Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay

Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay

Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

Bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong hoạt động tư pháp, Tòa án giữvai trò trung tâm và là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước tiến hành xét xử các vụ án. Tòa án cũng được Hiến pháp quy

định là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, công lý, quyền con người, quyền công dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được bảo vệ [39].

Theo quy định, thủ tục tố tụng dân sự được áp dụng để giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình, lao động và dân sự. Trong những năm gần đây, tranh chấp về kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình, lao động và dân sựđều tăng mạnh cả về số lượng và tính phức tạpvề nội dung.Điển hình là các tranh chấp kinh doanh, thương mại mà hệ thống Tòa án phải thụ lý, giải quyết năm 2018 theo thủ tụcsơ thẩm là 15.439 vụviệc, tăng 1.423vụviệc so vớinăm 2017

[92]. Không chỉtăngvề số lượngcác vụ án, tính phức tạp về nội dung ngày càng biểu hiện rõ nét. Các tranh chấp không chỉ đơn thuần nằm trong một lĩnh vực nhấtđịnh mà liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau, như tranh chấp tronghoạt động đầu tư, tài chính, ngân hàng, mua bán hàng hóa, tranh chấp liên quan đến quyền sử dụngđất, nhà ở… Điều đó gây không ít khó khăn, vướng mắc cho hoạt động giải quyết vụán của hệ thống Tòa án. Mặc dù vậy, hệ thống Tòa án đãthụlý, giải quyết khá hiệu quả nhiều tranh chấp dân sự, phần nào đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tiễn cho thấy vẫn còn không ít khókhăn, bất cập trong quá trình thực hiện chức năng xét xử của Tòa án. Điều đó xuất phát từnhiều nguyên nhân khác nhau, làm cho hoạt động xét xửcủa Tòa án chưa thực sựhiệu quả, chưa bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp và chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam thấy được nhu cầu cải cách, hoàn thiện các cơ quan tư pháp và đã đặt ra nhiệm vụ “cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp” từĐại hội VIII, IX của Đảng. Cụthể hóa nhiệm vụ trên, cải cách tư pháp, trong đó trọng tâm là cải cách tổchức và hoạt động của hệ thống Tòa án đã được nhiều văn kiện của Đảng ghi nhận. Nghị quyết số48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị(khóa IX)vềChiến lược xây dựng và hoàn thiệnhệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị(khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về “Đề án đổi mới tổ chức và hoạtđộng của Tòaán, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra” thể hiện rõ tinh thần ấy. Thể chế hóa chủtrương này, nhiều đạo luật và các văn bản hướng dẫn đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho TAND thực hiện chức năng xét xử.

Hoạt động của hệ thống Tòa án được thể hiện chủ yếu thông qua hoạt động xét xử của Thẩm phán. Khi giải quyết vụ án, Thẩm phán tham gia vào tất cả các giai đoạn tốtụng,kểcả khi xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (giám đốc thẩm, tái thẩm), trong đó xét xử theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự (gọi tắt là vụ án dân sự sơ thẩm) theo BLTTDS có vai trò và ý nghĩa quan trọng. Khi giải quyết các vụ án dânsựtheo thủ tục thông thường, ngoài Thẩm phán, còn có sự tham gia của các HTND, nhưng vai trò của Thẩm phán vẫn có ý nghĩa quyết định hàng đầu đối với chất lượng giải quyết vụ án dânsựsơ thẩm. Thẩm phán phải trực tiếp lập hồ sơvụ án; áp dụng các biện pháp thu thập, tài liệu chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; ban hành các quyết định tố

tụng và xét xử vụ án… Đặc biệt, trong vụ án dân sự sơ thẩm giải quyết theo thủ tục rút gọn, xét xử không có sự tham gia của HTND, Thẩm phán là người duy nhất đưa ra phán quyết đối với tranh chấp dân sự.

Thực tế cho thấy, quá trình giải quyết vụ án dân sựsơ thẩm có nhiều tình huống, vướng mắc và bất cập, gây không ít khó khăn cho Thẩm phán khi tiến hành tố tụng. Trong khiđó,địa vịpháp lý của Thẩm phán có mặt còn chưa được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ được đề cao hơn đương sự; nhiều đương sự chưa ý thức được việc chứng minh cho yêu cầu của mình; trình tự,thủ tục tố tụng giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm chưa hợp lý… Mặt khác, Thẩm phán giải quyết các vụ án dânsựvẫn

còn nhiều sai sót, tình trạng vi phạm TTDS còn nhiều, tỷ lệ bản án dân sự sơ thẩm bị hủy, sửa do lỗi chủ quan vẫn cao, một số vụ án còn để quá hạn luật định; tính chủ động, sáng tạocủa Thẩm phán còn hạn chế; sựphốihợpgiữa Thẩm phán với HTND, Thư ký chưa thực sự hiệu quả. Cơ chế bảo đảm hoạt động TTDS của Thẩm phán chưa thực sựđược quan tâm, hoàn thiện. Nói cách khác, địavị pháp lý của Thẩm phán trong TTDS nói chung và trong giải quyết vụ án dân sựsơ thẩm còn nhiều điểm chưa rõ cả về khía cạnh nhận thức lý luận và thực tiễn. Những nguyên nhân này trực tiếp ảnh hưởng đến chấtlượngxét xử của Tòa án trong lĩnh vực dân sự, tác độngkhông có lợi đến quyền, lợi ích của Nhà nướcvà nhân dân. Vì vậy, nghiên cứu để nhận thức cho đúng địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụán dân sựsơ thẩm phù hợpvới yêu cầu củatình hình mới, qua đó, đề xuất hoàn thiện các quy định và cơ chế bảo đảm thực hiện hiệu quả địa vị pháp lý của Thẩm phán cùng các thủ tục giải quyết vụ án dân sự có liên quan, góp phần thực hiện mục tiêu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước, bảo đảm giải quyết đúng đắn các tranh chấp dânsự(bao gồm cả kinh doanh, thương mại , phùhợpvới yêu cầu, nguyện vọng của người dân, doanh nghiệp là hết sức cần thiết.

Xuất phát từthực tiễn và cách đặt vấn đề như vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩmở Việt Nam hiện nay” làmđề tài luận án tiến sĩ, chuyên ngành Luật kinh tế, mã số9.38.01.07.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đíchcủaluận án là nghiên cứu một cách có hệ thống các khía cạnh lýluận và thực tiễn vềđịa vị pháplý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơthẩm theo nghĩa rộng (gồm các vụ án kinh doanh, thương mại; hôn nhân gia đình; lao động và dân sự ; đề xuất hoàn thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán phù hợp với yêu cầu mới củathực tiễn cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nêu trên, luận án có những nhiệm vụ sau:

– Làm sángtỏcác khía cạnh lý luận cơ bản về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sựsơ thẩm: Khái niệmđịa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; vị trí, vai trò, cơ sở quy định địa vị pháp lýcủa Thẩm phán trong giải quyếtvụ ándân sự sơ thẩm; mối liên hệ giữa Thẩm phán với các chủ thể khác trong TTDS;

– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về địavị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dânsựsơ thẩm; tìm hiểu, so sánh với địavịpháp lý của Thẩm phán ở một số quốc gia khác khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm;

– Làm sáng tỏ thực trạng quy định pháp luật, thực hiện pháp luật và các biện pháp bảo đảm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm;

–Đề xuất,luận chứng yêu cầu, giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; hoàn thiện quy định pháp luật về trình

tự, thủ tụctố tụng đảm bảo cho Thẩm phán thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiêncứucủa luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn vềđịa vịpháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo nghĩa rộng. Cụ thể:

– Các quan điểm khoa học đã được công bố ở trong và ngoài nước về địa vịpháp lý của Thẩm phán nói chung và vấn đềđịa vịpháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm nói riêng.

– Hệ thống các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vềđịa vị pháp lý của Thẩm phán;

– Các quy định của pháp luật Việt Nam địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm;

– Thực tiễn áp dụng pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay;

– Pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở một số quốc gia trên thế giới;

– Các báo cáo, tổng kết tình hình thực thi pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam;

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sựsơ thẩm theo nghĩa rộng (gồm các vụ án kinh doanh, thương mại; hôn nhân gia đình; lao động và dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành, tính từ khi thụ lý vụán và Thẩm phán được lãnh đạo Tòa án phân công giải quyết vụ án theo quy định, đồng thời xem xét thực tiễn việcthực hiện địavị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm.

Luận án cũng tìm hiểu các quan niệm, quyđịnh pháp luậtcủamột số nước về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp phân tích lịch sử, phương pháp so sánh và thống kê.

5. Những điểm mới của luận án

-Về cách tiếp cận: Luận án không chỉtiếp cận vấn đề địa vị pháp lý của Thẩm phán ở Việt Nam hiện nay nói chung, mà tập trung nghiên cứu địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyếtvụ án dân sựsơ thẩm.Địa vịpháp lý của Thẩm phán được nghiên cứu một cách toàn diện ở các khía cạnh: Nhiệm vụ, quyền hạn vàtrách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo quy định của Hiến pháp, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước…; các văn bản dưới luật; các ánlệ của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; các bản án, quyết định dân sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật…

– Luận án đưa ra khái niệm, những thành tố cơ bản và làmrõ đặc điểm củađịa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sựsơ thẩmở Việt Nam hiện nay.

– Luận án đánh giá thực trạng quyđịnhpháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay, chỉ rõ những hạn chế, bấtcậpcủapháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dânsựsơ thẩm cũng nhưnhững hạn chế, thiếu sót trong quá trình áp dụng pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm.

– Luận án đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng caođịa vị pháp lý của Thẩm phán, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án sơ thẩm của Thẩm phán. Những giải pháp đưa ra, một mặt hoàn thiện địa vị pháp lýcủa Thẩm phán,mặtkhác hoàn thiệnthủ tục tố tụnggiải quyết các vụ án dân sự sơthẩm theo hướng khoa học nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng và đúng pháp luật.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

-Về mặt lý luận, luận án đưa ra góc nhìn toàn diện về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; xây dựng, hoàn thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự và thủ tục giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm.

-Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay cung cấp cho các nhà

nghiên cứu, cơ quan xây dựng và thực hiện pháp luật… những thông tin đáng tin cậyđể phục vụ quá trình nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật. Những giải pháp màluận án đưa ra là tài liệu tham khảo hữu ích cho quá trình hoàn thiện pháp luật vềđịa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm nói riêng, hoàn thiện pháp luật địa vị pháp lý của Thẩm phán nói chung. Luận án có thể dùng làm tài liệu giảng dạy và học tập trong chuyên ngành luật tố tụng dân sự, luật kinh tế.

7. Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận án được kết cấu gồm 04 chương và 01 phụ lục:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu.

Chương 2: Lýluận về địavị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm.

Chương 3: Thực trạng địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo pháp luật hiện hành.

Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng caođịavịpháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam.

Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay
Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

23

1.3. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 1.3.1. Cơ sở lý thuyết

Địa vị pháp lý của Thẩm phán nói chung và trong TTDS nói riêng là một trong những nội dung quan trọng khi hoàn thiện pháp luật về Tòa án nhân dân, đặc biệt là trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đang triển khai mạnh mẽchủ trương cải cách tư pháp.

Các câu hỏi nghiên cứu về lý luận được đặt ra là:

– Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm là gì?

– Các yếu tốthểhiệnđịa vịpháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụán dân sự sơ thẩm là gì?

–Mốiquanhệ giữa địavị pháp lýcủaThẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm với các chủ thể khác trong TTDS như thế nào?

Dựa trên những câu hỏi nghiên cứu v a nêu, giả thiết được đặt ra là:

– Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về địa vị pháp lý của Thẩm phán nói chung, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong lĩnh vực cụ thể như: Địa vị pháp lýcủa Thẩm phán trong giải quyết vụ án hình sự; trong khoa học luật tố tụng hình sự,

luật TTDS…Tuy nhiên, các quan niệm này đều có ưu, nhược riêng và đều cần tiếp tục được hoàn thiện.

– Việc nghiên cứu và chỉ ra được các yếu tố thể hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm có ý nghĩa trong việc xác định vị trí, vai trò của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, nhữngyếu tố tác độngtích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động tố tụng, phán quyết của Thẩm phán. Các yếu tố này có thể là yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội, quan niệm về quyền tư pháp, quan niệm,

kỳ vọng của xã hội về vai trò của Thẩm phán…

–Để xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong mối tương quan của TTDS, cần phải xem xét địa vị của những người tiến hành tố tụng khác như HTND,

Kiểm sát viên, Thẩm tra viên… cũng như địa vị pháp lý của những người tham gia tố tụng khác theo pháp luật TTDS.

Các câu hỏi nghiên cứu về thực trạng được đặt ra là:

– Thực trạng quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm hiện nay như thế nào?

– Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán

24

trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm như thế nào?

– Thực trạng các yếu tố bảo đảm để Thẩm phán thực hiện địa vị pháp lý trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm như thế nào?

Dựa trên những câu hỏi nghiên cứu v a nêu, giả thiết được đặt ra là:

– Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm

được quy định cụ thể trong Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, BLTTDS… Địa vị pháp lý của Thẩm phán bao gồmcác quyđịnh về vị trí, vai trò của Thẩm phán; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, quy định pháp luật còn chưa đầy đủ; một số quy định thiếu hợp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp mà Đảng đã đề ra.

– Trên cơ sở các quy định pháp luật, việc Thẩm phán thực hiện (chấp hành các quy định đó như thế nào để giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; những sai sót do khách quan hoặc chủ quan. Luận án tổng hợp những sai sót điển hình củaThẩm

phán khi thực thi côngvụ…

– Xác định các yếu tố bảo đảmđể Thẩm phán thực hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán và thực trạng các yếu tố đó tác động như thế nào đến việc giải quyếtvụán dân sự của Thẩm phán.

Câu hỏi nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện phápluật được đặt ralà: Với những hạn chế và bất cập đã được nhận diện, cần có những yêu cầu và giải pháp gìcho việc nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sựsơ thẩm? Giải pháp gì cần thực hiện đểgiải quyết vụán dânsựsơ thẩm nhanh chóng, thuận tiện, đúng pháp luật và phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế?

Dựa trên câu hỏi nghiên cứuv a nêu, giả thiết đượcđặt ra là: Hiện nay quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sựsơ thẩm còn những bất cập, bất hợp lý. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán còn cónhiều sai sót, áp dụng không đúng pháp luật. Các biện phápbảođảmđểThẩm phán giải quyết vụ án chưa được quan tâm. Những hạn chế đó tác động lớn đến quyền và lợi ích của đương sự, người tham gia tố tụng khác, chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tưpháp của Đảng và Nhà nước, cũng như hội nhập quốc tế.

Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trên, lý thuyết nghiên cứu mà luậnán sử dụng là: Lý luận của chuyên ngành Luật dân sự, TTDS, xã hội học pháp luật,

25

triết học pháp luật. Đây là những lĩnh vực khoa học cung cấp nền tảng lý luận, thực tiễn cho luận án.

1.3.2. Phương pháp nghiên cứu

Trên cơsởphương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịchsử của chủ nghĩa Mác Lê-nin, Luận án sửdụng kết hợpnhiều phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý. Cụ thể:

Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Phương pháp nàyđược áp dụng đểtìm hiểu sựhình thành và phát triển cơsởpháp lý địa vịpháp lý của Thẩm phán nói chung; địa vịpháp lý của Thẩm phán trong giải quyếtvụán dânsựsơ thẩm; tìm hiểu sựphát triển nhận thức lý luận và quanđiểm của Đảngvề địa vị pháp lý của Thẩm phán (chương II .

Phương pháp tổng hợp: Được áp dụng để hệ thống hoá các quan điểm về địa vị pháp lý của Thẩm phán và cách thức phân loại các yếu tố xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; tìm hiểu các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở một số quốc gia; đưa ra khái niệm về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam hiện hành (chương I và chương II .

Phương pháp so sánh: Được áp dụng để đối chiếu các quy định pháp luật của Việt Nam với quy định pháp luật của liên bang Nga, Mỹ, Anh và Pháp về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm (chương II).Từđó,đánh giásựhợplý, phùhợpcủaquyđịnhpháp luậtnướcta và cácnước khác về địa vị pháp lý của Thẩm phán (chương III .

Phương pháp phân tích: Được sử dụng để xác định và đánh giá các quy định pháp luật của Việt Nam hiện hành về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm (chương II ; đánh giá thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật; đánh giá các yếu tốbảo đảm đểThẩm phán giải quyết vụán dân sựsơthẩm (chương III ; đưa ra các kiến nghị, giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam (chương IV).

Ngoài ra, luận án còn thu thập tài liệuđểso sánh, đánh giá làm cơsởchứng minh các luận điểm, đánh giá, nhận định của luận án.

26

Luận án sử dụng các hướng tiếp cận chủ yếu sau:

Tiếp cận dưới góc độ lý luận, lịch sử nhà nước và pháp luật: Lý luận và lịch sửvề nhà nước pháp quyền, các học thuyết tổ chức quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị, lý luận về các hệ thống pháp luật, cơ cấu tổ chức của Tòa án, địa vị pháp lý của Thẩm phán trên thế giới và Việt Nam là cơ sở quan trọng để xem xét, nghiên cứu trong từng bối cảnh cụ thể.

Tiếp cận hệ thống: Phân tích và đánh giá hệ thống các vấn đề về địa vị pháp lý của Thẩm phán và các yếu tố xác định, các yếu tố bảo đảmđịavị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm.

Tiếp cận liên ngành: Phối hợp của nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn như luật học so sánh, xã hội học, khoa học lịch sử, chính trị học…

27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án “Địa vị pháp lýcủa Thẩm phán trong giải quyếtvụ ándân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay”, chúng ta có thể rút ra một số kết luận sau:

Thứ nhất, nghiên cứu đề tài thể hiện sự cần thiết, nhằm đáp ứng những đòi hỏi vềcơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và nhu cầu của quá trình phát triển đất nước và vấn đề cải cách tư pháp, trọng tâm là cải cách hệ thống Tòa án nhân dân, trong đó hoạt động xét xửThẩm phán có ý nghĩa và vai trò quyết định. Trong lĩnh vực giải quyết các vụ án dân sựtheo nghĩa rộng,địavịpháp lýcủaThẩm phán được khẳng định thông qua nhiệm vụ, quyền hạn bao gồm việc thụ lý, lập hồ sơ vụ án, công khai chứng cứ, hòa giải, trực tiếp

xét xử vụ án dân sự…

Thứhai, qua việc nghiên cứucác công trình trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài đã đạtđược một số kết quả và thành tựu nhất định, tuy nhiên các nghiên cứumớichỉbước đầu phân tích các quyđịnhpháp luật và thực trạng vềnhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán. Các nghiên cứu còn chưa phân tích sâu về các quy định xác định trách nhiệm của Thẩm phán với tư cách là một trong những nội dung quan trọng trong địa vị pháp lý của Thẩm phán. Hơn nữa, địa vị pháp lý của Thẩm phán có nhiều thay đổi theo Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân

dân 2014, BLTTDS năm 2015…

Thứba, thông qua đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu, có thể khẳngđịnh rằng, đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm. Do đó, việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Qua đó, luận án đề xuất, luận chứng các yêu cầu, giải pháp nâng cao địa vị pháp lýcủaThẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sựsơ thẩm; hoàn thiện quyđịnh pháp luật về trình tựthủ tục tố

tụng đảm bảo cho Thẩm phán thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

28

CHƯƠNG 2

LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN

TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM

2.1. Khái niệm và những thành tố cơ bản của địa vị pháp lý Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm

2.1.1. Khái niệm và đặc điểm thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự

Quan hệ pháp luật dânsựđa dạng về nội dung, hình thức và chủ thể tham gia. Khi tham gia các quan hệ dân sự, các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ theođúng những nội dung đã cam kết và quy định pháp luật. Tuy nhiên, khi một trong các bên không tuânthủcác quyđịnhpháp luật hoặc không tuânthủthỏa thuậnđã cam kết, xâm phạmđếnlợi íchcủabên kia thì bênbịvi phạm có quyềntựbảovệ hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ. Một trong những biện pháp bảovệquyền dânsựcủachủthểtrong quan hệdânsựlà khởi kiện.“Cơquan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông quangười đại diện hợppháp khởi kiệnvụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyềnđể yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”[40]. Khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS [66]. Thực hiện quyền khởi kiện, chủ thể phải có đơn khởi kiện gửi Tòa án có thẩm quyền. Tòa án chỉ giải quyết khi có đơn của chủthểcó quyền khởi kiện. Căncứ thẩmquyền của mình Toà ánsẽ thụ lýđơn khởi kiện và thu tiền tạm ứng án phí làm phát sinh sự kiện pháp lý thì trở thành vụ án dân sự. Ngoài ra, những tranh chấp mà pháp luật quy định không phải nộp tiền tạmứng án phí hoặc được miễn nộp thì được Tòa án xem xét cho thụ lý thì cũng trở thành vụ án dân sự. BLTTDS cũng quy định ngoài các chủ thể trực tiếp tham gia vào quan hệ dân sự có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thìmột số chủ thể khác cũng có quyền khởi kiện vụ ándân sự đểbảovệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước (Điều 187 .

Như vậy, xét xử theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự (gọi tắt là vụ án dân sự sơ thẩm) là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có tranh chấp có đơn yêu cầu vàđược Tòaán có thẩm quyền thụ lý, giải quyết làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác.

29

So với việc dân sự, thìvụ án dân sựluôn tồntại tranh chấp giữa mộthoặc các bên đương sựvới nhau. Tòa án giải quyết vụ án dân sựnhằm xác định hoặc phân định quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm (về nhân thân và tài sản) của các bên. Đối với việc dân sựkhông tồn tại tranh chấp mà người có đơn yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự.

Vụ án dân sự được giải quyết theo trình tự sơ thẩm cũng khác với giải quyết theo trình tự phúc thẩm hoặc giải quyết theothủ tục đặc biệt.Việc giải quyết theo trình tự phúc thẩm hoặc giải quyết theo thủ tục đặc biệt chỉ đặt ra khi vụ án đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định mà có đơn kháng cáo, khiếu nại, kiến nghịcủa đương sự (hoặc người có quyền lợi liên quan và chủ thể có thẩm quyền khác.

Qua đó, chúng ta có thể nhận thấy vụ án dân sự sơ thẩm có đặc điểm sau:

Một là, vụ án dân sựsơ thẩm được hình thành trên cơ sởcó đơn khởi kiện của chủ thể có quyền khởi kiện. Chỉ khi Tòa án thụ lý thì đơn khởi kiện đó mớiđược coi là vụ án dân sự;

Hai là, trong vụ án dânsựsơ thẩm luôn tồn tại tranh chấp giữa một bên hoặc các bên đương sự (về quyền, nghĩa vụ nhân thân hoặc tài sản ;

Ba là, vụ án dân sự sơ thẩm thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án có thẩm quyền theo quyđịnhcủa pháp luật. Trong trường hợpđãthụ lývụ án mà không thuộc thẩm quyền củaTòa án mình, thì phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền; trường hợp không thuộc thẩm quyền của Tòa án mà của cơ quan, tổ chức khác thìvụ án phải đình chỉ;

Bốn là, vụ án dân sựsơ thẩmđược giải quyết theo trình tựTTDS sơ thẩm. Bản án, quyết định do Tòa án cấp sơ thẩm ban hành chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định.

2.1.2. Khái niệm, đặc điểm địa vị pháp lý của Thẩm phán

Trên thế giới có nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, trong đó có hai hệ thống pháp luậtchủyếulàhệ thống pháp luật ánlệ(Common law) vàhệthống pháp luật châu Âu lục địa (Continental law – hay còn gọi là hệ thống pháp luật thành văn – Civil Law).Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong mỗi hệ thống pháp luật cónhững khác biệt nhấtđịnh,dẫnđếnđịavịpháp lýcủaThẩm phán cũng khác nhau. Tronghệthống Common law, nguồn luậtchủyếulà ánlệđượchình thành do phán

30

quyết của Thẩm phán, tức là Thẩm phán có thể tạo ra luật. Tuy nhiên, không phải mọi bảnán, quyết định của tòa án đều là án lệ. Về nguyên tắc, Thẩm phán của Tòa án cấp dưới phải sử dụng phán quyết của Tòa án cấp cao khi xét xử một vụ việc tương tự. Đối với hệ thống pháp luật Continental law, luật thành văn là nguồn luật chính. Luật thành văn được hình thành bởi cơ quan lập pháp và có hiệu lực thi hành đối với mọi Tòa án.

Trong hoạt động xét xử, Thẩm phán của hệ thống pháp luật Common law không tham gia vào hoạt động tranh tụng cũng như xét hỏi mà giữ vai trò trung lập, các đương sựsẽ tựđưa ra tài liệu, chứng cứđể tranh tụng. Sau đó, Thẩm phán sẽphán quyết trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ, lập luận của các bên và sử dụng án lệ nếu vụ việc tương sự đã được Tòa án cấp cao giải quyết.

Thẩm phán trong hệ thống pháp luật Continental law có nhiệm vụthu thập tài liệu, chứng cứ và xác định sự thật khách quan của vụ việc làm căn cứ giải quyết vụán. Vai tròcủaThẩm phán là trung tâm, trực tiếpđiềuhành việc xét hỏi, đánh giá chứng cứ, từ đó áp dụng các quy định pháp luật để giải quyết vụ án.

Ở ViệtNam, về cơbảnhệ thống pháp luật được xây dựng trên cơsởthủtục xét hỏi nhưng có kết hợp cácyếutố của thủ tục tố tụng tranh tụng [11]. Vai trò của Thẩm phán Việt Nam tương đốigiống với ngườiđồngcấp ởhệ thống Continental law, tức làhọcũng phải tuân thủ chặt chẽ quy địnhcủapháp luật thành văn khi giải quyết vụ án. Nhưngmột đặcđiểmkháccủaThẩm phán Việt Nam là dù quyếtđịnh của tòa cấp dưới là độc lập với các phán quyết của tòa cấp cao, nhưng khi gặp vấnđề pháp lý khó giải quyết, Tòa án cấpdưới thường gửi đơnxin ý kiến của Tòa cấp cao hơn.Đâylàmộttrong nhữngđiểmkhác biệt trong thực tiễn xétxửcủatòa án Việt Nam với tòa án nhiều quốc gia khác [80].

Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyđịnh“Tòa ánnhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (Điều 102 . Tòa án thực hiện chức năng xét xửkhông chỉ là quy định pháp luật mà còn là một yêu cầu khách quan, nhiệm vụ không thểthiếu trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước pháp quyền. Nhiệmvụcủa Tòa án là thực hiện việc xét xử, giải quyết các loại vụ việc phát sinh từ các quan hệ pháp luật hình sự, hôn nhân, gia đình, dân sự, lao động, kinh doanh, thương mại, hành chính. Để thực hiện nhiệmvụ đó,pháp luật xác định và trao cho Thẩm phán vai trò quan trọng trong việc xét xử các loại vụ án. Thẩm phán là ngườicó đủ điềukiện,

31

tiêu chuẩn luậtđịnh,đượcChủtịchnướcbổnhiệmđểlàm nhiệmvụxétxử.Trong hoạt động xét xử sơ thẩm theo thủ tục thông thường của Tòa án, Thẩm phán giữ vai trò hạt nhân, cùng với HTNDtạothành HĐXX tiến hành giải quyết các loạivụán.Đối với vụ ánđược giảiquyết theo thủ tục rút gọn, Thẩm phán trực tiếp lập hồ sơ vụ án và một mình thực hiện việc xét xử mà không có HTND tham gia. HĐXX (xét xửtheo thủ tục thông thường hoặc Thẩm phán (xét xử theo thủ tục rút gọn nhân danh Nhà nước giải quyết việc một người có tội hay không có tội; giải quyết đúng – sai của hành vi pháp lýđược xem xét trong các tranh chấp phát sinh, bảovệlợiích Nhànước, bảovệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do của công dân… Với vị trí, vai trò nhưvậy, Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định việc tuyển chọn, bổ nhiệmđối với Thẩm phán được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, nghiêm ngặt. Đồng thời, pháp luật cũng quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi thực hiện chức năng xét xử của Tòa án.

Thẩm phán là khái niệm chỉ một chức danh tư pháp đặc biệt, được nghiên cứu,đề cập ở nhiều góc độ khác nhau trong các công trình nghiên cứu trước đây. Tác giả ĐỗGia Thư cho rằng “Thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Tòa án, chuyên xét xửcác vụ án và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, ra các bản án, quyếtđịnhnhân danh Nhànước”[64]. TácgiảNguyễnThịThu cho rằng Thẩm phán là“những người làm công tác xét xử chuyên nghiệp, được tuyển chọn theo một quy trình chặt chẽ, làm việc thường xuyên trong cơ quan tòa án, thực hiện nhiệm vụ xét xử nhân danh Nhà nước”[63].

Theo từđiểntiếng Việt,“địa vị” là vịtrí, chỗ đứng của cá nhân trong xã hội [74]. Theo từđiển Luật học,“địa vị pháp lý”là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quyđịnh pháp luật.Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình [69, tr.244].

Điều 65 Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định “Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luậtnày được Chủ tịch nước bổ nhiệm đểlàm nhiệm vụ xét xử”.

Như vậy, Thẩm phán theo pháp luật Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, Thẩm phán được Chủ tịch nước bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ giải

32

quyết, xét xử các loại vụ án hình sự, dân sự, hành chính. Để được bổ nhiệm là Thẩm phán, cá nhân phải có đầyđủ điềukiện mà pháp luật quyđịnh và được bổ nhiệm theo phương thức và trình tự đặc thù; thứ hai, Thẩm phán là chủ thể trực tiếp thực hiện quyền tư pháp của Tòa án – cơ quan duy nhất được Hiến pháp năm 2013 trao cho thực hiện quyền tư pháp; thứ ba, Thẩm phán nhân danh nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền vàlợiích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội, lợi ích Nhà nước, bảo vệ công lý, công bằng xã hội.

Địa vị pháp lý của Thẩm phán được thể hiện trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật quyđịnhcho Thẩm phán. Không giống như những chủ thể tố tụng khác (bao gồm cả chủ thể tố tụng là Điều tra viên, Kiểm sát viên… , Thẩm phán làchủ thể tố tụng đặc biệt, Thẩm phán (cùng với HTND) nhân danh nước cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam khi xét xử, giải quyết các vụ án. Thẩm phán ban hành bảnán, quyết định trên cơ sở nội dung vụ án, quy định pháp luậtvà cảniềm tin nội tâm của Thẩm phán. Chính vì vậy, bản án, quyếtđịnh củaTòa án tuyên có hiệu lực thi hành đối với các bên, trừ trường hợp bị kháng cáo, kháng nghị.

Địa vị pháp lý của Thẩm phán không chỉ bao hàm quyền, nhiệm vụ mà còn cả trách nhiệm pháp lý có thể phát sinh khi thực thi công vụ. Quyền hạn, nhiệm vụcàng quan trọng thì trách nhiệm càng lớn. Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình trong hoạt động xét xử. Nếu cóhành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Thẩm phán trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì Tòa án nơi Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xửcó trách nhiệm bồi thường và Thẩm phán đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Tòa án theo quy định của pháp luật.

Như vậy, địa vịpháp lý của Thẩm phán là tổng thể các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán do pháp luật quy định, thể hiện vị trí của Thẩm phán trongmốiquanhệ với các chủ thể khác trong bộ máy Nhà nước và quanhệpháp luật tố tụng. Hoạtđộng xét xửcủa Thẩm phán nhằm bảo vệ công lý, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Có thể nói, nhiệm vụ, trách nhiệmcủaThẩm phán là những yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật đối với hành vi của Thẩm phán mà việc thực hiện chúng là rất khó khăn, phức tạp. Quyết

33

định của Thẩm phán cùng với các thành viên HĐXXsẽ ảnh hưởng trực tiếp đến

sinh mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,sựnghiệp, tài sản….của cácbị can, bị

cáo, đương sự. Khi xét xử, Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật thông qua một quy trình tố tụng chặt chẽ. Hoạt độngcủaThẩm phán chịu sự giám sát chặtchẽcủa xã hội, nhân dân và Nhà nước.

2.1.3. Khái niệmđịa vịpháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Theo quy định của BLTTDS, Tòa án nhận đơn khởi kiện thông qua bộ phận tiếp nhận đơn. Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện vàquyết định có thụ lý vụ án hay không. Nếu đơn khởi kiện thỏa mãn đầy đủ các điều kiện pháp luật quy định thì Thẩm phán tiến hành thụ lý vụ án và thông báo thụ lý vụ án. Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án bảo đảm nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên. Như vậy, theo quy định của BLTTDS năm 2015, Thẩm phánđượcphân côngthụlývụán cóthểkhông phải là Thẩm phánđượcphân công giải quyết vụ án. Điều 48 BLTTDS quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán bao gồm việc xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý vụ việc dân sự theo quy định. Tuy nhiên, trong một vụ án không phải Thẩm phán nào cũng có đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn trên, ví dụ như những Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án (sau khi thụ lý . Do đó, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được phân công thụ lý khác với nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án.

Hiện nay, vụ án dân sựđược giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm. Ngoài ra, các bản án, quyết định dân sựđã cóhiệu lực pháp luật có thể xem xét lại bằng thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm là trìnhtựkhởi kiện,thụlý, thu thập tài liệu, chứngcứvà xét xử giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Như phầntrước đã đềcập, theoTừđiển Luậthọc, địa vịpháp lý của chủ thể pháp luật là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình [69]. Dưới góc độ nghiên cứu, khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phánđược đề cập trong đềtài “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giaiđoạn xét xửsơ thẩm vụ án dân sự ởViệt Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Bích Thảo đã đưa ra khái niệm“Địa vị pháp lý

34

của Thẩm phán trong tố tụng dân sự được hiểu là tổng thể các quyền và nghĩavụ tốtụng của Thẩm phán phát sinh trong quá trình giải quyếtvụ việc dân sựdo pháp luật quy định, thể hiện vị trí của Thẩm phán trong mối quan hệ với các chủ thể khác trong quan hệpháp luật tố tụng dânsự”[61]. Khái niệm vừa nêu được xây dựng

trên cơ sở Thẩm phán là một chủ thể của pháp luật TTDS, với những quyền và nghĩa vụ nhất định mà chưa nghiên cứu để xác định trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán khi thực hiện quyền và nghĩa vụ đó, bao gồm: Trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán về hành chính (kỷ luật , hình sự và trách nhiệm bồi hoàn khi giải quyết vụ án không chính xác, gây thiệt hại mà Nhà nước đã bồi thường cho đương sự.

Như vậy, nếu quan niệmđầy đủhơn, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyếtvụán dân sự sơ thẩmđược xácđịnh trên cơ sở tổng thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lýcủaThẩm phán khi giải quyếtvụán dânsựtại Toà áncấpsơ thẩm. Trong quá trình giải quyếtvụán, Thẩm phán có nhiệmvụtuân thủ các thủ tục tố tụngtrong giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm, bảo đảmvụán được giải quyết đúng thời hạn, đúng pháp luật. Còn quyền hạn của Thẩm phán là sự chủ động áp dụng pháp luật trong việc thực hiện nhiệmvụcủa Thẩm phán khi giải quyếtvụán dân sự theothủ tụcsơ thẩm. Xét ở nghĩa rộng, trách nhiệmcủaThẩm phán rất rộng, bao gồm trách nhiệm giải quyết vụ án dân sự theo sự phân công của Chánh án; hoặc trách nhiệm từ chối giải quyết vụ án dân sự, khi có các căn cứ theo quy định; trách nhiệm bảo đảm giải quyết vụ án dânsựđược thực hiện theo đúng quyđịnhpháp luật về tố tụng và pháp luật nội dung… Xét dưới góc độ trách nhiệm pháp lý, pháp luật đề cao trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán khi giải quyết vụ án, bao gồm trách nhiệm hình sự, dân sự và kỷ luật.

Hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm được pháp luật TTDS quy định cụ thể, cho phép Thẩm phán được thực hiện một cách độc lậpnhằm giải quyếtvụán dân sự. Đểbảođảmcho Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thì nguyên tắc độc lập khi tiến hành tố tụng của Thẩm phán có vai trò quan trọng, điều này được Hiến pháp, pháp luật khẳngđịnh vàđược thực hiện trên thực tế. Sự độc lập của Thẩm phán xuất phát từ sự độc lập của Tòa án. Nếu Tòa án khôngđộc lập thì quyền tư pháp khôngđược thực hiện mộtcách độc

lập. Độc lập của Tòa án bao gồm: Độc lập của Tòa án với các cơ quan quyền lực, các cơ quan, tổ chức, cá nhân bên ngoài hệ thống Tòa án; độc lập giữa các Tòa án.

35

Độc lập của Tòa án đối với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp (Nghị viện hoặc Quốc hội , quyền hành pháp (Chính phủ hoặc Tổng thống và các cơ quan thực hiện quyền tư pháp khác (như Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố , các tổ chức bên ngoài, bao gồmđảng chính trị, các tổ chức chuyên môn về pháp luật, ngôn luận, xã hội, các chủ thể tham gia vào vụán [73].Sựđộclậpcàngđượckhẳng địnhthì trách nhiệm của Thẩm phán càng được đề cao. Do đó, để Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cần phải có một hành lang pháp lýđầy đủ vàphù hợp vớiđiều kiện kinh tếxã hội, phù hợpvớichính sáchcủaĐảng và Nhànướctheo hướng bảođảmhữu hiệu tính độc lập của Thẩm phán trong quá trình xét xử.

Trên cơ sở xem xét tổng thể nội hàm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, có thể đưa ra khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm như sau: Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm là tổng thể các nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán trongmốiquan hệ với các chủ thể khác khi tiến hành các thủtụctốtụng, áp dụng các quy định pháp luật nội dung nhằm giải quyết vụ ándânsựtheo thủ tục sơ thẩm chính xác, đúng pháp luật, đồng thời xác định hậu quả pháp lý khi Thẩm phán không thực hiện đúng quy định pháp luật.

Địa vịpháp lý của Thẩm phán trong giải quyếtvụán dân sựsơ thẩmđược thể hiện qua những đặc điểm sau:

Thứ nhất, Thẩm phán giải quyếtvụ ándân sự theo trình tự sơ thẩm phải thực hiện các thủtục tốtụng ban đầuđể lậphồ sơvụán, thu thập các tài liệu chứngcứ để giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự. Hồ sơvụán do Thẩm phán lập là cơsở để giải quyếtvụ án và là cơsởđể xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm (hoặc thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật);

Thứ hai, Thẩm phán giải quyết vụ án dân sự theo trình tự sơ thẩm bắt buộc phải thực hiện thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Ngoài ra, tùy theo từng loại tranh chấp mà Thẩm phán phải thực hiện việc xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là cơ sở để giải quyết tranh chấp;

Thứ ba, bản án, quyết định của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự theo trình tự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay, có thể bị kháng cáo, kháng nghịtheo trình tự phúc thẩm. Do đó, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sựsơ thẩm luôn bị giám sát thông qua quyền kháng cáo của đương sự, kháng

36

nghị của VKS cùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp.

Nội dung địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm phải đặttrong mối quan hệ với cácchủ thểtố tụng khác, đó là những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Bản chất của địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyếtvụán dân sự sơ thẩm chính là các quy định pháp luật về trình tự, thủ tụctố tụngsơ thẩmđể giải quyếtmộtvụ án dân sự cụ thể đặt trong mối quan hệ giữa những chủ thể tố tụng.

2.1.4. Những thành tố cơ bản của địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm

Địavịpháp lýcủachủ thểtốtụngđượcxácđịnhtrên cơsởnhiệmvụđược giao. CùngmộtThẩm phán nhưng khi giải quyếtvụán dânsựthì có quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm (địa vị pháp lý khác khi được giao giải quyết vụ án hìnhsựhoặc hành chính.Địavịpháp lý của Thẩm phánđược xác định làtổng thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự tại Toà án cấp sơ thẩm, đó là những thành tố cơ bảnđể nhận diện địa vị pháp lýcủa Thẩm phán. Bên cạnhđó,địa vịpháp lýcủaThẩm phán còn có những thànhtốkhác nhưđạo đức và ứng xử của Thẩmphán, nhân cách của Thẩm phán,…

2.1.4.1. Nhiệm vụ của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền, nhiệmvụ và nghĩa vụ là những khái niệm khác nhau: Thẩm quyền là “tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định củacác cơ quan, tổ chức thuộcbộmáy Nhà nước do luật pháp quy định”[69, tr.459]. Khái niệm“thẩmquyền” bao hàm hai nội dung chính là quyền hành động vàquyền quyếtđịnh của cơquan, tổ chức trong bộ máy Nhà nước. Quyền hành động là quyềnđượclàm những công việc nhấtđịnh.Quyền quyếtđịnhlà quyềnhạngiải quyết công việc đó trong phạm vi pháp luật cho phép (thẩm quyền hành động ; Nghĩa vụlà việc mà theođómộtchủthể(cá nhân, cơ quan,tổchức phải thực hiện hoặc không được thực hiện khi tham gia vào một quan hệ pháp luật. Nhiệm vụ là công việc phải làm, phải gánh vác [74, tr.1251]. Theo cách giải nghĩa này thì nhiệmvụ nói chung là công việc mang tính chất bắt buộcđối vớichủ thể phải thực hiện. Tuy nhiên, khi nóiđếnnhiệmvụcủacông chức, viên chức thường hiểu là công việc phải thực hiện của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong bộ máy Nhà nước. Nhiệm

37

vụ của một chủthể xuất phát từ tư cách chủthểtrong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp luật quy định. Cùng một chủ thể, nhưng mỗi quan hệ xã hội khác nhau thì quy định pháp luật xác định nhiệm vụ khác nhau.

Nhiệmvụ của Thẩm phán xuất phát từtư cách của Thẩm phán trong hệthống bộ máy Nhà nước. Thẩm phán là một chức danh tư pháp, được tuyển chọn vàbổ nhiệm theo một quy trình nghiêm ngặt. Xuất phát từtính chất “công việc” của Thẩm phán là nhân danh Nhà nước phán quyết, phân định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong vụ án dân sự. Vì vậy, quy định nhiệm vụ của Thẩm phán càng cụthể, đầy đủ sẽ là điều kiện quan trọng để Thẩm phán có thể giải quyết vụ án được nhanh chóng, đúng đắn. Nhiệm vụ của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm căn cứvào thẩm quyền củaTòa án các cấpvà được quyđịnh tạiĐiều 48 BLTTDS. Vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục sơ thẩm có thể Tòa án cấp huyện hoặc cấp tỉnh thụ lý phụ thuộc vào loại quan hệ tranh chấp, đương sự trong vụ án. Căn cứ vào đó, Thẩm phán thực hiện công việc từ khi thụ lý vụ án dân sự chođến khi kết thúc giai đoạn xét xử sơ thẩm. Trên thực tế, Thẩm phán giải quyết theo thủ tụcsơ thẩm thực hiện nhiệm vụ của mìnhtừkhi được phân công giải quyết vụán cho đến khi ban hành bản án, quyết định sơ thẩm và các công việc sau khi ra bản án, quyết định sơ thẩm như sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định, hoàn thiện hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm,…

Như vậy, nhiệm vụ của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Toà án cấp sơ thẩm là công việc Thẩm phán phải thực hiện từ khi được phân công giải quyết vụ án đến khi ban hành bản án, quyết định sơ thẩm và các công việc khác có liên quan đến vụ án theo quy định của tố tụng dân sự.

Nhiệm vụ của Thẩm phán giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm phát sinh khi Thẩm phán được lãnh đạo Tòa án phân công giải quyết. Đâylà cơ sở đểphát sinh nhiệm vụ của Thẩm phán. Nhiệm vụ đó chỉ kết thúc khi vụ án được giải quyết xong hoặc Thẩm phán thuộc trường hợp phải từchối tiến hành tố tụng,bị thay thế. Khi thực hiện nhiệm vụ, Thẩm phán phải tuân thủ nghiêm các quy định vềthủ tục tố tụng giải quyết vụ án, đồng thời quyết định chính xác yêu cầu khởi kiện thuộc nội dung vụ án – giải quyết được tranh chấp phát sinh giữa các bên đương sự.

38

2.1.4.2. Quyền hạn của Thẩm phán trong giải quyết vụán dân sự theo thủtục sơ thẩm

Cũng giống như nhiệm vụ của Thẩm phán, quyền hạncủaThẩm phán cũng xuất phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ pháp luật. Pháp luật trao cho chủ thể cóquyền như thế nào trên cơ sở cương vị, chức vụ mà chủ thể đó đảm nhiệm. Quyền hạnđược hiểu là quyền theo cương vị, chức vụ cho phép [74, tr.1384]. Dưới góc độpháp lý, quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật [69, tr.651].

Quyền hạn thường gắn chủ thể với một cương vị, tư cách cụ thể. Quyền hạn của cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức. Quyền hạn của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức làquyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi nhiệm vụ của cá nhân người cóthẩm quyền trong cơ quantổchứcđó.Đốivớiquyềncủachủthểkhi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự xuất phát từ sự thỏa thuận hoặc do pháp luật quyđịnh.

Quyền hạn và nhiệm vụ là hai khái niệm khác nhau, nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ. Nhiệmvụ của Thẩm phán là việc phải thực hiện các thủ tục tố tụng màBLTTDS quy định, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệmvụ thìtùy theo tính chấtvà mức độ việcgiải quyết vụ án dân sự sẽ không chính xác và có

thể vụ án phải thực hiện, giải quyết lại–vụán bị hủy. Nhiệmvụ của Thẩm phán mang tính bắt buộc khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, trong đó Thẩm phán phải thực hiện chính xác về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án. Còn quyền hạn của Thẩm phán là quyền quyết định trong việc thực hiện thủ tục tố tụng và ra các quyết định tố tụng do pháp luật TTDS quy định. Quyền hạn của Thẩm phán mang “tính chất chủđộng”nhằm thực hiện nhiệm vụ của Thẩm phán. Khi giải quyếtvụán dân sự, trên cơ sở nhiệmvụ mà pháp luật TTDS quy định, Thẩm phán có quyền hạn lựa chọn cách thức, thời gian, biện pháp và ra các quyết định tố tụng để thực hiện nhiệm vụ nhằm giải quyết vụ án dân sự nhanh chóng và chính xác.

Tuy nhiên, khái niệm quyền hạn và nhiệmvụ đặt trong một điều kiện với một chủthểxác định thì quyềnhạnvà nhiệm vụ là tươngđốithống nhất. Pháp luật quy định nhiệm vụ của Thẩm phán phải thực hiện những công việc gì, đồng nghĩa làpháp luật phải trao cho Thẩm phán những quyền hạn để thực hiện nhiệmvụ đó.

39

Chính vì lẽ đó, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được quy định chung tại Điều 65 Luật tổ chức Tòa án nhân dân. Trong lĩnh vực TTDS, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được quyđịnh thống nhất tại Điều 48 BLTTDS, không quyđịnh tách biệt nhiệm vụ và quyền hạn từ khi Thẩm phán được Chánh án phân công giải quyết, chuẩn bị xét xử; xét xử và các công việc sau khi xét xử.

Như đã phân tích, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xửcủa nướcCộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Thẩm phán là chủ thể thực hiện trực tiếp nhiệm vụ xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Do đó, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được xác định và gắn với nhiệm vụ quyền hạn của Tòa án nhân dân, trước đâyđược quyđịnh tại Pháp lệnh Thẩm phán và HTND [70], hiện nayđược quy định tại Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân [48].

Như vậy, quyền hạn của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tụcsơ thẩm là quyền quyếtđịnhthực hiện các hoạt động tố tụng, ban hành các quyết định tốtụngcủaThẩm phán từ khi được phân công giải quyếtvụ ánđếnkhi ban hành bản án, quyết định sơ thẩm và các quyền khác có liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Quyền hạn của Thẩm phán khi giải quyết vụán dân sự sơ thẩm, khác với quyền hạn của Thẩm phán giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm, hoặc trong thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và đượcpháp luật TTDS quy định căn cứ vào các công việc, nhiệm vụ mà Thẩm phán phải thực hiện.

2.1.4.3. Trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Theo Đại từđiển tiếng Việt xuất bản năm 1999, trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấyvề mình [74, tr.1678]. Còn theo Từđiển tiếng Việt xuất bản năm 2001, trách nhiệm là phần việc được giao cho hoặc coi nhưđược giao cho, phải bảo đảmlàm tròn, nếu kết quảkhông tốt thì phải gánh chịu

phần hậu quả (trách nhiệm làm cha mẹ, giám đốc xí nghiệp, ý thức trách nhiệm… . Trách nhiệm thường gắn với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và phải chịu hậu quả trong trường hợp thực hiện không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trách nhiệm của Thẩm phán nói chung được quy định tại Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, các luật tố tụng và văn bản pháp luật có liên quan.

Luật tổ chức Tòa án nhân dân tại Điều 76 quy định trách nhiệm của Thẩm phán

40

nói chung, là trung thành với Tổ quốc, gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Trong hoạt động công vụ, phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, lắng nghe và chịu sự giám sát của nhân dân. Khi giải quyết các vụ án, Thẩm phán phải độc lập, vô tư, khách quan, bảo vệ công lý; chấp hành quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp; giữbí mật nhà nước, bí mật công tác; Thẩm phán phải luôn học tập để nâng cao kiến thức, trìnhđộchínhtrịvà chuyên môn nghiệpvụ.Đặcbiệt, Thẩm phán chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và các quyết định của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật. Thẩm phán trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì Tòa án nơi Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử có trách nhiệm bồi thường và Thẩm phán đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Tòa án theo quy định của luật [47].

Như vậy, trách nhiệm của Thẩm phán không chỉ trong quá trình giải quyết vụán dân sựsơ thẩm, mà cả hoạt động côngvụ và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Thẩm phán phải có trách nhiệm và ứng xửcho phù hợp với tư cách là người trực tiếp thực hiện quyền tư pháp mà Nhà nước đã trao.

BLTTDS không quyđịnh cụ thể trách nhiệm của Thẩm phán, mà chỉ quyđịnh trách nhiệm cơ quan tiến hànhtố tụng, người tiến hành tốtụng tại Điều 13. Tuy nhiên, thông qua tinh thần các điều luật và các quy định về trách nhiệm chung của Thẩm phán trong các văn bản pháp luật có liên quan, cóthểkhái quát trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Toà án cấp sơ thẩm làviệc Thẩm phán tuân thủ các quy định của TTDS và các quy định pháp luật về nội dung để giải quyết nội dung vụ án dân sự sơ thẩm chính xác và hậu quả pháp lý màThẩm phán phải gánh chịu do không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trách nhiệmcủaThẩm phán có hai loại,thứnhất là trách nhiệmtốtụng, bao

gồm trách nhiệm Thẩm phán phải hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật giao khi giải quyết vụ án dân sự và áp dụng chính xác quy định pháp luật nội dung khi phán quyết; thứ hai, trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán phải gánh chịu do không thực hiệnđúng nhiệm vụ, quyền hạn. Việc thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Nhà nước, đương sự. Vìvậy, căn cứ vào hành vi và mức độ vi phạm, Thẩm phán có thể bị áp dụng một hoặc các loạichếtài như trách nhiệmkỷluật, trách nhiệm dânsự(bồi hoàn hoặc trách

41

nhiệm hình sự.

Do đó, trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sựtại Toà án cấp sơ thẩm là việc Thẩm phán phải chịu những chế tài theo quy định của pháp luật do không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán có mối liên hệ mật thiết với nhiệm vụvà quyền hạn. Trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán chỉ xác định được khi gắn với nhiệmvụ và quyền hạn nhất định. Ngược lại, khi Thẩm phán đượcpháp luật giao những quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ thì cần có một cơ chế xác định việc thực hiện đó đúng, chính xác không. Việc quyđịnhvà xác định trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán có ý nghĩa quan trọng nhằm ngăn ngừa sựlạmquyền vànhững hành vi trái pháp luật, hạn chế sự chủ quan, thiếu thận trọng của Thẩm phán khi tiến hànhtố tụng. Đặc điểm của vụ ándân sự sơ thẩm là luôn tồn tại mâu thuẫn giữa các bên đương sựnên để giải quyết yêu cầu, tranh chấp của đương sự, trách nhiệm của Thẩm phán phải áp dụng đúng các quy định để giải quyết các mâu thuẫnđó. Thẩm phán phải chịu trách nhiệm pháp lý trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tuy nhiên, đề cao trách nhiệm của Thẩm phán và bảo đảm quyềnlợi củađương sựsẽphần nàoảnh hưởngđến sựđộclập củaThẩm phán. Người dân tin tưởng Thẩm phán trong công việc xét xử, một công việc luônđòi hỏi phải tìm được sự cần bằng giữa hai khái niệm có giá trị bổ sung cho nhau đólà sự độc lập và trách nhiệm [37, tr.29].

Trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán cộng hòa liên bang Đức có sựkhác nhau giữa Thẩm phán liên bang với Thẩm phán chuyên nghiệp. Trách nhiệm giám sát công việc của Thẩm phán chuyên nghiệp thường được chia sẻ giữa Chánh án nơi Thẩm phán làm việc và vị Bộ trưởng ở cấp bang hoặc liên bang có thẩm quyền với Tòa án đó. Việc đánh giá giới hạn trong phạm vi các hoạt động của Thẩm phán đểthực hiện chức năng xét xử(thụ lý vụ việc …Cho dù phạm vi củaviệc đánh giácông việccủaThẩm phán rộng, nhưng các biện pháp kỷ luật có thể áp dụng khi một Thẩm phán vi phạm thì lại khá hạn chế. Đạo luật Thẩm phán Đức chỉ quy định vềhai hình thức kỷ luật là khiển trách và cảnh cáo. Cả hai hình thức này đều không đe dọa trực tiếp tới công việc của Thẩm phán bị kỷ luật [19, tr.204].

Kỷluật và miễn trừtrách nhiệmđối với Thẩm phán nước Pháp được phân chia rõ ràng đối với Thẩm phán thường và Thẩm phán hành chính. Đối vớiThẩm

42

phán thường mặc dù được trao đặc quyền không bị sa thải, họ vẫn phải chịu một chế độ trách nhiệm kỷ luật nặng nề nếu như họ không tuân thủ các nghĩa vụ đạo đức hay pháp lý tương ứng vớichức vụ của họ. Thẩm phán thường có thểphải chịu một trong tám hình thức kỷ luật như cảnh cáo ghi vào hồ sơ; tạm đình chỉ công tác; hạn chế một số chức năng; hạ chức; tạm đình chỉ công tác và tước các chế độ phúc lợi; hạ bậc công tác về vị trí cũ; buộc về hưu sớm và không hưởng hết lương hưu; đuổi việc không có lương hưu [19, tr.394]. Các biện pháp kỷ luật được áp dụng bởi một cơ quan có thành phầnchủ yếu đại diệnlợi ích của các Thẩm phán, sự can thiệp của nhánh hành pháp vào nội dung cũng như trình tự kỷ luật là rất hạn chế. Hơn nữa các Thẩm phán đương sự được hưởng đầy đủ các quyền bào chữa cho mình [19, tr.396]. Về trách nhiệm bồithường, Nhànước có trách nhiệm bồithường thiệt hạido các hoạt động sai lệch của các cơ quan tư pháp gây ra nhưng chỉ trong trường hợp có lỗi nghiêm trọng hay lỗi từ chối xét xử [37, tr.30].

Đối với Thẩm phán hành chính có thể phải chịu một năm hình thức kỷ luật như khiển trách; cảnh cáo; tạm đình chỉ công tác trong 06 tháng; nghỉ hưu sớm vàsa thải. Tất cả hình thức kỷ luật này đều do Bộ trưởng Tư pháp áp dụng [19, tr.397].

2.2. Cácyếu tố thể hiện địavị pháp lý Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *