Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Để bảo đảm quyền con người, quyền công dân và quyền bào chữa của người bị buộctội (NBBT), Nước ta đã ký hầu hết các Côngước quốc tếvề quyền con người trong đó có quyền bào chữa cho NBBT theo pháp luật tố tụng hình sự (PLTTHS). Cùng với đó,Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 [4], Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24- 05-2005 [5], Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02-06-2005 [6] đã định hướng chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống PLTTHS về cải cách tư pháp trong đó coi trọng việcbảođảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Hiến pháp 2013 ghi nhận những quyđịnh mới bảođảmquyền con người, quyền công dân và quyền bào chữa của người bị buộc tội. Chủ trương đảm bảo quyền bào chữa cho NBBT, nâng cao vị thế, vai trò của người bào chữa, cơ chế bảo đảm các quyền của người bào chữa (NBC) là nền tảng cho việc bảo đảm dân chủ hóa hoạt động

tố tụng hình sự (TTHS), tạo thế độc lập, bình đẳng với các chủ thể có chức năng buộc tội. Điều này có nghĩa ở đâu có việc buộc tội thìở đóquyền bào chữa phải được thực hiện và tôn trọng; bảo đảm Tòa án thực sự là hiện thân của công lý, khách quan, vô tưtrong quá trình xét xử để con người thực sự được sống trong sự“bảo hộ công dân” của pháp luật [34]. Mặt khác, Hiến pháp đã có những quy định chặt chẽ, cụ thể nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của NBBT, về những nguyên tắc áp dụng nhằm bảo vệ con người trước “vòng xoáy”TTHS mà cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện khi khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Một trong những quyền đó là: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khácbào chữa”[84, tr 24]. Quyền bào chữa (QBC) là cơ sở pháp lý cần thiết đểNBC bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NBBT. Bảo đảm quyền bào chữa của NBBT không những là một nguyên tắc quan trọng của PLTTHS mà còn là một quy định được ghi nhận trong 5 bản Hiến pháp từ Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 đến 2013. Một trong các chủ thể có thể thực hiện quyền bào chữa cho NBBT, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự theo BLTTHS, đó là Luật sư.

Giai đoạn điều tra, giai đoạn có tính quyết định của quá trình tiến hành tố tụng, vì người bị tạm giữ, bịcan chỉ là đối tượng bị “tình nghi phạm tội”, nếu thiếu thận trọng thì khoảng cách giữa không phạm tội và phạm tội hoặc giữa lỗi và tội dễ bị xóa nhòa

[137]. Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn điều tra là i) người có thẩm quyền THTT (Điều tra viên) là người nắm quyền chủ động; họ có xu hướng “quy, kết tội”; ii) người bị tình nghi phạm tội, là người yếu thế, bị động, thường có tâm lý hoang mang, dao động, không ổn định trong lời khai (dễ có lời khai khác nhau); iii) Luật sư trong giai đoạn này chính là “bác sĩ pháp lý”, tiếp cận người bị buộc tội với tư cách người bào chữa cho NBBT, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự; có trách nhiệm giải thích cho NBBT về những quyền được pháp luật bảo đảm, chuẩnbị tâm lý để từđógiúp cho người bị “tình nghi phạmtội” bình tĩnh, sáng suốt trong quá trình khai báo; xem xét sự việc một cách trung thực, khách quan tránh oan sai cho người bị “tình nghi phạm tội”, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.

Thực trạng đóđòi hỏi sựtham gia của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS là rất quan trọng, nhằm tìm kiếm chứng cứ gỡ tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đươngsựtrong việc đưara đềnghị hình phạt, thu thập tài liệu, chứng cứđưa ra yêu cầubồi

thường thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất, tinh thần, tài sản bị xâm phạm…; đồng thời góp phần hạn chếvi phạmtố tụng trong hoạt động điều tra như bức cung, nhục hình, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, giúp việc điều tra được nhanh chóng, chính xác, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định của BLTTHS và thực tiễnhoạt động tố tụngcho thấy quy định pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS còn mang tính hình thức, thiếu cơ chế bảo đảmthực hiện việc tham gia tố tụng của Luật sư. Nhiều trường hợp Luật sưbịcản trở, làm khó, chậm trễ trong việc cấp văn bản thông báo người bào chữa, khôngđược gặpgỡ NBBT, không được tham gia hỏi cung và tham gia các hoạt động điều tra khác dẫn đến hệ quả Luật sư dường như bị gạt ra khỏi hoạt động tố tụngtrong giaiđoạnđiều tra VAHS;không bảo vệ đượcquyền, lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự. Nhiều cơ quan, người có thẩm quyền THTT chưa nhận thức được vai trò của Luật sư, tôn trọng Luật sư, coi thường các quy định của PL TTHS dẫn đến oan, sai, bỏ lọt tội phạm và sự thật của VAHS chưa được làm sáng tỏ.

Việc xác định đúng đắn địa vị pháp lý của Luật sư trong TTHS góp phần quan trọng hiệu quả hoạt động TTHS của cải cách tư pháp. Khi Luật sư tham gia tố tụng thì pháp luật TTHS phải “luật hóa” về quyền và nghĩa vụ; những quyđịnh này tạo thànhđịa vị pháp lý của Luật sư trong TTHS. Mặt khác việc Luật sư tham gia sớm vào giai

đoạn điều tra VAHS “…vai tròcủaLuật sư trong các vụ án oan, saiđều ở thờiđiểm màngười bị oan đang phải “chấp hành án”, có nghĩa những giai đoạn đầu của tố tụng, Luật sư chưa thực sự được nhìn nhận và tôn trọng tương xứng với vai trò là “người chiến sĩdấn thân vì công lý” cũng như trong việc phòng, chống án oan, sai”[167] sẽ góp phần cùng với các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tìm ra sự thật khách quan của VAHS, góp phần khắc phục oan, sai.

Là thành phố lớn nhất Việt Nam đồng thời cũng là đầu tàu kinhtế,với những điều kiện tựnhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh hiện là nơi thu hút lao động trên khắp mọi miền đất nước, trong đó lao động hoạt động trong lĩnh vực pháp lý nói chung và Luật sư nói riêng chiếmsố lượng đông đảonhất cả nước (Theo số liệu thống kê củaĐoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh: tính đến tháng 11-2018, Thành phốHồ Chí Minh có tổngsố8.066 Luật sư, trongđócó 5.527 Luật sư chính thức và 2.539 tậpsựhành nghề Luật sư; nữchiếm tỷ lệ40%. Là thành phố có dân số đông nhất 8.611.100 người tính đến năm 2017 [132, tr 24] như vậy 1 Luật sư/1.558 người dân. Việc gia tăng tội phạm hình sự, trong đó số lượng các VAHS tại ThànhphốHồ Chí Minh giải quyết hằng năm luôn chiếm tỷ lệ cao so vớicác địaphương khác [104] những năm gần đây, khiến người tham gia tố tụng ngày càng đông, dẫn đến nhu cầu nhờ Luật sư tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng lớn.

Thời gian qua, có nhiều công trình liên quan đến việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của Luật sư trong các giai đoạn tố tụng nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tách bạch, từng khía cạnh, riêng lẻ về chủ thể mang tính chuyên nghiệp thực hiện quyền bào chữa như Luật sư; tách bạch riêng trong giaiđoạn điều tra VAHS trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu một cách toàn diện nhữngvấn đề về cơ sở lý luận; thực trạng pháp luật quy định; thực tiễn thực hiện địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS Việt Nam hiện nay nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS Việt Nam hiện nay có ý nghĩa không chỉ về mặtlý luận, thực tiễn mà còn góp phần hoàn thiện PLTTHS Việt Nam; thay đổi nhận thức cơ quan, người có thẩm quyền THTTvề vai trò, vị trí của Luật sư.

Đây là lý do mà nghiên cứu sinh chọn đề tài “Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” để thực hiện nghiên cứu.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là xác lậpluận cứkhoa học; khảo sát thực trạng về địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS (từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh) nhằm hoàn thiện chế định về Luật sư trong tố tụng hình sự, nâng cao hiệu quả hoạt động của Luật sư trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhằm bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, phân tích, luận giải các vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Luật sưtrong giaiđoạnđiềutra VAHS theo PLTTHS Việt Nam, làm rõ khái niệm, bản chất, chủ thể, quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS Việt Nam; các cơchế đảm bảo thực hiện địavị pháp lý của Luật sư, các yếu tố tác động đến việc thực hiện địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo pháp luật TTHS Việt Nam.

Thứ hai, phân tích quy định của PLTTHS Việt Nam về địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS.

Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng về thực hiện quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS Việt Nam từ thực tiễn Thành phốHồChí Minh xác định nguyên nhân những hạn chế, bất cập làm cơ sở cho việc đề ra những giải pháp thực hiện.

Thứ tư, xây dựng và thực hiện hệ thống các giải pháp nâng cao hiệuquả địa vịpháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật, thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Luật sư trong giaiđoạn điều tra vụ án hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Luận án nghiên cứu“Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” dưới khía cạnh quyền gắn liền với nghĩa vụ của NBC trong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS Việt Nam, tập trung vào nhóm chủ thể duy nhất là Luật sư vì Luật sư gắn bómật thiết, chuyên nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp, đạt hiệu quả cao nhất so với người bào chữa khác.

– Phạm vi không gian: Nghiên cứu địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự (trừ các vụ án xâm phạm môi trường và an ninh quốc gia) thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra 24 Quận, Huyện, Cơ quan Cảnh sátđiều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh; Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an C01, C03; Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Cơ quan điều tra hình sựBộQuốc phòng từthực tiễn Thành phố HồChí Minh. Luận án tập trung nghiên cứu chủyếu địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra với tư cách là người bào chữa và một số vấn đề có liên quan đến địa vị pháp lý của Luật sư với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, đương sự.

– Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu thực tiễn thực hiện quyđịnh của pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của Luật sư tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 10 năm

từ năm 2009 đến năm 2018 (gồm BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015).

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp luận

Luận án tiến hành nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật của triết học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụcủa luận án, tác giả sửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

– Phương pháp điều tra xã hội học: Để làm rõ tình hình, thực trạng quy định địa vị pháp lý của Luật sư cũng như các nội dung khác liên quan đến địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS, tác giả tiến hành điều tra, khảo sát tại Thành phố HồChí Minh để đánh giá thực trạng thông qua các câu hỏi điều tra xã hội học bằng các bảng hỏi.

– Phương pháp thống kê hình sự: Thông qua khảo sát thực tiễn, tác giả cónhững số liệu và để đánh giá được thực trạng cần thiết phải sử dụng thống kê hình sự đểphân tích địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS.

– Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Kinh nghiệm, lịch sử, quá trình thực hiện quyđịnh địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS là nguồn tư liệu quan trọng cho việc giải quyết nhiệm vụ của luận án. Việcsửdụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm góp phần làm cho luận án gắn kết với thực tiễn và có giá trị khoa học.

– Phương pháp tọa đàm trao đổi với các chuyên gia: Trong quá trình thực hiện luận án, góp phần đưa ra những nhận xét, đánh giá khoa học, toàn diện và các giải pháp có giá trị, cần thiết phải có sự tham khảo kiến thức, kinh nghiệm của các chuyên gia lýluận và thực tiễn về TTHS. Tác giả đã sử dụng phương pháp tọa đàm, trao đổi với các chuyên gia TTHS cũng như các Luật sư, Luật gia, nhằm củng cố thêm các căn cứ cho các luận giải trong luận án.

– Phương pháp lựa chọn án điển hình: Trong luận án có những nội dung tác giảkhông có điều kiện điều tra, khảo sát trong phạm vi toàn quốc, do đótác giả đã sửdụng phương pháp chọn thực tiễn ThànhphốHồChí Minh để khảo sát,từđócó thể phân tích, kết luận các nội dung liên quan.

– Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh: Để có thể sử dụng được số liệu, tài liệu đã thu thập được,cần thiết phải sửdụng phương pháp tổng hợp, so sánh số liệu nhằm sử dụng kết quả đó chứng minh cho những luận giải, kết luận trong luận án.

– Phương pháp lịch sử: phân tích lịch sử, nguyên nhân hình thành các quy định pháp luật và các vụ việc trong lịch sử có liên quan đến các quy định pháp luật để từđócó thể hiểu được nội dung và mục đích hình thành các quy định đó.

5. Những điểm mới của luận án

– Làm sáng tỏ cơ sở lý luận địa vị pháp lý của Luật sư, như xây dựng khái niệmđịa vị pháp lý của Luật sư, chỉ ra đặc điểm và ý nghĩa, nội dung địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

– Làm rõ những bất cập trong các quyđịnhcủa pháp luật tố tụng hình sựvà pháp luật về Luật sư ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của Luật sư.

– Làm rõ thực tiễn thực hiện quyđịnh của pháp luật tố tụng hình sựvề địa vịpháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong việc thi hành các quy định của PLTTHSvề địa vị pháp lý củaLuật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh.

-Đề xuất các giải pháp thực hiện PLTTHS theo hướng mở rộng cho Luật sưnhiều quyền và cơhộitham gia vào quá trình tố tụng trong sự bìnhđẳng với ngườicó thẩm quyền tiến hành tố tụng.Điềunày có ý nghĩa rất quantrọng đối vớiviệcbảo đảm thực hiện, nâng cao chất lượng bào chữa của Luật sư nói chung và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội nói riêng, đặc biệt tác giả mong muốn kiến nghị đến cơquan thẩm quyền văn bản hướng dẫn luật quy định tại khoản 1 điều 79 BLTTHS năm 2015: “phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa” [86, tr83] để thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể bổ sung cơ sở lý luận vềđịavị pháp lýcủa người bào chữa, của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS nói riêng.

Với những trình bày, phân tích cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của Luật sư; những cơchế bảo đảm thực hiện địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo pháp luật TTHS Việt Nam, luận án sẽ là nguồn tư liệu có ý nghĩa để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các nhà làm luật tham khảo, nghiên cứu, xem xét hoàn thiện BLTTHS 2015, Luật Luật sư hiện hành; kiến nghị các giải pháp bao gồm ban hành những văn bản dưới luật về pháp luật tố tụng hình sự. Luận án cũng là tài liệu nghiên cứu, tham khảo hữu ích cho các nhà khoa học, các nhà làm luật, giảng viên, Luật sư, Luật gia, người bào chữa khác; hoặc sửdụng làm tài liệu giảng dạy tại cơ sở đào tạo các chức danh tư pháp.

7. Kết cấu của luận án: Kết cấu nội dung chính của luận án bao gồm:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.

Chương 2. Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sựvềđịa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Chương 3. Thực trạng địa vị pháp lý của Luật sư trong giaiđoạnđiều tra vụ án hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Chương 4. Yêu cầu, giải pháp bảo đảm thực hiện đúng quy định của pháp luật và nâng cao địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước

1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu và giải quyết

1.3.1. Những vấn đề liên quan đến đề tài đã được giải quyết – Những nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến luận án

Có thể khẳngđịnh,đến thời điểmhiện nay, phần lớn các công trình nghiên cứu ởnước ngoàiđượccông bố mới chỉ phân tích, bình luận các quy định của pháp luật vềbảođảmquyền bào chữa của NBBT; vị trí tố tụng của Luật sư trong giai đoạn điều tra; quyền hành nghề, những thuận lợi, khó khăn khi hoạt động hành nghềcủaLuật sư.

Việc phân tích cụ thể thực trạngđịa vịpháp lý của Luật sư thông qua đánh giácác công việc, hoạtđộngnghề nghiệp mà Luật sư thực hiện trên thựctếchưađược nghiên cứu toàn diện. Đối với luật TTHS của một số nước thì việc nghiên cứu chỉ có tính chất tham khảo, so sánh chứ không thể đánh giá toàn diện và áp dụng được ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tổng quan cho thấy các công trình nghiên cứu ở nước ngoài ít đưa ra các hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện các quyền vànghĩa vụ của Luật sư.

Tuy nhiên, nội dung khảo sát đánh giá “Báo cáo quyền bào chữa trong pháp luật tốtụng hìnhsựvà thực tiễntạiViệt Nam” [130] do chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) thực hiệnsẽ được sử dụng làmtài liệu tham khảovì đề cập đến thực trạng thực hiệnđịa vịpháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS cho những lần khảo

sát kế tiếpđể sosánh. Ngoài ra luận ánsẽ tiếpthu nhữngnộidung liên quan trong các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã công bố làm giàu nguồn tư liệu đánh giá về thực trạng bảođảmthực hiện quyền và nghĩa vụcủaLuật sư theo PLTTHS Việt Nam.

– Những nghiên cứu trong nước có liên quan đến luận án.

Qua đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về địa vị pháp lý của Luật sưtrong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS Việt Nam cho thấy các công trình nghiên cứu, bài viết đã đề cập, giải quyết những vấn đề:

Một là, trong các công trình nghiên cứu đã đề cập và giải quyết nội dung địa vịpháp lý của Luật sư nhưng chỉ ở mức độ sơ lược, mới giải quyếtđược phần cơsở lýluận về địa vị pháp lý của Luật sư; các cơ chế đảmbảo thực hiện địa vị pháp lý của

23

Luật sư trong giai đoạn điều tra theo Thông tư 70/2011/TT-BCA [11] là cần thiết nhưng cần kiến nghị hủy bỏ vì không còn phù hợp với BLTTHS năm 2015.

Hai là, trong các công trình nghiên cứu đã công bố, các tác giả tập trung chủ yếuvào các giải pháp nhằm hoàn thiện BLTTHS năm 2003 [80]. Phần lớn các công trình đã công bố chưa phân tích đầyđủ, toàn diện, mới chỉ ra mộtsố giải pháp nhất thời; chưa phân tích giải quyết được cơ chếbảo đảmcác quyđịnh của pháp luật vềquyền và nghĩavụcủaLuật sư được thực hiện trên thực tế; những chế tài cần thiết đối với những hành vi lạmquyền hoặc gây cản trở từcơ quan THTT; chưa cá thể hóa về địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS; mối quan hệ công tác giữa Luật sư và người có thẩm quyền THTT trong giai đoạn điều tra VAHS chưa được giải quyết đúng đắn và dừng lại ở mức độ địa phương; bỏ ngõ các hoạt động thu thập chứng cứcủa Luật sư; nhận thức, đánh giá về vai trò của Luật sưtừcơ quan, người tiến hành

tố tụng chưa đầy đủ, Luật sư vẫn là người “yếu thế” so với các cơ quan, người tiến hành tố tụng.

Ba là, một số các công trình nghiên cứu, bài viết đề cập rất sơ lược vềđịa vịpháp lý của Luật sư, ít có sự nghiên cứu, phân tích cụ thể các mặt có liên quan hoặc chỉđi sâu vào nghiên cứu một số vấn đề cụ thể mà chưa có sựđầu tưnghiên cứu một cách chuyên biệt về địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS, chưa đưa ra được tổng quan các giải pháp, kiến nghịđồng bộ cho việc sửađổi,bổ sung BLTTHS năm 2003.

Các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến địa vị pháplý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS Việt Namđã tạo nên sựđa dạng quan điểmnhận thức về địa vị pháp lý của Luật sư trong giaiđoạn điều tra VAHS, những quan điểm, luận cứ trong các công trình, bài viết có ý nghĩa cho nghiên cứu sinh tham khảo sử dụng trong quá trình giải quyết nhiệm vụ của đề tài.

Tuy nhiên các công trình, bài viết nghiên cứu vào thời điểm trước khi BLTTHS năm 2015 ban hành nên chỉ sử dụng để tham khảo cho việc nghiên cứu đề tài về cơ sởlý luận.

1.3.2. Những nội dung luận án tiếp tục nghiên cứu và giải quyết

– Những nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan cần nghiên cứu và giải quyết. Qua nghiên cứu các công trình nước ngoài, nhất là trên học thuyếtvề tố tụng

công bằng (Due Process of Law) và nguyên tắc xét xửcông bằng (Right to fair trial) [93; tr 25]. Học thuyết trên bảođảm quyềncủa NBBT nói chung và bảo đảm quyền cóngười bào chữa nói riêng dựa trênnền tảng về sựcông bằng giữa các bên trong TTHS, bên cạnh đó, những nghiên cứu các công trình trên làm sáng tỏ mối liên hệ giữa những

24

học thuyết cơ bản trong TTHS và sự hình thành quyền có NBC. Tác giả sẽ kế thừa luận cứ trên làm cơ sở lý luận của đề tài.

– Những nghiên cứu trong nước có liên quan cần nghiên cứu và giải quyết.

Trên cơ sở tổng hợp, phân tích đánh giá những công trình nghiên cứu đã công bố cho thấy sự cần thiết phải có công trình chuyên khảo nghiên cứu về địa vị pháp lýcủa Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS Việt Nam nhằm nghiên cứu những vấn đề mà các công trình nghiên cứu chưa giải quyết hoặc đã giải quyết nhưng chưa giải quyết thấu đáo, luận án đi sâu vào nghiên cứu và tiếp tục giải quyết những vấn đề sau:

Một là, nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển địa vị pháp lý của Luật sưtrong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS Việt Nam nhất là phạm vi hoạt động của NBC. Nghiên cứu, phân tích làm rõ khái niệm địa vị pháp lý Luật sư; cơ sở lý luận địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS Việt Nam.

Hai là, từcơ sởlý luận và những nội dung của điều chỉnh pháp luật có sựso sánh quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS Việt Nam hiện nay với một số nước trên thế giới,đặc biệt về quyền củaNBC. Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để chứng minh“tố tụng công bằng” khi thực hiện địavị pháp lý của Luật sưvới địa vịpháp lý của người có thẩm quyền THTT trong giai đoạnđiều tra VAHS theo BLTTHS năm 2015 nhất là quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.

Ba là, phân tích các quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo BLTTHS năm 2015.

Bốn là, phân tích một số nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS 2015: i) Nguyên tắc suy đoán vô tội; ii) Nguyên tắc bảo đảm QBC của NBBT, bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại, đương sự; iii) Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo nhằm nâng cao vịthế, vai trò của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo BLTTHS năm 2015.

Năm là, phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện quy định PLTTHS về địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh.

Sáu là, đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện địa vị pháp lýcủa Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS theo BLTTHS năm 2015.

1.4. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.4.1 .Cơ sở lý thuyết

1.4.1.1 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết được các nhiệm vụ của luận án, quá trình nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau:

25

– Khái niệm về Luật sư; Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS; địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS là gì?

– Pháp luật quy định như thế nàovề địavị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS? có những ưu điểm, bất cập gì?

– Thực tiễn thực hiện quy định của BLTTHS năm 2003 và năm 2015 về địa vịpháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS ở Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện như thế nào? có những ưu, nhược điểm gì? nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong thực tiễn là gì?

– Phương hướng hoàn thiện BLTTHS năm 2015 nhằmbảo đảmthực hiện quyđịnh địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra cần những giải pháp, kiến nghị gì?

1.4.1.2 Lý thuyết nghiên cứu.

Luận án được tiến hành nghiên cứu dựa trên hệ thống lý luận của triết học Mác – Lênin, tưtưởngHồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối củaĐảng, Nhà nướcvềchính sách hình sự và về cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2020. Làm rõ các quy định của BLTTHS năm 2015 về địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS;mốiquan hệ giữa Luật sư với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng cũng là những cơ sở quan trọng để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu.

1.4.1.3 Giả thuyết nghiên cứu.

Với đề tài trên, tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu sau:

– Trong khi còn nhiều quan điểm khác nhau về vai trò, vị trí của Luật sư trong TTHS, luận án cần nghiên cứu, làm rõ về địa vị pháp lý của Luật sư; Luật sư có vai trò, vị trí quan trọng trong các chủ thể thực hiện quyền bào chữa? Luật sư là chủ thể chuyên nghiệp, chủ yếu trong việc thực hiện chức năng bào chữa, bảo vệ quyền vàlợiích hợp pháp của NBBT, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự góp phần quan trọng trong việc phòng, chống tội phạm, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, không bỏ sót tội phạm, không làm oan người vô tội, các quyền cơ bản của công dân.

– Để nâng cao vai trò, vị thế của Luật sư trong việc thực hiện chức năng gỡ tội theo mô hình thẩm vấn có pha trộn hạt nhân hợp lý của mô hình tranh tụng cần phải hoàn thiện BLTTHS năm 2015 như thế nào. Với tư cách là người tham gia tố tụng, Luật sưđặt trong mối quanhệ như thế nào với cơ quan, người có thẩm quyền THTT theo pháp luật TTHS Việt Nam trong giai đoạn điều tra VAHS.

– BLTTHS năm 2015 về cơ bản có nhiều điểm tiến bộ khi mở rộng địa vị pháp lý cho Luật sư. Tuy nhiên, do chuyển biến của tình hình, bên cạnh những điểm tiến bộ, phù hợp nhằm hoàn thiện và nâng cao vai trò, vị thế của Luật sư, cũng bộc lộ nhữngđiểm hạn chế phải có văn bản dưới luật để bảo đảm thực hiện những quy định của Bộ Luật TTHS năm 2015 trong giai đoạn điều tra VAHS.

26

– Để tiếp tục hoàn thiện BLTTHS năm 2015, luận án tiến hành khảo sát làm rõ thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh.

Tiểu kết Chương 1

Thực tiễn cho thấy, những năm qua, hoạt động hành nghề của Luật sưđã cónhững đóng góp hiệu quả, góp phần quan trọng trong việc dân chủ hóa hoạt động tốtụng, tạo thế cân bằng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Luật sư tham gia tố tụng ngày càng tăng, diện mạo đời sống pháp luật ngày càng khởi sắc trong giai đoạn điều tra vụ

án hình sự, giai đoạn mà số phận con người nằm trong lằn ranh giữa cáo buộc phạm tội và vô tội. Tố tụng công bằng mang giá trị công lý của quyền bào chữa, nhờ người khác bào chữa đã mở ra cho người bào chữa nhiều quyền và nghĩa vụ. Tuy nhiên bảo đảm cho những quyền và nghĩa vụ ấy có hiệu quả cần những nguyên tắc của tố tụng hình sự, một trong những nguyên tắc ấy là tranh tụng trong xét xửđược đảm bảo đã được Hiến pháp quy định vàđượcthể chếhóa bằng các quy định của PLTTHScụ thể,tranh tụng trong giai đoạn điềutra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NBBT; bảo vệ quyền, lợi ích cho bị hại, đương sự.

Mặc dù đã có nhiều công trình khoa học được công bố và đề cập đến địa vị pháp lý ở cả trong và ngoài nước nhưng do bị giới hạn về phạm vi nghiên cứu cũng nhưcấp độ nghiên cứu nên các vấn đề liên quan đến địa vị pháp lýcủaLuật sư trong giaiđoạn điềutra VAHS thường không được trình bày riêng biệt mà chỉ được đề cập ở một số khía cạnh khi viết về người bào chữa nói chung. Một số công trình nghiên cứu riêng về địavị pháp lý của Luật sư trong giaiđoạn điềutra VAHS, cơsở lýluậnchưa đượcđề cập một cách toàn diện và có hệ thống. Chính vì vậy, với tư cách là một công trình nghiên cứu toàn diện về địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS, luậnán tiếp tục nghiêncứu ở mức độ sâu hơn để trở thànhmột công trình nghiên cứu toàn diện, có tínhhệ thống, tính mới trong hoạt động hành nghềcủaLuật sư tại Việt Nam nói chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.

27

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG

HÌNH SỰ VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA LUẬT SỰ TRONG

GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

2.1. Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

2.1.1. Khái niệmđịa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

2.1.1.1. Khái niệm về Luật sư

Theo Viện từđiển vàBách khoa thư Việt Nam thì “Luật sư là thành viên của một Đoàn Luật sư, làm nghề giúp đỡ về mặt pháp lý cho cá nhân hoặc các tổ chức theo hợp đồng hoặc theo chỉ định của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong một số trường hợp do pháp luật quyđịnh”. Các hình thức giúp đỡ pháp lí của Luật sư bao gồm: i) Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đại diện cho bịhại và các đương sự trong các vụ án hình sự; kể cả các vụ án thuộc thẩm quyền xét xửcủa Toà án quân sự; bảo vệ quyền lợi cho các bên đương sự trong các vụ án dân sự, hôn nhân, gia đình và lao động. ii) Làm tư vấn pháp luật cho các tổ chức kinh tế nhà nước,

tập thể và tư nhân, kể cả các tổ chức kinh tế nước ngoài. iii) Làm các dịch vụ pháp lýkhác cho công dân và tổ chức. Công dân nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cóphẩm chất, đạo đức tốt; tốt nghiệp Đại học Pháp lý hoặc có trìnhđộ pháp lý tươngđương đều có thể trở thành Luật sư theo thủ tục luật định, trừ những người đang công tác tại các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật, những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về pháp lý tại các viện nghiên cứu và các trường thuộc các cơ quan đó.

Tuy nhiên, về khái niệm Luật sư, hiện nay đang tồn tại 3 quan điểm sau:

Thứ nhất, Luật sư là người có trình độ chuyên môn và kiến thức pháp lý sâu rộng, được đào tạo kỹnăng hành nghề Luật sư, có phẩm chấtđạo đức nghề nghiệpvà gia nhập tổ chức của Luật sư.

Theo quanđiểm này Luật sư là người có trình độ chuyên môn và kiến thức pháp lý sâu rộng nhưng thế nào là sâu rộng, tiêu chuẩn đánh giá; điều kiện hành nghề của Luật sư ra sao; Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý như thế nào nên chưa thể hiện rõkhái niệm Luật sư.

Thứ hai, Luật sư là người hoạt động bào chữa chuyên nghiệp và làm việc trongĐoàn Luật sư.

Theođó,mộtngườicóđủcácđiềukiện sauđâythì cóthểđượcgia nhập Đoàn Luật sư: là công dân Việt Nam thường trútạiViệt Nam; có trìnhđộĐạihọcLuật;tốt

28

nghiệp khóa đào tạo Luật sư ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài được pháp luật Việt Nam công nhận,trừtrườnghợpđượcmiễnđàotạotheo quyđịnhtạiđiều9 Pháp lệnh Luật sư và không thuộc một trong những trường hợp không được gia nhập Đoàn Luật sư quyđịnh tại khoản 2 điều 8 Pháp lệnh Luật sư [114].

Theo quan điểmnày Luật sư là người hoạt động bào chữa chuyên nghiệp, đủcác điều kiện để gia nhập Đoàn Luật sư, tuy nhiên chưa thỏa mãn các quy định về tiêu chuẩn hành nghề Luật sư và thực hiện các dịch vụ pháp lý.

Thứ ba, pháp luật các nước trên thế giới thường không đưa ra khái niệm Luật sư mà chỉ quy định về tiêu chuẩn (qualification) để trở thành Luật sư. Tiêu chuẩn phổ biến để được công nhận Luật sư là: i) Là công dân nước sở tại; ii) Có bằng cử nhân luật; iii) Có phẩm chất đạo đức tốt [162].

Đối chiếu với quan điểmnày, Luật sư là người phải đủ tiêu chuẩn: i) là Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chấtđạo đức tốt, có Bằngcử nhân luật, đã được đào tạo bài bản về nghề Luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề Luật sư; ii) đủ điều kiện hành nghề tức phải có chứng chỉ hành nghề Luật sư. Để được tham gia kỳthi cấp Chứng chỉ hành nghề Luật sư cần phải có các tiêu chuẩn sau đây: a) Có quốc tịch Việt Nam; b) Có bằngcửnhân luật; c) Có chứng nhận đào tạo nghề luật sư và qua thời gian

tập sựhành nghề Luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư [175]. Những người đang là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội, sĩ quan,hạ sĩquan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹthuật trong cơ quan, đơn vị thuộc công anđều là những đối tượng không được cấp chứng chỉ hành nghề; iii) thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi chung là khách hàng), như tham gia tố tụng cho thân chủ, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng hoặc bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp cho khách hàng trước cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, thực hiện các dịch vụ pháp lý khác như soạn thảo văn bản, đàmphán, thương lượng… Đặc biệt Luật sư phải tuân thủ nguyên tắc hành nghề Luật sư, đó là tuân theo Quy tắc đạo đức vàứng xửnghề nghiệp Luật sư Việt Nam, độc lập, trung thực, tôn trọng sựthật khách quan, sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp của mình, một trong những phẩm chất hàng đầu là tính trung thực và lòng tận tụy; “Luật sư phải tận tụy và trung thực trong hoạt động nghề nghiệp” [42; tr 38].

Các quan điểm trên đều có những điểm chung nhất định. Đó là, Luật sư phải làngười có kiến thức pháp luật; đã được đào tạo nghiệp vụ về Luật sư và gia nhập một

29

Đoàn luật sư; thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng hay cung cấp dịch vụ pháp lý như soạn thảo văn bản, tư vấn pháp luật…

Trên cơ sở những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm Luật sư như sau: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định có liên quan đến lĩnh vực pháp luật, thực hiện, cung cấp dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng.

2.1.1.2 .Phạm vi hoạt động hành nghề của Luật sư

Luật sư hoạt động tham gia tố tụng chủ yếu trên 3 phạm vi sau:

Thứ nhất, Luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bịbắt, người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo theo yêu cầu của họ, hoặc theo yêu cầu của người đại diện hoặc người thân thích của họ mời (gồm 27 chủ thể quy định tại điểm e khoản 1điều 4 Bộ Luật TTHS năm 2015); trường hợp nếu NBBT,ngườiđại diện hoặc người thân thích của họ không mời thì cơ quan tiến hành tố tụng phảichỉ định ngườibào chữa (gồm Luật sư, Bào chữa viên nhân dân, Trợ giúp viên pháp lý) cho bị can, bị cáo về tội mà BLHS quy định mức cao nhất là 20 năm tù, tù chung thân,tửhình; NBBT cónhược

điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa được (câm, điếc, ngọng…); người có nhượcđiểm vềtâm thần hoặcngười dưới18 tuổi trong VAHS thì Luật sư có tư cách là người bào chữa, thực hiện hoạt động bào chữa, gọi chung là Luật sư bào chữa.

Thứ hai, Luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại, đương sự (gồm nguyên đơn dânsự, bị đơndân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VAHS). BLTTHS năm 2015 bổ sung trường hợp khi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố yêu cầu Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ gọi chung là Luật sư bảo vệ.

Thứ ba, Luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện chobịhại khi bị hại dưới 18 tuổi, bịhạichết, bị nhược điểmvề thể chất hoặc tâm thần; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VAHS gọi chunglà người đại diện. Cùng với sự phát triển của xã hội và pháp luật, nghề Luật sư ngày càng phát triển. Bên cạnh tư cáchđạidiện theo ủyquyền củakhách hàng, Luật sư còn tham giavớitưcách là người bảo vệ quyền,lợiích hợp pháp cho khách hàng. Hoạt động của Luật sư cótính phản biện xã hội, bảo đảm tính khách quan vụ việc, giúp Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội [25].

Điểmđáng chú ý là phạm vi hành nghề của Luật sưnước ngoài dù đáp ứng các quyđịnhhành nghề nhưng khôngđượctham gia tố tụng với tư cách người bào chữa; người bảovệ quyền, lợi ích hợppháp của đương sự; người đại diện trướccơquan tiến hành tố tụng của Việt Nam (điều 76 Luật Luật sư).

30

Khi tham gia tốtụng, thể hiện thông qua thủ tục đăng ký bào chữa và được chấp nhận đủ tưcách, đủ điều kiện (người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi hay ngườiđại diện) trong văn bản thông báo người bào chữa khi đăng ký bào chữa.

2.1.1.3 .Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự– Vụ án hình sự.

Vụ án hình sựlà vụviệc phạm pháp có dấu hiệu của tội phạm được quy định trong Bộ Luật hình sự, bị cơ quan có thẩm quyền ra quyếtđịnhkhởi tốvề hình sựđểtiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được BLTTHS quy định. Người vi phạm pháp luật bị khởitố về hình sựđể tiến hành điều tra, truy tố, xétxửtheo các quy định của BLTTHS tức bị cansẽ bị áp dụngmộtsố biện pháp do luật quy định như phải khai cung, phải có mặt tại nơi và vào thời gian do các cơ quan tiến hànhtố tụng quy định, có trường hợp bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế như tạm giam, khám

xét, thu giữ, tạm giữtài liệu đồvật…có thể bị phạt tù, bị cấm hành nghề nếubị kếtán bằng bản án có hiệu lực của Tòa án. Án hình sự có thể bao gồm các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm trật tựan toàn xã hội (tính mạng,sứckhỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, sở hữu, trật tự quản lý kinh tế, ma túy, trật tự công cộng,trật tự

quản lý hành chính, chức vụ, hoạt động tư pháp…)

– Khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Trong phạm vi đề tài, tác giả xây dựng khái niệm giai đoạn điều tra VAHS theo pháp luật TTHS. Để đưa ra khái niệm giai đoạn điều tra VAHS trước hết xuất phát từviệc phân chia quá trình giải quyết VAHS thành các giai đoạn khác nhau trong quá trình tố tụng.

Dưới góc độkhoa họcpháp lý, khái niệm giai đoạn TTHS có thể được định nghĩa là: Bước của quá trình TTHS tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng nhằm thực hiện quyền hạn, trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúcđể giải quyết một cách công minh và khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật. Như vậy, khái niệm về giai đoạn điều tra VAHS cho phép khẳng định, bản chất pháp lý của một giai đoạn TTHS, với tính chất là một bước của quá trình tiến hành TTHS được thể hiện bằng các đặc điểm cơ bản sau:

Một là, giai đoạn TTHS phải giải quyết một nhiệmvụ nhất địnhcủa TTHS tươngứng với mục đích của hoạt động tốtụng mà các chủ thể tiến hành tố tụng hướng tới. Ví dụ: Giai đoạn khởi tố vụ án có nhiệm vụ xác định một sự việc xảy ra; có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố VAHS.

Hai là, mỗi giai đoạn TTHS mang đặc thù về chủ thể có thẩm quyền tiến hành tốtụng. Ví dụ: Điều tra là một giai đoạn TTHS chỉ có hai loại chủ thể tiến hành tố tụng

31

là cơ quan có thẩm quyền điều tra trong đại đa số những trường hợp và VKS trong một số ít trường hợp.

Ba là, mỗi giai đoạn TTHS có đặc thù về hành vi tố tụng và hình thức văn bản tố

tụng để giải quyết nhiệm vụ tương ứng của giai đoạn đó. Ví dụ: các hoạt độngtố tụng trong giaiđoạnkhởitốkhông thể hiện tínhcưỡng chếnhưng hoạt động trong giai đoạnđiều tra lại mang tính cưỡng chế cao.

Bốn là, ở mỗi giai đoạn TTHS tương ứng sẽ có nhiệm vụ, chủ thể và hoạt động khác nhau nhưng tất cả phải phục vụ chung cho mục đích của TTHS đó chính là phát hiện chính xác và xửlý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội. Qua đó góp phần phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Trong các giai đoạn, các chủ thể tiến hành tố tụng hoặc tham gia tốtụng phải làm tốt nhiệmvụ của mình góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và các lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm.

Mặt khác, khi tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra VAHS, phạm vi hoạt động hành nghề của Luật sư rất rộng, do đó cần phải xác định phạm vi hành nghề của Luật sư làm cơ sở xác định tư cách của Luật sư khi tham gia tố tụng, có 3 quan điểm:

Quan điểm thứ nhất, trong TTHS, điều tra vụ án là giai đoạn tiếp theo của giaiđoạn khởi tố VAHS, trong đó CQĐT thực hiện các biện pháp khác nhau nhằm thu thập tài liệu, vật chứng làm chứng cứ chứng minh. Hoạt động điều tra của CQĐT mà cụ thể là của ĐTV, Cán bộ điều tra liên quan đến những người tham gia tố tụng nhưngười bịbắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyềnlợinghĩa vụ liên quan. Hoạt độngđiềutra nếu được tiến hành một cách khách quan, theo trình tựthủ tục củaBLTTHS thì quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham giatố tụng được bảo đảm, không bịxâm phạm. Trong TTHS, Luật sư tham gia tố tụng với ba tư cách: Người bào chữa hoặc Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc Người đại diện. Cho dù tham gia tố tụng với tư cách nào thì Luật sư vẫn có song song hai nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng khỏi sựxâm hạitừphíangườikhác và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, trong đó nghĩavụ thứnhất phải được đặt lên hàng đầu [42; tr 47-48].

Quan điểmthứ hai, theo PLTTHS, Luật sư là người tham gia tốtụng. Tuy nhiên, do phạm vi hoạt động hành nghề Luật sư theo yêu cầu của khách hàng nên mụcđích tham gia tố tụng của Luật sư chính là mục đích tham gia tố tụng của khách hàng. Tùy vào vị trí tham gia tố tụng của khách hàng là cơ sở để xác định tư cách tham gia tố tụng của Luật sư.

32

Luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho NBBT; với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; với tư cách là người đại diện cho bị hại khi bị hại dưới 18 tuổi, bị hại chết, có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VAHS.

Giai đoạn điều tra VAHS được khắc họa bởi nhiều đặc điểm đặc trưng mà ở các giai đoạntốtụng hìnhsựkhác không thểhiện, điềuđótác động không nhỏ tới hoạtđộng bào chữa, bảo vệ hoặc đại diện của Luật sư trong thực tế.

Quan điểm thứ ba; có thể nói điều tra VAHS là giaiđoạnTTHS thứ hai, trongđóCơ quan điềutra tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập chứng cứ, phát hiện nhanh chóng và đầyđủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy cứu trách nhiệm hìnhsự, đồng thời bảođảm cho việc bồi thường thiệt hại bao gồm thiệt hại vật chất, tinh thần, do tài sản bị xâm phạm, do tội phạm gây ra, trên cơ sở đó: Khi kết thúc điều tra, CQĐT phải ra bản kết luận điều tra và đề nghị truy tốhoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra theo điều 232 BLTTHS năm 2015.

Với tính chất là một giai đoạn độc lậpcủa TTHS, giai đoạnđiềutra VAHSđược bắtđầu từkhi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố VAHS và kết thúc bằng bản kết luận điều tra; quyết định của CQĐT đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can hoặc đình chỉ điều tra VAHS.

Theo Giáo trình Luật tố tụng hìnhsựViệt NamcủatrườngĐại học Luật Hà Nội: Giai đoạn điều tra VAHS là giai đoạn TTHS, trong đó CQĐT áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc xétxửcủa Tòa án. Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là: xác định tội phạm vàngườithực hiện tộiphạm; xácđịnh thiệthạido tội phạm gây ra; xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp khắc phục và ngăn ngừa [108; tr 263].

Khái niệm trên chưa phản ánh được đầyđủ chủ thể điềutra vụ án hình sự, vìngoài cơ quan điều tra chuyên trách còn có các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Kết quả điều tra không chỉ là cơ sở cho việc xét xử của Tòa án mà điều quan trọng hơn nó là cơ sở để VKS lập cáo trạng truy tố bị can.

Như vậy, Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một bước của quá trình giải quyết vụ án hình sự được tiến hành từ khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra, trong đó cơquan có thẩm quyền điều tra tiến hành hoạt động và biện pháptố tụng cần thiết theo quy định của pháp luậtđể làm rõ những vấn đề cần phảichứng minh trong vụ việc códấu hiệu của tội phạm làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.

33

– Vai trò và ý nghĩa của giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Vai trò và ý nghĩa của giai đoạn điều tra VAHS được thể hiện trên các bình diện chủ yếu:

Thứnhất, điều tra VAHS là chức năng quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sựcủa cơ quan, ngườicó thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm trực tiếp chứng minh hành vi phạm tộivà ngườicó lỗi trong việc thực hiện tội phạm thông qua các chứng cứ đã thu thập được, là một trong những phương tiện cơbảnđể thực hiện tốt nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm trong thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS, tránh bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội.

Thứ hai, điều tra VAHS góp phần loại trừ các tiêu cực trong hoạt động tư pháp hình sự, ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can một cách không thận trọng, thiếu chính xác và do vậy, sẽ kéo một loạt hậu quả tiêu cực tiếp theo, xảy ra trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự ở các giai đoạn TTHS như: Truy tốcủa Viện kiểm sát hoặc xét xửcủa Tòa án không khách quan, thiếu căn cứ,trái pháp luật, làm oan người vô tội.

Thứ ba, điều tra VAHS là một giai đoạn TTHS cơ bản và quan trọng nhằm tăng cường pháp chế, bảo vệ quyền con ngườivà quyền tựdo của công dân trong các giaiđoạn trước khi khởi tố của Viện kiểm sát, cùng với các giai đoạn TTHS khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm.

– Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả cho rằng cần làm rõ khái niệm Luật sưtham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra VAHS với tư cách là người bào chữa hay Luật sư bào chữa của NBBT; Luật sưbảo vệquyền, lợi íchcủa bị hại, đương sự, người bị tốgiác, người bị kiến nghị khởi tố trong VAHS; hoặc là người đại diện cho bị hại, nguyênđơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Trong cả ba trường hợp gọi chung là Luật sư tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra, cần làm rõmột sốvấn đề làm cơ sở xác định chính xác khái niệm này, đó là:

Thứ nhất, trong giai đoạn điều tra VAHS theo PLTTHS, Luật sư có thểtham gia tố tụng với tư cách là ngườibào chữa hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc người đại diện và họ chỉcó thểtham gia tố tụng với vai trò là người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi Luật sư nhận được văn bản thông báo từ cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Khi thực hiện hoạt động hành nghề với tư cách người bào chữa, ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người đại diện; Luật sư có quyền và nghĩa vụ của chủ thể theo quy định của PLTTHS.

Trong giai đoạn điều tra, thủ tục để Luật sư được nhận văn bản thông báo người bào chữa bao giờ cũng phải xuất phát từ chính quyền được lựa chọn người bào chữa của

34

người bị buộctội, người đại diện hoặc người thân thích của NBBT lựa chọn theo quyđịnh củaBLTTHS. Trong giaiđoạn điều tra NBBT, bị hại, đương sựbằng quyền của mình thể hiện ý chí qua giấy yêu cầu, đơn yêu cầucủaLuật sư hoặc thông qua người đại diện,ngườithân thích của họ yêu cầu hoặc do cơ quan tiến hành tố tụng yêucầu chỉđịnh Luật sư trong các trường hợp bắt buộc.

Thứ hai, Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS là người tham gia tố tụng theo quy định của PLTTHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NBBT, giúp NBBT về mặtpháp lý, sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định làm sáng tỏ các tình tiết xác định họ vô tội hoặc những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm cho NBBT theo quy định của Bộ Luật TTHS; bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; bị hại, đương sự thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Chỉ phát sinh quyền và nghĩa vụ khi Luật sư nhận được văn bản thông báo người bào chữa, người bảo vệ từ cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Qua nghiên cứu các quy định của PLTTHS về diện người tham gia tố tụng với tư cách là Luật sư, tác giả cho rằng khái niệm Luật sư theo quan điểm thứ hai là chính xác hơn. Vì trong cả hai trường hợp khi được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa hoặc khi được NBBT, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn nhờ bào chữa theo quy định của PLTTHS. Khi thực hiện hoạt động bào chữa, bảo vệ quyền lợi của bị hại, đương sự, đại diện Luật sư có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của PLTTHS.

Thứ ba, có quan điểm cho rằng Luật sư trong giaiđoạnđiều tra VAHS là:

“…người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự, giúp cho việc giải quyết VAHS khách quan, chính xác, hợp tình, hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả pháp luật. Họ là người tham gia tố tụng độc lập nhưngđộc lập ởđây chỉ mang tính tương đối mà thôi”[115; tr 6]. Theo tác giả, quan điểm trênchưa bộc lộ được hếtvai trò, chức năng của Luật sư với tư cách tham gia tố tụng là người bào chữa, chưa toát hếtđược tính chủ động của hoạt động bào chữa. Nếu chỉ là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố,thì chưa thể hiện được sựđộc lập và chủ động trong hoạt động thu thập tài liệu, đồ vật, tìm ra các tình tiết gỡ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho NBBT. Trong quá trình tham gia tố tụng, ngoài việc bảo vệquyền và lợiích hợp pháp cho người bị buộc tội thì Luật sư còn phải có trách nhiệm sử dụng mọi biện pháp hợp pháp do pháp luật quyđịnh,với các kỹnăng của mình để làm sáng tỏ những tình tiết xácđịnh người bị buộc tộivô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho NBBT.

Như vậy, Luật sư trong giai đoạn điều tra VAHS là người tham gia tố tụng được khách hàng lựa chọn để bào chữa cho NBBT; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho

35

bị hại, đương sựhoặc được Đoàn Luật sư phân công tổ chức hành nghề Luật sưcửLuật sư bào chữa cho NBBT theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hànhtố tụng nhằm gỡcáo buộc phạm tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của NBBT, bảovệquyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Giai đoạn điều tra được ví như“đầu vào” củavụ án, hướng đi của hồ sơ có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình tiến hành tố tụng. Nếu hướng điều tra bị “bẻ ghi” thì sẽ gây ra hậu quả khôn lường, vì vậy, Luật sưlà người “gác ghi” của vụ việc cần phải nắm vững pháp luật, tâm lý bị can, kỹ năng hành nghề để vào cuộc tự tin, vững vàng và góp phần đưa sự việc đi theo đúng hướng khách quan của vụ án [143].

Từnhững nghiên cứu trên, tác giả đưa ra khái niệm Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự như sau:

Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là người tham gia tố tụng trong quá trình từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự đến khi kết thúc điều tra, do khách hàng lựa chọn hoặc được chỉ định theo quy định của pháp luật để bào chữa cho người bị buộc tội hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự.

– Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra

Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lýcủa chủthể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của các chủ thể trong các hoạtđộng của mình. Ví dụ: Địa vị pháp lý cơ bản của công dân được thể hiện thành tổng thểcác quyền và nghĩa vụ của công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định. Thông quađịa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời, cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật [117; tr 244]. Quyền của chủ thể là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho chủ thể được hưởng, được làm, được đòi hỏi [119; tr 815]. Nói cách khác, quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định được pháp luật cho phép. Điều này có nghĩa là chủ thể có thể lựa chọn giữa việc xửsựtheo cách thức mà luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác [119; tr 679]. Nghĩa vụ chủ thể là cách thức xửsựmà Nhà nước bắt buộc chủ thể thực hiện nhằm thực hiện quyền của chủ thể khác.

Địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật có vai trò quan trọng đối với mọi chủ thể. Khi có địa vị pháp lý sẽ giúp chủ thể thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình và không xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ của người khác.

Theo Từ điển Luật học thì địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó

36

xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình. Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác,đồng thời xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệpháp luật.

Một người có địa vịpháp lý là Luật sư thì sẽ có các quyền và nghĩa vụ nhấtđịnh theo quyđịnhcủaPLTTHS.Địavịpháp lýcủaLuật sư khôngchỉbaogồmquyền vànghĩa vụ của Luật sư mà còn được quyết định bởi mô hình TTHS, chức năng của TTHS, các nguyên tắc của TTHS, vai trò, vị trí của Luật sư trong các hoạt động tố tụng.

Quyền của Luật sư trong giai đoạn điều tra là tổng thể các quyền mà PLTTHS cho phép Luật sư thực hiện khi tham gia tố tụng nhằm bào chữa cho NBBT, người bảo vệ quyền vàlợiích hợp pháp cho bị hại, đương sự, đại diện. Cơ quan, người tiến hành tố tụngphảibảođảm cho Luật sư thực hiện các quyền ấy trong giai đoạn điều tra. Đây là quyền của Luật sư đồng thời là nghĩa vụ của cơ quan, người tiến hành tố tụng.

Nghĩa vụ của Luật sư trong giai đoạn điều tra là tổng thể các nghĩa vụ mà pháp luật TTHS bắt buộc Luật sư phải tuân thủ khi tham gia tố tụng và cơ quan, người tiến hành tố tụng phải bảo đảm cho Luật sư thực hiện các nghĩa vụ trong giai đoạn điều tra.Đây là nghĩa vụ của Luật sư đồng thời là quyền của cơ quan, người tiến hành tố tụng.

Trong giai đoạn điều tra VAHS, vai trò chủ yếu của Luật sư là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng. Do đặc điểm nổi bật của giai đoạn điều tra là: i) Điều tra viên, Cán bộ điều tra là người nắm quyền chủ động, dễ coi thường người bị tình nghi

phạm tội, thường không khách quan, toàn diện, phần lớn thiên về hướng “quy tội”; ii) Người bị “tình nghi phạm tội” là người yếu thế, bị động, thường có tâm lý hoang mang, dao động, không ổn định trong lời khai (dễ có lời khai khác nhau); iii) Luật sư đóng vai trò “bác sĩ pháp lý” cho bị can, người được tiếp cận bị can với tư cách người bào chữa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Không chỉ đề cập đến quyền bảo vệ, lợi ích hợp pháp cho khách hàng mà còn là quyền tham gia vào hoạt động tố tụng và hoạt động điều tra, quyền thu thập chứng cứcủaLuật sư, PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn (Trường Đại họcLuật Hà Nội) còn phân tích rất chi tiết vai trò của Luật sư trong tham gia các hoạt động điều tra, trong hoạt động tranh tụng và đặc biệt lưu ý đến vai trò của Luật sư trong bào chữa chỉ định [163].

Do vậy trong giai đoạn này, việc đầu tiên, chủyếu củaLuật sư là bảo vệ quyền,

lợi ích hợp pháp cho khách hàng; sau đó thể hiện vai trò thứ hai bằng việc giám sát các hoạt động củaCQĐT, kịp thời phát hiện những thiếu sót, của CQĐT từđó kiếnnghịđểvụ án được giải quyết đúng trình tự pháp luật, hạn chế các vi phạm tố tụng xâm phạmđến khách hàng. Song song trong quá trình này, Luật sư cùng với bị can tìm kiếm các chứng cứ gỡ tội nhằm bác bỏ những cáo buộc phạm tội,nếu bảovệcho bị hại,đương

37

sựthì cùng với bị hại tìm ra các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị can; thu thập, tập hợp những chứng cứ chứng minh cho những tổn thất, thiệt hại, xác lập yêu cầu bồi thường. Quan trọng trong giai đoạn này, Luật sư tham gia tố tụng với vai trò bào chữa, bảo vệ quyền và lợi íchhợppháp của khách hàng, giúp họvề mặtpháp lý trên cơsở sửdụng mọi biện pháp hợp pháp, kỹ năng, nghiệp vụ, kinh nghiệm, quyền và nghĩa vụ do PLTTHS quy định. Trong giai đoạn điều tra, hoạtđộng của Luật sư, cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hướng tới mục đích là xác địnhsựthật khách quan của vụán, bảo đảm các chứngcứcủa vụ án được điều tra, thu thập chính xác và khách quan, bảo đảm cho bị can thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Sự tham gia của Luật sưtrong giai đoạn điều tra không làm cản trở hoạt động điều tra VAHS của cơ quan, người tiến hành tố tụng mà trái lại hoạt động của hai bên lại có mối quan hệ thúc đẩy, bổ sung cho nhau. Sự có mặt của Luật sư khi ĐTV, Cán bộ điều tra tiến hành hỏi cung đối với bị can khôngchỉlà chỗ dựa tinh thần cho bịcan mà còn tránh được việc dùng nhục hình, bức cung, mớm cung… góp phần nâng cao tính khách quan của hoạt động điều tra. Đặc biệt, Luật sư tham gia vào các hoạt động điều tra khác nhưđối chất, nhận dạng, khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, xem xét dấu vết thân thể… rất cần thiết cho việc thu thập thông tin, tài liệu, có ý nghĩa đối với việc bào chữa. Thông qua việc có mặt tại các hoạt động điều tra, Luật sư phát hiện những mâu thuẫn trong các tình tiết của vụ án hoặc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, các tình tiết có ýnghĩa minh oan cho bị can trong trường hợp bị can vô tội, bảo đảm công lý, từ đó thực hiện việc kiến nghị, khiếu nại, yêu cầu nhằm bảo đảm sựcông bằng, dân chủ trong tố tụng hình sự, không làm oan người vô tội [106].

Từnhững phân tích trên, có thể hiểu địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạnđiều tra VAHS như sau:

Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là vị trí, vai trò và tổng thể các quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng để bào chữa cho người bịbuộc tội,bảovề quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự trong quá trìnhtừkhi có quyết định khởi tố vụ án hình sự đến khi kết thúc điều tra góp phần vào việc giải quyết vụ án hình sự khách quan, toàn diện và đầy đủ.

2.1.2. Đặc điểmđịa vịpháp lý của Luật sư trong giai đoạn điềutra vụán hình sự

Thứ nhất, Địavị pháp lý của Luật sưbị ảnhhưởng và quyết định bởi mô hình tố tụng hình sự, nguyên tắc TTHS và mối quan hệ của các chức năng: Chức năng buộc

tội, chức năng gỡ tội, chức năng xét xử.

Thứ hai,Địavị pháp lý của Luật sư phụ thuộc và bị giớihạnbởiđịavị pháp lýcủa ngườibị buộc tội, bị hại, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự, do vậychỉ có Luật sư bào chữa cho NBBT, bị hại, đương sự, ngườicó quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới có địa vị pháp lý là người tham gia tố tụng mà Luật

38

sư là đại diện. Địa vị pháp lý của Luật sưlà địa vị “đại diện” và Luật sưcó địa vị pháp lý theo địa vị quyền và nghĩa vụ của thân chủ phát sinh theo hợp đồng dịch vụ pháp lý trong trường hợp Luật sư được NBBT, người đại diện hoặc người thân thíchcủa họ mời.

Thứ ba, Địa vị pháp lý của Luật sưbị ảnh hưởng trực tiếp bởi chính vai trò, năng lực của Luật sư và mối quan hệ phối hợp giữa Luật sư với các cơ quan, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác.

Thứ tư, Địa vị pháp lý của Luật sư mang tính phản biện. Tính phản biện trong hoạt động của Luật sư là những biện luận nhằm phản bác lại những lý lẽ, quan điểm cáo buộc của cơ quan tiến hành tố tụng không phù hợp với PLTTHSvà đạo đức xã hội nhất là trong giai đoạn điềutra. Tính phản biện trong hoạt động của Luật sư thể hiện theo pháp luật TTHS như nghĩa vụ của Luật sư“sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quyđịnhđể làm sáng tỏ những tình tiết xác địnhngười bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo”, giúp NBBT về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Phản biện phải dựa trên sự thông hiểu sâu về pháp luật, chính sách hình sự và đạo đức xã hội. Hoạt động phản biện của Luật sư lấy pháp luật hình sựvà đạo đức xã hội làmchuẩn mực để xem xét mọi góc cạnh, tình tiết của vụán, xác định các hoạt động tố tụng, hoạt động điều tra phải tuân thủ theo quy định của pháp luật TTHS. Trong giai đoạn điều tra, Luật sư đưa ra những kiến nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn nếu có căn cứ, tranh luận để bảo vệ lẽ phải, loại bỏ cái sai, bảo vệ công lý; xác định hướng bào chữa, bảo vệ hiệu quả, phù hợp với những tình tiết khách quan, làm rõsựthậtcủavụán. Luật sư có nghĩa vụ không những bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc bào chữa cho NBBT; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,đương sựvới việc bảo vệ công lý; độc lập, trung thực, tôn trọng sựthật khách quan của VAHS với việc tuân thủHiến pháp và pháp luật;đồngthời chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp Luật sư.

Thứ năm, quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sựđược pháp luật quy định và được cơ quan có thẩm quyền điều tra đảm bảo thực hiện.

Điều này có nghĩa là, cơ quan có thẩm quyền điều tra có trách nhiệmđảm bảo cho Luật sư thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi bào chữa cho người bị buộc

tội hoặc bảo vệ cho bị hại, đương sự.

2.1.3. Mục đích, ý nghĩa của việc quy định địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh Địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *