Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Tồn Kho Tại Công Ty Cổ Phần Lọc Hóa Dầu Bình Sơn
Trong nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế của một đất nước. Việt Nam mở cửa nề n kinh tế tạo ra nhiều nhữ ng thuận l ợi cho các doanh nghiệp, các doanh nghiệp có c ơ hội đưa nhữ ng s ản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài dễ dàng h ơn, ti ếp cận với nhiều công nghệ tiên tiến hơn, đa dạng hoá nhà cung cấp. Tuy nhiên những khó khă n mà các doanh nghiệp gặp phải cũng không phải nhỏ. Đặc biệt nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nề n nông nghiệp, còn manh mún, nhỏ l ẻ. Liệu các doanh nghi ệp trong nước có đủ sức mạnh để cạnh tranh với các doanh nghi ệp, các tập đoàn nước ngoài. V ới s ự cạ nh tranh khốc liệt đó đòi hỏi các doanh nghiệ p phải làm như thế nào để đứng vững trên thị trường. Đáp ứng tốt nhất nhu cầu người tiêu dùng, với chất lượng sản phẩm cao giá thành phải chăng.
Để làm được điều đó ngoài việ c xây dựng được chiến lược kinh doanh hợp lý thì các doanh nghiệp cần giám sát các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệ p. Từ các khâu tìm kiếm các nhà cung ứng uy tín, đến vi ệc thu mua nguyên vật liệu đến khi tìm được thị trường tiêu thụ s ản phẩm cần được bảo đảm, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn, đạt hiệu quả cao trong sản xuất. Tìm kiếm lợi nhuận tạo điều kiện tích luỹ vốn mở rộng sản xuất.
Hàng tồn kho là một bộ phận của vốn lưu động c ủa doanh nghiệp và nó chiếm tỷ trọng tương đối lớn. Vì vậy quản trị hàng tồn kho đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạ t động s ản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Công tác quản trị hàng tồn kho có nhiệm vụ duy trì lượ ng hàng tồn kho hợ p lý nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất thông suốt, không bị gián đoạ n. Bên cạnh đó là đả m bả o có đủ hàng hoá đáp ứng yêu cầ u của thị trường. Qua đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Chính vì vây, các doanh nghiệp kinh doanh cần phải giám sát từ khâu thu mua sản phẩm hàng hóa, nguyên vật liệu đến khi tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm phải đảm bảo kiện toàn, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn, tìm kiếm lợi nhuận tạo điều kiện tích lũy vốn mở rộng sản xuất
Hàng hóa tồn kho là một bộ phận của vốn lưu dộng của doanh nghiệp và nó chiếm một tỉ trọng tương đối lớn. Cho nên, quản trị hàng tồn kho đống một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì nó đảm bảo cho việc duy trì hợp lý lượng hàng tồn kho nhằm cung ứng kịp thời cho hoạt động kinh doanh nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Mặt khác, theo tư duy của nhà chiến lược thì :” thành công phải có sự đòi hỏi dày công chuẩn bị trước, nó không đến một cách tự nhiên và không có kế hoạch “.Xuất phát từ ý trên, chúng tôi đã chọn đề tài “ Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Tồn Kho Tại Công Ty Cổ Phần Lọc Hóa Dầu Bình Sơn” làm dề tài tốt nghiệp.
Chương 1. Cơ sở lý luận về hàng tồn kho trong doanh nghiệp
- .KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA HÀNG TỒN KHO
1.1.1.khái niệm hàng tồn kho
Từ khi có sản xuất và lưu thông hàng hóa, hàng tồn kho xuất hiện như là một hiện tượng tất yếu, khách quan. Theo C.mark thì “tồn kho hay dự trữ hàng hóa là một sự cố đinh và độc lập hóa hình thái của sản phẩm”. Như vậy sản phẩm đang trong quá trình mua, bán và cần thiết cho quá trình mua bán là nằm trong hình thái tồn kho.
Đối với doanh nghiệp thi hàng tồn kho giữ một vị trí quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp. Tồn kho xuất phát từ chính yêu cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa.Hàng hóa tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của doanh nghiệp (thường chiếm 40%-50%). Trong sản xuất bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng hàng tồn kho tương ứng( Tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, hàng hóa thành phẩm, hàng hóa dở dang…) mà bất kỳ thời điển nào cũng cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh . Chính vì vậy, việc quản lý kiểm soát hàng tồn kho có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành liên tục, đều đặn, có hiệu quả và lực lượng vật chất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách thường xuyên liên tuc và đồng bộ.
Bản chất của vấn đề quản trị hàng tồn kho lại có hai mặt ngược nhau: Để đảm bảo sản xuất liên tục tránh gián đoạn trên dây chuyền sản xuất, đảm bảo sản xuất đáp ứng nhanh nhu cầu của nguwoif tiêu dùng trong bất kỳ tình huống nào, doanh nghiệp có ý định tăng lượng tồn kho; Ngược lại, khi lượng tồn kho tăng lên, doanh nghiệp phải tốn thêm chi phí khác có liên quan đến lượng tồn kho.
Ở các nước đang phát triển, các hãng và các doanh nghiệp kinh doanh lớn thường tồn kho hai dạng chủ yếu là nguyên vật liệu và hàng hóa (thành phẩm và sản phẩm dở dang). Nguồn lực này ngày một tăng cùng với quá trình mở rộng sản xuất và chủng loại sản phẩm. Do vậy, công tác quản lý tồn kho không chỉ hướng tới việc đảm bảo thường xuyên, liên tục cho quá trình sản xuất kinh doanh mà còn hướng tới việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Lượng tồn kho và trình độ quản lý có ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp.Vì vậy để nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp nghiên cứu các biện pháp, tìm phương án xác định điểm cân bằng giữa mức độ đầu tư cho hàng tồn kho và lợi ích thu được do thỏa mãn nhu cầu sản xuất và nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí thấp nhất.
1.1.2 Vai trò hàng tồn kho
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, quản trị hàng tồn kho có vai trò quan trọng. với đặc điểm có tính cơ động cao, quản trị hàng tồn kho đảm bảo cho qua trình kinh doanh thương mại được tiến hành liên tục, thông suất và có hiệu quả, đồng thời góp phần làm ổn định thị trường hàng hóa.Lượng tồn kho trong lưu thông được kết hợp với lượng tồn kho quốc gia góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Đối với nước ta, hai loại hnagf tồn kho này được đặc biệt lưu tâm, phải có chính sách đúng đắn cho hai loại tồn kho thì sẽ hạn chế được những khuyết taatjtrong nền kinh tế thị trường mà trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới ở nước ta hiên nay thường mắc phải: lạm phát, buôn lậu, ứ đọng hàng hóa và chiếm dụng vốn của các doanh nghiệp.

1.2. NỘI DUNG QUẢN TRỊ HÀNG TỒN KHO
1.2.1. Khái niệm quản trị hàng tồn kho
Quản trị hàng tồn kho là một công tác quản trị nhằm
-Đảm bảo cho hàng hóa có đủ số lượng và cơ cấu, không làm cho quá trình bán ra bị gián đoạn, góp phần nâng cao chất lượng kinh doanh và tránh bi ứ đọng hàng hóa.
-Đảm bảo giữ gìn hàng hóa về mặt giá trị và giá trị sử dụng, gióp phần làm giảm hư hỏng,mất mát hàng hóa gây tổn thất về tài sản cho doanh nghiệp
-Đảm bảo cho lượng vốn danh nghiệp tồn tại dưới hình thái vật chất ở mức độ tối ưu nhằm tăng hiệu quả vốn hàng hóa và góp phần làm giảm chi phí bảo quản hàng hóa
=> Quản trị hàng tồn kho là một trong những nội dung quan trọng của quản trị tài chính doanh nghiệp
1.2.2.Cách định giá hàng tồn kho
Việc những loại hàng hóa giống nhau nhưng được mua với những mức giá khác nhau làm phát sinh vấn đề sử dụng trị giá vốn nào cho hàng tồn kho lưu trữ. Theo chuẩn mực kế toán số 02 – hàng tồn kho thì có các cách sau để tính giá trị hàng xuất tồn kho:
- Phương pháp bình quân gia quyền
Theo phương pháp này thì giá xuất kho hàng hóa được tính theođơn giá bình quân (bình quân cả kỳ dự trữ, bình quân cuối kỳ trước, bình quân sau mỗi lần nhập).
Giá thực tế NVL, hàng hóa xuất dùng = số lượng xuất dùng x giá đơn vị bình quân
Giá đơn vị bình quân được tính bằng các cách sau:
- Phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít cơ sở lưu trữ nhưng số lần nhập, xuất mặt hàng lại nhiều, căn cứ vào giá thực tế tồn đầu kỳ để xác định giá bình quân của một đơn vị sản phẩm, hàng hóa.
Đơn giá bình quân của cả kỳ dự trữ =
- Phương pháp bình quân cuối kỳ trước
Phương pháp này phản ánh kịp thời tình hình biến động của NVL, hàng hóa; tuy nhiên lại không hoàn toàn chính xác vì không tính tới sự biến động của giá cả.
Đơn giá bình quân cuối kỳ trước =
- Phương pháp đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập.
Phương pháp này vừa chính xác, vừa cập nhật được thường xuyên, liên tục nhưng lại tốn nhiều công sức và phải tính toán nhiều lần.
Đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập =
- Nhập trước – xuất trước
Hàng hóa nào nhập trước thì xuất trước, xuất hết số nhập trước rồi mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng lần nhập. Do vậy, hàng hóa tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế cuả số vật liệu mua vào trong kỳ. Phương pháp này thích hợp trong trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm.
- Ưu điểm: có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép cũng như thuận tiện cho việc quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với giá thị trường và có giá trị thực tế hơn trong các bản báo cáo.
- Nhược điểm: làm cho các khoản doanh thu và chi phí hiện tại không phù hợp. Doanh thu hiện tại được tạo bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hóa đã có được từ cách đó rất lâu. Nếu số lượng, chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục sẽ dẫn đến tăng chi phí cho việc hạch toán.
- Nhập sau – xuất trước
Hàng hóa mua vào sau cùng sẽ được xuất trước.Phương pháp này chỉ thích hợp trong tình hình kinh tế lạm phát.
- Ưu điểm: chi phí của lần mua gần nhất tương đối sát thực tế, đảm bảo yêu cầu kế toán.
- Nhược điểm: trị giá vốn của hàng tồn kho cuối kỳ có thể không sát với giá thị trường của hàng thay thế.
- Phương pháp giá thực tế đích danh
Theo phương pháp này thì sản phẩm, hàng hóa, vật tư xuất kho thuộc lô hàng nhập kho nào thì lấy đơn giá nhập kho của lô hàng đó để tính.
- Ưu điểm: đây là phương án tối ưu, phù hợp với nguyên tắc phù hợp của kế toán, chi phí và doanh thu thực tế phù hợp.
- Nhược điểm: việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định mới có thể áp dụng phương pháp này.
Định giá hàng tồn kho giúp cho việc xác định giá vốn hàng bán chính xác hơn, tránh gây tổn thất trong hoạt động kinh doanh.Hơn nữa, chi phí tồn kho cũng có liên quan trực tiếp tới giá vốn của hàng bán.Bởi vậy, các quyết định tốt liên quan đến khối lượng hàng hóa mua vào và quản lý hàng tồn kho dự trữ cho phép doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, nâng cao lợi nhuận. Các chi phí tồn kho bao gồm:
- Chi phí đặt hàng: gồm các chi phí liên quan đến việc chuẩn bị và phát hành đơn đặt hàng như: chi phí giao dịch, quản lý, kiểm tra và thanh toán. Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường không phụ thuộc vào số lượng hàng được mua và tỷ lệ với số lần đặt hàng trong kỳ.
- Chi phí lưu kho ( chi phí bảo quản): là chi phí phát sinh khi doanh nghiệp phải lưu giữ hàng để bán, gồm: chi phí đóng gói hàng, chi phí bốc xếp hàng vào kho, chi phí thuê kho, khấu hao kho và thiết bị kho, chi phí hao hụt, hư hỏng hàng hóa,… Các yếu tố chi phí này phụ thuộc vào khối lượng hàng hóa mua vào. Nếu khối lượng hàng đặt mua mỗi lần lớn thì chi phí lưu kho tăng và ngược lại.
- Các chi phí khác:
- Chi phí giảm doanh thu do hết hàng: là chi phí cơ hội do doanh nghiệp hết một loại hàng nào đó mà khách hàng có nhu cầu. Doanh nghiệp có thể xử lý tình trạng hết hàng bằng cách hối thúc một đơn đặt hàng từ nhà cung cấp. Chi phí hối thúc cho mỗi lần đặt hàng bao gồm chi phí đặt hàng bổ sung và chi phí vận chuyển. Nếu không doanh nghiệp sẽ mất một khoản doanh thu do hết hàng.
- Chi phí mất uy tín với khách hàng: là chi phí cơ hội và được xác định căn cứ vào khoản thu nhập dự báo sẽ thu được từ việc bán hàng trong tương lai bị mất đi do việc mất uy tín với khách hàng vì vấn đề hết hàng gây ra.
- Chi phí gián đoạn sản xuất: là loại chi phí do doanh nghiệp không dự trữ đủ NVL để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, gây ra nhiều tổn thất cho doanh nghiệp như: mất uy tín với khách hàng, không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường, để thị phần kinh doanh rơi vào tay các đối thủ cạnh tranh,…
1.2.4.Các mô hình về quản trị hàng tồn kho
1.2.4.1.Mô hình đặt hàng hiệu quả ( EOQ)
Mô hình EOQ là một mô hình quản trị tồn kho mang tính định lượng, có thể sử dụng nó để tìm ra mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp.Yếu tố quyết định trong quản trị hàng tồn kho là dự báo chính xác khối lượng các loại hàng hóa cần dự trữ trong kỳ nghiên cứu (thường là một năm).Mô hình EOQ sẽ giúp các doanh nghiệp trả lời câu hỏi về việc ra quyết định đặt mua một loại mặt hàng nhất định để vừa đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường vừa tiết kiệm chi phí ở mức thấp nhất có thể, giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, lợi nhuận. Mô hình này giả định rằng:
- Lượng hàng mua trong mỗi lần đặt hàng là như nhau.
- Nhu cầu, chi phí đặt hàng và chi phí bảo quản là xác định. Thời gian từ khi đặt hàng tới khi nhận hàng cũng là xác định.
- Chi phí mua của mỗi đơn vị không bị ảnh hưởng bởi số lượng hàng được đặt, bất kể quy mô đơn hàng và số lượng hàng đặt là bao nhiêu.
- Không xảy ra hiện tượng hết hàng: Vì chi phí cho một lần đặt hàng là rất đắt nên doanh nghiệp luôn phải duy trì một lượng tồn kho thích hợp để đảm bảo hiện tượng hết hàng không xảy ra.
Mô hình EOQ bỏ qua các chi phí cơ hội, chi phí giảm doanh thu do hết hàng, chi phí mất uy tín với khách hàng, chi phí gián đoạn sản xuất,… Để xác định EOQ cần tối thiểu hóa chi phí đặt hàng và chi phí bảo quản.
Với: Q: là sản lượng mỗi lần cung ứng
Q*: là số lượng hàng đặt có hiệu quả
S: là tổng lượng hàng hóa cần cung ứng trong kỳ
F: là chi phí cho mỗi lần đặt hàng.
C: là chi phí bảo quản trên một đơn vị hàng tồn kho.
TC: là tổng chi phí tồn kho
Ta có:
TC = C + F
Công thức này được thể hiện qua đồ thị sau:
Chi phí
Tổng chi phí tồn kho
Tổng chi phí dự trữ
Tổng chi phí đặt hàng
Q*
Quy mô đặt hàng
Biểu đồ 1.1: Mô hình đặt hàng hiệu quả EOQ
Như vậy, theo lý thuyết về mô hình thì số lượng hàng đặt có hiệu quả:
Q* =
- Xác định số lần đặt hàng tối ưu trong năm:
Với: L* : là số lần đặt hàng tối ưu trong năm
Ta có công thức: L* =
- Xác định khoảng cách giữa hai lần đặt hàng tối ưu trong năm.
Gọi khoảng cách giữa 2 lần đặt hàng tối ưu trong năm là N*, ta có:
N* =
- Điểm đặt hàng mới.
Về mặt lý thuyết thì khi nào lượng hàng kỳ trước hết mới nhập lượng hàng mới về sử dụng.Nhưng trong thực tế, các doanh nghiệp phải tính toán kỹ lưỡng lượng hàng thế nào để đủ dùng, không làm gián đoạn sản xuất kinh doanh trong thời gian vận chuyển hàng hóa mới mua về kho.Chính vì vậy, doanh nghiệp cần chọn thời điểm đặt hàng mới sao cho phù hợp.
Thời điểm đặt hàng mới = số lượng vật tư hàng hóa sử dụng trong ngày ( x ) độ dài của thời gian giao hàng.
Mô hình EOQ là mô hình được sử dụng để giúp doanh nghiệp xác định một cách chính xác nhất lượng hàng tồn kho đặt cho mỗi loại mặt hàng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, để tối thiểu hóa mọi loại chi phí, nhằm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Mặc dù mô hình này chỉ ra mức đặt hàng tối ưu trên cơ sở tối thiểu chi phí đặt hàng và tồn kho để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hiệu quả hơn nhưng trên thực tế có nhiều giả thiết trong mô hình khó có thực hiện được.
1.2.4.2.Phương pháp quản lý theo mô hình đặt hàng theo sản xuất (POQ)
POQ là mô hình cung cấp theo nhu cầu sản xuất và đặt hàng thường xuyên. Mô hình này áp dụng với các giải thiết:
- Nhu cầu hàng năm, chi phí tồn trữ, chi phí đặt hàng của một loại hàng hóa là ước lượng được.
- Không sử dụng tồn kho an toàn, vật liệu được cung cấp theo mức đồng nhất ( p), vật liệu được sử dụng ở mức đồng nhất ( d ) (p >d), và tất cả vật liệu được dùng hết toàn bộ khi đơn hàng kế tiếp về đến.
- Nếu hết tồn kho thì sự đáp ứng nhu cầu khách hàng và các chi phí khác không đáng kể.
- Không có chiết khấu theo số lượng.
Ta có: POQ =
Trong đó: POQ: sản lượng đơn đặt hàng.
H: chi phí tồn trữ cho một đơn vị hàng tồn kho mỗi năm.
P: mức sản xuất ( mức cung ứng) hàng ngày.
d: nhu cầu sử dụng hàng ngày ( d < P ).
D: nhu cầu hàng năm.
S: chi phí đặt hàng cho một đơn đặt hàng.
- Các hình thức kiểm tra hàng tồn kho
- Mô hình kiểm tra thường xuyên
Mô hình này áp dụng với những hàng hóa thuộc nhóm hàng có tốc độ chu chuyển nhanh. Điểm tái đặt hàng được xác định:
Dd = h + Db
Trong đó: Dd : là điểm tái đặt hàng
: mức tiêu thụ hàng hóa bình quân ngày
h : thời gian trung bình thực hiện một đơn hàng
Db : dự trữ bảo hiểm
- Mô hình kiểm tra định kỳ
Với mô hình này, điểm tái đặt hàng được xác định theo công thức:
Dd = ( + h ) + Db
(L : là chu kỳ kiểm tra tồn kho)
Mô hình này không chỉ phù hợp với những doanh nghiệp thương mại mà còn được áp dụng với các doanh nghiệp vừa sản xuất vừa bán hoặc doanh nghiệp tự sản xuất lấy vật tư để dùng.Hơn nữa, POQ còn có thể áp dụng trong trường hợp hàng hóa được giao nhiều chuyến chứ không phải một chuyến như mô hình EOQ. Mô hình POQ giúp doanh nghiệp xác định được sản lượng đơn đặt hàng sao cho tối ưu nhất, phù hợp nhất với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng giống như mô hình EOQ thì nhiều giả định trong mô hình POQ cũng khó có thể thực hiện, khó có thể xác định trước trong thực tiễn.
1.2.4.Các chỉ tiêu đánh giá có liên quan
Để công tác quản trị hàng tồn kho đạt hiệu quả cao, doanh nghiệp không những cần lựa chọn, sử dụng mô hình tồn kho phù hợp, mà còn cần xem xét, đánh giá các chỉ tiêu có liên quan tới công tác quản trị hàng tồn kho như: chỉ tiêu về số vòng quay hàng tồn kho, khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán ngắn hạn,… Để từ đó đánh giá lại hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, chỉ ra những điểm làm được và những điểm còn hạn chế để hoàn thiện hơn nữa công tác quản trị hàng tồn kho, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững, nâng cao sức cạnh tranh trong thị trường đầy biến động như hiện nay.
- Số vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho =
HTKbq =
Chỉ số này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho hiệu quả như thế nào.Chỉ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp. Điều này làm cho báo cáo tài chính của doanh nghiệp “đẹp mắt” hơn, ít rủi ro hơn, khoản mục hàng tồn kho có giá trị giảm qua các năm. Tuy nhiên chỉ số này quá cao cũng không phải là tốt. Nếu số vòng quay hàng tồn kho quá cao cho thấy lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột doanh nghiệp sẽ không kịp “trở tay”, dẫn đến dễ bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh thị phần. Hơn nữa, dự trữ NVL đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến cho sản xuất bị ngưng trệ.Vì vậy, việc tính toán chỉ số vòng quay hàng tồn kho sao cho phù hợp là rất quan trọng, ảnh hưởng tới sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.
- Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán chung =
Khả năng thanh toán nhanh =
Tài sản dự trữ tồn kho là các tài sản khó chuyển thành tiền hơn so với tổng tài sản lưu động và dễ bị thua lỗ nhất. Do vậy, tỷ số khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn phụ thuộc vào việc dự trữ tài sản tồn kho như thế nào. Giá trị tồn kho càng lớn thì khả năng thanh toán nhanh càng thấp, điều này sẽ làm ảnh hưởng nhiều tới công ty khi không thể thanh toán kịp thời cho nhà cung cấp.Khả năng thanh toán càng cao cho thấy doanh nghiệp đang phát triển kinh doanh tốt, thành phẩm tồn kho dự trữ không bị ứ đọng, đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường. Ngược lại, nếu khả năng thanh toán thấp cho thấy việc kinh doanh của doanh nghiệp đang gặp vấn đề, lượng hàng tồn kho bị ứ đọng nhiều, có thể xảy ra thua lỗ vì lượng hàng tồn kho.Nhưng nếu dự trữ quá ít sẽ ảnh hưởng lớn tới quá trình sản xuất kinh doanh của công ty.Vì vậy, việc tính toán để đưa ra lượng dự trữ tồn kho phù hợp là vô cùng quan trọng.
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị hàng tồn kho
1.3.1.Nhân tố môi trường bên ngoài
1.3.1.1.Nhân tố môi trường vĩ mô
Công tác quản trị hàng tồn kho chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, cả môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Công tác quản trị này đòi hỏi các nhà quản trị phải nhanh nhạy, nắm bắt kịp thời xu thế thị trường, các chính sách, pháp luật của Nhà nước,…Nếu không doanh nghiệp sẽ rất thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Môi trường kinh tế: các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các năm chính là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá, ra quyết định cho mức tồn kho dự trữ của mình. Nếu nền kinh tế đang trong thời kỳ lạm phát mà doanh nghiệp dự trữ quá ít sẽ làm cho chi phí tăng cao, làm giảm doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp. Tùy từng thời kỳ, từng năm mà doanh nghiệp phải theo dõi sát sao sự biến động của nền kinh tế để đưa ra những quyết định có lợi nhất cho việc sản xuất kinh doanh của mình.
- Môi trường chính sách, pháp luật: mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ tổ chức, các nhân nào cũng chỉ được diễn ra dựa trên chính sách, pháp luật của Nhà nước. Dự trữ hàng tồn kho như thế nào? Số lượng bao nhiêu? Mặt hàng gì?… là do quyết định của doanh nghiệp, nhưng các quyết định đó phải được Nhà nước cho phép.
- Môi trường văn hóa – xã hội: xã hội ổn định thì hoạt động sản xuất kinh doanh mới có thể phát triển. Doanh nghiệp phải dựa vào tình hình xã hội, văn hóa, phong tục tập quán nơi địa bàn kinh doanh để có chiến lược kinh doanh phù hợp, đưa ra mức tồn kho hợp lý. Nếu không tìm hiểu kỹ đặc tính văn hóa địa điểm kinh doanh, doanh nghiệp sẽ dễ bị đào thải ra khỏi thị trường đó vì người dân không có nhu cầu tiêu dung loại sản phẩm đó.
- Môi trường tự nhiên: yếu tố này ảnh hưởng nhiều tới việc quản trị hàng tồn kho tại doanh nghiệp. Nếu các yếu tố tự nhiên như: địa lý, thời tiết,..không ổn định thì doanh nghiệp phải tính toán thật kỹ lưỡng, đưa ra mức dự trữ tối ưu nhất để không làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu các yếu tố tự nhiên đó thuận lợi thì doanh nghiệp cũng nên xem xét đưa ra lượng hàng tồn kho hợp lý nhất, tránh gây lãng phí các loại chi phí.
1.3.1.2.Nhân tố môi trường ngành
Không chỉ chịu ảnh hưởng từ môi trường kinh tế, chính sách, pháp luật của Nhà nước, môi trường văn hóa – xã hội, môi trường tự nhiên, công tác quản trị hàng tồn kho còn chịu ảnh hưởng không nhỏ từ các nhân tố môi trường ngành, tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Nhà cung cấp: cung cấp các loại hàng hóa, NVL cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Khả năng cung ứng của nhà cung cấp cũng là yếu tố mà doanh nghiệp xem xét cho mức tồn kho dự trữ của mình. Cần lựa chọn nhà cung cấp cho phù hợp, có thể ký hợp đồng làm ăn lâu dài nhưng không thể phụ thuộc quá nhiều vào nhà cung cấp đó. Doanh nghiệp cũng nên tìm cho mình một số nhà cung cấp mới để có nhiều sự lựa chọn hơn, từ đó tìm ra lựa chọn tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Khách hàng: nhu cầu của khách hàng luôn là yếu tố mà doanh nghiệp quan tâm hàng đầu. để phục vụ tốt khách hàng trung thành, cũng như thu hút khách hàng tiềm năng doanh nghiệp cần đáp ứng tốt mọi mong muốn của khách hàng, không làm mất niềm tin nơi khách hàng. Muốn như vậy thì hoạt động quản trị quan trọng như quản trị hàng tồn kho phải càng được quan tâm, chú trọng hơn nữa để có thể đưa ra lượng hàng tồn kho phù hợp vừa thỏa mãn thị hiếu của khách hàng, vừa tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu cho doanh nghiệp.
- Đối tác: trong thị trường việc hợp tác sản xuất kinh doanh là tất yếu. Để tạo dựng hình ảnh nơi đối tác kinh doanh của mình, doanh nghiệp cần giữ đúng cam kết kinh doanh, có chính sách quản trị hàng tồn kho phù hợp, giữ cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, không bị ngừng trệ, đảm bảo các hợp đồng diễn ra đúng thời gian, đủ số lượng, đảm bảo chất lượng.
- Nhà đầu tư: đây là nhân tố quan trọng trong bất kỳ doanh nghiệp nào. Vốn đầu tư của nhà đầu tư cũng ảnh hưởng không ít tới lượng hàng tồn kho trong doanh nghiệp.
- Người cho vay: doanh nghiệp đi vay để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh, cần tính toán phù hợp để đồng vốn đi vay không bị lãng phí. Lượng hàng tồn kho cũng cần tính toán sao cho tối ưu nhất để tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp.
- Đối thủ cạnh tranh: đây là nhân tố mà doanh nghiệp cần lưu ý sát sao nhất. Doanh nghiệp cần đưa ra các quyết định lưu kho phù hợp, tránh trường hợp ứ đọng sản xuất, làm mất thị phần vào tay các đối thủ cạnh tranh của mình.
1.3.2.Nhân tố môi trường bên trong
Nhân tố môi trường bên ngoài là những nhân tố khách quan tác động tới công tác quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp, còn các nhân tố môi trường bên trong chính là các nhân tố chủ quan quyết định doanh nghiệp sẽ sản xuất kinh doanh mặt hàng gì? Theo hướng nào?Tồn kho ở mức nào? Bao nhiêu là hợp lý?… Những điều này phụ thuộc vào:
- Quy mô, tiềm lực tài chính: tiềm lực tài chính là yếu tố cơ bản cho việc ra các quyết định tài chính. Hàng tồn kho không phải là ngoại lệ. Tài chính tốt thì việc dự trữ, quản lý hàng hóa tồn kho càng được quan tâm hơn. Hơn nữa, việc dự trữ hang hóa như thế nào còn phụ thuộc rất nhiều vào tiềm lực tài chính của công ty. Công ty nên có những phương án tính toán sao cho phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nhất để đưa ra kế hoạch dự trữ tồn kho phù hợp, hiệu quả nhất.
- Sứ mệnh, mục tiêu, văn hóa kinh doanh: yếu tố này giúp doanh nghiệp xác định rõ hơn lượng sản phẩm, hàng hóa cần dự trữ cho kỳ kinh doanh để thực hiện những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần có mục tiêu, chiến lược kinh doanh cụ thể, để từ đó xác định mức dự trữ tồn kho tối ưu nhất để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, tránh tình trạng dự trữ quá nhiều hay quá ít dều gây ra ảnh hưởng không nhỏ cho doanh nghiệp.
- Thương hiệu, các lợi thế cạnh tranh: xác định được nhân tố này sẽ giúp doanh nghiệp xác định rõ hơn lượng hàng tồn kho dự trữ. Để nâng cao hơn nữa vị thế của doanh nghiệp trên thương trường, ngoài chất lượng sản phẩm thì sản lượng cũng là yếu tố vô cùng quan trọng. Vì vậy, để đảm bảo lượng hàng cung cấp đủ cho thị trường, thậm chí xuất khẩu ra nước ngoài thì việc tồn kho dự trữ phải hết sức chú trọng. Nếu dự trữ không đủ, làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ dẫn tới việc doanh nghiệp bị giảm uy tín, mất thị phần vào tay đối thủ cạnh tranh.Nhưng nếu dự trữ quá nhiều sẽ gây nhiều tổn thất, lãng phí cho doanh nghiệp.
- Xu hướng biến động giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu: giá cả hàng hóa, NVL chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự biến động nền kinh tế. Doanh nghiệp cần điều tra, tìm kiếm, thu thập đầy đủ thông tin thị trường để có kế hoạch dự trữ hàng tồn kho hợp lý nhất. Nếu dự đoán trước được giá cả hàng hóa, NVL sẽ tăng trong thời gian tới, doanh nghiệp có thể thực hiện dự trữ nhiều hơn để giảm chi phí giá cả. Nhưng không nên vì thế mà dự trữ quá nhiều, vì như vậy sẽ gây tổn thất nhiều hơn, như: tăng chi phí kho bãi, bảo quản, NVL bị hỏng do dự trữ quá lâu, NVL giảm chất lượng,.. Ngược lại, nếu dự đoán trước được giá cả có xu hướng giảm trong thời gian tới, doanh nghiệp có thể giảm lượng hàng tồn kho mỗi lần đặt hàng; nhưng không nên giảm quá nhiều vì như vậy có thể ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh, hoặc có thể làm giảm doanh thu vì số lần đặt hàng tăng làm cho chi phí vận chuyển, đặt hàng cũng tăng theo.
- Khả năng xâm nhập, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty: yếu tố này giúp các nhà quản trị đưa ra quyết định dự trữ nhiều hơn hay giảm lượng dự trữ để phù hợp với trình độ tổ chức sản xuất, tránh gây lãng phí hay đánh mất cơ hội phát triển.
CHƯƠNG 2, THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ HÀNG TỒN KHO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LỌC HÓA DẦU BÌNH SƠN
2.1. Giới thiệu khái quát về công ty cổ phẩn Lọc Hóa Dầu Bình Sơn.
2.1.1.Lịch sử hình thành công ty cổ phần Lọc Hóa Dầu Bình Sơn
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\KIN TẾ ĐÀ NẴNG\Giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý kho tại công ty TNHH MTV Hùng Lê Phát\THAM KHẢO/ Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Tồn Kho Tại Công Ty Cổ Phần Lọc Hóa Dầu Bình
Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Tồn Kho Tại Công Ty Cổ Phần Lọc Hóa Dầu Bình Sơn
Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Tồn Kho Tại Công Ty Cổ Phần Lọc Hóa Dầu Bình Sơn


