Hoàn thiện Công tác kế toán thuế Thu nhập doanh nghiệp

Hoàn thiện Công tác kế toán thuế Thu nhập doanh nghiệp

Hoàn thiện Công tác kế toán thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Khách Sạn TraViDat

1. Tính cấp thiết của đề tài

Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đã được nghiên cứu và vận dụng ở các quốc gia phát triển từ rất lâu. Trong khi đó tại Việt Nam kế toán thuế TNDN lại còn khá nhiều nội dụng mới mẻ về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng. Việt Nam hiện nay đang trong kỳ hội nhập nhanh chóng điều này đặt ra cho những doanh nghiệp khi công bố các thông tin tài chính đặc biệt là Báo cáo tài chính (BCTC) phải rõ ràng, minh bạch thông tin chính xác. Muốn vậy doanh nghiệp phải bám chắc các chính sách kế toán, đặc biệt là chuẩn mực và chế độ kế toán. Từ đó nảy sinh ra nhiều sự khác biệt giữa chính sách thuế và chính sách kế toán và tạo ra sự khác biệt gây nên ảnh hưởng việc ghi nhận thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Trong cơ chế thị trường hiện nay việc hoàn thiện chuẩn mực kế toán và chuẩn mực thuế luôn là một vấn đề cấp bách để phù hợp với thông lệ chung của quốc tế.

Tại Miền Trung, đặc biệt là Thành Phố Đà Nẵng được mệnh danh là thành phố đáng sống với việc phát triển nhanh chóng của loại hình dịch vụ khách sạn ngày càng gia tăng chiếm tỉ trọng lớn trong các loại hình doanh nghiệp tại địa bàn Đà Nẵng, sự tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) ảnh hưởng rất lớn tới doanh nghiệp vì thuế là một nguồn thu quan trọng của đất nước, làm sao để thu đủ và hợp lý là một vấn đề cần đặt ra. Nền kinh tế Việt Nam nói chung và TP. Đà Nẵng nói riêng đang trong giai đoạn hội nhập với nền kinh tế thế giới, thu hút đầu tư nước ngoài. Do đó vấn đề về thuế và kế toán được nhà nước quan tâm. Bộ tài chính đã không ngừng ban hành, sửa đổi, bổ sung các CMKT, nghị định, thông tư, … sao cho phù hợp với CMKT thế giới giúp cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước dễ dàng áp dụng, trong đó CMKT số 17 (VAS 17) “Thuế Thu nhập doanh nghiệp” được ban hành và công bố 06 chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 4. Tuy nhiên, việc vận dụng chuẩn mực này không dễ dàng trong giai đoạn nền kinh tế mở của khi Việt Nam gia nhập TPP, ASEAN. Từ yêu cầu thực tiễn này đỏi hỏi kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp cần được hoàn thiện để khắc phục và hạn chế yếu kém.

Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng bằng khảo sát, kiểm nghiệm thực tế từ các doanh nghiệp đã hạch toán thuế TNDN, tính thuế TNDN và áp dụng chuẩn mực kế toán số 17 cũng như các luật thuế khác như thế nào? Những vướng mắc gì mà doanh nghiệp còn gặp phải ? Chính về thế tác giả đã chọn đề tài “ Hoàn thiện Công tác kế toán thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Khách Sạn TraViDat ” làm Luận văn tốt nghiệp được nghiên cứu nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu cả lý luận và thực tiễn, và là một trong những đề tài quan trọng trong giai đoạn hiện nay doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán và luật thuế song hành trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp và kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp.

Nghiên cứu lý thuyết làm rõ doanh nghiệp chịu sự ảnh hưởng giữa thuế và kế toán qua đó làm căn cứ giải thích sự ảnh hưởng và tác động của thuế TNDN.

Đánh giá và phân tích thực trạng kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp tại Khách Sạn TraViDat cũng như các khách sạn có quy mô vừa và nhỏ trên địa bàn Thành Phố Đà Nẵng.

Đề xuất phương hướng và một số giải pháp, điều kiện cần thiết hoàn thiện kế toán thuế TNDN trong Khách Sạn TraViDat.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một số vấn đề cơ sở lý luận về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp, nghiên cứu thực trạng về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp đã và đang áp dụng tại Khách Sạn TraViDat.

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu và đề cập về thuế Thu nhập doanh nghiệp tại khách sạn TraViDat trong thời gian 2015 tới 2017.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp quan sát, tổng hợp điều tra chọn mẫu, phân tích kết hợp, thống kê, tổng hợp đối chiếu. Từ đó đưa ra nhưng kết luận, đánh giá và sự ảnh hưởng thuế TNDN tới công tác kế toán của Khách Sạn TraViDat Phương pháp này cụ thể hóa như sau:

– Sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu tại phòng kế toán khách sạn để hình dung toàn bộ các quy định về thuế TNDN.

– Sử dụng phương pháp đối chiếu giữ thuế và kế toán để cho cái nhìn thực tế về sự ảnh hưởng văn bản luật thuế TNDN.

– Sử dụng các phương pháp quan sát để phác họa các quy trình về bộ phận kế toán tại đơn vị được triển khai thực tế thế nào.

– Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với kế toán trưởng tại khách sạn để đánh giá khái quát thực trạng tại doanh nghiệp.

Trên cơ sở kết hợp với các phương pháp trên, từ đó đưa ra nhưng kết luận, đánh giá và sự ảnh hưởng thuế TNDN tới công tác kế toán của Khách Sạn TraViDat.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn này được thực hiện trên cơ sở kết hợp kinh nghiệm thực tiễn và lý thuyết nhằm cụ thể hóa công tác kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp, giúp cho người làm công tác kế toán dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ chuẩn mực. Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp cho doanh nghiệp sẽ nhận thức rõ hơn tính độc lập và phụ thuộc giữa Chế độ kế toán và luật thuế hiện nay.

Từ những giải pháp hoàn thiện và kết quả nghiên cứu cung cấp đầy đủ thông tin cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách hiểu rõ được tầm quan trọng về kế toán và thuế tại Khách Sạn TraViDat.

6. Bố cục của luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp trong các doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng công tác kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp tại khách sạn TraViDat.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp tại khách sạn TraViDat.

7. Tổng quan nghiên cứu luận văn

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN

THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. Một số vấn đề cơ bản về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Trên thế giới thuế TNDN còn có những tên gọi khác nhau tuỳ theo quan niệm hoặc qui định pháp luật của mỗi nước. Trong các tài liệu khác nhau cũng có tên gọi không giống nhau do việc sử dụng các từ ngữ qua dịch thuật. Theo đó, thuế TNDN còn được gọi là thuế công ty, thuế thu nhập công ty, thuế lợi tức, thuế lợi tức công ty. Nhiều ý kiến cho rằng thuế TNDN được sử dụng phổ biến nhất và mang ý nghĩa gắn với bản chất của loại thuế này nhất.

Hai tác giả người Anh Chritopher Pass và Bryan Lower quan niệm về thuế cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập, của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá, dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”.

Hai giáo sư ở Đại hội Texas cho rằng: “Thuế là khoản chuyển giao bắt buộc phi hình sự nguồng của cải từ lĩnh vực tư nhân cho lĩnh vực công được đặt ra trên cơ sở những tiêu thức đã được xác định trước mà không cần phải xem xét đến khoản lợi ích cụ thể của người nộp thuế, nhằm thực hiện một số mục tiêu kinh tế, xã hội của quốc gia”.

Theo nhà kinh tế học Paul.A. Samuelson: “Thuế cũng có thể coi là một loại “giá” và đây là giá chúng ta phải trả cho các hàng hoá công”

Sở dĩ như vậy là vì ông cho rằng, trong cuộc sống, con người không những chỉ tiêu dùng các hàng hoá cá nhân như quần áo, nhà ở,… còn phải tiêu dùng các hàng hoá công cộng như đường xá, quốc phòng, an ninh… Trong quá trình đó, người dân được hưởng các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung ứng. Đổi lại, họ phải đóng Thuế để đảm bảo cho Nhà nước duy trì các hoạt động này thông qua Thuế.

Trên thực tế, không một ai muốn đóng Thuế cho Nhà nước do có hiện tượng “người ăn không” trong quá trình tiêu dùng hàng hoá công cộng. Vì vậy, Nhà nước đã quy định nghĩa vụ đóng Thuế để bắt buộc mọi công dân phải thực hiện nghĩa vụ của mình.

Về tính bắt buộc của Thuế, tác giả Simon James và Christopher Nobels cũng đã khảng định: “Thuế là khoản thu bắt buộc do chính phủ quy định mà không có sự hoàn trả trực tiếp”.

Theo Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12: “Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh trong kỳ”.

Khái niệm này chỉ rõ đối tượng chịu thuế TNDN là các cơ sở sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó khái niệm còn chỉ ra được thuế TNDN là thuế trực thu tức là các cơ sở sản xuất kinh doanh vừa là đối tượng chịu thuế vừa là đối tượng nộp thuế.

Theo giáo trình Thuế của chủ biên PGS.TS Phan Thị Cúc – TS. Phan Hiển Minh, NXB tài chính năm 2009: “Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh trên phần thu nhập sau khi trừ đi các khoản chi phí được trừ liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ”.

Theo giáo trình “Lý thuyết về thuế” (Học viện Tài chính, năm 2008) thì: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng “.

Như vây, có rất nhiều định nghĩa khái niệm về Thuế TNDN nhưng khái niệm “Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh trên phần thu nhập sau khi trừ các khoản chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”. Phù hợp đối với Luật thuế TNDN hiện tại ở Việt Nam.

1.1.2. Đặc điểm của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế nói chung là nguồn thu của ngân sách nhà nước, bao gồm nhiều loại thuế khác nhau như: thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế môn bài…. Các khoản thuế này là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, làm nguồn kinh phí xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng, điều tiết phát triển nền kinh tế xã hội.

Trong các khoản thuế nói trên, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên thuế TNDN có những đặc điểm riêng để phân biệt với các sắc thuế và các công cụ tài chính khác như sau:

Thứ nhất, thuế thu nhập là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của cơ sở kinh doanh. Trong hệ thống thuế ở các nước, có nhiều loại thuế khác nhau, có đối tượng tính thuế, đối tượng nộp thuế khác nhau, nhưng suy đến cùng thì bất kỳ loại thuế nào cũng đều lấy từ thu nhập của người dân trong xã hội để tập trung vào quỹ NSNN. Tuy nhiên, không phải loại thuế nào cũng là thuế thu nhập. Thuế thu nhập khác với thuế tiêu dùng, thuế tài sản ở chỗ: thuế thu nhập là loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của các cơ sở sản xuất kinh doanh khi có thu nhập chịu thuế phát sinh. Đối với thuế tiêu dùng là loại thuế gián thu đánh vào việc sử dụng thu nhập của người dân, thông qua việc người dân sử dụng thu nhập để mua hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng, phần thu nhập mà Nhà nước lấy đi của họ được cộng vào trong giá bán của hàng hoá, dịch vụ. Vì thế, người chịu thuế, người nộp thuế là không đồng nhất (người tiêu dùng là người chịu thuế, người kinh doanh hàng hoá, cung ứng dịch vụ là người nộp thuế). Đối với thuế tài sản là loại thuế đánh vào thu nhập tích luỹ đã được vật hoá dưới dạng tài sản của tổ chức, cá nhân trong xã hội. Về bản chất, thuế tài sản cũng là thuế trực thu nhưng có đối tượng đánh thuế là tài sản. Mặc dù, tài sản và thu nhập đều là của cải của một chủ thể có được nhờ những nguồn lợi thu được từ các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, giữa chúng cũng có sự khác nhau, cụ thể: tài sản là khối lượng của cải của một chủ thể ở một thời điểm nào đó, còn thu nhập là số của cải thu được của một chủ thể trong khoảng thời gian nhất định. Như vậy, thu nhập của một thời kỳ sẽ không bao gồm thu nhập ở thời kỳ trước, còn tài sản lúc cuối kỳ thì bao gồm tất cả các thu nhập của các kỳ trước đó cộng lại. Vì vậy, khái niệm “tài sản” phải gắn với yếu tố thời điểm, còn khái niệm “thu nhập” gắn với yếu tố khoảng thời gian nhất định;

 Thứ hai, Thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế, điều tiết các hoạt động kinh doanh hay khắc phục những bất cân bằng của thị trừờng, ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho NSNN, nó còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hoà thu nhập xã hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước. Bởi vậy, pháp luật thuế thu nhập ở các nước thường có những quy định về chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng khuyến khích của thuế thu nhập hoặc thực hiện việc áp dụng đánh thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần đối với một số khoản thu nhập chịu thuế để thực hiện các mục tiêu điều tiết;

Thứ ba, thuế thu nhập là một loại thuế phức tạp, có tính ổn định không cao,việc quản lý thuế, thu thuế tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường lớn hơn so với các thuế khác. Đối với thuế thu nhập, ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, địa điểm phát sinh thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu thu nhập, tính ổn định của thu nhập…Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định được các khoản khấu trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm bảo đảm mục tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế;

Thứ tư, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập bao gồm các văn bản QPPL thuế quốc gia và văn bản QPPL thuế quốc tế. Bởi thuế thu nhập là thuế trực thu nên nó có thể là đối tượng được điều chỉnh bởi hiệp định tránh đánh thuế hai lần.

Bên cạnh đó, thuế TNDN cũng mang đặc điểm riêng của loại thu nhập doanh nghiệp dưới góc độ phân biệt với thuế thu nhập cá nhân như về đối tượng nộp thuế là tổ chức sản xuất kinh doanh sản xuất hàng hoá, dịch vụ; về thu nhập bị đánh thuế; về cách tính thuế tính đến yếu tố như doanh thu, chi phí, về ưu đãi thuế…

Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN chịu những ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội trong những thời kỳ nhất định.

Yếu tố kinh tế tác động đến thuế TNDN thường là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, giá cả, thị trường, sự biến động của Ngân sách Nhà nước…

Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế TNDN thường là thể chế chính trị của Nhà nước, tâm lý tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hoá…

Các khoản chuyển giao thuế thu nhập dưới hình thức thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản.

1.1.3. Vai trò của thuế kế toán thu nhập doanh nghiệp

Thứ nhất, Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của NSNN

 Phạm vi áp dụng của thuế thu nhập doanh nghiệp rất rộng, gồm cá nhân, nhóm kinh doanh, hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh lợi nhuận. Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triển và ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao, các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp ngày càng dồi dào. Mặt khác, so với các loại thuế khác, thuế TNDN dễ thu, ít tốn kém chi phí nên hiệu quả thu cũng cao hơn nhiều. Ở các nước đang phát triển, tiền thu được từ thuế thu nhập doanh nghiệp nhiều hơn nhiều so với thuế thu nhập cá nhân. Còn ở các nước phát triển mặc dù thu từ thuế TNDN ít hơn so với thuế thu nhập cá nhân nhưng thuế TNDN giữ vai trò là loại thuế thu trước của thuế thu nhập cá nhân.

Thứ hai, Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội.

 Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, tất cả các thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đằng trên cơ sở pháp luật. Các doanh nghiệp với lực lượng lao động có tay nghề cao, năng lực tài chính mạnh thì doanh nghiệp đó sẽ có ưu thế và có cơ hội để nhận được thu nhập cao; ngược lại các doanh nghiệp với năng lực tài chính, lực lượng lao động bị hạn chế sẽ nhận được thu nhập thấp, thậm chí không có thu nhập. Ðể hạn chế nhược điểm đó, Nhà nước sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngân sách Nhà nước được công bằng, hợp lý.

Thứ ba, Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước.

Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước có chiến lược ưu tiên phát triển trong từng giai đoạn nhất định.

Thứ tư, Thuế thu nhập doanh nghiệp còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện chứng năng điều tiết các hoạt động kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định.

Thứ năm, Thuế TNDN là công cụ thúc đẩy việc nâng cao trình độ hạch toán kế toán đối với các đối tượng nộp thuế. Theo Luật thuế TNDN, các đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ tự kê khai và tính số thuế phải nộp, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về các số liệu kê khai, tính toán đó. Sự trung thực, chính xác của số liệu phụ thuộc rất lớn vào chất lượng công tác hạch toán kế toán ở đơn vị. Để đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế TNDN, cơ quan thuế phải chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra NNT qua đó có thể phát hiện những sai sót hoặc biểu hiện tiêu cực trong quá trình hạch toán kế toán của NNT và tùy vào từng trường hợp sai phạm mà cán bộ thuế sẽ áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời… Nhờ đó ý thức của NNT sẽ dần được nâng cao và công tác hạch toán kế toán cũng từng bước hoàn thiện hơn.

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam, song để phát huy một cách có hiệu qủa vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp, chúng ta cần phải xem xét nó dưới nhiều khía cạnh, kể cả những kinh nghiệm xử lý của nước ngoài.

1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Cơ sở tính thuế là yếu tố cơ bản, thể hiện bản chất, nội dung của sắc thuế. Có thể nói cơ sở tính thuế giúp phân biệt sắc thuế này với sắc thuế khác, thường được sử dụng để đặt tên cho sắc thuế. Thông thường mức thuế phải nộp của mỗi sắc thuế được tính theo công thức sau:

Trong đó, thuế suất có thể thay đổi tùy theo đối tượng chịu thuế, chính sách thuế từng thời kỳ còn cơ sở tính thuế về bản chất không thay đổi, có chăng chỉ thay đổi phương pháp tính cơ sở tính thuế

Mức thuế phải nộp = Cơ sở tính thuế x Thuế suất (1)

Theo quy định tại điều 6 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008 của Quốc Hội khóa 12 thì thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định như sau: Thuế TNDN được xác định dựa trên hai căn cứ là TNTT và thuế suất thuế TNDN. Từ công thức (1) ta có như sau:

Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất thuế TNDN (2)

Trong đó:

Thu nhập tính thuế=Thu nhập chịu thuế–Các khoản lỗ tính thuế chưa sử dụng–Các khoản ưu đãi thuế chưa sử dụng(3)

Vậy theo khái niệm Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước.Thu nhập chịu thuế bằng doanh thu trừ các khoản chi được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh cộng thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được ở ngoài Việt Nam.

Hoạt động kinh doanh bất động sản cũng là hoạt động tao ra thu nhập cho doanh nghiệp nhưng Theo quy định thuế hiện hành, doanh nghiệp được phép bù trừ thu nhập từ hoạt động kinh doanh với lợi nhuận từ chuyển nhượng bất động sản. Tuy nhiên, việc bù trừ này mới chỉ được thực hiện một chiều. Nghĩa là doanh nghiệp chỉ được phép bù lỗ kinh doanh bất động sản với lãi của hoạt động kinh doanh sản xuất. Còn trong trường hợp, doanh nghiệp có lãi từ kinh doanh bất động sản thì phải xác định riêng để kê khai nộp thuế.

Một khảo sát của hãng tư vấn thuế E&Y cũng chỉ ra rằng, ở một số nước như Thái Lan, Singapore, Trung Quốc… luật thuế quy định được lợi nhuận và lỗ của các hoạt động kinh doanh và chuyển nhượng bất động sản được bù trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tối ưu thuế. Và duy chỉ có ở Việt nam và Malaysia vẫn chưa cho phép bù trừ lợi nhuận/ lỗ của các hoạt động kinh doanh với nhau. Lợi nhuận từ chuyển nhượng bất động sản vẫn phải kê khai riêng cho dù doanh nghiệp có lỗ từ hoạt động kinh doanh.

Hiện nay, phần thuế doanh nghiệp nộp nhiều nhất là thuế TNDN chiếm tỷ trọng cao với một nền kinh tế ở điều kiện thấp hơn, các khu vực chưa phát triển đồng đều hoặc có một số lĩnh vực cần được ưu tiên phát triển thì không thể thiếu các biện pháp ưu đãi như: Khấu trừ chi phí đầu tư, thuế suất thấp hơn, miễn thuế đối với một số loại thu nhập hoặc có chế độ miễn, giảm thuế trong một thời hạn nhất định. Trong đó, thuế suất TNDN phổ thông là nhân tố quyết định, thuế suất càng lớn càng nộp nhiều, thuế suất càng thấp càng nộp ít. Cũng một phần hiện nay nợ công, nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn thách thức do ảnh hưởng bởi kinh tế thế giới nguồn thu chủ yếu của nhà nước là thu thuế TNDN nên thuế suất giảm xuống theo biện pháp quan trọng để nuôi dưỡng nguồn thu. Trong bối cảnh các DN đang gặp những khó khăn rất lớn như hiện nay, điều đó lại càng có ý nghĩa quan trọng, phục hồi niềm tin cho các DN thuộc mọi thành phần kinh tế.

Vì vậy, Mức thuế giảm và giảm bao nhiêu luôn phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích giữa nhà nước và doanh nghiệp cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để  góp phần bảo đảm số thu cho NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho phát triển kinh tế- xã hội.

1.1.4.1. Chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn

Chuẩn mực VAS17 định nghĩa” Chênh lệch tạm thời” là khoản chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hay nợ phải trả trong bảng cân đối kế toán và cơ sở tính thuế thu nhập của các khoản mục này. Chênh lệch tạm thời có thể là Chênh lệch tạm thời phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp: Là các khoản chênh lệch tạm thời làm phát sinh thu nhập chịu thuế khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong tương lai khi mà giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hoặc nợ phải trả liên quan được thu hồi hay được thanh toán.

Chênh lệch tạm thời được khấu trừ: Là các khoản chênh lệch tạm thời làm phát sinh các khoản được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong tương lai khi mà giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hoặc nợ phải trả liên quan được thu hồi hay được thanh toán. Chênh lệch tạm thời được khấu trừ phát sinh khi:

+ Giá trị ghi sổ của tài sản nhỏ hơn cơ sở tính thuế của tài sản đó.

+ Giá trị ghi sổ của nợ phải trả lớn hơn cơ sở tính thuế của nó.

Sự khác biệt giữa hai loại chênh lệch này chủ yếu là do thời gian. Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn thực hiện đã nêu rõ “Các khoản chênh lệch tạm thời là chênh lệch phát sinh do sự khác biệt về thời điểm doanh nghiệp ghi nhận thu nhập hoặc chi phí và thời điểm pháp luật về thuế quy định tính thu nhập chịu thuế hoặc chi phí được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế”. Ví dụ trường hợp khấu hao ghi nhận thu nhập vào một năm nhưng thuế thu nhập được tính ở một năm khác, hoặc ghi nhận chi phí vào một năm nhưng chi phí đó chỉ được khấu trừ vào thu nhập tính thuế ở một năm khác.

Chênh lệch vĩnh viễn là chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập tính thuế phát sinh từ các khoản doanh thu, thu nhập khác, chi phí được ghi nhận vào lợi nhuận kế toán nhưng lại không được tính vào thu nhập, chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp: Như tiền phạt hay khoản cổ tức được khấu trừ thuế tại nguồn, “là chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế phát sinh từ các khoản doanh thu, thu nhập khác, chi phí được ghi nhận vào lợi nhuận kế toán nhưng lại không được tính vào thu nhập, chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN”. Do đó, theo thời gian các khoản chênh lệch tạm thời sẽ được khấu trừ hết trong chi phí và thu nhập của doanh nghiệp, còn khoản chênh lệch vĩnh viễn là những khoản mà doanh nghiệp không được khấu trừ để tính thuế.

1.1.4.2. Các khoản lỗ tính thuế và các khoản ưu đãi thuế chưa sử dụng

IAS 12 yêu cầu việc ghi nhận tài sản của lợi ích liên quan đế các khoản lỗ mà chúng có thể mang sang để trả bù cho thuế hiện hành của kỳ trước. Điều này có thể chấp nhận được vì nó có thể cho lợi ích này sẽ là nguồn lợi đối với doanh nghiệp và nó có thể đo lường một cách tin cậy (Điều này dường như chưa được đề cập trong VAS 17) Vận dụng hợp lý các quy định về thuế là biện pháp mà DN có thể thực hiện để tạo ra hoặc tăng mức thu nhập tính thuế trong một kỳ cụ thể trước khi hết hạn hoặc chuyển một khoản lỗ hay một khoản ưu đãi thuế, tức là có thể tạo ra khả năng chuyển lợi nhuận tính thuế từ kỳ sau lên kỳ trước, việc sử dụng một khoản lỗ hay một khoản ưu đãi thuế được khấu trừ chuyển sang vẫn phụ thuộc vào sự có được lợi nhuận tính thuế trong tương lai được tạo ra từ các nguồn khác chứ không phải là từ các chênh lệch tạm thời phát sinh trong tương lai.

Trường hợp DN liên tiếp thua lỗ thì DN phải xem xét các quy định cụ thể sau:

Điều kiện ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại phát sinh từ giá trị được khấu trừ chuyển sang của các khoản lỗ tính thuế và các khoản ưu đãi thuế chưa sử dụng cũng giống với điều kiện ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại phát sinh từ các lỗ tính thuế chưa sử dụng là bằng chứng rõ ràng về việc DN có thể không có lợi nhuận tính thuế trong tương lai. Khi DN thua lỗ liên tiếp thì DN chỉ ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại phát sinh từ các lỗ tính thuế hay các khoản ưu đãi thuế chưa sử dụng trong phạm vi DN có đủ các chênh lệch tạm thời chịu thuế hoặc có bằng chứng thuyết phục khác về việc sẽ có lợi nhuận tính thuế để DN có thể sử dụng được các lỗ tính thuế và các khoản ưu đãi thuế chưa sử dụng nó. Trường hợp này yêu cầu phải trình bày giá trị tài sản thuế thu nhập hoãn lại và có bằng chứng ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại.

Để đánh giá được khả năng chắc chắn có lợi nhuận tính thuế để có thể sử dụng được các khoản lỗ tính thuế được khấu trừ chuyển sang năm sau và các khoản ưu đãi thuế chưa sử dụng, DN cần cân nhắc các điều kiện sau:

+ DN có đủ chênh lệch tạm thời chịu thuế liên quan đến cùng cơ quan thuế và cùng đơn vị chịu thuế mà các chênh lệch này sẽ làm phát sinh các khoản phải chịu thuế để có thể sử dụng được các khoản lỗ tính thuế và các khoản ưu đãi thuế chưa sử dụng trước khi các khoản này hết hạn sử dụng.

+ DN có lợi nhuận tính thuế trước khi hết hạn sử dụng các khoản lỗ tính thuế và các khoản ưu đãi thuế chưa sử dụng.

+ Nguyên nhân dẫn đến các khoản lỗ tính thuế chưa sử dụng có tiếp tục xảy ra hay không và các quy định về thuế có cho phép DN tạo ra lợi nhuận tính thuế trong kỳ có thể sử dụng được các khoản lỗ tính thuế và các khoản ưu đãi thuế chưa sử dụng. Nếu không chắc chắn có lợi nhuận tính thuế để sử dụng các khoản lỗ chịu thuế và các khoản ưu đãi thuế, thì tài sản thuế thu nhập hoãn lại không được ghi nhận.

1.1.5. Một số khác biệt giữa thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán

Thực tế hiện nay ở Việt Nam, việc ghi nhận doanh thu và chi phí để xác định lợi nhuận kế toán được tuân thủ theo các chuẩn mực, phương pháp, nguyên tắc của chế độ kế toán. Trong khi đó, doanh thu và chi phí được ghi nhận để tính thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ sở tuân thủ theo luật và chính sách thuế liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp. Điểm khác biệt này đã tạo nên sự chênh lệch giữa thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán, đã khiến cho không ít các doanh nghiệp gặp một số khó khăn và lúng túng trong việc ghi nhận doanh thu, chi phí để tính lợi nhuận và thu nhập chịu thuế khi thực hiện quyết toán tài chính và quyết toán thuế. Mặt khác, trong thực tế vẫn tồn tại những điểm chưa tương đồng giữa chế độ thuế và chuẩn mực kế toán. Có những điểm khác biệt rất lớn giữa lợi nhuận kế toán (còn gọi là lợi nhuận thực hiện) và lợi nhuận thuế (còn gọi là thu nhập chịu thuế)

Mục tiêu của kế toán là cung cấp thông tin về tình hình tài chính củadoanh nghiệp một cách trung thực, hợp lýcho các đối tượngcó quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp và là cơ sở để họ racác quyết định kinh tế có liên quan đến doanh nghiệp.

Mục tiêu chính của thuế là tạo nguồn thu cho quốc gia và điều tiếtcác hoạt động sản xuất, kinh doanh theo định hướng của nhà nước. Nênviệc tính toán chỉ tiêu doanh thu,chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp saocho đảm bảo nhà nước thu đúng, thu đủ số thuế để nhà nước có đủ nguồnthu trang trải cho các hoạt động thường xuyên của nhà nước.

Thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán có khác nhau hay không là vấn đề đang được nhiều doanh nghiệp và các nhà quản lý quan tâm. Có hai quan điểm trái ngược nhau về vấn đề này:

– Quan điểm thứ nhất cho rằng thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán là hai đại lượng phải thống nhất và giống nhau.

– Quan điểm thứ hai thì cho rằng đó là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, tuy chúng đều thể hiện kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong năm tài chính nhưng có sự khác nhau về bản chất nên có tên gọi khác nhau.

Thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán của DN đều xác định trên cơ sở doanh thu trừ chi phí cộng với thu nhập khác. Tuy nhiên, doanh thu tính theo chế độ tài chính, chuẩn mực có điểm khác với doanh thu theo quy định của chế độ thuế, đó là:

Đối với một số đơn vị hoạt động cung cấp sản phẩm dịch vụ thì doanh thu được xác định thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm theo lụật thuế TNDN, nhưng theo chuẩn mực kế toán thì không đủ điều điện ghi nhận doanh thu.

Theo chuẩn mực: Doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của khoản tiền sẽ thu được trong tương lai về giá trị hiện tại tại thời điểm hạch toán doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Tức là giá trị doanh thu tại thời điểm hạch toán sẽ nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.

+ Chi phí : Chí phí để tính thu nhập chịu thuế và chi phí để tinh lợi nhuận thực hiện trong một năm tài chính cũng có sự khác nhau. Cụ thể:

Chi phíQuy định thuếTheo chuẩn mực
1. Chi phí lãi vay– Căn cứ theo Điều 6 TT 78/TT-BTC– Doanh nghiệp được tính và hạch toán chi phí này theo thực tế sử dụng và sản xuất kinh doanh
2. Chi phí khấu hao TSCĐ– Căn cứ vào TT 45/2013/TT-BTC– Doanh nghiệp có quyền lựa chọn các phương pháp trích khấu hao & quyết định mức trích khấu hao đảm bảo bù đắp được hao mòn hữu hình và vô hình của tài sản
3. Chi phí không có hóa đơn hợp pháp– Căn cứ theo quy định của thuế là hợp pháp, hợp lý, hợp lệ– Doanh nghiệp được tính và hạch toán chi phí này nếu có tham gia vào quá trình hoạt động SXKD
4. Các khoản thuế bị truy thu và tiền phạt vi phạm hành chính– Căn cứ theo Điều 6 TT 78/TT-BTC– Doanh nghiệp được tính và hạch toán chi phí này nếu có tham gia vào quá trình hoạt động SXKD

Sự khác nhau như trên đã phát sinh chênh lệch giữa chi tính thuế (theo chế độ thuế) và chi phí tài chính (theo chuẩn mực). Trong các khoản chênh lệch này có khoản chỉ là chêch lệch vĩnh viễn (chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu; chi phí quảng cáo, tiếp thị, hoa hồng môi giới, tiếp tân, khánh tiết…) nhưng có khoản là chênh lệch tạm thời (chi phí khấu hao TSCĐ, các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm giá chứng khoán đầu tư, dự phòng công nợ khó đòi)

Hai đại lượng về thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán của doanh nghiệp chỉ có thể bằng nhau khi chế độ thuế quy định đồng nhất với chế độ tài chính. Hiện nay trên thế giới có một số nước có sự đồng nhất này nhưng nhiều nước đã áp dụng chế độ tài chính khác với chế độ thuế. Đối với Việt Nam, doanh nghiệp cần quan tâm và ghi nhận các khoản chênh lệch tạm thời để thuyết minh với cơ quan thuế và tăng lợi ích cho doanh nghiệp vì:

Thu nhập chịu thuế = Lợi nhuận kế toán + Chi phí không hợp lý

Qua việc phân tích một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự khác biệt về thu nhập tính thuế TNDN trong kỳ do cơ quan thuế xác định và lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp xác định, Nhà nước ta có các biện pháp khắc phục từng bước thay đổi, hoàn thiện chế độ tài chính doanh nghiệp, chế độ hạch toán kế toán và chính sách thuế TNDN theo hướng thu hẹp dần sự khác nhau giữa thu nhập tính thuế và lợi nhuận doanh nghiệp. Bên cạnh đó biện pháp cơ bản, lâu dài để giảm độ lệch trên là tất cả các hoạt động mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ phải có hóa đơn, chứng từ hợp pháp. Bộ Tài chính đã có nhiều chính sách biện pháp để thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn như: Chính sách thanh toán không dùng tiền mặt, bán hóa đơn lẻ và nhất là khuyến khích sử dụng hóa đơn tự in… không những là biện pháp làm lành mạnh tình hình tài chính doanh nghiệp, giám sát được chi phí để hạ giá thành sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà còn ngày càng làm giảm sự sai lệnh này.

1.2. Nội dung về Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

1.2.1. Chứng từ, tài khoản, hạch toán, sổ sách báo cáo

1.2.1.1. Chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán là những giấy tờ phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành trong Đơn vị, làm căn cứ ghi chép vào sổ sách kế toán. Chứng từ kế toán gồm có chứng từ gốc và chứng từ ghi chép ban đầu. Chứng từ gốc thể hiện bản chất nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Chứng từ ghi chép ban đầu thể hiện
thêm thông tin về nghiệp vụ và phân loại thông tin kế toán theo tiêu thức phân
loại, theo đối tượng kế toán để ghi chép vào sổ sách kế toán.

Chứng từ kế toán là căn cứ pháp lý quan trọng giúp cho nhà quản lý trong tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh (gọi chung là Đơn vị) và cơ quan Nhà nước kiểm tra kế toán. Chứng từ kế toán là cơ sở chứng minh việc chấp hành pháp luật của Đơn vị. Chứng từ là căn cứ xác định các hành vi gian lận, biển thủ tài sản, trốn thuế của cá nhân trong Đơn vị và của bản thân Đơn vị trước pháp luật. Đối với thuế TNDN, thông qua chứng từ là hóa đơn (đầu vào, đầu ra); hợp đồng kinh tế cung cấp hàng hóa, dịch vụ (mua bán); tờ khai Hải quan xuất khẩu, nhập khẩu; hợp đồng lao động; bảng thanh toán lương; bảng tính khấu hao; biên lai thu phí, lệ phí; biên bản kiểm kê tài sản, hàng tồn kho và các chứng từ khác theo Luật định để xác định được chi phí hợp lý và doanh thu, thu nhập chịu thuế. Chứng từ kế toán là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định các khoản chi phí hợp lý được tính trừ vào kết quả kinh doanh nhằm xác định đúng đắn thu nhập chịu thuế.

Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp đều lập chứng từ kế toán. Danh mục chứng từ kế toán được thể hiện ở (Phụ lục 1)

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN THAC SI KE TOAN\DOAN MANH LINH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *