Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong thương mại quốc tế hiện nay, các tranh chấp về chống BPG ngày càng trở nên phức tạp và phổ biến khi mà các biện pháp chống BPG đang được nhiều quốc gia, trong đó chủ yếu là các nước phát triển, sử dụng như một rào cản trong thương mại và bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa. Trong vòng 17 năm, tính từ ngày 1/1/1995 cho tới ngày 30/06/2013, đã có tổng cộng 4.358 vụ điều tra chống BPG mới được khởi xướng với 2.795 biện pháp chống BPG đã được áp dụng bởi các thành viên WTO. Các vụ điều tra chống BPG và sử dụng các biện pháp chống BPG của các thành viên WTO mặc dù không tăng nhiều về số lượng nhưng chúng ngày càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn. Tínhđến hết tháng 12/2013, khoảng hơn 100 thành viên WTO đã có khung pháp lý về điều tra chống BPG, trong số đó, có đến hơn nửa số thành viên mỗi năm khởi xướng ít nhất 1 vụ điều tra chống BPG [64], và khoảng 70 thành viên WTO đã tiến hành các vụ điều tra chống BPG trên thực tế [54]. Bởi vậy, trước thực trạng nói trên, các thành viên WTO, bên cạnh việc tìm ra những giải pháp để đối phó với các cuộc điều tra về chống BPG và việc áp thuế chống BPG, đã tích cực sử dụng những cơ chế thích hợp để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Một trong những cơ chếđược đánh giá là có hiệu quả nhất hiện nay chính là DSM
của WTO.
Theo Điều 17 của ADA, các thành viên WTO có thể đưa các tranh chấp vềchống BPG ra giải quyết theo DSM của tổ chức này. Trên thực tế, tính đến hết tháng 12/2013, 102 vụ tranh chấp về chống BPG đã và đang được giải quyết tại WTO [78]. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được, qua hơn 19 năm tồn tại, việc giải quyết tranh chấp về chống BPG nói riêng và DSM của WTO nói chung đã bộc lộ một số điểm hạn chế và bất cập cần phải được hoàn thiện.
2
Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO và được hưởng qui chế dành cho một thành viên đang phát triển. Kể từthời điểm đó, Việt Nam có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ vàđược hưởng sự đối xửđặc biệt và khác biệt dành cho thành viên đang phát triển trong giải quyết tranh chấp tại WTO để bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình. Tính đến hết tháng 12/2013, Việt Nam đã tham gia vào chín vụ tranh chấp về chống BPG trên tổng số mười chín vụ kiện có sự tham gia của Việt Nam tại WTO [59]. Qua từng vụtranh chấp, Việt Nam, ở một mức độ nhất định, đã tham gia chủ động và tích cực vào DSM của WTO. Tuy nhiên, sự tham gia đó vẫn còn những hạn chế bởi tính phức tạp của các vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO cũng như cơ chếđiều phối của chính Việt Nam.
Việc nghiên cứu pháp luật của WTO, cũng như yêu cầu chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động tham gia vào việc giải quyết các tranh chấp quốc tế là nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/04/2013 của Bộ Chính trị vềhội nhập quốc tế; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP của Chính phủ ngày 27/02/2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủthực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW; Quyết định số 37/2002/QĐ-TTg ngày 14/03/2002 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủthực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW; Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 09/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp triển khai chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
3
Bên cạnh đó, thực tiễn tham gia của Việt Nam trong các vụ tranh chấp vềchống BPG đã đặt ra một yêu cầu cấp bách đối với việc nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG
tại WTO, học hỏi kinh nghiệm của các nước cũng như xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan ở trong và ngoài nước, để từ đó, có thể đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.
Thực hiện các chủ trương mà Đảng đề ra, xuất phát từ thực tiễn tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO cũng như những yêu cầu cấp bách đặt ra cho Việt Nam v.v., cho thấy tính cấp thiết cao, cả về lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát
triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.
2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề: lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc tế trong giải quyết các tranh chấp vềchống BPG tại WTO; quan niệm hiện hành của WTO về chống BPG, tranh chấp về chống BPG và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG; nội dung những vấn đề chung và những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO; thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG; thực tiễn tham gia của một số nước đang phát triển và thực tiễn tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.
Tranh chấp về chống BPG và cơ chế giải quyết các tranh chấp này trong khuôn khổ WTO là những vấn đề phức tạp và có phạm vi nghiên cứu rộng. Bởi vậy, trong khuôn khổ hạn định về số trang đối với một luận án, tác giả sẽ chỉ tiến
4
hành: (1) phân tích lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc tế trong giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO; (2) phân tích quan niệm hiện hành của WTO về chống BPG, tranh chấp về chống BPG và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG; (3) phân tích nội dung những vấn đề chung và những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, trong đó, tập trung vào những điểm đặc thù của lĩnh vực giải quyết tranh chấp về chống BPG và phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB. Mặc dù có liệt kê tất cả các phương thức giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO, tuy nhiên, tác giả cũng sẽ chỉ chủ yếu phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp vềchống BPG tại DSB/WTO; (4) trình bày khái quát về thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG, tập trung phân tích kinh nghiệm và thực tiễn tham gia vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG của ba nước Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan và thực tiễn của Việt Nam. Tác giả lựa chọn ba nước Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan bởi lẽ đây cũng là những nước đang phát triển, cùng ở khu vực Châu Á, rất “tích cực” tham gia vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, đồng thời có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam vềcác mặt hàng thường xuyên bị điều tra chống BPG, và một phần nào đó là vềđiều kiện, hoàn cảnh phát triển kinh tế – xã hội.
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp
tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn để đưa ra các giải pháp cụthể và khả thi. Trong khuôn khổ của Luận án này, phương pháp so sánh là
5
phương pháp chủđạo được sử dụng trong hầu hết các chương,đặc biệt làChương 2 khi phân biệt khái niệm “tranh chấp về chống BPG” tại WTO với khái niệm “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của quốc gia thành viên, đồng thời, tác giả cũng tiến hành phân biệt ba loại tranh chấp liên quan tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần gũi với nhau trong khuôn khổ WTO, đó là “tranh chấp về chống BPG”, “tranh chấp về chống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại”. Tương tự, phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn cũng được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của luận án. Phương pháp tổng hợp và phân tích được sử dụng như những phương pháp bổ trợ cho phương pháp so sánh.
4. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn thông qua việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề liên quan
tới giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, vị thế của các nước đang phát triển cũng như làm rõ thực tiễn tham gia của các nước đang phát triển nói chung và của Việt Nam nói riêng vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG,để trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO.
Để thực hiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
– Phân tích các quan điểm về chống BPG, tranh chấp về chống BPG cũng như những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO;
– Tổng hợp, phân tích và đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, đi sâu vào phân tích một số vụ tranh chấp cụ thể và làm rõ nhữngđiểm bất cập của việc giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ của tổ chức này; đồng thời, phân tích và đánh giá thực tiễn tham gia của Ấn Độ,
6
Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO,từ đó rútra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
– Phân tích các quan điểm và định hướng cơ bản, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.
5. Những kết quả nghiên cứu mới của Luận án
– Luận án đã phân biệt “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của WTO với “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của quốc gia thành viên, đồng thời phân biệt ba loại tranh chấp theo pháp luật của WTO liên quan tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần gũi với nhau, đó là “tranh chấp về chống BPG”, “tranh chấp về chống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại”, qua đó, làm rõ quan niệm hiện hành của WTO đối với “tranh chấp về chống BPG”. Đây là những thuật ngữ thường dễ bịnhầm lẫn trong quá trình sử dụng, bởi vậy, các kết quả nghiên cứu nói trên đã góp phần làm sáng tỏ và giúp phân biệt rõ ràng những thuật ngữ này;
– Luận án đã làm rõ nội dung và điểm đặc thù của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG so với việc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế nói chung tại WTO;
– Luận án đã làm rõ mối quan hệ tương tác giữa giải quyết tranh chấp vềchống BPG theo pháp luật WTO và giải quyết tranh chấp về BPG theo pháp luật quốc gia thành viên;
– Luận án đã làm rõ phạm vi và đặc điểm của bốn vấn đề tranh chấp vềchống BPG được giải quyết tại DSB, bao gồm tranh chấp về thuế chống BPG chính thức, tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá, tranh chấp về biện pháp tạm thời, và tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một quốc gia thành viên với nội dung của ADA;
7
– Luận án đã nhận định được xu hướng vận động và phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO;
– Luận án đã làm sáng tỏ được thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển; tổng hợp được kinh nghiệm tham gia vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG của Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan; đồng thời Luận án cũng đã chỉ ra được thực trạng và nguyên nhân sự tham gia hạn chế của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng vào quá trình giải quyết các tranh chấp này;
– Luận án, dựa trên cơ sở những kết quả phân tích và đánh giá khách quan, đã nêu ra được những bài học kinh nghiệm và đưa ra được các giải pháp mới, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào quá trình giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, chủ yếu là những đề xuất cụ thể khi Việt Nam tham gia với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hay bên thứ ba trong các vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO.
6. Cấu trúc của Luận án
Luận án bao gồm phần mở đầu, nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục. Nội dung luận án được bố cục thành bốn chương, có kết luận của từng chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở các nước và ở Việt Nam liên quan đến đề tài Luận án.
Chương 2: Những vấn đề lýluận đối với tranh chấp về chống BPG và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.
Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG và sựtham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG.
8
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT
NAM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu ở các nước
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.3. Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và phương pháp xử lý vấn đề
Trên cơ sở đánh giá và kế thừa những kết quảđã đạt được của các công trình nghiên cứu ở các nước và ở Việt Nam, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu vàlàm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn, đồng thời có định hướng về việc xây dựng và đề xuất các giải pháp như sau:
Thứ nhất là, về mặt lý luận:
– Phân tích và nhận định về xu hướng vận động và phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO. Trên cơ sởphân chia lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO thành các giai đoạn cụ thể, luận án sẽ tiến hành đánh giá tổng thể những thành công và hạn chế của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG, bao gồm cả luật tố tụng vànội dung, qua từng giai đoạn, để từ đó thấy được tính kế thừa và phát triển của pháp luật WTO so với GATT 1947, cũng như xu hướng vận động và phát triển của lĩnh vực pháp luật này trong thời gian tới;
22
– Làm rõ quan niệm hiện hành của WTO đối với tranh chấp về chống BPG. Ngoài việc đưa ra một cách hiểu theo quan niệm hiện hành của WTO đối với tranh chấp về chống BPG, luận án sẽ tiến hành phân tích các đặc điểm cơbản của loại tranh chấp này về tính chất, về chủ thể, về phạm vi các vấn đề tranh chấp được giải quyết tại DSB và về cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp vềchống BPG, cả ở khía cạnh luật nội dung và tố tụng. Bên cạnh đó, để hiểu rõ hơn thuật ngữ “tranh chấp về chống BPG” trong khuôn khổ WTO, luận án sẽ tiến hành phân biệt loại tranh chấp này với “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp vềchống BPG” theo pháp luật của quốc gia thành viên, đồng thời phân biệt ba loại tranh chấp liên quan tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần gũi với nhau trong khuôn khổ WTO, đó là “tranh chấp về chống BPG”, “tranh chấp về chống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại”;
– Làm rõ nội dung vàđiểm đặc thù của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO. Việc xác định các loại nguồn của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, về cơ bản, cũng dựa trên cách xác định nguồn luật áp dụng truyền thống theoĐiều 38(1) của Qui chế Tòa án Công lý Quốc tế, có tính tới cả những đặc thù của WTO và lĩnh vực chống BPG;
– Làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác giữa giải quyết tranh chấp về chống BPG theo pháp luật WTO và giải quyết tranh chấp về BPG theo pháp luật quốc gia thành viên. Việc nghiên cứu về mối quan hệ tương tác nói trên có một vị trí quan trọng trong việc nhận diện và hiểu rõ bản chất của việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, nhằm hạn chế những sự nhầm lẫn,ở cả góc độthuật ngữ và thực tiễn áp dụng;
– Làm sáng tỏ khái niệm và đặc điểm của bốn loại tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB trong khuôn khổ WTO, bao gồm tranh chấp về
23
thuế chống BPG chính thức, tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá, tranh chấp về biện pháp tạm thời, và tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một quốc gia thành viên với nội dung của ADA. Luận án cũng sẽ tiến hành phân tích những lý do mà các thành viên WTO lựa chọn vàquyết định khởi kiện đối với từng loại tranh chấp này.
Thứ hai là, về mặt thực tiễn:
– Phân tích và đánh giá một cách tổng thể và toàn diện đối với thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO. Sau khi tiến hành thống kê và phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG, Luận án sẽ đưa ra những nhận xét về tình hình giải quyết tranh chấp, về các nhóm mặt hàng và lĩnh vực tranh chấp, sự tham gia của các đối tượng chủ thể khác nhau v.v. Đồng thời, Luận án cũng sẽ tiến hành phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG ở các giai đoạn tham vấn, xét xử hội thẩm, kháng cáo và phúc thẩm, thi hành quyết định của DSB thông qua các số liệu thống kê cụ thể. Đặc biệt, Luận án sẽ tiến hành phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng nói trên để từ đó có thể rút ra những nhận xét và những điểm cần lưu ý đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng;
– Làm sáng tỏ thực trạng sự tham gia của các nước đang phát triển vào quá trình giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO. Qua phân tích và đánh giá thực trạng nói trên, Luận án sẽ làm rõ những nguyên nhân của việc tham gia hạn chế của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng như sự hạn chế về năng lực, điều kiện tài chính và nguồn nhân lực để theo đuổi các vụ kiện, thiếu kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp, tâm lý lo ngại “sự trả đũa” v.v.;
– Làm rõ thực trạng tham gia giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO của Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan. Luận án sẽ làm sáng tỏ thực tiễn tham gia vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO của ba nước này
24
với tư cách là nguyên đơn, bị đơn và bên thứ ba, để từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
– Làm rõ thực trạng tham gia giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO của Việt Nam, chủ yếu là từ hai vụ kiện DS404 và DS429 với Hoa Kỳ, đồng thời, tiến hành tổng hợp và đánh giá về toàn bộ thực tiễn tham gia vào việc giải quyết tranh chấp của Việt Nam dù là với tư cách nguyên đơn hay bên thứ ba, cũng như đánh giá khả năng Việt Nam phải đối diện với những vụ tranh chấp vềchống BPG tại WTO trong tương lai, trong đó bao gồm cả khả năng trở thành bịđơn trong các vụ tranh chấp.
Thứ ba là, định hướng về việc xây dựng các giải pháp và đưa ra đề xuất:
– Làm sáng tỏ những quan điểm và định hướng cơ bản cho việc nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO vềchống BPG, về cơ bản, sẽ được tiến hành phân tích dựa trên các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động tham gia vào việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, những yêu cầu của quá trình hội nhập nói chung và việc tham gia vào WTO nói riêng cũng như điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam;
– Kiến nghị một hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG bao gồm việc tổng hợp và kế thừa một số giải pháp đã được trình bày trong các công trình nghiên cứu trước đó, đồng thời, đưa ra một số đề xuất mới, cụ thể đối với Việt Nam trong từng trường hợp khi Việt Nam tham gia với tư cách là nguyên đơn, bịđơn hay bên thứ ba.

triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam luôn là vấn đề thu hút được sựquan tâm nghiên cứu của các chuyên gia và các nhà khoa học pháp lý ở trong và ngoài nước. Một loạt các công trình nghiên cứu được công bố, ở những mức độchi tiết khác nhau, đã phân tích được một số nội dung cơ bản của vấn đề này.
Mặc dù có nhiều nội dung đã được đề cập tới trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào kết hợp nghiên cứu cả khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển; phân tích kinh nghiệm của một số nước đang phát triển, đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu về trường hợp của Việt Nam để từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp thiết thực nhằm giúp Việt Nam tham gia hiệu quả hơn vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ một số khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp phù hợp với Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG.
26
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ ÁP DỤNG TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI WTO
2.1. Lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc tếtrong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
Pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO là sự kế thừa và phát triển pháp luật của GATT 1947. Lịch sử hình thành và phát triển của lĩnh vực pháp luật này có thể được chia thành ba giaiđoạn với những cột mốc phát triển quan trọng.
2.1.1. Giai đoạn trước năm 1947
Không phải tới khi có GATT 1947, pháp luật quốc tế mới có những qui định đầu tiên được áp dụngđể giải quyết tranh chấp về chống BPG. Sau những nỗ lực đơn phương của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Ôxtrâylia, Canađa v.v, nhằm xử lý thực tiễn thương mại không lành mạnh những năm đầu thế kỷ 20, tại một diễn đàn đa phương được tổ chức tại Giơnoa (Italia) vào tháng 5 năm 1922, Hội Quốc liên, tổ chức tiền thân của Liên Hợp quốc, đã soạn thảo và cho ra đời một Bản ghi nhớ về BPG (Memorandum on Dumping). Tuy nhiên, bản ghi nhớnày không có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên, bởi vậy tầm ảnh hưởng của văn bản này rất hạn chế [43, tr. 1404-1405]. Đến hội nghị Bretton Woods (1944-1945), các bên tham gia đã chính thức đưa vấn đềBPG ra để thảo luận trong khuôn khổ đa phương. Tại hội nghị này, Tổ chức thương mại quốc tế (International Trade Organization – ITO) cũngđược dự kiến thành lập cùng với một số thiết chế thương mại quốc tế khác. Ngày 05/03/1946, Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp quốc đã thông qua một nghị quyết thành lập một ủy ban chuẩn bị cho Hội nghị của Liên Hợp quốc về Thương mại
27
và Phát triển. Sau đó, các bên tham gia đã tiến hành thông qua Hiến chương Havana vào năm 1948, trong đó có những điều khoản cơ bản để thành lập ITO. Tuy rằng ITO sau đó không được thành lập nhưng những nội dung liên quan tới chính sách thương mại trong Chương 4 của bản Hiến chương này đã tiếp tục được ghi nhận trong GATT 1947, tại Điều VI [12, tr. 44-45].
Có thể thấy, giai đoạn trước năm 1947 là giai đoạn khởi đầu ghi nhận những nỗ lực đơn phương của một số quốc gia trong việc xây dựng các qui tắc đa phương điều chỉnh vấn đề chống BPG. Các qui tắc được ra đời trong giaiđoạn này, mặc dù có tầm ảnh hưởng rất hạn chế, nhưng rõ ràng, chúng là sự“khởi nguồn” cho một loạt các qui định sau này của GATT và WTO.
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1947 cho đến năm 1995
Ngày 01/01/1948, GATT 1947 chính thức có hiệu lực. Trong giai đoạn từnăm 1947 cho đến năm 1995, các bên ký kết của GATT đã tiến hành tám vòngđàm phán và kết thúc là sự ra đời của WTO cùng một loạt các hiệp định làm nền tảng cho hoạt động của WTO sau này, trong đó bao gồm cả lĩnh vực pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG, cụ thể:
Thứ nhất là, về mặt tố tụng, cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ GATT 1947 là Điều XXII và Điều XXIII của GATT 1947. Tuy nhiên, những qui định này đã không ghi nhận các thủ tục cụ thể và rõ ràng, và do đó, trên thực tế, hiệu quả giải quyết tranh chấp còn hạn chế. Sau đó, lần lượt ADC 1967 và ADC 1979 ra đời tại các Vòng đàm phán Kenơđi và Vòng đàm phán Tôkyô, được xem là sự bổ sung quan trọng cho Điều XXII và Điều XXIII của GATT 1947. Nếu Điều 17 của ADC 1967, chỉdừng lại ở việc khẳng định về thủ tục tham vấn và dẫn chiếu đến Điều XXII vàĐiều XXIII của GATT 1947, thì Điều 15 của ADC 1979 đã đề cập tới ba thủ tục bao gồm: tham vấn, hòa giải và giải quyết tranh chấp, và đặc biệt, nó đã bước
28
đầu đặt ra phạm vi các tranh chấp về chống BPG liên quan tới ba vấn đề: (i) thuếchống BPG chính thức; (ii) biện pháp tạm thời; và (iii) sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá (Điều 15.3, ADC 1979). Ngoài ra, trong khoảng thời gian này còn diễn ra một số sự thay đổi liên quan tới các qui định về giải quyết tranh chấp nói chung [26, tr. 43-44]. Sự ra đời của DSU, một hiệp định điều chỉnh riêng về
các qui tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp tại Vòng đàm phán Uruguay (1986 – 1994) chính là bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO [42, tr. 5].
Thứ hai là, về mặt nội dung, Điều VI của GATT 1947 đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý cơ bản để các bên ký kết của GATT 1947 ứng phó với các vụ việc BPG. Tuy nhiên, trước thực trạng Điều VI được giải thích và áp dụng theo những cách thức không phù hợp, các bên ký kết đã bắt đầu tính tới sự cần thiết phải cho ra đời một hiệp định riêng điều chỉnh trong lĩnh vực này, nhưng trong suốt khoảng thời gian sau đó, đã không có bất kỳ sự thay đổi căn bản nào diễn ra với Điều VI của GATT 1947, ngoại trừ một số kết quả đạt được trong các nghiên cứu của Ban thư ký GATT năm 1958 về pháp luật chống BPG của các quốc gia và kết quả hoạt động của Nhóm chuyên gia (Group of Experts) [43, tr. 1413- 1415],[89, tr. 3-4]. Khi ADC 1967 và ADC 1979 ra đời, mặc dù có những qui định mới vàcụ thể hơn về vấn đề chống BPG, nhưng trên thực tế, vai trò của các ADC này còn hạn chế bởi chúng chỉ là những hiệp định nhiều bên, không bắt buộc đối với tất cả các bên ký kết GATT [18, tr. 25-26]. Sau một loạt các bản dựthảo “Carlisle I”, “Carlisle II”, “New Zealand I”, “New Zealand II”, “New Zealand III”, “Ramsauer Text”, và “Dunkel Draft”, kết thúc Vòng đàm phán Uruguay, ADA đã ra đời [38, tr. 549-586].
Ngoài ra, thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG trong suốt giai đoạn 1948 – 1995, mới chỉ ghi nhận tám vụ tranh chấp (xem Phụ lục số 1). Thực
29
tiễn của GATT cũng như các báo cáo của Ban hội thẩm GATT đã trở thành các nguồn bổ sung quan trọng cho việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO sau này. Một số báo cáo của Ban hội thẩm GATT vẫn thường xuyên được viện dẫn trong quá trình giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO như vụ
Cộng đồng kinh tế Châu Âu – Khăn trải giường, vụ Hoa Kỳ – Thuế chống BPG
đối với cá hồi nhập khẩu từ Nauy; và vụ Thụy Điển – Thuế chống BPG v.v.
Rõ ràng, pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG ở giai đoạn từ năm 1947 cho đến năm 1995 đã đạt được những thành công quan trọng với sự ra đời của hàng loạt các hiệp định đa phương có giá trị pháp lý bắt buộc, cung cấp một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ cùng với một phạm vi ảnh hưởng rộng lớn khi WTO ra đời. Tuy nhiên, bên cạnh những thành côngđó, pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG ở giai đoạn này vẫn còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập. Có những điểm hạn chế, bất cập nảy sinh trong quá trình áp dụng ADA và DSU nhưng cũng có nhữngđiểm bất cập đã được chỉ ra từ giai đoạn đàm phán, soạn thảo ADA và DSU với rất nhiều ý kiến khác nhau được nêu trong các bản đề xuất, bản dự thảo và tại các phiên đàm phán. Điều này đủ để cho thấy sự xung đột lớn về mặt lợi ích giữa các nhóm nước cũng như tính phức tạp của lĩnh vực này. Bởi vậy, sau khi WTO ra đời, các thành viên WTO vẫn cần phải tiếp tục đàm phán và nỗ lực hơn nữa đểhoàn thiện pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG.
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1995 cho đến nay
Ngay khi WTO vừa ra đời, rất nhiều các hiệp định được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay đã đặt ra thời gian biểu cho các cuộc đàm phán trong tương lai. Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp, cuối năm 1998, các thành viên WTO cũng đã tiến hành một hoạt động rà soát toàn diện các qui tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp, nhưng không đạt được một kết quả rõ rệt nào. Sau đó, trong
30
khuôn khổ Chương trình nghị sự phát triển Đôha (Doha Development Agenda –DDA) được khởi động từ năm 2001, những vấn đề liên quan tới pháp luật quốc tếáp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO được các thành viên WTO tiếp tục đàm phán, chủ yếu là về ADA và DSU, cụ thể:
Thứ nhất, theo DDA, các thành viên WTO, sẽ tiến hành đàm phán vềnhững sửa đổi đối với ADA. Tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ tưởĐôha (Quata), các Bộ trưởng đã thống nhất tiến hành đàm phán về ADA với mục đích là làm rõ và cải tiến các qui định bên cạnh việc vẫn giữ lại những nguyên tắc, khái niệm và nội dung căn bản của hiệp định, có tính tới lợi ích của các nước
đang phát triển và chậm phát triển [67]. Tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 5 ở Cancun (Mêxicô), vấn đề chống BPG lại được đưa ra thảo luận với nhiệm vụchủ yếu là tiếp tục đàm phán và tiến hành các công việc khác trong khuôn khổDDA. Nhìn chung, nội dung của các cuộc đàm phán về ADA thường xoay quanh những chủ đề chính như nghiêm cấm sử dụng cách tính “Qui về không” trong xác định biên độ bán phá giá (Zeroing), về cách xác định thiệt hại, vấn đề cam kết giá, thủ tục rà soát cuối kì bắt buộc, vấn đềđối xử với các nước đang phát triển v.v [82],[83],[90, tr. 48-64]. Cho đến thời điểm này, khó có thể dự đoán trước được về diễn biến của những cuộc đàm phán sửa đổi ADA, tuy nhiên, theo như chính tuyên bố ban đầu tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 4 ở Đôha thì có lẽ sẽ không có mấy thay đổi lớn trong các vấn đề cơ bản của ADA.
Thứ hai, theo DDA, đối với DSU, các thành viên thống nhất sẽ tiến hành đàm phán nhằm cải tiến và làm rõ DSU [92]. Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứnăm ở Cancun (Mêxicô), các cuộc thảo luận về DSU đã nhận được sự tham gia đông đảo, tích cực và chủ động hơn của các thành viên so với các cuộc đàm phán khác (ngoại trừ lĩnh vực nông nghiệp) với hơn 40 đề nghị từ hơn 80 thành viên WTO. Tiếp theo đó, ngày 16/05/2003, một bản dự thảo đã được đưa ra để các
31
thành viên WTO tiến hành đàm phán [79]. Các thành viên WTO đã thảo luận bản dự thảo này cho đến tận cuối tháng 05/2003 nhưng vẫn còn nhiều điểm bất đồng. Sau đó, tại Hội nghị Bộ trưởng WTO ở Hồng Kông, các thành viên đã tiến hành thảo luận một số nội dung chính như vấn đề quyền của bên thứ ba, thẩm quyền trả hồ sơ để xét xử lại, vấn đề hậu quả cũng như thủ tục và thời hạn để xửlí trong trường hợp bị đơn không thi hành quyết định v.v [60]. Tại Hội nghị Bộtrưởng ở Giơnevơ diễn ra vào năm 2006 và 2008, các cuộc đàm phán về DSU vẫn tiếp tục được tiến hành nhưng cũng chưa thể đạt được sự đồng thuận [66].
Tính đến hết tháng 12/2013, đã có 102 vụ tranh chấp về chống BPG được đưa ra giải quyết tại DSB, tiếp tục bổ sung loại nguồn quan trọng là các báo cáo của Ban hội thẩm và AB cho pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.
Có thể thấy, pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp vềchống BPG tại WTO ở giai đoạn từ năm 1995 cho đến nay vẫn tiếp tục được bổsung và hoàn thiện thông qua thực tiễn giải quyết tranh chấp và từ những nỗ lực của các thành viên WTO. Tuy nhiên, với những bất đồng và xung đột lợi ích còn tồn tại, những điểm hạn chế và bất cập của lĩnh vực pháp luật này cũng chưa thể
sớm được khắc phục và hoàn thiện. Điều này đòi hỏi phải có sự thiện chí và những nỗ lực nhiều hơn nữa của các thành viên WTO, trong đó có cả Việt Nam.
2.2. Quan niệm hiện hành của WTO về chống bán phá giá, tranh chấp vềchống bán phá giá và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá
2.2.1. Quan niệm hiện hành của WTO về chống bán phá giá và tranh chấp vềchống bán phá giá
Trong thương mại quốc tế thời kỳ trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt là trong quá trình đàm phán cho ra đời Hiến chương Havana, những
32
nước tham gia đàm phán đã chia BPG thành bốn nhóm: BPG về giá, BPG dịch vụ, BPG hối đoái và BPG xã hội. Sau này, chỉ có BPG về giá là tiếp tục được qui định trong Điều VI của GATT 1994 và trở thành khái niệm BPG trong thương mại quốc tếđược sử dụng phổ biến ngày nay [12, tr. 19]. Theo qui định của GATT 1994 và ADA, một sản phẩm bị coi là BPG nếu giá xuất khẩu của sản phẩm thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó [34],[36]. BPG trong thương mại quốc tế tác động tới nền kinh tế của cả nước nhập khẩu và nước xuất khẩu [12, tr. 22-25], do đó, trong một số trường hợp, đểđối phó và hạn chếnhững tác động tiêu cực từ việc hàng nhập khẩu BPG, nước nhập khẩu có thểtiến hành các biện pháp chống BPG.
Như vậy, chống BPG được hiểu là “việc các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp phù hợp tác động trực tiếp lên sản phẩm nhập khẩu BPG để loại bỏ những thiệt hại mà sản phẩm nhập khẩu BPG đó gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự của nước mình” [12, tr. 26].
Liên quan tới vấn đề BPG và chống BPG, quan điểm của WTO thể hiện ởnhững nội dung cơ bản sau đây: thứ nhất, WTO không có qui định cấm việc BPG và cũng không điều chỉnh lĩnh vực này bởi BPG là hành vi của doanh nghiệp. WTO chỉ tập trung qui định cách thức mà các Chính phủ thành viên cóthể hoặc không thể tiến hành các hành động để chống lại hàng nhập khẩu BPG [61]; thứ hai, không phải mọi trường hợp hàng nhập khẩu BPG thì các Chính phủ thành viên đều có quyền tiến hành các hành động để chống lại. Hàng nhập khẩu cũng phải BPG và gây ra những thiệt hại đến một mức độ nhất định thì mới bị áp dụng các biện pháp chống BPG; thứ ba, việc áp dụng các biện pháp chống BPG là quyền, chứ không phải là nghĩa vụ, của Chính phủ thành viên là nước nhập khẩu. Việc thành viên là nước nhập khẩu có ra quyết định khởi xướng các cuộc điều tra chống BPG cũng như có áp dụng các biện pháp chống BPG đối với
33
hàng nhập khẩu hay không hoàn toàn là sự lựa chọn của họ cho dù tất cả các căn cứ và yêu cầu đều đã được đáp ứng đầy đủ.
Trong trường hợp nước nhập khẩu muốn đối phó với hàng nhập khẩu BPG thì họ có quyền áp dụng các biện pháp chống BPG (Anti-dumping measures) [12, tr. 40]. Các biện pháp chống BPG thường được các nước nhập khẩu qui định vàáp dụng bao gồm: thuế chống BPG chính thức, biện pháp cam kết giá và biện pháp tạm thời. Có thể thấy, các biện pháp chống BPG nói trên chủ yếu là các biện pháp hành chính, là công cụ tài chính – phi thuế quan mà nước nhập khẩu cóthể sử dụng để chống lại hàng nhập khẩu BPG, và về bản chất, chúng mang nặng tính chính trị và bảo hộ cho ngành công nghiệp nội địa trước sức ép cạnh tranh của ngành công nghiệp nước ngoài, chứ không hoàn toàn dựa trên những tính toán về lợi ích tổng thể của nền kinh tế hay của người tiêu dùng [12, tr. 37].
Khi một nước nhập khẩu, bằng công cụ pháp luật về chống BPG của nước mình, khởi xướng các cuộc điều tra và áp dụng các biện pháp chống BPG nhằm đối phó với hàng nhập khẩu BPG thì cũng chính là cách thức mà nước đó đã sửdụng để giải quyết những tranh chấp về BPG giữa các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm BPG với các doanh nghiệp nội địa của họ hiện đang sản xuất các sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu. Bởi lẽ, trong trường hợp này, xét về bản chất, đã có một tranh chấp thương mại (tranh chấp về BPG) giữa các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm BPG với các doanh nghiệp nội địa sản xuất các sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu về việc có sự chênh lệch về giá của sản phẩm. Để bảo vệ quyền lợi của mình, một hoặc một nhóm các doanh nghiệp có đủđiều kiện đểđược coi là đại diện cho ngành sản xuất trong nước theo pháp luật về chống BPG của nước nhập khẩu có thể đứng đơn kiện và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mình tiến hành các thủ tục điều tra chống BPG đối với hàng nhập khẩu. Trên cơ sở yêu cầu đó, cơ quan có thẩm quyền của nước
34
nhập khẩu sẽ tiến hành các thủ tục điều tra và giải quyết tranh chấp về BPG, xem xét và quyết định việc liệu có áp dụng các biện pháp chống BPG đối với sản phẩm nhập khẩu hay không.
Đểđược thực hiện một cách hợp pháp và có hiệu quả, hầu hết các quốc gia đều xây dựng hệ thống pháp luật về chống BPG hàng nhập khẩu của nước mình, với nội dung thường bao gồm một số các chế định cơ bản như chế định về xác định việc BPG, chế định về xác định thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu, chếđịnh về xác định mối quan hệ nhân quả giữa việc BPG và thiệt hại vật chất, chế định về các biện pháp chống BPG cụ thể, chế định về thủ tục rà soát việc áp dụng thuế chống BPG [12, tr. 27]. Việc chống BPG sẽđược tiến hành theo một trình tự nhất định căn cứ vào pháp luật về chống BPG của nước nhập khẩu. Trong trường hợp các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài là đối tượng bị áp dụng các biện pháp chống BPG không đồng ý với quyết định của cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, thì có thể lựa chọn hoặc sửdụng đồng thời hai biện pháp sau:
Một là, tiến hành các thủ tục khiếu kiện tư pháp để yêu cầu xem xét lại quyết định đã được ban hành [12, tr. 126]. Trên thực tế, các quốc gia có thể lựa chọn và xây dựng thủ tục này theo một trong các mô hình sau đây: (i) thủ tục và thiết chế tư pháp; (ii) thủ tục và thiết chế tài phán hành chính; (iii) thủ tục và thiết chế trọng tài; và (iv) thủ tục khiếu nại hành chính. Ví dụ như, ở Hoa Kỳ, Tòa án thương mại quốc tế (The United States Court of International Trade) là cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện các quyết định hành chính vềchống BPG, hoạt động giống như một tòa án hành chính chứ không phải là một tòa án tư pháp. Phán quyết của Tòa án thương mại quốc tế có hiệu lực ngay sau khi được tuyên và có thể bị kiện lên Tòa phúc thẩm Hạt Liên bang (The Court of Appeals for the Federal Circuit) đểđược xem xét lại. Trong khi đó ở EU, các
35
bên liên quan trong một vụ kiện chống BPG có thể khiếu kiện lên Tòa sơ thẩm Châu Âu (The Court of First Instance). Phán quyết của Tòa sơ thẩm Châu Âu có thể bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm lên Tòa án Công lý Châu Âu (The European Court of Justice). Phán quyết của Tòa án Công lý châu Âu là chung thẩm. Theo Điều 13 của ADA, tất cả thành viên WTO đều phải qui định các thủ
tục hoặc các thiết chế nhất định trong pháp luật quốc gia để thực hiện việc xem xét lại các quyết định cuối cùng về chống BPG một khi các bên liên quan thực hiện quyền khiếu kiện tư pháp của mình. Tuy nhiên, cho dù thuộc mô hình nào thì các thiết chế giải quyết khiếu kiện chống BPG trên đây cũng phải độc lập với cơ quan có quyết định về chống BPG bị khiếu nại, nhằm bảo đảm cho việc giải quyết khiếu kiện một cách khách quan và công bằng [12, tr. 127-128].
Hai là, vận động Chính phủ của nước mình khởi kiện Chính phủ nước nhập khẩu và sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tếgiữa các quốc gia.
Như vậy, theo pháp luật về chống BPG của một quốc gia thành viên, có hai loại tranh chấp khác nhau liên quan tới lĩnh vực chống BPG: (1) “tranh chấp về BPG” là tranh chấp giữa các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm BPG với các doanh nghiệp nội địa của nước nhập khẩu sản xuất các sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu; (2) “tranh chấp về chống BPG” là tranh chấp giữa tưnhân (doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài) với Chính phủ (nước nhập khẩu áp dụng biện pháp chống BPG) về việc áp dụng các biện pháp chống BPG. Theo pháp luật quốc tế, tranh chấp về chống BPG được hiểu là tranh chấp giữa các quốc gia liên quan tới vấn đề áp dụng các biện pháp chống BPG.
Tranh chấp về chống BPG (Anti-dumping dispute) giữa các thành viên WTO là loại tranh chấp có thể được đưa ra giải quyết theo DSM của WTO. Mặc dù đây là một trong những loại tranh chấp phổ biến nhất tại WTO nhưng bản
36
thân WTO lại không đưa ra một khái niệm chính thức nào đối với loại tranh chấp này. Trong khuôn khổ GATT 1947, cũng không có bất kì qui định nào, ngay kểcả Điều VI có đề cập tới khái niệm này. Trong ADC 1967, tại Điều 17, có nêu ra, một phần nào đó, khái niệm tương đối rộng và còn rất chung chung, đối với tranh chấp về chống BPG, đó là tranh chấp về “các vấn đề liên quan tới việc vận hành hệ thống chống BPG tại bất kì thành viên và vùng lãnh thổ hải quan nào mà có thể tác động tới hoạt động của ADC”. Đến ADC 1979, lần đầu tiên, bộluật này đã nêu lên một khái niệm chính thức trong phần chú thích của Điều 15,
theo đó, tranh chấp về chống BPG được hiểu là “những tranh chấp phát sinh giữa các Bên liên quan tới các quyền và nghĩa vụ theo Hiệp định”. Khái niệm tương đối khái quát và rộng này, sau đó, đã không còn được nêu lại trong ADA.
Mặc dù WTO chưa có một khái niệm cụ thể đối với tranh chấp về chống BPG, tuy nhiên, có thể thấy, loại tranh chấp này cũng có một số đặc điểm nhất định: một là, tranh chấp về chống BPG là tranh chấp giữa các thành viên WTO, bởi vậy, trước hết, nó là một loại tranh chấp quốc tế, là “sự bất đồng về một qui phạm pháp luật hoặc sự kiện nào đó giữa các chủ thể nhất định” trong quan hệquốc tế [23, tr. 385]. Cụ thể, đối với tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổWTO, đó là sự bất đồng giữa các thành viên WTO về một chính sách hoặc pháp luật không phù hợp của một thành viên hoặc liên quan tới một quyết định về việc áp dụng các biện pháp chống BPG làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của những thành viên khác theo các hiệp định của WTO; hai là, theo Điều 1.1 của DSU, các qui tắc và thủ tục của DSU “phải được áp dụng cho những tranh chấp được đưa ra theo các qui định về tham vấn và giải quyết tranh chấp của những hiệp định được liệt kê trong Phụ lục 1 của Thỏa thuận này”, và trong Phụ lục 1 đó có liệt kê GATT 1994 và ADA [35]. Như vậy, tranh chấp về chống BPG là một trong những tranh chấp có thể được giải quyết tại WTO. Dựa trên cách diễn đạt của
37
các Điều XXII, XXIII của GATT 1994 và DSU, thì có thể hiểu, những tranh chấp được giải quyết tại WTO là những tranh chấp giữa các thành viên WTO vềcác vấn đềpháp lý liên quan đến các quyền và nghĩa vụ theo các hiệp định và các cam kết trong khuôn khổ WTO. Bởi vậy, cùng với nội dung quiđịnh tại Điều 17 của ADA, theo tác giả, có thể hiểu:
Tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO là những bất đồng giữa các thành viên WTO về các vấn đề pháp lý liên quan đến các quyền và nghĩa vụtrong lĩnh vực chống BPG theo các hiệp định của WTO.
Khi phát sinh một tranh chấp về chống BPG, các thành viên của WTO có thể tìm kiếm các giải pháp khác nhau để giải quyết loại tranh chấp này, bao gồm cả việc khởi kiện ra DSB. Tuy nhiên quan điểm của WTO là các thành viên có thể tiến hành tham vấn hoặc sử dụng những phương thức khác để giải quyết các tranh chấp về chống BPG giữa họ nhưng không phải mọi tranh chấp về chống BPGđều có thểđược giải quyết tại DSB. Sau khi tham vấn không thành công, nếu bên khiếu kiện muốn đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại DSB thì DSB cũng chỉ tiến hành xem xét đối với bốn loại tranh chấp về chống BPG sau đây: (i) tranh chấp về thuế chống BPG chính thức; (ii) tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá; (iii) tranh chấp về biện pháp tạm thời; (iv) tranh chấp về
sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA [94],[95].
Qua những phân tích trên đây, theo tác giả, các tranh chấp về chống BPGđược giải quyết tại WTO có những đặc điểm cơ bản sau đây [17, tr. 39-42]:
Một là, tranh chấp về chống BPG là tranh chấp thứ phát.
Hai là, về chủ thể, đây là những tranh chấp giữa các thành viên WTO.
Ba là, về phạm vi các vấn đề tranh chấp được giải quyết tại DSB, bao gồm bốn vấn đề sau đây: (i) thuế chống BPG chính thức; (ii) sự chấp thuận một biện
38
pháp cam kết giá; (iii) biện pháp tạm thời; (iv) sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA.
Bốn là, về cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp về chống BPG, về mặt nội dung cũng như về tố tụng, sẽ tuân theo pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.
Để hiểu rõ hơn thuật ngữ “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của WTO thì cũng cần phải có sự phân biệt loại tranh chấp này với hai loại tranh chấp, đó là “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG”, theo pháp luật của một quốc gia thành viên.
Trước hết, sự khác biệt giữa “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của WTO với “tranh chấp về BPG” theo pháp luật của một quốc gia thành viên thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể, “tranh chấp về chống BPG” trong khuôn khổ WTO là tranh chấp giữa các Chính phủ, còn “tranh chấp về BPG” ở các quốc gia thành viên là tranh chấp giữa các doanh nghiệp.
Thứ hai, về đối tượng tranh chấp. Theo qui định của WTO, đối tượng tranh chấp của các tranh chấp về chống BPG tại WTO là những quyết định vềviệc áp dụng các biện pháp chống BPG hoặc các chính sách và pháp luật vềchống BPG hàng nhập khẩu không phù hợp của thành viên nhập khẩu.Đối tượng tranh chấp trong các vụ tranh chấp về BPG theo pháp luật của quốc gia thành viên là sự chênh lệch về giá giữa giá xuất khẩu của sản phẩm với giá trị thông thường của sản phẩm tương tự trong điều kiện thương mại thông thường.
Thứ ba, về pháp luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp, đối với các tranh chấp về chống BPG giữa các thành viên WTO, thì đó là pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO; còn đối với các tranh
39
chấp về BPG giữa các doanh nghiệp, thì đó là pháp luật quốc gia (pháp luật của nước nhập khẩu tiến hành điều tra chống BPG).
Thứ tư, về thời điểm phát sinh tranh chấp, thông thường, tranh chấp vềchống BPG chỉ có thể phát sinh sau khi đã có một tranh chấp về BPG. Tranh chấp về chống BPG là loại tranh chấp thứ phát.
Tiếp theo, sự khác biệt giữa hai loại “tranh chấp về chống BPG” theo phápluật của WTO và theo pháp luật của quốc gia thành viên thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể, “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của WTO là tranh chấp giữa các Chính phủ, còn “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của quốc gia thành viên là tranh chấp giữa các doanh nghiệp với Chính phủ.
Thứ hai, về pháp luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp, đối với “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của WTO, thì đó là pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, còn đối với “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của một quốc gia thành viên, thì đó là pháp luật quốc gia (pháp luật của nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp chống BPG).
Ngoài ra, trong khuôn khổ WTO, để hiểu rõ hơn “tranh chấp về chống BPG” thì cũng cần phân biệt loại tranh chấp này với hai loại tranh chấp khác trong cùng nhóm các biện pháp khắc phục thương mại, đó là “tranh chấp vềchống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại”. Đây là ba loại tranh chấp phổ biến nhất, chiếm khoảng hơn 50% tổng số các tranh chấp được giải quyết tại WTO tính đến hết tháng 12/2013 [80].
Các biện pháp khắc phục thương mại (Trade remedies), hay còn gọi là các biện pháp phòng vệ thương mại (Trade defence measures), là những công cụchính sách thương mại cho phép nước nhập khẩu tiến hành các hành động chống lại hàng nhập khẩu nhằm khắc phục những thiệt hại vật chất mà hàng nhập khẩu
40
đang gây ra cho ngành công nghiệp trong nước. Nhóm biện pháp khắc phục thương mại bao gồm: các biện pháp chống BPG, các biện pháp đối kháng và các biện pháp tự vệ thương mại [50]. Theo qui định của WTO, các biện pháp khắc phục thương mại là những biện pháp được phép áp dụng riêng rẽ hoặc có thểđược áp dụng đồng thời. Tuy nhiên, trên thực tế, trong một số trường hợp, một số thành viên đã và đang lạm dụng nhóm biện pháp này hoặc áp dụng chúng một cách không rõ ràng, gây cản trở cho sự phát triển của thương mại quốc tế.
“Tranh chấp về chống trợ cấp” (Anti-subsidy dispute), hay còn gọi là“tranh chấp về các biện pháp đối kháng” (Countervailing-measure dispute), làmột loại tranh chấp giữa các thành viên WTO trong lĩnh vực trợ cấp. Theo Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Hiệp định SCM) [33], trợ cấp làhành vi của một Chính phủ hoặc một cơ quan công quyền hành động, hoặc chi trả cho các khoản trợ cấp một cách trực tiếp, hoặc yêu cầu các công ty của họ trợcấp cho những đối tượng nhất định (Điều 1). Hành vi trợ cấp là hành vi của Chính phủ, hoàn toàn khác với hành vi BPG là hành vi của các doanh nghiệp. WTO là một tổ chức liên chính phủ, do vậy, WTO không điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp bao gồm cả hành động BPG của họ. Vì lẽ đó, ADA không qui định về hành vi BPG của doanh nghiệp mà chỉ qui định những hành động của các Chính phủ được tiến hành nhằm chống lại việc BPG. Với lĩnh vực trợ cấp thìkhác, Chính phủ thành viên của WTO có thể đóng một trong hai vai trò: là nước cung cấp trợ cấp hoặc là nước hành động để chống lại việc trợ cấp của một nước khác. Do đó, Hiệp định SCM qui định cả hai nội dung: trợ cấp, bao gồm cả trợcấp bị cấm và trợ cấp có thể bị đối kháng [61], và các hành vi chống lại trợ cấp. Như vậy, trong khuôn khổ WTO, bên cạnh thuật ngữ “tranh chấp về chống trợ
cấp”, còn có cả thuật ngữ “tranh chấp về trợ cấp” (Subsidy dispute). “Tranh chấp về trợ cấp” theo pháp luật của WTO là tranh chấp giữa các thành viên WTO,
41
theo đó, thay vì sử dụng biện pháp đối kháng với hàng nhập khẩu có trợ cấp, thành viên nhập khẩu có thể khởi kiện ra DSB để yêu cầu thành viên cung cấp trợ cấp xóa bỏ trợ cấp hoặc loại bỏ những tác động tiêu cực của trợ cấp. Bị đơn trong các vụ tranh chấp về trợ cấp tại WTO là thành viên cung cấp trợ cấp, trong khi đó, bị đơn trong các vụ tranh chấp về chống trợ cấp tại WTO là thành viên sửdụng các biện pháp đối kháng để chống lại hàng nhập khẩu có trợ cấp.
Theo qui định của WTO [37], tự vệ thương mại là hành động phản ứng của nước nhập khẩu trước tình trạng số lượng hàng nhập khẩu tăng đáng kể vàđột biến. Nước nhập khẩu có thể sử dụng biện pháp tăng thuế nhập khẩu hoặc hạn chế số lượng để tự vệ. Tự vệ thương mại là một công cụ bảo hộ hợp pháp có sức mạnh “ghê gớm” nhưng nó lại không phải là một biện pháp “miễn phí”. Nước xuất khẩu (hoặc các nước xuất khẩu) có thể đòi bồi thường thông qua tham vấn khi nước nhập khẩu sử dụng biện pháp tự vệ thương mại [61]. Nếu nước xuất khẩu hàng hóa nhận thấy có sự vi phạm của nước nhập khẩu trong việc sửdụng biện pháp tự vệ thương mại hoặc nếu việc sử dụng biện pháp tự vệ thương mại của nước nhập khẩu ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì họcó thể khởi kiện ra DSB.
Về tố tụng, điểm chung trong việc giải quyết tranh chấp về chống BPG, các tranh chấp về chống trợ cấp và các tranh chấp về tự vệ thương mại là phải tuân theo qui định của DSU, được khẳng định tại các Điều 17 của ADA, Điều 30 của Hiệp định SCM và Điều 14 của SA. Tuy nhiên, bên cạnh những nguyên tắc và thủ tục chung đó, việc giải quyết tranh chấp về chống BPG và tranh chấp vềchống trợ cấp tuân theo những nguyên tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp được nêu trong Tuyên bố tại Hội nghị Bộ trưởng ở Marrakesh về giải quyết tranh chấp theo Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 hoặc Phụ lục V của Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng [55].
42
Ngoài ra, việc giải quyết hai loại tranh chấp nói trên còn phải tuân theo những qui định cụ thểđược liệt kêtrong Phụ lục 2 của DSU, theo đó, cụ thể làĐiều 17.4 đến 17.7 của ADA đối với các tranh chấp về chống BPG; Điều 4.2 đến 4.12, Điều 6.6, từ Điều 7.2 đến 7.10, Điều 8.5, chú thích cuối trang 35, Điều 24.4 và Điều 27.7 của Hiệp định SCM đối với tranh chấp về chống trợ cấp.
Về luật nội dung, pháp luật của WTO, bao gồm các hiệp định có liên quan và các loại nguồn khác, sẽ được áp dụng để giải quyết từng loại tranh chấp này. Về các hiệp định của WTO có liên quan, ngoài qui định chung là Điều VI của GATT 1994, việc giải quyết tranh chấp về chống BPG sẽ căn cứ vào ADA, còn việc giải quyết các tranh chấp về thuế đối kháng sẽ căn cứ vào Hiệp định SCM. Đối với các tranh chấp về tự vệ thương mại, việc giải quyết tranh chấp sẽ căn cứvào Điều XIX của GATT 1994 và SA.
2.2.2. Quan niệm hiện hành của WTO về pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá
WTO có một hệ thống pháp luật riêng nhằm cung cấp một khuôn khổpháp lý thống nhất cho việc thi hành và giám sát các hiệp định cũng như tiến hành việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình áp dụng và giải thích những hiệp định này. Pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp tại WTO thực sự là một hệ thống phức tạp với nhiều quiđịnhđan xen lẫn nhau.
Việc xác định các loại nguồn của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp tại WTO, cơ bản cũng được dựa trên cách xác định nguồn luật áp dụng truyền thống của Điều 38(1) của Qui chế Tòa án Công lý Quốc tế và cótính tới cả những đặc thù của WTO. Mặc dù vẫn còn có những quan điểm khác nhau trong những nghiên cứu của các học giả trên thế giới về số lượng, tên gọi, vị trí, vai trò đối với từng loại nguồn [41, tr. 50],[44, tr. 53],[84, tr. 563-564], nhưng nhìn chung, các loại nguồn của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết
43
tranh chấp tại WTO bao gồm: các hiệp định của WTO, tập quán quốc tế; các nguyên tắc pháp luật chung; thực tiễn của GATT 1947 và các báo cáo về giải quyết tranh chấp của các Ban hội thẩm GATT; thực tiễn của WTO và các báo cáo về giải quyết tranh chấp của các Ban hội thẩm và AB; các văn bản được ban hành bởi các cơ quan WTO và các hiệp định mới được ra đời trong khuôn khổWTO; các hiệp định quốc tế khác; và các học thuyết của các học giả có uy tín [41, tr. 50],[44, tr. 42]. “Các hiệp định của WTO” vẫn là loại nguồn cơ bản nhất, chứa đựng các qui phạm qui định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể cho các thành viên WTO. Tất cả các phân tích pháp lý, trước hết, “phải được bắt đầu từchính nội dung của các hiệp định này” [98]. Tuy nhiên, việc đặt “các hiệp định của WTO” lên vị trí hàng đầu không có nghĩa là phủ nhận giá trị của các loại nguồn khác, bởi tất cả các loại nguồn nói trên đều là các loại nguồn cơ bản được áp dụng trong DSM của WTO [84, tr. 562-563].
Cụ thể, trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, việc giải quyết tranh chấp về nội dung trước hết sẽ căn cứ vào các qui định của WTO, cụ thể là Điều VI của GATT 1994 và ADA, cùng với các loại nguồn khác như
tập quán quốc tế; các nguyên tắc pháp luật chung; thực tiễn của WTO và các báo cáo về giải quyết tranh chấp của Ban hội thẩm và AB; thực tiễn của GATT 1947 và các báo cáo về giải quyết tranh chấp của Ban hội thẩm; các tài liệu được ban hành bởi các cơ quan WTO; các hiệp định quốc tế khác; và các học thuyết của các học giả có uy tín. Trong khi đó, về tố tụng, việc giải quyết tranh chấp vềchống BPG sẽ tuân theo DSU cùng với những qui tắc và thủ tục đặc biệt, bổsung cho DSU được ghi nhận trong ADA (từ Điều 17.4 đến 17.7) và các qui tắc tố tụng khác có liên quan của WTO.
Khi tiến hành giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, về luật tốtụng, cũng cần lưu ý một số vấn đề sau đây:
44
Thứ nhất là, về mối quan hệ giữa Điều 17 của ADA với Điều XXII và Điều XXIII của GATT 1994. Nếu Điều 17 của ADA qui định về vấn đề giải quyết tranh trấp trong khuôn khổ ADA, thì Điều XXII và Điều XXIII của GATT 1994 qui định những căn cứ pháp lý chung cho các khiếu kiện và giải quyết tranh chấp liên quan tới các điều khoản của GATT 1994, bao gồm cả Điều VI. Như vậy, Điều 17 sẽ xác lập căn cứ cụ thể cho các khiếu kiện và giải quyết tranh chấp liên quan tới ADA [94].
Thứ hai là, về mối quan hệ giữa Điều 17 của ADA với DSU, trong Báo cáo của AB vụ Goatêmala – Xi măng I (DS60), đã nêu rõ: “Hiệp định về chống BPG là một hiệp định đã được liệt kê trong Phụ lục 1 của DSU; do đó, các qui
tắc và thủ tục của DSU, áp dụng cho các tranh chấp [về chống BPG] phải tuân theo các qui định về tham vấn và giải quyết tranh chấp được ghi nhận tại Điều 17 của hiệp định đó [ADA]…” [94]. Tuy nhiên, cần lưu ý, Điều 17 của ADA không thay thế các qui định của DSU [94],[96],[102],[103]. Các thủ tục đặc biệt và bổ sung qui định từ Điều 17.4 đến Điều 17.7, được liệt kê trong Phụ lục 2 của DSU, sẽ chỉ có giá trị ưu tiên hơn so với các qui định của DSU trong trường hợp giữa chúng có sự khác biệt [94].
2.3. Nội dung những vấn đề chung của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
2.3.1. DSM của WTO – Nền tảng pháp luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
DSM của WTO là tổng hợp các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho việc giải quyết tranh chấp tại WTO [13, tr. 24-25],[21, tr. 17-18]. DSM của WTO được cấu thành bởi các yếu tố cơ bản: hệ thống các nguyên tắc, hệ thống cơ quan tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp và hệ thống luật lệ về phương pháp, qui trình, thủ tục giải quyết tranh chấp và bảo đảm thi hành quyết của DSB.
45
Trong khuôn khổ WTO, các tranh chấp thương mại quốc tế nói chung và các tranh chấp về chống BPG nói riêng trong khuôn khổ WTO sẽđược giải quyết trên cơ sở một hệ thống những nguyên tắc cơ bản, trong đó, nguyên tắc đồng thuận phủ quyết là một điểm khác biệt căn bản trong DSM của WTO so với GATT, sử dụng nguyên tắc đồng thuận [14, tr. 266-267].
Để tiến hành giải quyết các tranh chấp phát sinh, WTO có một hệ thống các thiết chế liên quan tới qui trình giải quyết tranh chấp, đó là: DSB, Ban hội thẩm, AB, Ban thư kí WTO, các trọng tài, các chuyên gia độc lập và một số tổchức chuyên môn [14, tr. 269-276].
a. Các phương thức giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá theo quiđịnh của DSU/WTO
Để giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ WTO, thông thường, phương thức giải quyết tranh chấp có sử dụng tới Ban hội thẩm và AB hay được đề cập tới, tuy nhiên, đây không phải là phương thức duy nhất. Theo qui định của DSU, ngoài phương thức giải quyết tranh chấp nói trên, các bên tranh chấp còn có thể sử dụng các phương thức khác như đàm phán song phương (hay còn gọi là tham vấn); trung gian, hòa giải và môi giới; hoặc trọng tài.
Tham vấn (Consultation) là phương thức các bên tự đàm phán để tìm một giải pháp nhằm giải quyết tranh chấp. Trong khi đó, trung gian, hòa giải vàmôi giới đã có sự xuất hiện của chủ thể thứ ba, ngoài các bên tranh chấp, giúp các bên tìm ra một giải pháp chấp nhận chung. Các phương thức này do các bên tự nguyện thỏa thuận lựa chọn và áp dụng. Chúng phải tuân thủ nguyên tắc bímật, có thểđược bắt đầu và kết thúc tại bất kì thời điểm nào bởi các bên tranh chấp. Chúng có thể được tiến hành ngoài qui trình tố tụng tại WTO theo thông lệquốc tế hoặc có thể được tiến hành theo qui trình tố tụng của DSU. Các bên tranh chấp luôn được khuyến khích để tiếp tục nỗ lực tìm kiếm giải pháp chấp nhận
46
chung ngay cả khi tranh chấp đã được đưa lên xét xử ở Ban hội thẩm hay AB. Ngoài ra, các thành viên của WTO còn có thể thỏa thuận lựa chọn và sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo qui định tại Điều 25 của DSU [40, tr. 197-201].
b. Các loại khiếu kiện trong những tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
Cũng như những loại tranh chấp khác tại WTO, đối với các tranh chấp vềchống BPG, có ba loại khiếu kiện mà các thành viên của WTO có thể sử dụng:
Thứ nhất là, khiếu kiện vi phạm. Khiếu kiện vi phạm là loại đơn kiện được qui định tại Điều XXIII:1(a) của GATT 1994. Cụ thể, đối với các tranh chấp vềchống BPG, loại đơn kiện này đặt ra hai yêu cầu phải chứng minh đối với nguyên đơn, đó là: (i) chứng minh sự tồn tại của một hành vi vi phạm Điều VI của GATT 1994 hoặc vi phạm ADA; (ii) hành vi vi phạm này trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn tới sự triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích của nguyên đơn theo những hiệp định này. Trong hai điều kiện nói trên, điều kiện thứ nhất có một vai trò quan trọng hơn so với điều kiện thứ hai, bởi lẽ, theo Điều 3.8 của DSU, nguyên tắc suy đoán được áp dụng trong trường hợp này. Cũng cần lưu ý là, theo cách diễn đạt của Điều 3.8 của DSU, bị đơn vẫn có quyền lập luận để bác bỏ nguyên tắc suy đoán này, nhưng nếu họ không thành công, thì trong trường hợp, hành vi của họ bị kết luận là vi phạm các qui định của WTO, Ban hội thẩm và AB sẽ chấp nhận nguyên tắc suy đoán về sự “triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích”. Ví dụ như,
trong vụ tranh chấp giữa Goatêmala và Mêxicô (vụ Goatêmala – Xi măng II), Goatêmala đã lập luận rằng việc họ không thông báo cho Mêxicô về đơn khởi kiện chống BPG trước khi tiến hành điều tra theo yêu cầu của Điều 5.5 của ADA không dẫn tới bất kì “sự triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích” nào của Mêxicô bởi lẽGoatêmala đã không tiến hành bất kì hành động nào trên thực tế để bắt đầu cuộc
47
điều tra cho đến khi Mêxicô nhận được thông báo, và hơn nữa, họ đã gia hạn thêm một khoảng thời gian là hai tháng để trả lời các bảng câu hỏi đối với các nhà xuất khẩu của Mêxicô. Tuy nhiên, Ban hội thẩm đã bác bỏ lập luận này của Goatêmala và đưa ra kết luận “sẽ không có điều gì là chắc chắn rằng Mêxicô có thể thực hiện được cho dù họ có nhận được một thông báo đúng hạn”, và khoảng thời gian trao thêm cho các nhà xuất khẩu Mêxicô cũng không thể bao biện cho việc không gửi thông báo đúng hạn của Goatêmala cho phía Mêxicô. Như vậy, trong vụ kiện này, Ban hội thẩm chấp nhận nguyên tắc suy đoán, theo đó, việc không thông báo đúng hạn của Goatêmala cho phía Mêxicô là vi phạm và đã dẫn đến “sự triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích” của Mêxicô [41, tr. 163].
Thứ hai là, khiếu kiện không vi phạm. Khiếu kiện không vi phạm là loại đơn kiện được qui định tại Điều XXIII:1(b) của GATT 1994. Cụ thể, đối với các tranh chấp về chống BPG, một thành viên WTO cũng có thể tiến hành khiếu kiện ngay cả khi không có bất kì một hành vi vi phạm nào được thực hiện bởi một thành viên khác, tuy nhiên, hành vi được cho là phù hợp với các qui định của WTO về chống BPG này lại ngăn cản một trong các mục tiêu đã nêu hoặc làm ảnh hưởng tới các cam kết thương mại được qui định trong Điều VI của GATT 1994 và ADA. Khi một thành viên muốn thực hiện thành công một “khiếu kiện không vi phạm” trong các vụ tranh chấp về chống BPG thì họ phải cố gắng chứng minh được đầy đủ ba điều kiện sau đây: (1) một thành viên WTO khác đã áp dụng một biện pháp; (2) có lợi ích theo Điều VI của GATT 1994 hoặc ADA được áp dụng; và (3) có sự triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích do áp dụng biện pháp này [26, tr. 73]. Ngoài ra, theo Điều 26.1 của DSU, thành viên khiếu kiện trong trường hợp này còn phải đưa ra một bản giải trình chi tiết, nhưng rất tiếc,điều khoản này lại không chỉ rõ khi nào nguyên đơn phải làm điều đó: khi họ yêu cầu
48
tham vấn; yêu cầu thành lập Ban hội thẩm, hay khi họ đệ trình các tài liệu lên Ban hội thẩm.
Thứ ba là, khiếu kiện tình huống. Theo Điều XXIII:1(c) của GATT 1994, một thành viên WTO cũng có thể tiến hành khiếu kiện khi lợi ích của họ bị triệt tiêu hoặc suy giảm bởi “một tình huống khác”. Theo cách diễn đạt đơn giản tại Điều XXIII:1(c) của GATT 1994 thì có thể suy luận rằng căn cứ để có thể tiến hành khiếu kiện tình huống phải bao gồm hai căn cứ sau đây: (i) phải có tình huống xảy ra ngoài những tình huống nêu tại điểm (a) và (b) của Điều XXIII:1 đồng thời; (ii) có sự triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích (hoặc cản trở việc đạt được mục tiêu của GATT 1994). Ngoài ra, theo Điều 26.2(a) của DSU, nếu một bên dựa trên “bất kì một tình huống nào khác” để khiếu kiện về việc lợi ích của họ bịtriệt tiêu hoặc suy giảm thì phải đưa ra một bản giải trình chi tiết để biện hộ cho các lập luận của mình, tương tự như loại khiếu kiện không vi phạm.
c. Các bên nguyên đơn, bị đơn, bên thứ ba và các tổ chức, cá nhân khác tham gia vào các vụ tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
ADA là một hiệp định đa phương trong khuôn khổ WTO, bởi vậy,đối với các tranh chấp về chống BPG liên quan tới hiệp định này thì chỉ có các thành viên của WTO mới có thể trở thành các bên tranh chấp hoặc bên có quyền và lợi ích liên quan (sau đây gọi là bên thứ ba) [41, tr. 29].
Ban thư kí WTO, các nước quan sát viên của WTO, các tổ chức quốc tếliên chính phủ khác và các chính quyền địa phương và khu vực cũng không được phép khởi kiện các vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO. Các cá nhân hoặc công ty tư nhân, mặc dù họ có thể gây ảnh hưởng, hoặc thậm chí gây sức ép đối với Chính phủ của nước mình trong việc khởi kiện ra WTO, nhưng rõ ràng, họcũng không thể trực tiếp tham gia vào DSM của WTO, ngay cả khi thông thường
49
họ chính là những người bị tác động tiêu cực nhất (với tư cách là những nhà xuất khẩu và nhập khẩu) bởi các biện pháp chống BPG.
Đối với các tổ chức phi chính phủ khác có sự quan tâm chung tới các vấn đềđược xử lý trong DSM của WTO, cho đến nay, vẫn còn có một số ý kiến khác nhau về sự tham gia của nhóm chủ thể này, đặc biệt là liên quan tới vấn đề Ban hội thẩm và AB có trách nhiệm phải xem xét các ý kiến được đệ trình theo hình thức “amicus curiae” hay không. Mặc dù còn nhiều tranh cãi, tuy nhiên, có một điều có thể khẳng định đó là, người gửi các ý kiến theo hình thức amicus curiae không có quyền đòi hỏi các ý kiến này phải được xem xét. Các Ban hội thẩm vàAB có quyền chấp nhận hoặc từ chối những ý kiến đó, và càng không có trách nhiệm phải xem xét chúng [26, tr. 37-38],[41, tr. 39].
d. Trình tự giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO và việc thực thi các quyết định của DSB
Trình tự giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, về cơ bản, sẽ tuân theo các qui định chung của DSU. Ngoài ra, việc giải quyết tranh chấp về chống BPG, về tố tụng, còn phải tuân theo các qui định từ Điều 17.4 đến 17.7 của ADA. Bên cạnh đó, đối với loại khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện tình huống, DSU còn có những qui định riêng về các thủ tục đặc biệt dành cho hai loại khiếu kiện này [26, tr. 155-156].
(i) Giai đoạn tham vấn
Trong khuôn khổ WTO, tham vấn được xem như là “trạm dừng an toàn” bắt buộc (a mandatory “safety-stop”) [45, tr. 30]. Khi một thành viên muốn tiến hành tham vấn thì họ phải gửi yêu cầu tham vấn bằng văn bản tới thành viênđược yêu cầu,đồng thời, họ phải gửi một bản sao tới DSB và tới các Hội đồng và Ủy ban liên quan của WTO. Trong yêu cầu tham vấn này, bên yêu cầu tham vấn phải nêu rõ lý do có yêu cầu, kể cả việc chỉ ra biện pháp có vấn đề và cơ sở
50
pháp lý cho việc khiếu kiện. Thông thường, các căn cứ pháp lý được chỉ ra trong yêu cầu tham vấn bao gồm: Điều 4, DSU; Điều 17.2 của ADA; Điều XXII và XXIII, GATT 1994. Theo cách diễn đạt của Điều 17.2, có thể thấy ADA không có bất kì sự phân biệt hay hạn chế nào về phạm vi những vấn đề đặt ra trong giai đoạn tham vấn, miễn đó là “những vấn đềảnh hưởng tới sự vận hành của hiệp định này”. Như vậy, có điểm khác biệt giữa phạm vi các vấn đề yêu cầu tham vấn và phạm vi các vấn đề yêu cầu thành lập Ban hội thẩm [95]. Ngoài ra, các bên tham gia còn phải tuân thủ các mốc thời hạn nhất định trong quá trình tiến hành tham vấn theo qui định của WTO.
Về bản chất, tham vấn là việc thương lượng trực tiếp giữa các bên tranh chấp, bởi vậy, ở giai đoạn này, các bên thứ ba có vai trò rất hạn chế trong việc tham gia vào quá trình tham vấn. Theo Điều 4.11 của DSU, có một sự khác biệt về khả năng tham gia của bên thứ ba ở giai đoạn tham vấn tùy thuộc vào yêu cầu tham vấn được đưa ra dựa trên cơ sở Điều XXII hay Điều XXIII của GATT 1994 hoặc các điều khoản tương ứng trong các hiệp định khác có liên quan. Theođó, nếu yêu cầu tham vấn được đưa ra trên cơ sở Điều XXII của GATT 1994 hoặc Điều 4 của DSU, thì các bên thứ ba có “lợi ích thương mại đáng kể” có thểđược tham gia, Ngược lại, nếu yêu cầu tham vấn được đưa ra trên cơ sởĐiều XXIII của GATT 1994 thì các bên thứ ba không thể đưa ra yêu cầu tham gia vào quá trình tham vấn. Sự khác biệt này cho phép bên yêu cầu cũng như bên được yêu cầu có thể đưa ra một quyết định mang tính chiến thuật xem liệu họ có muốn sự hiện diện và có thể, là cả sự ủng hộ của các bên thứ ba hay không.
(ii) Giai đoạn hội thẩm
Theo Điều 4.8 của DSU, nếu việc tham vấn không thể tiến hành được hoặc được tiến hành mà không thành công, đồng thời nếu bên yêu cầu tham vấn muốn tiến hành các thủ tục tiếp theo thì họ có quyền đệ đơn lên DSB để yêu cầu
51
thành lập Ban hội thẩm. Yêu cầu này phải được lập thành văn bản, trong đó, ngoài nội dung trình bày về việc đã tiến hành tham vấn, thì đơn yêu cầu còn phải nêu rõ các biện pháp (Measures) cụ thể đang được bàn cãi và đưa ra một sự tóm
tắt ngắn gọn về các căn cứ pháp lý (Claims) của đơn kiện đủđể trình bày các vấn đề một cách rõ ràng. Các biện pháp đang được bàn cãi và các căn cứ pháp lý cho việc khiếu kiện nói trên sẽ cấu thành các vấn đề tranh chấp (Matters) theo nghĩa được đề cập tới tại Điều 6.2 của DSU và Điều 17.4 của ADA. Về nguyên tắc, DSU không có bất kì hạn chế nào về số lượng các căn cứ pháp lý được đưa ra liên quan tới một biện pháp cụ thể, cũng như, trong cùng một vụ kiện, có thể liên quan tới nhiều biện pháp khác nhau. Ví dụ, trong vụ Hoa Kỳ – Thép tấm cuộn cán nóng (DS179), hai quyết định áp thuế chống BPG được ban hành bởi USDOC đều được xem xét và đánh giá đồng thời, trong đó, một quyết định liên quan tới thép cuộn không gỉ (Certain Stainless Steel Plate in Coils) và một quyết định liên quan tới thép tấm và thép dây không gỉ (Stainless Steel Sheet and Strip in Coils). Ngoài ra, cũng cần phải phân biệt giữa căn cứ pháp lý (Claims) với các lập luận (Arguments), theo đó, các căn cứ pháp lý được nêu ra ở đây với ý nghĩa là các điều khoản tham chiếu theo cách diễn đạt tại Điều 7 của DSU, cùng với các biện pháp được xác định, còn các lập luận là những lý lẽ của các bên tranh chấp nhằm củng cố cho các căn cứ pháp lý đã được nêu ra và làm rõ hơn văn bản đệ trình đầu tiên, văn bản tranh luận hay bác bỏ và được trình bày tại các cuộc họp chính thức thứ nhất và thứ hai tại Ban hội thẩm [45, tr. 34, tr. 36].
Đối với các vụ tranh chấp về chống BPG, nội dung đơn yêu cầu thành lập Ban hội thẩm được qui định ở cảĐiều 17.4 của ADA và Điều 6.2 của DSU. Trong nội dung của đơn yêu cầu thành lập Ban hội thẩm, nguyên đơn phải nêu rõ “biện pháp có vấn đề” và “cơ sở pháp lý” của việc khiếu kiện.Điều này đã được
khẳng định trong Báo cáo của AB, vụ Goatêmala – Xi măng I, WT/DS60/AB/R,
52
tại đoạn 69 và đoạn 80, theo đó AB đã kết luận là Ban hội thẩm đã sai lầm khi nhận định đơn yêu cầu thành lập Ban hội thẩm chỉ cần nêu rõ “cơ sở pháp lý cho việc khiếu kiện” mà không cần xác định rõ “biện pháp cụ thể có vấn đề” mà vẫn được coi là đápứngđủ các điều kiện nêu tại Điều 6.2 của DSU. Ngoài ra, AB còn nêu rõ, đối với các tranh chấp trong khuôn khổ ADA, trong đơn yêu cầu thành lập Ban hội thẩm còn phải xác định rõ phạm vi các vấn đề tranh chấp được đưa ra giải quyết tại DSB. Có thể lấy ví dụ về hai vụ kiện DS60 và DS156 của
Mêxicô. Trong vụ kiện đầu tiên vào năm 1996, vụ Goatêmala – Xi măng I (DS60), Mêxicô đã khởi kiện Goatêmala về cuộc điều tra chống BPG màGoatêmala tiến hành đối với xi măng poóc-lăng nhập khẩu từ Mêxicô vì cho rằng Goatêmala đã vi phạm các Điều 2, 3, 5 và 7.1 của ADA. Vụ việc đã được xét xử tại Ban hội thẩm, tuy nhiên, sau đó, báo cáo của Ban hội thẩm đã bị AB bác bỏ vì ngay từ đầu, trong đơn yêu cầu thành lập Ban hội thẩm của Mêxicô vẫn chưa xác định được “biện pháp có vấn đề” [ 94]. Mêxicô đã khắc phục thiếu sót
này bằng việc tiếp tục khởi xướng vụ kiện thứ hai, vụ Goatêmala – Xi măng II (DS156), vào năm 1999, về việc Goatêmala áp thuế chống BPG chính thức (một trong những biện pháp được qui định tại Điều 17.4 của ADA) đối với sản phẩm xi măng poóc-lăng xám nhập khẩu từ Mêxicô. Lần này, đơn yêu cầu thành lập Ban hội thẩm của Mêxicô đã đáp ứng đủ các điều kiện nêu tại Điều 6.2 của DSU
và vụ việc sau đó cũng đã được Ban hội thẩm xét xử và đi đến kết luận việc áp thuế chống BPG chính thức của Goatêmala đối với xi măng poóc-lăng xám nhập khẩu từ Mêxicô có những sự vi phạm các qui định của ADA [20, tr. 57-61].
Ngoài ra, trong yêu cầu của nguyên đơn còn phải chỉ ra được các lợi ích của thành viên này, trực tiếp hay gián tiếp, theo ADA, đang bị triệt tiêu hay suy giảm hoặc việc đạt được các mục tiêu của ADA đang bị cản trở. Mặc dù theo cách diễn đạt của Điều 17.5 của ADA, nguyên đơn không bị buộc phải sử dụng
53
những từ như “triệt tiêu” (nullify) hay “suy giảm” (impair), nhưng rõ ràng cần hiểu rằng, nguyên đơn phải đưa ra những lập luận bắt buộc trong yêu cầu thành lập Ban hội thẩm và hơn nữa, yêu cầu này phải chỉ ra một cách rõ ràng các lợi ích đã bị mất đi hoặc giảm đi như thế nào [94]. Khi đó, các yêu cầu nêu tại Điều 17.5 của ADA và Điều 6.2 của DSU nên được áp dụng đồng thời. Tương tự nhưĐiều 17.4, Điều 17.5 của ADA không hề có mâu thuẫn hay hủy bỏ hoặc thay thếĐiều 6.2 của DSU mà chỉ đưa ra những yêu cầu bổ sung, chưa được đề cập trong Điều 6.2 của DSU đối với các tranh chấp về chống BPG. Vì vậy, khi một “vấn đề” được nguyên đơn đưa ra DSB để giải quyết theo Điều 17.4 của ADA, thì yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải đáp ứng tất cả các điều kiện nêu tại Điều 17.4,Điều 17.5 cũng như Điều 6.2 của DSU [41, tr. 178-179],[105].
Khi có yêu cầu của nguyên đơn, DSB sẽ thành lập một Ban hội thẩm đểxét xử vụ tranh chấp này. Về việc xem xét của Ban hội thẩm đối với các vụ tranh chấp về chống BPG liên quan tới các biện pháp chống BPG, ADA đã đưa ra một tiêu chí đánh giá cụ thể, mà không một hiệp định nào khác, kể cả DSU, có một qui định rõ ràng về vấn đề này [65]. Nếu Điều 11 của DSU chỉ đặt ra một yêu cầu chung chung đối với tất cả các Ban hội thẩm là cần phải có “chuẩn đánh giákhách quan” (“objective asessment” standard) khi xem xét thì Điều 17.6 của ADA đã đặt ra cho các Ban hội thẩm xét xử các vụ tranh chấp về chống BPG thêm 2 yêu cầu cụ thể [15, tr. 47-48], đó là: (i) Ban hội thẩm sẽ xác định xem liệu những việc tiến hành trên thực tế của các cơ quan có thẩm quyền của phía bịđơn có phù hợp, và liệu những đánh giá của họ về những thực tế này có dựa trên
sự khách quan và không phân biệt đối xử hay không (Điều 17.6(i) của ADA) [99],[100]; (ii) trong quá trình Ban hội thẩm tiến hành giải thích một qui định có liên quan của ADA trên cơ sở phù hợp với các qui tắc tập quán trong việc giải thích luật quốc tế và phù hợp với Điều 3.2 của DSU, nếu qui định nói trên có thể
54
được giải thích theo ít nhất hai cách đều có thể được chấp nhận thì Ban hội thẩm cần xác nhận biện pháp của cơ quan có thẩm quyền là phù hợp với ADA nếu biện pháp này dựa vào một trong các cách giải thích có thểđược chấp nhận đó (Điều 17.6(ii) của ADA) [93],[98].
Thủ tục giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm được qui định tại Điều 12 và Phụ lục 3 của DSU với những mốc thời hạn nhất định, nhưng cũng đưa ra một sự linh hoạt. Ban hội thẩm có thể tuân theo các thủ tục khác sau khi đã tham vấn với các bên (Điều 12.1 và đoạn 11 trong Phụ lục 3 của DSU). Việc giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm được thực hiện chủ yếu thông qua các cuộc họp và tuân theo nguyên tắc bí mật. Kết thúc giai đoạn xem xét vụ việc, một báo cáo của Ban hội thẩm sẽđược đệ trình và thông qua tại DSB, trừ trường hợp có thông báo về việc kháng cáo của các bên tranh chấp gửi tới DSB trước thời điểm DSB thông qua bản báo cáo này.
(iii) Giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm
Việc xét xử phúc thẩm đối với các tranh chấp về chống BPG hoàn toànđược tiến hành theo qui định của DSU bởi ADA không có qui định cụ thể nào khác. Giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm là giai đoạn giải quyết tranh chấp, theo đó, DSU cho phép các bên tranh chấp được kháng cáo đối với báo cáo của Ban hội thẩm (Điều 16.4 của DSU). AB sẽ là cơ quan chuẩn bị các thủ tục làm việc trên cơ sở tham vấn với Chủ tịch DSB và Tổng Giám đốc WTO. Bên cạnh các qui định của DSU, việc xét xử phúc thẩm của AB còn phải tuân theo “Thủ tục làm việc đối với rà soát phúc thẩm”. Tính đến hết tháng 12/2013, bản bổ sung mới nhất liên quan tới thủ tục làm việc của AB là tài liệu số WT/AB/WP/6 và có hiệu lực áp dụng đối với các kháng cáo được khởi xướng từ ngày 15/9/2010 [69].
Giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm được bắt đầu bằng một văn bản kháng cáo gửi tới DSB trước khi DSB thông qua báo cáo của Ban hội thẩm. Việc xét xử
55
phúc thẩm cũng được thực hiện chủ yếu thông qua các cuộc họp và trên cơ sởđảm bảo nguyên tắc bí mật. Kết thúc quá trình xem xét kháng cáo, AB sẽđệtrình các báo cáo lên DSB và sẽ được DSB tiến hành việc thông qua. Báo cáo của AB là cuối cùng và các bên không được phép kháng cáo.
(iv) Giai đoạn thực thi quyết định của DSB
Việc thực thi các quyết định của DSB liên quan tới các tranh chấp vềchống BPG sẽ được điều chỉnh bởi DSU. Thông thường để thi hành các báo cáo của Ban hội thẩm và AB đã được thông qua, DSB sẽ ra một quyết định yêu cầu bên thua kiện xóa bỏ các biện pháp được xác định là vi phạm và phải tuân thủcác qui định của WTO về chống BPG (trong trường hợp đơn kiện đưa ra là loại đơn kiện vi phạm và nguyên đơn được xử thắng) hoặc để tìm kiếm một sự điều chỉnh thỏa mãn các bên (trong trường hợp đơn kiện đưa ra là loại đơn kiện không vi phạm và nguyên đơn được xử thắng). Các bên liên quan tới tranh chấp phải chấp nhận các báo cáo đã được thông qua này một cách vô điều kiện (Điều 17.4, DSU). DSB có trách nhiệm giám sát việc thực hiện của bên thua kiện đối với các quyết định mà cơ quan này đã thông qua.
Theo qui định của DSU, nếu bên thua kiện không thực hiện quyết định của DSB trong thời hạn hợp lý đã được xác định thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu bên thua kiện bồi thường, hoặc sau đó, có thể áp dụng các biện pháp trả đũa thương mại đối với bên thua kiện, theo thứ tự lần lượt, bao gồm biện pháp trảđũa song hành, trả đũa chéo lĩnh vực và trả đũa chéo hiệp định.
e. Vấn đề bảo mật trong quá trình giải quyết tranh chấp về chống bán phágiá tại WTO
Bảo mật là một trong những đặc tính nổi bật và là một nguyên tắc cơ bản của DSM của WTO. Trong chính bản thân DSU đã có không ít hơn 6 điều khoản như Điều 4.6, Điều 5.2, Điều 13.1, Điều 14.1, Điều 17.10, Điều 18.2, hay như
56
đoạn 3 trong Thủ tục làm việc nêu tại Phụ lục 3, đoạn 5 trong Phụ lục 4đề cập tới vấn đề này. Vấn đề bảo mật được yêu cầu ở nhiều giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết tranh chấp và dưới nhiều hình thức khác nhau. Yêu cầu bảo mật xuất hiện ở cả giai đoạn tham vấn, hòa giải, hội thẩm cũng như giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm.
Nội dung cụ thể của yêu cầu bảo mật đó là:
(i) Các cuộc họp của DSB, Ban hội thẩm và AB đều là họp kín;
(ii) Các văn bản đệ trình của các bên tranh chấp và các bên thứ ba lên Ban hội thẩm hoặc lên AB cũng phải đảm bảo tính bảo mật. Chỉ có các bên tranh chấp mới có quyền công bố các tài liệu đã được đệ trình của mình. Trên thực tế, có rất ít các thành viên, ví dụ như Hoa Kỳ và EU, chọn cách công bố các bản đệtrình, còn thì phần lớn các nước còn lại đã chọn cách không công bố và bảo mật [44, tr. 212];
(iii) Các thành viên của Ban hội thẩm, các thành viên của AB, các thành viên trong đoàn đại diện của các bên tranh chấp và của các bên thứ ba, các luật sư tư vấn và những chuyên gia độc lập – những người ngày càng tham gia thường xuyên hơn vào phái đoàn của các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba xuất hiện trước Ban hội thẩm và AB phải có nghĩa vụ bảo mật các thông tinđược tiếp cận. DSU cũng đã qui định, các bên tranh chấp và các bên thứ ba phải có trách nhiệm đối với tất cả các thành viên trong phái đoàn của mình và phải đảm bảo rằng tất cả các thành viên trong phái đoàn, bao gồm cả các luật sư tư vấn, phải hành động phù hợp với các nguyên tắc của DSU và bản Thủ tục làm việc của Ban hội thẩm, đặc biệt liên quan tới tính bảo mật của qui trình tố tụng [99];
(iv) Đối với qui trình xét xử tại Ban hội thẩm và AB, việc bảo vệ các thông tin bí mật chủ yếu dựa trên Điều 17.10 và Điều 18.2 của DSU [44, tr. 216]. Trong các vụ điều tra chống BPG, rất nhiều các sự kiện thực tế có liên quan đặt
57
ra yêu cầu phải bảo mật, đặc biệt là những thông tin bí mật kinh doanh hay những thông tin thương mại có tính “nhạy cảm” mà việc để lộ các thông tin này có thể ảnh hưởng lớn tới lợi ích hợp pháp của bên cung cấp. Do vậy, ADA còn có những qui định cụ thể hơn so với DSU về vấn đề bảo mật thông tin. TheoĐiều 17.7 của ADA, đối với qui trình xét xử tại Ban hội thẩm, trên cơ sở phù hợp và cụ thể hóa qui định trong Điều 18.2 của DSU, theo đó, các thông tin mật cung cấp cho Ban hội thẩm sẽ không được tiết lộ mà không có sự cho phép của cá nhân, tổ chức hay cơ quan cung cấp các thông tin đó. Trong trường hợp có yêu cầu từ một thành viên WTO khác, bên tranh chấp được yêu cầu cung cấp thông tin phải cung cấp một bản tóm tắt các thông tin được ghi nhận trong các tài liệu đã được đệ trình trước đó tới Ban hội thẩm và các thông tin này có thể được công bố công khai ra công chúng. Tuy nhiên, những điều khoản này cũng chưa qui định thời hạn cụ thể cho việc cung cấp bản tóm tắt không cần phải bảo mật này. Bởi vậy, trong một số trường hợp, khi các thành viên WTO yêu cầu có một bản tóm tắt như thế thì thông thường, yêu cầu này được đáp ứng rất chậm so với tiến trình thực tế của vụ việc. Bên cạnh đó, bổ sung một cách gián tiếp cho quiđịnh tại Điều 17.7 của ADA về vấn đề bảo mật, Điều 17.5(ii) của ADA cũng đã qui định rằng các Ban hội thẩm sẽ tiến hành kiểm tra các vấn đề tranh chấp dựa trên “những sự kiện thực tế phù hợp với các thủ tục trong nước đối với các cơquan có thẩm quyền của thành viên nhập khẩu”. Rõ ràng, cùng với Điều 17.6(i), các qui định này đã không hề có bất kì sự cản trở nào đối với Ban hội thẩm trong việc kiểm tra các sự kiện thực tế chưa được công bố hoặc được nhắc tới bởi các bên quan tâm tại thời điểm đưa ra sự đánh giá cuối cùng [99].
f. Vấn đề qui tắc đạo đức nghề nghiệp trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
58
Trong DSM của WTO, qui tắc đạo đức nghề nghiệp có một tầm quan trọng và vai trò hết sức đặc biệt. Ngoài qui định tại Điều 18.1 của DSU, DSBđã thông qua một Bộ qui tắc đạo đức đi kèm với DSU (The Rules of Conduct for the Understanding on Rules and Procedures Governing the Settlement of Disputes), thường được gọi tắt là “Bộ qui tắc đạo đức” (The Rules of Conduct), ban hành trong tài liệu số WT/DSB/RC/1 ngày 11/12/1996, nhằm điều chỉnh các vấn đề vềqui tắc đạo đức nghề nghiệp trong khuôn khổ DSM của WTO áp dụng cho tất cả
“những người được điều chỉnh” bao gồm: các hội thẩm viên, các trọng tài và thành viên của AB, Ban thư ký của WTO, nhân viên của Ban thư ký của AB, và các chuyên gia hỗ trợ cho Ban hội thẩm. Các chủ thể này được yêu cầu phải độc lập và công bằng, tránh những xung đột lợi ích một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, tôn trọng tính bảo mật của qui trình tố tụng, và đồng thời, họ còn phải có nghĩa vụ công bố một số thông tin cá nhân liên quan theo qui định (Đoạn II(1), Đoạn III(1) và Phụ lục 2 của Bộ qui tắc đạo đức). Trong trường hợp phát hiện có vi phạm, các bên tranh chấp có thể đưa ra yêu cầu thay thế. Theo qui định tại Phần VIII của Bộ qui tắc đạo đức, tùy thuộc vào đối tượng bị đề nghị thay thế là nhân viên Ban thư ký WTO, hội thẩm viên hay thành viên AB mà ý kiến phản đối được gửi, một cách tương ứng, tới Tổng Giám đốc WTO, Chủ tịch DSB hay AB.
Liên quan tới vấn đề các qui tắc đạo đức nghề nghiệp có thể áp dụng đối với các nhà tư vấn riêng làm việc đồng thời cho một bên tranh chấp và bên thứba, một vấn đề đã nảy sinh đó là liệu một nhà tư vấn pháp lý có thể được phép đại diện đồng thời cho cả nguyên đơn và bên thứ ba được không [101]. Về vấn đề này, bản thân WTO không qui định thêm bất kì qui tắc nào điều chỉnh hành viđạo đức của nhà tư vấn pháp lý đại diện cho các thành viên WTO trong các tranh chấp cụ thể. Tuy nhiên, trách nhiệm của các nhà tư vấn pháp lý là phải đảm bảo rằng họ sẽ không đặt mình vào vị trí có sự xung đột về lợi ích chủ yếu và thực sự
59
khi họ đồng ý nhận lời làm đại diện, và tiếp theo đó, là đại diện cho một hoặc một số thành viên WTO trong một vụ tranh chấp được giải quyết theo DSU [44, tr. 218]. Tất nhiên, nếu các bên đã được thông báo đầy đủ về việc một nhà tư vấn sẽ làm đồng đại diện và họ đưa ra văn bản thể hiện sự chấp thuận thì nhà tư vấn vẫn được làm đồng đại diện trong trường hợp này [101].
2.3.2. Qui định đặc biệt và khác biệt trong DSM của WTO dành cho các nước đang phát triển
Trong DSM của WTO nói chung và trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp về chống BPG nói riêng, các thành viên đang phát triển của WTO được hưởng những đối xử đặc biệt và khác biệt bao gồm:
Một là, theo DSU, WTO dành chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước đang phát triển trong các giai đoạn của qui trình giải quyết tranh chấp (tham vấn, hội thẩm, thực thi quyết định của DSB), ví dụ như kéo dài một số thời hạn, cân nhắc lợi ích trong quá trình giải quyết tranh chấp v.v [29],[77].
Hai là, theo Điều 3.12 của DSU, WTO cho phép áp dụng thủ tục rút gọn căn cứ vào yêu cầu của một thành viên đang phát triển trên cơ sở Quyết định ngày 5/4/1966, theo đó, WTO cho phép ưu tiên áp dụng các qui tắc và thủ tục tương ứng của Quyết định BISD 14S/18 ngày 5/4/1966 so với Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 12 của DSU trong các vụ kiện mà bên nguyên đơn là nước đang phát triển kiện một thành viên phát triển có viện dẫn tới Quyết định này.
Ba là, theo Điều 27.2 của DSU, WTO có những hỗ trợ về kĩ thuật và pháp lí dành cho các thành viên đang phát triển. Ban Thư ký WTO có một chuyên gia chuyên trách và hai tư vấn gia độc lập làm việc bán chuyên trách để thực hiện việc tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho các thành viên đang phát triển trên nguyên tắc tôn trọng tính trung lập, khách quan, đồng thời Ban Thư ký cũng tiến hành việc tổ chức các khoá đào tạo đặc biệt về DSM cho các thành viên [29].
60
Bốn là, các nước đang phát triển được sử dụng các nhà tư vấn và ACWL. Đây là một cơ chế hỗ trợ tương đối hiệu quả mà các thành viên đang phát triển có thể sử dụng khi tham gia vào giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO, đặc biệt là đối với các tranh chấp về chống BPG vốn mang đầy tính kỹ thuật và rất phức tạp. Trên thực tế, tính từ tháng 07/2001 cho đến tháng 12/2013, trong tổng số 38 hoạt động hỗ trợ của các nhân viên ACWL, thì có tới 12 hoạt động là hỗ trợ cho các bên trong những vụ tranh chấp về chống BPG. Trong số các nước đã từng sử dụng sự hỗ trợ từ ACWL, thì Thái Lan là nước dẫn đầu với 6 lần; tiếp đó là Inđônêxia với 2 lần; các nước còn lại là Pêru, Goatêmala, Pakíttăng và Bănglađét, mỗi nước nhận sự hỗ trợ 1 lần [52].
Trải qua hơn 19 năm vận hành DSM của WTO, qui định về những đối xửđặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển thực sự chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn và cũng chưa mang lại những tácđộng đáng kểnào để thúc đẩy sự tham gia của các nước đang phát triển vào quá trình giải quyết tranh chấp [48].
Từ quá trình tham gia của các thành viên đang phát triển vào việc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế nói chung và các tranh chấp về chống BPG nói riêng, có thể thấy, việc các qui định vềđối xửđặc biệt và khác biệt không phát huy được hiệu quả xuất phát từ hai lý do: một là, hầu hết qui định vềưu đãi trong DSU còn khá chung chung và chủ yếu là mang tính nguyên tắc, thiếu các qui định cụ thể [25, tr. 76-80]. Nhiều qui định về ưu đãi trong DSU chủyếu đề ra những nguyên tắc với cách diễn đạt không cụ thể như “cần cân nhắc”
(“…shall consider…”) hay “có tính đến” (“…shall take into account…” hoặc
“…in which account has been taken of…”) hoặc “cần đặc biệt chú ý tới”
(“…should give special attention to…” hoặc “particular attention should be
paid to…”) v.v. Do đó, trên thực tế, rất khó để DSB, Ban hội thẩm, AB hay
61
chính bản thân các thành viên đang phát triển vận dụng các qui định này; hai là, các thành viên đang phát triển, đặc biệt là các thành viên chậm phát triển, còn chưa thực sự tích cực tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp của WTO, vàcho dù một số thành viên cũng đã tham gia thì họ cũng gặp nhiều bất lợi bởi những yếu kém về nguồn lực tài chính, đội ngũ chuyên gia cũng như kinh nghiệm để khởi kiện và theo đuổi các vụ kiện tại WTO, và quan trọng hơn cả là nhiều thành viên đang phát triển bị hạn chế trong việc đưa ra các biện pháp trừng phạt thương mại để đảm bảo sự tuân thủ. Rõ ràng, biện pháp trả đũa là một trong những biện pháp được phép áp dụng nhằm bảo đảm cho việc thi hành các quyết định của DSB mà WTO cho phép bên thắng kiện thực hiện. Tuy nhiên, ngay cảkhi một thành viên đang phát triển thắng kiện, nếu bên thua kiện không chịu thi hành quyết định của DSB, thì bên thắng kiện cũng không có khả năng trên thực
tế để viện dẫn đến những biện pháp trả đũa, và như thế, các thành viên đang phát triển đã bị “tước mất” một trong những công cụ hiệu quả nhất để buộc bên thua kiện phải thi hành quyết định của DSB [16, tr. 65-66].
Với những tranh chấp vốn dĩ phức tạp như các tranh chấp về chống BPG, những khó khăn nói trên càng tạo ra những thách thức thực sự với các thành viên đang phát triển. Rõ ràng, khi việc sửa đổi, bổ sung các qui định của DSU vẫn chỉđang được đàm phán và cho tới nay, cũng chưa đạt được một kết quảđáng kểnào và cho dù, trong tương lai có đạt được một số thành công đi chăng nữa, thì các thành viên đang phát triển cũng cần phải hiểu rằng, những ưu đãi dành cho họ trong khuôn khổ WTO không có nghĩa là làm giảm nhẹ nghĩa vụ, làm tăng các quyền về nội dung hoặc cho phép thời gian ân hạn [29], mà chủ yếu là những ưu đãi về thủ tục nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho các nước đang phát triển trong quá trình thực thi các quyền và nghĩa vụ trong hệ thống thương mại đa phương nói chung và trong DSM nói riêng. Do đó, sự trợ giúp của WTO cũng như
62
ACWL chỉ có tác động phần nào, còn căn bản vẫn phải dựa vào năng lực của chính các thành viên đang phát triển.
2.3.3. Quan hệ tương tác giữa giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá theo pháp luật WTO và giải quyết tranh chấp về bán phá giá theo pháp luật quốc gia thành viên
Về lý luận cũng như trên thực tế, việc giải quyết tranh chấp về chống BPG theo pháp luật WTO chính là việc giải quyết tranh chấp tiếp theo của giải quyết tranh chấp về BPG giữa các doanh nghiệp theo pháp luật của một quốc gia thành viên được nâng lên thành tranh chấp giữa các Chính phủ. Điều này đã dẫn đến sựđan xen và gắn kết chặt chẽ giữa việc giải quyết hai loại tranh chấp này. Tuy nhiên, dù có những mối liên hệ nhất định thì giữa việc giải quyết các tranh chấp về BPG theo pháp luật của một quốc gia thành viên WTO và việc giải quyết tranh chấp về chống BPG theo pháp luật WTO vẫn có những điểm khác biệt cơbản sau đây:
Thứ nhất, về căn cứ khởi kiện, đối với kiện BPG trong nước thì thường làkiện vi phạm theo pháp luật của nước nhập khẩu, trong khi đó, đối với các tranh chấp về chống BPG tại WTO, ngoài khiếu kiện vi phạm, thì WTO còn cho phép có khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện tình huống.
Thứ hai, về đối tượng tranh chấp, theo đó, đối tượng tranh chấp trong các vụ tranh chấp về BPG theo pháp luật của một quốc gia thành viên là sự chênh lệch về giá trong điều kiện thương mại thông thường, còn đối tượng tranh chấp trong các vụ tranh chấp về chống BPG theo pháp luật của WTO là các quyết định về việc áp dụng các biện pháp chống BPG, hoặc các chính sách và pháp luật về chống BPG hàng nhập khẩu không phù hợp với ADA.
Thứ ba, về chủ thể, giải quyết tranh chấp về BPG theo pháp luật của một quốc gia thành viên là giải quyết tranh chấp giữa các doanh nghiệp, còn giải
63
quyết tranh chấp về chống BPG theo pháp luật WTO là giải quyết tranh chấp giữa các thành viên WTO.
Thứ tư, về thời điểm bắt đầu việc giải quyết tranh chấp, một qui trình giải quyết các tranh chấp về BPG theo pháp luật của một quốc gia thành viên bao giờcũng phát sinh trước một qui trình giải quyết tranh chấp về chống BPG theo pháp luật của WTO. Mặc dù, trên thực tế, hai qui trình này có thể được tiến hành song song, nhưng về thời điểm phát sinh, việc giải quyết các tranh chấp về BPG bao giờ cũng phát sinh trước việc giải quyết tranh chấp về chống BPG. Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý là một thành viên WTO vẫn có quyền bắt đầu ngay thủ tục của DSU khi mà một vụ kiện trong nước có liên quan vẫn đang được tiến hành và không cần phải chờ đến khi có quyết định cuối cùng của cơ quan cóthẩm quyền trong nước [19, tr. 64].
Thứ năm, về cơ chế giải quyết tranh chấp. Đối với các tranh chấp về BPG,cơ chế giải quyết tranh chấp thường được sử dụng là cơ chế bán tư pháp (quasi- judicial system), theo đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp được trao cho một hoặc một số cơ quan hành chính, hoặc ở một số nước khác thì thẩm quyền nàyđược trao cho Tòa án (cơ chế tư pháp). Tuy nhiên, dù là theo cơ chế bán tư pháp hay cơ chế tư pháp, thì các nước đều cho phép tiếp tục các thủ tục tố tụng khởi kiện tiếp theo ra Tòa án [19, tr. 64-65]. Trong khi đó tại WTO, các vụ tranh chấp về chống BPG được xét xử chỉ bởi một Ban hội thẩm ở cấp xét xử thứ nhất vàmột Ban xét xử phúc thẩm (Division) của AB ở cấp xét xử thứ hai, và sau khi vụtranh chấp đã được xét xử phúc thẩm thì nó sẽ không được phép đưa ra để xét xửtiếp theo tại bất kỳ một cơ quan nào khác.
Thứ sáu, về pháp luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp, đối với tranh chấp về BPG, là pháp luật quốc gia (pháp luật của nước nhập khẩu), trong khi
64
đó, đối với tranh chấp về BPG giữa các thành viên WTO, thì đó là, pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.
Thứ bảy, về hậu quả pháp lý. Đối với các tranh chấp về BPGđược giải quyết bởi pháp luật quốc gia thì sản phẩm bị kết luận là có BPG có thể bị áp thuếchống BPG hoặc bị áp dụng các biện pháp phi thuế quan hoặc kết hợp cả hai loại này. Trong khi đó, đối với các tranh chấp về chống BPG tại WTO, DSB thường yêu cầu nước thua kiện phải điều chỉnh các biện pháp hoặc những qui định pháp luật trong nước đã được DSB đề xuất trong quyết định.
2.4. Nội dung những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
2.4.1. Phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống bán phá giá được giải quyết tại DSB
Phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB được giới hạn trong bốn vấn đề: thuế chống BPG chính thức, sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá, biện pháp tạm thời và sự không phù hợp trong các quiđịnh pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA. Các vấn đề tranh chấp nói trên cần phải được xác định rõ ràng trong đơn yêu cầu thành lập Ban hội thẩm của bên khiếu kiện theo Điều 17.4 của ADA và Điều 6.2 của DSU [94]. Ởđây, cần có sự phân biệt giữa “vấn đề cụ thể được xác định” trong các vụ tranh chấp về chống BPG và “các căn cứ pháp lý” của khiếu kiện được viện dẫn ra trước DSB liên quan tới những biện pháp cụ thể này. Điều 17.4 của ADA không làm hạn chế hay ảnh hưởng tới phạm vi của các căn cứ pháp lý được viện dẫn nhằm chứng minh có sự mất đi hay sự giảm đi của các lợi ích của thành viên khiếu kiện hoặc sự cản trở đối với việc đạt được các mục tiêu của ADA nhưng bắt buộc trong đơn yêu cầu thành lập Ban hội thẩm của bên khiếu kiện phải xácđịnh được rõ họ muốn khiếu kiện vấn đề cụ thể nào trong bốn vấn đề nói trên.
65
Bên khiếu kiện cũng không gặp phải bất kỳ sự cản trở nào từ Điều 17.4 và các qui định khác của ADA nếu họ muốn khởi kiện chung một số vấn đề với nhau trong cùng một vụ kiện, và thông thường, vụ kiện đó có tên gọi là “vụ tranh chấp về các biện pháp đối với sản phẩm…nhập khẩu từ…” hoặc “vụ tranh chấp về các biện pháp chống BPG đối với sản phẩm…nhập khẩu từ…”.
a. Vấn đề tranh chấp về thuế chống bán phá giá chính thức
Thuế chống BPG chính thức (Definitive anti–dumping duties) là một khoản thuế nhập khẩu bổ sung đánh vào hàng nhập khẩu được xác định là cóBPG để nâng giá của hàng nhập khẩu trở lại với giá trị thông thường. Thuếchống BPG chính thức không thay thế cho các nghĩa vụ về thuế nhập khẩu, đồng thời, nếu được áp dụng thì nó cũng sẽ không được phép vượt quá biên độ BPG
(Điều 9 của ADA). Để được áp dụng thuế chống BPG chính thức, thành viên WTO phải khởi xướng và tiến hành các thủ tục điều tra và ra một quyết định vềviệc áp thuế theo đúng qui định. Thành viên WTO có các doanh nghiệp bị áp thuế chống BPG theo quyết định nói trên, nếu thấy có vi phạm hoặc có đủ các căn cứ khác để khởi kiện, thì có thể kiện thành viên đã ban hành quyết định này ra DSB hoặc lựa chọn một phương thức giải quyết tranh chấp khác mà họ thấy phù hợp. Như vậy, trong trường hợp này, giữa hai thành viên WTO đã phát sinh một tranh chấp về thuế chống BPG chính thức.
Ngoài những đặc điểm chung của các tranh chấp về chống BPG, tranh chấp về thuế chống BPG chính thức còn có các đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, tranh chấp về thuế chống BPG chính thức là một trong ba loại tranh chấp về chống BPG được liệt kê tại Điều 17.4 của ADA.
Thứ hai, đối tượng của các tranh chấp về thuế chống BPG chính thức là quyết định về việc áp thuế chống BPG của thành viên nhập khẩu. Điều 17.4 của ADA qui định: “…[nếu] cơ quan có thẩm quyền của thành viên nhập khẩu đã
66
thực hiện hành động cuối cùng nhằm áp dụng thuế chống BPG… [thì] thành viênđó có thểđưa vấn đề này ra cơ quan giải quyết tranh chấp (“DSB”)…”. Nhưvậy, theo Điều 17.4 của ADA, cụm từ “hành động cuối cùng được thực hiện” (“a final action has been taken”) không yêu cầu thuế chống BPG đã được thu trên thực tế, mà chỉ đơn thuần yêu cầu rằng “hành động cuối cùng” để áp dụng thuế chống BPG chính thức (“to levy definitive anti–dumping duties”) đã được thực hiện, thông thường, đó chính là việc ban hành một quyết định về việc áp
dụng thuế chống BPG chính thức. Trong vụ Mêxicô – Thuế chống BPGđối với thịt bò và gạo (DS295), AB và Ban hội thẩm đều thống nhất khi cho rằng “một khoản thuế chống BPG được coi là “chính thức”, và do đó nó thỏa mãn một trong các điều kiện để được rà soát theo Điều 9.3 và Điều 11.2 của ADA, kể từthời điểm có quyết định cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền điều tra” và “sản phẩm sẽ bị áp thuế ngay sau khi kết thúc cuộc điều tra và ra quyết định cuối cùng về việc áp thuế chống BPG” [97]. Cụm từ thuế chống BPG “chính thức” (“definitive” hoặc “final” duties) được sử dụng để phân biệt với khoản thuế“tạm thời” (“provisional” duties) – là một loại biện pháp tạm thời có thể được áp dụng với sản phẩm nhập khẩu trong quá trình điều tra.
Thứ ba, căn cứ pháp lý được viện dẫn trong các vụ tranh chấp về thuếchống BPG chính thức có thể liên quan tới phần lớn các điều khoản của ADA bởi quyết định về việc áp thuế chống BPG là kết quả cuối cùng của cả một quátrình điều tra của cơ quan có thẩm quyền của bên bị khiếu kiện. Tuy nhiên, theo thống kê của WTO, các điều khoản thường xuyên được bên khiếu kiện viện dẫn là các điều: Điều 1, 2, 3, 5, 6, 9, 12, 18 và Phụ lục II của ADA cũng như Điều VI của GATT 1994 [78].
Các tranh chấp về thuế chống BPG chính thức là loại tranh chấp về chống BPG phổ biến nhất trong khuôn khổ WTO. Các thành viên WTO chủ yếu lựa
67
chọn để khởi kiện đối với loại tranh chấp này là bởi vì: thứ nhất, quyết định áp thuế chống BPG chính thức, trong trường hợp cần phải sử dụng biện pháp này, mới là quyết định cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền của thành viên nhập khẩu để giải quyết các tranh chấp về BPG giữa các doanh nghiệp xuất khẩu vàdoanh nghiệp trong nước sản xuất các sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu, bởi vậy, quyết định của DSB đối với việc giải quyết tranh chấp về thuếBPG chính thức mới giải quyết được tranh chấp về chống BPG giữa hai thành viên WTO một cách triệt để hơn. Trong trường hợp một thành viên quyết định khởi xướng một vụ kiện về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá, biện pháp tạm thời hay sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA, dù họ đã bỏ nhiều chi phí, thời gian và nhân lực để theo đuổi vụ kiện và ngay kể cả khi họ giành được thắng lợi thì điều đó cũng không có nghĩa, các sản phẩm xuất khẩu của họ có thể thoát khỏi việc bị áp thuế chống BPG chính thức. Vì thế, họ có thể vẫn phải tiếp tục theo đuổi một vụ kiện tiếp theo về thuế chống BPG chính thức với những tốn kém không nhỏ về chi phí, thời gian và nguồn nhân lực; thứ hai, khi khiếu kiện về thuế chống BPG chính thức, bên khiếu kiện vẫn có thể bao hàm trong đó những căn cứ pháp lý và sửdụng các lập luận để chứng minh cho sự vi phạm khác của bên bị khiếu kiện, nếu có, trong việc áp dụng các biện pháp tạm thời, sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá và sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của bên bị khiếu kiện với nội dung của ADA. Trên thực tế, một số vụ kiện về biện pháp tạm thời đã chỉdừng lại ở giai đoạn tham vấn, bởi sau đó, bên khiếu kiện đã khởi kiện một vụtranh chấp khác về thuế chống BPG chính thức. Ví dụ như khi Thái Lan khởi kiện Hoa Kỳ ra WTO về việc áp dụng biện pháp tạm thời đối với sản phẩm tômđông lạnh nhập khẩu (vụ DS324) tại thời điểm ngày 09/12/2004, thì vụ tranh chấp về BPG đối với sản phẩm tôm đông lạnh nhập khẩu giữa các doanh nghiệp
68
của Thái Lan và Hoa Kỳ vẫn đang được giải quyết bởi USDOC. Đầu năm 2006, USDOC ban hành quyết định áp thuế chống BPG đối với sản phẩm tôm đông lạnh nhập khẩu của Thái Lan và ngay sau đó, ngày 24/04/2006, Thái Lan đã khởi kiện vụ kiện thứ hai đối với Hoa Kỳ ra WTO (vụ DS343). Vụ DS324 vẫn dừng lại ở giai đoạn tham vấn [72],[73].
b. Vấn đề tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá
Biện pháp cam kết giá (Price undertakings) là biện phápcó thể được chấp nhận như là một giải pháp thay thế cho việc áp dụng thuế chống BPG chính thức (Điều 8, ADA). Đặc điểm nổi bật nhất của biện pháp cam kết giá chính là tính chất tự nguyện của các nhà xuất khẩu và cơ quan điều tra có thẩm quyền, không chịu sự bắt buộc hay phụ thuộc vào ý chí của bất kì chủ thể nào khác. Cam kết giá là việc nhà xuất khẩu tự nguyện đưa ra cam kết tăng giá hoặc ngừng xuất khẩu phá giá vào thị trường đang điều tra. Biện pháp này chỉđược đề xuất sau khi cơ quan điều tra có thẩm quyền của nước nhập khẩu đã ban hành quyết định sơ bộ về việc có BPG, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả và đểđược chấp nhận là giải pháp thay thế cho việc áp dụng thuế chống BPG, biện pháp này phải nhận được sự đồng ý của cơ quan điều tra có thẩm quyền của nước nhập khẩu. Trong trường hợp cơ quan điều tra có thẩm quyền nhất trí với biện pháp cam kết giá mànhà xuất khẩu đưa ra, thì cơ quan này sẽ ra quyết định chấp thuận một biện pháp cam kết giá, đồng thời đình chỉ hoặc kết thúc cuộc điều tra mà không cần áp dụng biện pháp tạm thời hoặc thuế chống BPG chính thức, ngược lại, nếu họkhông chấp thuận, thì cuộc điều tra vẫn được tiếp tục.
Ngoài những đặc điểm chung của các tranh chấp về chống BPG, tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá còn có các đặc điểm riêng sau đây:
69
Thứ nhất, tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá là một trong ba loại tranh chấp về chống BPG được liệt kê tại Điều 17.4 của ADA.
Thứ hai, đối tượng của các tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá chính là quyết định chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền của bên bị khiếu kiện đối với biện pháp cam kết giá đó (The acceptance of a price undertaking).
Thứ ba, căn cứ pháp lý được viện dẫn trong các vụ tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá là Điều 8 của ADA và các điều khoản khác có liên quan.
Theo thống kê của WTO, tính đến hết tháng 12/2013, có bốn vụ tranhchấp về chống BPG có đề cập tới biện pháp cam kết giá, tuy nhiên, đó không phải là những tranh chấp riêng biệt về biện pháp cam kết giá. Phần lớn, nội dung tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá chỉ được nêu ra cùng với tranh chấp về sự không phù hợp của pháp luật của bên bị khiếu kiện với ADA (hai vụ) hoặc trong tranh chấp về các biện pháp chống BPG nói chung (hai vụ) [78]. Thực tế này xuất phát từ hai nguyên nhân cơ bản: một là, cam kết giá làbiện pháp tự nguyện của nhà xuất khẩu, bởi vậy, nếu nhà xuất khẩu đã quyết định sử dụng biện pháp này thì họ sẽ nghiên cứu kỹ pháp luật về chống BPG hàng nhập khẩu của nước nhập khẩu, đồng thời, có những tính toán kỹ lưỡng đểđưa ra mức giá cam kết phù hợp nhằm đạt được sự chấp thuận của cơ quan điều tra của nước nhập khẩu; hai là, mặc dù đây là biện pháp do nhà xuất khẩu chủđộng đề xuất, nhưng luôn kèm theo điều kiện là phải được cơ quan điều tra của nước nhập khẩu chấp thuận, do đó, việc khiếu kiện về biện pháp này có thể dẫn tới những tác động tiêu cực cho những đề xuất cam kết giá khác trong những vụđiều tra chống BPG tiếp theo, nếu có.
c. Vấn đề tranh chấp về biện pháp tạm thời
70
Các biện pháp tạm thời (Provisional measures) là những biện pháp được cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu áp dụng trong quá trình điều tra vụviệc chống BPG. Theo qui định tại Điều 7 của ADA, các biện pháp tạm thời cóthể được áp dụng bao gồm: (i) thuế tạm thời; (ii) đặt cọc hoặc nộp đảm bảo một khoản tiền tương đương với khoản thuế chống BPG dự kiến và không được cao hơn biên độ phá giá được dự tính tạm thời; hoặc (iii) cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhập khẩu thông thường và mức thuếchống BPG dự kiến sẽ áp dụng. Các biện pháp tạm thời chỉ được phép áp dụng khi thỏa mãn đồng thời cả ba điều kiện sau đây (Điều 7.1): (i) việc điều tra đã được bắt đầu theo đúng qui định tại Điều 5 của ADA, và việc này cũngđã được thông báo cho công chúng và đồng thời, các bên hữu quan cũng đã được tạo đầy đủ cơ hội đểđệ trình thông tin và đưa ra nhận xét; (ii) có kết luận sơ bộ về việc BPG và thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước; và (iii) việc áp dụng các biện pháp này là cần thiết để ngăn chặn tổn hại đang xảy ra trong quá trình điều tra. Các biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng trong một thời hạn nhất định (Điều 7.4, ADA) và việc áp dụng chúng phải tuân thủ các qui định liên quan tại Điều 9 của ADA về đánh thuế và thu thuế chống BPG.
Ngoài những đặc điểm chung của các tranh chấp về chống BPG, tranh chấp về biện pháp tạm thời còn có các đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, tranh chấp về biện pháp tạm thời là một trong ba loại tranh chấp về chống BPG được liệt kê tại Điều 17.4 của ADA.
Thứ hai, đối tượng của các tranh chấp về biện pháp tạm thời chính làquyết định áp dụng biện pháp tạm thời của cơ quan điều tra của bên bị khiếu kiện.
Thứ ba, căn cứ pháp lý được viện dẫn trong các vụ tranh chấp về biện pháp tạm thời là Điều 7.1 của ADA và các điều khoản khác có liên quan [78].
71
Tại Điều 7 của ADA, ngoài Điều 7.1, còn có tới bốn điều khoản khác quiđịnh vềnhững nội dung pháp lý khác nhau liên quan đến biện pháp tạm thời, đó là: các loại biện pháp tạm thời có thể được áp dụng (Khoản 2); thời điểm bắt đầu được áp dụng biện pháp tạm thời (Khoản 3); thời hạn áp dụng (Khoản 4) và cách thức áp dụng (Khoản 5). Tuy nhiên, theo qui định tại Điều 17.4 của ADA: “…[Khi] một biện pháp tạm thời có ảnh hưởng đáng kể và… [xét] thấy biện pháp này được thực hiện đi ngược lại với các qui định trong Khoản 1 Điều 7 [ADA]…[cóthể] đưa vấn đề này ra DSB”. Như vậy, có thể thấy, Điều 17.4 của ADA chỉ đề
cập tới mỗi Điều 7.1. Mặc dù chỉ đề cập tới Điều 7.1 khi qui định về phạm vi các tranh chấp về chống BPG có thể khởi kiện ra DSB, nhưng Điều 17.4 của ADA cũng không hề loại trừ khả năng bên khiếu kiện có thể viện dẫn tới cả những khoản khác trong Điều 7 của ADA trong một vụ tranh chấp về biện pháp tạm thời, bên cạnh Điều 7.1; đồng thời, nó cũng không hề loại trừ khả năng, Điều 7 và các khoản của nó được viện dẫn trong những tranh chấp về chống BPG khác, ví dụ như, các tranh chấp về thuế chống BPG chính thức và các tranh chấp về sựkhông phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA. Thông thường, trong các vụ tranh chấp về thuế chống BPG chính thức, bên khiếu kiện vẫn thường viện dẫn cả Điều 7 về biện pháp tạm thời để chứng minh bên bị khiếu kiện đã vi phạm các nghĩa vụ nêu trong ADA. Vậy thì tại sao Điều 17.4 của ADA lại chỉ đề cập tới Điều 7.1? Theo qui định của Điều 17.4 của ADA, các khiếu kiện thuộc phạm vi giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO đều phải liên quan tới “một biện pháp cụ thể” (a specific measure), đã được xác định rõ ràng bằng một quyết định của cơ quan có thẩm quyền của thành viên nhập khẩu. Như vậy, một quyết định về việc áp dụng biện pháp tạm thời, là đối tượng của một vụ tranh chấp tại WTO, chỉ có thể được ban hành nếu đã có một cuộc điều tra được khởi xướng; các thông báo đã được công bố và các
72
bên có lợi ích liên quan đã được tạo những cơ hội đầy đủđểđệ trình các thông tin và đưa ra các ý kiến bình luận; đã có sự xác định sơ bộ về BPG và thiệt hại;đồng thời, chứng minh được sự cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm thời này. Do đó, thời điểm một khiếu kiện về biện pháp tạm thời có thể được chấp nhận đểgiải quyết tại DSB là phải sau khi có quyết định áp dụng biện pháp tạm thời của cơ quan có thẩm quyền của thành viên nhập khẩu theo đúng nội dung được qui định tại Điều 7.1 của ADA. Các khoản khác trong Điều 7 của ADA, đặc biệt là Điều 7.4, lại chủ yếu chỉ qui định những vấn đề liên quan tới các loại tranh chấp
về chống BPG khác [46, tr. 321]. Trong vụ Mêxicô – Sirô ngô (DS132), Ban hội thẩm đã kết luận rằng bên khiếu kiện có thể viện dẫn Điều 7.4 của ADA là căn cứ pháp lý chứng minh cho sự vi phạm của Mêxicô liên quan tới thuế chống BPG chính thức. Theo Điều 10 của ADA, việc áp dụng một biện pháp tạm thời cũng có thể là căn cứ cho việc áp dụng hồi tố đối với thuế chống BPG chính thức. Vì lẽ đó, một khiếu kiện về thời hạn áp dụng biện pháp tạm thời sẽ liên quan tới việc áp thuế chống BPG chính thức [105].
Thứ tư, các khiếu kiện trong các vụ tranh chấp về biện pháp tạm thời luôn là những khiếu kiện vi phạm (ít nhất là vi phạm Điều 7.1 của ADA). Rõ ràng,Điều 17.4 của ADA đã đặt ra đồng thời 2 điều kiện để một tranh chấp về biện pháp tạm thời có thể được giải quyết tại DSB: (1) biện pháp tạm thời đó phải có ảnh hưởng đáng kể (a significant impact); (2) biện pháp này được thực hiện đi ngược lại Điều 7.1 của ADA. Như vậy, chỉ có những tranh chấp phát sinh từ việc áp dụng các biện pháp tạm thời trái với Điều 7.1 của ADA mới thuộc phạm vi các tranh chấp về chống BPG nêu tại Điều 17.4 của ADA.
Mặc dù các tranh chấp về biện pháp tạm thời không phải là loại tranh chấp về chống BPG phổ biến nhất, tuy nhiên, trong một số trường hợp, các thành viên WTO vẫn lựa chọn để khởi kiện đối với loại tranh chấp này bởi vì: thứ nhất, bên
73
khiếu kiện cũng muốn gây áp lực với bên bị khiếu kiện trong việc điều tra chống BPG với một thông điệp rõ ràng về sự sẵn sàng của họ cho những khiếu kiện tiếp theo; thứ hai, kết luận cuối cùng của cuộc điều tra chống BPG có thể là áp thuếhoặc không áp thuế chống BPG. Bởi vậy, nếu có cơ sở, thì có thể khởi kiện ngay đối với việc áp dụng biện pháp tạm thời mà không cần phải chờ tới khi có quyết định áp thuế chống BPG chính thức; thứ ba, bên bị khiếu kiện cũng muốn tranh thủ cơ hội tiếp cận với các thông tin về vụ điều tra chống BPG đang diễn ra trên lãnh thổ của bên bị khiếu kiện trong quá trình giải quyết tranh chấp tại WTO; thứtư, do sự thiếu kinh nghiệm của bên bị khiếu kiện trong việc xác định thời điểm khởi kiện và lựa chọn vấn đề khởi kiện v.v.
d. Vấn đề tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA
Theo Điều 18.4 của ADA, các thành viên WTO có nghĩa vụ “… [nhằm]đảm bảo sự phù hợp của các pháp luật, qui định và các thủ tục hành chính của nước này theo các qui định trong Hiệp định [ADA]…”. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà trong hệ thống pháp luật của một số thành viên vẫn có những qui định không phù hợp với nội dung của ADA. Khi đó, một thành viên khác của WTO có thể khởi kiện đối với các tranh chấp về sự không phù hợp trong các quiđịnh pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA ra DSB.
Ngoài những đặc điểm chung của các tranh chấp về chống BPG, tranhchấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA còn có các đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA không phải là một trong ba loại tranh chấp về chống BPG được liệt kê tại Điều 17.4 của ADA. Tuy nhiên, Điều 17 của ADA không hề loại trừ loại tranh chấp này và theo các báo cáo của Ban hội thẩm
74
và AB tại WTO, đây vẫn là một trong bốn loại tranh chấp về chống BPG mà các thành viên WTO có thể khởi kiện ra DSB. Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp về chống BPG, ngoài các qui định chung của DSU, thì Điều 17 của ADA là điều khoản qui định riêng về vấn đề này. Nếu Điều XXII và Điều XXIII của GATT 1994 là cơ sở pháp lý cho những tranh chấp liên quan tới các điều khoản của GATT 1994, thì Điều 17 của ADA sẽ là cơ sở pháp lý cho việc giải quyết những tranh chấp liên quan tới các điều khoản của ADA. Theo cách diễn đạt của Điều XXIII của GATT 1994 thì điều khoản này cho phép một thành viên của WTO cóquyền khiếu kiện đối với một hệ thống pháp luật. Tương tự như vậy, Điều 17 của ADA cũng cho phép được khiếu kiện đối với một hệ thống pháp luật trừ khi khảnăng đó bị loại trừ, mà rõ ràng, trong toàn bộ Điều 17 cũng như những điều khoản còn lại của ADA đều không hề có bất kỳ sự loại trừ nào [95]. Để làm rõ hơn việc liệu các qui định trong Điều 17 của ADA có đưa ra những hạn chế việc khiếu kiện đối với một hệ thống pháp luật về chống BPG hay không, Báo cáo của AB, vụ Hoa Kỳ – Đạo luật về chống BPG năm 1916, đã phân tích từng điều khoản, bao gồm các điều từ Điều 17.1 đến 17.4. Theo đó, trong Báo cáo của AB đã chỉ rõ, các điều khoản nói trên đều không có sự phân biệt giữa những tranh chấp liên quan tới pháp luật về chống BPG với những tranh chấp liên quan tới các biện pháp chống BPG được áp dụng trong quá trình thi hành hệ thống pháp luật này, bởi vậy, trong từng điều khoản này cũng không hề có bất kỳ sự loại trừnào được nêu ra [95]. Các thành viên của WTO hoàn toàn có quyền khởi kiện một thành viên khác ra DSB khi có sự không phù hợp trong hệ thống pháp luật của thành viên này với ADA.
Thứ hai, đối tượng của tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA chính là những qui định không phù hợp trong pháp luật của bên bị khiếu kiện với nội dung của ADA.
75
Thứ ba, căn cứ pháp lý được viện dẫn trong các vụ tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA là Điều 18.4 của ADA và các điều khoản khác có liên quan [78].
Mặc dù các tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA không phải là loại tranh chấp vềchống BPG phổ biến nhất, tuy nhiên, trong một số trường hợp, các thành viên WTO vẫn lựa chọn để khởi kiện đối với loại tranh chấp này bởi vì:
Một là, khả năng thắng kiện trong các vụ kiện này của phía nguyên đơn là
lớn hơn, bởi lẽ, nếu đã có căn cứ để chứng minh có sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA, cùng với các vụviệc trước đó có liên quan, thì nguyên đơn có nhiều cơ hội để thuyết phục được Ban hội thẩm và AB, trong trường hợp có kháng cáo, cũng như DSB ban hành các quyết định có lợi cho mình;
Hai là, thông thường yêu cầu trong quyết định của DSB đối với những vụtranh chấp loại này là đề nghị bên thua kiện phải đảm bảo sự phù hợp trong các qui định pháp luật của họ với nội dung của ADA. Nếu bên thua kiện thi hành nghiêm chỉnh quyết định này thì rõ ràng bên thắng kiện sẽđược hưởng lợi, không chỉ cho vụ kiện vừa được khởi xướng, mà còn cho cả các vụ kiện tiếp theo có liên quan cũng như hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp của bên thắng kiện có chịu sự điều chỉnh của các qui định pháp luật không phù hợp đó;
Ba là, đây có thể được coi như một biện pháp được sử dụng để gây sức ép với những thành viên có tiềm lực nhưng lại “bảo thủ” trong việc xây dựng vàduy trì các qui định và chính sách không phù hợp như Hoa Kỳ.
Tính đến hết tháng 12/2013, có bảy vụ tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA. Con sốthống kê nói trên không bao gồm những khiếu kiện về vấn đề này được lồng
76
ghép trong các vụ tranh chấp về chống BPG khác. Và một thực tế là bị đơn trong cả bảy vụ tranh chấp này đều là Hoa Kỳ, với chiến thắng phần lớn nghiêng vềcác nguyên đơn [78].
2.4.2. Nội dung một số vấn đề cụ thể khác của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ SỰ THAM GIA CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam

