Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam

Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài luận án

Trong thời gian qua, cùng với chính sách đổi mới, mọi thành phần kinh tế được khuyến khích và tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tham gia kinh doanh

trênthịtrường. Từđó, cạnh tranh ngày càngtrởnên mạnhmẽtrong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hộicủađất nước. Tuy nhiên, cùngvới sựgia tăng mức độcạnh tranh, đãxuất hiện những hành vicảntrở, hạnchếcạnh tranh, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây khó khăn cho hoạtđộngkinh doanh của doanh nghiệp, làm ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh của đất nước.

Trướcthực tếđó, năm 2004, Quốc hộiđã ban hành Luật Cạnh tranh nhằmđiều tiết các hành vi cạnh tranh, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo các cơ hội cạnh tranh bình đẳng, không phân biệt đối xử cho các doanh nghiệp, sửdụng hiệuquảcác nguồnlựcxã hộivà thúc đẩyphát triển kinh tế bền vững. Theo quy định của Luật Cạnh tranh, các hành vi nhưthoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế cũng như các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều chịu sự điều chỉnh của Luật Cạnh tranh.

Từ khi có hiệu lực đến nay, pháp luật cạnh tranh đã bước đầu phát huy vai trò tích cực trong việc phát triển môi trường cạnh tranh lành mạnh, xử lý những hành vi làm sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, sốlượngvụviệc cạnh tranhđược điềutra, xửlý là chưa nhiều (08vụhạnchếcạnh tranh và 122vụcạnh tranh không lành mạnh). Nguyên nhândẫnđến hiệuquảthực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam trong thời gian qua chưađược nhưkỳvọng là do còn nhiềubấtcậpvềquyđịnhcủa pháp luật cạnh tranh, bộ máy thực thi và nhận thức của cộng đồng.

2

Thứ nhất, một số quy định của pháp luật cạnh tranh khó thực thi

– Cơ sở để xác định thị trường liên quan: theo quy định Luật Cạnh tranh hiện hành việc xác địnhmộtdoanh nghiệp có vi phạm các hành vihạnchếcạnh tranh bao gồm:lạmdụng vị trí thống lĩnhthịtrường, tập trung kinh tế, thoả thuậnhạnchếcạnh tranhđược xác địnhtrên cơ sởyếutốthịphần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan. Do đó, vấn đề xác định thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan làhếtsứcquan trọng cóyếutốquyếtđịnhtrong quá trình thực thi. Tuy nhiên, theo quyđịnhhiện hành thì các yếutốđểxác địnhthịtrường liên quan làkhông phù hợp với thực tế do đó gây nhiều khó khăn trong quá trình thực thi.

– Về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế (mua bán và sáp nhập): theoĐiều 18 của Luật Cạnh tranh, pháp luật cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thịtrường liên quan (trừ trường hợp quy định tại Điều 19). Đồng thời, các doanh nghiệp tham gia tậptrung kinhtếcóthịphầnkếthợptừ30-50% trênthịtrường liên quan phải thông báo cho cơ quan cạnh tranhtrướckhi tiến hành các hoạt động tập trung kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế các doanh nghiệp rất khó để tự xác định thị phần của mình trên thị trường liên quan và như vậy rất khó để biết xem mình có thuộc ngưỡng bị cấm hoặc phải thông báo tập trung kinh tế hay không. Do đó, các quy định hiện nayvề vấnđề nàylà không cótính khả thi.

– Pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay chưa quy định rõ ràng về thỏa thuậnhạnchếcạnh tranh. Các quyđịnhhiện hànhchỉđềcậpđếncác hình thức biểu hiện bên ngoàimộtcách cứng nhắc, chưa tiếpcậnđượcbảnchất phản cạnh tranh của hành vi. Chẳng hạn, thỏa thuận ấn định mức giá sàn, giátrần; thỏa thuận tăng giá hoặc giảm giá (khôngchỉởmức cụthể) hoặc thỏa thuận duy trì giá bán lại cho bên thứ ba… là những thỏa thuận có bản chất hạn

3

chếcạnh tranh, nhưng chưa được quy định. Trong khi hành vi kinh doanh, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có hành vi thỏa thuận thayđổi ngày càng phức tạp với nhiều dạng thức khác nhau thì tiếp cận quy định “cứng” như hiện naysẽgây khó khăn cho cơ quan thực thi trong quá trìnhđiềutra, xửlý các vụviệc cụthể. Ngoài ra, thực tiễnmộtsốvụviệc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được cơ quan cạnh tranh xem xét, xử lý cho thấy các hiệphộiđềulà tổchức đứngsau, giữvai tròtổchức, lôi kéo doanh nghiệp tham gia và giám sát việc thực thi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp. Thậm chí trong nhiềuvụviệc, Hiệphộicòn ban hành các “quyếtđịnh”, các “nghịquyết” về giá cả, sản lượng… trên thị trường để các doanh nghiệp thành viên thực hiện. Tuy nhiên, các hành vi nêu trên của hiệphộilạichưa được điều chỉnh trong các quy định hiện hành.

Thứ hai, mô hình cơ quan thực thi chưa phù hợp

– Hiện nay cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam baogồmhai cơquan:CụcQuản lý cạnh tranh (Cơ quan QLCT) vàHộiđồngcạnh tranh (HĐCT). Một trong những nhiệm vụ và chức năng của Cơ quan QLCT là thụlý, tổ chức điều tra các vụ việc liên quan đến hạn chế cạnh tranh để HĐCTxửlý theo quy định của pháp luật. Như vậy, sau khi thụ lý và điều tra, Cơ quan QLCT sẽ phải chuyển vụ việc sang HĐCT để tiến hành xử lý vi phạm. Trong khiđó,HĐCTlạiđược thànhlậpvà hoạtđộngtheo cơ chếliên ngành nên việc vận hành rất khó linh hoạt trong điều kiện các cơ quan nhà nước của Việt Nam như hiện nay. Chính vì vậy, để xử lý được vụ việc cạnh tranh, Cơ quan QLCT và HĐCT phải tiến hành rất nhiều thủ tục và nhiều công đoạn dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong việc phối kết hợp giữa hai cơ quan này.

– Bên cạnh đó, ngoài chức năng thực thi pháp luật cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh còn phải thực hiện thêm các chức năng thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng vệ thương mại dẫn tới nguồn lực dành cho công tác quản lý cạnh tranh bị hạn chế.

4

Thứba, nhận thức của cộngđồngdoanh nghiệpvềpháp luật cạnh tranh chưa cao

Trong số các vụ việc đã xử lý trong thời gian qua, số vụ việc do doanh nghiệpnộphồsơ khiếunạikhông nhiều (chiếm khoảng hơn 20%),hầuhết các vụ xử lý là do cơ quan cạnh tranh tự phát hiện thông qua các phương tiệnđại chúng. Điều này cho thấy, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về vấn đề nàylà chưa cao.

Vì những lý do nêu trên, việc lựa chọnđềtài“Giảipháp nâng cao hiệu quảthực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam” làmđềtài nghiên cứu luận án Tiến sĩ kinh tế sẽ góp phần đưa pháp luật cạnh tranh đến gần hơn với cuộc sống.

2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiêncứucủa đềtài là tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Tổng quan các công trình khoa học đã công bố liênquan đến chủ đềnghiêncứucủa đềtài luận án,xác định những vấn đề đãđượccác nhà khoa học nghiên cứu, những vấn đề chưa được nghiên cứu để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu.

– Đánh giá tổng quan về pháp luật cạnh tranh và thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam.

– Làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật cạnh tranh và hiệu quảthực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam.

5

– Phân tích đánh giá thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Namtừkhi Luật Cạnh tranh và các văn bảnhướng dẫnthi hành có hiệu lực đến nay, từ đó rút ra những bất cập cần được hoàn thiện.

-Đềxuất quan điểm, phươnghướngvà giải pháp nâng cao hiệuquảthực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam trong thời gian tới.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu a. Về nội dung

– Nghiên cứu nội dung các văn bản pháp luật về cạnh tranh của Việt Nam (bao gồm Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành), các nhân tốtác động, ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện pháp luật cạnh tranh.

– Đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của cơ quan quản lýcạnh tranh ở Việt Nam.

b. Về không gian

Hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam và nghiên cứu kinh nghiệmmộtsốnướctrênthếgiới như Hoa Kỳ, Australia, Pháp, Đức, Nhật

Bản, Hàn Quốc…

c. Về thời gian

– Đánh giá thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh từ năm 2005 – 2014.

– Các giải pháp nâng cao hiệu quảthực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2020.

4. Phương pháp nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết

6

hợpphân tíchđịnhtính và địnhlượng, đềtài luận án áp dụng các phương pháp cụ thể sau đây.

4.1. Phương pháp phân tích và thống kê

Được sử dụng nhằm hệ thống hóa các công trình nghiên cứu, lý luận cơbảnvềcác vấnđềliên quan trongĐềtài nghiêncứucủa mình, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp phân tích, thống kê để làm rõ các thuật ngữ, những lý luận sử dụng trong lĩnh vực cạnh tranh, các kết quả nghiên cứu, những vấn đề đang tồn tại mà được các công trình khoa hoc trước đây đã nghiên cứu.

4.2. Phương pháp so sánh

Nhằm kiểm chứng tính chính xác của thông tin được thu thập, phương pháp so sánh được sử dụng trong nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về xây dựng và thực thi pháp luật cạnh tranh và trong phần phân tích đánh giá thực trạng theo khung lý thuyết.

4.3. Phương pháp khảo sát thực tế

Bên cạnh việc nghiêncứucácvấnđềliên quanđếnchính sách cạnh tranh được trình bày trong các đề tài khoa học, các công trình nghiên cứu, cácấnbản khoa học, phương pháp khảo sát thực tế được sử dụngtrong traođổi với chuyên gia, điều tra mẫu một số doanh nghiệp là đối tượng điều chỉnh của Luật. Phương pháp này cungcấpnhữngsốliệu, tài liệu cho đánh giá thực trạng về nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, từ đó làm cơ sở đề xuất trong luận án.

5. Những đóng góp mới của Luận án

5.1. Những đóng góp về lý luận và thực tiễn a. Về lý luận

+ Luận ánhệthống hóa cơsởlý luậnvềhiệuquảthực thi pháp luật

7

cạnh tranh, cụ thể là làm rõ những khái niệm cơ bản về cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh, vị trí vai trò của pháp luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, các đối tượng, yếu tố liên quan đến công tác thực thi pháp luật cạnh tranh, các mô hình tổ chức quản lý nhà nước về pháp luật cạnh tranh trên thế giới.

+ Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh, rút ra bài học và điều kiện áp dụng cho Việt Nam.

b. Về thực tiễn

– Luận án đã nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia về nội dung pháp luật, cơ quan thực thi, các biện pháp nâng cao hiệuquảthực thi, từđókiến nghị bài học có thể áp dụng ở Việt Nam.

-Đềtài luận án phân tích, đánh giá thực trạng hiệuquảthực thi pháp luật cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranhởViệt Nam trong thời gian vừa qua (trong đó đặc biệt chú trọng đến hoạt động điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, các hoạtđộngtuyên truyềnphổbiến…) chỉra những thành tựu, tồntại, khó khăn và nguyên nhân, xác địnhnhữngvấnđềđặt ra cho công tác thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam, tựu trung là:

+ Về nội dung các văn bản pháp luật: Một số quy định liên quan đến quy trìnhđiềutra,xửlývụviệc cạnh tranh, quyđịnhvềxácđịnhthịtrường liên quan và quyđịnh về kiểmsoát hoạt động tập trung kinh tế theo quyđịnhcủa Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn hiện không phù hợp và khó có thểáp dụng trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay ở Việt Nam.

+ Về cơ quan cạnh tranh: Cục Quản lý cạnh tranh hiện nay là cơ quan thuộc BộCông Thương khôngđảmbảovịtríđộc lập, còn ômđồmnhiều chức năng làm phân tán nguồn lực.

+ Về nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp: Trong thời gian gần đây

8

nhận thức cộngđồngdoanh nghiệpvềpháp luật cạnh tranhđã cócảithiện nhưng vẫn ở mức thấp. Đây là một phần nguyên nhân nhiều doanh nghiệp khi quyền lợi của mình bị xâm hại không biết sử dụng pháp luật cạnh tranh như làmột công cụ để bảo vệ mình.

– Xác định bối cảnh trong nước, quốc tế và những vấn đề đặt rađối với nâng cao hiệuquảthực thi pháp luật cạnh tranh trong thời gian tới. Luận ánđã đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh trong thời gian tới, bao gồm:

+ Hoàn thiện pháp luậtvềcạnh tranh, cầnxây dựng Luậtsửađổibổsung Luật cạnh tranh, trongđócầnlàm rõ tiêu chí xác địnhthịtrường liên quan, minh bạch quy trình xử lý vụ việc, áp dụng hình thức xử lý vi phạm hợp lý dựa trên cơ sở phạm vi và mức độ vi phạm; bổ sung và hoàn thiện các quyđịnh liên quan đến các nhóm hành vi vi phạm.

+ Kiện toàntổchức và nâng cao hiệuquảhoạtđộngcủa bộmáy cơ quan thực thi, theođóđềxuất thànhlậpmột Ủyban Cạnh tranhđộc lậpvàđặc biệt chú trọng công tác cán bộ trong thực thi pháp luật cạnh tranh.

+ Nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp, cần thực hiện các hoạtđộngtuyên truyềnphổbiến có trọngđiểmđếncác nhóm doanh nghiệp trong từng lĩnh vực; đa dạng hóa các hình thức tuyên tuyền; thúc đẩyvà sửdụng hiệu quả phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền tới cộng đồng doanh nghiệp.

+ Hợptác quốc tế, đẩymạnh các hoạt động hợptác với cơ quan cạnh tranh nước ngoài và tham gia tích cực vào các diễn đàn cạnh tranh khu vực vàtrên thế giới để tận dụng kinh nghiệm và đào tạo cán bộ.

9

5.2. Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu của Luận án

Từ nghiên cứu lý luận, thực tiễn của Việt Nam và kinh nghiệm của các nước, nghiêncứuđãchỉra hai nhóm tiêu chí làm căncứđánh giá hiệuquảthực thi pháp luật cạnh tranh:

+ Các tiêu chí thể hiện chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật bao gồm tính hợp pháp và tính thực tiễn của văn bản quy phạm pháp luật.

+ Các tiêu chí thể hiện mối quan hệ tương tác của quy phạm pháp luật đối với xã hội bao gồm khả năng tổ chức thực thi của cơ quan thi hành pháp luật và khả năng tiếp cận, tuân thủ của các đối tượng điều chỉnh mà văn bản quy phạm pháp luật hướng tới.

Nghiên cứu đã chỉ ra các bất cập trong quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam trong thời gian qua. Các giải pháp được đưa ra là các giải pháp từ phía Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp, trong đó chỉ rõ tính khảthi, tính hữu dụng của giải pháp, cụ thể:

+ Đối với giải pháp hoàn thiện nội dung pháp luật về cạnh tranh ở Việt Nam: Luận án đã chỉ ra những quy định cần sửa đổi bổ sung phù hợp trên cơsở xây dựng Luật Cạnh tranh sửa đổi.

+ Đốivớigiải pháp kiện toàntổchức và nâng cao nănglựccơ quanđiều tra. Luận án đã chỉ ra Việt Nam không nên tách hai cơ quan cạnh tranh riêng biệt và thực hiện cơ chế Hội đồng như hiện nay và nên thành lập một cơquan riêng biệt, độc lập.

+ Giải pháp nâng cao nhận thức, khả năng tham gia của doanh nghiệp trong việc thực hiện luật: Trên thực tế, để một văn bản pháp luật đi vào cuộc sống, việc nâng cao nhận thức của cộngđồngdoanh nghiệp là hếtsức cần thiết và đòi hỏi phải có nguồn lực. Do đó, Luận án chỉ rõ trong thời gian tới,

Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam
Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam

cơ quan cạnh tranhcầnđa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tậptrung tuyên tuyền trực tiếp đến các doanh nghiệp trong từng ngành, lĩnh vực riêng biệt vàthiết lập quan hệ chặt chẽ với các cơ quan truyền thông.

6. Kết cấu nội dung của Luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận và phụ lục, nội dung của Luận án được kết cấu thành 3 chương.

Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh Chương 2: Thực trạng công tác thực thi pháp luật cạnh tranh của

Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2014

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam

11

PHẦN TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Trong nước và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quanđến pháp luật cạnh tranh và thực thi pháp luật cạnh tranh với mục tiêu và cách tiếp cận khác nhau. Những công trình nghiên cứu điển hình có thể kể đến là:

1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan

15

1.2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan –

2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

3. Những vấn đề được nghiên cứu trong luận án

– Vị trí, vai trò của pháp luật cạnh tranh. Đối tượng liên quan đến công tác thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam.

– Nhântốảnhhưởngvà quyếtđịnhhiệu quảthực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam.

-Đốitượngtrực tiếp ảnhhưởngtớicông tác thực thi pháp luật cạnh tranh cạnh tranh tại Việt Nam.

18

– Nội dung và hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam.

– Những bất cập về các quy định pháp luật cạnh tranh của Việt Nam.

– Kinh nghiệm thực thi pháp luật cạnh tranh trênthếgiới và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam.

– Đánh giá thực trạng công tác thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam trong thời gian qua, định hướng hoàn thiện.

– Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam trong bối cảnh và điều kiện mới.

– Những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luât cạnh tranh trong thời gian tới.

Trênđâylà nhữngvấnđềđược đặtra trongnộidung nghiêncứucủa luận án và cũng là nhữngvấnđềmà các đềtài khoa học trước đâychưa đềcập hoặc có đề cập nhưng chỉ mang tính liệt kê chưa đi sâu phân tích nguyên nhân và đề xuất hướng giải quyết.

19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT

CẠNH TRANH

1.1. Một số khái niệm có liên quan

1.1.1. Khái niệm cạnh tranh và các hình thái cạnh tranh a. Khái niệm cạnh tranh

Khái niệm cạnh tranh với tư cách là một hiện tượng kinh tế, xuất hiện và tồntại như là mộttrong nhữngđặc trưng cơ bảncủa kinhtếthịtrường, phản ánh năng lực phát triển của kinh tế thị trường. Với cách tiếp cận này, TừđiểnKinh doanhcủaAnh năm 1992đãđịnhnghĩa “Cạnhtranh là sựganhđua, sựkìnhđịchgiữa các nhà kinh doanh trênthịtrường nhằm tranh giành cùngmộtloại tài nguyênsảnxuất hoặc cùngmộtloại khách hàngvềphía mình”. Từ điển Luật học cũng giải thích “cạnh tranh là sự đua tranh về kinh tếgiữa các nhà kinh doanh có nhữnglợiích giống nhau trên cùngthịtrường bằng các phương thức khác nhauđểgiànhđược nhiều nhấtvềphía mình khách hàng, thịtrường và thịphần của mộtthịtrường qua đóthulợinhuận nhiều hơn [33]”.

Theo quanđiểmtrên, xéttừgócđộcácchủthểcủa hành vi thì cạnh tranh được coi là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng. Nếu nhìn khái quát trên quy mô toàn xã hội, thì cạnh tranh là phương thức phânbổcác nguồn lực, tài nguyênmộtcáchtốiưu, dođólà độnglựcphát triển kinh tế. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, cạnh tranh có bản chất kinh tế và bản chất xã hội. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích

tạo lập cho mình một ưu thế chi phối thị trường và vì lợi nhuận. Bản chất xã

20

hộicủa cạnh tranh phản ánhđạođức kinh doanh và uy tín của mỗichủthểcạnh tranh trongmốiquanhệđốivớinhữngngườitrực tiếptạora tiềm lực cạnh tranh của doanh nghiệp và trong mối quan hệ với người tiêu dùng và với các đối thủ cạnh tranh khác [20].

b. Các hình thái cạnh tranh

– Cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo.

Căncứvào cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một ngành, lĩnh vực kinh tế, ngườita phânthịtrường thành các hình thái: Cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền và cạnh tranh không hoànhảo[34].

+ Cạnh tranh hoànhảolà hình tháithịtrường trongđógiá cảvà sản lượngcủa mộthàng hoá được hoàn toàn xác địnhbởicung và cầutrênthịtrường, của hàng hóa đó. Do vậy, các doanh nghiệp tham gia thị trường phải chấp nhận giá thị trường.

Theo đó, cạnh tranh hoàn hảo là hình thái thị trường trong đó có nhiều người bán và nhiều người mua một sản phẩm. Bất kỳ người bán và người mua nàođềulà quá nhỏsovớiquy môthịtrường, dovậykhông cókhảnăngđểtác động tới giá của sản phẩm. Điều này có nghĩa là sự thayđổi sảnlượng của một doanh nghiệp hoàn toàn không ảnh hưởng gì tới giá thị trường. Tương tự, mỗingườimua cũng quá nhỏđể có thể đòihỏingườibán nhữngđiềunhư phải giảm giá khi mua nhiều hay bán chịu.

Độc quyền là mộthình tháithịtrường trongđócómộtdoanh nghiệp duy nhất bánmộtsảnphẩm mà không cómộtsảnphẩm thay thế gầngiống với nó (được gọi là độc quyềnbán – monopoly), hoặc chỉ có một người mua (được gọilà độc quyền mua – monopsony). Như vậy,độc quyền là thái cực trái ngược với cạnh tranh hoàn hảo.

Cạnh tranh không hoànhảolà mộthình tháithịtrườngnằmgiữa hai hình thái là cạnh tranh hoànhảovà độc quyền. Cạnh tranh không hoàn hảo bao gồm cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền nhóm.

21

Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thái thị trường có nhiều người bán sản xuất ra những sản phẩm có thể dễ dàng thay thế cho nhau. Mỗi người chỉ có khả năng hạn chế ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm của mình. So với hình thái cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh mang tínhđộc quyền cũng có nhiều doanh nghiệp gia nhậpthịtrường khônghạnchế. Nhưng nó khác vớicạnh tranh hoàn hảo ở chỗ sản phẩm được phân hoá cao độ – mỗi doanh nghiệp đều cómộtloạisảnphẩm khác nhauvề hình dáng, kích thước, nhãn mác, chất lượngvà danh tiếng và mỗidoanh nghiệp là ngườiduy nhấtsảnxuất loại hàng hoá riêng của mình.

Độc quyềnnhóm là mộthình tháithịtrường trongđó chỉcó một số ít các nhà sản xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả của mình không chỉ phụthuộc vàosảnlượngcủa mình mà còn phụ thuộc vào hoạtđộngcủa các đối thủ cạnh tranh quan trọng trong ngành đó.

– Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh

Căncứvào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh, người ta phân loại các hành vi cạnh tranh trên thị trường thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.

+ Cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh tích cực, trong sáng, cạnh tranh bằng tiềm năngvốncó của bảnthân doanh nghiệp. Đólà những hoạtđộng nhằmthu hút khách hàng mà pháp luật không cấm và phù hợpvới

tậpquán thương mại và đạo đức kinh doanh.

+ Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cụ thể của một chủ thểkinh doanh, nhằm mục đích cạnh tranh, luôn thể hiện tính không lành mạnh (không nhất thiết phải trái pháp luật) và vô tình haycốý gây thiệthạicho mộtđối thủ cạnh tranh hay bạn hàng cụ thể.

Như vậy, từ những khái niệm ở trên đây, có thể hiểu rằng cạnh tranh làsự ganh đua nhau giữa các doanh nghiệp về giá cả, số lượng, dịch vụ hoặc kết

22

hợp các yếu tố này để giành nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vịthếcủa mình trênthịtrường. Cạnh tranh trênthịtrườngđược phân chia thành cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền, cạnh tranh không hoànhảonếuxét theo cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh nếu căn cứ vào mục đích và tính chất của các phương thức cạnh tranh.

1.1.2. Khái niệm và lịch sử hình thành pháp luật cạnh tranh a. Khái niệm pháp luật cạnh tranh

Pháp luật cạnh tranh, theo cách hiểuphổbiến nhất trong giới nghiên cứu về lĩnh vực này trên thế giới, bao gồm tất cả các quy định của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi kinh doanh của doanh nghiệp và cấu trúc thịtrường. Pháp luật cạnh tranh baogồmhai mảng chính. Mảngthứnhất là việc ban hành và thực thi một tập hợp các quy định có tác dụng thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường, bao gồm các quy định về gia nhập thị trường và đa dạng hóa các thành phần kinh tế tham gia thị trường, tự do hóa về thương mại cũng như các quyđịnhhiệu quảđiềuchỉnh các hoạtđộngkinh doanh ngành, v.v. Mảngthứhai là baogồmcác chếđịnhpháp lýđược ban bànhđểkiểm soát/ngăn chặn các hành vihạnchếcạnh tranh, hành vi phản cạnh tranh vàcác can thiệp quá mức của Nhà nước vào việc điều tiết thị trường.

b. Lịch sử hình thành pháp luật cạnh tranh

Pháp luật cạnh tranh của các nước ra đời đều bắt nguồn từ nhu cầu của nền kinh tế. Cùng với quá trình phát triển, pháp luật cạnh tranh đã được liên

tục sửa đổiđểphùhợpvớithực tiễn. Luật Cạnh tranh cóthểđược gọitheo nhiều cách khác nhau (vídụ:Luật Cạnh tranh – Competition Law của Anh, Luật chốngđộc quyền- Anti monopoly Act của Nhật Bản, Luật thương mại

lànhmạnh –Fair Trade Law của ĐàiLoan…) nhưng tấtcảđềucómộtmục đích chung là duy trì và bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, cho

23

phép các thực thể kinh tế có cơ hội bình đẳng cạnh tranh cũng như tiếp cận thịtrường. Bảovệngườitiêu dùng thông qua việc khuyến khíchhạgiá và cải thiện chất lượng sản phẩm được xem như một hệ quả của cạnh tranh tự do vàlành mạnh trên thị trường.

Trên thế giới có thể nói Hoa Kỳ là một trong số những nước ban hành pháp luật cạnh tranh sớm nhất, pháp luật cạnh tranh này còn được biết đến với tên gọi là Luật Chống độc quyền. Lịch sử chống độc quyền của Hoa Kỳ nhìn chungđược bắtđầuvớiLuật Sherman năm 1890, đâylà bộluật chốngđộc quyền đầu tiên được thông qua bởi các bang trước khi trở thành bộ luật Liên bang. Luật Shermangồmhai phần chính. Phầnmộtquyđịnhcác thoả thuận gây hạn chế thương mại. Phần hai cấm việc giành được vị thế độc quyền bằng việc sửdụng các biện pháp phản cạnh tranh hoặclạmdụngvịtríđộc quyền (không phải là độc quyềntựnhiên). Mộtđiểmquan trọngcầnlưuýlà Luật Sherman có thể được thực thi như luật dân sự hoặc như luật hình sự, các phán xétđược trao choCụcChốngđộc quyền, BộTư pháp. Cụthể, các hành vi hiển nhiên vi phạm như: ấn định giá tạm thời, thông đồng để thắng thầu sẽ bịtruytốhình sự. Trong năm 1914, haibộluật Liên bang nữa đã được thông qua là Luật Clayton và Luật Uỷ ban Thương mại Liên bang.

Theo quyđịnhcủa Luật Ủyban ThươngmạiLiên bang, FTC được thànhlậpđểthực thi Luật Clayton, Luật Robinson-Patman (ngoạitrừđiều khoảnxửlý hìnhsựtheo Luật Sherman). Mặc dùđã có nhữngsửađổi, bổsungđốivới 3bộluật Liên bang này(điểnhình là Luật Robinson-Patman 1936 và Luật Hart-Scott-Rodino 1976) nhưng về cơ bản là không có sự thayđổi lớn từ năm1914. Đếnnay, hầuhếtcác bang cũngđã thông qua luật của bang căn cứ theo nội dung của Luật Sherman và Luật FTC.

Canada ban hành Luật Cạnh tranhlầnđầutiên năm 1889. Mặc dù có

lịchsửtươngđốidài nhưng Luật Cạnh tranhvẫnkhông cóđược vai trò nổi

24

trội trong các hoạt động kinh tế của Canada cho tới gần đây. Đó một phần làdo cáclựclượngkinhtếvà chínhtrịđứngđằngsau quá trình phát triển của nền kinh tế Canada vốn thích sự phát triển một cơ cấu công nghiệp tương đối tập trung. Canada đã phát triển nền kinh tế của mình với một mức độ thamgia

lớn của Chính phủ. Theo đó, các quy định về âm mưu và duy trì giá đã nhận được sự chú ý đáng kể về mặt thi hành luật nhưng sự phân biệt giá, bán phágiá, sáp nhập và độcquyền thì thực sựbịbỏqua. Năm 1975, Nghị việnđãthực hiện giai đoạn sửa đổi đầu tiên. Điểm đáng chú ý trong sửa đổi lần này là đã mở rộng quyền hành động có giới hạn của tư nhân, biến các hành vi thôngđồngtrongđấuthầu thànhđươngnhiênbấthợppháp, và việc từchối giao dịch, bán hàng có ràng buộc, giao dịch mang tínhđộc quyền và hạnchếthịtrường thành những hành vi được xem xét về mặt dân sự.

Giaiđoạnsửa đổithứhaiđược thực hiện vào năm 1986. Luật, khiđóđược gọi là Luật Điều tra các vụ kết hợp được đổi tên thành Luật Cạnh tranh. Những cuộc cảicách trong năm 1986 cũng baogồmviệc củngcốcác quyđịnhvềâm mưu mang tính hìnhsựcủaLuật, bổsung quyđịnhvềcác thoảthuận chuyên môn hoá và bổsungkhảnăng xem xétvềmặtdânsựhành viđịnhgiá chuyển giao, lạmdụngvịtrí thống lĩnh và sáp nhập. Cuộc cảicách trong năm 1986 cũngtạonênmộtcơ quan pháp luậtmớigọilà Toà Cạnh tranh thay choHộiđồngcác hành vihạnchếthươngmạiđểxửlý các quyđịnh dân sự của Luật.

Vào tháng 3/1999, Luậtđược sửa đổilầnnữa bởiLuật sửa đổiLuật Cạnh tranh. Những sửa đổi lần này đã làm thay đổi Luật về một số khía cạnh rấtquan trọng nhưđã chuyểnmộtsốhành vitừhành vi vi phạm mang tính hình sự thuần tuý sang hành vi được xem xét cả về mặt hình sự và dânsự tuỳ

từng trường hợp; sửa đổi cũng bổ sung quy định miễn trừ và các quy định về

xửlý hìnhsự… Năm 2000, Luật tiếp tục được sửa đổiđểgiao choUỷviên

25

Hội đồngCạnh tranh (Commissioner) và Toà Cạnh tranh những quyền mới đểxửlý các hành vilạmdụngvịtrí thống lĩnhthịtrường của Hàng không Canada (Air Canada).

Trong các nước Châu Âu (Italia, Bỉ, Đức, Đan Mạch, Hà lan, Pháp, Anh và Thụy điển), Đức là quốc gia ban hành pháp luật cạnh tranhrấtsớm. Đức đã ban hành Luật Chống hạn chế cạnh tranh, viết tắt ARC, và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/1958. Tínhđếnnay, Luậtđã được sửa đổi, bổsung 7 lần. Lần sửa đổi cuối cùng có hiệu lực vào tháng 07/2008.

ỞPháp, BộLuật Thươngmạiđã chứa đựngcác quyđịnhvềcạnh tranh. Quay lại lịch sử hình thành và phát triển pháp luật cạnh tranh Pháp, cóthểnhận thấymộtsốthayđổicủapháp luật tuychỉmang tính hình thức nhưng lại có tầm quan trọng đáng kể: Pháp lệnh ngày 01/12/1986 về tự do giácả và tự do cạnh tranh đã bị bãi bỏ và chuyển hoá vào Bộ Luật Thương mại saumộtchương trình phápđiểnhoá rộng lớn. Kểtừnay, nếuxétvềnguồn luật trong nước thì văn bản nền tảng của pháp luật cạnh tranh chính là Quyển IV của Bộ luật Thương mại. Do quá trình pháp điển hoá nên số thứ tự của cácđiềukhoảnđãhoàn toànbịthayđổi. Chính vì vậy, Quyển IVđã dành một phụ lục trong đó trình bày bảng đối chiếu giữa các điều khoản trước đây của Pháp lệnh năm 1996 và các điều khoản hiện hành của BộLuật Thương mại. Một số thay đổi khác của pháp luật cạnh tranh trong nước, chủ yếu xuất phát

từ việc ban hành Luật ngày 15/05/2001 về các biện pháp điều tiết kinh tế mới, là những thay đổi liên quan đến cả luật nội dung lẫn luật tố tụng.

Mặc dù còn nặngvềmặthình thức, nhưng pháp luật cạnh tranh của Châu Âu đã chiếm một vị trí rất quan trọng, có uy tín tại nhiều quốc gia muốn gia nhập Liên minh và tại một số quốc gia khác. Đặc biệt, cách thức áp dụng pháp luật cạnh tranh của Châu Âuđã làm cho cácchủthểkinhtếphải tôn trọng và cân nhắc thận trọng những ràng buộc của pháp luật đó.

26

TạiAnh, Luật Cạnh tranhđược ban hành ngày 09/11/1998đểsửa đổi Luật Thương mại lành mạnh 1973. Luật đã đưa thêm các điều khoản cấm các hành vi phản cạnh tranh (Chương I và Chương II). Văn phòng Thương mại lành mạnh (OFT) có thẩm quyền khá lớn trong việc điều tra các doanh nghiệp được cho là vi phạm Luật và áp dụng các hình phạt đối với các doanh nghiệp này. Luật được sửa đổi ngày 01/05/2004, theo đó đã trao cho OFT quyền điều tra và áp dụng các hình phạtđốivớicác tổchức/các nhân vi phạm các điều khoản cấm theo Điều 81 và Điều 82 của Hiệp ước EC. Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý đối với pháp luật cạnh tranh của Anh là khi tiến hành xử lý, OFT không chỉ dựa trên Luật Cạnh tranh, mà còn tuân theo các quy định pháp luật có liên quan, chẳng hạn Luật Doanh nghiệp 2002 (có điều khoản quy định vi phạm cacten). Theođó,các cá nhân tham gia vàomộttrong các dạng thỏa thuận phản cạnh tranh nghiêm trọng cóthểbịtruycứutrách nhiệm hình sự. Hơn nữa, khi Luật Doanh nghiệp 2002 được ban hành, nước Anh cũng đã tiến hành sửa đổi Luật Truất quyền các nhà điều hành doanh nghiệp. Các nhà điều hành doanh nghiệp khi vi phạm pháp luật cạnh tranh (các hành vi bị cấm theoĐiều81, Điều81 HiệpướcEC và của Luật Cạnh tranh) cóthểphải nhận Lệnh truất quyền cạnh tranh. Lệnh này sẽ chấm dứt các hành vi có liên quan và buộc họ không được quản lý doanh nghiệp trong thời hạn tối đa là 15 năm.

Nhưng quan trọng hơn chính là những thayđổicủa pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu. Khuônkhổpháp luậtđiềuchỉnh các hành vi hạnchếcạnh tranh theo chiềudọcđã được sửa đổingaytừnăm 1999. Quy chế về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế giữa các doanh nghiệp cũng đãđược sửa đổibổsung và có hiệu lực kểtừngày 01/05/2004. Các quyđịnh hướngdẫnthi hànhĐiều81 và các điềutiếp theo của Hiệpước thành lập Cộng đồng Châu Âu đã được sửa đổi một cách toàn diện vào cuối năm 2002 và trong năm 2003. Những sửa đổi nàycũngbắt đầucó hiệu lực kểtừngày

27

01/05/2004. Ở đây cần lưu ý: điều khoản được hướng dẫn thi hành là Điều 81 chứ không còn là Điều 85, bởi sau khi Hiệp ước Amsterdamđược ký kết, đãkéo theo sự thay đổi trong cách đánh số quen thuộc của các điều khoản.

ĐốivớiÚc, pháp luật cạnh tranhđược quyđịnhtrong Luật Thực tiễn Thương mại năm 1974 và Luật Giám sát giá cả năm 1983. Mục đích của Luật Thực tiễn Thương mại (TPA) là nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng của Úc thông qua việc thúc đẩy cạnh tranh và thương mại lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng. TPA liên quan đến hầu hết cácvấn đề trênthị trường: mối quan hệ giữa nhà cung cấp, bán buôn, bán lẻ, các đốithủcạnh tranh và khách hàng. Trên bình diện rộng, TPA giải quyết các vấn đề như các hành vi không lành mạnh trênthịtrường, luật theo ngành, sáp nhập, an toànsảnphẩm, nhãn mác sản phẩm, giám sát giá cả và quy định của các ngành công nghiệp như viễn thông, khí đốt, điện và hàng không.

1.1.3. Khái niệm về thực thi pháp luật cạnh tranh

Thực thi pháp luật được hiểu chung nhất là hoạt động thực hiện và thi hành pháp luật. Theo nghĩa hẹp thực thi pháp luật chỉ là hoạt động của riêng cơ quan quản lý nhà nước trong việc áp dụng, thi hành pháp luật. Nhưng cách hiểu đó là phiến diện và chưa đầy đủ vì pháp luật là những chuẩn mực chung và bất cứ ai trong xã hội đều phải tuân theo. Vì vậy, thực thi pháp luật phải làhoạt động thực hiện và tuân theo pháp luật của tất cả mọi người.

Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích mà các chủ thểpháp luật bằng hành vi của mình thực hiện các quy định pháp luật trong thực tế đời sống.

Thi hành pháp luật là một trong các hình thức của thực hiện pháp luật. Thi hành pháp luật là hình thức thực hiện những quyđịnhtrao nghĩa vụbắt buộc của pháp luật một cách tích cực trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụcủa mình bằng những hành động tích cực.

Ngoài thi hành pháp luật còn có các hình thức thực hiện pháp luật khác:

28

– Tuân thủ pháp luật: chủ thể pháp luật tự kiềm chế mình để không thực hiện hành vi mà pháp luật cấm;

– Sử dụng pháp luật: chủ thể pháp luật sử dụng quyền pháp lí; và

– Áp dụng pháp luật: cá nhân có thẩm quyền hoặc cơ quan nhà nước cóthẩm quyền vận dụng các quy phạm pháp luật hiện hành cho từng trường hợp cụ thể, đối với cá nhân và tổ chức cụ thể;

Nói cách khác, thi hành pháp luật là những hoạt động của các cá nhân, tổ chức nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống. Ví dụ: một người thấy người khác

đang có hành vi vi phạm pháp luật đã tiến hành thông báo cho cơ quan chức năng, tức là người đó đã bằng hành động tích cực thi hành quy định về nghĩa vụ công dân của pháp luật nói chung và của luật hình sự nói riêng.

Theoýkiếncủamộtsốchuyên gia, bảnchấtcủaviệc thực hiện pháp luật là sự chuyển hóa các yêu cầu chung được xác định trong các nguyên tắc và quy phạm pháp luật vào trong các hành vi cụ thể của các chủ thể. Nói thực hiện pháp luật là nói đến một kết quả tích cực của quá trình điều chỉnh pháp luật, mà điềuchỉnh pháp luật thìhướngtớihai yêu cầu: thực hiện hành vi hợp pháp hoặc không thực hiện hành vi trái pháp luật [30].

Quá trình và kết quả của việc thực hiện pháp luật là thước đo hiệu quảđiềuchỉnh pháp luật. Với nhữngyếutốthuộcvềnộidung và hình thức của quá trình thực hiện pháp luật cũng như các yếu tố mang tính tác nhân của quátrình đó, có thể thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của thực hiện pháp luật trong hệ thống pháp lý. Bởi lẽ, thứ nhất, thực hiện pháp luật là một phạm vi độc lập với những hình thức gắn với hoạt động của các chủ thể tương ứng và theo đólà những nguyên tắc, những phạm vi thẩm quyềnnộidung phương pháp vàtrình tự, thủtục thực hiện pháp luật tươngứngvà thích hợp. Thứhai, thực

29

hiện pháp luật là tổngthểnhững hoạtđộngvà hành vihếtsức đa dạngởnhữngcấpđộkhác nhau, từhành vi củacá nhân công dân trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể pháp lý của mình, việc thực hiện các điều kiện tổ chức và hoạt động của một pháp nhân, thực hiện các thẩm quyền và

trách nhiệmcủacác cơ quan công quyền… chođếnhoạt động lập pháp của Quốc hội.

Bên cạnh đó, thực hiện pháp luật là hành vi và hoạt động của nhóm đối tượng mà một văn bản pháp luật hướng đến, có thể là cá nhân công dân hay làcộng đồng doanh nghiệp.

Đốivớipháp luật cạnh tranh việc thực thi pháp luật chia làm 2 nhóm hoạt độngtươngứngvới 2 nhómđốitượngđólà việc tổ chức thực hiện các quy định pháp luật cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh (chủ thể quyền lực) và việc tuân thủ, thi hành pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp (chủ thểlà đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh).

1.1.4. Khái niệm hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh

Qua tìm hiểu và nghiên cứu, đã có rất nhiều công trình, học giả nghiên cứu và đúc kết khái niệm về “hiệu quả của pháp luật” và các tiêu chí đánh giáhiệu quả của một văn bản pháp luật.

Theo từ điển luật học, hiệu quả của pháp luật là kết quả cụ thể của sựtác động pháp luật đến các quan hệ xã hội so với yêu cầu đặt ra khi ban hành pháp luật [33]. Hiệu quả của pháp luật có thể được đánh giá theotừng cấp độkhác nhau: hiệuquảcủa quy phạm pháp luật, của chếđịnhpháp luật, của ngành luật, của toàn bộ hệ thống pháp luật.Những căn cứ để đánh giá mức độhiệu quả của pháp luật là mục tiêu yêu cầu đặt ra khi ban hành pháp luật, chi phí cho việc thực hiện pháp luật và kếtquảthực tếđạtđượccủa việc thực hiện pháp luật.

30

Hiệu quả của pháp luật cũng có thể là kết quả so sánh: Kết quả đó do sựtác động, điềuchỉnhcủapháp luậtđómanglạitrong những phạm vi nhất định; kếtquảđóbiểu hiện ởtrạng tháicủacác quanhệxã hội;kếtquảđó phù hợp vớimụcđích yêu cầu,địnhhướngcủapháp luật; kếtquảđóđạt được với chi phí thực tế thấp (cùng một kết quả nhưng nếu chi phí quá lớn thìxem là hiệu quả thấp và ngược lại) [12].

Theo quan niệm khác: hiệuquảcủapháp luật làkhảnăngcủapháp luật cóthểtác độngđược vào các quanhệxãhộivà ý thức xãhộiđểđiều chỉnh các quan hệ đó với những tổn thất vật chất và tinh thần ít nhất và mang

lại kết quả theo hướng cần điều chỉnh và cần được xác định của pháp luật [8].

Trên thực tế, việc đưa ra khái niệmvềhiệuquảthực thi của mộtvăn bản pháp luật và các tiêu chí đánh giá còn nhiều ý kiến khác nhau. Theo cách hiểu thông thường, hiệu quả thực thi pháp luật có nghĩa hẹp hơn so với hiệu quả của pháp luật. Hiệu quả thực thi pháp luật có thể là kết quả đạt được trên thực tế của công tác tổ chức thực thi pháp luật trong một giai đoạn nhất định. Pháp luật có hiệuquảthực thi phải là pháp luật phát huytốiđa vai trò của mình để tạo điều kiện tốt nhất cho phát triển kinh tế xã hội.

Khi đánh giá hiệuquảthực thi pháp luật cóthểsửdụng các tiêu chíđịnh tính và định lượng sau đây [10]:

– Sự phù hợp và đầy đủ của các quy định pháp luật; ví dụ như luật bảo vệ môi trường đòi hỏi các quy định cần thiết, hệ thống đo đạc, giám sát, các chế tàiđủ mạnh để răn đev.v.

– Các điềukiệnvậtchất và tinh thầncầnthiếtđểthực thi pháp luật. Kinh nghiệm cho thấy trong tình trạngbầncùng và đóikhổquá mức, pháp luật sẽ khó được thực thi (lũ lụt, thiên tai, thiếu đói v.v.)

– Ý thức của người dân, cộng đồng doanh nghiệp về thực thi pháp luật, sự am hiểu cần thiết để thi hành pháp luật.

Việc đánh giá hiệuquảthực thi pháp luật phảiđược thực hiện trong

31

khoảng thời gian và phạm vi không gian nhất định. Về số lượng, có thể đánh giámộtvănbảnhoặc mộthệthống các văn bản. Cóthểđánh giá hiệuquảthực thi của riêng Luật Cạnh tranh hoặc của Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ. Về chất lượng, có thể đánh giá trên một khía cạnh hoặc tổng thể văn bản.

Đểmột quy định pháp luật có hiệu quả thực thi trên thực tế, trước hết quy định đó phải có hiệu lực. Hiệu lực của pháp luật là cơ sở nền tảng tạo nên hiệu quả của một văn bản pháp luật. Ngược lại, hiệu quả của pháp luật phản ánh hiệu lực của văn bản pháp luật. Một luật chỉ có hiệu quả khi nó được tuân thủ nghiêm túc. Bởi các quyđịnhpháp luật chính là sựcụ thể hóa việc thực hiện các mục tiêu của luật. Mục tiêu của luật chỉ có thể thực hiện được khi các quy định của luật được tuân thủ.

Vídụvềquyđịnhcấmhút thuốc lá tạinơi công cộngcủaViệt Nam. Quy định được ban hành và có mục tiêu là làm giảm tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe người dân. Thực tế cho thấy, tình trạng hút thuốc lá ở nơi công côngvẫncònphổbiến. Tỷlệngườimắc bệnh ung thư phổi do thuốc lá vẫn tăng. Do đó, có thể nói quy định đó chưa đạt được hiệu quả thực thi của mình. Ngược lại, vớiquyđịnhvềbắt độimũbảohiểm. Gầnđâyquyđịnhnàyđãđược tuân thủ nghiêm túc. Khi đó luật có tính hiệu quả thực thi cao.

1.2. Tiêu chí để đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh

Thông thường, đánh giá hiệu quảthực thi của mộtvăn bản quy phạm pháp luật là việc trả lời câuhỏi “vănbản quy phạm pháp luật này sau khi ban hành và có hiệu lực có đi vào cuộc sống hay không”. Đểđánh giá mộtvăn bản quy phạm pháp luật có được thực thi hiệu quả hay không thường sử dụng hai nhóm tiêu chí: nhóm tiêu chí về yếu tố bên trong và nhóm tiêu chí về yếu tố bên ngoài.

32

1.2.1. Nhóm tiêu chí bên trong

Nhóm tiêu chí bên trong thể hiện chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật baogồm(i) Tínhhợppháp của văn bản quy phạm pháp luật (văn bảnquy phạm pháp luật đócóđược ban hànhhợppháp hay không) và (ii) Tính phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật (văn bản quy phạm pháp luậtđó có còn phù hợp với thực tiễn hay không).

+ Về tính hợp pháp

Trước tiên, văn bản quy phạm pháp luật đóphảiđảmbảotính hợp pháp. Một văn bản quy phạm pháp luậtchỉđạthiệu quảkhi nóhợppháp.Điều đócó nghĩa văn bản quy phạm phápluật đóphải thỏa mãn tất cả các yêu cầu sau đây.

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành đúng luật, tuân thủ các luật có hiệu lực cao hơn (ví dụ như Hiến pháp, cácđiều ước quốc tế có liên quan). Tính hợp pháp về mặt nội dung của văn bản quy phạm pháp luật trước tiên thể hiện ở việc văn bản đó không được mâu thuẫn, không được đi ngược lại những nguyên tắc, quy định mang tính chất định hướng của các văn bản có hiệu lực cao hơn, đặc biệt là Hiến pháp.

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành trong phạm vi thẩm quyền của chủthểsoạn thảo và ban hành luật. Điềuđócó nghĩa làvăn bản đó phải do đúng chủ thể có thẩm quyền ban hành.

Thứ ba, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm đúng trình tự, thủ tục và hình thức theo quyđịnh.

Tóm lại, một văn bản quy phạm pháp luật hợppháp là khiđược soạn thảo đảm bảo các yếu tố cả về hình thức cũng như nội dung. Vănbản đóphải được soạn thảo theo đúng quy trình thủ tục ban hành một văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật phảiđược cơ quan có thẩm quyền soạn thảo và ban hành. Đâylà mộtyếutốquan trọng quyếtđịnhtính hợp

33

pháp cũng như sự tồn tại của một văn bản quy phạm pháp luật. (Theo từ điển Luật học, văn bản quy phạm pháp luật là vănbảndo cơ quan nhànước cóthẩm quyền ban hành theo trình tự thủ tục luật định, trong đó có chứa đựng các quy tắcxử sựmang tính bắt buộc chung, làm khuôn mẫu choxửsựcủa các chủthểpháp luật trong khoảng thời gian và không gia nhấtđịnhnhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một trật tự nhất định mà nhà nước muốn xác lập. Văn bản quy phạm pháp luật được chia thành hai loại là văn bản luật và vănbảndướiluật [33].Tựuchung lại, vănbảnquy phạm pháp luật quyđịnh cái mà chúng ta có quyền, được phép, hoặc bị cấm làm. Một văn bản quy phạm pháp luật dùđược soạn thảo đúng quy trình thủ tục, nhưng không bảo đảm kỹ thuật soạn thảo, không đảm bảo được cơ cấu của một quy phạm pháp luật, hoặc không rõ ràng về mặt ngữ nghĩa sẽ khó có thể mang lại cho văn bản đóhiệuquảmong muốn. Ngược lại, một vănbảnquy phạm pháp luật được soạn thảo tốt về mặt kỹ thuật nhưng không được cơ quan có thẩm quyền soạn thảo và ban hành thì chắc chắn sẽ không bảo đảm hiệu lực và hiệu quả.

Hiệu quả thực thi của vănbảnquy phạm pháp luậtsẽcàngđược tăng cườngnếunhư các quyđịnh pháp luật trong văn bản luậtđócónộidung thống nhấtvớicác vănbảnluật khác tronghệthống pháp luật. Thực tếcho thấy, có nhiều văn bản luật dù đảm bảo tính hợp pháp trong mối quan hệ dọc vớiHiến pháp và các vănbảnluật có giá trịpháp lý cao hơn, nhưnglạicónhững quyđịnhmâu thuẫnvớicác vănbảnluật khác trongmốiquanhệngang,sẽkhôngthểđemlạihiệuquảmong muốn của văn bản luật. Những mâu thuẫn thậm chí những quy định trái ngược nhau giữa các văn bản luật sẽ

tạo nên những xung đột pháp lý gây cản trở cho việc thực thi văn bản luật. Do vậy, việc bảođảmtính thống nhất giữa các vănbảnluật sẽ tạo nên hiệuquảthực thi luật.

34

+ Về tính thực tiễn

Tính hợp pháp là điều kiện cần bảo đảm sự tồn tại vững chắc của văn bảnquy phạm pháp luật. Tuy nhiên, đểcóđược hiệu quảthực thi, văn bản quy phạm pháp luật cần phải đáp ứng các yêu cầu về tính thực tiễn. Một văn bản có tính thực tiễn sẽ giúp cho các chủ thể tuân thủ một cách nghiêm túc và

tựnguyện. Bởinó khôngchỉmanglạilợiích chochủthểmà cònlợiích chung cho cả xã hội. Tính hợp pháp chỉ là một điều kiện đủ cho việc tuân thủpháp luật của chủ thể. Một văn bản quy phạm pháp luật hợp pháp nhưng nếu không có tính thực tiễn vẫn có thể bắt buộc các chủ thể tuân thủ. Các chủ thểkhông thể viện cớ một quy phạm pháp luật không còn phù hợp với thực tiễnđể không tuân thủ một quy phạm pháp luật. Điều này xuất pháp từ uy quyền của luật pháp. Luật pháp phảiđược bắtbuộc thực hiện chừng nào còn hiệu lực. Nhưngsựtuânthủnàysẽdẫnđếnnhững tác độngtiêu cực cho xã hội, cho trậttựpháp luật nói chung. Những văn bản quy phạm pháp luật không phùhợpvớilòng dânsẽgây ra những phản ứngtiêu cực và trong nhiều trường hợp dẫn đến tình trạng khiếu kiện, khiếu nại kéo dài. Do vậy, tính thực tiễn của mộtvănbảnquy phạm pháp luật phảithểhiệnđượclợiíchcủađất nước, lợi ích chung, ý chí chung của nhân dân.

Tính thực tiễn của một văn bản quy phạm pháp luật tuy không phải làyếu tố quyết định việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể, nhưng không phải vì thế mà mất đi ý nghĩa quan trọng của nó trong việc đảm bảo tính pháp chếcủa pháp luật. Trongmộtđấtnước mà nềnphápchếngày càngđược đề cao thì tính thực tiễn của các quy định pháp luật ngày càng được coi trọng.

Chính sách và pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành phải xuất phát từ thực tiễn và phản ánh thực tiễn và ngược lại, ảnh hưởng của các chính sách đó đến thực tiễn đòi hỏicác đối tượngchịu sự tác động của chính sách và pháp luật phải nắm bắt được nội dung cũng như tuân thủ nó. Việc tuân thủ

35

các quy phạm xuất phát từ lợi ích của các chủ thể, lợi ích của xã hội. Sự thống nhất biện chứng giữa tínhhợppháp và tính thực tiễn làmộttrong nhữngđặc điểmcủaviệc quản lý xãhộimộtcách khoa học. Pháp luật khôngthểđược tuân thủ một cách nghiêm túc nếu như những quy phạm pháp luật không xuất phát từ những yêu cầu của xã hội [22]. Văn bản quy phạm pháp luật được soạn thảo và ban hành là nhằm thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu của Nhà nước, của xã hội, ở việc giải quyết các vấn đề mà xã hội đặt ra. Do vậy, để một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quảcầnphải xem xét tính thực tiễncủavăn bản quy phạm đó.

Văn bản quy phạm pháp luật có tính thực tiễn khiđápứngđược các yêu cầu:

Thứnhất, văn bản quy phạm pháp luật phải xuất pháttừlợiích thiết thực của xã hội, mà cụthểlàcủangườidân. Văn bản quy phạm pháp luậtđược ban hành là nhằm để giải quyết các vấn đề mà xã hội đặt ra. Do đó, văn bảnquy phạm pháp luật ban hànhcầnphải phùhợpvớitình hình kinh tế, chính trị, xã hội và lấy lợi ích của người dân, của xã hội, của nhà nước làm nền tảng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, văn bản quy phạm pháp luật dùđược hình thành dựa trên những ý tưởng hợp lý được xây đựng từ nền tảng thực tại của xã hội nhưng lại không thể hiện được rõ các ý tưởng này do việc diễn đạt cũng như việc sử dụng ngôn từ. Hậu quả là văn bản quy phạm pháp luật khó được thực thi trong thực tế và không được cộng đồng chào đón, ủng hộ. Một văn bản quy phạm pháp luật không có tính thực tiễn có thể do nhiều nguyên nhân.Mộttrong những nguyên nhân thườnggặplà dokỹthuật lập pháp còn yếu kém làm cho luật pháp không còn phù hợp với các quan hệ xã hội, với thực tiễn. Nguyên nhân khác là do sự phát triển của kinh tế xã hội, phát sinh nhiều mối quan hệ và các hành vi mới nên văn bản quy phạm pháp luật ban hànhtrướckhôngdựtínhhếtđược.Dođó,thông thường, các văn

36

bảnpháp luật phảiđượcthường xuyêncậpnhật,bổsung, thay thế,sửađổi cho phù hợp.

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với đối tượng, phải điềuchỉnh đúngđốitượng. Nếu vănbảnquy phạm pháp luật khôngđiều chỉnh đúngđốitượng, sẽkhông làm chođốitượngđótuânthủmộtcáchtựnguyện. Điều đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả của văn bản quy phạm.

1.2.2. Nhóm tiêu chí bên ngoài

Tiêu chí bên ngoài để xem xét mối quan hệ tương tác của quy phạm đóvớixã hộibaogồm(i) khảnăngtổchức thực thi của các cơ quan thi hành pháp luật, (ii) khảnăng tiếpcậnvà tuânthủluật của đốitượngmà văn bản quy phạm pháp luật hướng tới.

Nghiên cứu nhóm tiêu chí về yếu tố bên ngoài về hiệu quả thực thi của một văn bản quy phạm pháp luật là nghiên cứu ảnh hưởng của quy phạm pháp luật đến thái độ của những cá nhân và tổ chức là đối tượng áp dụng của văn bản, sự tương tác giữa văn bản quy phạm pháp luật và xã hội. Một văn bản cóhiệu quả thực thi khi văn bản đó có giá trị bắt buộc thi hành đối với chủ thể. Vì vậy, tháiđộ, sự tuânthủ quy phạm pháp luật được coi là yếu tố thể hiện rõnét nhất hiệu quả của mộtvăn bản quy phạm pháp luật. Ngoài ra, không thểkhôngkểđếnnhững cơ quan thực thi việc áp dụng luật. Một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quảthực thi hay không, khôngchỉphụthuộc vào chính văn bản luật đó. Hiệu quả thực thi của văn bản luật còn phụ thuộc vào việc tổ chức thi hành, giám sát việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật đó. Vì vậy, vai trò của các cơ quan thực thi là rất quan trọng.

Văn bản quy phạm pháp luật sẽ có hiệu quả thực thi cao khi được các cơ quan thực thi thực hiện một cách nghiêm túc và triệt để việc áp dụng các quyđịnhtrong văn bản. Đểbảođảmcho luật phápđược thực hiện, các cơquan này cần phải được trang bị không chỉ về cơ sở pháp lý mà còn cả cơ sở

37

vật chất cũng như nguồn nhân sự để đảm bảo việc thực hiện pháp luật ở mọi cấp độ. Việc xử lý vi phạm pháp luật được thực hiện theo ba bước: trước tiên là phát hiện vi phạm, sau đó là xem xét, đánh giá và đưa ra phương hướng xửlý. Mỗi bước nàyđều cókhả năng làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi của vănbảnquy phạm pháp luật. Nhữnghạnchế, trởngại của trong việc thực hiện pháp luật thường có nguồn gốc, hoặc ít nhất chịu tác độngtừphía cơquan thực thi. Nếunhư các cơ quan này không hành động, không triển khai việc áp dụng luật, không giám sát việc thi hành, việc tuân thủ thì hiệu lực vàhiệuquảcủaluậtsẽkhôngđược bảođảm. Bên cạnh đó, sựchồng chéovềthẩm quyền giữa các cơ quan thực thi cũng làmảnhhưởngkhôngnhỏđến việc thực thi pháp luật.

Đểtuânthủmộtvăn bản quy phạm pháp luật, các đốitượngnày phải biếtđượcsựtồntạicủacác quy phạmđiềuchỉnh các quanhệxãhộimà họđã, đang và sẽ tham gia. Chỉ khi biết được có sự tồn tại của văn bản quy phạm pháp luật, các chủ thể mới có thể nhận thức được hành vi của mình là có làmđúng luật hay không. Sau khi biết và nhận thức được các quy phạm pháp luật, sẽ cóhai trường hợp xảy ra là tuân thủ và làm trái (không làm theo luật hoặc làm trái luật). Văn bản quy phạm pháp luật sẽ có hiệu quả thực thi khi được tuân thủ. Hiệu quả thực thi của văn bản quy phạm pháp luật phụ thuộc vàosựtiếp nhận, hay nói rộng ra là sự tiếp cận của các chủ thể.

“Tiếp cận” được hiểu là khả năng nhận thức luật, qua đó có thể áp dụng các quy phạm pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể. Đócó thể là khả năng yêu cầu các cơ quan thực thi luật áp dụng luật. Và cuối cùng khái niệm tiếp cận cũng được hiểu là khả năng có được những quyết định đúng luật của các chủ thể. Theo nghĩa hẹp khả năng tiếp cận luật có thể được hiểu làkhả năng mà một chủ thể có thể tiến hành các thủ tục tại cơ quan công quyền đểbảovệlợiíchcủamình. Hiện nay,khảnăng tiếpcậnluậtđượchiểu rộng

38

hơn. Đó là khả năng trở thành chủ thể của luật, được thông tin về các văn bản luật, các quyđịnhpháp luật,khảnăng áp dụng luậtmộtcáchchủđịnh(thực hiện một quyền), hoặc một cách bị động (yêu cầu tôn trọng quyền của mình). Như vậy, có thể thấy rằng, một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả thực thi phải là một văn bản có thể tiếp cận được. Khả năng tiếp cận của chủ thể sẽlàmộttrong nhữngyếutốquyếtđịnhhiệuquảcủa vănbảnquy phạm pháp luật, bởi đó là một vấn đề pháp lý gắn liền với các điều kiện về tính có hiệu lực của các quy phạm pháp luật đối với các đối tượng mà nó hướng tới điều chỉnh.

Nếu như một văn bản quy phạm pháp luật không được các chủ thể tiếp cận, văn bản đó sẽ không thực hiện được một trong những chức năng cơ bản là điềuchỉnh các quy tắc xửsựcủa các chủthểtrong xã hội. Văn bản quy phạm pháp luật khôngđược tiếpcậncóthểđược xem xétdướihai góc độ: Thứ nhất là quy định trong văn bản khó hoặc ít có khả năng tiếp cận. Nói một cách khác, các chủ thể khó có thể thực hiện các quy định bởi họ không hiểu, không thấy hợp lý hoặc cho rằng các quy định này đi ngược lại những quy tắc xửsựđược thừa nhận rộng rãi trong xã hội. Thứhai, cóthểdo nhữngđiều kiện khách quan bên ngoài cản trở sự tiếp cận của các chủ thể.

Ởgóc độthứnhất, nguyên nhân xuất pháttừchínhbảnthân văn bản quy phạm pháp luật đó. Có thể là do các quy phạm phápluật được xâydựng không phùhợpvớithực tiễn, hoặc không rõ ràng, mang tính chung chung khiến các chủ thể khó có khả năng tuân thủ, thi hành, vận dụng pháp luật hoặc các quy định đã lỗi thời không còn phù hợp với thực tế hiện hành. Điều này dẫnđếnhậuquảlà dầntạora khoảng cách giữa pháp luật và quần chúng. Khoảng cách này càng lớn, pháp luật càng khó được thực hiện. Các chủ thể sẽmất lòng tin pháp luật. Để khắc phục, văn bản luật phải được soạn thảo và ban hành phù hợp với thực tiễn và với ý chí của nhân dân và cộng đồng.

39

Ở góc độ thứ hai, khả năng tiếp cận văn bản luật bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khách quan gây cản trở khả năng tiếp cận của các chủ thể, hay nói một cách khác cản trở công dân thực hiện quyền tiếp cận quy định pháp luật. Quyền tiếp cận một đạo luật nào đó, hay nói rộng ra là quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người. Quyền này bao gồm quyền mà công dân được chủ động tiếp cận, thu thập thông tin và trách nhiệm của cơ quan nhànước cung cấp thông tin cho công dân [22].

Đểđảmbảocho công dânđược chủđộngtiếpcậnthông tin, cơ quan nhà nước phảichủđộngcôngbốcông khai những trìnhtựthủtục rõ ràng thuận tiện để công dân có thể dễ dàng tiếp cận được thông tin khi có nhu cầu. Ngoài ra, công dân có thể tiếp cận được thông tin ngay cả khi không có nhu cầu bằng việc cơ quan nhà nước chủ động công khai thông tin trên các trang thông tinđiệntửcủacơ quan hoặc thông qua các kênhphổbiến kiến thức khác để đông đảo quần chúng được biết mà không cần phải yêu cầu.

Ngoài ra, hiệu quảthực thi của vănbảnquy phạm pháp luật cònphụthuộc vào rất nhiều vào các yếu tố chính trị-xã hội, văn hóa, và thói quen ứng xử của người dân. Một văn bản quy phạm pháp luật có thể thực thi tốt ở một địa phương, nhưng lại không thực thi hiệu quả ở một nơi khác. Ví dụ như quyđịnh bắt buộc đội mũ bảo hiểm. Luật phát huy hiệu lực tốt ở Hà Nội, nhưng ởcác tỉnh, địaphương xa trung tâm, hiệu quả của luật lại thấp. Yếu tố tâm lý,

tậpquán sinh hoạt và lốisống là nhữngyếutốảnhhưởnglớnđếnviệc thi hành pháp luật của các chủthể[19]. Như vậy, đâycũng là mộtnguyên nhân gây ảnh hưởng đến hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật.

Tóm lại, đa số các học giả trên thế giới đồng tình rằng hiệu quả thực thi của một văn bản quy phạm pháp luật được coi như một điều kiện để đánh giá sự tồn tại của một quy phạm. Theo họ, một văn bản quy phạm pháp luật ra đời luôn mong muốn được thực thi hiệu quả và nó chỉ đạt được khi được

40

công nhận và được áp dụng trong thực tiễn. Nếu không được đối tượng của nó biếtđếnvà tuân thủ, vănbảnquy phạm pháp luật sẽmấtđi chức năng quy phạm của nó.

1.3. Kinh nghiệm nâng cao hiệu quảthực thi pháp luật cạnh tranh của một số nước và bài học đối với Việt Nam

1.3.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản

a. Về phát triển và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh

Luật chống độc quyền của Nhật Bản [44]. có tên chính thức là “Luật vềchống độc quyền tư nhân và đảm bảo giao dịch công bằng” (AMA), được ban hành vào năm 1947 dưới sự chiếm đóng của quân Đồng minh sau Chiến tranh thếgiớithứhai nhưmộtluật vĩnhcửu(không giớihạnthời gian hiệu lực) nhằm tạo lập trật tự mang tính dân chủ cho nền kinh tế Nhật Bản.

Mục đích của Luật chống độc quyền Nhật Bản hay mục tiêu của chính sách cạnh tranh Nhật Bản được quy định rõ ngày tại Điều 1 của Luật đó là:

– Bảo vệ quá trình cạnh tranh, – Tạo hiệu quả kinh doanh,

– Tạo việc làm, nâng cao thu nhập của người dân và- Bảo vệ người tiêu dùng.

Kể từ năm1947 đến nay, Luật AMAđã được Ủy BanThương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC) đề xuất sửa đổi nhiều lần cụ thể qua các năm:

– 1991 sửa đổiLuật Chốngđộc quyền theohướngtăng mức phạt tiền các hành vi vi phạm.

-1992:sửađổiLuật Chốngđộcquyền trongđóđưacác quyđịnhvềáp dụng các chế tài hình sự vào các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh như phạt tù đối với lãnh đạo các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

– 2005 Sửa đổi Luật Chống độc quyền (AMA) theo hướng:

– Tăng mức phạt tiền;

41

– Áp dụng cơ chế khoan dung;

– Áp dụng các biện pháp bắt buộc đối với buộc tội Hình sự; – Sửa đổi Thủ tục tiến hành phiên điều trần;

– 2013 tiếp tục sửa đổi Luật chống độc quyền theo hướng:

+ Thay đổi quy trình ban hành quyết định xử phạt cuối cùng; + Thay đổi thủ tục tiến hành phiên điều trần.

b. Về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan cạnh tranh Uỷ ban thương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC, sau đây gọi là Ủy ban)

được thànhlậpnhư là mộtcơ quan quản lý của Chínhphủđể đạt được mục tiêu của Luật Chống độc quyền. Bên cạnh Luật Chống độc quyền, Uỷ ban còn thi hành Luật chống tặng phẩm phi lý và trưng bày gây nhầm lẫn, Luật chống thanh toán chậm trong hợp đồng gia công phụ đối với người sản xuất phụ, đây là những luậtđặc biệtbổsung cho Luật Chốngđộc quyền. Uỷban cóvịtrínhư là một cơ quan cấp bộ trực thuộc Chính phủ.

Tuy nhiên, Uỷ ban có đặc điểm của một tổ chức quản lý theo hệ thống hội đồng, bao gồm một chủ tịch và bốn Uỷ viên. Ủy viên và Chủ tịch là các chuyên gia luật và kinhtếtuổiđờitừ35trởlên,được Thủtướngbổnhiệm trên cơ sở sự đồng thuận của cả thượng viện và hạ viện. Việc bổ nhiệm Chủ

tịch do Nhật hoàng thông qua. Trong việc thực thi Luật Chống độc quyền, Uỷban thực hiện nhiệm vụ của nó một cách độc lập, không chịu sự chỉ đạo hay giám sát của bấtcứmộtai.Đểđảmbảotínhđộc lậptrong quyếtđịnhcủa JFTC, bên cạnhsựđộc lậpvềmặtlợiíchvớicác chủthểkhác, Luật Chống độc quyền còn đưa ra các quy định để đảm bảo cho tính độc lập và trung lập trong quyết định của Chủ tịch và các Ủy viên của JFTC.

Điều28 Luật AMA quyđịnhChủtịch và các ủyviên của JFTC thực hiện nhiệmvụcủa họmộtcáchđộc lập.Tuy điều này chưa tạo ra được một cơ cấu cụ thể để tạo ra tính độc lập trong quyết định của Chủ tịch và các Ủy viên nhưng chính điều này đã tạo ra cơ sở pháp lý rất quan trọng cho tính độc lập này.

42

Để đảm bảo cho việc các quyết định của Chủ tịch và Ủy viên là trung

lập và không bị ảnh hưởng, trong điều 31 của Luật AMA“Chủ tịchvà các ủy viên sẽ không bị bãi nhiệm trong thời hạn nhiệm kỳ trái ý muốn của họ” ngoại trừ những trường hợp sau:

i. Khingườinàybịtòa án phán xét là không có năng lực, hầunhưkhông có năng lực, hoặc rơi vào tình trạng phá sản;

ii. Khi người này bị bãi miễn bởi hình phạt kỷ luật; iii. Khi người này bị phạt vì vi phạm Luật này;

iv. Khi người này bị kết án tù hoặc bị kết án nặng hơn;

v. KhiỦyban ThươngmạiLành mạnh quyếtđịnhrằngngườinày không đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ của mình vì lý do suy sụp về thể xác và tinh thần;

vi. Khi không giànhđược sựthông qua tiếp theo của cảhai Viện của Nghị viện như trong trường hợp quy định tại mục (4) của Điều trên đây.

Đồngthời trongĐiều36 quyđịnhvềlương của Chủtịch và Các ủy viên của JFTC có quy định như sau nhằm nâng cao tính độc lập trong lợi ích của Chủ tịch và các Ủy viên:

(1) Lương của Chủ tịch và các ủy viên sẽ được cấp riêng;

(2) Lương của Chủtịch và ủyviên khôngbịcắtgiảm ngược lạivớiýmuốn của họ khi họ đang trong nhiệm kỳ.

Dưới Ủy ban là Ban thư ký. Tổng thư ký chịu trách nhiệm tiến hành tốtụng hành chính của JFTC. Tổng thư ký thực hiện các thủtụctốtụng hành chính của Ban Thư ký. Ban Thư ký gồm Cục các vấn đề kinh tế; Cục điều tra và các văn phòng khu vực đặttạiHokkaido (Sapporo), Tohoku (Sendai), Chubu (Nagoya), Kinki (Osaka), Chūgoku (Hiroshima), Shikoku (Takamatsu) và Kyushu (Fukuoka).

Theo báo cáo hoạt động hàng năm, hiện nay JFTC có khoảng 850 nhân viên với ngân sách hoạt động hàng năm vào khoảng 9 tỷ yên/năm [48].

43

c. Thực tiễn công tác tổ chức điều tra và xử lý các hành vi vi phạm

Luật Chốngđộc quyền NhậtBảncấmcác đốitượnghoạtđộngkinh doanh độc quyền mang tính cá nhân, các hành vi hạn chế giao dịch không hợp lý, sửdụng các phương pháp giao dịch không công bằng, JFTC điềutra cân nhắc những thông tin thu nhận được từ công chúng, hoặc do chính JFTC phát hiện ra. Khi xét thấy xảy ra sự kiện vi phạm quy định cấm, sẽ tiến hành điều tra cần thiết đối với vụ việc bị nghi ngờ.

Theo quy định của Luật Chống độc quyền Nhật Bản, hệ thống các biện pháp xử phạt đối với hành vi vi phạm bao gồm các hình thức phạt tiền, xử lý loại trừ (đối với điều tra hành chính), phạt tù, phạt tiền (đối với điều tra hình sự) và phạt cảnh cáo. Trong đó, theo thống kê hàng năm của JFTC, phạt tiền và xử lý loại trừ cósố lần ápdụng nhiều nhất. Biện pháp truy tố hình sự đượcáp dụng ít nhất (khônglớnhơn 2 vụ/năm), mặc dù cóđề nghịtruytốnhưngđến nay chưa có vụ việc nàođược xử lý hình sự.

Bảng 1.1. Số vụ việc áp dụng các biện pháp xử lý từ 2005-2013

của JFTC

Năm200520062007200820092010201120122013
Phạt tiền, xửlý loại trừ191222162420152115
Cảnh cáo79104102261
Truy tố hình sự221100110

Nguồn: Báo cáo hoạt động năm 2013 của JFTC

Xét riêng đối với biện pháp phạt tiền, xử lýloạitrừvà phạt cảnh cáo, tính theo loại hành vi vi phạm qua từng năm thì có thể thấy hành vi thỏa thuận ấnđịnhgiá và dànxếpđấuthầu là hai nhóm hành vi nguy hiểm và thường xuyên xảy ra nhất nên đây cũng là hai nhóm hành vi bị xử phạt nhiều nhất, số

44

vụ bị xử phạt cũng gấp nhiều lần các hành vi khác, thậm chí có lúc gấp đến 10 lần số vụ lạm dụng ví trí thống lĩnh thị trường, ví trí độc quyền bị xử phạt.

Bảng 1.2. Số vụ xử lý vi phạm của JFTC theo hành vi vi phạm

Năm20062007200820092010201120122013
Độc quyền tư nhân00100000
Thỏa thuận ấn định giá36956508
Dàn xếp đấu thầu614217127199
Phương thức giao dịch không công bằng43542321
Số DN bị xử lý731934984109303126210

Nguồn: Báo cáo hoạt động năm 2013 của JFTC

Số lầnxử lýhành vi thông thầu trong giaiđoạn2001-2004 trung bình là 25 vụ/năm do đây là những hành vi khá phổ biến và được xem là “vấn nạn quốc gia” của Nhật Bản, nhưng nhờ cơ chế phát hiện vi phạm hiệu quả nên đãphát hiện và xử lý nhiều vụ, dần cải thiện môi trường và thói quen kinh doanh của doanh nghiệp. Do sự nỗ lực của cơ quan cạnh tranh và sự cải thiện trong chính sách nên đến giai đoạn 2006-2013 thì số vụ bị xử lý đã giảm xuống 10- 11 vụ/năm, tuy nhiên vẫn ở mức cao so với các hành vi khác.

45

8000 450
7000350
250
200
3000150
100
50
200520062007200820092010201120122013
Số doanh nghiệp

Số tiền phạt (100 triệu Yên)

121

84

403

231

207

408

63

96

89

543

171 6958290

335

112

240

181

302

Số doanh nghiệp Số tiền phạt (100 triệu Yên)

(ĐVT: 100 triệu Yên) Nguồn: Báo cáo hoạt động năm 2013 của JFTC

Hình 1.1. Số tiền phạt JFTC áp dụng đối với hành vi thỏa thuận ấn định

giá và thông thầu giai đoạn 2005-2013

d. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh

– Áp dụng thủ tục khám xéttại chỗ

Trong điều tra hành chính vềvụ việcvi phạm Luật Chốngđộcquyền, chủ yếu là giải quyết vụ việc thông qua lập luận chứng minh sự thật vi phạm dựa trên hai loại chứng cứ là tài liệu thu thập được qua khám xét hiện trường và biên bản lời khai được lập qua xét hỏi. Do đó, việc thu thập chứng cứ làm sáng tỏ vụ việc trong khám xét hiện trường hay có lấy được lời thú tội về hành vi vi phạm từ nhân viên của cơ sở bị tình nghi vi phạm trong xét hỏi hay không là các điểm quan trọng để giải quyết vụ việc vi phạm Luật Chống độc quyền.

Khám xét hiện trường (On-spot inspection) cụthểlà khám xét cơ sởkinh doanh của doanh nghiệpbịtình nghi vi phạm, kiểm tra sổsách giấytờđồng thời ra lệnh nộp sổ sách giấy tờ và sau đó lưu giữ sổ sách giấy tờ nhằm thu thập vật chứng cần thiết để chứng minh sự thật vi phạm.

46

Khi quyếtđịnhthực hiện khám xét hiện trường, tạicác bộphậnphụtrách điều tra vụ việc tiến hành các công việc như sau:

Bước 1: Chọn nơi khám xét hiện trường

Nơi khám xét ngoài các trụ sở kinh doanh của doanh nghiệp tình nghi còn có trườnghợpmởrộng ra cơ sởkinh doanh của bạnhàng hay cơ quan nhà nước đã đặt hàng. Trong các vụ việc dàn xếp đấu thầu, do số lượng các cơsởbịtình nghi vi phạm nhìn chung cao, tùy theovụviệc, có trườnghợpsốnơi khám xét hiện trường lên tới trên 50 cơ sở.

Bước 2: Quyết định cán bộ phụ trách khám xét hiện trường

Tùy theo quy mô của cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tình nghi, quyết định số cán bộ phụ trách khám xét hiện trường. Trong trường hợp của cơ sở nhỏcũng có khi tiến hành khám xét với 3 cán bộ phụ trách; nhưng trong trường hợp

của cơ sở lớn thì cũng có khi khám xét với 40 – 50 cán bộ phụ trách, thậm chí cóvụ việc có sự tham gia của lực lượng trên 200 cán bộ phụ trách.

Bước 3: Tiến hành khám xét hiện trường

Khám xét hiện trường thông thường được bắt đầu đồng loạt trong buổi sáng, trên tất cả các cơ sở tình nghi, tại cùng một thời điểm.

Cán bộ phụ trách trình thẻ chứng minh thanh tra cho người đứng đầu cơsở và giải thíchvề mục đíchkhám xét hiện trường đồng thời trao văn bản ghi mục đích này cho người đứng đầu cơ sở này và sau đó bắt đầu khám xét.

Trong khám xét hiện trường, các cán bộ phụ trách kiểm tra toàn bộ bàn

làm việc, tủtài liệu, máy tính cá nhân v.v… trong cơ sởkinh doanh và thu thập chứng cứ. Sau khi hoàn thành kiểm tra,vềnhững tài liệu đc JFTC giữnhư vật chứng, ra lệnh cho người đứng đầu cơ sở kinh doanh của cơ sở bị tình nghinộpvà lưugiữcác tài liệu này. Tùy thuộc vào quy mô của cơ sởkinh doanh cũng có trường hợp lưu trữ tới vài trăm tài liệu trên một cơ sở.

47

Gần đây, do có nhiều tài liệu được điện tử hóa nên kiểm tra không chỉmáy tính của các nhân mà cả dữ liệu điện tử được lưu trong máy chủ.

Bước 4: Sau khi khám xét hiện trường

Vềtài liệuđược lưu giữ, xác minhnộidung từng tài liệu, tìm ra vật chứng quan trọng trong xác minh sự thật vi phạm.

Sau khi hoàn thành thủ tục khám xét hiện trường, cán bộ JFTC yêu cầu nhân viên của doanh nghiệp tình nghitựnguyện trình diện và xéthỏinhân viên. Việc xét hỏi được thực hiện trong khuôn khổ thu thập chứng cứ cần thiết đểchứng minh vi phạm và được thực hiện theo quy trìnhthủtục chặt chẽ, nghiêm túc, bảo mật.

– Áp dụng chương trình khoan dung (Leniency) [48]

Việc tổchức điềutra vàxửlý các hành vi thỏa thuận thôngđồnghạn chếcạnh tranh làmộttrong những mục tiêu hàngđầucủa các cơ quan cạnh tranh trên thế giới. Tuy nhiên, thực tiễn điều tra cho thấy không dễ để có thểphát hiện và xửlý các thỏa thuậnhạnchếcạnh tranh này vì các thủđoạn thông đồng của các công ty khá tinh vi. Cơ quan điều tra phải tiến hành khám xét và dùng nhiều nghiệpvụđểcóthểthu thậpđượcchứngcứvàđiềunày không phải lúc nào cũng có thể đem lại hiệu quả vì các doanh nghiệp sẽ luôn tìm cách xóa dấu vết, phi tang chứng cứ.

Tạimộtsốquốc gia, cơ quanđiềutra phải càingườinằmtronghệthống các công ty là thành viên tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh để thu thập chứng cứ. Đây là một biện pháp có đem lại hiệu quả nhưng để lọt vàovịtrí có thể thu thập được các chứng cứ là việc làm hết sức khó khăn và tốn kém vềmặtthời gian, công sức và tiền của, thậm chí là nguy hiểm cho cánbộthâm nhập.

Vì vậy, đểgiúp cơ quanđiềutra có thêm nguồn cungcấpchứng cứ, qua đótăng cường hiệuquảthực thi luật,đặc biệt là các hành vi thỏa thuận

48

hạnchếcạnh tranh, JFTC đã ban hành và áp dụng chính sách khoan dung. Chính sách khoan dung được áp dụng đối với các chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chủ động đến khai báo với cơ quan quản lý cạnh tranh vềhành vi của mình, đồngthời cungcấpcho cơ quan cạnh tranh các tài liệu chứng cứ có giá trị chứng minh thỏa thuận đó.

Cơ chế khoan dung (Leniency) là cơ chế giảm hoặc miễn trừ tiền phạt phải nộp của doanh nghiệp trong trường hợp họ gửi các báo cáo tới JFTC liên quan đến hành vi vi phạm. Trong thời gian gần đây, những đơn xin miễn trừkhoản phải nộp chiếm một tỷ lệ lớn trong những manh mối của các vụ thông thầu hoặc cartel. Thông qua việc áp dụng cơ chế này, JFTC đã phát hiện ra rất nhiều vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, đặc biệt là thông đồng đấu thầu, mà trước đóhọ không thể phát hiện ra do không có chứng cứ.

Sốlượngcác chủ thểđược hưởngcơ chế khoan dung không vượt quá05 doanh nghiệp. Trong đó, các doanh nghiệp có thể khai báo trước hoặc sau khi khởi động điều tra vụ việc, và chỉ có tối đa 03 doanh nghiệp đầu tiên khai báo sau khi khởi động điều tra mới được hưởng cơ chế khoan dung.

Mức miễn, giảm tiền phạt theo cơ chếkhoan dung như sau:nếukhai báo trước khi cơ quan cạnh tranh ra quyết định điều tra vụ việc, doanh nghiệp khai báo đầu tiên được miễn 100% tiền phạt, doanh nghiệp thứ haiđược giảm 50% tiền phạt, doanh nghiệpthứbađược giảm 30% tiền phạt. Các doanh nghiệp khai báo sau khi ra quyếtđịnhđiềutra thìđược giảm 30% tiền phạt.Điều kiện tiên quyết để các bên được mức miễn giảm nêu trên là :

(1) phải chủ động khai báo về hành vi thỏa thuận của mình; (2) đã chấm dứt thực hiện hành vi vi phạm;

(3) cungcấpcho cơ quan cạnh tranh các tài liệu chứngcứcó giá trịchứng minh hành vi thỏa thuận đó một cách chủ động hoặc khi được cơ quan cạnh tranh yêu cầu;

49

(4) không có hành vi ép buộc doanh nghiệp khác tham gia thỏa thuận, không ngăn cản các doanh nghiệp khác rút lui khỏi thỏa thuận hoặc chấm dứt thỏa thuận.

Chính sách khoan dung của NhậtBảnđược đưa vào áp dụngtừtháng 04/2006. Tuy mới được áp dụng nhưng đến tháng 5 năm 2007, cơ quan cạnh tranh của NhậtBảnđã nhậnđược sựkhai báo của tổng cộng 105 công ty trong đó có tập đoàn công nghiệp nặng Mitsubishi. Trong năm tài chính 2009, có 85 vụ JFTC nhận được thông báo đúng sự thật về hành vi vi phạm, và đến cuối tháng 3 năm 2010 là 349 vụ.

– Đẩy mạnh các hoạt động quan hệ công chúng đạt hiệu quả cao Trong suốt quá trình từ khi thành lập đến nay, JFTC đã luôn đề cao và

đẩymạnh hoạtđộngtuyên truyềnvềchính sách và Luật Chốngđộc quyền, quan hệ công chúng, kêu gọi sự đồng thuận của toàn xã hội. Đây là hoạt động hoàn toàn không mang tính hình thức như hoạtđộngtuyên truyền, đàotạo thông thường mà là hoạtđộngđi vào thực chất, chi tiết nhằmđảmbảotính minh bạch trong thi thành pháp luật, cungcấpthông tinvềchính sách, nắm bắtquanđiểmcủa ngườidân và tạosựđồngthuận trong xã hội, từnhững ngườidân bình thườngđếncác doanh nghiệp, đếncơ quan nhà nước khác,đến cả những nhà lãnh đạo để hiểu rõ bản chất, vai trò của Luật và tạo ý chíquyết tâm thực thi Luật.

Các hoạtđộngquanhệcông chúngcụthểmà JFTC đãthực hiện hết sức phong phú và đa dạng, bao gồm:

Hoạt động thông tin báo chí, cụ thể: ra thông cáo báo chí về biện pháp xử lý vi phạm, tư vấn trước về sáp nhập doanh nghiệp, ra các bản hướng dẫn, báo cáo tình hình thực tế, rà soát thị trường, tổ chức họp báo định kỳ và thứ tư hàng tuần, ra bản tin thời sự Asahi, gửi bản tin điện tử hàng tuần tới cá nhân và tổ chức đăng ký (năm 2012 có đến 8275 người đăng ký nhận bản tin điện tử từ JFTC).

50

Hoạt động biên soạn và phân phát tài liệu tuyên truyền như: Sổ tay giới thiệu về Luật Chống độc quyền, các đĩa DVD và băng hình dùng cho quan hệcông chúng, tài liệu công bố“Tìnhhình hoạt động gần đây của JFTC”, xuất bảnGiáo trìnhphụcho học sinh trung học vềLuật Chốngđộcquyền“Cuộc sống của chúng ta và kinh tế thị trường”.

Phát triển trangchủcủa JFTC theohướnghiệnđại, thân thiện với người dùng, gồm các cảcác mục chuyên môn, diễn đàn trao đổi, tư vấn, lẫn các dữliệu hình ảnh, DVD và có riêngnộidung dành riêng chongườitiêu dùng nói chung (giải thích các vídụliên quanđếnsinh hoạt hàng ngày) vàdành riêng cho trẻ em (tìm hiểu một cách vui vẻ qua truyện tranh).

Cử nhân viên JFTC đến các doanh nghiệp, hiệp hội để giảng, hoặc nói chuyện, giải thích về Luật.

Tuyên truyền, quảng bá thông qua giáo dục học đường, cụ thể: tổ chức cho học sinh trung học tham quan nơi làm việc của JFTC, tổ chức tham quan các cơ quan nhà nước dành chotrẻem tiểuhọcvào tháng 8 hàng năm;Cửnhân viên JFTC giảngdạytrong nhà trườngvềLuật Chốngđộc quyền, lýthuyết tổ chức ngành, vai trò của JFTC, biên soạn giáo trình phù hợp với từng cấp học.

1.3.2. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ

a. Về phát triển và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh

Có thể nói, Hoa Kỳ là quê hương của Luật chống độc quyền hay pháp luật và chính sách cạnh tranh. Luật chống độc quyền của Hoa Kỳ ra đời vào cuối thế kỷ XIX, xuất phát từ chính nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế Hoa Kỳlúc bấy giờ.

Đạoluật Shermanđược thông qua năm 1890 và đạoluật Clayton (bắt nguồntừđạoluật Sherman) có hiệulựcvào ngày 15 tháng 10 năm 1914,được coi là hai luật cơ bản cho chính sách chống độc quyền của Hoa Kỳ.

51

Đạoluật Sherman nhằmnỗlực ngăn chặn việc cốtình tăng giá thông qua hạn chế thương mại, dịch vụ. Mục tiêu của Đạo luật Sherman không phải là nhằm bảo vệ các đối thủ cạnh tranh, mà nhằm bảo vệ sự cạnh tranh và môi trường cạnh tranh, bảo vệ người dân trước những khuyết tật của thị trường.

Đạo luật Clayton đã bổ sung thêm một số nội dung cho pháp luật chống độc quyền của Hoa Kỳ bằng việc tìm cách ngăn chặn các hành vi phản cạnh tranh từ giai đoạn hình thành. Đạo luật Clayton quy định chi tiết các hành vi cụthểbịcấm, mô hình thực thi ba cấp, các quyđịnhmiễntrừvà các biện pháp xử lý vi phạm.

Không dừng lại ở đó, năm 1936, Luật Robinson- Patman được ban hành với những quy định nghiêm khắc hơn trong việc xử lý các hành vi phân biệt đối xử.Ngoài ra,Đạoluật Celler-Kefauverđượcban hành năm 1950,bổsung thêm các quyđịnhtrongđạoLuật Clayton 1914.Đạoluật Celler-Kefauverđược coi là đạo luật chống sáp nhập, là công cụ giúp Chính phủ ngăn chặn cảcác vụ sáp nhập theo chiều dọc và sáp nhập hỗn hợp có khả năng gây hạn chếcạnh tranh.

Năm 1976, Đạoluậtcảitiến lĩnh vực chốngđộc quyền (Hart-Scott- Rodino Antitrust Improvement Act)được ban hành làmộttậphợpcác sửa đổi, bổsung cho các luật chốngđộc quyền của Hoa Kỳ, mà chủyếulà Đạo luật Clayton. Đạo luật này bổ sung thêm các quy định về thông báo tập trung kinh tế trước khi tiến hành sáp nhập hoặc mua lại.

Đến đầu những năm1980 chính sách cạnh tranh của Hoa Kỳ được coi là chính sách chặt chẽ và nghiêm khắc nhất của thế giới.

b. Về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan cạnh tranh Các cơ quan tham gia xử lý vụ việc cạnh tranh ở Hoa Kỳ baogồm Uỷ

ban thươngmạiLiên bang Hoa Kỳ(viếttắtlà USFTC) và CụcChốngđộc quyền thuộc Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ (viết tắt là USDOJ).

52

– USFTC [50] xử lý các vấn đề liên quan đến đời sống kinh tế của phần lớnngườiMỹ. Trên thực tế, cơ quanđã cómộttruyền thốngvềduy trì một môi trường cạnh tranh chocảngườitiêu dùng và cho các hoạtđộngkinh doanh. Khi USFTC được thành lập vào năm 1914, nhiệm vụ của cơ quan này là ngăn chặn các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại nhưmộtphần của cuộc chiến nhằm “thúc đẩylòng tin”. Trong nhiều năm, Nghị viện đã thông qua các bộ luật bổ sung trao quyềnlớnhơn choUỷBan nhằm kiểm soát các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh.

Năm 1938, Nghị viện thông qua Luật sửa đổi Wheeler-Lea, gồm hàng loạt các biện pháp ngăn chặn các “hoạt động gian lận hoặc không lành mạnh”. Sau đó, Ủy ban cũng được chỉ đạo thi hành hàng loạt các bộ luật bảo vệ người tiêu dùng gồm Điều luật bán hàng qua điện thoại, Luật chi trả theo từng cuộc gọi (Pay-Per-Call Rule) và Đạo luật Tín dụng Công bằng (Equal Credit Opportunity Act). Năm 1975, Nghị viện thông qua Đạo luật Magnuson-Moss trao quyền cho USFTC trong việc thông qua các nguyên tắc thương mại trongđó định nghĩa các hoạt động gian lận hoặc không lành mạnh trong từng ngành cụthể. Các nguyên tắc thươngmạicó hiệu lực thi hành tươngđươngluật. Ngoài ra, Hoa Kỳcòn có nhiềubộluật khác cho phép USFTC thực hiện nhiệm vụ bảo vệ người tiêu dùng.

Bên cạnh đó, dosựphát triển mạnhmẽcủanềnkinhtếvà các doanh nghiệp, đòi hỏi Bộ Tư pháp phải có một lực lượng chuyên biệt trong lĩnh vực thực thi các quy định của Luật Chống độc quyền nhằm đối phó với tình hình ngày càng phức tạp của thị trường. Do vậy, năm 1933, Cục Chống độc quyền thuộc Bộ Tư pháp đã được thành lập.

USFTC là một cơ quan độc lập báo cáo trực tiếp cho Nghị viện. Ủy ban hoạt động dưới sự chỉ đạo của 5 Ủy viêncó nhiệm kỳ 7 năm, được bổ nhiệm bởiTổng thống và được phê chuẩnbởiThượng nghị viện. Tổng thốngchỉ

53

định một Ủy viên đảm trách Chủ tịch. Không quá 3 Ủy viên là thành viên của một Đảng.

Hoạtđộngcủa USFTC được thực hiệnbởicác Cục gồmCục Bảovệngười tiêu dùng, Cục Cạnh tranh, Cục Kinh tế và các Văn phòng: Văn phòng các vấnđềcộng đồng, Văn phòng quanhệNghị viện, Văn phòng giámđốc điều hành, Văn phòng Tổng thanh tra, Văn phòng Tổng thamvấn(Office of General Counsel) và 7 văn phòng khu vực có nhiệmvụ hỗ trợ thựchiện các hoạt động này, cụ thể như sau:

Cục Cạnh tranh có nhiệmvụphát hiện các hoạt độngkinh doanh gây hạn chế cạnh tranh. Từ đó góp phần đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng thểhiện ởmứcgiá thấp và tính sẵn cócủacácsảnphẩm và dịch vụ.Cụcsẽ tiến hành các cuộc điều tra để phát hiện hành vi vi phạm, trình Uỷ ban xem xét xửlý. Khi Uỷ ban có quyết định xử lý, Cục sẽ thực thi các quyết định này thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của toà án liên bang hoặc theo các quy định hành chính.

Cục cũng có nhiệm vụ như một bộ phận nghiên cứu, hoạch định chính sáchvềcác vấnđềliên quanđếncạnh tranh. Cục chuẩnbịcác báo cáo vàchứng cớ trước Nghị viện, hoặc có thể đưa ra các bình luận về các vấn đề liên quan đến cạnh tranh trước khi có quyết định từ những cơ quan quản lý khác.

Cục Cạnh tranh cũng phát triển những kiến thức chuyên sâuvề một sốngành công nghiệp quan trọngđốivớingườitiêu dùng như: chăm sóc sức khoẻ, lương thực, năng lượng, và các dịch vụ chuyên môn khác.

Cục Kinhtếgiúp USFTC đánh giá ảnhhưởngkinhtếcủa các hoạt động của USFTC. Để thực hiện điều này, Cục tiến hành các phân tích kinh tếvà hỗtrợcác cuộcđiềutra vềchốngđộcquyền và bảovệngườitiêu dùng. Cục cũng phân tích những ảnh hưởng từ các quy định do Chính phủ ban hành về cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng và cung cấp cho Quốc hội cũng như

54

cho công chúng các phân tích kinhtếvềcác quy trìnhthịtrường liên quanđến chống độc quyền, bảo vệ người tiêu dùng và các quy định khác.

-VềCục Chốngđộcquyền, BộTư pháp: Chiểu theo Mục 2 của Luật Sherman, CụcChốngđộc quyền của BộTư phápchủyếutiến hànhđiềutra dân sự liên quan đến việc sử dụng Lệnh điều tra dân sự (CID), một loại công cụ điều tra tiền khởi tố.

Lệnhđiềutra dânsự(CID) là mộtloại lệnhđiềutra chungđược ban hànhbởiThứtrưởngBộTư pháp chiểu theo LuậtĐộc quyền dân sự. Lệnh nàysẽ được gửi tới đối tượng được Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng quy kết là sởhữu, kìm hãm hoặc kiểm soát một loại hàng hóa có liên quan đến điều tra dân sự. Lệnh này cũng có thể được ban hành cùng với những hành vi bị nghi ngờlà vi phạm.

CID cóthểđược tiến hànhdướicác dạng văn bản, lấylờikhai hoặc thẩm vấn Cục chống độc quyền của Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm chính trong các vụ việc hạn chế cạnh tranh cũng như khởi tố vụ án ra tòa nếu thấy có dấu hiệu hình sự. Với chức năng này, cơ quan nàysẽxửlý các hành vi vi phạm luật cạnh tranh bằng cách đưa vụ án đó ra tòa với mức hình phạt như phạt tiền hoặc bỏ tù. Trong một số vụ việc khác, cơ quan này có thể kết tội một hành vi dânsựnhấtđịnhbằng cáchsửdụng lệnh của tòa áncấmthực hiện những hành vi đó trong tương lai cũng như khắc phục những hậu quả của hành vi vi phạm trước đó.

Córấtnhiều vụviệc được xửlý vớisự hỗtrợ và phối hợp của các cơquan cạnh tranh nước ngoài và các văn phòng tư pháp quốc gia.

Phần lớn các vụ khởi tố hình sự đều liên quanđến các vấn đề ấn định giá, thôngđồngđấuthầu, phân chia thịtrường hoặcmặthàng.Bấtcứhình thức thỏa thuận nào nêu trên nếu xảy ra trong vòng ít nhất 05 năm trở lại đâyđều bị khởi tố hình sự, ngay cả khi hành vi đó không có bằng chứng liên quan

55

đếnthỏa thuận chính thức trên giấy tờ. Các hành vi thôngđồngnêu trên cóthể được tìm thấy thông qua các bằng chứng liên quan đến lời khai của người tham gia, hoặc bằng chứng gián tiếp ví dụ như tình tiết đầu thầu bị nghi ngờ, báo cáo công tác hoặc báo cáo chi tiêu, hóa đơnđiệnthoại, nhật ký kinh

doanh…

Ấn định giá hoặc thông đồng đấu thầu là hành vi vi phạm luật Sherman. Theo đó, bấtcứhành vi thôngđồngnào cũngsẽkhôngđược bào chữa hay thanh minh, ví dụ như thỏa thuận về giá là hợp lý, thỏa thuận đó nhằm ngăn chặn hoặc loại trừ khả năng giảm giá hoặc phá hoại cạnh tranh; hoặc hành vi thông đồng chỉ đơn thuần nhằm đảm bảo mỗi bên có thị phần bằng nhau trên thị trường.

Luật chốngđộc quyền docảCục Cạnh tranh của FTC vàCụcchống độc quyền thuộcBộTư pháp thi hành. Do đó, đểtránh chồng chéo, hai cơquan nàysẽtham khảoýkiến của nhau trước khi tiến hànhxửlýbấtkỳtrường hợp nào.

c. Thực tiễn công tác điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh

Các cơ quan cạnh tranh của Hoa Kỳ, đặc biệt là Cục Chống độc quyền, BộTư pháp Hoa Kỳđã chứng minhđược hiệuquảtrong thực thi pháp luật cạnh tranh, chốngđộc quyền. Giaiđoạntừnăm 2004đến2013, CụcChống độc quyềnđã khởixướngđiềutra hơn 1575vụviệc cạnh tranh, trung bình trên 157 vụ năm [49].

Sốlượngcác vụtập trung kinhtếđược khởixướng điều tra chiếm ưu thế hơn, với 842 vụ trong vòng 10 năm. Đồng thời, các vụ việc liên quan đến hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được thụ lý có số lượng tương đối đáng kể, chiếm trung bình trên 60vụmỗinăm trong giaiđoạn2004 – 2013. Khi pháp luật cạnh tranh của Hoa Kỳđã có thời gian dài phát triển, các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp cóvịtrí thống lĩnh/độc quyền trênthị

56

trường đã ý thức rất rõ về các đạo luật chống độc quyền. Số lượng các vụ việc vềlạmdụngvịtrí thống lĩnh/độc quyềnthịtrường chiếm không đángkểso với tổng số vụ việc cạnh tranh được điều tra, chỉ có 23 vụ trong 10 năm.

Tại Hoa Kỳ, các vụ việc cạnh tranh thuộc diện điều tra dân sự do Cục chốngđộc quyền, BộTư pháp hoặc Ủyban ThươngmạiLiên bangthụlý,điềutra. Hàng năm, có hàng trămđếnxấpxỉmộtnghìn quyếtđịnhđiềutra dân sự đối với các vụ việc cạnh tranh (như các vụ tập trung kinh tế, thỏa thuận hạnchếcạnh tranh, lạmdụngvịtrí thống lĩnh/độc quyền…) được ban hành. Tuy nhiên, nếu các vụ việc này không được giải quyết tại hai cơ quan này, sẽđược Tòa án sơ thẩm địa phương tiếp tục điều tra và xử lý. Các vụ việc này đa phần liên quanđếncác vụtậptrung kinh tế. Các thỏa thuậnhạnchếcạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền hầu như được giải quyết tại các cơquan cạnh tranh.

Các vụviệc thuộc diệnđiềutra hìnhsựphầnlớnliên quanđếncác hành vi hạn chế cạnh tranh. Ngoài ra, có một số trường hợp có thể liên quanđếncác loại hành vi vi phạm pháp luật chốngđộc quyền khác, tuy nhiên cónhữngyếutốkhai man, gian lận, lừa đảohoặc coi thường, cảntrởthực thi pháp luật…cũngbịđiềutra hình sự. Tòa án sơ thẩmđịa phương chịu trách nhiệm giải quyết và xử lý các vụ việc này.

Thành công của các cơ quan cạnh tranh Hoa Kỳtrong việc thực thi pháp luật và chính sách chống độc quyền không chỉ thể hiện qua số lượng vụviệc được thụ lý, điều tra, và đa số là thắng kiện, số vụ việc bị thua kiện hàng năm chiếm tỷ lệ không đáng kể (chừng 0 đến vài phần trăm trong tổng số các vụ việc được thụ lý),mà nó còn được thể hiện qua kết quả xử lý các vụ việc cạnh tranh. Hàng năm các doanh nghiệp và cá nhân vi phạm phảinộpphạt hàng trăm triệu đô la Mỹ và các cá nhân vi phạm còn phải chịu hình phạt tù.

Trong giaiđoạn2004–2013, sốtiền phạt thuđược hàng năm chiếm khoảng gần sáu trăm triệu đô la Mỹ và có xu hướng tăng lên theo thời gian.

57

Đặc biệt, tổng số tiền phạt thu được năm 2009 đạt gần 1 tỷ đô la Mỹ, đặc biệt năm 2012 đạt trên 1 tỷ đô la Mỹ. Mức phạt tiền áp dụng đối với doanh nghiệp vi phạm cao hơn rất nhiều so với mức phạt tiền đối với các cá nhân. So sánh mức tiền phạt đối với các doanh nghiệp và số lượng doanh nghiệp chịu hình phạt tiền nhận thấy mức độ phạt tiền đối với các doanh nghiệp ngàycàng tăng và nặng hơn.

1,600,000 1,400,000 1,200,000 1,000,000 800,000 600,000 400,000 200,000

(1,000 USD)

Số tiền phạt

Số tiền phạt

0200

4

200

5

200

6

200

7

200

8

200

9

201

0

201

1

201

2

201

3

Số tiền phạt141,2600,4473,4630,7696,5974,3343,0381,51,475275,2

Nguồn: Báo cáo hoạt động của Cục Chống độc quyền

Hình 1.2. Số tiền phạt do Cục chống độc quyền tiến hành từ 2004 – 2013

d. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi luật

Hoa Kỳđã khá thành công trong việc thực thi pháp luật chốngđộc quyền nhờ vào những công cụ, chính sách được sử dụng trong quá trình điều tra và xử lý hành vi vi phạm, qua đó mang lại tác động lớn đến hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh.

– Khám xét để thu thập chứng cứ

Mộtđiểmnổibậtvà then chốt trong kinh nghiệmđiềutra các vụ việc cạnh tranh của Hoa Kỳthểhiện ởchỗ, giống như Nhật Bản, pháp luật cạnh tranh của Hoa Kỳ cho phép các cơ quan cạnh tranh được áp dụng quyền khám xét. Theo đó, các cơ quan cạnh tranhđược quyềnđiềutra chính thức, khám

58

xét và thugiữtang vật có liên quanđếncác doanh nghiệp là đốitượngđiều tra. Vớiquyềnhạnnhư vậy, Ủyban ThươngmạiLiên bang và Cục Chống độc quyền, Bộ Tư pháp trong quá trình điều tra sẽ dễ dàng điều động điều tra viên tiến hành khám xét đúng lúc, đúng thời điểm nhằm thu giữ được những chứng cứ quan trọng, xác thực.

– Áp dụng Chương trình khoan dung

Thành côngcủamộtcuộc điềutra vụviệc cạnh tranh, đặcbiệt là các thỏa thuậnhạnchếcạnh tranhbắtnguồnchủyếutừviệc thu thậpđược các

thông tintừphía “ngườitrongcuộc” –các bên tham gia thỏa thuận. Thông thường, nếu không được hưởng lợi thì các doanh nghiệp kinh doanh hiếm khi hợptác vớicác cơ quan cạnh tranh, tuy nhiên, mộttrong những cáchđộng viên họ cung cấp các thông tin là cam kết sẽ miễn hoặc giảm các chế tài mà họ có thể bị áp dụng trong quá trình tố tụng.

Về cơ bản, một chính sách khoan dung cam kết cho doanh nghiệp hoặc cá nhân đầu tiên hợp tác đầy đủ với cơ quan điều tra vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh một cơ chế ân xá hoặc miễn trừ các chế tài đối với hành vi vi phạm mà họ đã thực hiện.

Hoa Kỳ là nước đầu tiên trên thế giới đưa ra chính sách khoan dung vàáp dụng trong cùng năm 1978. Chính sách này cũngđược tiến hành sửa đổi mộtsốnộidung quan trọng vào năm 1993 cho phùhợpvớithực tiễn. Theođó, thay vì theo chương trình cũ thì doanh nghiệp chỉ được hưởng khoan dung trong trường hợp Bộ Tư pháp chưa hề có thông tin về vụ thông đồng hay thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và chưa tiến hành điều tra vụ việc nhưng ở chương trình mới, doanh nghiệpvẫncóthểhưởngkhoan dungnếuBộTư phápđãtiến hành điều tra vụ việc nhưng vẫn chưa thu thập được đầy đủ các chứng cứcần thiết buộc doanh nghiệp đã nộp đơn phải tự thú về hành vi thông đồng của mình. Mặt khác, theo chương trình mới, doanh nghiệp nộp đơn được hưởng cơchế khoan dung tự động, trong trường hợp Bộ Tư pháp chưa có thông tin gì về

59

vụ thông đồng, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thay vì phải đáp ứng đầy đủ cácđiều kiện cần thiết như trước kia. Với sửa đổi năm 1993, ban lãnh đạo của một doanh nghiệpđãđượchưởngmiễntrừtheo cơchếtựđộng thì cũngđược hưởng miễn trừ nếu họ hợp tác đầy đủ (trong trường hợp cuộc điều tra chưa bắt đầu tiến hành trước khi doanh nghiệp nộp đơn).

Chính sách khoan dungvớinhữngnộidung và cơcấuhợplý đãmang

lạihiệu quả lớn cho các cơ quan cạnh tranhcủaHoaKỳtrong quá trình thực thi. Tỷ lệ đơn thông báo của doanh nghiệp tăng từ mức một đơn trong một năm theo chương trình ban đầu lên đến mức xấp xỉ một đơn một tháng theo chương trình mới. Cácđơnxinhưởngkhoan dungđãtrực tiếp manglạithành công trong quá trình khởi tố các vụ việc gây hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng.

– Áp dụng mức phạt mang tính răn đe

Để ngănchặn hành vi vi phạm, Hoa Kỳ đã áp dụng các chế tài nghiêm khắc đốivớicác hành vi vi phạm Luật chốngđộc quyền. Bởivìrủiro phải chịu hìnhphạt xửlý nặng nề khibịphát hiện thỏa thuậnhạn chếcạnh tranh khiến các doanh nghiệp và cá nhân vi phạm có nhiềuđộngcơ khai báovụviệc đểđược hưởngmiễntrừmộtphần hoặc toànbộmức phạt theo chương trình khoan dung.

Tháng 6 năm 2004, đạoluật Sherman (15 U.S.C. §1) của Hoa Kỳđãbổsung tăng mức phạtđốivớicác hành vi phản cạnh tranh vi phạm Luật chống độc quyền:

+ Mức phạt tối đa đối với doanh nghiệp tăng từ 10 triệu lên 100 triệu đôla Mỹ;

+ Mức mức phạt tối đa đối với cá nhân tăng từ 350 nghìn lên 1 triệu đôla Mỹ;

+ Hình sự: thời hạn phạt tù tối đa tăng từ 3 năm lên 10 năm.

Mộttrong những kinh nghiệm trong điều tra vàxửlý cácvụviệc cạnh tranh của Hoa Kỳ là đưa ra các hình thức xử lý vi phạm hết sức nghiêm khắc,

60

gồmphạt tiềnđượcáp dụngđốivớicảdoanh nghiệp và cá nhân vi phạm và phạt tù đối với các cá nhân vi phạm trong các vụ việc cạnh tranh nghiêm trọng.

Việc áp dụng khung hình phạt nặng đối với các cá nhân vi phạm sẽ góp phần răn đe ban lãnh đạo của các công ty đã vi phạm, thậm chí đang có ý định phải dè chừng. Bởitrong các trườnghợpvi phạm, ngườiquyếtđịnhcác vi phạm chính là ban lãnh đạo còn nhân viên chỉ là những người chấp hành. Tuy nhiên, khi quyết định chỉ áp dụng phạt đối với riêng công ty thì có khả năng công tysẽbịphásảnvà ngườichịu thiệtlạichính là nhân viên; còn khi áp

dụng mức phạt đối với ban lãnh đạo – những người trực tiếp đưa ra các quyết định sẽ không chỉ có tác dụng phạt đúng đối tượng mà còn khiến họ phải cân nhắc kỹ trước khi đưa ra quyết định vi phạm.

Ngoài ra, việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm nghiêm khắc là hết sức cần thiết, bởi đứng trên quanđiểmcủa các cơ quan cạnh tranh Hoa Kỳ, một sốhành vi vi phạm nghiêm trọng Luật Chống độc quyền (như thỏa thuận ấn địnhgiá hay thỏa thuận phân chia thịtrường) về bản chất là tươngđồng với hành vi ăn cắp vì hai hành vi này đều lấy tiền túi của người tiêu dùng mà họkhông hề biết và không mong muốn.

– Hoạt động vận động chính sách cạnh tranh (competition advocacy) Trong những năm qua, Cục Chốngđộc quyền, BộTư pháp cũng như

Ủyban ThươngmạiLiên bangđã và đang tăngcườngcác nỗlực vậnđộng chính sách cạnh tranh thông qua việc thực hiện các chương trình khác nhau vàcác sáng kiến hướng tới củng cố thị trường và bảo tồn phát triển kinh tế tự do và công bằng. Thực tế, thúc đẩy các nguyên tắc cạnh tranh thông qua nỗ lực vậnđộng chính sách và tiếp cận các nhà quản lý vẫn làmộttrong những ưu tiên cao nhất của các cơ quan cạnh tranh Hoa Kỳ. Những nỗ lực này bao gồm việc mở rộng quan hệ hợp tác sâu rộng và phối hợp hoạt động cùng với các cơquan liên bang như Ủy ban Truyền thông Liên bang, Bộ Nông nghiệp và Bộ

61

Giao thông vận tải, Văn phòng quản lý thương hiệu và bằng sáng chế, Cục Dựtrữ liên bang cũng như với Quốc hội, các cơ quan lập pháp và các cơ quan nhànước. Đồng thời, Cục Chống độc quyền cũng đệ trình các bản giải trình tóm tắt lên Tòa án tối cao Liên bang và các Tòa phúc thẩm, phát hành các báo cáo chi tiết tác động cạnh tranh nhằm giải thích lập luận và phân tích cạnh tranh.

Ngoài nỗ lực vận động chính sách trong nước, các cơ quan cạnh tranh Hoa Kỳ còn tích cực trong hoạt động hợp tác với các cơ quan cạnh tranh quốc tế, nhưTổchức Hợptác Kinhtếvà Phát triển (OECD) và Mạnglướicạnh tranh quốc tế (ICN), cũng như cơ quan thực thi chống độc quyền nước ngoài nhằm traođổikinh nghiệmđểtăngcườngnăng lực thực thi pháp luật vàchính sách cạnh tranh, hợp tác trong điều tra các-ten quốc tế, xuất bản những cuốnhướngdẫnkỹnăngđiềutra xửlývụviệc dựa trênsựtổnghợpkinh nghiệm quốc tế…

Thông qua nhữngnỗlực này, các cơ quan cạnh tranh HoaKỳđãtăng cường, mở rộng năng lực của mình nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tự do vàcông bằng, và tìm những cách thức mới để đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả và vận hành tốt các chức năng của mình đối với người tiêu dùng Mỹ.

1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam a. Về nội dung pháp luật cạnh tranh

Theo quy định pháp luật cạnh tranh của một số nước trên thế giới, việc ban hành pháp luật cạnh tranh phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, minh bạch và không phân biệtđốixử. Đặc biệt, trong phạm vi áp dụng luật cạnh tranh khôngđượcmiễntrừáp dungđốivớibấtkỳđốitượngnào baogồmcảcác doanh nghiệp nhà nước.

Bên cạnh đó, pháp luật cạnh tranhcủacácnước thường quyđịnhvàđiều chỉnh về các nhóm hành vi sau đây:

– Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền.

62

– Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (hành vi thông thầu, ấn định giá…).

– Các hành vi mua bán sáp nhập doanh nghiệp có tácđộngtới môi trường kinh doanh.

Riêngđốivớicác nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Không giống như quyđịnhcủa Luật Cạnh tranh Việt Nam, các hành vi này thường được quy định tại một văn bản khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh và chống độc quyền.

Đểđápứngnhững thayđổicủa thịtrường và nềnkinh tế, các nước thông thường sau 3-5 năm thường tiến hành rà soát, cậpnhật sửa đổipháp luật cạnh tranh cho phù hợp.

b. Về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan cạnh tranh Theo kinh nghiệm của các nước, nguyên tắc quan trọng hàngđầuđối

với cơ quan cạnh tranh là bảo đảm tính độc lập cho nó. Điều này có nghĩa là,

tổchức, hoạtđộngcủa thiếtchếnày phảiđược thiếtkếsao chobảođảm không để can thiệp hoặc bị chi phối từ các cơ quan khác (lập pháp, hành pháp, tư pháp). Độc lập là yếu tố tiên quyết để có sự công bằng trong việc xử lý các vụ việc, điều mà các bên đương sự luôn chờ đợi ở cơ quan này.

Tínhđộc lậpcủa các cơ quan cạnh tranh trongtổchức và hoạtđộng luôn luôn là mục tiêu hàng đầu mà các nước này hướng tới xây dựng. Đây là nộidungrấtquan trọngđảmbảocho những cơ quan này cóthểthực hiện

chức năng xử lý một cách công minh, vì mục tiêu bảo vệ trật tự công cộng –cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.

Đểđạtđược việc này, Luật Cạnh tranh của các nước đềuquyđịnh nguyên tắc tối cao là các cơ quan cạnh tranh hoàn toàn độc lập trong các hoạt động của mình mà không bị chi phối hay can thiệp của bất kỳ cơ quan thứ ba nào. Các cơ quan cạnh tranh được thành lập theo Luật và thực hiện các quyền năng được Luật này trao cho. Họ cũng có thể sử dụng những quyền hạn nàyđể yêu cầu sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan khác.

63

Để tạo lập sự độc lập về mặt tổ chức vàtài chính, một số nước đã thành lập cơ quan cạnh tranh của mình trực thuộc Quốc hội, độc lập với tư pháp vàchính phủ. Một số cơ quan cạnh tranh khác lại được tổ chức như một Bộ hay

ngang Bộ, độc lập với các bộ ngành khác. Một số trường hợp khác mặc dù đặt trong một bộ ngành nào đó nhưng lại duy trì một chế độ độc lập rất cao trong hoạt động. Các cơ quan này chỉ bị phụ thuộc về mặt hành chính. Việc độc lập này cònđạtđược thông quabổnhiệm những nhânsựcủa các cơ quan cạnh tranh này. Ngoài ra, Luật Cạnh tranh các nước còn quy định rõ ngân sách hoạt độngcũng nhưchếđộđãingộcho các cơ quan cạnh tranh và thành viên cơquan này.

Minh bạch trong hoạtđộngcủa các cơ quan nhà nước kểcảcơ quan cạnh tranh đang là một đòi hỏi hết sức quan trọng. Tuy nhiên, đối với các cơquan cạnh tranh thìđâylạilà yêucầucóýnghĩa đặc biệt quan trọng. Điều này xuất phát chính từ vai trò trong việc duy trì trật tự cạnh tranh rõ ràng, lành mạnh. Thông tin trongthịtrường phảiđược thông suốt. Tính minh bạchsẽnâng cao thêm uy tín của chính các cơ quan này.

Pháp luật cạnh tranh của các quốc gia nói trên đều quy định rất chặt chẽvềnhững yêucầuphải côngbốcông khai các hoạtđộngcủacơ quan cạnh tranh. Ngoài ra, các bên liên quan có quyền yêucầucác cơ quan cạnh tranh cho phép tiếpcậnthông tin liên quantớivụviệc. Trên thực tế, các cơ quan cạnh tranh cũng luôn đề cao tiêu chí minh bạch (Transparency) trong các hoạt độngcụthể của mình, từ việc công khai các chính sách, pháp luật cũng như

các quy trình xử lý công việc… cho đến nội dung các quyết định cụ thể trên các website của mình. Tuy nhiên, cơ quan cạnh tranh phải có trách nhiệm bảo mật các thông tin thu thập được trong quá trình điều tra liên quan đến bí mật kinh doanh của các doanh nghiệp là đối tương bị điều tra.

Ngân sách dành cho cơ quan cạnh tranh của các nước đang ngày càngđược tăng lên do tính chất của công việc. Cùng với sự phát triển của nền kinh

64

tế, thị trường cũng ngày càng được mở rộng, hành vi vi phạm của các chủ thểkinh doanh ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp hơn. Lượng công việc cho các cơ quan cạnh tranh cũng đang ngày càng tăng dần lên. Hầu hết các nước đều ý thức được điều nàyvà đã có sự ưu tiên nhiều hơn đối với công tác quản lý cạnh tranh.

Mộtđiểmđáng lưuýlà việc bổnhiệm thành viên cho cơ quan cạnh tranh. Các thành viên thườngđược bổnhiệmbởinhữngngườiđứngđầu Chínhphủhoặc Quốc hội. Điềunàyđã làm tăng tính chất quan trọng cũng như tínhđộc lậpcủa cơ quan cạnh tranh trong quá trình hoạt động. Tiêu chuẩnđểđược bổnhiệm là thành viên của cơ quan cạnh tranh cũng là điểm cầnđược nhắcđến. Các thành viên này thườngđược yêucầuđạtđược một trình độ chuyên môn nhất định, có học vấn cao, có kinh nghiệm và kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Nhiệmvụchínhcủacơ quan quản lý cạnh tranh là bảođảmthực thi Luật Cạnh tranh. Có thể nói, Luật Cạnh tranh được thực thi nghiêm chỉnh đến đâu là phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của chính cơ quan này. Qua nghiên cứu mô hình cơ quan cạnh tranh của một số nước, chúng ta có thể rút ra một số chức năng, nhiệm vụ chính của cơ quan cạnh tranh như sau:

– Điều tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh – Chống độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. – Kiểm soát quá trình sát nhập hợp nhất doanh nghiệp.

– Điều tra, xử lý các thoả thuận hạn chế cạnh tranh trên thị trường.

– Thực hiện các hoạt động khác nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Ngoài các nhiệm vụ, quyềnhạntrên,hầuhếtcác cơ quan cạnh tranhđều có hai thẩm quyền cơ bản:

65

– Phát hiện và kiến nghị các cơ quan liên quan bãibỏcác chính sách làm cản trở đến môi trường cạnh tranh.

– Yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, chứng cứ trong quá trình điều tra xử lý vụ việc cạnh tranh.

c. Về xây dựng và phát triển các công cụ nâng cao hiệu quả thực thi luật – Về chức năng tiến hành khám xét thu thập chứng cứ

Theo kinh nghiệm của các nước trênthếgiới, trong nhiều trường hợp việc thu thập thông tin chứng cứ bằng các công cụ thông thường như yêu cầu cungcấpthông tinmộtcách chính thốngtừcơ quan cạnh tranhvớicácđối tượng liên không đem lại hiệu quả. Lý do là vì các đối tượng thực hiện hành vi vi phạm thường có xu hướng che dấu hoặc thậm chí là tiêu hủy các tài liệu liên quantớihành vi vi phạm. Do đó, đểkịpthời thu thập các thông tin, chứng cứ và ngăn chặn nguy cơ chứng cứ về hành vi vi phạm bị tiêu hủy, cơ quan cạnh tranhcầnphải được trangbịmộtcôngcụđặc biệtđólà có thẩm quyền tiến hành việc khám xét trụ sở và nơi làm việc của các tổ chức, cá nhân liên quan.

Trước năm 2012, theo quyđịnhtạiPháp lệnhvềxửlý vi phạm hành chính, Thủ trưởng cơ quan cạnh tranh có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính trongđócó việc khám xét nơicấtgiấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Tuy nhiên, từ năm 2012, theo quy định tạiĐiều123 và Điều129 Luậtxửlý vi phạm hành chính năm 2012, thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính không cóThủtrưởng cơ quan cạnh tranh.

Chính vì vậy, để duy trì công cụ này cho Cơ quan cạnh tranh, trong thời gian tới, cần xem xét quy định lại thẩm quyền này trong Luật Cạnh tranh.

– Về chương trình khoan dung

Thực tiễn và lý luận đã chứng minh chính sách khoan dung thực sự là

66

một công cụ hữu hiệu của cơ quan quản lý cạnh tranh trong cuộc chiến chống lại các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Việt Nam cũng là một trong số

các quốc gia đã ban hành Luật Cạnh tranh trong đó có những quyđịnh về cấm các hành vi thỏa thuậnhạnchếcạnh tranh. Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở quy định chung chung về tình tiết giảm nhẹ(bên cạnh tình tiết tăng nặng) trong xử lý vi phạm các quy định về kiểm soát hành vi hạnchếcạnh tranh. Các quyđịnhnày chưa thể hiện đúngđượctinh thần chính sách khoan dung dành cho các thành viên tham gia các thỏa thuận này nếu họ chủ động khai báo và cung cấp chứng cứ cho cơ quan điều tra vìchưa có quyđịnhvềsốthành viênđược hưởng, mức miễn trừ, cơ chếbảo đảm bí mật, trình tự thủ tục để hưởng chính sách khoan dung,…Do đó, để đápứng được yêucầu của thực tiễn điều tra và xử lý các hành vi thỏa thuận hạn chếcạnh tranh, cầnthiết phải cósựnghiêncứuvà bổsungmộtcáchhợplýchính sách này vào pháp luật cạnh tranh của Việt Nam trong thời gian tới.

67

Chương 2

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT

CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 2005 ĐẾN 2014

2.1. Tổng quan về pháp luật cạnh tranh Việt Nam

Cùngvớicôngcuộc đổimớivà mởcửa,nềnkinhtếViệt Namđã đạt được mức tăng trưởng ấn tượng trong thập niên 90 và những năm đầu thế kỷ21. Sự phát triển nhanh của nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ đã tạo ra sức ép cạnh tranh lên các doanh nghiệp và đặtra yêucầuphải xây dựng khuôn khổpháp lýtạothuậnlợicho môi trường cạnh tranh. Trong quá trình thực hiện đường lối chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chếthịtrường cósựquản lý của nhà nước, thực tếđãxuất hiệnmộtsốhành vi cạnh tranh không lành mạnh và phản cạnh tranh, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sựphát triển kinhtế.Ngoài ra, việc nềnkinhtếvớixuất phátđiểmthấp vàcòn một số ngành và lĩnh vực tồn tại độc quyền nhà nước đã dẫn đến sự hạn chế trong phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh chung.

Trước khi Luật Cạnh tranh ra đời, mộtsốquyđịnhpháp luật nhằm kiểm soát các hành vi phản cạnh tranh hay kiểm soát độc quyền ở một số lĩnh vực riêng biệtđược quyđịnhrảirác tạimộtsốcác vănbảnpháp quy nhưPháp lệnh Giá, Pháp lệnh Bưu chính viễn thông, Luật Các tổchức tín dụng,

Luật Thương mại, Luật Điện lực… Tuy nhiên, việc thực thi các quy định trên còn chưa hiệu quả, một phần do thiếu một khung pháp lý hoàn chỉnh và thống nhất, thiếumộtcơ quan quản lý nhànước vềcạnh tranh và kiểm soátđộc

quyền, thiếu chế tài xử lý vi phạm…

68

Bên cạnh đó, từ đầu thập niên 1990, đất nước bắt đầu mở cửa nền kinh

tế, đẩymạnh thông thươngvớibên ngoài và tiếp nhận luồngvốnFDI. Việc trở thành thành viên ASEAN năm 1995 đánh dấu bước đi quan trọng đầu tiên trong quá trìnhhộinhập kinhtếquốctếcủanướcta. ASEANđãquyếtđịnh hình thànhmộtCộngđồngKinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015. Theo cam kết của các quốc gia thành viên, đến năm 2015 tất cả các nước ASEAN sẽ xây dựng và ban hành luật và chính sách cạnh tranh nhằm đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng. Trên cơsởđó,các nước ASEANsẽxây dựng một cơ chế phối hợp và hợp tác giữa các cơ quan cạnh tranh ASEAN đểtriển khai hiệu quả chính sách và luật cạnh tranh trong khu vực ASEAN.

Ngoài ra, trong quá trìnhđàmphán gia nhập và tham gia cáctổchức quốc tế và khu vực như APEC và WTO, các đối tác đã yêu cầu Việt Nam cam kết thực hiện hiệu quả và minh bạch chính sách cạnh tranh và xây dựng một khung pháp luật cũng như cơ quan cạnh tranhđộclậpnhằmđảmbảomôi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Trong bối cảnh đó, ngay từ những năm 2000, Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội và Chính phủ đưa vào chương trình xây dựng pháp luật. Sau 4 năm soạn thảo và lấyýkiến đóng góp của các chuyên gia trong và ngoài nước, Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2005.

Luật cạnh tranh được ban hành có mục tiêu nhằm:

– Kiểm soát độc quyền

– Tạo lập và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng; – Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Sau khi Luật Cạnh tranhđược Quốc hộithông qua, Chính phủ, BộCông Thương ban hành một số văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh.

69

Số ký hiệuNgày ban

hành

Tên văn bản
110/2005/NĐ-CP24/8/2005Nghị định số 110/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/8/2005 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp
116/2005/NĐ-CP15/9/2005Nghị định số 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh
120/2005/NĐ-CP30/9/2005Nghị định số 120/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/9/2005 quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
19/2005/TT-BCT08/11/2005Thông tư số 19/2005/TT-BTM của Bộ trưởngBộThương mại ngày 08/11/2005 hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/8/2005 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp
92/2005/QĐ-BTC09/12/2005Quyết định số 92/2005/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 09/12/2005 về việc quy định mức thu, chế độthu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy đăng ký tổchức bán hàng đacấp
05/2006/NĐ-CP09/01/2006Nghị định số 05/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/01/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng Cạnh tranh
06/2006/NĐ-CP09/01/2006Nghị định số 06/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/01/2006 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh

20/2006/QĐ- BTM17/5/2006Quyết định số 20/2006/QĐ-BTM của Bộ trưởng BộThương mại ngày 17/5/2006 về việc ban hành các mẫu quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
35/2011/TT-BCT23/9/2011Thông tư số 35/2011/TT-BCT của Bộ trưởng Bộ Công Thương ngày 23/9/2011 sửa đổi, bổ sung một số nội dung về thủ tục hành chính tại Thông tư số 19/2005/TT- BTM của Bộ trưởng Bộ Thương mại ngày 08/11/2005 hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số110/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/8/2005 về

quản lý hoạt động bán hàng đacấp

119/2011/NĐ-CP16/12/2011Nghị định số 119/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/12/2011 về việc sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính

70

tại Nghị định số 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh
42/2014/NĐ-CP14/5/2014Nghị định số 42/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/5/2014 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp

(thay thế Nghị định 110/2005/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014 )

71/2014/NĐ-CP21/7/2014Nghị định số 71/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh

(thay thế Nghị định 120/2005/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2014)

24/2014/TT-BCT30/7/2014Thông tư số 24/2014/TT-BCT của Bộ trưởng Bộ Công Thương ngày 30/7/ 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày

14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàngđa cấp

(thay thế Thông tư 19/2005/TT-BTM và Thông tư35/2011/TT-BCT, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2014)

2.1.1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh Luật Cạnh tranh quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh

tranh không lành mạnh, trình tự, thủtục giải quyếtvụviệc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh.

Luật Cạnh tranh áp dụngđối vớitổchức, cá nhân kinh doanh và hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam. Như vậy, Luật Cạnh tranh không loại trừ một loại hình doanh nghiệp cụ thể nào, tuy nhiên lại giới hạn phạm vi hoạt động chỉ trong lãnh thổ Việt Nam.

2.1.2. Quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh

Theo quy định tại Điều 3 Luật Cạnh tranh, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cảntrởcạnh tranh trênthịtrường, bao gồm hành vi:

71

– Thoả thuận hạn chế cạnh tranh;

– Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và – Tập trung kinh tế.

a. Hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh

Quá trình cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải nỗ lực để đạt được lợi thế hơn so với các đối thủ. Tuy nhiên, khi phải đối mặt với cạnh tranh, khôngít các doanh nghiệpđã nhìn nhận cạnh tranh nhưmộtmốihiểm họa đốivới khả năng thu lợi nhuận cũng như sự tồn vong của doanh nghiệp. Vì vậy, thay vìnỗlực điềuchỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranhđểtồn tạivà phát triển trongbốicảnh mới, các doanh nghiệp nàyđã chọnmộtconđườngdễdàng hơn là dàn xếp, thỏa thuận với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường về giá cả,

sảnxuất, thịtrường, khách hàng… nhằm duy trìthịphần và lợinhuận kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận.

Hậu quả tất yếu của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự độc quyền hóa thịtrường, theođócác vấnđềquan trọng của thịtrường như giá cả, sản

lượng, khách hàng… không còn tuân thủ theo quy luật thị trường mà bị khống chế bởi một nhóm các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận. Từ việc khống chếthịtrường, hành vi thỏa thuậnhạnchếcạnh tranh, vì vậy, thường mang tính chất“trục lợi” (exploitative) hoặc “ngăncản, loạibỏ” (exclusionary) cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh.

Mặc dù vậy, không phảitấtcảcác thỏa thuận giữa các doanh nghiệp đềunhất thiết nhằm mục đích hoặc có tác độnglàm phươnghạicạnh tranh. Trong một số quốc gia, pháp luật cạnh tranh có quy định miễn trừ cho một sốthỏa thuận hợp tác giữa các doanh nghiệp nếu các thỏa thuận đó có tác dụng làm tăng hiệuquảkinhtế,năngđộnghóathịtrường. Ví dụ, nhiều quốc gia cho phép các doanh nghiệp hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển sản phẩm (R&D), nghiên cứu, phát triển các tiêu chuẩn thống nhất cho sản

72

phẩm… đểkích thíchlợithếkinhtếqui mô, thúc đẩycác tiếnbộkỹthuật, công nghệ… mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và toàn bộ nền kinh tế.

Từcác đánh giá, nhìn nhậnvềtácđộngtiêu cực của các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh của hầu khắp các nước trên thếgiới đều có quy định điều chỉnh các hành vi thỏa thuận và đều coi pháp luật điều chỉnh hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là một trong ba cột trụ quan trọng của Luật Cạnh tranh.

Về các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, Điều 8, Luật Cạnh tranh quy định 8 hành vi, gồm:

(1) Thoả thuận ấnđịnhgiá hàng hoá, dịchvụmộtcách trực tiếp hoặc gián tiếp;

(2) Phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cungcấphàng hoá, cung ứng dịch vụ;

(3) Hạnchếhoặc kiểm soátsốlượng, khốilượngsảnxuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ;

(4) Hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;

(5) Áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịchvụhoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụkhông liên quantrực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;

(6) Ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thịtrường hoặc phát triển kinh doanh;

(7) Loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận;

(8) Thôngđồngđểmộthoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ.

Trên cơ sởcác quyđịnhtạiĐiều8, Luật Cạnh tranh, Nghịđịnh116 (Điều 14 đến 21) đã liệt kê các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cụ thể

73

với mô tả chi tiết về nội dung, hình thức của các loại thỏa thuận này.

Vềquyđịnhcấm, Luật Cạnh tranhcấmtuyệtđốivà không cho phép miễn trừ đối với các hành vi thỏa thuận quy định tại các khoản (6), (7) và (8) nêu trên. Các thoả thuận cạnh tranh cònlạichỉbịcấmkhi các bên tham gia thoả thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên.

Đồng thời, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh dạng nàyđược miễn trừcó thời hạn nếu đáp ứng một trong các điều kiện sau đây nhằm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng:

(1) Hợp lý hoá cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quảkinh doanh;

(2) Thúc đẩytiếnbộkỹthuật, công nghệ, nâng cao chấtlượnghàng hoá, dịchvụ;

(3) Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm;

(4) Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá;

(5) Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa;

(6) Tăngcườngsức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trênthịtrường quốc tế.

Đểđược hưởngmiễn trừ, các bên tham gia thỏa thuận phải thực hiện thủtụcđềnghịhưởngmiễntrừquyđịnhtạiĐiều25-38, Luật Cạnh tranh. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ của các bên, cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm xem xét, đề xuất ý kiến để Bộ trưởng Bộ Công Thương ra quyết định.

b. Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền

Thịtrường là sựtương tác giữa cung và cầu, qua đóxác địnhgiá vàlượng hàng hóa hoặc dịch vụ trao đổi. Tính đa dạng trong hoạt động trao đổi

74

giữa ngườimua và ngườibán hình thành nên các hình tháithịtrường khác nhau, bao gồm: cạnh tranh hoàn hảo; độc quyền; cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm.

Sức mạnhđộc quyền đemlạicho doanh nghiệplợithếcạnh tranh so vớicác doanh nghiệp khác và đemlạikhảnăng chi phối các quanhệvới khách hàng. Những lợi thế cạnh tranh có thể là khả năng kiểm soát các yếu tốcủa thịtrường (như nguồn nguyên liệu, giá cả, sốlượngsảnphẩmđápứng cho người tiêu dùng; khả năng tài chính; thói quen tiêu dùng của khách hàng v.v.) và các yếutốtạora địa vịkhông ngang bằng trong cạnh tranh giữa doanh nghiệp thống lĩnh trên thị trường và các đối thủ của nó (baogồm cả đối thủ tiềm năng).

Nhà độc quyền có điều kiện tận dụng những ưu thế trên nhằm gây khókhăn cho đối thủ trong quá trình kinh doanh hoặc ngăn cản việc gia nhập thịtrường. Đốivớikhách hàng,vịtrí thống lĩnh hoặcđộcquyềnđã khẳngđịnh địavịquan trọng của doanh nghiệp trong cungứnghoặc tiêuthụsảnphẩm trên thị trường liên quan bởi họ là nguồn cung hoặc nguồn cầu chủ yếu của thịtrường. Vì thế, quyền lựa chọn của khách hàngđã bịhạnchế, nhucầucủa khách hàngbịlệthuộc vàokhảnăngđápứngcủa doanh nghiệp. Doanh nghiệp có cơ hội để bóc lột khách hàng thông qua việc áp đặt những điều kiện giao dịch không công bằng.

Chính vì những hậu quả tiềm tàng như vậy, việc điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp có sức mạnh độc quyền luôn là trọng tâm của chính sách cũng như pháp luật cạnh tranh các nước.

Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về chính sách và pháp luật cạnh tranh giữa các quốc gia, nhưng các quốc gia đềuthống nhấtvềba mục tiêu chính của chính sách và pháp luật cạnh tranh là:

(1) đảm bảo một quá trình cạnh tranh hiệu quả;

75

(2) tăng cường phúc lợi xã hội, đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng; và (3) tối đa hóa hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phân bổ các nguồn lực xã

hội. Vì vậy, Luật Cạnh tranh là công cụ để bảo vệ và đem lại lợi ích cho nền kinh tế, xã hội và người tiêu dùng.

Với vai trò là một bộ phận không tách rời của chính sách và pháp luật cạnh tranh, pháp luậtvềkiểm soát hành vilạmdụngvịtrí thống lĩnh/độc quyền cũng hướng đến những mục tiêu chung đã nêu trên.

Điểm quan trọng là, mặc dù tình trạng độc quyền của thị trường cóthểdẫn đến tổn thất chung cho xã hội nhưng pháp luật cạnh tranh không cấm các doanh nghiệp bằng sức mạnh nội tại của mình, thông qua các biện pháp cạnh tranh, đạt được sức mạnh độc quyền. Pháp luật cạnh tranh hướng tới mục tiêu hiệu quả và lợi ích người tiêu dùng thông qua việc đảm bảo cạnh tranh trênthịtrường chứ không phải bảo vệ đối thủ cạnh tranh.

Do đó, pháp luật cạnh tranhchỉđiềuchỉnh hành vi của các doanh nghiệpđộc quyền/ thống lĩnh trênthịtrường nhằmhạnchế, ngăn chặn việc thực hiện các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường để loại bỏ cạnh tranh vàgây thiệthạichongườitiêu dùng. Nói cách khác, việc áp dụng pháp luật chốnglạmdụngvịtríđộc quyền/thống lĩnh không nhằm xoábỏvịtrí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền của doanh nghiệp mà chỉ loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống trị/độc quyền để trục lợi hoặc để bóp méo cạnh tranh.

Luật Cạnh tranh Việt Nam phân biệt doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh và doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường để điều chỉnh, theođó:

Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ30%trởlên trên thị trường liên quan hoặc cókhảnăng gâyhạnchếcạnh tranhmộtcách đáng kể; nhóm doanh nghiệpđược coi là có vị trí thống lĩnh thịtrườngnếucùng hànhđộngnhằm gâyhạnchếcạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau đây: hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở

76

lên trên thị trường liên quan; ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trênthịtrường liên quan;bốndoanh nghiệp có tổngthịphầntừ75%trởlên trên thị trường liên quan.

Doanh nghiệpđượccoi là cóvịtríđộcquyềnnếukhông có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan.

Về hành vi, Điều 13, Luật Cạnh tranh Việt Nam liệt kê 06 hành vi “lạm dụng vị trí thống lĩnh”:

(1) Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh;

(2) Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịchvụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;

(3) Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;

(4) Ápđặtđiềukiện thươngmạikhác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh;

(5) Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịchvụhoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụkhông liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;

(6) Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh.

Điều 14 liệt kê thêm 02 hành vi (ngoài 06 hành vi quy định tại Điều 13) “lạm dụng vị trí độc quyền” để điều chỉnh, baogồm:

(1) Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng;

(2) Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thayđổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng.

Trên cơ sở các quy định này, Nghị định 116/2005/NĐ-CP đã quy định các hành vi“lạmdụngvịtrí thống lĩnh”, “lạmdụngvịtríđộc quyền” một

77

cách cụ thể, theo đó mô tả một cách chi tiết các hình thức biểu hiện của từng hành vi bị coi là “lạm dụng”.

Về quy định cấm, Luật Cạnh tranh cấm tất cả các hành vi lạmdụng vịtrí thống lĩnhthịtrường và lạmdụngvịtríđộc quyền, không xem xét các trường hợp miễn trừ.

c. Tập trung kinh tế

Xét về cạnh tranh, mục tiêu cốt lõi của chính sách kiểm soát tập trung kinh tế (TTKT) là nhằm đảm bảo hoạt động TTKT không hoặc không tiềm ẩn nguy cơ gây ra tác động tiêu cực tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường.

Là một bộ phận của chính sách cạnh tranh nói chung, chính sách TTKTđược cụ thể hóa là một trong ba lĩnh vực điều chỉnh của Luật Cạnh tranh, bao gồm: thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền vàkiểm soát TTKT. Các quyđịnhvềkiểm soát TTKT có tác độngtiền kiểm, nhằm ngăn chặn các vụviệc sáp nhập cókhảnăng làm phươnghạitớicạnh tranh. Trong khi đó, các quy định điều chỉnh hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi dụng vị trí thống lĩnh thị trường lại có nhắm tới hậu kiểm, xửlý các hành vi làm phương hại tới cạnh tranh trên thị trường.

Việc đưa các quy định về TTKT vào Luật Cạnh tranh, nhằm ngăn chặn các vụ việc mới chỉ có khả năng gây phương hại cho cạnh tranh là do:

Thứnhất, TTKT ngaylậptức loạibỏáp lực cạnh tranh giữa các bên tham gia vàovụviệc và làm giảmsốlượngcác đốithủcạnh tranh trênthịtrường. Khi tác động loại bỏ cạnh tranh của vụ việc TTKT đủ lớn, thị trường sẽ mất dần định hướng hiệu quả kinh tế; đồng thời trong một số trường hợp, doanh nghiệp thành lập sau vụ việc TTKT không cần phải thực hiện các hành vi phạm các quy định mang tính hậu kiểm của Luật Cạnh tranh mà vẫn có thểloại bỏ được các đối thủ cạnh tranh và thu lợi từ thị trường.

78

Thứ hai, hiệu quả của công tác thực thi Luật Cạnh tranh không phải là100%. Không phải vi phạm nào cũng có thể bị phát hiện và xử lý. Do đó, việc áp dụng các biện pháp tiền kiểm có thể giúp giảm bớt áp lực cho cơ quan thực thi Luật. Ngoài ra, ngaycảkhi cóthểthực hiện các biện pháp khắc phục ởkhâuhậukiểmđốivớicác vụviệc TTKTbịphát hiện có tác độngxấutới cạnh tranh, thì các biện pháp này cũng rất tốn kém.

Thực tếcho thấy, hầuhếtcác vụviệc TTKT không làmnảysinh lo ngại về mặt cạnh tranh. Do đó, cơ quan cạnh tranh cần phân định rõ các dạng vụviệc TTKT mà họcầntậptrung nguồn lực đểxửlý. Thông thường, việc đánh giá một vụ việc TTKT bao gồm hai bước:

Bước 1: Đánh giá xem liệu một giao dịchnhất địnhcó thực sự là một vụ việc TTKT.

Bước 2: Đánh giá liệuvụviệc TTKTđócó làmnảysinh lo ngạivềcạnh tranh để phải ngăn chặn.

Luật Cạnh tranh các quốc gia trên thế giới nói chung đều điều chỉnh các dạngvụviệc TTKT cơ bản, bao gồm: sáp nhập,hợpnhất, mua lạivà liên doanh. Luật Cạnh tranh Việt Nam quy định:

– Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.

-Hợpnhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bịhợp nhất.

– Mua lạidoanh nghiệp là việc mộtdoanh nghiệp mua toànbộhoặc mộtphần tàisảncủadoanh nghiệp khác đủđểkiểm soát, chi phối toànbộhoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại.

79

– Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới.

Luật Cạnh tranh Việt Namsửdụng tiêu chíthịphầnđểxác định ngưỡng thông báo TTKT và đồng thời để đánh giá một vụ việc TTKT.

Ngưỡng thông báo TTKTđược quyđịnhtạiKhoản 1, Điều20, Luật Cạnh tranh. Theo đó, trong trường hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia TTKT chiếm từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp này có nghĩa vụ thực hiện thủ tục thông báo TTKT cho Cơ quan QLCT theo quy định tại Điều 20 Luật Cạnh tranh. Ngoài ra, trong trườnghợpdoanh nghiệp sau TTKTvẫnthuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì không phải thông báo.

Thịphần cũngđồngthờiđược sửdụngđểđánh giá tácđộnghạnchếcạnh tranh của vụviệc TTKT. Điều18, Luật Cạnh tranh quyđịnh“cấm TTKT nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia TTKT chiếm trên 50% trên thị trường liên quan”. Với cách tiếp cận như vậy, có thể thấy, Luật Cạnh tranh Việt Nam quan niệm, việc hình thành nênmộtthực thể(doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp) chiếm trên 50% thị phần trên thị trường liên quanđã tạo nên một sức mạnh đủ để gâyhạn chế cạnh tranh, có khả năng làm giảm, làmcảntrởvà sai lệch cạnh tranhmộtcách đáng kể. Đốivớinhững trường hợp này, doanh nghiệp bị cấm thực hiện TTKT, trừ trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện TTKT vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, vụviệc TTKT cóthểđược xem xét chohưởngmiễntrừtheo quy định tại Điều 19, Luật Cạnh tranh:

+Mộthoặc nhiều bên tham gia TTKT đang trong nguy cơ bịgiảithểhoặc lâm vào tình trạng phá sản (thẩm quyền xem xét quyết định thuộc về Bộtrưởng Bộ Công Thương);

80

+ Việc TTKT có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ (thẩm quyền xem xét quyết định thuộc về Thủ tướng Chính phủ).

Như vậy, ngoài việc sử dụng tiêu chí thị phần để đánh giá tác động hạn chếcạnh tranh của mộtvụviệc TTKT, Luật Cạnh tranh Việt Nam còn xem xét thêm haiyếu tố để cấm haycho phép tiến hành TTKT: một bên tham gia TTKT đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản và tácđộng tích cực củavụviệc TTKTtớixuất khẩu, phát triển kinhtếxã hội, cải tiến công nghệ, kỹthuật. Mặc dù cả hai yếu tố nàyđềulà nhữngyếu tốphổbiếnđượccác cơ quan cạnh tranh trên thế giới xem xét khi đánh giámột vụviệc TTKT nhưng có thể thấy, vai trò của cơ quan cạnh tranh Việt Nam trong việc đánh giá các yếu tố này là thấp. Trong trường hợp thứ nhất, chỉ cần một bên tham gia TTKTđápứngđiềukiệnvềgiảithểhoặc phá sảnlà cơ quan cạnh tranhsẽphảiđềxuấtBộtrưởngBộCông Thương cho phép tiến hành TTKT mà không có quyền đưa ra các biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệuquảcủa thịtrường. Tương tự, đốivớitrườnghợpthứhai khivụviệc TTKT có tác động nâng cao hiệu quả kinh tế, cơ quan cạnh tranh cũng không có quyền giám sát sau khi chấp nhận để đảm bảo hiệu quả kinh tế của một vụviệc TTKT bị coi là gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể sẽ được chuyển tới tay người tiêu dùng.

Việc sửdụngyếutốthịphầnkếthợplàm căncứđểkiểm soát TTKT cho thấy Luật Cạnh tranh của Việt Nam chỉ kiểm soát các trường hợp TTKT theo chiều ngang. Vì vậy, việc sáp nhập, hợpnhất, mua lại, liên doanh giữa các doanh nghiệp không cùngthịtrường liên quan thì không chịusựkiểm soát của Luật Cạnh tranh.

2.1.3. Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Theo quyđịnhtạiĐiều3 Luật Cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không

81

lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh tráivớicác chuẩn mực thông thườngvềđạođức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.

Đốivớiđa sốcác nước, những hành vi cạnh tranh không lành mạnhđược điềuchỉnhbởipháp luật thươngmạihoặc pháp luậtbảovệngườitiêu dùng. Tuy nhiên, Việt Namlạiđưa các quyđịnhnày vào Luật Cạnh tranh, theo đó hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:

– Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

– Xâm phạm bí mật kinh doanh; – Ép buộc trong kinh doanh;

– Gièm pha doanh nghiệp khác;

– Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; – Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

– Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; – Phân biệt đối xử của hiệp hội;

– Bán hàng đa cấp bất chính và

– Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác.

Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật Việt Namlầnđầu tiên được Luật Cạnh tranh đưa ra tại Khoản 4 Điều 3: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hạihoặc có thể gâythiệt hại đếnlợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những đặc trưng sau:

+ Mục đích của hành vi là mục đích cạnh tranh hay rộng hơn là mục đích lợi nhuận.

82

+Chủthể thực hiện là các doanh nghiệp hoạtđộngtrênthịtrường. TheoĐiều2 Luạt cạnh tranh, doanh nghiệp được hiểu là mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh, có nghĩa là baogồmcả chủthể kinh doanh không đăng ký loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp.

+ Đặc điểmcủa hành vi là tráivớicác chuẩn mực thông thường về đạođức kinh doanh, là những quy tắc xử sự chung đã được chấp nhận rộng rãi vàlâu dài trong quá trình kinh doanh trên thị trường.

+Đốitượngbịxâmhạibaogồmba loại khác nhau: Nhà nước, người tiêu dùng và doanh nghiệp khác.

2.1.4. Quy định về Cơ quan cạnh tranh

Theo quy định của Luật Cạnh tranh, Cơ quan cạnh tranh Việt Nam bao gồm hai cơ quan là cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh.

a. Cơ quan quản lý cạnh tranh

Cơ quan quản lý cạnh tranh là cơ quan trực thuộc Bộ Công Thương do Chính phủ thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức. Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh do Thủ tướng Chính phủ bổnhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương.

Cơ quan quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ, quyền hạn: (i) Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế;

(ii) Thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ;

(iii) ĐềxuấtýkiếnđểBộtrưởngBộCông Thương quyếtđịnhhoặc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;

(iv) Điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh;

(v) Xử lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh. b. Hội đồng cạnh tranh

Hội đồng cạnh tranh do Chính phủ thành lập, có từ mười một đến mười

83

lăm thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theođề nghịcủa Bộ trưởng Bộ Công thương (trên thực tế là lãnh đạo các Bộ, ngành). Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh.

ChủtịchHộiđồngcạnh tranhđược ThủtướngChínhphủbổnhiệm, miễn nhiệm trong số thành viên của Hội đồng cạnh tranh theođề nghị của Bộtrưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương). Khi giải quyết vụ việc cạnh tranh cụ thể, Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh gồm ít nhất năm thành viên, trong đó có một thành viên làmChủ

tịch. Trên cơsởhồsơ vụviệc do Cơ quan quản lý cạnh tranh chuyển, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh sẽ tổ chức phiên điều trần và ra quyết định xửlý theo cơ chế biểu quyết.

2.1.5. Quy định về quy trình tố tụng cạnh tranh

Tốtụng cạnh tranh là hoạtđộngcủacơ quan, tổchức, cá nhân theo trình tự, thủ tục giải quyết và xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của Luật Cạnh tranh và các vănbảnhướng dẫn thi hành. Quy trìnhtốtụng được chia thành ba giai đoạn chính.

a. Điều tra vụ việc cạnh tranh

Giaiđoạnđiềutra cóthểđược tiến hành dựa trênhồsơ khiếunạiđãđược Cơ quan QLCTthụ lý hoặc do Cơ quan QLCT tự khởi xướng điều tra. Việc điềutra mộtvụviệc cạnh tranhđược tiến hànhlầnlượttheo hai bước, gồm điều tra sơ bộ và điều tra chính thức. Sau khi kết thúc điều tra, cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm hoàn thiện báo cáođiềutra vàhồsơ vụviệc để chuẩn bị cho giai đoạn xử lý vụ việc tiếp sau.

b. Xử lý vụ việc cạnh tranh

Trêncơ sởBáo cáo điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong Hồ sơ vụ việc, căn cứ các quy định pháp luật, cơ quan được trao thẩm quyền xử lý

84

vụ việc có trách nhiệm nghiên cứu, đánh giá và ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Đối với vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, thẩm quyền xử lý vụ việc thuộc về Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh; đối với vụ việc hạn chếcạnh tranh,Hội đồngCạnh tranh(cụthểlàHộiđồngxử lývụ việc) cóthẩm quyền này.

c. Khiếu nại, khởi kiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

Trường hợp các bên không nhất trí với một phần hoặc toàn bộ nội dung của Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì có quyền khiếu nại lên Hội đồng Cạnh tranh (đối với vụ việc hạn chế cạnh tranh) hoặc khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Công Thương (đối với vụ việc cạnh tranh không lành mạnh).

Trong thờihạn30 ngày, kểtừngày nhậnđược hồsơ khiếu nại, Hội đồng Cạnh tranh hoặc Bộ trưởng Bộ Công Thương có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thẩm quyền; trường hợp đặc biệt phức tạp, thời hạn giải quyết khiếu nại có thể được gia hạn, nhưng không quá 30 ngày.

Trường hợp vẫn không nhất trí với Quyết định giải quyết khiếu nại vềQuyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, các bên liên quan có quyền khởi kiện vụán hành chínhđốivớimộtphần hoặc toànbộnộidung của quyếtđịnhgiải quyết khiếu nại ra Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền.

2.2. Thực trạng hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2014

2.2.1. Thực trạngvịtrí, chức năng, nhiệmvụvà quyền hạn củacơquan thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam

a. Cục Quản lý cạnh tranh – Lịch sử hình thành

Năm 2003, BộtrưởngBộThươngmạiđãcho thànhlậpBan Quản lýcạnh tranh, Ban Quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ Thương mại với nhiệm vụ

85

chủ yếu là: tham gia soạn thảo Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn vàhỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam đối phó với các vụ kiện chống bán phá giácủa nước ngoài kiện các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.

Ngày 26 tháng 02 năm 2004, để triển khai Nghịđịnhsố29/2004/NĐ- CP của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BộThương mại, BộtrưởngBộThươngmạiđã ban hành Quyếtđịnhsố0235/2004/QĐ-BTM thành lập Cục Quản lý cạnh tranh trên cơ sở Ban Quản lý cạnh tranh).

Theo Quyếtđịnhsố 1808/2004/QĐ-BTM ngày 06 tháng 12 năm 2004 của Bộ trưởngBộThươngmạithì Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan thuộc Bộ Thương mại có chức năng giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước vềcạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Ngày 03 tháng 12 năm 2004, tại kỳ họp thứ 6 khoá XI, Luật cạnh trạnh đã được Quốc hội thông qua và đã chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2005. Theo quyđịnhtạiĐiều49 vàĐiều53 của Luật Cạnh tranh, Cơquan quản lý cạnh tranh sẽ do Chính phủ quyết định thành lập và quy định tổchức, bộmáy. Vì lý do đó, ngày 09 tháng 01 năm 2006, Chínhphủđã ban hành Nghị định số 06/2006/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh.

Đểtriển khai Nghịđịnhsố95/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quyđịnhchức năng, nhiệm vụ, quyềnhạnvà cơ cấu tổchức của Bộ Công Thương (thay thế Nghị định số 29/2004/NĐ-CP), ngày 05 tháng 02 năm 2013,BộtrưởngBộCông Thương ban hành Quyếtđịnhsố848/QĐ-BCT quyđịnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấutổchức của Cục Quản lý cạnh tranh.

– Chức năng, nhiệm vụ của Cục Quản lý cạnh tranh

86

Cục Quản lý cạnh tranh là tổ chức trực thuộc Bộ Công Thương có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện:

+ Quản lý nhà nước về cạnh tranh (thực thi Luật Cạnh tranh);

+ Quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (thực thi 03 Pháp lệnh về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ);

+ Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (thực thi Luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng);

+ Phốihợpvớicác doanh nghiệp, hiệphộingành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợcấp và áp dụng các biện pháp tự vệ.

– Cơ cấu tổ chức

Cơ cấutổchức của Cục Quản lý cạnh tranh hiện nayđược quyđịnh theo Quyếtđịnhsố848/QĐ-BCT ngày 05 tháng 02 năm 2013 của BộCông Thương.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *