Hoàn Thiện Công Tác Xúc Tiến Thị Trường Du Lịch Nội Địa Tại Công Ty Công ty Cổ phần du lịch DMZ
Du lịch Huế đang trở thành một trong những điểm sáng trên bản đồ du lịch Việt Nam cũng như trên thế giới trong những năm qua. Điều đó được chứng minh thông qua số lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến Huế không ngừng gia tăng. Dự kiến đến năm 2030 Huế sẽ đón 8,1 triệu lượt, trong đó có 1,4 triệu lượt khách quốc tế, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2022-2020 là 20,98%. Huế được bầu chọn là điểm đến mới nổi hấp dẫn nhất thế giới năm 2022. Cùng với đó Du lịch Huế đã được trang web du lịch hàng đầu của Mỹ Tripadvisor.com vinh danh là “Một trong những điểm đến mới nổi 2022”. Qua đó để thấy rằng Du lịch của thành phố này còn phát triển mạnh mẽ hơn trong những năm đến. Trong bối cảnh đó, công ty Công ty Cổ phần du lịch DMZ là một trong những đơn vị dẫn đầu về hoạt động kinh doanh lữ hành trên địa bàn thành phố Huế với nhiều loại hình dịch vụ và sản phẩm phong phú đã và đang là thương hiệu đáng tin cậy đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Tuy nhiên, trong những năm gần đây do chịu tác động từ một số yếu tố khách quan và chủ quan nên đã tác động lớn đến sự ổn định thị trường khách Inbound & Outbound. Để duy trì thành được vị thế và đảm bảo tình hình phát triển của doanh nghiệp mang tính bền vững doanh nghiệp phải có chiến lược marketing đúng đắn sẽ giúp doanh nghiệp phát triển. Marketing du lịch bao gồm rất nhiều yếu tố với tầm quan trọng khác nhau và tác động, ảnh hưởng và quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó, chính sách xúc tiến được xem như chiếc cầu nối giữa các sản phẩm du lịch của doanh nghiệp đến với khách hàng. Thực hiện tốt công tác xúc tiến sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được hình ảnh, thương hiệu trong tâm thức của khách hành từ đó mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đó là lý do vì sao cá nhân quyết định chọn đề tài“ Hoàn Thiện Công Tác Xúc Tiến Thị Trường Du Lịch Nội Địa Tại Công Ty Công ty Cổ phần du lịch DMZ”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa Cơ sở lý luận liên quan đến hoạt động xúc tiến trong doanh nghiệp lữ hành
Đánh giá thực trạng của hoạt động xúc tiến đối với khách nội địa tại Công ty Cổ phần du lịch DMZ, xác định được các ưu và nhược điểm của công tác xúc tiến tại Công ty Cổ phần du lịch DMZ, từ đó có cơ sở phát huy những lợi thế và hạn chế những khuyết điểm
Phát triển các công cụ được sử dụng trong công tác xúc tiến cũng như các giải pháp hỗ trợ nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến hướng đến khách du lịch nội địa; gia tăng lượng khách du lịch Nội địa đến với Công ty Cổ phần du lịch DMZ trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các công cụ xúc tiến đang được sử dụng tại Công ty Cổ phần du lịch DMZ, cũng như mối quan hệ hỗ trợ qua lại giữa các công cụ. Từ đó, đưa ra cách sử dụng các công cụ xúc tiến một cách hiệu quả nhất.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Hoạt động xúc tiến (Promotion) trên thị trường nội địa tại công ty Công ty Cổ phần du lịch DMZ
Về không gian: Nghiên cứu những vấn đề quản trị ở cấp vi mô
Về thời gian: Thực tiễn công tác xúc tiến tại công ty Công ty Cổ phần du lịch DMZ từ năm 2022 đến năm 2023.
Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và kết hợp nhiều phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phát phiếu điều tra khảo sát, phân tích số liệu, so sánh, kiểm chứng, quy nạp, diễn dịch trong quá trình nghiên cứu.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, sơ đồ, danh mục tài liệu tham khảo và bảng khảo sát, nội dung chính của đề tài gồm 03 chương:
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xúc tiến trong lĩnh vực Du lịch
CHƯƠNG 2: Thực trạng công tác xúc tiến dành cho khách Nội địa tại công ty Công ty Cổ phần du lịch DMZ CHƯƠNG 3: Giải pháp nhằm phát triển công tác xúc tiến dành cho khách Nội địa tại công ty Công ty Cổ phần du lịch DMZ.
6. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn, tác giả có tham khảo luận văn “Giải pháp du lịch Marketing trực tuyến tại công ty cổ phần Du lịch Việt Nam Vitours” của tác giả Lê Thị Kim Chi, đại học Huế. Tác giả đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về công tác xúc tiến cũng như đưa ra các giải pháp, tuy nhiên chỉ gói gọn trong công tác marketing trực tuyến và chưa tạo được ảnh hưởng lớn đối với thị trường, đồng thời chưa nhắm vào đối tượng khách du lịch nội địa tại Vitours. Tiếp theo, là luận văn “Marketing trực tiếp cho thị trường khách du lịch nội địa đến Miền Trung tại Công ty TNHH MTV lữ hành Vitours” của tác giả Trần Thu Hiền, Đại học Huế. Đề tài phân tích rất kỹ công tác marketing trực tiếp tại Vitours và đưa ra chiến lược áp dụng đối với thị trường khách nội địa nhưng vẫn chưa có các giải pháp mang tính đồng bộ từ các công cụ khác và chưa tạo ra được sự khác biệt trong việc tạo ra một hình ảnh Vitours ấn tượng đối với khách hàng.
Nhìn chung các đề tài đều có cơ sở lý luận rõ ràng, phân tích được ưu và nhược điểm của công cụ marketing trực tiếp và marketing trực tuyến, có nhiều ý tưởng hay và có thể áp dụng được trong thực tế. Tuy nhiên, để có thể đưa hình ảnh của Công ty Cổ phần du lịch DMZ đến với thị trường khách du lịch nội địa, cần phải áp dụng một cách đồng bộ các giải pháp xúc tiến khác nhau và phải cụ thể hơn nữa.
Qua quá trình nghiên cứu một số tài liệu tại thư viện Đại học Duy Tân, tác giả rất tâm đắc với một số định nghĩa, khái niệm của một số chuyên gia về công tác xúc tiến trong lĩnh vực du lịch như, theo Giáo trình Marketing Du Lịch – PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh và T.S Nguyễn Đình Hòa: “Xúc tiến là một quá trình xúc tiến do người bán thực hiện nhằm gây ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ, hành vi của người mua và cuối cùng là thuyết phục họ mua những sản phẩm du lịch của mình”. Theo PGS. TS Lưu Văn Nghiêm trong giáo trình “Marketing Dịch Vụ” thì cho rằng: “Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực tổ chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội”.
+ Luận văn thạc sĩ của Đoàn Gia Dũng (2005) Xây dựng các phối thức Marketing nhằm khai thác chương trình du lịch đường bộ Việt Nam- Lào-Thái Lan tại Vitours trong xu hướng hợp tác, phát triển và canh tranh khu vực đã hệ thống cơ sở lý luận về các phối thức marketing, đánh giá thực trạng kinh doanh, thực hiện các phối thức marketing, phân tích, đánh giá, đề xuất các phối thức marketing nhằm tăng trưởng khách du lịch Khu vực Kinh tế hành lang Đông- Tây phát triển. Đồng thời cũng đã đưa ra các giải pháp marketing về việc thúc đẩy phát triển thị trường du lịch Thái Lan, Lào .
+Luận văn thạc sĩ Đặng Thanh Dũng (2010) Phát triển sản phẩm du lịch Caravan nhằm tăng doanh thu tại công ty du lịch – Lữ hành Công ty Cổ phần du lịch DMZ. Luận văn đã hệ thống được cơ sở lý luận chung về các loại hình sản phẩm du lịch Caravan, phân tích đánh giá, hạn chế trong việc xây dựng và thực hiện việc phát triển các sản phẩm du lịch caravan trên tuyến đường kinh tế hành lang Đông –Tây.Tuy nhiên đề tài chỉ với đưa ra các sản phẩm đơn điệu, chưa đa đạng và chưa đưa ra các chính sách phù hợp với các sản phẩm du lịch trên tuyến đường kinh tế hành lang Đông –Tây.
Từ những nhận định trên có thể thấy công tác xúc tiến đóng vai trò cấp thiết đối với tất cả các doanh nghiệp lữ hành. Đặc biệt, trong giai đoạn thị trường có nhiều biến động như hiện nay thì công tác xúc tiến đóng vai trò tất yếu cho sự thành công của doanh nghiệp. Chính từ quan điểm đó tác giả đã chọn đề tài “ Hoàn Thiện Công Tác Xúc Tiến Thị Trường Du Lịch Nội Địa Tại Công Ty Công ty Cổ phần du lịch DMZ” làm định hướng nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp.
CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN TRONG DU LỊCH
KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH DỊCH VỤ LỮ HÀNH TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Huế, tr256]
Philip Kotler thì lại cho rằng “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.”
Theo thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 27/2001/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh lữ hành và hướng dẫn du lịch: “Kinh doanh lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nhằm mục đích sinh lợi”. Các hình thức kinh doanh lữ hành ở Việt Nam bao gồm:
Kinh doanh lữ hành Nội địa là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch Nội địa.
Theo quy định của Luật Du lịch Việt Nam thì hình thức kinh doanh lữ hành bao gồm:
+ Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam
+ Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch ra nước ngoài
+ Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài
+ Kinh doanh lữ hành Nội địa
– Các loại hình kinh doanh lữ hành được phân loại theo hình 1.1 như sau
Kinh doanh lữ hành Nội địa
Kinh doanh lữ hành quốc tế
Kinh doanh lữ hành
Đại lý lữ hành
Kinh doanh chương trình du lịch
Văn phòng
du lịch
Đại lý bán lẻ
Kinh doanh lữ hành gửi khách
Kinh doanh lữ hành nhận khách
Kinh doanh lữ hành kết hợp
Hình 1.1. Phân loại kinh doanh lữ hành
Theo tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO/OMT), khách du lịch nội địa có những đặc điểm cơ bản sau:
- Khác với khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa biết khái quát hoặc rõ ràng (nếu đã du lịch nhiều lần tại điểm đến) về điềm đến, thông thạo ngôn ngữ, hải quan, pháp luật của mình, khí hậu, bối cảnh văn hóa của nó. Điều này làm cho:
- Khách du lịch Nội địa đòi hỏi nhiều hơn về chất lượng sản phẩm, và cũng rất quan tâm đến luật bảo vệ người tiêu dùng.
- Thứ hai là trong số bốn động cơ chính của khách du lịch (khám phá, gặp gỡ những người khác, trải nghiệm, nghỉ ngơi) chắc chắn nổi bật những đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch Nội địa đó là: khách du lịch Nội địa thường tìm kiếm một sự đa dạng các điểm đến và các hoạt động thu hút du khách, nói cách khác, phổ sản phẩm dịch vụ cung ứng trong chuyến đi nên đa dạng; ngoài ra, trong cùng một khoảng thời gian, khách du lịch Nội địa thường quen với việc ít di chuyển hơn là di chuyển nhiều nơi (ở trong cùng một địa điểm) và về sau dần phù hợp hơn với điểm đến ở xa hơn.
- Các điểm đến trong nước tương đối gần do vậy khách du lịch Nội địa thường có cơ hội đến du lịch thường xuyên và lặp lại nhiều lần, đặc biệt là với các gia đình ở các đô thị thường đi du lịch nhiều lần đến các điểm đến ở khu vực ngoại ô. Ngoài ra, du lịch bằng đường bộ được sử dụng chủ yếu chiếm 88% so với 51% của du lịch quốc tế.
- Vì đa phần điểm đến trong nước gần hơn và vận tải đường bộ được sử dụng nhiều hơn nên chi phí của chuyến đi là thấp hơn nhiều so với du lịch quốc tế. Do vậy:
- Rào cản chi phí chuyến đi thấp, du khách Nội địa thường sẽ tìm kiếm tỷ lệ chất lượng so với giá tốt nhất, hoặc họ sẽ thường xuyên tìm kiếm các mức giá thấp nhất có thể trong tất cả các phân đoạn của chuỗi giá trị du lịch: dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, các hoạt động du lịch, mua sắm, vv …
+ Khách du lịch Nội địa thường ở lại trong một thời gian dài hơn.
- Sự kết hợp của ba đặc điểm cơ bản (kiến thức, sự quen thuộc về điểm đến và chi phí vận chuyển thấp) dẫn đến:
- Khách du lịch Nội địa thường bao gồm nhiều thành phần xã hội từ những người giàu đến những người cóthu nhập trung bình (nhưng ổn định).
- Một số thành phần xã hội thích hợp với du lịch Nội địa hơn du lịch quốc tế: hộ gia đình, trẻ em và thanh thiếu niên, người cao niên, người tàn tật, hộ gia đình có thu nhập trung bình nhưng ổn định.
- Đa dạng về thành phần xã hội này đưa đến một sự đa dạng hơn trong nhu cầu về lưu trú và các hoạt động du lịch và các điểm đến.
- Du lịch Nội địa ít tập trung về mặt địa lý và phân phối tương đối trên toàn lãnh thổ quốc gia.
- Chi tiêu đơn vị trên mỗi khách du lịch Nội địa tuy thấp hơn so với khách du lịch quốc tế nhưng khối lượng tổng thể của chi tiêu cao hơn rõ rệt.
Theo nghiên cứu của GS.TS.Trần Văn Xuân, đại học West Florida trong nghiên cứu về thị trường khách du lịch Nội địa đã có một số nhận xét như sau:
- Dự đoán có 40 triệu khách Nội địa đến năm 2020
- Khách Việt Nam chi tiêu khoảng 35 USD/ngày
- Hai động lực lớn nhất thúc đẩy người ta đi du lịch là do thời tiết và mục đích thư giãn
- Hai nhóm người đi cùng lớn nhất là gia đình kèm con cái hoặc bạn bè
- Hai nguồn thông tin dùng nhiều nhất là thông tin từ bạn bè và Internet
Theo Luật Du lịch Việt Nam 2005: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định.
Du lịch có thể hiểu một cách tổng quát là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của một du khách nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau với mục đích hoà bình hữu nghị.
Phân loại khách theo mục đích, động cơ đi du lịch của khách: đây là loại tiêu chí thường được sư dụng do động cơ đi du lịch chính là cơ sở hình thành nhu cầu đặc trưng của khách, nó thúc đẩy con người đi du lịch. Với một vài người đây có thể là nhu cầu nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí sau những thời gian làm việc căng thẳng, song cũng có người tham gia chuyến hành trình du lịch vì lý do tâm linh như đi thăm các đền chùa, các lễ hội truyền thống. Dựa theo tiêu thức này khách du lịch có thể được phân chia ra làm 3 nhóm theo hình 1.2.
Vui chơi, giải trí
Động cơ đi du lịch
Thăm thân
Các động cơ khác
Công việc
Nhiệm vụ
Hội họp
Kinh doanh
Sự kiện thể thao
Nghỉ ngơi
Mục đích khác
Văn hoá
Sức khoẻ
Học tập
Quá cảnh
Động cơ khác
Hình 1.2. Phân loại khách du lịch theo mục đích chuyến đi
Phân loại khách theo các tiêu thức thuộc về cá nhân:
Cách phân loại này dựa trên cơ sở: Bất cứ một cá nhân nào đều có những hoàn cảnh sỗng riêng, chịu tác động bởi các yếu tố khác nhau như môi trường sống, làm việc và những đặc điểm tâm lý thuộc riêng cá nhân đó. Những yếu tố này tác động tới quá trình ra quyết định tiêu dùng một sản phẩm du lịch của khách. Các yếu tố này được chia thành:
+ Nhóm các yếu tố văn hoá: bao gồm các giá trị văn hoá như sự thành đạt, hoạt động hiệu quả và thực hành, tự do, tiện nghi vật chất, trẻ trung, nhân đạo… Các giá trị tiểu văn hoá như văn hoá của các sắc tộc, tôn giáo, địa phương. Văn hoá của các giai tầng xã hội như cá nhân đó thuộc vào giai tầng xã hội nào cuãng quyết định đến việc lựa chọn các sản phẩm du lịch của họ.
+ Nhóm các yếu tố thuộc về xã hội: nhóm này bao gồm các nhóm tham tham chiếu, gia đình, vai trò và vị trí tình trạng của cá nhân trong nhom (Gia đình và tập thể).
+ Nhóm các yếu tố cá nhân gồm: độ tuổi và giai đoạn của chu kì sống, nghề nghiệp, phong cách sống, đặc điểm nhân cách, các yếu tố tâm lý như động cơ, cảm giác, kinh nhgiệm, lòng tin và thái độ. Dựa trên các tiêu thức này có thể phân loại khách như sau.
Phân loại khách theo tiêu thức nghề nghiệp: các nghiên cứu cho thấy rằng khách du lịch thuộc các ngành nghề khác nhau có những lựa chọn khác nhau về sản phẩm dịch vụ khi đi du lịch. Bên cạnh đó, các ngành nghề khác nhau thì thời gian nhàn rỗi để thực hiện chuyến đi cũng không giống nhau, thêm vào đó nghề nghiệp cũng ảnh hưởng ít nhiều tới đặc điểm tình cách, sở thích của khách du lịch.
Phân loại khách theo tiêu thức độ tuổi: ở mỗi giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống, các đặc điểm tâm lý, thể chất, hoàn cảnh sống đều biến đổi do đó dẫn đến những thay đổi trong khi lựa chọn sản phẩm du lịch.
Phân loại khách du lịch theo tiêu thức tâm lý cá nhân: khách du lịch được phân thành ba loại gồm khách du lịch dị tâm lý, đồng tâm lý và loại trung bình.
Với khách du lịch dị tâm lý luôn tìm kiếm các trải nghiêm mới, thích đi du lịch riêng lẻ đến những nơi con hoang sơ và họ là nhưng người định hướng cho sản phẩm du lịch mới ra đời.
Khách du lịch đồng tâm lý trung bình chỉ tiêu dùng các loại sản phẩm du lịch mà họ đã quen, đã trở thành các trải nghiêm của mỗi lần tiêu dùng trước đó, nguyên tắc tiêu dùng của loại khách này là họ biết rõ về sản phẩm do đó họ thường chọn các điểm du lịch nổi tiếng và đi theo đoàn.
Khách du lịch có tâm lý trung bình có đặc điểm tiêu dùng mang tình phổ biến, đi du lịch với mục tiêu vui trơi giải trí nhằm nâng cao tâm sinh lý và phục hồi sức khoẻ đây cũng la loại khách chiếm số đông trên thị trường du lịch. tuy nhiên, trong số khách này có những khách gần với khách đồng tâm lý hoặc di tâm lý một chút.
Phân loại khách theo tiêu thức giới tính: Đặc điểm tâm lý của nam, nữ rất khác nhau do đó các nhu cầu về dịch vụ khi đi du lịch cũng rất khác nhau.
Ngoài các cách phân loại trên, khách du lịch còn được phân loại theo các tiêu thức cụ thể do từng loại thị trường khách du lịch quốc tế vào Việt Nam, khách du lịch ra nước ngoài và Nội địa như sau:
Với khách du lịch quốc tế vào Việt Nam, một tiêu thức quan trọng để thống kê khách là phân loại theo thị trường khu vực:
Khách đến từ các khu vực địa lý khác nhau, các quốc gia khác nhau có những điểm rất khác nhau do đặc điểm phong tục, tập quán, truyền thống, tín ngưỡng-tôn giáo, thị hiếu của khách du lịch của các quốc gia rất khác nhau. Những đặc điểm riêng trong lịch sử phát triển của mỗi dân tộc sẽ hình thành nên tính cách dân tộc riêng. Các đặc điểm đề cập trên chi phối đến thói quen tiêu dùng của các sản phẩm du lịch ở nơi đến.
Mỗi quốc gia có nền kinh tế phát triển ở mức khác nhau, mức sống dân cư cũng khác nhau, yếu tố này quyết định khả năng chi tiêu của khách du lịch. Ví dụ hai nước Pháp và Đức là một trong những quốc gia có số khách đi du lịch ra nước ngoài nhiều nhất, khả năng chi tiêu của đối tượng khách du lịch này cũng rất cao.
Phân loại theo tiêu thức này giúp các nhà kinh doanh du lịch có thể đưa ra các sản phẩm du lịch phù hợp với khách du lịch đến từ các nền văn hoá khác nhau trên thế giới, đồng thời có giải pháp lựa chọn các giá trị văn hoá vật chất tinh thần đặc sắc của dân tộc một cách thích hợp giới thiệu để khách du lịch hiểu thêm về dân tộc mình.
Với khách du lịch quốc tế vào Việt Nam các tiêu thức và động cơ chuyến đi, phương tiện vận chuyển cũng là các tiêu thức có thể sử dụng để bổ trợ cho tiêu thức quốc tịch.
Với khách du lịch ra nước ngoài và Nội địa: tiêu thức điểm đến thường được các doanh nghiệp sử dụng. Bởi điểm đến có vai trò quan trọng, nó quyết định trương trình du lịch, hành trình chuyến đi, phương tiện vận chuyển, các dịch vụ giải trí có thể cung cấp đồng thời phần nào cho biết khả năng thanh toán của khách du lịch. Những vấn đề trên có vai trò quan trọng trong việc doanh nghiệp tổ chức phục vụ và cung cấp các dịch vụ cho khách. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng sử dụng tiêu thức phương tiện vận chuyển để phân loại khách, động cơ chuyến du lịch để phân loại khách du lịch ra nước ngoài và Nội địa, tuy nhiên không phổ biến như tiêu thức điểm đến.
HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN TRONG MARKETING DU LỊCH
Theo Philip Kotler: “Marketing là một tiến trình quản trị và xã hội qua đó cá nhân cũng như đoàn thể đạt được những gì họ cần và họ muốn. Thông qua việc tạo ra và trao đổi các sản phẩm cũng như các giá trị với người khác cũng như với đoàn thể khác.”
Theo PGS. TS Lưu Văn Nghiêm trong cuốn “Marketing dịch vụ ” trường đại học Kinh Tế Quốc Dân, “ Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực tổ chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội”
Tóm lại, marketing chính là hoạt động nhằm nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp nhằm tiến đến việc mua sắm, sử dụng các hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp.
Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO): Marketing du lịch là một triết lý quản trị mà nhờ đó tổ chức du lịch nghiên cứu, dự đoán và lựa chọn dựa trên mong muốn của du khách để từ đó đem sản phẩm ra thị trường sao cho phù hợp với mong muốn của thị trường mục tiêu, thu nhiều lợi nhuận cho tổ chức du lịch đó.
Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh, nhìn từ giác độ kinh doanh du lịch, Marketing là chức năng quản trị của doanh nghiệp, nó bao gồm tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều phải hướng vào mong muốn của thị trường mục tiêu, đảm bảo rằng doanh nghiệp đưa ra thị trường loại sản phẩm tốt hơn và sớm hơn sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh để đạt được mục đích của doanh nghiệp.
Marketing không phải là trách nhiệm của một bộ phận duy nhất mà là tất cả các bộ phận. Marketing du lịch là hoạt động Marketing trên thị trường du lịch và trong lĩnh vực du lịch và vận dụng cho doanh nghiệp du lịch.
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. Một chính sách sản phẩm hợp lý và hấp dẫn sẽ làm tăng khả năng thu hút khách, thỏa mãn nhu cầu của du khách và tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh.
– Chính sách sản phẩm trong marketing lữ hành gồm:
- Chính sách dịch vụ cốt lõi: Chính sách nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng về tham quan, lưu trú, ăn uống, liên quan đến việc đảm bảo chất lượng khách sạn, nhà hàng, trình độ của hướng dẫn viên, mức độ hợp lý của hành trình về thời gian, tuyến điểm.
- Chính sách dịch vụ bổ sung: Chính sách nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ chính diễn ra thuận tiện hơn và tăng cường giá trị và sự hấp dẫn của sản phẩm, dịch vụ chính trong chuyến đi.
Đối với khách du lịch Nội địa, để thực hiện chính sách sản phẩm được tốt, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành thường chú trọng không chỉ tới sản phẩm, dịch vụ cốt lõi mà còn đặc biệt quan tâm tới sản phẩm lữ hành bổ sung nhằm làm tăng thêm giá trị của chương trình du lịch, tạo sự mới mẻ, phong phú, tăng khả năng cạnh tranh so với chương trình du lịch của đối thủ. Khách du lịch Nội địa thường khá quen thuộc với hình ảnh điểm đến trong nước và ít nhiều hiểu biết một lượng thông tin nhất định về điểm đến mặt khác để tìm kiếm và khai thác một điểm đến mới, hay một chương trình du lịch mới là chuyện không phải dễ dàng mà doanh nghiệp lữ hành nào cũng có thể thực hiện được, do đó hầu hết các doanh nghiệp lữ hành muốn để làm chương trình du lịch của mình mới mẻ và hấp dẫn khách Nội địa hơn họ thường rất chú trọng đến chính sách dịch vụ phụ và chính sách nhãn hiệu (tên chương trình) bên cạnh chương trình du lịch chính để thu hút khách Nội địa
– Một số chính sách dịch vụ bổ sung các doanh nghiệp lữ hành thường áp dụng
- Sự thuận tiện trong việc đăng ký, đặt chỗ và mua chương trình: thông tin thường xuyên, hình thức đăng kí thuận tiện (qua mạng internet, fax, điện thoại…). Thời hạn đăng kí hợp lý và mức phạt thấp…
- Tư vấn cho khách, giúp họ lựa chọn chương trình du lịch phù hợp với khả năng tài chính, mục đích, thời gian….và cung cấp cho khách những lưu ý trong chuyến đi như nên mang theo loại thuốc gì, đặc sản nổi địa phương nên mua làm quà tặng…
- Hình thức thanh tóan thuận tiện: chấp nhận thanh toán chậm, hay các hình thức thanh toán hiện đại.
- Những ưu đãi cho khách đi du lịch tập thể, những điều kiện đặc biệt dành cho trẻ em, tổ chức sinh nhật, lễ hội, cho các thành viên trong đoàn.
- Tặng quà lưu niệm cho những ý kiến đóng góp cho sản phẩm mới của khách hàng.
- Các dịch vụ miễn phí như hành lý, chụp ảnh đoàn.
– Chính sách nhãn hiệu (chính sách về tên chương trình du lịch):
Tên gọi của chương trình du lịch là một trong những yếu tố quan trọng tác động vào tâm lý du khách, nhất là du khách Việt Nam thường có xu hướng chuộng những gì hay, đẹp, nổi tiếng và hợp thời. Như đã biết ở phần đặc trưng marketing lữ hành thì khách du lịch trong thời gian ngắn ngủi ra quyết định mua chương trình du lịch thường xuất phát từ tâm lý tiêu dùng hơn là từ lý trí. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành thường quan tâm tới việc đặt tên cho chương trình du lịch sao cho thật ấn tượng, lôi cuốn được sự chú ý của du khách khi họ nhìn thấy tên chương trình.
Tên chương trình du lịch thường dựa trên sự nổi tiếng của điểm đến chuyến đi ( Ví dụ : khám phá con đường di sản miền trung Quảng Bình- Huế- Hội An…) hay Khám phá miền Tây sông nước, Khám phá Bà Nà tiên cảnh …)
– Ngoài ra nhằm tăng cường khả năng tiêu thụ trên một khách du lịch và thu hút khách quay lại với doanh nghiệp, chính sách cải tạo lại sản phẩm, hay làm mới sản phẩm cũng rất được quan tâm như:
- Xây dựng một chương trình du lịch Nội địa hoàn toàn mới.
- Chương trình du lịch hiện tại hoặc đã có nhưng cũ được xây dựng lại hình ảnh mới trong tâm trí khách hàng, nhắm vào những phân đoạn thị trường mới.
- Lồng ghép tuyến điểm, dịch vụ du lịch mới bổ sung vào chương trình du lịch đã có của doanh nghiệp.
- Hoàn thiện chương trình, dịch vụ du lịch đã có bằng việc phát hiện những tồn tại của nó và hiệu chỉnh cho phù hợp hơn.
- Giảm chi phí chương trình du lịch hay dịch vụ hiện tại nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tương đương và mức giá thấp hơn đối thủ.
- Chiến lược mua lại: mua lại của một doanh nghiệp khác một loại hình chương trình du lịch hay dịch vụ du lịch hoàn toàn mới.
Giá cả (Price): Là lượng tiền mà khách hàng phải trả để có được sản phẩm, bao gồm: Giá bán sỉ và giá bán lẻ; chiết khấu, bù lỗ, thời hạn thanh toán, điều kiện tín dụng…
Trước khi mua dịch vụ khách hàng thường trông chờ một mức chất lượng dịch vụ mà họ được hưởng.Tuy nhiên xuất phát từ tính phi vật chất của dịch vụ mà chất lượng dịch vụ cũng khó hình dung. Khách hàng phải hình dung dựa vào bằng chứng vật chất trong đó có giá dịch vụ. Như vậy giá là một trong những nhân tố giúp khách du lịch hình dung phần nào về chất lượng chương trình du lịch. Hay nói cách khác giá cả là một bằng chứng, công cụ hữu hình hóa dịch vụ. Do đó marketing trong dịch vụ nói chung và trong lữ hành nói riêng phải cố gắng tận dụng tính hữu hình của giá. Trong hoạt động kinh doanh lữ hành Nội địa thường rất đa dạng phân đoạn thị trường mục tiêu khác nhau, do đó mức giá phải xây dựng phù hợp với đặc điểm tiêu dùng của từng phân đoạn.Ví dụ thị trường sinh viên giá nên được xây dựng vừa phải, tiết kiệm và hợp lý nhất có thể, nhưng đối với thị trường khách viên chức có gia đình thì mức giá lại được xây dựng theo cảm nhận, đánh giá của họ về đẳng cấp về tiện nghi chuyến đi, đẳng cấp khách sạn, chất lượng chương trình phải hoàn hảo….
Phân phối trong marketing không chỉ là phương hướng, mục tiêu của lưu thông mà còn là sự thay đổi không gian thời gian và các biện pháp thủ tục để đưa người dùng đến với chương trình du lịch.
Bất kì một doanh nghiệp lữ hành nào khi lựa chọn kênh phân phối cũng mong muốn nó sẽ mang lại lợi ích tối đa và thực hiện đựoc các mục tiêu đề ra. Vì vậy, quyết đinh lựa chọn kênh phân phối thường dựa trên các yếu tố sau:
- Đặc điểm thị trường
- Đặc điểm của khách hàng mục tiêu.
- Đặc điểm của trung gian.
- Đặc điểm của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành.
- Kênh phân phối của đối thủ cạnh tranh.
- Môi trường marketing.
Các kênh phân phối trong kinh doanh lữ hành:
- Kênh phân phối sản phẩm trực tiếp: Là kênh bán trực tiếp các sản phẩm du lịch riêng lẻ đến du khách, không có sự tham gia của bất kì một kênh trung gian nào.
- Kênh phân phối gián tiếp: là hệ thống kênh thường không tồn tại mối quan hệ trực tiếp giữa doanh nghiệp lữ hành và du khách mà phải thông qua mối quan hệ trung gian đó là đại lý du lịch đứng ra làm vai trò trung gian tiêu thụ hoặc với tư cách là doanh nghiệp lữ hành gởi khách.
Chính sách xúc tiến ( Promotion)
Chính sách cổ động là quá trình xúc tiến trong kinh doanh chương trình du lịch, nhằm mục đích truyền tin về các chương trình du lịch cho người tiêu dùng. Mặt khác, giúp họ nhận thức được các chương trình du lịch và dịch vụ của doanh nghiệp, dẫn dụ và thu hút người tiêu dùng mục tiêu mua sản phẩm và trung thành với doanh nghiệp.
Các công cụ của hoạt độngxúc tiến bao gồm:
- Quảng cáo
- Quan hệ công chúng/ tuyên truyền
- Marketing trực tiếp
- Mạng Internet
- Xúc tiến bán
- Bán hàng trực tiếp
Chương trình du lịch được lập dựa trên những nghiên cứu ban đầu của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành về nhu cầu của thị trường mục tiêu. Doanh nghiệp lữ hành phải có định hướng rõ ban đầu cho việc nghiên cứu nhu cầu, từ đó mới có thể xây dựng, tính toán được chương trình du lịch hoàn chỉnh với các tuyến điểm, thời gian vận chuyển,thời gian lưu lại… một cách hợp lý, phù hợp với sức khỏe,thời gian, khả năng chi tiêu của du khách.
Việc lập chương trình và tạo sản phẩm trọn gói có hai ý nghĩa rất quan trọng:
Thứ nhất: Nó thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Thứ hai: Đây là cơ hội khai thác một cách tốt nhất các dịch vụ của doanh nghiệp đặc biệt vào những mùa thấp điểm.
Yếu tố con người trong nghành dịch vụ rất quan trọng và nghành lữ hành cũng không phải là ngoại lệ. Trong đó, một là nhân viên của doanh nghiệp lữ hành và doanh nghiệp cung ứng, hai là khách hàng. Tuy nhiên doanh nghiệp lữ hành chỉ có thể kiểm soát được nhân viên của mình một cách trực tiếp và kiểm soát gián tiếp đối với nhân viên của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ du lịch. Nhất là trong việc tung sản phẩm lữ hành mới ra thị trường thì vai trò của nhân viên bán tour là rất quan trọng. Bên cạnh đó, vai trò của các nhân viên khác trong quá trình tiêu thụ sản phẩm lữ hành là không thể phủ nhận, trong đó có vai trò không thể thiếu của hướng dẫn viên du lịch. Hướng dẫn viên là người đại diện cho doanh nghiệp lữ hành và là gạch nối giữa du khách với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành. Họ chính là người đại diện cho doanh nghiệp thực hiện hợp đồng với du khách theo tour đã mua. Hiệu quả hoạt động lữ hành phụ thuộc rất lớn vào chất lượng công việc của hướng dẫn viên.
Để phát huy nỗ lực và hiệu quả công việc của nhân viên, doanh nghiệp cần thấu hiểu những nhu cầu, mong muốn của nhân viên và có chiến lược để thỏa mãn nhu cầu đó. Mặt khác doanh nghiệp lữ hành cũng phải coi trọng vai trò và công việc của họ, như vậy sẽ tác động tới lòng yêu nghề, sự gắn bó với doanh nghiệp. Cuối cùng, doanh nghiệp lữ hành cần phải tuyển chọn và đào tạo các nhân viên nhằm tạo hiệu quả cao cho công việc.
Chính sách đối tác (Partnership)
Trên cơ sở xây dựng chương trình trọn gói trong ngành kinh doanh lữ hành thì quan hệ đối tác và liên minh chiến lược đóng vai trò hết sức quan trọng. Và quan hệ đối tác này có thể là quan hệ với khách hàng, hãng cung ứng, các hãng lữ hành, công chúng và cả đối thủ cạnh trạnh. Quan hệ đối tác tốt nhất tốt thì mới đảm bảo hoạt động kinh doanh được lâu dài và ổn định. Các quan hệ này thường được liên minh ký kết với nhau thông qua các hợp đồng liên kết du lịch. Các hợp đồng này nhằm hỗ trợ, bổ sung cho nhau khắc phục được những yếu kém theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Trong đó, giữa doanh nghiệp lữ hành và nhà cung ứng có mối quan hệ hai chiều và mật thiết với nhau, cả hai đều cần nhau để có thể hoạt động hiệu quả. Để có thể cung cấp tốt, thỏa mãn yêu cầu của du khách thì ngoài nỗ lực bản thân doanh nghiệp còn cần phải có nỗ lực của các nhà cung ứng. Các chính sách trong quan hệ đối tác thường áp dụng là chính sách chiêt khấu, chính sách hoa hồng.
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỌAT ĐỘNG XÚC TIẾN THỊ TRƯỜNG DU LỊCH
Xúc tiến là một trong bốn chiến lược chủ yếu của marketing –mix mà các tổ chức và doanh nghiệp du lịch cần phải sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu của mình.
Theo Giáo trình Marketing Du Lịch – PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh và T.S Nguyễn Đình Hòa, xúc tiến là một quá trình xúc tiến do người bán thực hiện nhằm gây ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ, hành vi của người mua và cuối cùng là thuyết phục họ mua những sản phẩm du lịch của mình
Như vậy, theo quan điểm của marketing thì bản chất của hoạt xúc tiến chính là quá trình truyền tin để cung cấp thông tin về sản phẩm và về doanh nghiệp với khách hàng để thuyết phục họ mua sản phẩm của doanh nghiệp mình. Hoạt động Marketing hiện đại rất quan trọng đối với chiến lược này. Đây là một trong bốn nhóm công cụ chủ yếu của Marketing để doanh nghiệp có thể tác động vào thị trường du lịch. Chính sách được thực hiện qua các bước cơ bản:
Xúc tiến du lịch hỗn hợp (Promotion – Mix) với vai trò là một trong những chiến lược chủ yếu là marketing – mix có tác dụng rất lớn trong việc góp phần thực hiện thành công marketing – mix. Hoạt động xúc tiến có những tác dụng cơ bản sau đây.
Xúc tiến bán hàng (Sale Promotion) là hoạt động Marketing được công ty sử dụng trong ngắn hạn theo hướng cung cấp thêm các lợi ích về mặt vật chất, tinh thần cho khách hàng để điều chỉnh quyết định mua hàng.
– Hoạt động xúc tiến tạo điều kiện cho khách hàng tự do lựa chọn sản phẩm tiêu dùng:
+ Các hoạt động xúc tiến, về một loại sản phẩm dịch vụ do nhiều doanh nghiệp khác nhau cung ứng giúp người tiêu dùng có nhiều thông tin hơn về một loại sản phẩm du lịch từ đó tạo điều kiện cho khách hàng tự do lựa chọn nhà cung ứng sản phẩm.
+ Hoạt động xúc tiến góp phần tạo ra một sân chơi mà qua đó các doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng với nhau về sản phẩm dịch vụ du lịch của họ với mục đích là thuyết phục công chúng tiêu dùng sản phẩm của mình.
– Hoạt động xúc tiến tạo điều kiện để sản phẩm du lịch được tiêu thụ nhiều lần:
+Một số người cho rằng các hoạt động xúc tiến đặc biệt là quảng cáo được thiết kế để đánh lừa người tiêu dùng, nhận thức như vậy là không chính xác và thiếu khách quan. Trong kinh tế thị trường trong quá trình kinh doanh một doanh nghiệp không thể chỉ bán sản phẩm một lần mà cho một người mà điều phải lặp đi, lặp lại nhiều lần, cho nên cần phải hoạt động xúc tiến.
+ Quá trình tiêu thụ sản phẩm được tạo thành trong các hoạt động xúc tiến không trung thực chỉ có thể đánh lừa được một số người trong một khoảng thời gian nhất định chứ không thể đánh lừa mọi người trong mọi thời gian. Vị thế các doanh nghiệp cần phải thực hiện hoạt động xúc tiến một cách đầy trách nhiệm và trung thực với quan điểm tôn trọng khách hàng là thượng đế.
– Hoạt động xúc tiến góp phần cải tiến sản phẩm:
+ Thông qua hoạt động xúc tiến doanh nghiệp sẽ tiếp nhận những thông tin phản hồi từ người tiêu dùng nhờ vậy góp phần phát triển sản phẩm mới và cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch.
+ Hoat động xúc tiến có tác dụng to lớn đối với doanh nghiệp, các đại lý, trung gian và người tiêu dùng. Đối với doanh nghiệp, hoạt động xúc tiến là một công cụ hữu hiệu vừa để giữ vững nhu cầu cũ, vừa có tác dụng tạo thêm nhu cầu mới, chiếm lòng tin của khách hàng, kích thích tiêu thụ, lưu thông phân phối, khẳng định được vị thế của doanh nghiệp, từ đó tăng khả năng sinh lời. Tạo ra sự phản ứng nhanh chóng từ thông tin của thị trường về bất cứ sự thay đổi nào về sản phẩm, giá cả hoặc dịch vụ hay hỗ trợ việc giới thiệu một sản phẩm mới ra thị trường.
+ Đối với các đại lý trung gian, hoạt động xúc tiến giúp cho việc phân phối thuận lợi hơn, tiêu thị nhiều sản phẩm, dịch vụ hơn, tạo uy tín cho doanh nghiệp và đại lý tạo lập được mối quan hệ gắn bó giữa doanh nghiệp – đại lý – khách hàng.
+ Đối với người tiêu dùng, hoạt động xúc tiến cung cấp thông tin về sản phẩm mới, về chất lượng, về tính năng, lợi ích cũng như giá cả từ đó góp phần bảo vệ người tiêu dùng. Trong quá trình hoạt động sản xuất và kinh doanh cùng với quảng cáo, các doanh nghiệp phải thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm để cạnh tranh. Thông qua hoạt động xúc tiến của doanh nghiệp, người tiêu dùng đã nâng cao được nhận thức và sự hiểu biết của mình để từ đó có sự lựa chọn tiêu dùng thông minh, nâng cao chất lượng cuộc sống, tiết kiệm được thời gian trong mua sắm và tiêu dùng.
Căn cứ theo mục tiêu và đối tượng truyền thông để quyết định ngân sách cho hoạt động này. Một trong những quyết định khó khăn nhất của các doanh nghiệp là cần chi bao nhiêu tiền cho hoạt động truyền thông. Các ngành kinh doanh khác nhau có mức ngân sách dành cho truyền thông rất khác nhau. Chi phí này có thể là 10-20% nhưng cũng có thể lên đến 30-50% như trong ngành mỹ phẩm. Các doanh nghiệp trong một ngành cũng có mức ngân sách khác nhau. Có bốn phương pháp xác định ngân sách truyền thông:
– Phương pháp xác định theo tỷ lệ % trên doanh số bán
– Phương pháp cân bằng cạnh tranh
– Phương pháp “Căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ” phải hoàn thành.
Quảng cáo là một nghệ thuật giới thiệu hàng hóa hay dịch vụ nhằm tới những thị trường mục tiêu nhất định thông qua các phương tiện truyền thông và phải trả tiền.
- Các chức năng của quảng cáo:
– Chức năng thông tin: thông qua quảng cáo, doanh nghiệp có thể cung cấp bất kỳ những thông tin nào liên quan đến sản phẩm và doanh nghiệp
– Chức năng thuyết phục: thông qua quảng cáo, doanh nghiệp thuyết phục khách hàng mua sản phẩm của mình. Người ta thuyết phục khách hàng mua hàng hóa dịch vụ bằng nhiều cách thức khác nhau. Có thể thuyết phục trực tiếp hoặc gián tiếp.
+ Thuyết phục trực tiếp: chào mời khách hàng mua ngay. Chẳng hạn “mua ngay vì số lượng hạn chế”, “mua ngay tuần đầu với mức giảm giá 10%, 20%, 30% hay nhiều hơn nữa”, “mua ngay kẻo hết, tại sao lại chậm trễ?”
+ Thuyết phục gián tiếp: chào mời tế nhị thông qua những hình ảnh gợi ý tò mò hướng tới, dành cho người tiêu dùng những lợi ích lớn hơn nếu họ mua. Thuyết phục người tiêu dùng nên thay đổi nhãn hiệu bằng cách đưa ra các nhãn hiệu mới hoặc so sánh đặc tính mới của sản phẩm thông qua nhãn hiệu hay một điểm đến mới.
– Chức năng gợi nhớ: là nhắc nhở người tiêu dùng nhớ về sản phẩm để họ không quên. Thực tình người tiêu dùng có quá nhiều mối bận tâm trong cuộc sống hàng ngày nên họ rất dễ quên nếu thông tin nào đó xuất hiện trên các phương tiện thông tin không định kỳ hoặc chỉ một đôi lần. Cũng có người gọi đây là chức năng lặp lại tức là thông tin được cung cấp phải được lặp lại nhiều lần mới có thể làm cho người tiêu dùng không quên. Đây là quá trình ghi nhớ thông tin tự nhiên của con người cho nên các nhà quản lý marketing phải biết điều này. Thông tin phải được nhắc lại theo định kỳ hoặc theo mùa. Chẳng hạn, chưa đến mùa hè nhưng các khu du lịch biển đã tiến hành quảng cáo cảnh tắm biển và nô đùa trên bãi biển của khách du lịch.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\BÀI ĐẠI HỌC\KHO SỐ 1\Hoàn thiện quy trình thiết kế chương trình du lịch nội địa tại Công ty Cổ phần du lịch DMZ\BÀI THAM KHẢO
Hoàn Thiện Công Tác Xúc Tiến Thị Trường Du Lịch Nội Địa Tại Công Ty Công ty Cổ phần du lịch DMZ Hoàn Thiện Công Tác Xúc Tiến Thị Trường Du Lịch Nội Địa Tại Công Ty Công ty Cổ phần du lịch DMZ


