđược đưa vàohồsơ vụándướihình thức một loại văn bản tố tụng chính thức gọi là biên bản. BLTTHS Liên bang Nga năm 2001 quyđịnhrằngmỗihoạtđộngtốtụng trong giaiđoạnnày phảiđược lập biên bản. Nhữngngườitham gia vàomộthoạtđộngđiềutra nhấtđịnhcóquyền kiểm tra biên bản, đưa ra nhận xét và bổsung vào biên bản. Bộluật cũng quy định các thủ tục nhằm giữ bí mật nhân dạng của nạn nhân, các nhân chứng và mộtsốngườitham gia tốtụng khác trong biênbảnnhưmộtbiện phápcần thiết để đảm bảo sự antoàn của họ. Không có đạo luật riêng nào vềchứng cứ ở Nga, tất cả các nguyên tắc chứng cứ được quy định trong BLTTHS. Khi đã chính thức mở ra thủ tục tố tụng với quyết định khởi tố vụ án thì vụ án sẽ chuyển sang hoạt động điều tra theo hai kiểu điều tra là điều tradựthẩm và điều tra sơ bộ.

Cácvụán tưtốchỉđượckhởitốkhi có yêucầucủa ngườibịhạihoặc người đại diện hợp pháp của họ. Trong trường hợp người bị hại chết thì vụ ánđược khởitốtheo yêucầucủa nhữngngườihọhàng thân thích của họhoặc kiểm sát viên khởi tố nếu người bị hại ở trong tình trạng bất khả kháng hoặc do những nguyên nhân khác mà không thể bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đối với trường hợp này kiểm sát viên sẽ chuyển vụ ánđể tiến hành điều tra. Đồng thời, việc kiểm sát viên tham gia vào vụ án không tước đi của các bên quyền được hoà giải37. Trong trường hợp người bị hại và bị can thoảthuận, hòa giải được với nhau thì vụ án phải bị đình chỉ, nhưng việc thoả thuận chỉ được thực hiện trước khi Toà án tiến hành nghị án để tuyên án.

Cácvụán công – tưtốchỉđượckhởitốkhi có yêucầucủangườibịhại nhưng khôngthểbịđìnhchỉkhi có thoả thuận giữangườibịhạivàbịcan,trừ

37Điều318 Bộ luật Tố tụng Hình sự Liên bang Nga

62

những trường hợp quy định tại Điều 25 BLTTHS. Tuy nhiên kiểm sát viên, cũng như dự thẩm viên hoặc điều tra viên sau khi được sự đồng ý của Viện kiểm sát cóquyền khởi tố vụ án hình sự về bất kỳ tội phạm nào mặc dù không có yêu cầu của người bị hại, nếu như các tội phạm đó xâm hại đến người bị hại đang ở trong tình trạngbịlệthuộc hoặc do những nguyên nhân khác màngườiđókhông cókhảnăng tự mình sử dụng các quyền của mình38.

38Điều25 Bộ luật Tố tụng Hình sự Liên bang Nga quy định:“Toà án, Kiểm sát viên cũng như Dự thẩm viên vàĐiềutra viênnếuđược Việnkiểm sát đồng ý, căn cứ vào yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền đình chỉ vụ án hình sự đối với người bị nghi ngờ hoặc bị buộc tội là đã thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng trong các trường hợp quy định tại Điều 76 BLHS Liên bang Nga, nếungười đó tựhoà giải được với người bị hại và bồi thường thiệt hại cho người bị hại”.

63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

TạiChương 1, tác giả nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về khởi tốvụ ánhình sự, theo đó, tác giả phân tích khởi tố vụ án hình sự dướigóc độ làmột giai đoạn tố tụng độc lập cũng như đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự.

Trên cơ sở nghiên cứu, kế thừa và phát triển những quan điểm khác nhau của các chuyên gia pháp lý, tác giảđưara khái niệmvềkhởitốvụán hình sự.Từ khái niệm khởi tố vụ án hình sự, tác giả rút ra những đặc điểm của giaiđoạn khởi tố vụ ánhình sự bao gồm: Nhiệm vụ đặc trưng của giai đoạn khởi tốvụ án hình sự; căncứ khởi tố vụ ánhình sự; chủ thể khởi tố vụ án hình sự; thời hạn khởi tố vụ ánhình sự; hoạt động tố tụng đặc trưng trong giaiđoạn khởi tốvụ án hình sự và các quyết định tố tụng kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án hình sự.

Khởi tố vụ án hình sự với tính chất là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên cóýnghĩa rấtquan trọng vềmặtpháp lý và vềmặtchính trị – xã hội. Đâylà giai đoạn mở đầu của quá trình tố tụng, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án. Việc khởi tố vụ án hình sự cócăn cứ và kịp thời sẽ góp phần đảm bảo hiệu quả công tác phòng ngừa vàchống tội phạm, bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân, bảo đảm thực hiện công bằng xã hội.

Pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án đã hình thành từ những ngàyđầuNhànướcdânchủnhân dânđược thành lập; nhưngchỉchính thức được phápđiểnhoá tạiBLTTHS 1988 và đượchoàn thiện trong các BLTTHS tiếp theo, thể hiện các đặc điểm của một giai đoạntố tụng độc lập.

Đi sâu nghiên cứu quy định về khởi tố vụ án hình sự trong pháp luậttốtụng hình sự của một số nước đại diện cho các mô hình tố tụng khác nhau nhưTrung Quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Cộng hòa Liên bangĐức và Liên bang Nga, tác

64

giả rút ra một số điểm tương đồng cũng như khác biệt trong quy định pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự. Đây là những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình xây dụng BLTTHS nói chung, hoàn thiện quy định khởi tố vụ án hình sự nói riêng.

65

CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰNĂM 2003 VÀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

2.1. Chủ thể khởi tố vụ án hình sự

Theo quyđịnhcủa BLTTHS năm 2003 và Pháp lệnhtổchức điềutra hìnhsựthìchủthểthực hiện hoạtđộngkhởitốvụán hìnhsựbao gồm: Cơ quanđiềutra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quanđược giao thực hiệnmộtsốnhiệm vụ điều tra (Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và các cơ quan khác củaCông an nhân dân, Quânđộinhân dân)39.

2.1.1. Cơ quan điều tra

Căn cứ quy định tại Điều 104 BLTTHS năm 2003 thì khi xác định có dấu hiệutộiphạm, Cơ quanđiềutra ra quyếtđịnhkhởitốvụán. Đâylà mộtquyđịnh chung chung khi BLTTHS năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sựchỉquyđịnhcụthểvềthẩm quyềnđiềutra của cơ quanđiềutra theosựviệc, theo đối tượng và theo lãnh thổ. Việc xác định thẩm quyền điều tra phải dựa trên cơ sởthẩm quyền xétxửcủa Tòa án40. Các quyđịnhkhác của BLTTHS năm 2003 và Pháp lệnhtổchức điềutra hìnhsựcũng không dẫn chiếu việc xác địnhthẩm quyền khởitốtrên cơ sởthẩm quyềnđiềutra nên chưa có căncứpháp lý rõ ràngđểxác địnhthẩm quyền khởitốvụáncụthểcủa Cơ quan điều tra theo sự việc, theo đối tượng và theo lãnh thổ.

Trong các giáo trình của các cơ sở đào tạo luật41, cũng như trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự thì thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan

39Xem Điều 104, Điều 111 BLTTHS năm 2003 và Điều9 đếnĐiều25 Pháplệnh tổchức điều tra hình sự. 40Điều110 BLTTHS năm 2003

41Xem giáo trình luật Tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà nội, NXB CAND năm 2010, tr 233-236 vàgiáo trình luật Tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật TP.HCM, NXBHồng Đức,năm 2012, Tr.233-234.

66

điều tra được xác định trên cơ sở thẩm quyền điều tra và thẩm quyền điều tra lại được xác định dựa trên thẩm quyền xét xử của Tòa án, cụ thể như sau42:

– Xác định thẩm quyền khởi tố vụ án theo đối tượng

+ Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm quy định từ Chương 11 đến Chương 24củaBLHS năm 1999, trừ nhữngtộiphạm thuộc thẩm quyền khởi tốcủa Cơ quanđiềutra trong Quânđộinhân dân, Cơ quanđiềutra của VKSND tối cao và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát Quân sự trung ương.

+ Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm quy định từ Chương 11 đến Chương 24 BLHS nếu các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

+ Cơ quanđiềutra của VKSNDtốicao khởitốvụánvềmộtsốloại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tộiphạmđóthuộc thẩm quyền xétxửcủaTòa án nhân dân, Viện kiểm sát Quân sự trung ương có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ ánđối với một số loại tội xâmphạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quânsự.

– Xác định thẩm quyền khởi tố vụ án theo lãnh thổ

Cơ quan điều tra có thẩm quyềnđiềutra những vụ án hình sự mà tội phạm xảyra trênđịa phậncủamình. Trong trườnghợpkhông xácđịnhđược địađiểmxảyra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.

– Xác định thẩm quyền khởi tố vụ án theo sự việc

42Xem Điều 110 BLTTHS năm 2003.

67

+ Cơ quan điều tracấphuyện, Cơ quanđiềutra quân sự khu vực điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấphuyện, Toà án quân sự khu vực;

+ Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu điều tra nhữngvụán hìnhsựvề nhữngtộiphạm thuộc thẩm quyền xétxửcủa TANDcấptỉnh, Toà án quânsựcấpquân khu hoặc nhữngvụán thuộc thẩm quyềnđiềutra của Cơ quan điều tra cấp dưới nhưng xét thấycầntrực tiếpđiều tra.

+ Cơ quan điều tra cấp trung ương điều tra những vụ án hình sự về những tộiphạmđặc biệt nghiêm trọng, phức tạpthuộc thẩm quyềnđiềutra của Cơquan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu nhưng xét thấy cầntrực tiếp điều tra.

Thẩm quyền khởitốvụán của Cơ quanđiềutra theo quyđịnhcủa BLTTHS năm 2015được quyđịnhtạiĐiều153. Theo đó, Cơ quanđiềutra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừnhững vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điềutra, Viện kiểm sát, Hộiđồngxétxửđangthụlý, giải quyết quyđịnhtại các khoản 2, 3 và 4Điềunày. Quyđịnhnày cócụthểhơn sovớiBLTTHS năm 2003 khiđã loạitrừnhữngvụviệc códấuhiệutộiphạm nhưng do cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết.

2.1.2. Viện kiểm sát

Theo quy định tại Điều 104 BLTTHS năm 2003 thì Viện kiểm sátkhởi tốvụ án hình sự trong hai trường hợp sau đây:

– Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án khi hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra, Bộ đội Biên phòng, Hải quan và Kiểm lâm,

lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quânđội

68

nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra. Trong trường hợp này khi thực hành quyền côngtốvà kiểm sát hoạtđộngkhởitốđểđảmbảo mọitộiphạmđềuphảiđược phát hiện vàxửlý, khôngbỏlọttộiphạm. Khi Viện kiểm sát phát hiệnsựviệc xảyra códấuhiệutộiphạm nhưng Cơ quanđiềutra và các cơ quan được giao nhiệmvụ tiếnhànhmộtsố hoạtđộng điều tra lại ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, như vậy sẽ bỏ lọt tội phạm. Chính vì vậy, Viện kiểm sátđược quyềnhủybỏquyếtđịnhkhông khởitốkhông có căncứcủacác cơ quan nàyđồngthời ra quyếtđịnhkhởitốvụán hìnhsựvà gửiquyếtđịnh khởitốnày cho cơ quanđiều tra đểtiến hành điều tra.

– Khởi tố vụ ántheo yêu cầu của Hội đồng xét xử, trong trường hợp qua hoạt động xét xử tại phiên tòa, Hội đồng xétxửphát hiện tội phạmmớihoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.

Theo quy định tại Điều 153 của BLTTHS năm 2015 thì thẩm quyền khởi tốcủa Viện kiểm sátđã được mởrộng hơn, theo đó, Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:

– Thứ nhất, Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sựcủa Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra;

– Thứ hai, Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Theo quy định tại Điều 145 thì Viện kiểm sát giải quyết tốgiác, tin báovềtộiphạm, kiến nghị khởitốtrong trườnghợpphát hiện Cơquan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báovềtộiphạm, kiến nghị khởitốhoặc códấuhiệubỏlọttộiphạm màViện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục. Đây làmộtquyđịnhmớivềthẩm quyềnkhởi tố vụán của Viện kiểm sát. Quyđịnh

69

này giúp bảo cho Viện kiểm sát thực hiện tốt chức công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

– Thứ ba, Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử. Nếu như trong BLTTHS năm 2003, khi trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì Viện kiểm sát không có thẩm quyền khởi tố mà phải kiến nghị Cơ quan điều tra khởi tố vụ án. Tuy nhiên, theo quyđịnh của BLTTHS năm 2015 thì Viện kiểm sátđược quyền khởi tố vụ ánkhi trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm. Đây là một quy định nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của Viện kiểm sát trong việc phát hiện nhanh chóng và xửlý kịp thời mọi loại tội phạm.

2.1.3. Tòa án

Tòa án ra quyết định khởi tố vụ án hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra43. Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án qua việc xét xử tại phiên tòa thuộc về Hội đồng xétxử.

Như vậy, theoĐiều104 BLTTHS năm 2003 cho phépHộiđồngxétxửlựa chọn ra quyếtđịnh khởi tốhoặc yêucầuviện kiểm sátkhởi tốvụán hình sựnếuqua việc xétxửtạiphiên tòa mà phát hiệnđượctộiphạm hoặc người phạmtộimớicầnphải điều tra.

Trong trườnghợpTòa án phát hiệntộiphạmmớihoặcngườiphạm tội mớitrướckhi vụ ánđượcđưa ra xét xử thì Tòa án không khởi tốvụán màsẽra quyếtđịnh trảhồsơ cho Viện kiểm sátđểđiều tra bổ sung.

2.1.4. Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư

Theo quyđịnhtạiĐiều111 BLTTHS năm 2003, khi phát hiện những hành vi phạmtộiđếnmức phải truycứutrách nhiệm hìnhsựtrong lĩnh vực

43Xem: Đoạn 3 khoản 1, Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự.

70

quản lý của mình thì Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển có thẩm quyền:

– Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong những trường hợp phạm tội quảtang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, thì ra quyết định khỏi tố vụán, khởitốbịcan, tiến hànhđiềutra và chuyểnhồsơ cho Viện kiểm sát cóthẩm quyền trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụán.

– Đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụán.

Theo quyđịnhtạiĐiều19, Điều20, 21, 22 Pháp lệnhtổchức điềutra hình sự thì thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển cụ thể như sau :

– ĐơnvịBộđộibiên phòng khi phát hiệndấuhiệutộiphạm trong lĩnh vực quản lý của mình có quyền khởi tố đối với tội phạm quy định tại Chương 11 và tội phạm quy định tại các Điều 119, 120, 153, 154, 172, 180, 181, 188, 192, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 236, 263, 264, 273, 274, và 275 BLHS năm 1999.

– Cơ quan Hải quan khi thực hiện nhiệm vụ phát hiện dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực mình quản lý thì có quyền khởi tố đối với tội phạm quy định tại Điều 153 và Điều 154 BLHS năm 1999.

– Cơ quan Kiểm lâm có quyền khởitốvụán hìnhsựkhi phát hiện dấu hiệutộiphạm trong lĩnh vực mình quản lýđốivớitộiphạm quyđịnhtạicác Điều 175, 189, 190, 191, 240 và 272 BLHS năm 1999.

– Lực lượng cảnh sát biển khởi tố vụ án khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện dấu hiệu tội phạm đối với các tội phạm quy

71

địnhtạichương 11 và các Điều153, 154, 172, 183, 188, 194, 195, 196, 212, 213, 221, 223, 230, 231, 236, 238, 273 và 274 BLHS năm 1999 (sửađổi, bổsung năm 2009).

Ngoài các cơ quan nêu trên, BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức cơ quanđiều tra năm 2015 đã có những quy định bổ sung thêm chủ thể mới là cơ quan Kiểm ngư có thẩm quyền khởitốvụán nhằmđápứngnhucầucủa thực tiễn đấutranh phòng chốngtộiphạm. Kiểm ngưđược quyđịnhlà cơ quanđược giao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra. TheoĐiều164 BLTTHS năm 2015 và Điều 36 Luật tổ chức cơ quan điều tra thì Cơ quan Kiểm ngư khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quyđịnh tại các điều 111, 242, 244, 245, 246, 305 và 311 của BLHS 2015 xảy ra trên các vùng biển và thềmlục địa của nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam do Kiểm ngư quản lý thì Cục trưởng Cục Kiểm ngư, Chi cục trưởng Chi cụcKiểm ngư vùng có nhiệm vụ, quyềnhạnsau đây:Đốivớitộiphạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ án, khám nghiệm hiện trường, khám xét, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, trưng cầu giám định khi cần thiết, khởi tố bị can, tiến hành các biện phápđiềutra khác theo quyđịnhcủa BLTTHS, kếtthúc điềutra vàchuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng, kểtừngày ra quyếtđịnhkhởitốvụán;Đốivớitộiphạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tộiphạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết định khởi tố vụ án, khám nghiệm hiện trường, khám xét, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

2.1.5. Các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quânđộinhân dânđược giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra

72

Theo quy định tại khoản 2 Điều 111 BLTTHS năm 2003 thì các cơ quan khác của lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụtiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình, nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm, thì có quyền khởi tố vụ án, tiến hành những hoạtđộngđiềutra banđầuvà chuyểnhồsơ cho Cơ quanđiềutra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

Theo quy định tại Điều 23, Điều 24, Điều 25 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 thì thẩm quyền khởi tố cụ thể của các cơ quan này nhưsau:

– Quyền hạn điều tra của các cơ quan khác của lực lượng Cảnh sát trong Công an nhân dânđược giao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra:

Cục Cảnh sát giao thôngđườngbộ–đườngsắt, Cục Cảnh sát giao thôngđường thuỷ, Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, Phòng Cảnh sát

giao thôngđườngbộ–đườngsắt, Phòng Cảnh sát giao thôngđườngthuỷ, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính vềtrậttựxã hội, Phòng Cảnh sátbảovệvà hỗtrợtư pháp, Trạitạmgiam, Trại giam trong khi làm nhiệmvụcủa mình mà phát hiệnsựviệc códấuhiệu tội phạm thuộc thẩm quyềnđiềutra của Cơ quan Cảnh sátđiềutra quyđịnhtại

Điều 11 của Pháp lệnh này thì Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ –đường sắt, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường thuỷ, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính vềtrậttựxã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sátbảovệvà hỗtrợtư pháp, Trưởng

Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt, Trưởng Phòng Cảnh sát giao thôngđườngthuỷ, Trưởng Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Trưởng Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng Phòng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, Giám thị trại tạm giam, Giám thị trại giam ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường, khám xét, thu giữ,

73

tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

– Quyền hạn điều tra của các cơ quan khác của lực lượng An ninh trong Công an nhân dânđược giao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra:

Các cục An ninh, các phòng An ninhởCông ancấptỉnh trực tiếpđấutranh phòng, chống các tội phạm quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh này, trong khi làm nhiệmvụcủa mình mà phát hiệnsựviệc códấuhiệutộiphạm thì Cục trưởng, Trưởng phòng các phòng An ninhởCông ancấptỉnh ra quyếtđịnh khởitố vụán, lấylờikhai, khám nghiệm hiện trường, khám xét, thu giữ, tạm giữvà bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đếnvụán; khi xét cần ngăn chặn ngay người có hành vi phạm tội chạy trốn, tiêu huỷ chứng cứ hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm thì giải ngayngười đó đến cơquan Công an và xin ngay lệnh bắt khẩncấp củacơ quan có thẩm quyền; trong thờihạn bảyngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan An ninh điều tra có thẩm quyền.

– Quyền hạn điều tra của các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra: Giámthịtrạitạmgiam, Giám thị trại giam trong khi làm nhiệmvụcủamình mà phát hiện sự việc códấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì ra quyếtđịnh khởitố vụán, khám nghiệm hiện trường,lấylờikhai, khám xét, thu giữ, tạmgiữvà bảoquản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quanđiềutra hìnhsựcó thẩm quyền trong thờihạnbảyngày, kểtừngày ra quyết định khởi tố vụ án.

Bên cạnh đó, theo quy định của Luật tổ chức cơ quan điều tra năm 2015 thì các cơ quancủaCông an nhândân được giao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạt động điều tra được bổ sung thẩm quyền khởi tố vụ án so với quy định của

74

Pháp lệnhtổchứcđiềutra hìnhsựgồmcó:CụcQuản lý xuất nhập cảnh; Phòng Quản lý xuất nhập cảnh; Cục Cảnh sát phòng, chốngtộiphạmvềmôi trường; Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao44.

2.1.6. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại

Vềnguyên tắc, việc khởitốvụán hìnhsựlà quyềnchủđộngcủa cơquan có thẩm quyền tiến hànhtốtụng, khôngphụthuộc vàoýchí của bịhại hoặc người đại diện của họ. Tội phạm xảy ra làm xuất hiện quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, chỉ Nhànước mới cóquyền truy cứu hoặc tha miễn trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc người đại diện của họ là điều kiện bắt buộc để khởi tố vụ án hình sự. Đó là các tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người hoặc xâm phạm trật tự quản lý kinh

tế, tính chất và mức độnguy hiểm cho xãhộikhông phải là rấtlớnhoặcđặc biệt lớn, không có tình tiết định khung tăng nặng, nếu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chủ động khởi tố có thể gây thêm những tổn thất về tinh thần, làmlộbímậtđờitư của bịhại, phávỡsựtha thứ, hoà giải và thoả thuận bồi thường giữa các bên.

Theo quyđịnhtạikhoản 1Điều105 BLTTHS năm 2003, “ngườibịhại”là chủ thể có quyền yêucầu khởi tố vụ ánhình sự. Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra (khoản 1 Điều 51 BLTTHS năm 2003). Ngườibịhạilà cá nhânchứkhông phải là cơ quan, tổchức. Cơ quan, tổchức bịthiệthạidotộiphạm gây ra là nguyênđơndânsự(nếu cóđơnyêucầubồithường thiệt hại) hoặc ngườicó quyền lợi, nghĩa vụliên quan đến vụ án (nếu không có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại). Theo quyđịnh của BLTTHS năm 2003, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không phải là chủ thể có quyền yêucầu khởi tố vụ án

44Xem khoản 6 Điều 9 Luật Tổ chức cơ quan điều tra năm 2015.

75

hình sự. Vì vậy, cơ quan, tổchức bịthiệthạivềtộixâm phạm quyềnsởhữu công nghiệp theo khoản 1 Điều 171 BLHS năm 1999 không phải là chủ thể cóquyền yêucầu khởi tố vụ ánhình sự. Gần 4 năm sau khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực pháp luật, Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/02/2008 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ công an, Bộ tư pháp mới cho phép cơ quan, tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc tổchức quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền yêucầu khởi tố vụ ánhình sự về tội xâm phạm quyềnsởhữucông nghiệp.45 Như vậy, bằngmộtvănbảndướiluật, phạm vichủthểquyền yêucầukhởitốvụán hìnhsựđược mởrộngđốivới nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Phạm vichủthểcó tư cáchbịhại theo quyđịnhtạikhoản 1Điều155 BLTTHS năm 2015 được mở rộng so với quy định của BLTTHS năm2003. Bịhại không chỉ là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản màcòn là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe doạ gây ra (khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015). Như vậy, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo khoản 1 Điều 226 BLHS năm 2015 là chủ thể có quyền yêucầu khởi tố vụ ánhình sự với tư cách bị hại chứ không phải với tư cách nguyên đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vốn có phạm vi quyền hạn chế hơn so với bị hại.

Bên cạnh đó, theo quyđịnhtạikhoản 1 Điều 105 BLTTHS năm 2003, “người đại diện hợp pháp của người bị hại” là chủ thể của quyền yêu cầu khởi tốvụán hìnhsựtrong trường hợp “ngườibịhạilàngườichưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”. Như vậy, phạm vi chủ thể cóquyền yêucầukhởitốvụán hìnhsựtheo quyđịnhcủa BLTTHS năm 2003 rộng hơn sovớiBLTTHS năm 1988chỉquyđịnhngườibịhạicó quyền yêu cầukhởitốvụán hình sự. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 chưa quyđịnh

45 Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/02/2008 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ công an, Bộ tư pháphướng dẫnviệc truy cứu trách nhiệmhình sự đốivớicác hành vi xâm phạm quyềnsở hữutrí tuệ.

76

trường hợp bị hại đã chết thì người đại diện của họ có quyền yêucầu khởi tốvụán hình sự. Khoản 1Điều155 BLTTHS năm 2015đã quyđịnhbổsung trường hợp này. Cụ thể, “người đại diện của bị hại” là chủ thể của quyền yêu cầukhởitốvụán hìnhsựtrong trườnghợp“bịhạilàngườidưới18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết”.

Yêucầu khởi tố vụ ánhình sự của người đại diện của bị hại là yêu cầu độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của bị hại. Việc người đại diện của bị hại yêu cầu khởi tố vụ án hình sự không loại trừ việc bị hại tự mình yêu cầu khởi tốvụán hình sự. Do đó, quanđiểm “nếungườibịhạilàngườichưa thành niên, ngườicó nhược điểmvềtâm thần hoặc thểchất thìchỉngườiđạidiện hợp pháp của người bị hại mới có quyền yêu cầu”46 là không hợp lý.

Khoản 1Điều105 BLTTHS năm 2003 quyđịnhcác trườnghợpchỉđược khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là các tội phạm quyđịnh tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 13147 và171 BLHS năm 1999. Quyđịnhnàyđược kếthừa tạikhoản 1Điều 155 BLTTHS năm 2015, theođócác trườnghợpchỉđược khởitốvụán hìnhsựtheo yêu cầu của bị hại là các tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 266 BLHS năm 2015 (tộicốýgây thương tích hoặc gâytổnhạichosứckhoẻ của ngườikhác, cốýgây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bịkích động mạnh, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác dovượtquá giớihạnphòngvệchính đáng hoặc dovượtquá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ngườikhác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, hiếp

46 Nguyễn Đức Thái (2009), “Một số vướng mắc trong thực tiễn ápdụng chế định khởi tố vụ ánhình sự theo yêucầu của người bị hại”,Tạp chí Kiểm sát, (09), tr. 28.

47 Theo Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa BLHS, kể từ ngày 19/6/2009 người thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả quy định tạiĐiều131 BLHS năm 1999 không bị xử lý về hình sự, nên không còn thuộc trường hợpchỉ đượckhởi tốvụ án hình sự theo yêu cầu.

77

dâm, cưỡngdâm, làm nhục ngườikhác, vu khống, xâm phạm quyềnsởhữu công nghiệp).

Như vậy, mặc dù có những quanđiểmđềnghị thu hẹp48 hoặc mởrộng phạm vi các trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu nhằm thểhiện “tương quan giữa công tố vàtư tố”,“cân đối lại tương quan trong pháp luật giữa lợi ích cá nhân và lợi íchxã hội mà Nhà nước là người đại diện”,49 nhưng BLTTHS năm 2015 về cơ bản giữ nguyên phạm vi các trường hợp chỉđược khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu,“trong giới hạn Nhà nước và xã hội chấp nhận được”50. Việc khởi tố vụ án hình sự các tội phạm không thuộc cácđiều khoản nói trên là quyền chủ động của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố

tụng, không phụ thuộc vào ý chí của bị hại hoặc của người đại diện của họ. Vìvậy, bịhạicóthểtựdo lựa chọn yêucầuhoặc không yêucầukhởitốvụán hìnhsựnhưng khôngđược từchối giám định. Nhiều trường hợp, cókếtluận giámđịnh mới xác định được tội phạm cóthuộc trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu hay không. Nếu bị hại từ chối giám định theo quyết định trưng cầucủa cơ quan có thẩm quyền tiến hànhtốtụng mà không vì lý dobấtkhảkháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải (điểm b khoản 2Điều127 BLTTHS năm 2015). Đâylà quyđịnhmớicủaBLTTHS năm 2015, góp phần giải quyết tình trạngbịhạitừchối giámđịnh,gây khó khăn cho việc chủ động giải quyết vụ án hình sự của cơ quan điều tra.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\KHỞI TỐ VỤ ÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam Khởi tố vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *