Hoàn thiện quy trình quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát
1. Ý NGHĨA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Hệ thống quy trình quản lý là một công cụ quản lý hữu hiệu giúp doanh nghiệp ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra, xác định được sự yếu kém trong từng khâu cụ thể của doanh nghiệp mình, từ đó đưa ra những giải pháp, những hướng khắc phục nhằm giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong sản xuất kinh doanh, bảo vệ tài sản, tiền bạc, thông tin …, đảm bảo tính chính xác của các số liệu, đảm bảo các thành viên phải tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của tổ chức cũng như các quy định của luật pháp, đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đề ra… Hiện nay, do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID, tình hình kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng không ít trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Sức mua trên thị trường thấp, hàng hóa trong nước tiêu thụ chậm, giá xăng dầu giảm tác động mạnh mẽ đến giá cả mua vào và bán ra của hàng hóa, … Chưa kể đến, hầu hết phương pháp quản lý của nhiều doanh nghiệp hiện nay còn khá lỏng lẻo, việc quản lý chủ yếu dựa trên sự tin tưởng cá nhân mà không có những thủ tục kiểm soát kèm theo; việc hoạch định kế hoạch chưa được chú trọng từ đó dẫn đến nhiều rủi ro và gian lận có thể xảy ra như trộm cắp, biển thủ tài sản, chuyên quyền, … Việc xây dựng hệ thống quy trình quản lý vững mạnh trở thành một nhiệm vụ vô cùng cấp thiết và tối quan trọng cho các doanh nghiệp, không những giúp nhà quản trị quản lý doanh nghiệp một cách có hệ thống, có tổ chức, các hoạt động của đơn vị luôn được kiểm soát chặt chẽ mà còn góp phần hạn chế những rủi ro đến mức thấp nhất, duy trì hoạt động của doanh nghiệp kể cả trong thời kỳ kinh tế gặp khó khăn.
Trong thời đại 4.0, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp ngành Bưu chính Viễn thông nói riêng ngày càng có nhiều cơ hội để phát triển thị trường, mở rộng kinh doanh, vươn tầm ra thế giới. Các doanh nghiệp muốn tồn tại vững mạnh, nâng cao năng lực, tạo thương hiệu riêng cho sản phẩm của mình, giành lấy quyền chủ động về mọi mặt, tạo và giữ vị thế của doanh nghiệp trên thị trường toàn cầu trong môi trường cạnh tranh như hiện nay thì phải có một hệ thống quản lý hiệu quả cho toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng hệ thống quy trình quản lý, các đơn vị trong và đặc biệt là Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát đã có sự chú trọng đáng kể cho hoạt động quy trình quản lý, tích cực quan tâm tới việc thiết kế và áp dụng các thủ tục kiểm soát thích hợp cho từng hoạt động của các phòng ban và các đơn vị thành viên. Trong đó, kho luôn là mối quan tâm hàng đầu của cấp lãnh đạo. Hiện nay, Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát là nhà cung cấp các sản phẩm, dịch vụ di động tiên tiến, Internet tốc độ cao, dịch vụ truyền hình đa phương tiện và các giải pháp công nghệ thông tin thông minh cho cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; số lượng nghiệp vụ nhập xuất rất nhiều, đồng thời kho luôn chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng giá trị của doanh nghiệp. Do đặc thù của ngành viên thông, phụ thuộc theo nhu cầu dịch vụ của khách hàng nên kho của VNPT Đắk Lắk rất nhỏ lẻ, đa dạng và phức tạp; đặc biệt nếu không quản lý tốt trong các khâu đặt mua sẽ dẫn đến tình trạng hàng thừa không sử dụng, hoặc hàng về chậm so với kế hoạch sản xuất gây ra tình trạng công nhân kỹ thuật không có việc làm, trễ thời gian lắp đặt, cung cấp dịch vụ, vi phạm hợp đồng với khách hàng. Ngoài ra, việc bảo quản kho, xây dựng kho cũng cần được quan tâm đúng mức nhằm tránh trường hợp kho bị mất mát, ẩm mốc, hư hại. Việc quản lý và kiểm soát tốt kho sẽ giúp cung cấp nguyên vật liệu, vật tư đầy đủ đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục không bị gián đoạn, kho không bị ứ đọng, chậm luân chuyển, kho không bị thất thoát, tiết kiệm chi phí cho đơn vị, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Từ thực tế trên, đề tài “Hoàn thiện quy trình quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát ” được tác giả lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, nhằm tìm hiểu sâu hơn về hoạt động quy trình quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát; từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý kho, nhằm hạn chế các gian lận và sai sót, góp phần mang lại hiệu quả cho hệ thống quản lý của đơn vị.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở những vấn đề về lý luận về hệ thống quy trình quản lý nói chung và kho nói riêng, thông qua nghiên cứu thực tế quy trình quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát, tiến hành phân tích và đánh giá thực trạng, từ đó rút ra những hạn chế cần khắc phục, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện quy trình quản lý kho cho đơn vị.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến quy trình quản lý kho, bao gồm: các chính sách, thủ tục, quy trình kiểm soát và quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát .
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn ở quy trình quản lý kho (gồm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hóa) bắt đầu từ quy trình mua hàng, nhập kho, đến xuất kho phục vụ lắp đặt dịch vụ và quy trình quản lý tồn kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát trong năm 2020.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khái quát hóa và tổng hợp: để tổng hợp những lý luận cơ bản về hệ thống quy trình quản lý và quy trình quản lý kho qua các giáo trình, tài liệu.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp để có được các thông tin liên quan đến quy trình quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát.
- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn những đối tượng có liên quan đến chu trình như Kế toán trưởng, chuyên viên kế toán tổng hợp, chuyên viên kế toán vật tư, chuyên viên quản trị rủi ro, thủ kho… về quy trình quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát.
- Phương pháp quan sát: quan sát các hoạt động và nghiệp vụ về kho diễn ra hàng ngày tại đơn vị.
- Từ kết quả phỏng vấn, quan sát, thu thập tài liệu, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá và so sánh những thông tin thu được nhằm đánh giá thực trạng quy trình quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát .
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về quy trình quản lý kho trong doanh nghiệp.
- Chương 2: Thực trạng quy trình quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát .
- Chương 3: Hoàn thiện quy trình quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát .

6. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY TRÌNH QUẢN LÝ KHO TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về hệ thống quy trình quản lý trong doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái quát về quy trình quản lý
Dưới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu quy trình quản lý đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau:
- Liên đoàn kế toán quốc tế (The International Federation of Accountant – IFAC) đã định nghĩa quy trình quản lý như sau: “Hệ thống quy trình quản lý là một hệ thống chính sách, thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu: bảo vệ tài sản của đơn vị; bảo đảm độ tin cậy của các thông tin; bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý; bảo đảm hiệu quả hoạt động”. [8, tr.82]
- Năm 1936, trong một công bố, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (American Institute of Certificated Public Accountants – AICPA) định nghĩa quy trình quản lý “… là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”. [10, tr.5]
- Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 – Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị (Ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ tài chính), thì “Quy trình quản lý là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan. Thuật ngữ “kiểm soát” được hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều thành phần của quy trình quản lý”. [3]
Trong đó, định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO – Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ (Committee of Sponsoring Organization). Báo cáo của COSO được công bố dưới tiêu đề quy trình quản lý – Khuôn khổ hợp nhất (Internal Control – Intergrated framework) đã định nghĩ về quy trình quản lý như sau: “Quy trình quản lý là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: (1) Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động. (2) Sự tin cậy của Báo cáo tài chính. (3) Sự tuân thủ pháp luật và các quy định”. [10, tr.2] Định nghĩa này phản ánh bao hàm một số khái niệm cơ bản nhất định:
- quy trình quản lý là một quá trình, nó không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện trong mọi bộ phận, quyện chặt vào hoạt động của tổ chức và là một nội dung cơ bản trong các hoạt động của tổ chức.
- quy trình quản lý được thực hiện bởi con người. Nó không chỉ đơn thuần là các chính sách mang tính hình thức, mà tất cả các cá nhân ở mọi cấp độ của một tổ chức phải thực hiện.
- quy trình quản lý được kỳ vọng mang lại cho nhà quản trị của một tổ chức sự đảm bảo tương đối, chứ không phải là tuyệt đối.
- quy trình quản lý nhằm hướng đến việc đạt được một hoặc nhiều mục tiêu riêng biệt nhưng có liên quan đến nhau trong đơn vị. Mục tiêu kiểm soát có thể chia thành ba nhóm:
- Hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực.
- Báo cáo tài chính: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà tổ chức cung cấp.
- Sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định.
1.1.1.2. Nguyên tắc hoạt động của hệ thống quy trình quản lý
Thủ tục kiểm soát trong hệ thống quy trình quản lý là các quy chế và thủ tục do Ban Giám đốc doanh nghiệp thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể. Các thủ tục kiểm soát được thiết lập tùy thuộc vào nét đặc thù cơ cấu tổ chức, các hoạt động kinh doanh… Do vậy, các bước kiểm soát có thể không giống nhau giữa các doanh nghiệp và giữa các loại nghiệp vụ. Tuy nhiên, khi thiết kế, hệ thống quy trình quản lý cần được xây dựng trên năm nguyên tắc chỉ đạo chung trong việc thiết lập hệ thống quy trình quản lý có hiệu quả đó là: tập trung dân chủ; phân công, phân nhiệm; bất kiêm nhiệm; độc lập trong hoạt động và phê chuẩn, uỷ quyền.
- Nguyên tắc “Tập trung dân chủ”: Tập trung dân chủ thể hiện quan hệ trực thuộc, chịu trách nhiệm và báo cáo của cơ quan quản lý trước cơ quan các bộ phận; phân định chức năng, thẩm quyền giữa các cấp quản lý, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của cấp trên và quyền chủ động của cấp dưới; có sự phân cấp rành mạch; quyền lực không phải được ban phát từ cấp trên xuống cấp dưới; sự phân quyền cho từng cấp là cần thiết nhưng phải đồng thời được kết hợp với việc xác định vai trò của từng cấp.
- Nguyên tắc “Phân công, phân nhiệm”: Nguyên tắc này đòi hỏi công việc và trách nhiệm cần được phân chia cho nhiều người trong một bộ phận hoặc nhiều bộ phận trong một tổ chức, nhằm mục đích không cho một cá nhân hay bộ phận nào được thực hiện mọi mặt của một nghiệp vụ, hoạt động từ khâu đầu đến khâu cuối. Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng được xem là nguyên tắc quan trọng của kiểm soát, có tác dụng tạo ra sự chuyên môn hóa và giúp cho việc kiểm tra thúc đẩy lẫn nhau trong công việc.
- Nguyên tắc “Bất kiêm nhiệm”: Nguyên tắc này đòi hỏi sự tách biệt về trách nhiệm của mỗi nhân viên đối với một số công việc nhằm ngăn ngừa các sai phạm, đặc biệt là các sai phạm cố ý và hành vi lạm dụng quyền hạn. Đặc biệt trong những trường hợp sau, nguyên tắc bất kiêm nhiệm phải được tôn trọng:
- Bất kiêm nhiệm trong việc bảo vệ tài sản với kế toán.
- Bất kiêm nhiệm trong việc phê chuẩn các nghiệp vụ kinh tế với việc thực hiện các nghiệp vụ đó.
- Bất kiêm nhiệm giữa việc điều hành với trách nhiệm ghi sổ.
- Nguyên tắc “Độc lập trong hoạt động”: Nguyên tắc này đòi hỏi người thực hiện công việc phải độc lập trong quá trình thực hiện công việc được giao, không chịu áp lực từ các cá nhân có liên quan hay các cá nhân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác, đồng thời cần độc lập trên mọi khía cạnh như kinh tế, tình cảm hoặc chuyên môn, trình độ. Việc đảm bảo nguyên tắc này sẽ đảm bảo tính khách quan, công bằng và hợp lý trong công tác kiểm soát.
- Nguyên tắc “Phê chuẩn, uỷ quyền”: Để thoả mãn các mục tiêu kiểm soát thì tất cả các nghiệp vụ kinh tế phải được phê chuẩn đúng đắn. Phê chuẩn là biểu hiện cụ thể của việc quyết định và giải quyết một công việc trong một phạm vi nhất định. Quá trình uỷ quyền được tiếp tục thực hiện từ cấp trên xuống cấp thấp hơn tạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và quyền hạn mà vẫn không làm mất tính tập trung trong quản lý của đơn vị. Nguyên tắc phê chuẩn, uỷ quyền yêu cầu tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải được cấp có thẩm quyền phê chuẩn. Sự phê chuẩn này có thể là chung chung hoặc cụ thể. Phê chuẩn chung chung được thực hiện cho nhiều các giao dịch và sự kiện kinh tế, phê chuẩn cụ thể được thực hiện đối với từng nghiệp vụ riêng biệt.
1.1.1.3. Sự cần thiết, lợi ích và những hạn chế cố hữu của hệ thống quy trình quản lý
- Sự cần thiết, lợi ích của hệ thống quy trình quản lý
Mọi tổ chức đều mong muốn hoạt động của đơn vị mình hữu hiệu và hiệu quả, báo cáo tài chính đáng tin cậy, tuân thủ pháp luật và các quy định. Tuy nhiên, luôn tiềm ẩn những rủi ro là có những yếu kém hoặc sai phạm do các nhà quản lý, đội ngũ nhân viên thực hiện gây ra thiệt hại hay giảm hoạt động của tổ chức. Việc xây dựng quy trình quản lý là một trong những biện pháp rất quan trọng vì chúng giúp ngăn ngừa, phát hiện các sai phạm và yếu kém, giảm thiểu tổn thất, nâng cao hiệu quả nhằm giúp tổ chức đạt được các mục tiêu. Đối với các đơn vị có quy mô lớn, quy trình quản lý có ý nghĩa hết sức quan trọng, do quyền hạn được phân chia cho nhiều cấp, quan hệ giữa bộ phận chức năng và các nhân viên rất phức tạp, quá trình truyền đạt và thu thập thông tin phản hồi càng trở nên khó khăn, tài sản bị phân tán ở nhiều địa điểm và phục vụ cho nhiều hoạt động khác nhau, vì thế những đơn vị này đòi hỏi phải có một hệ thống quy trình quản lý hữu hiệu. Một hệ thống quy trình quản lý hữu hiệu có thể mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích sau:
- Hạn chế và ngăn ngừa những rủi ro không cần thiết hoặc những thiệt hại không đáng có.
- Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính.
- Bảo vệ tài sản của đơn vị, tránh tình trạng gian lận, trộm cắp, tham nhũng, sai sót, quản lý yếu kém, lợi dụng sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp vào mục đích cá nhân.
- Đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả, minh bạch và sử dụng tối ưu các nguồn lực.
- Đảm bảo việc tuân thủ các quy chế, quy định của doanh nghiệp và các văn bản luật của Nhà nước.
- Là nền tảng cho việc vận hành, cải tiến hệ thống quản lý và tác nghiệp khi doanh nghiệp tăng trưởng về quy mô hay mở rộng ngành nghề.
- Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ.
- Những hạn chế cố hữu của hệ thống quy trình quản lý
quy trình quản lý dù có được thiết kế và vận hành tốt thì cũng chỉ có thể mang lại sự đảm bảo tương đối cho nhà quản lý và ban giám đốc trong việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống quy trình quản lý, bao gồm:
- Hệ thống quy trình quản lý được thiết kế và vận hành bởi con người. Tuy nhiên, sự xét đoán của con người không phải bao giờ cũng đúng, cho nên những sai lầm của con người khi đưa ra quyết định, sự thông đồng của các cá nhân hay sự lạm quyền của nhà quản lý có thể dẫn đến tổn thất.
- Hệ thống quy trình quản lý được xây dựng trên cơ sở dự tính trước các rủi ro có thể xảy ra, vì thế khó có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm đột xuất, hay bất thường. Do không thể lường trước được những rủi ro nhất định, nên đơn vị sẽ không thiết kế và thực hiện kiểm soát thích hợp
- Không phải mọi rủi ro đều có những thủ tục kiểm soát tương ứng vì chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó.
Tất cả các điều trên dẫn đến, trong mọi tổ chức, dù có thể đã đầu tư rất nhiều cho việc thiết kế và vận hành hệ thống nhưng vẫn không thể có hệ thống quy trình quản lý hoàn hảo.
Hệ thống quy trình quản lý bao gồm năm thành phần có quan hệ mật thiết với nhau. Chúng xuất phát từ cách nhà quản trị điều hành doanh nghiệp và được tích hợp vào trong quy trình quản lý. Các thành phần đó là:
Môi trường kiểm soát là toàn bộ các nhân tố có tính chất môi trường tác động đến việc thiết kế và hoạt động của toàn hệ thống. Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, tác động đến ý thức của mọi người trong đơn vị, là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ thống quy trình quản lý [10, tr.56]. Môi trường kiểm soát ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh của một tổ chức, đến các mục tiêu được thiết lập, đến các bộ phận còn lại của hệ thống quy trình quản lý. Các nhân tố của môi trường kiểm soát bao gồm:
- Tính chính trực và các giá trị đạo đức: Tính chính trực và giá trị đạo đức là nhân tố quan trọng của môi trường kiểm soát, nó tác động đến việc thiết kế, thực hiện và giám sát các nhân tố khác của quy trình quản lý [10, tr.57]. Đó là các chuẩn mực đạo đức và quy tắc ứng xử mà các nhà quản lý đặt ra, đồng thời còn bao gồm cả việc làm gương của nhà quản lý về việc cư xử đúng đắn, tuân thủ các quy tắc chuẩn mực.
- Năng lực làm việc: Năng lực phản ánh kiến thức và kỹ năng cần thiết để hoàn thành một nhiệm vụ nhất định. Kiến thức và kỹ năng cần có đối với từng nhiệm vụ phụ thuộc vào sự xét đoán của nhà quản lý về các mục tiêu của doanh nghiệp, về chiến lược và kế hoạch để đạt được mục tiêu đó. [10, tr.60]
- Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán: Môi trường kiểm soát chịu ảnh hưởng đáng kể bởi hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán. Tính hữu hiệu của nhân tố này phụ thuộc vào sự độc lập của hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán với ban điều hành; kinh nghiệm và vị trí của các thành viên trong hội đồng quản trị; mức độ tham gia, mức độ giám sát, các hành động của hội đồng quản trị đối với hoạt động công ty; sự phối hợp với người quản lý trong việc giải quyết các khó khăn quan đến việc thực hiện kế hoạch; sự phối hợp với kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập [10, tr.60].
- Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý: Triết lý quản lý và phong cách điều hành tác động đến cách thức doanh nghiệp được điều hành bao gồm mức độ rủi ro kinh doanh được chấp nhận, cách thức doanh nghiệp kiểm soát, thái độ, quan điểm của người quản lý về việc lập và trình bày báo cáo tài chính, việc lựa chọn các chính sách kế toán, các ước tính kế toán, và về việc phân nhiệm kế toán viên. [10, tr.61]
- Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức cung cấp khuôn khổ mà trong đó các hoạt động của doanh nghiệp được lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát và giám sát. Các hoạt động này bao gồm mua hàng, sản xuất, bán hàng, tiếp thị, và các hoạt động hỗ trợ khác như hành chính, nhân sự hay kỹ thuật. Để thiết lập cơ cấu tổ chức thích hợp, cần chú ý xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm chủ yếu đối với từng hoạt động, xác định cấp bậc cần báo cáo thích hợp. [10, tr.62]
- Phân định quyền hạn và trách nhiệm: Phân định quyền hạn và trách nhiệm là việc xác định mức độ tự chủ, quyền hạn của từng cá nhân hay từng nhóm trong việc đề xuất và giải quyết vấn đề, trách nhiệm báo cáo đối với các cấp có liên quan. Việc phân định thường thể hiện qua chính sách trong đó mô tả kiến thức và kinh nghiệm của những nhân viên chủ chốt, nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến các hoạt động kinh doanh. [10, tr.62]
- Các hoạt động và chính sách nhân sự: Chính sách nhân sự là thông điệp của doanh nghiệp về yêu cầu đối với tính chính trực, hành vi đạo đức và năng lực mà doanh nghiệp mong đợi từ nhân viên. Chính sách này biểu hiện trong thực tế thông qua việc tuyển dụng, hướng nghiệp, đào tạo, đánh giá, tư vấn, động viên, khen thưởng, và kỷ luật. [10, tr.63]
Tất cả các đơn vị, bất kể quy mô, cấu trúc, bản chất hay ngành nghề kinh doanh, đều phát sinh rủi ro ở tất cả các mức độ. Rủi ro ảnh hưởng đến sự tồn tại của mỗi đơn vị; đến sự thành công, tình hình tài chính, hình ảnh của đơn vị; đến sự duy trì chất lượng sản phẩm, dịch vụ và đến cả con người. Mỗi đơn vị luôn phải đối phó với hàng loạt rủi ro từ bên trong lẫn bên ngoài. Trên thực tế không có cách nào để triệt tiêu rủi ro. Nhà quản lý cần phải quyết định một cách thận trọng mức rủi ro như thế nào là có thể chấp nhận được và cố gắng duy trì rủi ro trong mức độ này.[10, tr.63]. Cách thức đánh giá rủi ro như sau:
- Xác định mục tiêu: Để đánh giá rủi ro, trước tiên cần xác định mục tiêu. Có hai mức độ mục tiêu là mục tiêu ở mức độ toàn đơn vị và ở mức độ từng bộ phận. Ở mức độ toàn đơn vị, mục tiêu thường được trình bày thông qua sứ mạng của tổ chức và các cam kết về giá trị của tổ chức đối với xã hội. Ở mức độ từng bộ phận, những mục tiêu cụ thể phải xuất phát từ chiến lược chung của đơn vị. Những mục tiêu của từng bộ phận phải được nối kết, hòa nhập và nhất quán với mục tiêu chung. Thông qua xác định mục tiêu tổng thể và chi tiết, đơn vị có thể nhận dạng được những nhân tố chủ chốt đưa đến thành công.
- Nhận dạng rủi ro: Hoạt động của một đơn vị có thể gặp rủi ro do sự xuất hiện những nhân tố bên trong và bên ngoài. Các rủi ro này cần được đánh giá một cách cẩn thận, do nó sẽ ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu. Nhận dạng rủi ro là một quá trình lặp đi lặp lại và thường nằm trong quá trình lập kế hoạch của đơn vị. Rủi ro được nhận dạng ở cả hai mức độ là mức độ toàn đơn vị và mức độ cho từng hoạt động.
- Phân tích rủi ro: Sau khi đơn vị đã nhận dạng được rủi ro ở mức độ đơn vị và mức độ hoạt động, cần tiến hành phân tích rủi ro. Có nhiều phương pháp phân tích rủi ro, tuy nhiên, quá trình phân tích nhìn chung thường bao gồm các bước sau:
- Đánh giá tầm quan trọng của rủi ro.
- Đánh giá khả năng (hay xác suất) rủi ro có thể xảy ra.
- Xem xét phương pháp quản trị rủi ro – là những hành động cần thiết cần thực hiện để giảm thiểu rủi ro.
Nếu rủi ro ảnh hưởng không đáng kể đến đơn vị và ít có khả năng xảy ra thì nói chung không cần phải quan tâm nhiều. Ngược lại, một rủi ro có ảnh hưởng trọng yếu với khả năng xảy ra cao thì cần phải tập trung chú ý. [10]
1.1.2.3. Quy trình quản lý kho
Quy trình quản lý kho là tập hợp các chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện. Các chính sách và thủ tục này giúp thực thi những hành động với mục đích chính là giúp kiểm soát các rủi ro mà đơn vị hay có thể gặp phải. Có nhiều loại quy trình quản lý kho khác nhau có thể được thực hiện, dưới đây là những loại quy trình quản lý kho chủ yếu trong đơn vị:
- Xét về mục đích, có thể chia quy trình quản lý kho thành 3 loại:
- Kiểm soát phòng ngừa: là quy trình quản lý kho nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu khả năng xảy ra sai sót và gian lận, ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
- Kiểm soát phát hiện: là quy trình quản lý kho nhằm phát hiện kịp thời ra hành vi sai sót hoặc gian lận nào đó đã thực hiện.
- Kiểm soát bù đắp: việc tăng cường thêm thủ tục kiểm soát nhằm bổ sung cho một thủ tục kiểm soát khác chính là kiểm soát bù đắp.
- Xét về chức năng, các loại quy trình quản lý kho phổ biến trong doanh nghiệp bao gồm:
- Soát xét của nhà quản lý cấp cao: là việc soát xét của lãnh đạo cấp cao trong doanh nghiệp như so sánh kết quả thực tế với dự toán, dự báo, với kỳ trước hay với các đối thủ khác.
- Quản trị hoạt động: người quản lý ở các cấp trung gian sẽ soát xét các báo cáo về hiệu quả của từng bộ phận mà mình phụ trách so với dự toán/ kế hoạch đã đề ra.
- Phân chia trách nhiệm hợp lý: Việc phân chia trách nhiệm hợp lý giữa các chức năng trong doanh nghiệp cần phải được xem xét một cách nghiêm túc và được coi như một loại kiểm soát phòng ngừa và kiểm soát phát hiện hiệu quả nhằm hạn chế các sai sót và gian lận, cũng như hạn chế tối đa các cơ hội hay điều kiện thuận lợi cho các sai sót và gian lận xảy ra. Phân chia trách nhiệm là không cho phép một thành viên nào được giải quyết mọi mặt của nghiệp vụ từ khi hình thành cho đến khi kết thúc nhằm để các nhân viên kiểm soát lẫn nhau đồng thời giảm cơ hội cho bất kỳ thành viên nào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ gây ra và giấu diếm những sai phạm của mình. Bên cạnh đó, cần có sự tách biệt giữa các chức năng sau: chức năng xét duyệt (phê chuẩn) nghiệp vụ và chức năng bảo quản tài sản, chức năng kế toán và chức năng bảo quản tài sản, chức năng xét duyệt (phê chuẩn) nghiệp vụ và chức năng kế toán.
- Kiểm soát quá trình xử lý thông tin: Nhiều quy trình quản lý kho cần được thực hiện nhằm đảm bảo tính chính xác, tính đầy đủ và phê chuẩn đúng đắn cho các nghiệp vụ diễn ra trong doanh nghiệp. Kiểm soát quá trình xử lý thông tin đóng một vai trò quan trọng trong quy trình quản lý kho nói chung, có thể được chia làm hai loại chính là kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng. Trong đó, kiểm soát chung là quy trình quản lý kho áp dụng cho tất cả các hệ thống ứng dụng để đảm bảo cho các hệ thống này hoạt động liên tục và ổn định, còn kiểm soát ứng dụng là quy trình quản lý kho áp dụng cho từng hệ thống cụ thể, phải đảm bảo dữ liệu được nhập và xử lý một các chính xác, đầy đủ cũng như phát hiện dữ liệu không hợp lý hay chưa được sự xét duyệt của nhà quản lý.
- Kiểm soát vật chất: là các quy trình quản lý kho nhằm đảm bảo cho tài sản của doanh nghiệp như máy móc, nhà xưởng, tiền bạc, hàng hóa, cổ phiếu, trái phiếu và các tài sản khác được bảo vệ một cách chặt chẽ. Kiểm soát vật chất nhằm đảm bảo cho sự tồn tại, chất lượng hay tình trạng của các tài sản phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định của doanh nghiệp.
- Phân tích rà soát: Đây là việc so sánh giữa các kết quả thực hiện với số liệu dự toán hay giữa các thông tin tài chính và phi tài chính nhằm phát hiện ra các biến động bất thường để nhà quản lý có các biện pháp chấn chỉnh kịp thời. [10]
1.1.2.4. Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ, bao gồm cả cho nội bộ và bên ngoài.
- Thông tin cần thiết cho mọi cấp của một tổ chức vì giúp cho việc đạt được mục tiêu kiểm soát khác nhau. Thông tin được cung cấp thông qua hệ thống thông tin. Hệ thống thông tin của một đơn vị có thể được xử lý trên máy tính, qua hệ thống thủ công hoặc kết hợp cả hai, miễn là bảo đảm các yêu cầu chất lượng của thông tin là thích hợp, kịp thời, cập nhật, chính xác và truy cập thuận tiện. Một hệ thống thông tin tốt cần có đặc điểm sau:
- Hỗ trợ cho chiến lược kinh doanh: hệ thống không chỉ thu thập thông tin cần thiết trong việc đưa ra quyết định cho kiểm soát mà còn giúp đưa ra các chiến lược kinh doanh.
- Hỗ trợ cho sáng kiến mang tính chiến lược: chiến lược kinh doanh và chiến lược hệ thống thông tin có ý nghĩa quyết định sự thành công của nhiều tổ chức. Cần áp dụng hệ thống thông tin vào hoạt động kinh doanh.
- Tích hợp với hoạt động kinh doanh: Các hệ thống thông tin (hệ thống thông tin sản xuất, hệ thống thông tin tài chính, hệ thống thông tin các hoạt động,…) được tích hợp với nhau, khi đó hệ thống thông tin chung này sẽ giúp kiểm soát quá trình kinh doanh, theo dõi, ghi nhận nghiệp vụ kịp thời.
- Phối hợp hệ thống thông tin mới và cũ: hệ thống thông tin mới thường giúp kiểm soát tốt hơn vì chúng mới, tuy nhiên hệ thống thông tin cũ được kiểm tra thông qua sử dụng, do vậy chúng thường đáp ứng được nhu cầu. Do vậy, cần nghiên cứu kỹ lưỡng hai hệ thống (cũ và mới) để có quyết định phù hợp.
- Chất lượng thông tin: bất kỳ là thông tin được tạo ra bởi hệ thống nào thì cũng cần đảm bảo chất lượng, đó là tính thích hợp, kịp thời, cập nhật, chính xác và dễ dàng truy cập. [10]
- Truyền thông là một phần của hệ thống thông tin nhưng được nêu ra để nhấn mạnh vai trò của việc truyền đạt thông tin. Cần chú ý các khía cạnh sau:
- Mọi thành viên của đơn vị phải hiểu rõ công việc của mình, tiếp nhận đầy đủ và chính xác các chỉ thị từ cấp trên, hiểu rõ mối quan hệ với các thành viên khác và sử dụng được những phương tiện truyền thông trong đơn vị. Điều này sẽ được thực hiện nhờ việc tổ chức các kênh thông tin hữu hiệu trong nội bộ.
- Các thông tin từ bên ngoài (khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng, …) cũng phải được tiếp nhận và ghi nhận một cách trung thực và đầy đủ, nhờ đó đơn vị mới có thể có những phản ứng kịp thời. Các thông tin cho bên ngoài (Nhà nước, cổ đông, …) cũng cần được truyền đạt kịp thời, đảm bảo độ tin cậy và phù hợp với yêu cầu của pháp luật. [10]
Xuất phát từ mối quan hệ không thể tách rời nên hai khái niệm thông tin và truyền thông được trình bày chung cấu thành một bộ phận của hệ thống quy trình quản lý. Thông tin và truyền thông phải đảm bảo “phủ sóng” tới mọi bộ phận, phòng ban và cá nhân trong từng doanh nghiệp cũng như các đối tượng bên ngoài có liên quan. Với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên trường quốc tế, thông tin và truyền thông có vai trò ngày càng quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của mình để tồn tại và phát triển.
Giám sát là quá trình mà người quản lý đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát. Điều quan trọng trong giám sát là phải xác định quy trình quản lý có vận hành đúng như thiết kế hay không và có cần thiết sửa đổi chúng cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đơn vị hay không. Để đạt kết quả tốt, nhà quản lý cần thực hiện những hoạt động giám sát thường xuyên hoặc định kỳ.
- Giám sát thường xuyên đạt được thông qua việc tiếp nhận các ý kiến góp ý của khách hàng, nhà cung cấp … hoặc xem xét các báo cáo hoạt động và phát hiện các biến động bất thường.
- Giám sát định kỳ được thực hiện thông qua các cuộc kiểm toán định kỳ do kiểm toán viên nội bộ, hoặc do kiểm toán viên độc lập thực hiện.
1.2. Quy trình quản lý kho trong doanh nghiệp
1.2.1.1. Đặc điểm kho và ảnh hưởng đến quy trình quản lý kho
Hàng tồn kho là tài sản lưu động của doanh nghiệp biểu hiện dưới dạng vật chất cụ thể dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc và loại hình doanh nghiệp và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 – Kho (Ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ Tài chính), “Kho là những tài sản:
- Được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường;
- Đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang;
- Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ.
- Kho bao gồm:
- Hàng hóa mua về để bán: Hàng hóa tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi bán, hàng hóa gửi đi gia công chế biến;
- Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gởi đi bán;
- Sản phẩm dở dang: Sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm;
- Nguyên liệu, vật liệu, công cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến và đã mua đang đi trên đường;
- Chi phí dịch vụ dở dang.” [2]
- Trong các đơn vị sản xuất, Hàng tồn kho thường bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang và cũng có thể là hàng hoá dự trữ để bán …
- Trong doanh nghiệp thương mại, Hàng tồn kho chủ yếu là hàng hoá dự trữ để bán, hàng gửi đi bán và gia công, và hàng mua đang đi đường.
- Trong doanh nghiệp xây lắp, Hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn, Hàng tồn kho chủ yếu là thành phẩm, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ và sản phẩm xây lắp dở dang.
- Hàng tồn kho ở nhiều doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác cũng rất đa dạng như ở doanh nghiệp hoạt động kinh doanh khách sạn thường tổ chức các kho hàng rất lớn (kho rượu, kho thực phẩm, kho các trang thiết bị của nhà hàng, khách sạn…); còn ở các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ như dịch vụ tư vấn luật, dịch vụ tư vấn kiểm toán, kế toán thì Hàng tồn kho hầu như không có.
Hàng tồn kho trong doanh nghiệp thường gồm nhiều loại, có vai trò, công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, đòi hỏi công tác mua sắm, bảo quản và sử dụng Hàng tồn kho cũng có những nét đặc thù riêng. Nhìn chung, Hàng tồn kho trong doanh nghiệp có những đặc điểm sau đây:
- Hàng tồn kho trong doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, với chi phí cấu thành nên giá gốc Hàng tồn kho khác nhau. Xác định đúng, đủ các yếu tố chi phí cấu thành nên giá gốc Hàng tồn kho sẽ góp phần tính toán và hạch toán đúng, đủ, hợp lý giá gốc Hàng tồn kho và chi phí Hàng tồn kho làm cơ sở xác định lợi nhuận thực hiện trong kỳ.
- Hàng tồn kho tham gia toàn bộ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có các nghiệp vụ xảy ra thường xuyên với tần suất lớn, qua đó Hàng tồn kho luôn biến đổi về mặt hình thái hiện vật và chuyển hóa thành những tài sản ngắn hạn khác như tiền tệ, sản phẩm dở dang hay thành phẩm…
- Đối với những đơn vị có quy mô lớn hoặc sản xuất, kinh doanh cùng lúc nhiều mặt hàng, Hàng tồn kho rất đa dạng về chủng loại, được bảo quản và quản lý tại nhiều địa điểm khác nhau, do nhiều người phụ trách. Điều kiện bảo quản với từng loại Hàng tồn kho là rất khác nhau. Chính vì thế, thực hiện công việc quản lý, bảo quản, kiểm soát vật chất, kiểm kê về số lượng cũng như chất lượng là rất phức tạp, khả năng xảy ra sai sót, gian lận là nhiều hơn so với tài sản khác.
- Hàng tồn kho là một khoản mục nhạy cảm với gian lận (biển thủ, trộm cắp, …) và chịu nhiều rủi ro do mất giá, hư hỏng, lỗi thời, hao hụt, mất mát, …
- Việc xác định chất lượng, tình trạng và giá trị Hàng tồn kho luôn là công việc khó khăn, phức tạp. Có rất nhiều loại Hàng tồn kho rất khó phân loại và xác định giá trị như các tác phẩm nghệ thuật, các loại linh kiện điện tử, đồ cổ, kim khí quý, … [4]
Xuất phát từ những đặc điểm của Hàng tồn kho, tùy theo điều kiện quản lý Hàng tồn kho ở mỗi doanh nghiệp mà yêu cầu quản lý Hàng tồn kho có những điểm khác nhau. Song nhìn chung, việc quản lý Hàng tồn kho ở doanh nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu sau:
- Thứ nhất, Hàng tồn kho phải được theo dõi ở từng khâu thu mua, từng kho bảo quản, từng nơi sử dụng, từng người phụ trách vật chất (thủ kho, cán bộ vật tư, nhân viên bán hàng).
- Doanh nghiệp cần phải có kế hoạch mua sắm, dự trữ đầy đủ, kịp thời các loại vật tư cả về số lượng, chất lượng và kết cấu nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường.
- Kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch mua sắm, dự trữ và sử dụng từng loại vật tư đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Trong khâu thu mua, một mặt phải theo dõi nắm bắt thông tin về tình hình thị trường, khả năng cung ứng của nhà cung cấp, các chính sách cạnh tranh tiếp thị được các nhà cung cấp áp dụng, tính ổn định của nguồn hàng,… mặt khác, phải quản lý chặt chẽ về số lượng, chất lượng, quy cách phẩm chất, chủng loại giá mua, chi phí mua và tiến độ thu mua, cung ứng phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Trong khâu bảo quản dự trữ, phải tổ chức tốt kho tàng, bến bãi, thực hiện đúng chế độ bảo quản; xác định được định mức dự trữ tối thiểu, tối đa cho từng loại Hàng tồn kho, đảm bảo an toàn, cung ứng kịp thời cho sản xuất, tiêu thụ với chi phí tồn trữ thấp nhất. Đồng thời, cần có những cảnh báo kịp thời khi Hàng tồn kho vượt qua định mức tối đa, tối thiểu để có những điều chỉnh hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, vật tư cần phải được phân loại, sắp xếp thành từng nhóm, từng loại và từng vật tư theo những tiêu thức nhất định phục vụ cho yêu cầu quản lý. Căn cứ vào nội dung và yêu cầu quản trị doanh nghiệp, các loại vật tư được chia thành nguyên liệu, vật liệu và công cụ, dụng cụ, hàng hóa, thành phẩm.
- Trong khâu sử dụng, phải theo dõi, nắm bắt được tình hình sản xuất sản phẩm, tiến độ thực hiện. Đồng thời, phải tuân thủ việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở định mức tiêu hao, dự toán chi phí, tiến độ sản xuất nhằm giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Thứ hai, việc quản lý Hàng tồn kho phải thường xuyên đảm bảo được quan hệ đối chiếu phù hợp giữa giá trị và hiện vật của từng loại Hàng tồn kho, giữa các số liệu chi tiết với số liệu tổng hợp về Hàng tồn kho, giữa số liệu ghi trong sổ kế toán với số liệu thực tế tồn kho.
1.2.1.2. Khái quát về chu trình kho
Chu trình Hàng tồn kho là một quá trình vận động của Hàng tồn kho từ việc mua hàng, nhập kho để phục vụ cho hoạt động sản xuất hay nhập kho thành phẩm chờ tiêu thụ; lưu kho chờ sản xuất, tiêu thụ; cho đến việc xuất kho sử dụng cho hoạt động sản xuất và tiêu thụ. Chu trình Hàng tồn kho có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến các chu trình khác. Mối quan hệ được thể hiện thông qua hình 1.1:
Sản xuất
Chu trình tài chính
Chu trình HTK
Chu trình bán hàng và thu tiền
Chu trình mua hàng và thanh toán
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa chu trình kho với các chu trình khác
Đầu vào của chu trình Hàng tồn kho là đầu ra của chu trình mua hàng và thanh toán, đầu ra của chu trình Hàng tồn kho là đầu vào của chu trình bán hàng thu tiền. Ngoài ra, chu trình Hàng tồn kho có mối quan hệ mật thiết với chu trình sản xuất: cung cấp vật tư phục vụ cho sản xuất, quản lý thành phẩm nhập kho và theo dõi sản phẩm dở dang. Vì vậy, quy trình quản lý phải được tăng cường ở tất cả các khâu trong chu trình để đảm bảo quá trình kinh doanh được diễn ra thông suốt, hạn chế các gian lận và sai sót.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\KIN TẾ ĐÀ NẴNG\Giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý kho tại công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát\THAM KHẢO/ Hoàn thiện quy trình quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát
Hoàn thiện quy trình quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát
Hoàn thiện quy trình quản lý kho tại Công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát


