HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐÔNG ĐĂK LĂK
1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, hoạt động tín dụng doanh nghiệp và thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các chuyên gia và được nhiều tác giả lựa chọn làm chủ đề nghiên cứu. Trong số các nghiên cứu đã triển khai, có những nghiên cứu tập trung vào nội dung thẩm định tín dụng doanh nghiệp, cũng có những nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp hạn chế rủi ro của công tác thẩm định tín dụng.
Nội dung nghiên cứu về thẩm định tín dụng thông qua phân tích hoạt động của doanh nghiệp không còn là đề tài mới đối với nhiều tác giả. Từ những năm 2002, vấn đề này đã được nhiều tác giả lựa chọn để nghiên cứu, đến thời điểm hiện tại tính thời sự và khả năng tham chiếu của những đề tài này vẫn còn rất hữu dụng bởi lẽ việc phân tích doanh nghiệp thông qua các nghiên cứu này dù đã thực hiện từ rất lâu nhưng cách thức nghiên cứu tiếp cận vấn đề vẫn là những điều đáng học hỏi. Cụ thể, 2 đề tài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Đương thực hiện vào năm 2002 và năm 2005 đều đi sâu vào nghiên cứu hoạt động thông tin tín dụng trong thẩm định tín dụng doanh nghiệp nhằm đưa ra phương pháp đánh giá, xếp loại tín dụng doanh nghiệp để áp dụng trong thực tiễn tại Trung tâm thông tin tín dụng, cũng như các giải pháp phát triển đối với Trung tâm thông tin tín dụng đến năm 2010. Các giải pháp chủ đạo tác giả đưa ra bao gồm: Tạo môi trường pháp lý đồng bộ, hoàn thiện hệ thống pháp lý không chỉ cho hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng mà còn cho cả hệ thống thông tin tín dụng phát triển; Nâng cao chất lượng, quy mô Kho dữ liệu thông tin tín dụng quốc gia lên 40 triệu hồ sơ khách hàng; Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động theo hướng tăng cường chặt chẽ quản lý nhà nước và phát triển mạnh dịch vụ, thương mại; Tăng cường đào tạo chuyên sâu cho cán bộ nghiệp vụ, có kế hoạch xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đội ngũ chuyên gia phân tích đánh giá các hoạt động kinh tế theo ngành, theo lĩnh vực hoạt động khác nhau… Mặc dù các giải pháp đã mang lại ý nghĩa nhất định trong việc quy phạm hoạt động thông tin, tuy nhiên do đề tài nghiên cứu được thực hiện từ cách đây khá lâu, số liệu không còn cập nhật đúng tình hình hiện tại, nên các giải pháp đưa ra chỉ còn mang tính tham khảo, không phát huy được hiệu quả ở thời điểm nghiên cứu ngày nay. Ngoài ra, một số giải pháp tác giả đưa ra tại các nghiên cứu này đã được triển khai thực tiễn, tuy nhiên một số giải pháp khác dù rất hữu ích nhưng cũng chưa được triển khai triệt để.
Ngoài tác giả Nguyễn Hữu Đương, không thể không kể tới nghiên cứu của tác giả Trầm Thị Xuân Hương (2009). Với nghiên cứu này, tác giả đã tập trung xây dựng các hệ thống chỉ tiêu xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp thông qua phân tích thực trạng thẩm định doanh nghiệp vay vốn của NHTM trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó đưa ra giải pháp để hoàn thiện phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam. Nghiên cứu trên đã hệ thống hóa ở mức đầy đủ nhất về lý luận thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn thông qua thực hiện xếp hạng tín nhiệm và nêu ra được tầm quan trọng của việc phát triển hoạt động này trong nền kinh tế cạnh tranh hiện nay. Trong phần giải pháp, tác giả cũng đề xuất một số phương pháp xếp hạng định lượng và định tính được nhiều tổ chức xếp hạng uy tín trên thế giới như Moody’s, Fitch’s, Standard & Poor ứng dụng, tuy nhiên, do nghiên cứu đã thực hiện từ cách đây 10 năm, các số liệu và phương pháp tiếp cận cũ đã phần nhiều không phù hợp với nhu cầu thẩm định nói chung và thực trạng thẩm định nói riêng tại các ngân hàng Việt Nam, rất cần sự chọn lọc, cập nhật để thích ứng với thẩm định tín dụng doanh nghiệp hiện đại.
Bên cạnh 2 tác giả kể trên, cũng có nhiều sản phẩm nghiên cứu khác cũng đã kế thừa các Đề tài trên và tập trung sâu hơn vào nghiên cứu đối với nội dung thẩm định và quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp. Những nghiên cứu này chủ yếu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định tín dụng doanh nghiệp và đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thẩm định như chỉ tiêu thời gian, chi phí thẩm định, chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu…Đồng thời, những nghiên cứu này cũng đề cao việc phân tích báo cáo tài chính trong công tác thẩm định tín dụng, đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng phân tích tài chính báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động thẩm định tín dụng. Cụ thể, đó là nghiên cứu của các tác giả như:
Tác giả Đoàn Mai Anh (2014) và tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014) trong hai nghiên cứu này, các tác giả đã hệ thống hóa cơ sở cho vay và quy trình thẩm định tín dụng tại ngân hàng; Phân tích thực trạng cho vay và quy trình thẩm định tín dụng khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Hà Nội Sài Gòn – chi nhánh vạn phúc và Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam – Chi nhánh Huế để từ đó phát hiện những vấn đề bất cập trong hệ thống thẩm định của từng chi nhánh; Cuối cùng, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định và hiệu quả thẩm định tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại mỗi chi nhánh ngân hàng. Trong số các giải pháp đề xuất, cả hai tác giả đều đặc biệt nhấn mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát sau cho vay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan nhưng đã làm gia tăng nợ xấu của nghiệp vụ tín dụng doanh nghiệp, chính vì thế, các tác giả đề xuất chi nhánh cần có các biện pháp nhằm nhận diện những khoản vay có dấu hiệu bất thường thông qua các công cụ tra soát như cảnh báo sớm đối với các khoản vay có thời hạn trả nợ chậm hơn quy định dưới 10 ngày, đôn đốc cán bộ quản lý khách hàng thực hiện việc chấm điểm xếp hạng tín dụng khách hàng định kỳ. Đây là một hướng đi phổ biến và đúng đắn đối với nhiều chi nhánh ngân hàng hiện nay, tuy nhiên, cần xem xét thực trạng và đặc thù của mỗi ngân hàng hoặc chi nhánh để xây dựng quy định kiểm tra, kiểm soát cụ thể, không nên áp dụng các quy chế một cách máy móc.
Tác giả Trần Thị Thanh Thủy (2016) đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp tại các NHTM; Phân tích, đánh giá thực trạng công tác công tác phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Agribank – Chi nhánh Ninh Bình giai đoạn 2013 – 2015, từ đó đánh giá cá kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Agribank – Chi nhánh Ninh Bình. Cuối cùng, tác giả đề xuất một số giải pháp để nâng cao công tác phân tích tài chính báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Agribank – Chi nhánh Ninh Bình, đồng thời đưa ra các kiến nghị với các cơ quan hữu quan. Nghiên cứu trên mặc dù cũng có những đóng góp nhất định trong việc nâng cao hiệu quả phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp vay vốn, tuy nhiên chưa đi sâu vào phân tích toàn bộ quy trình thẩm định cho vay tại NHTM, đánh giá quy trình thẩm định mỗi ngân hàng đang áp dụng đã hợp lý chưa, hay quy trình còn lỗ hổng nào mà doanh nghiệp có thể lợi dụng để vay được nhiều vốn hơn không? Chưa có một nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề cần làm rõ này, đây là một khoảng trống khá quan trọng trong vấn đề mà tác giả muốn tìm hiểu và phân tích.
Đối với vấn đề quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp, có thể kể đến một số nghiên cứu nổi bật thời gian gần đây như: Tác giả Nguyễn Thị Gấm (2018), tác giả đã tập trung vào việc tìm câu trả lời cho bức tranh thực trạng của quản trị rủi ro đối với doanh nghiệp vay vốn của các NHTM Việt Nam là gì? Hạn chế cơ bản và nguyên nhân của những hạn chế đó? Trên cơ sở đó, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng tạo thành các nhân tố tác động đến quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp để từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp. Điểm mạnh của nghiên cứu này là đã bám sát vào tiêu chuẩn Basel II để đề xuất giải pháp Thẩm định và quản trị rủi ro tín dụng cho các ngân hàng Việt Nam, tuy nhiên, do mỗi ngân hàng sẽ có những đặc thù riêng trong danh mục cho vay, phân khúc khách hàng doanh nghiệp nên các giải pháp trong nghiên cứu này chưa thể áp dụng chung, hay nói khác một cách “đánh đồng” cho mọi ngân hàng, thay vào đó cần căn cứ trực tiếp vào mục tiêu quản trị và thẩm định tín dụng doanh nghiệp của mỗi ngân hàng để đưa ra đề xuất.
Ngoài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Gấm, vấn đề quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp còn được đề cập đến trong nghiên cứu của tác giả Huỳnh Hữu Trí (2017) và tác giả Nguyễn Đức Thành (2018). Hai nghiên cứu này đều căn cứ vào thực trạng cụ thể của Ngân hàng thương mại cổ phần quốc dân, chi nhánh Thanh Xuân và Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, chi nhánh khu công nghiệp Tiên Sơn để phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này tại chi nhánh ngân hàng. Tuy nhiên, những giải pháp này chỉ phát huy hiệu quả tối đa đối với hai chi nhánh nói trên chứ chưa chắc đã áp dụng được toàn bộ đối với các chi nhánh ngân hàng khác.
Như vậy, có thể thấy rằng hiện nay đã có khá nhiều nghiên cứu về nội dung nâng cao khả năng thẩm định tài chính doanh nghiệp của ngân hàng. Tuy vậy, có thể thấy hầu hết những nghiên cứu này chỉ đưa ra một số chiến lược, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định tại phạm vi một số chi nhánh nhất định của những ngân hàng cụ thể, chưa có công trình nghiên cứu nào về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Đăk Lăk.
Qua tiếp cận và kế thừa các nghiên cứu trước đó, tác giả đã phân tích tổng kết và rút ra được một số kinh nghiệm để nghiên cứu đề tài luận văn hiệu quả và toàn diện, cụ thể như sau:
– Đề tài cần tập trung đi sâu nghiên cứu tình hình thực tế của BIDV chi nhánh Đông Đăk Lăk, trong đó cần phân tích rõ ràng những thành tựu đã đạt được và vấn đề còn tồn tại của chi nhánh để từ đó tìm ra những giải pháp phù hợp.
– Mỗi ngân hàng sẽ có những lợi thế khách quan và chủ quan nhất định, do đó khi nghiên cứu các giải pháp giải quyết những khó khăn tồn tại cũng như phát huy năng lực nội tại cần cân nhắc tính hiệu quả và đưa ra những giải pháp cụ thể, tránh đưa ra những giải pháp chung chung, chỉ có tính lý thuyết nhưng chưa thể áp dụng hiệu quả trong thực tế.
– Đối với những kiến nghị gửi tới các cấp quản lý có liên quan, cần nghiên cứu thật kỹ các quy định quản lý, chính sách có liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở thời điểm cập nhật (tức thời điểm nghiên cứu), tuyệt đối không vận dụng máy móc những kết quả nghiên cứu trước đó vào bài luận văn để tránh đưa ra những kiến nghị không hợp lý, thiếu tính thời sự hoặc không còn áp dụng ở thời điểm hiện tại.
Ngân hàng được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, song với đặc điểm hoạt động riêng có của mình, ngành ngân hàng giữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế quốc gia. Trong số các hoạt động của ngành ngân hàng, hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp được coi là hoạt động trọng yếu, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được thực hiện liên tục, góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, đầu tư phát triển và mở rộng quy mô sản xuất. Tuy nhiên, do hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, rủi ro của hoạt động cho vay, đặc biệt là cho vay doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến cả nền kinh tế quốc gia. Ở mức độ thấp, rủi ro cho vay khiến cơ hội tiếp cận vốn, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các khách hàng bị hạn chế, ảnh hưởng xấu đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng cho vay mà không thể thu hồi nợ, lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản, hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây nên khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước. Chính bởi thế, trong bối cảnh kinh tế thị trường, quản trị hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn là vấn đề quan tâm hàng đầu của toàn hệ thống ngân hàng từ nhiều năm nay.
Nhận thức được vai trò của vấn đề này đối với ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung,vấn đề thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM đã được một số tác giả lựa chọn làm chủ đề nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này tại các NHTM, giảm thiểu quy mô nợ xấu phát sinh từ tín dụng doanh nghiệp. Tuy nhiên, phần lớn những nghiên cứu trước đó tập trung chủ yếu vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận của tín dụng doanh nghiệp,thẩm định tài chính doanh nghiệp và thống kê nghiên cứu kinh nghiệm của NHTM các nước phát triển trong lĩnh vực này, các giải pháp đưa ra còn nặng về tính lý thuyết, chưa thực sự gắn liền với thực trạng hiện có của các NHTM tại Việt Nam, do đó tính hiệu quả của các giải pháp còn nhiều hạn chế.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong những NHTM có quy mô nợ xấu lớn nhất hệ thống hiện nay. Đây được coi là một vấn đề nhức nhối không chỉ của BIDV nói riêng mà còn là của toàn hệ thống NHTM nói chung. Mặc dù Hội sở chính đã áp dụng nhiều biện pháp giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu và chỉ đạo các chi nhánh tăng cường nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, nhưng rất nhiều chi nhánh của BIDV trong thời gian qua vẫn phát sinh nhiều khoản vay có khả năng cao trở thành nợ xấu khó đòi, liên tục phải tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng qua các năm. BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk cũng là một trong số những chi nhánh gặptình trạng nợ xấu tương tự.
Là một trong những chi nhánh đi đầu trong hoạt động tín dụng của hệ thống BIDV, Chi nhánh Đông Đăk Lăk nằm trên địa bàn phát triển mạnh của tỉnh Đăk Lăk, có tốc độ tăng trưởng cao, các cơ quan, doanh nghiệp liên tiếp được thành lập, dân cư tập trung ngày một đông, các nhu cầu về đời sống không ngừng gia tăng. Bên cạnh đó quỹ đất nông nghiệp trên địa bàn rất lớn, nhiều cây nông sản mang lại hiệu quả cao như bơ, sầu riêng, tiêu, cà phê… đã kích thích các doanh nghiệp phát triển, qua đó thúc đẩy nhu cầu về vốn rất lớn. Theo báo cáo tổng kết năm 2018 của BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk, dư nợ tại chi nhánh là 4.000 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay doanh nghiệp là 2.785 tỷ đồng, chiếm tới 69,6%. Tuy nhiên,nợ xấu của cho vay doanh nghiệp hiện đang ở mức khá cao là79,8tỷ đồng, chiếm 2,8% trong tổng dư nợ cho vay doanh nghiệp. Con số này hiện đang thể hiện việc quản lý các khoản tín dụng doanh nghiệp còn chưa tốt, đặc biệt ở khâu đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp, đánh giá về dòng tiền và khả năng sinh lời từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở phân tích kinh tế vĩ mô và nội lực của công ty.
Chính vì vậy, để hoạt động tín dụng được phát triển an toàn, hiệu quả với chất lượng các khoản vay được tốt, trước tiên cần phải nâng cao khả năng thẩm định tài chính đối với các doanh nghiệp vay vốn, đảm bảo các doanh nghiệp có khả năng phát triển tốt với dòng tiền ổn định qua từng thời kỳ.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn, từ những kiến thức đã học ở trường kết hợp với thực trạng tìm hiểu được tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk, tác giả đã nhận ra được một số vấn đề còn tồn đọng trong thẩm định tài chính doanh nghiệp tại chi nhánh và quyết định lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đăk Lăk ” để trình bày về các hiểu biết và định hướng nhằm phát triển tốt hơn nữa cho hoạt động tín dụng doanh nghiệp tại chi nhánh trong bài luận văn này.
a. Mục tiêu chung
Trên nền tảng lý luận về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM, phân tích thực trạng, từ đó nhận định những thành công, hạn chế và nguyên nhân gây ra các hạn chế trong hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk, đồng thời đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hoạt động này tại chi nhánh này.
b. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
c. Câu hỏi nghiên cứu
- Thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM bao gồm những nội dung cơ bản nào? Có thể sử dụng những tiêu chí nào để đánh giá kết quả thẩm định này?
- Hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk đang có những thành công và hạn chế nào? Lý do vì sao?
- BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk cần phải giải quyết những vấn đề gì để hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk. Số liệu để thực hiện đề tài được thu thập từ Phòng quản lý nội bộ, Phòng Quản lý rủi ro và Phòng quản lý khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng thêm các tài liệu tham khảo như Báo cáo thường niên của BIDV, Báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước tỉnh Đăk Lăk, giáo trình nghiệp vụ NHTM, trang thông tin điện tử tài chính ngân hàng và các luận văn nghiên cứu của các anh chị khóa trước.
Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu toàn bộ các vấn đề về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn.
- Không gian: Tập trung phân tích tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
- Thời gian: Từ năm 2016 đến năm 2018, số liệu nghiên cứu gần nhất với thời gian nghiên cứu của luận văn để những nghiên cứu có giá trị ứng dụng trong thực tiễn.
a. Cách tiếp cận:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, trong đó khung lý thuyết về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn mà tác giả sử dụng để tiếp cận là một nội dung trong hoạt động thẩm định cho vay doanh nghiệp.
Phương pháp tiếp cận định tính dựa trên phương pháp diễn giải, trong đó tác giả sẽ thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để đưa ra những kết luận theo mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Từ việc thống kê và thu thập các dữ liệu về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk, tác giả phân tích cặn kẽ từng vấn đề cũng như so sánh với xu thế hội nhập và phát triển của các ngân hàng trong nước. Cuối cùng, tác giả tổng hợp lại tất cả các vấn đề còn tồn tại và đưa ra giải pháp để khắc phục những khó khăn, hạn chế và phát huy tối đa nguồn lực để hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
b. Nguồn thu thập dữ liệu:
Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu nghiên cứu thông qua các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp:
- Nguồn dữ liệu sơ cấp :
- Khảo sát điều tra phỏng vấn nhân viên trong chi nhánh ngân hàng. Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chọn lựa ngẫu nhiên 3 nhân viên đang công tác tại các bộ phận liên quan đến thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh. Việc thực hiện phỏng vấn trực tiếp nhân viên giúp tác giả hiểu rõ quy trình và nội dung thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh; những khó khăn vướng mắc thường gặp gây khó khăn trong công tác này; nghiên cứu, thu thập được những góp ý, đề xuất của nhân viên để phục vụ đánh giá thực trạng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh và đề xuất các giải pháp khắc phục khó khăn. (Câu hỏi đính kèm phụ lục).
- Phỏng vấn chuyên gia (NHNN, quản trị NHTM khác…): Áp dụng phương pháp chọn mẫu phán đoán do cần chọn đúng đối tượng (thông qua hiểu biết cá nhân về những người phỏng vấn, lĩnh vực công việc đang làm, trình độ…) để đánh giá họ là người am hiểu về vấn đề nghiên cứu, tham khảo ý kiến của họ. Đây là phương pháp có hiệu quả thực tiễn rất cao, ngoài ra lại tiết kiệm được thời gian, do nguồn thông tin thu thập được trực tiếp từ những người có trình độ, nghiệp vụ, đặc biệt là có kinh nghiệm trong các lĩnh vực có liên quan đến thẩm định tài chính doanh nghiệp cho vay của NHTM. Tác giả thực hiện phỏng vấn chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng (phỏng vấn 3 người), đối tượng chủ yếu là các lãnh đạo quản lý, kiểm soát khu vực nắm bắt tình hình hoạt động các NHTM trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk. Nhằm hỗ trợ thu thập thông tin, giúp cho tác giả nắm rõ hơn tình hình hoạt động của các NHTM trên địa bàn, chính sách thay đổi mới của Ngân hàng Nhà nước, những rủi ro thường mắc phải của hầu hết các NHTM để đưa ra những giải pháp thiết thực trong thời gian tới. (Câu hỏi đính kèm phụ lục).
- Nguồn dữ liệu thứ cấp :
- Dữ liệu bên trong ngân hàng : dựa vào các báo cáo, các nguồn dữ liệu thứ cấp, các văn bản, công văn, Quyết định đã ban hành, sửa đổi. Nắm bắt định hướng kinh doanh của BIDV – Chi nhánh Đông ĐăkLăk trên địa bàn; quy trình nội bộ phục vụ đưa ra các giải pháp thiết thực, đúng hướng nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh.
- Dữ liệu bên ngoài ngân hàng: Thông qua các văn bản pháp lý, các Quyết định của Ngân hàng Nhà nước về quy định, quy trình thẩm định cho vay, các chính sách của chính phủ… nhằm hỗ trợ so sánh, đánh giá mức ảnh hưởng của tác động môi trường bên ngoài, thủ tục hành chính đến công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn, từ đó đưa ra giải pháp phù hợp.
c. Phương pháp xử lý dữ liệu:
- Phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu liên quan về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của các luận văn Thạc sỹ được bảo vệ tại các trường đại học trong nước, các bài báo khoa học trong các tạp chí, giáo trình tham khảo của các tác giả trong và ngoài nước. Từ đó chọn lọc, tổng hợp liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin để đưa ra hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh.
- Phương pháp mô tả, so sánh và đối chiếu:
- Phương pháp mô tả: Tác giả sẽ phân tích và xử lý các thông tin thu thập, để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, vận dụng trong phân tích các dữ liệu thứ cấp định tính, giải pháp đề xuất nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tác giả thực hiện so sánh về mặt không gian tại BIDV – Chi nhánh Đông ĐăkLăk và các đối thủ trên địa bàn, so sánh về mặt thời gian giữa các năm nghiên cứu để hỗ trợ đánh giá thực trạng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
6. Nội dung và tiến độ nghiên cứu
a. Nội dung nghiên cứu
Bài luận văn sẽ tập trung nghiên cứu 4 nội dung quan trọng như sau:
- Thứ nhất, ở phần mở đầu và tổng quan nghiên cứu đề tài, tác giả sẽ đưa ra tính cấp thiết của đề tài, xác định mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu; đồng thời hệ thống lại các nghiên cứu trước đó và tìm ra khoảng trống nghiên của đề tài, lập kế hoạch nghiên cứu đề tài theo đúng tiến độ yêu cầu.
- Thứ hai, tại chương 1 của luận văn, tác giả sẽ tiến hành hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn và hoạt động cho vay doanh nghiệp của NHTM, trong đó đưa ra những khái niệm, đặc điểm của hoạt động cho vay doanh nghiệp, rủi ro trong cho vay doanh nghiệp, khái niệm và mục tiêu của thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn cũng như những nội dung trọng tâm, tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động này tại NHTM.
- Thứ ba, tại chương 2 của luận văn, tác giả sẽ trình bày tổng quan về BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk, đồng thời phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh này, trong đó bao gồm các nội dung như: thực trạng quy trình nghiệp vụ thẩm định; thẩm định tư cách pháp lý khách hàng; thẩm định về lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tư cách của chủ doanh nghiệp; thẩm định phương án, dự án kinh doanh; thẩm định tình hình tài chính doanh nghiệp; thẩm định nhu cầu vay vốn; thẩm định rủi ro và đánh giá khả năng kiểm soát rủi ro. Ở nội dung đánh giá thực trạng hoạt động thẩm định, tác giả sẽ tiến hành phân tích các ưu điểm và vấn đề còn tồn tại của hoạt động này cũng như đưa ra các nguyên nhân của vấn đề đó để làm cơ sở đề xuất giải pháp trong chương 3.
- Thứ 4, tại chương 3 của luận văn, tác giả sẽ đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk trên cơ sở định hướng phát triển của BIDV nói chung và Chi nhánh Đông Đăk Lăk nói riêng. Các giải pháp được đề xuất sẽ xoay quanh mục tiêu giải quyết những vấn đề còn tồn tại đã nêu ra ở chương 2, đồng thời đưa ra những đề xuất đối với khách hàng doanh nghiệp và các cấp quản lý.
b. Tiến độ nghiên cứu
Để chuẩn bị cho quá trình viết luận văn thuận lợi, tác giả lập kế hoạch thực hiện tiến độ nghiên cứu như sau:
| STT | Các nội dung, công việc thực hiện | Kết quả/Sản phẩm | Thời gian (bắt đầu-kết thúc) |
|---|---|---|---|
| 1 | Xây dựng đề cương sơ bộ Nghiên cứu bổ sung các tài liệu tham khảo, để thiết kế đề cương. Xác định rõ ràng mục tiêu cũng như khoảng thời gian để thực hiện các nội dung chính của đề tài nghiên cứu. Trình giáo viên hướng dẫn khoa học phê duyệt | Đề cương sơ bộ | 20 ngày |
| 2 | Hoàn thiện Đề cương sơ bộ Trên cơ sở GVHD sửa đề tài nghiên cứu, chỉnh sửa lại các nội dung chưa phù hợp | Đề cương sơ bộ hoàn chỉnh | 15 ngày |
| 3 | Hoàn thiện Đề cương chi tiết Dựa trên nền tảng đề cương sơ bộ, tiến hành viết đề cương chi tiết | Đề cương chi tiết | 15 ngày |
| 4 | Hoàn thiện Chương 1 Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, hoàn thiện Chương 1 về Cơ sở lý luận về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại NHTM | Chương 1 Luận văn | 15 ngày |
| 5 | Hoàn thiện Chương 2 Thu thập số liệu (dự kiến 210 mẫu) và phân tích số liệu để hoàn thiện các nội dung tại Chương 2 về Thực trạng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk | Chương 2 Luận văn | Thu thập và phân tích số liệu 30 ngày Hoàn thiện luận văn 20 ngày |
| 6 | Hoàn thiện Chương 3 Từ phân tích lý thuyết và nghiên cứu thực trạng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp, hoàn thiện Chương 3 về các giải pháp, khuyến nghị nâng cao hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk | Chương 3 Luận văn | 20 ngày |
| 7 | Gửi Dự thảo Luận văn cho giáo viên hướng dẫn và chỉnh sửa hoàn thiệntoàn bộ Luận văn | Hoàn thiện đầy đủ luận văn | 45 ngày |
| 8 | Bảo vệ luận văn | ||
| Tổng thời gian | 180 ngày (khoảng 6 tháng) | ||
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương chính sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại NHTM
- Chương 2: Thực trạng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk
- Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. T1.LUẬN VỀ HOCHO VAY DOANH NGHIỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀN
1.1.1. Khái niệm về tín dụng và cho vay
Tín dụng là một thuật ngữ xuất phát từ chữ La tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm). Trong quan hệ tài chính, tín dụng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, nói cách khác đây là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Khi quan hệ trao đổi hàng hóa xuất hiện cùng với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật – hàng hóa. Qua thời gian, tín dụng chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ để phục vụ cho các mục đích khác nhau và dần trở thành biểu hiện của mối quan hệ kinh tế nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả.
Khái niệm về tín dụng đã được xây dựng và chỉnh sửa theo các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau. Song khái quát lại, tín dụng được hiểu theo khái niệm cơ bản sau: Căn cứ theo Khoản 16, Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”, “tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên (bên cho vay) chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia (bên đi vay) được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên đi vay phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận”.
NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Các hình thức tín dụng ngân hàng chủ yếu bao gồm:
+ Cho vay: NHTM trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. NHTM cho vay theo nguyên tắc đối tượng vay phải hoàn trả gốc và lãi khi khoản vay đến hạn và được kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay của tổ chức, cá nhân vay vốn. Hoạt động cho vay đi kèm với các rủi ro trong hoạt động tín dụng nên thường đi kèm với các biện pháp đảm bảo tài sản từ bên vay.
+ Chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá: NHTM cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. Người sở hữu thương phiếu và giấy tờ có giá khác phải chuyển nhượng ngay mọi quyền lợi và lợi ích hợp pháp từ các giấy tờ có giá cho ngân hàng. Ngân hàng cũng có thể cấp tín dụng dưới hình thức cầm cố các hối phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác và được thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp phát sinh trong trường hợp chủ sở hữu các giấy tờ có giá đó không thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng tín dụng.

+ Bảo lãnh ngân hàng: NHTM được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình để bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các bảo lãnh khác cho các tổ chức, cá nhân.
+ Cho thuê tài chính: Là loại hình tín dụng trung hạn và dài hạn, trong đó NHTM (thông qua các Công ty cho thuê tài chính của mình) dùng vốn để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của bên thuê và bên cho thuê trong một thời gian nhất định. Bên thuê có trách nhiệm trả cho bên cho thuê tiền thuê tài sản theo những định kỳ do hai bên cùng thỏa thuận. Tài sản thuê sẽ thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê.
1.1.2. Phân loại các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại
a. Căn cứ vào thời hạn cho vay
+ Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
+ Cho vay trung hạn: Là các món vay có khoảng thời gian trên 12 tháng đến 60 tháng. Cho vay trung hạn chủ yếu được dùng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh, hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập…
+ Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm. Cho vay dài hạn nhằm mục đích tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản như xây dựng nhà ở, sân bay, cầu đường, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới…
b. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay
+ Cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng là khoản cho vay để tài trợ cho việc tiêu dùng nhằm giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho người vay được hưởng mức sống cao hơn.
+ Cho vay kinh doanh: Là loại hình cho vay của tổ chức tín dụng đối với các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức như: cho vay công nghiệp, cho vay thương mại, cho vay nông nghiệp…
c. Căn cứ vào tính chất bảo đảm của khoản vay
+ Cho vay có tài sản đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở có bảo đảm như cầm cố, thế chấp, hoặc phải có bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba.Ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo khi nhận tín dụng do khách hàng phải đối đầu với rủi ro trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng.
+ Cho vay không có tài sản đảm bảo: Cho vay không có tài sản đảm bảo là việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đi vay mà không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.Cho vay không có tài sản đảm bảo thông thường dành cho khách hàng có uy tín cao, khách hàng truyền thống, có tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh thường xuyên có lãi… Tuy nhiên, đây là hình thức cho vay mang nhiều rủi ro đối với các ngân hàng, ngân hàng cần thẩm định kỹ khách hàng trước khi quyết định cho vay.
d. Căn cứ vào phương thức cho vay
+ Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi.Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả.
+ Cho vay trực tiếp từng lần theo hạn mức tín dụng: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng, hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
+ Cho vay thấu chi: Là hình thức cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một thời hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định.
+ Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa, áp dụng đối với các doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
+ Cho vay trả góp: Là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong hạn mức tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc lâu bền.
+ Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vayít phổ dụng và thực hiệnkhông thông qua các tổ chức trung gian nhưtổ, đội, hội, nhóm như: nhóm sản xuất, hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, đoàn thanh niên…
+ Cho vay hợp vốn: Là hình thức cho vay gồm một nhóm các tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Các tổ chức tín dụng phải ký kết với nhau về việc hợp vốn trên.
+ Cho vay theo dự án đầu tư:Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống.Khách hàng vay vốn phải có vốn đầu tư tham gia vào dự án.
1.1.3. Vai trò của hoạt động cho vay
Với chức năng là một trung tâm tài chính, ngân hàng đã biến tiết kiệm thành đầu tư, tức là huy động vốn từ các nguồn vốn tạm thời dư thừa trong sản xuất kinh doanh cũng như nguồn vốn nhàn rỗi nằm rải rác trong dân cư để cho vay. Hoạt động này tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế đầu tư vào sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập và đời sống người dân. Giúp cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính, nhiều tổ chức tín dụng ra đời, đặc biệt trong thời gian qua nhiều NHTM mới được thành lập. Ngành ngân hàng đứng trước nhiều cơ hội cũng như thách thức. Đòi hỏi các ngân hàng nâng cao trình độ quản lý và công nghệ ngân hàng. Đồng thời chất lượng tín dụng luôn được quan tâm hàng đầu, nó là sức mạnh nội lực giúp ngân hàng tồn tại và phát triển trong cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
a. Vai trò đối với ngân hàng
Hoạt động chủ yếu của NHTM là việc thu hút vốn để mở rộng cho vay và đầu tư nhằm thu lợi nhuận. Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chiến lược kinh doanh quan trọng nhất của ngân hàng là chiến lược tín dụng. Trong đó hoạt động cho vay là hoạt động hứa hẹn đem lại lợi nhuận cao nên các ngân hàng quan tâm đến việc mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay. Khi ngân hàng cho vay ngân hàng thu được tiền lãi. Trong ngân hàng truyền thống, tiền lãi chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng. Khi ngân hàng mở rộng cho vay về chiều rộng làm tổng dư nợ tăng lên, nếu ngân hàng không gặp rủi ro lớn từ các khoản cho vay này thì chắc chắn doanh thu và lợi nhuận sẽ tăng lên. Khi ngân hàng mở rộng cho vay về chiều sâu, chất lượng của các khoản vay tăng lên, khả năng thu hồi vốn vay là lãi cao, đặc biệt đối với các khoản vay với thời hạn dài thì doanh thu và lợi nhuận từ các khoản vay này cũng tăng lên.
b. Vai trò đối với khách hàng
Thứ nhất, với vai trò chủ đạo cung cấp vốn cho nền kinh tế, các ngân hàng hỗ trợ và tạo điều kiện cho các cá nhân và tổ chức kinh tế tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Từ nguồn vốn vay được từ ngân hàng, doanh nghiệp có áp lực trả nợ vay sẽ hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Từ đó, tạo cho các đơn vị kinh tế một chỗ đứng và khẳng định uy tín của mình trên thị trường.
Thứ hai, tín dụng góp phần phát triển sản xuất, kinh doanh và lành mạnh tài chính của khách hàng. Chất lượng tín dụng được đảm bảo cũng có ý nghĩa là ngân hàng phát triển, nhờ vậy ngân hàng có điều kiện cung ứng vốn tín dụng đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của khách hàng.
c. Vai trò đối với nền kinh tế
Thứ nhất, hoạt động cho vay có vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỷ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, hoạt động tín dụng cũng góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là kết quả tác động nhiều mặt của đổi mới hoạt động ngân hàng, nhất là những cố gắng của ngành ngân hàng trong việc huy động các nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển, trong việc đổi mới chính sách cho vay và cơ cấu tín dụng theo hướng căn cứ vào tính khả thi và hiệu quả của từng dự án, từng lĩnh vực ngành nghề để quyết định cho vay.
Thứ ba, hoạt động tín dụng phát triển cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng, từ đóng góp tích cực cho việc duy trì tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục.
Thứ tư, thông qua nguồn vốn tín dụng cho các chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại các vùng nông thôn.
Thứ năm, hoạt động cho vay góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa và phát triển các ngành chủ chốt thông qua huy động và cho vay có định hướng.
1.1.4. Tổng quan về cho vay doanh nghiệp
a. Khái niệm về cho vay doanh nghiệp
Như đã phân tích, hoạt động cho vay trong nền kinh tế nhắm tới 3 thành phần chính: người dân, doanh nghiệp và các định chế tài chính. Chính phủ cũng là một đối tượng đặc biệt của các khoản cho vay nhưng ở tầm vĩ mô hơn. Trong đó, cho vay doanh nghiệp là đặc biệt quan trọng trong một nền kinh tế vì nhờ có nguồn vốn này, doanh nghiệp mới phát triển được hoạt động kinh doanh và phát triển kinh tế. Theo các định nghĩa về tín dụng đã trích dẫn ở trên, hoạt động cho vay doanh nghiệp là một quan hệ kinh tế, trong quan hệ này người cho vay (NHTM) chuyển giao quyền sử dụng tiền cho người đi vay (khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng) trong một thời gian nhất định. Khi đến hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền gốc và lãi vay.[1]
Cũng tương tự như định nghĩa về hoạt động cho vay tại Luật tổ chức tín dụng, hoạt động cho vay doanh nghiệp được hiểu là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.[2]
Trong hoạt động của ngân hàng truyền thống thì cho vay doanh nghiệp là hoạt động mang lại nguồn thu chính cho ngân hàng. Không những thế, hoạt động cho vay doanh nghiệp còn đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ nguồn vốn cho phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt tại một thị trường mà nguồn tiền trong nền kinh tế chủ yếu xuất phát từ các ngân hàng như tại Việt Nam. Bởi vậy, chất lượng cho vay doanh nghiệp (hay còn có thể hiểu đơn giản là chất lượng các khoản vay doanh nghiệp) luôn được các ngân hàng quan tâm đặc biệt.
Tương tự như cách phân loại các khoản vay ở trên, hoạt động cho vay doanh nghiệp cũng bao gồm các loại như cho vay tín chấp (không tài sản đảm bảo) hoặc có tài sản đảm bảo. Một số loại hình cho vay doanh nghiệp gồm:
+ Cho vay bổ sung vốn lưu động: Quý khách đang có nhu cầu vốn phục vụ cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh, hoặc bù đắp những thiếu hụt về vốn do chưa bán hết sản phẩm để thu hồi vốn, phục vụ cho một chu kỳ sản xuất kinh doanh mới.
+ Cho vay theo dự án đầu tư: Là dạng vay hỗ trợ doanh nghiệp phục vụ cho các hạng mục Dự án mua sắm máy móc thiết bị, mua ôtô, phương tiện vận tải hoặc dự án xây mới, sửa chữa nâng cấp nhà xưởng thực tế và hiệu quả, được hội đồng quản trị hoặc các sáng lập viên của công ty phê duyệt.
+ Cho vay thanh toán: Là khoản vay hỗ trợ cho việc thanh toán của doanh nghiệp. Để có tiền thanh toán ngay cho người bán, doanh nghiệp đôi khi có thể vay trước tiền của ngân hàng và sẽ hoàn lại vốn vay sau khi nhận đủ hàng và bán được số hàng hóa của mình.
b. Đặc điểm hoạt động cho vay doanh nghiệp của NHTM
NHTM được coi là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHTM, hoạt động cho vay là hoạt động đóng góp lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng. Cho vay doanh nghiệp của NHTM có những đặc điểm sau:
– Đối tượng khách hàng đa dạng vì các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó nhu cầu vay vốn để đáp ứng cũng đa dạng và phong phú, từ việc cho vay trong lĩnh vực xây dựng đối với các doanh nghiệp xây lắp hay cho vay lĩnh vực đầu tư chăm sóc cây công nghiệp đối với các doanh ghiệp sản xuất cà phê, cao su…
– Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp là để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất như vay vốn để mua nguyên liệu phục vụ sản xuất, mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, đổi mới thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh với các khoản vay có giá trị lớn và có thể rất lớn.
– Thủ tục và quy trình cho vay doanh nghiệp phức tạp hơn vì tính pháp lý của doanh nghiệp phức tạp hơn nhiều so với cá nhân. Bên cạnh đó giá trị khoản vay lớn và tài sản đảm bảo thường phức tạp, khó định giá hơn vì hầu hết tài sản doanh nghiệp thường thế chấp chính nhà máy, dụng cụ sản xuất của mình… – Nguồn trả nợ của người vay từ tiền bán hàng (tiền – hàng – tiền), lợi nhuận, khấu hao và các nguồn thu hợp pháp khác.
– So với cho vay khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh, khách hàng doanh nghiệp có hệ thống thông tin tốt hơn, chặt chẽ hơn do đều có hệ thống thông tin kế toán, báo cáo tài chính. Các thông tin tài chính được khách hàng cung cấp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thuế… Tùy thuộc vào báo cáo tài chính có được kiểm toán hay không , uy tín tổ chức kiểm toán mà chất lượng thông tin tài chính khách hàng cung cấp là cao hay thấp.
– Rủi ro xảy ra từ cho vay doanh nghiệp thường gây ra tổn thất lớn cho ngân hàng thương mại. Do đó, các lãnh đạo NHTM rất quan tâm đến quản trị rủi ro các khoản cho vay doanh nghiệp.
1.1.5. Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp
a. Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, cấp tín dụng doanh nghiệp là chức năng kinh tế cơ bản của NHTM. Rủi ro trong ngân hàng cũng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng như cho vay doanh nghiệp, cho vay cá nhân, hộ gia đình,… Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng do khách hàng doanh nghiệp vay không trả nợ đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi theo hợp đồng tín dụng cho ngân hàng. (Nguồn: PGS.TS Phan Thị Thu Hà, Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB GTVT).
Theo khoản 1 điều 2 quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Khi thực hiện một hoạt động cho vay doanh nghiệp cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của doanh nghiệp vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng thì rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp là không thể tránh khỏi và là khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, rủi ro trong cho vay doanh nghiệp là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế nhưng không thể loại trừ. Do vậy rủi ro tín dụng dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng. Khi tổn thất xảy ra dưới mức tỷ lệ dự kiến, ngân hàng có thể coi đó là một thành công trong quản lý.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\TAI CHINH NGAN HANG\LUONG DUC SINH


