Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cải cách tư pháp là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đã được đề ra từ rất lâu và luôn được đặt trong tổng thể cải cách về bộ máy nhà nước. Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược Cảicách tư phápđếnnăm 2020 là chủtrương cảicách sâu sắc và toàn diện nhất trong quá trình hình thành, phát triển của hệ thống tư pháp Việt Nam từ năm 1945đến nay. Chiếnlược Cảicách tư pháp đề ra mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu lực và hiệu quả cao [37]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cũng tiếp tục khẳng định“Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp” [34, tr.178],”Cụ thể hóa đầy đủ các nguyên tắc hiến định về chức năng, nhiệm vụ của Tòaán nhân dân và hoạtđộngxétxử”[34, tr.179]. Trước những yêucầunêu trên, thìnhiệm vụ của ngành tòa án là rất quan trọng, có thể nói đây là công tác có vai tròquyết định của hoạt động cải cách tư pháp bởi vì tòa án là cơ quan giữ vị trí “trung tâm” trong hệ thống các cơ quan tư pháp, nơi thể hiện kết quả hoạt động cuối cùng của hệ thống tư pháp. Để tòa án thực sự thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 thìviệc cải cách, đổi mới hoạt động của tòa án nhân dân nói chung, hoạt động của hội thẩm nói riêng cần phải được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện theo hướng đề cao hơn nữa mục tiêu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân, góp phần giữ vững ổn định xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước mà các Nghị quyết của Đảng đã đề ra.
Hội thẩm có vị trí, vai trò quan trọng đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử, là người đại diện cho nhân dân, hội thẩm tham gia trực tiếp vào công tác xét xử với tư cách là chủ thể xét xử, mang tiếng nói của đời sống xã hội, của đạo lý đểđánh giá vềvụviệc phải giải quyết, góp phần giúp hoạtđộngxétxửcủa tòa án được chính xác, khách quan, đảm bảo công bằng, công lý trong xét xử. Sự tham gia của hội thẩm trong hoạt động xét xử đã được ghi nhận trong Hiến pháp như là một nguyên tắc hiến định. Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”. Chính vì vai trò quan trọng của hộithẩm trong hoạtđộngxétxửnên việc nghiên cứu và không ngừng hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm theo hướng hiệu lực, hiệu quả là một nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, nhằm năng cao chất lượng hoạt động tư pháp.
Trong những năm qua,hệthống pháp luậtvềchếđịnhhộithẩm không ngừngđược hoàn thiện. Các quyđịnhcủa Hiến pháp, pháp luậtvềđịa vịcủa hội thẩm đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện đảm bảo cho sự tham gia của nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về địa vị của hội thẩm cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này vẫn còn nhiều vấn đề vướng mắc, bất cập như về tiêu chuẩn của hội thẩm, quy trình lựa chọn, cách thức thànhlậphộithẩm, đã khiến cho việc hộithẩm tham gia xétxửmang nặng tính cơ cấu, giảm tính ngẫu nhiên, làm mất đi tính chất “bình dân” của người hội thẩm. Mặc dù pháp luật đã quy định cho hội thẩm những quyền và nghĩa vụ khi tham gia trực tiếp vào hoạt động xét xử nhưng lại thiếu các cơ chế đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý này được thi trên thực tế. Dẫn tới thực tiễn thực hiện pháp luậtvềđịa vịcủa hộithẩmđã bộc lộnhữnghạnchếnhất định, những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng hội thẩm chưa chủ động khi tiến hành các hoạt động tố tụng, nghiên cứu hồ sơcũng như thẩm vấn tại tại phiên tòa, không ít hội thẩm trong suốt nhiệm kỳ xétxửcủa mình (05 năm), hầunhư không đưa ra được ýkiếnđộc lậpvề việc giải quyết vụ án, vẫn còn thụ động, chờ đợi vào quyết định của thẩm phán, chủ tọa. Do vậy, việc hội thẩm tham gia xét xử còn mang nặng tính hình thức, chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử của hội thẩm chưa cao, hội thẩm chưa phát huy được hết vị trí quan trọng mà Hiến pháp và pháp luật đã quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xửđộc lậpvàchỉtuân theo pháp luật…”[82]; “Khi biểu quyếtvềquyếtđịnhgiải quyết vụ án, Hộithẩm nhân dân ngang quyềnvớiThẩm phán”[89] và dẫntớicác quy định này dường như không có tính khả thi trong thực tiễn hoạt động xét xử.
Trong tiến trình nghiêncứuvềcảicách tư pháp, mặc dù thẩm phán và hội thẩmđềulà nhữngngườitiến hànhtốtụng, là chủthểxét xử, có vịtrírấtquan trọng và cơ bản trong tòa án nhưng hiện nay việc nghiên cứu mới chỉ tập trung vàođịa vị pháp lý của thẩm phán mà chưa thấy có một đề tài hay một công trình nghiên cứu cơ bản chuyên sâu nào về địa vị pháp lý của hội thẩm, nên nhiều vấn đề lý luận và thực tiễnvềđịa vịpháp lý của hộithẩm chưa được làm sáng tỏ. Do đó, việc thường xuyên nghiên cứu, hoàn thiện pháp luậtvề địa vị hộithẩm, nâng cao hiệu quả xétxử của tòa ánđược xem là giải pháp vừacó tínhcấpthiết, lâu dài, nhằmđáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vừa giải quyết những vướng mắc bất cập hiện nay trong hoạt động xét xử của tòa án.
Những phân tích trênđâycho thấy tínhcấpthiếtcảvềmặtlý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài, do vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn “Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sởlàm rõ nhữngvấnđềlý luận và thực tiễnvềđịa vịpháp lý của hội thẩm trong xét xử tại tòa án, Luận án đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về địa vị của hội thẩm, góp phần nâng cao chất lượng xét xử của tòa án, đápứng yêu cầu cải cách tư pháp.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Các nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án gồm:
– Đánh giá tổng quan tình hình nghiêncứuliên quanđếnđề tài, xácđịnh những góc khuất, những khoảng trống chưa được nghiên cứu.
– Làm rõ những vấn đề lý luận về sự tham gia của hội thẩm trong xét xử như:
khái niệm, ýnghĩa, vai trò,địavịpháp lý của hộithẩm, các yếutốcấuthành vànhững yếu tố ảnh hưởng tới địa vị pháp lý của hội thẩm…
– Nghiên cứu địa vị pháp lý của hội thẩm (bồi thẩm, thẩm phán không chuyên)ở một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam.
– Đánh giá thực trạng địa vị pháp lý của hội thẩmở ViệtNam hiện nay, phát hiện những hạn chế,bấtcập về địa vị pháp lý của hội thẩm và nguyên nhân của hạn chế, bất cập đó.
– Đề xuấtnhững giải pháp hoàn thiện pháp luậtvề địa vị của hội thẩmnhằm góp phần nâng cao chất lượng xét xử của tòa án.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu của Luận án
Đối tượng nghiên cứu của Luận án tập trung vào những vấn đề sau:
– Những vấn đề lý luận về chế định hội thẩm trong pháp luật Việt Nam
– Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của hội thẩm trong hoạt động xét xử của tòa án.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của Luận án
– Phạm vi nội dung: nghiên cứu địa vị pháp lý của hội thẩm nhân dân ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ Luật Hiến pháp.
– Phạm vi không gian: nghiên cứu trên phạm vi cả nước
– Thời gian: Các số liệu liên quan đến đề tài từ năm 2008 đến 2018 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Luận án
Phương pháp luận: Luận án nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.Một sốnguyên lý như mối liên hệ phổ biến và sự phát triển được vận dụng để nghiên cứu về vai trò của nhân dân trong mối quan hệ với cơ quan thực hiện quyền tư pháp (tòa án), xem xét các hiệntượngphát sinh khi thực hiện các quyđịnhvềđịa vịpháp lýcủahộithẩm trongmốiliênhệhữucơ với các yếutốnhư cách thứctổchứchệ thống tư pháp, việc thực hiện các nguyêntắcnềntảng của hoạt động tư pháp như độc lập xét xử, hội thẩm ngang quyền thẩm phán, bảo đảm tranh tụng trong xét xử. Quy luật những thayđổivề lượngdẫnđếnnhững thayđổivề chấtđượcvậndụngđể nghiên cứu quá trình chuyển đổi từ chế định phụ thẩm sang hội thẩm nhân dân, việc tăng, giảm thành phần hộithẩm tronghộiđồngxét xử…Cáccặpphạm trù như khả năng và hiện thựcđược vận dụng để xemxét khả năng giải quyết mâu thuẫn giữa trình độchuyên môn nghiệp vụ của hội thẩm với yêu cầu xét xử.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Chương 1: Luận án sửdụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp nhằm phát hiện một cách đầy đủ các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận án; đánh giá về tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án, hệ thống hóa để đưa ra những vấn đề cần nghiên cứu của đề tài Luận án.
Chương 2: Luận án sử dụng phương pháp lịch sử cụ thể, tiếp cận hệ thống, phân tích, tổng hợp, kết hợp tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học để giải quyết các vấn đề liên quan đến các khái niệm khoa học mà Luận án cần phải làm sáng tỏ. Phương pháp so sánh luật học đã được sử dụngtrong quá trình nghiêncứu địa vịpháp lý của hội thẩm (bồi thẩm, thẩm phán không chuyên) của một số quốc gia trên thế giới có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Chương 3: Luận án sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp, suy luận logic đểđảmbảođánh giá khách quan, toàn diện thực trạngđịavịpháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay.
Chương 4: Luận ánsửdụng phương pháp phân tích và tổng hợp, kếthợp giữa lý luận và thực tiễnđảmbảotính thuyết phục trong cáclậpluận, suy luận logic trong việc đưa ra định hướng các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm, nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án.
5. Những điểm mới của Luận án
Luận án có những ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau đây:
– Hệ thống và bổ sung, làm sâu sắc các vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của hộithẩmgồmkhái niệm, ýnghĩa, vai tròđịa vịpháp lý của hộithẩm trong hoạt động xét xử nhằm bảo vệ công lý, công bằng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm dân chủ, tiến bộ xã hội và bảo đảm chất lượng hoạt động tư pháp, đềcao tính thượng tôn của pháp luật; làm rõ các yếu tố cấu thành địa vị pháp lý của hội thẩm, các yếu tố ảnh hưởng tới địa vị pháp lý của hội thẩm; xây dựng bức tranh
tổng quát về quá trình hình thành và phát triển địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam; nghiên cứu địa vị pháp lý của hội thẩm của một số nước trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
– Tổng hợp, phân tích có hệ thống văn bản pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị của hội thẩm ở Việt Nam, từ đó chỉ rõ thực trạng địa vịpháp lý của hội thẩm ở Việt Nam, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, vướng mắc, nguyên nhân về địa vị pháp lý của hội thẩm, phân tích, làm rõ những vấn đề cần đặt ra.
– Đưa ra những yêu cầu và các giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩmở ViệtNam, với 05 yêu cầu về: xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xãhội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa;bảo đảmquyền con người, quyền cơ bản của công dân; phù hợp và phục vụ đường lối đổi mới,chủtrương cải cách tư pháp của Đảngvà Nhà nước;đáp ứnghộinhập quốctế và 04 nhóm giải pháp, gồm: nhóm giải pháp về nhận thức; nhóm giải pháp về hoàn thiện pháp luậtvề địa vịcủa hội thẩm; nhóm giải pháp thực hiện pháp luật vềđịa vị của hội thẩmvà nhóm giải phápđảm bảo các điều kiện cần thiết để hội thẩm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận án nghiên cứu, làm sáng tỏ vấn đề lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của hội thẩm trong bối cảnh cải cách tư pháp, xây dựng nhànước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Kết quả nghiên cứucủa Luận án góp phầnbổsung lý luậnvềdân chủ, công lý, công bằng trong hoạt động xét xử, trong đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án, đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp trong thời gian tới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy luật học chuyên sâu về địa vị pháp lý của hội thẩm. Luận án cũng làtài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và trách nhiệm xã hội xây dựng và hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm, hướng tới xây dựng một nềntư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, bảovệcông lý, công bằng trong xãhội, bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu gồm 04 Chương như sau:
– Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
– Chương 2: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của hội thẩm – Chương 3: Thực trạng địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam
– Chương 4: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm ởViệt Nam hiện nay.

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến địa vị pháp lý của hội thẩm được thể hiện dưới dạng đề tàikhoa học, luận văn, sách, bài đăng tạp chí
chuyên ngành, hộithảo…Cáccông trìnhđãcôngbốgầnđâyđược tácgiảnghiên cứu là cơ sởquan trọngđểphân tích, đánh giá kếtquảnghiêncứucủa các công trình và hệ thống các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án cần giải quyết. Trong số các công trình đã công bố, có một số công trình nổi bật có nội dung khásâu về địa vị pháp lý của hội thẩm như:
- Những công trình đề cập khái quát về địa vị pháp lý của hội thẩm
- Những công trình có nội dung chuyên sâu về địa vị pháp lý của hội thẩm
10
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.3. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu về địa vị pháp lý của hội thẩm ởViệt Nam và ở nướcngoài, tác giả cómộtsốnhận xét, đánh giá về các kếtquảnghiên cứu như sau:
– Hiện naymặcdù khái niệmvề địa vịpháp lý của hộithẩm không còn là mới về mặtthời gian nhưng chưa được hiểu một cách đầy đủ về phương diện khoa học pháp lý. Hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về địa vị của hội thẩm theo pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn thực hiện pháp luậtvề địa vị của hội thẩmnằmtrong Chiến lược Cải cách tư pháp hay dưới góc độ hoàn thiện Nhànước pháp quyền xã hộichủnghĩa, hoặcđặttrongmốiquanhệ với quyền con người, quyền công dân.
– Các công trình nghiên cứuvề địa vịpháp lý của hộithẩm nêu trên đặtra các vấnđề lý luận, vấn đề thực tiễn ở nhữngmứcđộkhác nhau. Các công trình nghiên cứu về địa vị pháp lý của hội thẩm thường chỉ nghiên cứu trong tổng thể cácđiều kiện chung hoặc ở từng lĩnh vựcnhỏ lẻ.Có công trình nghiên cứu lý luận về địa vịpháp lý của hộithẩm trongtốtụng hìnhsự hoặc theo những nguyêntắctố
tụng, để từ đó đưara các giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm trong tố
14
tụng hìnhsự,hoặc kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắctốtụng. Cócông trình nghiên cứu lý luận cơ bản về hội thẩm, trên cơ sở đó kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bồi dưỡng cho hội thẩm. Ngoài ra cũng có những bài viết mang tính chất tổngkếtthực tiễn, đánh giá hoạtđộngcủa hộithẩm khi thực hiện những nguyên tắc hiến định.
– Các công trình nghiên cứu đã đề cập và phân tích một số nội dung về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của hội thẩm trong hoạt động xét xử, đã làm sáng tỏmộtvài khía cạnh lý luậnvềbảnchấtđịa vịpháp lý của hộithẩm, vềhoàn thiện pháp luật và hiệuquảáp dụng pháp luật vềđịa vịpháp lý của hộithẩm. Những công trình này có giá trị quan trọng, là tiền đề lý luận để tác giả tiếp tục nghiên cứu sâu, phân tích cácvấn đề về địa vị pháplý của hội thẩm, thực tiễn thực hiện địa vịpháp lý của hộithẩm trongđiềukiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủnghĩa và thực hiện Chiến lược Cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
– Các công trình khoa học nói trên cũng đã góp phần làm rõ hơn các vấn đềlý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của hội thẩm trong hoạt động xét xử của tòaán, trong đó, có nhiều kiến giải, luậnđiểmkhoa học đã được vậndụng vào thực tiễn như hoàn thiện pháp luật về địa vị của hội thẩm, thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị của hội thẩm.
– Kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên cũng khái quát kinh nghiệm một số nước trên thế giới về địa vị pháp lý của hội thẩm, từ đó giúp tác giả có cơsởđể nghiên cứu so sánh với thực trạng địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay và luận giải để đưa ra một số giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm, nâng cao chất lượng xét xử của tòa án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, hướng tới bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo đảm cho việc xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh.
Trong điều kiện mới, tư duy và nhận thức mới đã phát sinh nhiều vấn đề lýluận cần được tiếp tục soi sáng, nhiều vấn đề thực tiễn cần đượctổngkếtsâu sắc hơn. Do đó, cần có một đề tài chuyên sâu về địa vị pháp lý của hội thẩm phù hợp yêu cầu nhiệm vụ cải cách tư pháp “xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là
15
hoạt động trọng tâm” [37], đảmbảotòa án thựcsự thựchiện quyền tư pháp, bảo vệcông lý, bảo vệ quyền conngườivà quyền công dân, đề cao nguyên tắc tranh tụng trong xétxử theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, đápứngyêucầunhiệmvụcải cách tư pháp chưa được nhận diện một cách thấu đáo.
1.4. Những vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu 1.4.1. Những vấn đề cần nghiên cứu
Luận án sẽ tiếp thu những ưu điểm phù hợp của các công trình nghiên cứu đãnêu, đồngthời tác giả cũng tiếp tục làm rõ nhữngvấnđề chưađược nghiên cứu hoặc đã nghiên cứu nhưng ở mức độ tổng quát, cụ thể:
Thứ nhất, trên cơ sở tổng hợpnhững vấn đề lý luận về địa vị pháplý của hội thẩm, Luận án sẽ xây dựng cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của hội thẩm, địa vị pháp lý của hội thẩm bao gồm các vấn đề: khái quát về hội thẩm, khái niệm địa vị pháp lý của hội thẩm, ý nghĩa, vai trò địa vị pháp lý của hội thẩm, các yếu tố cấu thànhđịa vị pháp lý của hội thẩm, các yếu tố ảnh hưởng tới địa vị pháp lý của hội thẩm. Bên cạnh đó, Luận án đưa ra kinh nghiệm lập pháp của một số nước có nền tư pháp tiến bộ trên thế giới về mô hình nhân dân tham gia hoạt động xét xử của tòa án và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Thứ hai, Luận án sẽ làm rõ thực trạng pháp luật Việt Namvề địa vị của hội thẩm với tư cách là người tiến hành tố tụng, chủ thể xétxử tạitòa án. Luận án khái quát quá trình hình thành và phát triển về địa vịpháp lý của hộithẩm trong pháp luật Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay. Làm rõ thực trạng pháp luật về cách thức thành lập, hoạt động của hội thẩm; nhiệm vụ, quyềnhạn củahội thẩm; mối quanhệcủa hộithẩm trong hoạtđộngxétxử;cácyếuđảmbảo cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của hội thẩmđượcthực thi trên thựctế.Đồng thời, Luận án làm rõ thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về địa vị của hội thẩm, đánh giánhững ưu điểm, hạn chế trong việc thực hiện địa vị pháp lý của hội thẩm và phân tích các nguyên nhân cụ thể.
16
Thứ ba, từ nhữngvấnđề lý luận và thực tiễn đã nêu, Luận án sẽ đề xuất những giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của hội thẩm, bảođảmchất lượng, hiệu quả xét xử của tòa án, đápứng yêu cầu cải cách tư pháp trong thời gian tới.
1.4.2. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu của Luận án:
Sựtham gia và giám sát của ngườidân vào hoạtđộngxétxửcủa tòa ánởViệt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập so với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Chiến lược cải cách tư pháp. Hội thẩm chưa phát huy được hết vị trí, vai trò là đại diện của nhân dân tham gia trực tiếp hoạt động xét xử của tòa án và bảo đảm dân chủ trong hoạt động xét xử. Do đó, cần có những giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử của tòa án.
Từ những vấn đề cần nghiên cứu là những câu hỏi lớn mà Luận ánđặtra cầnđược trả lời, cụ thể:
Thứ nhất, lý luận về địa vị pháp lý của hội thẩm gồm những vấn đề gì, vấn đề nào là cơ bản cần giải quyết trong Luận án? Tại sao lại cần thiết có sự tham gia của người dân vào hoạt động xét xử của tòa án?
Thứhai, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luậtvềđịa hội thẩm ở Việt Nam hiện nay như thế nào? thực trạng pháp luật về địa vị của hội thẩm đã đạt được những tiến bộ gì; thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị của hội thẩm đạtđược kếtquảthếnào? Nhữngbấtcập, hạnchếtrong thực trạng pháp luật vàthực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị của hội thẩm và những nguyên nhân của hạn chế, bất cập đó?
Thứ ba, các yêu cầu đặt ra và cần áp dụng những giải pháp gì để hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tòaán ở Việt Nam hiện nay?
17
Kết luận chương 1
Hoàn thiệnđịa vịpháp lýcủa hộithẩm làmộttrong những vấn đềcấpbách hiện nay của hệ thống tòa án nhân dân, giải quyết được vấn đề này sẽ giúp đổi mới tổchức, hoạt động của tòa án nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử của tòa án.
Hiện nay có một số công trình nghiên cứu liên quan đến địa vị pháp lý của hội thẩm. Tác giả chia làm hai phần trong nội dung chương 1 là tình hình nghiên cứu ởViệt Nam và tình hình nghiên cứu ở nước ngoài.
Phần tình hình nghiên cứu ở Việt Nam, tác giả phân theo hai nhóm: (1) nhóm công trình đề cập khái quát về địa vị pháp lý của hội thẩm, (2) nhóm công trình cónộidung chuyên sâuvềđịa vịpháp lý của hộithẩm, và trong từng nhóm, tácgiảchia theo các cấp độ khác nhau như công trình khoa học các cấp, các luận văn, sách chuyên khảo, các bài viết của các tạpchí có liên quan đếnđịa vịpháp lý của hội thẩm ở Việt Nam. Phần tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, tác giả nêu một số công trình có liên quanđếnđịavịpháp lýcủahộithẩm, cách thức thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn của hội thẩm để làm căn cứ cho việc xây dựng khung lý luận ở chương sau.
Qua nghiên cứu cho thấy,đếnnay chưa có công trình nào nghiêncứumột cách toàn diệnvềđịavịpháp lýcủahộithẩm. Trongtấtcảcác cách tiếpcậnkhác nhau để đánh giá về địa vị pháp lý của hội thẩm, thì cách tiếp cận hoàn thiện địa vịpháp lý của hội thẩm đặt trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa và Chiến lược Cải cách tư pháp, đề cao tính dân chủ trong hoạt động tư pháp, bảo vệ quyền con người, mang ý nghĩa chính trị và thời đại, cách tiếp cận này chưađược các công trình trên nghiên cứu một cách thấu đáo. Từ thực trạng như vậy, việc nghiên cứu đề tài “Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa lýluận và thực tiễn góp phần cungcấpcác luận chứng khoahọccho việc kiến nghịhoàn thiện các quy định của pháp luật về địa vị của hội thẩm, nâng cao chất lượng hoạt động xét xử. Có thể khẳng định đây là hướng nghiên cứu cho phép luận chứng được các giải pháp có tính cơ bản, lâu dài góp phần cho thành công trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
18
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI THẨM 2.1. Khái niệm, ý nghĩa, vai trò địa vị pháp lý của hội thẩm
2.1.1. Khái niệm địa vị pháp lý của hội thẩm 2.1.1.1. Khái quát về hội thẩm
Khi nói về vai trò của quần chúng nhân dân, triết học Mác-Lê nin đã khẳngđịnh, quần chúng nhân dân là ngườisángtạochân chính ra lịch sử, là lựclượng quyết định sự phát triển của lịch sử. Xét các mặt trong đời sống xã hội, từ kinh tếđếnchính trị, từthực tiễnđếntinh thần tư tưởng, thì quần chúng nhân dân là sức mạnh vật chất và mọi sự vận động lịch sử do quần chúng nhân dân trực tiếp tạo ra [8, tr.178].
Trên thế giới, việc công dân tham gia xét xử tại tòa án có lịch sử từ lâu đời, được ghi nhận lại ít nhất từ thời phong kiến. Sự tham gia của những người không chuyên với tư cách là bồi thẩm đoàn/thẩm phán không chuyên/hội thẩm (gọi chung là hội thẩm) là một trong những cách thức nhân dân tham gia vào quá trình xét xử. Tại một số nước những người không chuyên cũng được ngồi ghế chủ tọa và được tham gia vào việc quyết định bản án cùng với thẩm phán chuyên nghiệp (Cộng hòa Pháp) [93], [108]. Đây là các hình thức đưa ý kiến của nhân dân vào quá trình xét xử và nhân dân tham gia giám sát hoạt động tư pháp.
Hộithẩmđược hiểu là mộtnhómngườikhông chuyên nghề luậtđượclựa chọn hoặc chỉđịnhtham gia giải quyết các vụán hình sự, dân sự, đểra các phán quyết về vấn đề tình tiết, vấn đề pháp lý và có thể về cả hình phạt và trách nhiệm pháp lý. Trong xã hội hiện đại, ở rất nhiều nước, không chỉ các thẩm phán chuyên nghiệp mới có quyền phán quyết mà hội thẩm, những người đại diện cho các tầng
lớp dân cư đều có quyền tham gia vào hoạt động tư pháp tại tòa án. Công dân được tham gia trực tiếp vào hoạt động xét xử của tòa án dưới các hình thức khác nhau, tên gọikhác nhau như bồithẩm, thẩm phán không chuyên, hộithẩm là tùy thuộc từng hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia.
19
Đại diện nhân dân tham gia trực tiếp vào quá trình xét xử là một nguyên tắc thểhiện rõ nét nhấtbảnchất dân chủcủa mộtnềntư pháp tiến bộ, theo đó, mọi hoạt động của nhà nước đều cósự tham gia tích cực của nhândân, đều đặt dưới sựkiểm tra, giám sát của nhân dân. Chế độ xét xử có sự tham gia của hội thẩm được coi là một trong những biểu hiện của tính xã hội, tính nhân dân của tòa án – cơ quan xét xử duy nhất, biểu tượng của nền công lý thuộc về nhân dân, công lý phải được người dân nhìn nhận và chấp nhận. Một phán quyết của tòa án đảm bảo được công bằng, bảo vệ được công lý hay không, phán quyết đó phải được nhân dân đồng tìnhủng hộ.
Sự tham gia của nhân dân vào quá trình đưa ra các phán quyết tư pháp bảo đảmcho các phán quyết tư pháp khôngchỉtuân thủpháp luật mà còn trên cơ sởnhững giá trịxã hội, giá trịcộng đồng, những quanđiểmvềđạođức,vềnhững hành vi mà pháp luật chưa ghi nhận đầy đủ và kịp thời. Đại diện nhân dân tham gia xét xử khôngchỉdựatrên pháp luật mà dựa trên những giá trị xã hội để đánh giátính chất tranh chấp của đươngsự,đánh giá tính chất, mức độnguy hiểm cho xãhội do bị cáo gây ra. Là những người làm việc trong mọi lĩnh vực của đời sống xãhội nên họ có nhiều kinh nghiệm của thực tiễn đời sống cũng như hoạt động xã hội, vì vậy, họgầngũivớiquần chúng nhân dân, từmốiquanhệđó, họhiểuđược nguyên nhândẫntớitranh chấp trong nhân dân cũng như hoàn cảnhcụthểcủa ngườiphạm tội. Đạidiện nhân dân tham gia tham gia xétxửsẽgiúp cho phán quyết của tòa án hướng tới mục tiêu bảo vệ công lý, công lý không chỉ là công bằng trên cơ sở pháp luật mà còn là lẽ phải và đạo đức xã hội.
Tư pháp với ý tưởng về một nền công lý, đòi hỏi hoạt động xét xử của tòa án khi giải quyết các tranh chấp, các hành vi trái pháp luậtxảyra trong xãhộiphải công bằng, đúng pháp luật, bảođảmtrậttựkỷcương theothểchếnhà nướcmàHiến pháp và pháp luật quy định. Tòa án là cơ quan quyền lực của nhà nước, nhà nước thông qua tòa án để thực hiện quyền lực tư pháp của mình. Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ tài sản nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dựvà nhân phẩmcủacông dân.Mọiquyếtđịnhcủa tòa án nhân danh nhà nước
20
phải tuân thủ pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.
Chế định hội thẩm chính là sự thể hiện tư tưởng “lấy dân làm gốc”, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động tư pháp. Mô hình đại diện nhân dân tham gia xét xử sẽ góp phần đảm bảo tính toàn diện, đầy đủ và khách quan trong các phán quyết của tòa án. Bằng sự hiểu biết của mình về kinh nghiệm sống, sự từng trải trong xã hội, về những lĩnh vực chuyên ngành…, hội thẩm tham gia vào hoạtđộngxétxửsẽlàm tăng thêm niềm tin cho thẩm phán, phùhợpvới nguyện vọng của đôngđảoquần chúng nhân dân. Hoạtđộngxétxửcóđạidiện nhân dân tham gia làm tăng tính thuyết phục của các phán quyếtđốivớixã hội, phán quyết của tòa án không phải là sự áp đặt của nhà nước mà là sự nhìn nhận của xã hội, của ngườidânđối vớicác tranh chấp, các hành vi phạm tội, sựnhìn nhận của ngườidân vềcông lý, công bằng và lẽphải. Qua đó, làm tăng hiệuquảgiáo dục,cảitạođốivớingườibịkếtán, đemtớisựtâm phục, khẩu phục cho các đối tượng bị phán xử.
Sựtham gia của nhân dân vào hoạtđộngxétxửcũng chính là thểhiệnsựgiám sát, kiểm tra trực tiếp của nhân dân trong hoạtđộngtư pháp. Nếunhư coi nguyên tắc xét xử công khai là sự kiểm tra có tính chất tổng thể, chung nhất của xãhội đối với hoạt động xétxử của tòa án thì nguyên tắc hội thẩm tham gia xét xử là sự kiểm tra trực tiếp, cụ thể và từ bên trong của hoạt động này.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu hội thẩm là những người đại diện của nhân dân, được lựa chọn,được bầu theo quy định của pháp luật để cùng thẩm phán trực tiếp tham gia xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án để quyết định các vấnđềvềsựkiện, quyếtđịnh các vấnđềvềpháp luật hoặc hình phạt, nhằm đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử, góp phần bảo vệ công lý, công bằng trong xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
2.1.1.2. Khái niệm địa vị pháp lý của hội thẩm
Quanđiểmcơ bản của chủnghĩa Mác-Lê ninvềconngườicho rằng, con ngườilà thực thểthống nhất giữa cái tâm sinh lý và cái xã hội, làmộtthựcthểsinh vật – xã hội. Toànbộđờisống và sinh hoạtcủacon người không tách khỏi
21
môi trường xã hội, nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác khẳngđịnh:
“Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xãhội” [59, tr.11]. Cóthểthấy rằng, tính đa dạng trong quanhệxãhộicủamỗi người đã tạo nênđịa vị xã hội của người đó. Nếu xét ở một góc độ nàođó thì địa vị pháp lý cũng chính là một bộ phận nằm trong địa vị xã hội của con người, xác định vị trí của con người trong mối quan hệ với những người khác trong xã hội.
Nghiên cứu Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì “Địa vị” là:“Vị trícá nhân trong quan hệ xã hội, do chức vụ, cấp bậc, quyền lực mà có, về mặt được coi trọng nhiều hay ít” [129, tr.321]. Theo định nghĩa này thì“Địa vị”được hiểu là vị trí trong quan hệ xã hội, vị trí này được xem xét dưới sự tác động của các mối quan hệ xã hội và nó được quyết định bởi nhiều yếu tố như chính trị, kinh tế, vai
tròcủanó trong đời sống xãhội…Đối vớicácchủthểlà các cơ quan nhà nước, yếu tố quan trọng nhất quy định nên địa vị của các cơ quan này chính là các quyđịnh của pháp luật. Bởi vì, đối với các chủ thể này, pháp luật phải quy định một
cách cụ thể về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, phạm vi thẩm quyền…để tránh sự chồng chéo, trùng lặp giữa chủ thể này với chủ thể khác trong quan hệ quản lý.
TheoTừđiểngiải thích thuậtngữpháp lý thông dụng, địa vịpháp lý nói chung là “Tổng thể các điều kiện pháp lý mà pháp luật đòi hỏi để xác định cho một chủ thể có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập” [57, tr.150].
Trong cuốn Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư phápđã định nghĩa về “Địa vị pháp lý” như sau: Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật. Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật bao gồm tổng thể các quyền và nghĩavụpháp lýcủachủthểđó,quađóxáclậpcũng như giớihạnkhảnăng của chủ thể trong các hoạt động của mình. Cũng thông qua địa vị pháp lý của chủ thể, ta có thể phân biệt được chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác,đồng thời cũng có thể xem xét vị trí, vai trò và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật [128]. Khi nói tới “Địa vị pháp lý” là luôn gắn với chủ thể quan hệ phápluật, đề cập đến “Địa vị pháp lý” là nói về tổng thể các quyền
22
và nghĩa vụ của một chủ thể quan hệ pháp luật cụ thể mà không có địa vị pháp lýchung chung.
Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định cho các chủ thể đó. Địa vị pháp lý của chủ thể thể hiện vịtrí, vai trò của chủ thể đó trong quan hệ pháp luật, đồng thời đi liền với nó là quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý phát sinh, ràng buộc. Xác định quyền, nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, là cơ sở để xem xét và xử lý các xung đột, tranh chấp pháp lý, là cơsởcho việc thực thi quyền, nghĩa vụ,trách nhiệm của cá nhân haytổchức trong mối quan hệ pháp luật.
Trên thế giới mô hình đại diện nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử là một trong những đặc thù của hoạt động tư pháp và quá trình thực hiện quyền tư pháp,đãtrở thành truyền thống tư pháp, góp phần bảo đảm cho những giá trị bất biến của hệ thống tư pháp, đó là xác định sự thật, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyềnđược xétxửcông bằng cho các bên trên cơ sởcác giá trịchung của cộng đồng và nguyên tắc độc lập xét xử.
Mô hình nhân dân tham gia hoạt động xétxửcủatòa án xuất pháttừtriết lýtòa án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, mộttrong các lĩnh vực của quyền lực nhà nước. Quyền lực này nhà nước được chuyển giao từ nhân dân thông qua “khế ước xã hội”. Trong xã hội dân chủ, nhân dân được quyền tham gia vào các công việc của nhà nước, nhà nước xây dựng những cơ chế đảm bảo cho nhân dân thể hiện tiếng nói của mình trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước. Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét xử của tòa án nằm trong logic này của nguồn gốc quyền lực nhà nước nói chung, của quyền tư pháp nói riêng. Tiếng nói của đại diện nhân dân, của quần chúng, ý chí của bồithẩm đoàn hoặc hộithẩm trong hội đồng xét xử thường được ghi nhận và thậm chí có vai trò quyết định. Nhiều nước trên thế giới, bồi thẩm là người đưara nhận định, quyếtđịnh vềcác vấn đề vềsựthật, sự việc, tình tiết, có thể thấy như ở Hoa Kỳ, Liên bang Nga [7],[9]; hội thẩm làngười đưara nhận định và quyết định về tội danh, hình phạt và trách nhiệm pháp lýnhư ở Việt Nam. Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét xử, vào quá trình áp
23
dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp tại tòa án nhằm đảm bảo cho các phán quyết tư pháp khôngbịcác quy phạm pháp luật mang thuộc tính giai cấp, bảo vệlợi ích của giai cấp cầm quyền hoàn toàn chi phối. Trong thời đại toàn cầu hóa,sự
tham gia của đại diện của những sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo trong thành phần hội đồng xét xử là rất cần thiết, không những giúp cho bản án của tòa án có những lập luận, nhận định thấu đáo hơn về sự việc, tình tiết mà còn bảo đảm tính dân chủ, sựđoàn kết trong xã hội, ghi nhận tiếng nói của tất cả các sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật.
Hội thẩm khi tham gia xét xử các vụ án có những quyền hạn và nghĩa vụ đãđược Hiến pháp và pháp luật quy định. Hội thẩm là người được lựa chọn, được bầu, cử theo quy định của pháp luật để tham gia xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án, pháp luật đã quy định cho hội thẩm một địa vị pháp lý khá rộng rãi, bao gồm những nguyên tắc hoạt động chủ yếu và những quyền, nghĩa vụ cụ thể trong tố
tụng và cả những hoạt động ngoài tố tụng. Bản chất địa vị pháp lý của hội thẩm là
tổng thể các quyền, nghĩa vụ pháp lý và các mối quanhệ của hội thẩm được xáclập thông qua các quyđịnhcủa pháp luật trong quá trìnhhộithẩm tham gia vào các quan hệ tố tụng (hoạt động xét xử) do pháp luật tố tụng điều chỉnh.
Tham gia xét xử tại tòa án là quyền của công dân nhưng đối với từng người dân cụ thể thì khi tham gia hoạt động xét xử vừa là trách nhiệm, là nghĩa vụ công dân mà họ phải thực hiện. Nói cách khác, tham gia xét xử tại tòa án là nghĩa vụ đểthực hiện quyền, nếu không thực hiện tốt nghĩa vụ tham gia xét xử đồng nghĩa với vớiquyền tham gia xétxửcũng khôngđược thực hiện hiệu quả. Bên cạnh đó, những vấn đề quan trọng khác được đặt ra như: phải có cơchế đảm bảo để những công dân tham gia xét xử thực sự là người đại diện cho nhân dân, đưa tiếng nói của đại diện nhân dân vào hoạt động xét xử; tiếng nói của nhân dân phải được đặt đúng lúc, đúngchỗtrong quá trình xétxử;cầntách bạch rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán và những người đại diện nhân dân tham gia xét xử. Đây cũng là vấn đềmà hiện nay nhiều quốc gia trênthếgiới đang đi tìmlờigiải, tuy nhiên, khi nghiên cứu, hoàn thiệnđịa vịpháp lýcủahộithẩm cầnphải dựa trênmộtsốtiêu chí nhấtđịnhnhư: phương thức lựa chọnđạidiện nhân dân tham gia xétxử;mô
24
hình nhân dân tham gia xétxửtạitòa án (bồi thẩm đoàn hayhộithẩm); lĩnh vực
tham gia xét xử (hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động…); cấp xétxử
(sơ thẩm, phúc thẩm); đối tượng, phạm vi được quyền đưa ra phán quyết…
Địa vịpháp lý của hộithẩm có nhữngđặc điểmnhư sau:thứnhất, địa vịpháp lý của hội thẩm xuất phát từ triết lý của một nền tư pháp nhân dân. Có thể nói bảnchất nhân dân, tính chất dânchủtrong xétxửkhôngchỉthểhiện ởviệc các công chức tư pháp tận tụy, hết lòng với nhân dân mà còn thể hiện đậm nétở việc huy động ngày càng đông đảo quần chúng nhân dân tham gia và kiểm tra, giám sát công tác xét xử. Hộithẩm, mộtchếđịnhphùhợpvớitư tưởngcủa V.I Lê, đólà“Bản thân chúng ta phảitựmình xét xử, toànthểcông dân khôngtrừmộtaiđều phải tham gia vào việc xét xử và quản lý đất nước” [138, tr.67-68]. Chủ tịch Hồ ChíMinh cũngđã chỉrõ: “Nhà nước phải phát huy quyền dân chủ, phát huy tính tích cực và sángtạocủa nhân dân, làm chomọicông dân Việt Nam thực sựtham gia quản lý công việc của Nhà nước” [54, tr. 150-151]. Chính vì vậy, khi tham gia xét xử, hộithẩm thực hiện các quyền và nghĩa vụcủa mìnhvớitư cách là ngườiđại diện cho nhân dânđểđảmbảotính dânchủtrong xét xử, thểhiện quyền lực nhà nước thuộc vềnhân dân. Cóthểthấy như ởViệt Nam, các cuộc cảicách lớncủa nhà nước trên lĩnh vực tư phápđềunhằm mục đích nâng cao chấtlượngvà hiệu quảxétxửcủa tòa án vàđểnhân dân ngày càng cóđiềukiện kiểm tra, giám sát, hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan tư pháp. Chế định hội thẩm thể hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mà Nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra và đang thực hiện trong giai đoạn hiện nay; thứ hai, địa vị pháp lý của hội thẩm hội thẩm chỉ tồn tại ở một giai đoạn nhất định của tố tụng, chịu sự chi phối của hoạt động xét xử, cụ thể là hội thẩm không tham gia vào tất cảcác quan hệ tố tụng mà chỉ tham gia vào quan hệ tố tụng phát sinh do hoạt động xét xử của tòa án. Hội thẩm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đã được Hiến pháp và pháp luật quy định từ khi được tòa án phân công tham gia xét xử các vụ án (Qua nghiêncứucho thấy mộtsốnước như Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Liên bang Nga hội thẩm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia xét xửtạiphiên tòa [7], [9], còn như ởViệt Nam, từkhiđược chánh án tòa án phân
25
công tham gia xétxửvụán, hộithẩm thực hiện các nhiệmvụ,quyềnhạnnhư:
nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa, đề nghị chánh án ra các quyết định cầnthiết thuộc thẩm quyền và tham gia hộiđồngxét xử), hộithẩm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên tòa và ra các phán quyết về việc giải quyết vụán; thứ ba, địa vị pháp lý của hội thẩm không mang tính hoàn hảo như địa vị pháp lý của mộtcông chức hay viên chức nhà nước,vìhộithẩm không phải là những người xét xử chuyên nghiệp, xét xử đối với họ không phải một nghề, hội thẩm cóthểlà nhữngngườikhông phải là công chức, viên chức nhà nước,hoặc là công chức nhà nước nhưng tham gia hội thẩm mang tính kiêm nhiệm, hoặc là những cán bộ nhà nước đã về hưu…; thứ tư, khi tham gia hoạt động xét xử, hội thẩm cùng với thẩm phán có trách nhiệm làm trọng tài giữa hai bên: bên nguyên và bên bị trong vụ án phi hình sự (dân sự, hành chính); bên buộc tội và bên gỡ tội đối với các vụ án hình sự mà cân bằng nhau về quyền hạn và trách nhiệm. Với chức năng làm trọng tài giữa các bên, để bảo vệ công lý, công bằng, bảo vệ quyền con người, hội thẩm phải thực sựđộc lập, vô tư và khách quan, đềcao tính thượng tôn của pháp luật; thứ năm, hội thẩm là một trong những chủ thể tiến hành tố tụng, chủ thể xétxử của tòa án, vì vậy, khi tham gia hoạt động xét xử, hội thẩm có mối quan hệ tố tụng với nhữngngườitiến hànhtốtụng và có mốiquan hệvớinhữngngườitham gia tố
tụng. Về mối quan hệ của hội thẩm với những người tiến hành tố tụng, đó là: mối quan hệ với thẩm phán chủ tọa phiên tòa; mối quan hệ với kiểm sát viên (công tố); và mối quan hệ với thư ký tòa án. Mối quan hệ của hội thẩm với những người tham gia tố tụng, đó là: mối quan hệ với bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngườikhởi kiện, ngườibịkiện,ngườicó quyền lợi, nghĩa vụliên quan, ngườilàm chứng, ngườibào chữa,ngườibảovệquyềnlợicủađươngsự, người
giám định, ngườiphiên dịch…). Ngoài ra,hộithẩm còn có mốiquanhệvớicác phương tiện thông tin đại chúng và mối quan hệ với nhân dân.
Tham gia trực tiếp cùng các thẩm phán vào hoạtđộngxét xử, hộithẩm có mối quan hệ công tác với thẩm phán, nhưng hội thẩm khác với thẩm phán ở những đặc điểm sau: thẩm phán là nhân viên nhà nước đại diện cho công quyền, được đào
tạo bài bản, chuyên nghiệp và thực hiện chức năng xét xử như một “nghề”. Không
26
giống như thẩm phán, hội thẩm tuy vẫn có thể được xem là “một nghề”, nhưng làmột “nghề không chuyên nghiệp”. Xét xử không phải là công việc chính cũng nhưkhông phải là công việc có thể đảm bảo nguồn sống tối thiểu của hội thẩm. Nhưng vớitrách nhiệm trước nhân dân, nhữngngườiđã đặtniềm tin và trao quyền cho mình, hội thẩm phải dành nhiều thời gian, tâm huyết khi tham gia xétxử để xứng đángvớivịtrí, vai trò mà nhân dânủynhiệm. Hộithẩm là nhữngngườicó kinh nghiệm sống và kinh nghiệm xã hội sâu sắc được lựa chọn ngẫu nhiên từ danh sách cử tri (ví dụ ở Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc) hoặc được bầu, cử (ởViệt Nam),đểtham gia vào quá trình xétxử;còn thẩm phán là nhữngngườicótrìnhđộcaovềluật pháp, được đàotạonghiệpvụxét xử, là những “chuyên gia pháp lý”. Trong các phiên tòa xét xử các vụ án, thẩm phán là người quan tâm nhiều hơn đến việc áp dụng pháp luật thế nào để xử lý vụ án đúng pháp luật thì hội thẩm có thểđượcxem là nhữngngườilàm công tác “chính trị” trong phiên tòa. Cóthểnói, hộithẩm tham gia xétxửnhằm thuhẹpkhoảng cách giữa pháp luật và cuộc sống trong hoạt động áp dụng pháp luật của tòa án khi xét xử. Pháp luật không thểquy định chi tiết theo hướng lượng hóa tất cả mọi trường hợp xảy ra trong đời sống xã hội, ví dụ như trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, hay các chi phí hợp lý cho việc mai táng trong các vụán tranh chấpvềbồithường thiệthạido tính mạngbịxâm
phạm…Hoạtđộngáp dụng pháp luật trong những trườnghợpnêu trênrấtcầnýkiến, quan điểm của hội thẩm, với tư cách là chủ thể xét xử, đại diện cho tiếng nói của nhân dân,đưanhững kinh nghiệm sống, vốn hiểu biết của mình về đạo đức xãhội, những chuẩn mực ứngxửchung trongđờisống xã hộiđược cộngđồngthừa nhận và tôn trọng; hay theo thông lệ chung trong cộng đồng thì như thế nào được coi là các chi phíhợplý cho việc mai táng trong trườnghợpbịthiệthạido tính mạng bị xâm phạm; hay hành vi phạm tội của bị cáo có đáng được hưởng sự khoan
hồng của pháp luật hay không… Như vậy, hội thẩm đã mang tới phiên tòa hơi thởcủa cuộc sống thực tiễn đang diễn ra sinh động. Hội thẩm đóng vai trò là người đưa pháp luậtgầnvớithực tiễn hơn, làm cho cácbảnán, quyếtđịnhcủatòa án mang tính “chính trị hơn” và do đó, cần có sự hiện diện của đại diện nhân dân trong hoạt
27
động xét xử.
Theo truyền thống pháp lý của mỗiquốc gia mà mỗi quốc gia quyđịnhvềtiêu chuẩn lựa chọn hội thẩm, nhiệmvụquyềnhạncủahộithẩm có nhữngđiểm khác biệt, cóthểthấy như ởViệt Nam, theo quanđiểmtruyền thống pháp lý, hội thẩm là những “công dân tiêu biểu”, đại diện cho những tầng lớp, thành phần nhất định và do đó phải đáp ứng những tiêu chuẩn chuyên biệt, được giới thiệu và bầu ra theo mộtquy trình chặt chẽ: là nhữngngườicó kiến thức vềpháp luật, được mặt trận tổ quốc giới thiệu để hội đồng nhân dân bầu làm hội thẩm, hội thẩm trở thành những chủ thể xét xử “bán chuyên nghiệp”, được tạo đào, bồi dưỡng về pháp luật, vềnghiệpvụxét xử, được nghiêncứuhồsơ vụán trước khi xét xử. Pháp luậttố
tụng Việt Nam quyđịnhviệc hộithẩm tham gia xétxửsơ thẩmtạicác phiên tòa hình sự, dân sự, hành chính là bắt buộc, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; khi xét xử hội thẩm ngang quyền với thẩm phán; quy định số lượng hội thẩm đông hơn thẩm phán trong thành phần hội đồng xét xử (2/3 hoặc 3/5) và quyết định theo nguyên tắc đa số, vì vậy ở góc độ pháp lý, quyết định của hội thẩm rất quan trọng, cùng với thẩm phán xác định tội danh, hình phạt và trách nhiệm dân sự.
Vềmô hìnhbồithẩm đoàn, điểnhìnhởHoa Kỳ, vớiquy trình lựa chọn bồi thẩm viên bằng hình thức bốc thăm và ngẫu nhiên, bồithẩm đoànđạidiện cho tiếng nói của ngườibình dân, của quần chúng vào phiên tòa. Pháp luật HoaKỳphân địnhrõ nhiệmvụcủa bồithẩm đoàn và thẩm phán. Nhiệmvụcủa bồithẩm viên tại phiên tòa chỉ là xác định một người có tội hay không có tội, còn việc xácđịnh tội danh và mức hình phạt thuộc trách nhiệm của thẩm phán, bồi thẩm viên lànhững người không có kiến thức pháp lý chuyên sâu nên những quyết định của họsẽbám sátvớithực tiễn hơn và căncứvào những chuẩn mực chung của xã hội nhiều hơn, đây là yếu tố cần thiết trong việc xác định một người có tội hay không có tội. Có thể nói, chế định bồi thẩm đoàn thể hiện rất mạnh mẽ tính dân chủ trong xét xử, đó là đại diện xã hội xét xử người bị buộc tội, làm giảm được sự chi phối quá lớntừphía buộc tội (phía nhà nước – côngtố)đốivớitư pháp hìnhsựvì bồi thẩm hoàn toàn khách quan và “trong sáng” đối với kiến thức pháp luật. Không cần
28
quá nặng nề về việc phân biệt giữa khía cạnh sự kiện và pháp lý của vụ án, làm cho quá trình xét xử các vụ án hình sự dễ hiểu hơn với người dân vì bồi thẩm phải hiểu được mọi tình tiết của vụ án. Pháp luật do thẩm phán hướng dẫn, giải thích cho bồi thẩm cũng cần phải rõ ràng, đơn giản hơn để bồi thẩm có thể áp dụng chính xác khi ra các phán quyết. Mặt khác, vai trò quan trọng của chế định bồi thẩm đoàn trong hệ thống tòa án Hoa Kỳ đã thúc đẩy sự phát triển của các luật sư. Luật sư phải đưa ra lập luận của mình để thuyết phục bồi thẩm đoàn chứ không phải để thuyết phục thẩm phán. Bồithẩm đoànchỉlà những công dân bình thường và cách thức cũng như phương pháp lập luận của luật sư có thể ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của họ. Vì vậy, luật sư xuất sắc là luật sư có những lập luận thuyết phục được bồi thẩm đoàn.
Tuy nhiên, chế định bồi thẩm đoàn (điển hình như ở Hoa Kỳ) có những điểm hạn chế nhất định, những công dân bình thường được cơ cấu theo cách rút thăm là bồi thẩm viên, nên họ không có lối tư duy và lập luận pháp lý, đôi khi thiên về tình
cảm, ấntượng, dễthay đổiýkiến, quyết định theocảmtính… Theo truyền thống pháp lý, bồi thẩm đoàn chỉ đưa ra phán quyết trên cơ sở nhất trí tuyệt đối, nếu cóbồi thẩm viên vắng mặt hay không nhất trí với các bồi thẩm viên khác thì sẽ không có phán quyết nào được đưa ra và vụ án sẽ phải được xét xử lại trước một bồi thẩm đoàn khác. Bồi thẩm đoàn hay bị ảnh hưởng bởi những lời bào chữa của luật sư vàcũng dễ ảnh hưởng của công luận và báo chí, các luật sư bào chữa có kinh nghiệm trong các vụ án hình sự thường cố ý chọn các bồi thẩm viên với trình độ, xuất thân,
tôn giáo…thật khác nhau và họ chỉ cần cố gắng để thuyết phục được một trong các bồi thẩm viên ủng hộ cho người bị kết án là đã đủ để bồi thẩm đoàn không đưa rađược lời kết tội thân chủ của họ [93]. Như vậy sẽ mất nhiều thời gian của quy trình
tố tụng do việc xét xử bởi bồi thẩm đoàn có rất nhiều công đoạn. Trong trường hợp bồi thẩm yếu năng lực sẽ ảnh hưởng chất lượng xét xử. Chế định bồi thẩm đoàn tại Hoa Kỳ rất tốn kém và mất nhiều thời gian cho một phiên tòa xét xử nếu phải tập trung các bồi thẩm viên làm nhiều lần, đây cũng là gánh nặng quá tải của nền hành chính tư pháp Hoa Kỳ.
29
Về lĩnh vực, đối tượng, phạm vi tham gia xét xử của đại diện nhân dân tham gia xétxửởmỗi nướccũng có nhữngđiểmkhác biệt, cơ bảnpháp luật các nước đều quy định đại diện nhân dân tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm (trừ Cộng hòa Pháp có đặc trưng riêng là tòa đại hình xétxửphúc thẩm có bồi thẩm). Lý giải về việc đạidiện nhânchỉtham gia xétxửởcấpsơ thẩm mà không tham gia ởcấpphúc thẩm là ởcấpxétxửsơ thẩm có sựtham gia của đạidiện nhân dânthểhiện tính nhân dân, tính dân chủ trong hoạt động xét xử; còn ở cấp xét xử cao hơn là cấp xét xửphúc thẩm thì phải thuộc thẩm quyền của các nhà chuyên môn. Vềlĩnh vực tham gia xét xử, có bồi thẩm đoàn tham gia xét xử trong cả lĩnh vực hình sự và dân sự (Hoa Kỳ); thẩm phán không chuyên (hội thẩm) xétxử sơthẩm các tranh chấp vềthương mại, lao động, đất đai (Cộng hòa Pháp); bồi thẩm đoàn tham gia xét xử các vụ án hình sự (Nhật Bản); bồi thẩm đoàn tham gia xét xử trong các vụ án hình sựvà hội thẩm viên thương mại theo tố tụng thương mại (Liên bang Nga) [7],[9],[93]; hội thẩm tham gia xét xử sơ thẩm là bắt buộc trong các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình, lao động, hành chính (trừ trường hợp xétxửtheo thủtụcrút gọn) (Việt Nam). Vềphạm vi tham gia xét xử, cácnước cũng cónhững quy định khác nhau, đó là: khi xét xử, bồi thẩm đoàn là người đưa ra phán quyếtvềcác vấnđềvềsựthật, tình tiết, sựviệc, còn thẩm phán là ngườiđưara quyết định các vấn đề về pháp lý như định tội danh, quyết định hình phạt hoặc áp dụng luật nào, điều khoản nào để giải quyết tranh chấp. Trên cơ sở phán quyết của bồithẩm đoàn, thẩm phánmớicóthểđưara các nhận định, quyếtđịnháp dụng pháp luật (Hoa Kỳ, Liên bang Nga)[7], [9]; với tư cách là thành viên hội đồng xét xử, cùng với thẩm phán, bồi thẩm quyết định có tội hay không có tội và quyết định hình phạt (Cộng hòa Pháp và Nhật Bản) [108, tr.17]; hội thẩm có vai trò quyết định trong việc đưa ra các phán quyết tư pháp, cụ thể hội thẩm chiếm đa số trong thành phầnhộiđồngxétxử(2/3 hoặc 3/5), khi xét xử, hộithẩm ngang quyềnvớithẩm phán, cùng nghị án với thẩm phán và biểu quyết theo đa số (Việt Nam).
Có thể thấy rằng, sự khác nhau về điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, truyền thống pháp luật và hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia đã ảnh hưởngnhất định tới tổchức và hoạt động của tòa án, trong đó có vai trò của hội thẩm khi tham gia phiên
30
tòa xét xử. Trong hệ thống pháp luật Châu Âulục địa,cơ sở gầnnhư là duy nhất cho hoạt động tư pháp là luật thực định, bao gồm cả pháp luật về tổ chức và hoạt động của tòa án, trong đó vai trò làm ra luật của tòa án không đáng kể. Khi xét xử, vai tròchủđộngluôn thuộcvềtòa án, các phiên tòa cóbồithẩm đoàn tham gia không nhiều. Tronghệthống tư pháp các nước Anh -Mỹ(hệthống thông luật – Common Law), tại phiên tòa xét xử, bồi thẩm đoàn đóng vai trò chủ đạo; coi trọng khai bằng lời, tất cả các chứng cứ đều phải được trình bày bằng lời trước thẩm phán và bồi thẩm đoàn, nhân chứng phải tuyên thệ, bị kiểm tra và đối chứng trước mặt thẩm phán và bồi thẩm đoàn (đặc trưng này bắt nguồn từ lý do lịch sử là nhiều bồi thẩm viên không biết chữ nên để đảm bảo công lý không bị xuyên tạc); nguyên tắc tranh tụng được triệt để áp dụng với quyền tự do trình bày chứng cứ và vai trò tựquyết định các bên tranh tụng được đề cao, thẩm phán và bồi thẩm đoàn đóng vai trò tươngđốithụđộng, chủyếunghe luật sư của hai bên tranh luận, đấulý, bên thắng là bên thuyết phục được bồi thẩm đoàn ủng hộ, quan điểm, lập luận của mình [125, tr.21-22].
Mô hình tố tụng mà các nước áp dụng cũng ảnh hưởng lớn tới vai trò của hội thẩm khi tham gia xét xử tại phiên tòa. Trong mô hình tố tụng tranh tụng, không chỉnhằm xác định sự thật của vụ án mà còn nhằm loại trừ những gì không phải là sựthật trongvụán. Tốtụng tranh tụngđòihỏi tựdo chứng minh và tựdo đánh giáchứng cứ, bảo đảm tính “mở” của các chứng cứ với yêu cầu “không một chứng cứnào cóthểđược coi là có giátrịchứng minh ưu tiên hay có giátrịpháp lý tiên quyết”. Vì vậy, tố tụng tranh tụng triệt để áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội [125, tr.122]. Tòa án trongtốtụng tranh tụng cóvịtrí, vai trò là chủthểtrung tâm của hoạtđộngxét xử, tạođiềukiện cho những hoạtđộngtốtụng như tạora sựtựdo tranh luận, tự do trình bày quan điểm, chứng cứ của các bên, bên buộc tội cũng như bên bào chữa. Trong tố tụng tranh tụng, vai trò của hội thẩm tương đối độc lập với thẩm phán trong quá trình ra quyết định, thẩm quyền của hội thẩm tại phiên tòa là ra phán quyết có tội hay không có tội mà không có sự can thiệp của thẩm phán. Các luật sư giữvai tròchủđộng, dẫndắtviệc nêu câuhỏivà kiểm tra nhân chứng, quyếtđịnhtiến trình và nhịpđộcủa phiên tòa. Thẩm phán, hộithẩmđược coi là
31
“trọng tài”,đưara phán quyết (hội thẩm), bản án hoặc quyết định (thẩm phán) dựa trên các chứngcứvànộidung tranh luậntạiphiên tòa. Thẩm phán và hộithẩm không can thiệp quá sâu và quá trình tranh luận của các bên, chủ yếu là nghe luật sư của hai bên tranh luận, đấu lý; bên thắng là bên thuyết phục được hội thẩm ủng hộ quan điểm, lập luận của mình. Trong mô hình tố tụng thẩm vấn, các chủ thể tố
tụng không thực sự có vị trí pháp lý độc lập với lợi ích độc lập và không có động cơ tham gia tố tụng một cách độc lập thực sự và do vậy không thể hình thành “các bên” trong tố tụng [125, tr.121]. Tòa án trong mô hình tố tụng thẩm vấn có vai tròtích cực trong trong quá trình chứng minhvụán, không nhữngbịcáo, đươngsự, cũng như người bào chữa mà cả cơ quan công tố đều rất thụ động trong quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa. Việc xem xét đánh giá và ghi nhận tính hợp lệ, có căncứcủa chứngcứđượccoi làđặc trưngcủahình thức tốtụng thẩm vấn. Trong mô hìnhtốtụng thẩm vấn, khi xét xử, vai tròchủđộngluôn thuộc vềhội đồng xét xử, các phiên tòa có hội thẩm không nhiều [125, tr.121].
Nghiêncứuchếđịnhbồithẩm đoànởcácnước theohệthống thông luật (Common Law), cho thấy có sự khác biệt so với chế định hội thẩm ở Việt Namởba điểmcănbảnsau,đólà: Thứnhất, việc lựa chọn bồithẩm đậmchất bình dân phổ thông và ngẫu nhiên vào danh sách ứng viên làm bồi thẩm và họ thường không có kiến thức pháp luật chuyên nghiệp; còn hội thẩm do cơ quan đại diện bầu, mặt trận tổ quốc giới thiệu, mang tính cơ cấu để tham gia danh sách hội thẩm và họ phải có kiến thức pháp luật. Thứ hai, bồi thẩm tham gia một vụ án cụ thể bằng cách rút thăm; hội thẩm tham gia phiên tòa do chánh án tòa án quyết định lựa chọn theo ýchí của mình.Thứ ba, việc lựa chọn bồi thẩm viên và thành lập bồi thẩm đoàn cho một phiên tòa được thực hiện vào ngày mở phiên tòa; hội thẩm tham gia hội đồng xét xử các vụ án theo sự phân công của chánh án. Thứ tư, bồi thẩm chỉ ngồi xử một vụán duy nhấtrồisauđógiải tán, hộithẩmvớinhiệmkỳ05 năm có thểxétxửnhiều lần đối với các vụ án khác nhau. Thứ năm, bồi thẩm chỉ được quyền tham gia bàytỏcảmnhậncủangườibình dân vào côngđoạnđầucủa quá trình xét xử, thường chỉ quyết định về việc có tội hay không có tội, có thể tham gia quyết định hình phạt, vấn đề pháp luật do thẩm phán quyết định; hội thẩm được tham gia toàn
32
bộ quá trình xét xử, được nghiên cứu hồ sơ trước khi xét xử, tham gia nghị án, bỏphiếu biểu quyết về tội danh, hình phạt, trách nhiệm pháp lý… như một thẩm phán thực thụ. Thứsáu, vềmức độtham gia tíchcựctrong quá trình xét xử, bồithẩm thường đóng vai trò thụ động, chỉ lắng nghe các bên tranh tụng, không đọc trước hồsơ, không đặt câu hỏi cho các bên (nếu có đặt câu hỏi thì viết đưa cho thẩm phán); còn hội thẩm tham gia xét xử và đặt câu hỏi như thẩm phán.
Qua nghiên cứu, thấy rằng các nước đềukhẳngđịnhvai tròcủahộithẩm tham gia hoạtđộngxétxửlà nhằmđảmbảocho công dânđược tham gia xétxửmang lại công lý, công bằng cho xã hội; áp dụng chế độ hội thẩm tham gia xétxửsẽ đem đến cho tòa án những kiến thức mang tính thực tiễn hơn là lý thuyết mà các thẩm phán chuyên nghiệp áp dụng. Mô hình đại diện nhân dân tham gia xétxử thểhiện tính khách quan và tính nhân dân trong thực hiện quyền tư pháp. Đại diện dân tham gia xét xử tại tòa án phục vụ cho hai mục đích, đó là: (1) giúp cho việc xétxửcủa tòa án không quá cứng nhắc, hay nói cách khác là giúp cho một phán quyết của tòa án là sự dung hòa cả tình và lý, một phán quyết đạt tới “thấu tình, đạt lý”; (2)đại diện cho tiếng nói của người dân bình thường trong quá trình xét xử của tòa án.
Mô hình đại diện nhân dân tham gia xétxử đượcxây dựng trên nền tảng các tư tưởng tiến bộ của nhân loại nhằmđảmđương trọng trách lớn, đó là đảmbảo sựcông bằng, dân chủ, bảo vệ quyền con người, bảo vệ công lý, đây là những giá trị
lớnnhất. Đạidiện nhân dân tham gia hoạtđộngxétxửtạitòa án là mộttrong nhữngđặc thù của hoạtđộngtư pháp và quá trình thực hiện quyền tư pháp, trởthành truyền thống tư pháp. Điềunày không phải là mẫusốchung chotấtcảcác nước trên thế giới mà mô hình của mỗi nước sẽ mang tính đặc thù riêng, đều có cái hay và cái dở, không một mô hình nào là lý tưởng một cách tuyệt đối để đảm bảo giá trị thực tế của việc đại diện nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử tại tòa án. Vì vậy, việc nghiêncứuchọn lọc những kinh nghiệm tiếnbộcủa mộtsố nướccónền tư pháp tiến bộ trên thế giới, áp dụng phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, truyền thống pháp lý và mô hình tư pháp của nước mình là vấn đềcác nước đang hướng tới.
33
Theo pháp luật Việt Nam, tòa án nhân dânđược xácđịnhlà cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, quyền con người. Môhình tổng thể về sự tham gia đại diện của nhân dân vào hoạt động xétxử (chế định hội thẩm) ở Việt Nam như hiện nay là cần thiết, về cơ bản đáp ứng yêu cầu của xãhội, phù hợp với cấu trúc quyền lực của nhà nước, phù hợp thể chế chính trị. Pháp luật tố tụng Việt Nam thuộc mô hình tố tụng hỗn hợp thiên về thẩm vấn (xét hỏi),
tức yếutốthẩmvấntrongtốtụng rõ nét hơn, trongđótòa ángiữvai tròchủyếu trong quá trình thẩmvấncác bênđểlàm sángtỏsựthật khách quan của vụán. Chiến lược cải cách tư pháp tại Việt Nam đặt ra yêu cầu cải cách tổ chức hệ thống tòa án, xây dựng và phát triển án lệ, tăng cường tranh tụng trong tố tụng… Tòa án trongtốtụng tranh tụng phải là chủthểtrung tâm của hoạtđộngxétxử,tạomọi điều kiện cho những hoạt động tố tụng. Việc xét xử của tòa án phải thực sự là tạo ra sự tự do tranh luận, tự do trình bày quan điểm, chứng cứ của các bên, bên buộc tội cũng như bên bào chữa… các bênđềucó quyền ngang nhau thực hiệntựdo trình bày chứng cứ và chứng minh vụ việc, không một chứng cứ nào có giá trị tiên quyết trong quá trình chứng minh. Tòa án có vai trò điều hành, kiểm soát quá trình tranh luận nhằm tạo điều kiện để các bên thực hiện được các chức năng tố tụng, bảo vệquan điểm và thực hiện quyền tự định đoạt việc sử dụng các khả năng tố tụng và tựdo trong chứng minh; triệtđểthực hiện nguyên tắc suy đoán vôtội[125, tr.130]. Như vậy, đòihỏisự”vô tư”, “khách quan” của tòa án, trongđócósự”vô tư”, “khách quan” của thẩm phán và hội thẩm, sự độc lập giữa thẩm phán và hội thẩm khi ra các phán quyết. Việc hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm, cần theo hướng: kếthợpnhững yếu tố tích cực của chế định hội thẩm và những yếu tố tích cực của chế định bồi thẩmđoàn như về quy trình lựa chọn hội thẩm tham gia phiên tòa theo hình thức lựa chọn ngẫu nhiên; thay đổi thành phần hội thẩm và quyền hạn của hội thẩm trong hội đồng xét xử, tách bạch rõ nhiệm vụ của hội thẩm và thẩm phán; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho hội thẩm để hội thẩm thực hiện tốt vai trò của mình trong việc thúc đẩy luật sư nâng cao trình độ chuyên môn khi tham gia tranh
tụngtạiphiên tòa; nghiêncứucảitiến các quyđịnhnhằmđảmbảoquyềnlợivật chất, các quy định về đảm bảo an toàn, tính mạng, tài sản cho hội thẩm… tạo động
34
lực động viên, khuyến khích để họ yên tâm thực hiện nhiệm vụ của mình.
Từ phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về địa vị pháp lý của hội thẩm như sau: Địa vị pháp lý của hội thẩm là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của hội thẩmđược xác lậpthông qua các quy địnhcủapháp luậtvềvịtrí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơcấutổchức, cách thức thành lập, hoạtđộngcủa hội thẩm, các cơ chế đảm bảo cho các quyền, nghĩa vụ của hội thẩm được thực thi trên thực tế và các mối quan hệ của hội thẩm khi tham gia hoạt động xét xử.
2.1.2. Ý nghĩa, vai trò địa vị pháp lý của hội thẩm
2.1.2.1. Bảo vệ công lý, công bằng, bảo vệ quyền con người
Tại lời nói đầu của Tuyên bố chung về quyền con người tuyên bố rằng: “Đểmột người nào đó không buộc phải nổi loạn chống lại sự chuyên chế và áp bức nhưlà phương sách cuối cùng, thì điều thiết yếu là quyền con người phải được bảo vệbằng nguyên tắc pháp quyền”[131, tr.7]. Do vậy, đểmộtngườithụ hưởngđầyđủcác quyền của mình thì các quyền này phải được hệ thống luật pháp quốc gia bảo vệ một cách hiệu quả. Nguyên tắc pháp quyền được mô tả như là một nguyên tắc bao quát trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người, nếu không có nguyên tắc này, thìviệc tôn trọng quyền con người chỉ còn mang tính biểu tượng. Vì vậy, thẩm phán, bồi thẩm, công tố viên, luật sư phải đóng vai trò chủ động trong việc bảo đảm thi hành có hiệu quả quyền con người ở cấp độ quốc gia.
Công lý là một khái niệm xuất hiện trong lĩnh vực triết học từ thời Hy Lạp cổđại và được pháttriển mạnh mẽ trong nền khoa học pháp lý ngày nay. Trong truyền thống pháp luật tự nhiên công lý là ước mong, nguyện vọng của mỗi cá nhân hoặc nhóm được đối xử một cách công bằng, bình đẳng và công lý chỉ có thể giành được thông qua chếđộpháp quyền. Chếđộpháp quyền ởđâyđược hiểu là nhà nước phải bị chế ước bởi những quy định đã được ấn định trước hoặc dự đoán trước vàmọi người đều bị quản lý bởi các đạo luật.
Nóivềcông lý, ông Raymond Wacks, giáo sư danhdựvềluật và lý thuyết pháp luật của TrườngĐạihọcHồng Kông cho rằng: “Công lý, trongbấtcứtình
35
huống nào, khônghềlà mộtkhái niệmđơngiản” [120, tr.112], “Công lý giữa những cá nhân cũng không kém phần khó giải quyết so với sự thách thức của công bằng xã hội; sự tạo dựng những thể chế xã hội và chính trị để chia phần chiếc bánh một cách công bằng” [120, tr.115].
Công lý là: “Sự công bằng, sự đúng đắn, lẽ phải. Ban hành công lý là việc Tòaán xác định điều đúng, điều sai trong một vụ việc nhằm thiết lập lại sự công bằng” [72, tr.494]. Nói tới công lý không thể không nói đến bộ phận đảm nhiệm công việc bảođảmcông lý. Trong cơ cấutổchức hoạtđộngcủa nhà nướcphải cóbộphận bảo đảm công lý khi công lý bị vi phạm, đó là bộ máy tư pháp của nhà nước,cụ thểlà tòa án thực hiện quyền tư pháp, là nhữngchủthể xét xử, thẩm phán, hội thẩm, tượng trưng cho công lý, có nhiệm vụ bảo vệ công lý.
Công lý và công bằng là hai khái niệm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau vàcó sự đồng nhất với nhau. Công lý như là cái thế thăng bằng của xã hội. Bản thân công lý chính là ở giữa,nếuthái quá sẽbấtcông, thiếu sótsẽlàmtổnhạixã hội. công lý còn là bình đẳng, có khoảng cách như nhau giữa lợi ích và sự mất mát hay thua thiệt trong các quan hệ xã hội. Chính vì vậy, tâm điểm trong trong toànbộ học thuyết của J. Rawlsvềlý thuyết công lýđólà công lý như là sựcông bằng [127,
tr.22]. Về bản chất, tư pháp chính là công lý. Trong hoạt động tư pháp, việc đảm bảo thực hiện công lý, công bằng luôn là hai mục tiêu hàng đầu, nhất là trong hoạt
động xét xử.
Công lý và quyền conngườilà hai phạm trù tuy không đồng nhất nhưng liên quan mật thiết đến nhau, nếu không có công lý thì không thể bảo đảm được quyền con người. Quyền con người là sự công bằng giữa tất cả các bên. Bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân được coi là nhiệm vụ hàng đầu của tòa án vàđược hiến định trong các bản hiến pháp và pháp luật quốc gia. Với vị trí là cơ quan trung tâm tronghệthống tư pháp, thực hiện quyền tư pháp, là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng xét xử, tòa án được xemlà một thiết chế hữu hiệu để bảo vệcông lý, quyền con người, quyền công dân và các lợiích quốc gia khác. Nếu lập pháp và hành pháp bảo đảmquyền con người trên cơ sởthiết lập quyền và thực thi
36
quyền thì tư pháp (tòa án) là thiết chế có vai trò đặc thù trong việc bảo đảm quyền con người. Tòa án, trực tiếp là những thẩm phán và hội thẩm bảo vệcác quyền đó khi chúng bị vi phạm hoặc có nguy cơ bị vi phạm bởi các chủ thể khác trong xã hội, trongđó có chủthểnhà nước; bảo đảmcho các quyền đó được tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện, đề cao tính thượng tôn của pháp luật. Chính vì vậy, có thể nói tòa án (thẩm phán và hội thẩm) là “công đoạn” cuối cùng cho việc bảo đảm quyền con người trong một nhà nước dân chủ.
Tòa án, trực tiếp là thẩm phán, hội thẩm là người bảo vệ cuối cùng cho những
tự do của người dân mà không phụ thuộc vào địa vị kinh tế hay địa vị xã hội của họ. Công lý trong tư pháp xét xử, đòi hỏi xử lý các vụ việc bằng các thủ tục tố tụng công bằng, hợp pháp nhằmbảo vệlợiích của xã hội và bảovệ quyền con người, quyền công dân một cách nghiêm minh; không chấp nhận các hiện tượng oan, sai trongđiềutra, truytốvà xétxử;đòihỏisựđồngthuận cao của xã hộiđốivớicơ chếtốtụng, cơ quan tư pháp và các bản án, quyết định của cơ quan tư pháp. Các
giá trị cao cả như lẽ phải, đạo lý, đạo đức,sự vị tha…và các giá trị tiến bộ xã hội khác phải luôn là điểmtựa, là các chuẩn mực đểsoi chiếu vào các bảnán, quyết định của hội đồng xétxử (thẩm phán, hội thẩm). Chính vì vậy, tòa án là địa chỉ mà mọi người tìm đến công lý, công bằng, tòa án không thể từ chối xét xử đối với bất cứai vì lý do gì, kể cả lý do chưa có luật quy định. Việc quy định sự tham gia của đại diện nhân dân vào hoạtđộngxétxửcóýnghĩa quan trọng trong việc bảođảm quyền và lợiích của ngườidân. Hộithẩm là ngườisống và làm việc trong cộngđồng, “lăn lộn” với thực tiễn cuộc sống, họ có điều kiện tiếp xúc và thấu hiểu hơn vềtâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân, nắmbắtđược dư luận quần chúng nhân dân. Là ngườiđạidiện cho nhân dân, hộithẩm mang tiếng nói, suy nghĩ, cảm nhận của người dân tới phiên tòa xét xử. Khi tham gia xét xử, hội thẩm thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đem tới cách nhìn nhận của người dân về lẽ phải, lẽ công bằng, đúng, sai. Việc xét xử đúng pháp luật cũng không có nghĩa là đã đảm bảo công lý. Thẩm phán, hội thẩm là người chuyển tải công lý đến với xã hội. Khi xét xử, tòa án (thẩm phán và hộithẩm) phảibảođảmchomọicông dânđềubìnhđẳngtrướcpháp luật, thực sựdân chủ, khách quan.Mộtbảnán, quyết
37
định của tòa án đã tuyên phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, phán quyết ấy có tính khả thi trên thực tế, chính là tòa án đãthực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý, công bằng, bảo vệ quyền con người trong xãhội. Như vậy, công lý và công bằng trong xétxử chỉ đạt được khi được người dân cảmnhận và chấp nhận. Đâychính là sựcầnthiết phải cósựtham gia của người dân vào hoạt động tư pháp, công lý phải có sự chứng kiến, nhìn nhận, đánh giá của ngườidân, chứkhông phảichỉlà ýkiến, quyếtđịnhcủa các nhà chuyên môn. Vìvậy, có thểnóihộithẩm có vai trò quan trọng trongbảovệcông lý, công bằng trong xã hội.
2.1.2.2. Bảo đảm dân chủ và tiến bộ xã hội
Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Môngtexkiơ cho rằng quyền tư pháp nên do toànthểdân chúngcửra, làm việc theo luật. Đâylà mộtquanđiểm tiếnbộ vềtư pháp [71]. Đạidiện nhân dân tham gia vào hoạt động xétxửlà một đặc điểm của nền tư pháp dân chủ.
Trong nhà nước dân chủ, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, các thiết chếcủa nhà nước đều phải có trách nhiệm bảo vệ nhân dân, bảo vệ quyền con người đãđược Hiến pháp ghi nhận. Một trong những nguyên tắc chủ đạo về tổ chức và hoạt động của quyền tư pháp đó nguyên tắc dân chủ, là một đòi hỏi không thể thiếu của nền tư pháp tiến bộ, theo đó, mọi hoạt động của nhà nước đều có sự tham gia tích cực của nhân dân, đều được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của nhân dân. Nhân dân, ngườichủcủa quyền lực, khôngchỉtạolậpnên nhà nước của mình, trực tiếp vàthông qua các cơ quan đại diện cho mình thực thi quyền lực, mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động tư pháp, giám sát hoạt động tư pháp. Môhình đại diện nhân dân tham gia xét xử được coi là một trong những biểu hiện của tính xã hội, tính dân chủ, tính nhân dân của tòa án, cơ quan xét xử duy nhất, biểu tượng của nền công lý thuộc về nhân dân. Chức năng của hội thẩm là đại diện cho tiếng nói của người bình dân, của quần chúng. Vì vậy, hầu hết trong các hệ thống tố
tụng hình sự dù là hệ thống thẩm vấn hay hệ thống tranh tụng đều áp dụng chế độxét xử có hội thẩm tham gia.
38
Hộithẩm tham gia xétxửchính là tham gia trực tiếp vào việc thực hiện quyền lực của nhà nước (quyền tư pháp). Chếđịnhnày cũng là cơ chếgiúp nhân dân giám sát hoạt động của tòa án một cách trực tiếp, dân chủ, qua đó minh bạch hóa hoạt động của tòa án. Mọi quyết định của tòa án nhân danh nhà nước phải tuân thủ pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Đây là giá trị chung của chế định hội thẩm đối với nền tư pháp của mỗi quốc gia.
Hội thẩm tham gia xét xử là: 1) Đưa tiếng nói của đại diện nhân dân vào quátrình xét xử thể hiện tính dân chủ trong hoạt động tư pháp của tòa án; 2) Người đại diện của nhân dân (hội thẩm) tham gia xétxửtạiphiên tòa khôngchỉthực hiện nhiệm vụ xét xử mà còn để giám sát trực tiếp hoạt động của thẩm phán nói riêng vàcủa tòa án nói chung; 3) Người đại diện của nhân dân cómặttạiphiên tòa không chỉlà sựnhìn nhận của ngườidânvềthiện, ác, đúng sai (kết ánđốivớingườicó
tội) mà cònđểbảovệcông lý,bảovệquyềnlợivà lợiích hợppháp của những người có liên quan trong vụ án. Hội thẩm tham gia trực tiếp hoạt động xét xử nhằm thực thi quyền lực tư pháp của nhân dân,đểnhân dân tham giamộtcách có hiệu quảvào công tác quản lý nhà nước nói chung và hoạtđộngcủatòa án nói riêng. Việc tham gia xét xử, giúp nhân dân kiểm tra hoạt động áp dụng pháp luật và đưa pháp luật vào thực tiễn của cuộc sống. Hộithẩm tham gia hoạtđộngxétxửcòn tăngcườngmốiquanhệgiữa tòa án và nhân dân. Thông qua hộithẩm, nhân dân hiểu và thông cảm với công tác xét xử của tòa án; cũng thông qua hội thẩm, tòa án nắm bắt được những vướng mắc,suy nghĩ, tình cảm của nhân dân. Một phán quyết của tòa án chỉ có thể nhận được sự đồng tình của nhân dân, đảm bảo được tính khảthi trên thực tế, khi phán quyết đó phản ánh đúng sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, khi thật sự là chỗ dựa về mặt tinh thần, là niềm tin vào công lý của nhân dân và khi đó tính thượng tôn của pháp luật mới được đề cao.
Vai trò của hội thẩm không chỉ dừng lại ở tham gia trực tiếp hoạtđộngxét xử và đưa ra phán quyết đúng pháp luật mà còn có nghĩa vụ và trách nhiệm cao cảtrước đạođức và dư luận xã hội. Việc tham gia xétxửvà đưa ra các phán quyết đúng đắn của hội thẩm còn có ý nghĩa to lớn trong công tác tuyên truyền, giáo dục
39
pháp luật và hòa giải ở cơsở, nâng cao ý thức pháp luật của người dân. Là người trực tiếp tham gia quá trình giải quyết vụ án, hội thẩm sẽ là những người giúp tòaán tuyên truyềnvềkếtquảxét xử, địnhhướngchongườidân những cách xửsựđúngđắn. Bằng vai trò cá nhân, hộithẩm đóng góp nhấtđịnhtrong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật của công dân tại nơi hội thẩm làm việc hoặc sinh sống và có ý nghĩa trong công tác phòng chống tội phạm.
Ý tưởng về sự tham gia của đại diện nhân dân vào quá trình xét xử trong tưcách “thẩm phán không chuyên” là mộtnguyên tắc thểhiện rõ nét nhấtbảnchất dân chủ trong hoạt động xét xử của tòa án. Chính vì vậy, nếu chỉ tập trung vào việc tăng cường năng lực và trình độmọimặtcho thẩm phán mà không quan tâmđến chếđịnhhộithẩm, coiđóchỉlà “hình thức”, hoặc ngược lại, muốn “thẩm phán hóa”, “chuyên môn hóa” hội thẩm mà không quan tâm đến trách nhiệm và ý thức xãhội của họ đối với quá trình xét xử đều là những quan điểm lệch lạc, làm mất đi bản chất dân chủ trong hoạt động tư pháp, mất đi ý nghĩa về sự đại diện nhân dân tham gia hoạt động xét xử của tòa án.
2.1.2.3. Bảo đảm chất lượng hoạt động tư pháp, đề cao tính thượng tôn pháp luật
Hội thẩm tham gia trực tiếp hoạt động xétxử,đưatiếng nói từ phía xã hội vào quá trình xétxử,mang đến phiên tòa những ý niệm, quan niệmđạo đứcchung của xã hội, đó là những nhận xét, đánh giá chung của các tầng lớp nhân dân về hành vi phạm tội, về tính chất của các tranh chấp cần giải quyết. Hội thẩm tham gia xétxửlà ngườithể hiệnýchí, nguyện vọng của nhân dân, góp phầnđảmbảo tính toàn diện, đầyđủ và khách quan đối với các phán quyết của tòa án. Việc kết hợp giữasựtinh thông, kiến thức chuyên môn của thẩm phán chuyên nghiệp với các kiến thức thực tiễn sinh động, từng trải, kinh nghiệm sống… của hộithẩmsẽ rấtquan trọng trong việc bổ sung thêm các kiến thức thực tiễn cho thẩm phán về những lĩnh vực mà thẩm phán không chuyên sâu, giúp cho phán quyếtcủa tòa án đượcchính xác, khách quan, góp phần đánh giá chứngcứcủa một vụán đúng với thực tiễn nhằm tuyên một bản án thấu tình, đạtlý, đảmbảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, vừacó tác dụng giáo dục vừa kết hợp với răn đe phòng ngừa tội phạm. Hội thẩm có
40
vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các luật sư nâng cao năng lực, trình độ của mình khi tham gia tranh tụng, nhất là trong mô hìnhtốtụng tranh tụng, bảođảm quyền tự do tranh luận của các bên, nhằm xácđịnh sựthật khách quan của vụ án. Việc phán quyết của hội đồng xét xử (thẩm phán và hội thẩm) phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên,của ngườibào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơnvà những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyếtđịnhđúng pháp luật và cósứcthuyết phục. Sự tham gia tích cực và có hiệuquả củahội thẩm đã tôn vinh thêm vị trí, vai trò và uy tín của toà án. Uy tín của tòa án không chỉ do các thẩm phán chuyên nghiệp tạo nên mà trong đó có sự đóng góplớnlao của hội thẩm. Có thể nói chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp phụ thuộc vào chất lượng xét xử của các chủ thể xét xử, thẩm phán và hội thẩm
Bản chất của tư pháp là thi hành công lý, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Để bảo vệ công lý, tòa án – cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp nhất thiết phải độc lập, vô tư và khách quan. Đây là nguyên
tắc nền tảng của tư pháp trong Nhà nước pháp quyền. Tòa án, trực tiếp là thẩm phán, hộithẩm những thành viên tronghộiđồngxétxửphảiđộc lập, trong sạch, vững mạnh. Khi tiến hành xét xử các vụ án, thẩm phán, hội thẩm là những người đại diện cho công lý, tôn trọng sự thật khách quan, không thiên vị, đảm bảo các nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Tính độc lậpcủathẩm phán vàhộithẩm trong hoạtđộng xétxửlà yếutốkhôngthểthiếu trong nhànước pháp quyền, có vai tròđặcbiệt trong việc đảm bảo công lý, đảm bảo tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật.
Hộithẩm tham gia xétxửtạitòa án là mộtkênh giám sát quá trình thực thi quyền lực nhà nước, cụ thể ở đây là quyền tư pháp, giám sát pháp luật trong hoạt động xét xử, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho người vô tội cũng như không bỏ lọt tội phạm.
Có thể nói việc tham gia xét xử của hội thẩm là một yêu cầu khách quan của nền tư pháp dân chủ và chế định hội thẩm là một yếu tố đảm bảo hiệu lực, hiệu quảvà tính thực thiđốivớicác phán quyết của tòa án nhằmbảođảmcông lý, công
41
bằng trong xét xử. Việc tạo điều kiện cho nhân dân tham gia xétxử tại tòa án được coi là biểu tượng của nền dân chủ, thể hiện quyền lực của nhân dân, hạn chế sự lạm dụng quyền lực,bảovệquyền conngườivà loạibỏsựquan liêu của hệthống tư pháp, đảm bảo chất lượng của hoạt động tư pháp.
2.2. Các yếu tố cấu thành địa vị pháp lý của hội thẩm
Các yếu tố cấu thành nên địa vị pháp lý của hội thẩm gồm: 1) Các quy định của pháp luật về cách thức thành lập, hoạt động của hội thẩm; 2) Các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của hội thẩm; 3) Cácyếu tố bảo đảm cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của hội thẩm được thực thi trên thực tế;4) Mối quan hệ của hộithẩm trong hoạt động xét xử. Tấtcả các quy định này thể hiện địa vị pháp lý của hội thẩm trong hoạt động xét xử.
2.2.1. Quy định về cách thức thành lập, hoạt động của hội thẩm
Hội thẩm là một chế định dân chủ trong hoạt động xét xử của tòa án, yếu tốcơ bản của dân chủ là thu hút những người lao động tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi hơn vào việc quản lý nhà nước và xã hội. Pháp luật quy định chế định hội thẩm nhằm đảm bảo nhân dân tham gia có hiệu quả vào hoạt động xét xử, nhân dân kiểm tra hoạt động áp dụng và đưa pháp luật vào thực tiễn. Việc quyđịnh chế định hội thẩm trong hoạt động xét xử, nhằm đảm bảo công lý phải có sựnhận thức, chứng kiếntừphía nhữngngườidân “bình thường” trong xã hội. Khi tham gia xét xử, hội thẩm thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đưa pháp luật gần với thực tiễn hơn, đó là sự đảm bảo một phán quyết của tòa án được tuyên phùhợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, nói cách khác là đảm bảo một bản án “hợp lý, hợp tình”.
Là nhữngngườiđạidiện cho các tầnglớpnhân dân tham gia trực tiếp công tác xét xử của tòa án, tham gia trực tiếp cùng với thẩm phán để ra các phán quyết đối với các vụ án. Vì vậy, những người được lựa chọn làm hội thẩm phải là những người có uy tín cao trong xã hội, được quần chúng nhân dân tín nhiệm và có một ảnhhưởngnhấtđịnhtrong xã hội, họthường là nhữngngườicólốisống gương mẫu, có phẩm chất tốt, là tấmgương trong lao độngvà công tác, có kiến thức và
42
hiểu biết trên các lĩnh vực của đờisống xã hội, thuộc các khu vực dân cư khác nhau, là những người gần gũi với quần chúng nhân dân, từ mối quan hệ đó họ hiểu đượcnguyên nhândẫn đếntranh chấp trong nhân dân cũng như hoàn cảnhcụthểcủa từngngườiphạm tội. Từđó, giúp cho tòa án cóhướnggiải quyết các tranh chấp, các vụ án hình sự đúng pháp luật, phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Nhân dân tincậyvàosựcông minh và vô tư của hộithẩm khi họ đại diện cho nhân dân để đem tới phiên tòa sự nhìn nhận của người dân vềcông bằng, công lý.
Chính vì vậy, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Việt Nam đều có những quyđịnhtiêu chuẩn chungđểcóthểlựa chọn làmhộithẩm, đólà các tiêu chuẩnvềquốc tịch (phải là công dân nước sở tại), về độ tuổi (quy định độ tuổi tối thiểu, đểđảm bảo cho hội thẩm có hiểu biết và kinh nghiệm cần thiết trong cuộc sống và tuổi tối đa để đảm bảo hội thẩm chưa bị hạn chế khả năng nhìn, nghe, đọc khi tham gia xét xử), có trình độ học vấn ở mức trung bình, có đạo đức tốt, trình độ ngôn ngữ, tiêu chuẩn sức khỏe (không có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần), điều kiện cưtrú (sống trong vùng tư pháp liên quan)… và không có yêu cầu nào về đào tạo luật pháp. Riêng pháp luật Việt Nam quy định tiêu chuẩn hội thẩm là phải có kiến thức pháp luật. Các quốc gia cơ bảnđềuquyđịnhviệc lựa chọnhộithẩm mang tính ngẫu nhiên, đại diện theo tỷ lệ công bằng của từng thành phần dân cư [7], [9], [93], [108]. Việc lựa chọnbồithẩm theo nguyên tắc ngẫu nhiên sẽđảmbảođược tính nhân dân trong hoạt động tư pháp, những người đại diện cho các thành phần dân cưtrong xã hội tham gia xét xử, nói lên tiếng nói của mình để bảo vệ công lý, bảo vệ
lẽphải, đồngthời, đây cũng là mộttrong những cơ chế đảmbảotínhđộc lậpcủa hội thẩm trong xétxử. Đâylà điểm khác với Việt Nam, ở Việt Nam việc lựa chọn hội thẩm thông qua hình thức bầu, cử sẽ mang nặng tính cơ cấu, tính hình thức.
Về vai trò của hội thẩm, tùy thuộc vào sự khác biệt trong từng hệ thống pháp luật của mỗiquốc gia mà nhiệm vụ, quyền hạn của hộithẩm tạiphiên tòa ởmỗi quốc gia có những quy định khác nhau, tạo lên sự khác biệt trong địa vị pháp lý của
43
hội thẩm, có thể thấy như: ở Hoa Kỳ, thẩm quyền của bồi thẩm là quyết định bị cáo có tội hay không có tội; còn tại Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Việt Nam, với tư cách làthành viên hội đồng xét xử, cùng với thẩm phán (hoặc thay thế thẩm phán khi giải quyết các tranh chấp thương mại, lao động, đất đai như ở Cộng hòa Pháp), hội thẩm quyếtđịnhcó tộihay không cótộivà quyếtđịnhvềhình phạt [66], [93], [108]. Cách thức thành lập, hoạt động của hội thẩm ở mỗi quốc gia cũng có sự khác nhau, ví dụ tại Hoa Kỳ, việc lựa chọn bồi thẩm viên và thành lập bồi thẩm đoàn cho một phiên tòa được tiến hành vào ngày mở phiên tòa, trên cơ sở số lượng lớn bồi thẩm viên trong danh sáchđượcgọiđếntòa, qua quá trình thẩmvấntheothủtục được gọi là “voir dier” (nói sự thật), tòa án sẽ chọn ra một bồi thẩm đoàn gồm 12 người (ởmộtsốbang là 6 người) cho phiên tòa xét xử. Khi tham gia xétxửvụán, nếu phán quyết của bồi thầm đoàn không đạt được sự nhất trí tuyệt đối của các bồi thẩm viên, thì thẩm phán có thể giải tán bồi thẩm đoàn và triệu tập một phiên tòa xétxửmới trước một bồi thẩm đoàn mới [9], [66]. Còn tại Việt Nam, các đoàn hội thẩm được thành lập ở cấp tỉnh, cấp huyện, cấp quân khu, khu vực nơi có tòa án quân sựkhu vực; đoànhộithẩm là hình thứctổchức tựquảncủacác hộithẩm;hộithẩm được bầu hoặc cử để thực hiện nhiệm vụ xétxử ở tòa án nào thì tham gia sinh hoạt tạiđoànhộithẩm nơi có tòa ánđó. Hộithẩm tham gia xétxử vụán theo sự phân công của chánh án tòa án.
Quy trình thành lập, hoạtđộngcủahộithẩmđược pháp luật quyđịnhkháchặt chẽ, nhằm bảo đảm cho các hoạt động của hội thẩm được thực hiện một cách thống nhất, có hiệu quả. Đây là cơ sở xác lập vị trí pháp lý của hội thẩm trong mối quan hệ với tòa án để cùng thẩm phán thực hiện chức năng xét xử. Những quy định này làm phát sinh quyền và nghĩa vụcủa hộithẩm, được nhà nước thừa nhận và nhờ đó mà hội thẩm xác định được địa vị pháp lý của mình khi tham gia giải quyết các quan hệpháp luật, độc lậpkhi ra các phán quyếtvềviệc giải quyếtvụán vàchịu trách nhiệm trước pháp luật về những quyết định đó.
2.2.2. Quy định về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của hội thẩm
Hộithẩm, vớitư cách là chủthểtiến hànhtốtụng khi tham gia trong hoạt
44
động xét xử của tòa án, tham gia các quan hệ pháp luật tố tụng như quan hệ tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, hội thẩm có các quyền và nghĩa vụ phát sinh trực tiếptừ Hiếnpháp và luật, các quyền và nghĩa vụ đó luôn tương ứng với nhau và pháp luật cũng quy định những biện pháp để bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của hội thẩm.
Khi tham gia hoạt động xét xử, pháp luật đã quy định cho hội thẩm một sốnhiệm vụ, đó là: hội thẩm có nhiệm vụ thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật. Với địa vị pháp lý là thành viên hội đồng xét xử, là người tiến hành tố tụng, hội thẩm phải tuân thủ các quy định của pháp luật, tuân thủ các nguyên tắc hiến định, đó là, thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Nhiệm vụ này đòi hỏi hộithẩm phải khách quan, vô tư,độc lậpvớicác ảnhhưởngngoại lai có thểtácđộngtớiviệc ra phán quyếtcủamình.Hộithẩm có nhiệmvụthường xuyên rèn luyện, phấn đấu để luôn đảm bảo những tiêu chuẩn như luật pháp đã quy định đối với hội thẩm. Bên cạnh đó, hội thẩm phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, giữ gìn bímật công tác theo quy định của pháp luật; phải tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có nhiệmvụtrong việc tuyên truyền pháp luật nơi địa phương mình cư trú và làm việc; bằng uy tín của mình, hộithẩmđồngthời đóng vai tròngười hòa giải viên nhân dân trong việc gìn giữ trật tự xã hội, bảo vệ tình làng, nghĩa xóm.
Hiến pháp và pháp luật quyđịnhcác quyềnđốivớihộithẩm khi tham gia hoạtđộngxét xử, được tiến hành những hoạtđộngtốtụng nhằmbảovệcông lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của tổchức, cá nhân. Pháp luậttốtụng quyđịnhhộithẩm ngang quyền với thẩm phán khi được mờitham gia hội đồng xét xử, quyđịnhnày được hiểu là thẩm quyền pháp lý của các thành viên trong hội đồng xét xử ngang nhau, ýkiến của mọi thành viên trong hội đồng xét xử đều được tôn trọng và có tính quyết định như nhau. Hội thẩm có quyền từ chối tham gia hội đồng xét xử khi thấy rằng sự tham gia của mình là không khách quan, không vô tư trong khi giải quyết vụ án hoặc có các căn cứ được quy định trong luật. Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán khi tiến hành thẩm vấn các đương sự tại phiên tòa về những vấn đề liên quan nhằm
45
xác định đầy đủ các tình tiết, sự thật khách quan của vụ án. Quá trình nghị án, hội thẩm thảo luận và độc lậpkhiđưara các phán quyết của mình.Hộithẩmđược hưởngphụ cấp khi tham gia hoạt động xét xử. Có thể thấy như ở Việt Nam, pháp luật còn quy định hội thẩm có quyền và nghĩa vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi xétxử;được bồidưỡngvềchuyên môn, nghiệpvụvà tham gia hộinghị tổng kết công tác xét xử của tòa án; được cấp giấy chứng minh hội thẩm.
Các quyền và nghĩavụcủa hộithẩmđược phápluật quy định cấu thành nênđịa vị pháp lý của hội thẩm trong hoạt động xét xử tại tòa án với tư cách là người tiến hànhtốtụng, chủthểxét xử. Các quyền và nghĩa vụcủahộithẩm luôn luônđược bảođảmthực hiện bằng biện phápcưỡngchếnhà nước,khihộithẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong hoạt động xét xử mà xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân thì từng mức độ vi phạm có thể bị xửlý kỷ luật, bãi nhiệm hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2.2.3. Mối quan hệ của hội thẩm trong hoạt động xét xử
– Mối quan hệ của hội thẩm với những người tiến hành tố tụng
Khi tham gia hoạt động xét xử tại tòa án, hội thẩm có mối quan hệ với thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, kiểm sát viên (công tố viên) và thư ký tòa án. Đây là các mốiquanhệtốtụng phát sinh khi thực hiệm nhiệmvụxétxử và được quyđịnh trong pháp luật tố tụng hình sự, dân sự, hành chính.
Được phân công tham gia xét xử vụ án cụ thể, hội thẩm có mối quan hệ với thẩm phán, đó là mối quan hệ phối hợp trong công tác, hội thẩm tham gia trực tiếp cùng thẩmphán đểgiải quyết các vụán như: hình sự, dân sự, kinh doanh thương
mại, hành chính, laođộng…Mốiquanhệgiữa thẩm phán và hộithẩmvừamang tính chất hỗ trợ nhau nhưng vẫn phải có sự độc lập, không lệ thuộc vào quan điểm, chính kiến của nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, thẩm phán và hội thẩm phối hợp với nhau trong tham gia xéthỏi để làmrõ các tình tiết, sự thật khách quan của vụ án. Hội thẩm có quyền hỏi những vấn đề cho là cần thiết để giải quyết vụ án mà
46
không phụ thuộc vào thẩm phán. Bên cạnh đó, thẩm phán cũng hướng dẫn cho hội thẩm về ý nghĩa của pháp luật và luật pháp được áp dụng như thế nào, ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội… Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án vàqua kếtquảtranh tụngtạiphiên tòa,hộithẩmđộc lậpvớithẩm phán khi ra các phán quyếtcủamình. Kiểm sát viên là ngườiđược phân công thực hành quyền công tố có nhiệm vụ tham gia phiên tòa, đọc cáo trạng (đối với vụ án hình sự), phát biểuýkiếncủaviện kiểm sátvềviệc giải quyếtvụán (cácvụán dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và hành chính) , đưa ra các chứng cứ và thực hiện việc luận tội, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Trong quá trình xét xử, hội thẩm độc lập và không phụ thuộc vào bản cáo trạng của viện kiểm sát, ý kiến của viện kiểm sát về việc giải việc giải quyết vụ việc. Tạiphiên tòa, là chủthểtrung tâm của hoạt động xét xử, hộithẩm cùng thẩm phántạo điều kiệncho các hoạt độngtốtụng, đảmbảotranh
tụng giữa các bên, phải thực sự tạo ra tự do tranh luận, tự do trình bày quan điểm, chứng cứ của các bên, bên buộc tội (kiểm sát viên) cũng như bên bào chữa, là thành viên hội đồng xétxử,hộithẩmtrởthànhchủthểduy trìđịa vịpháp lý bìnhđẳng của các bên, bảo đảm sự tôn trọng quyền, lợi ích và quyền tự do định đoạt của các bên tố tụng,áp dụng triệt để nguyên tắc suy đoán vô tội. Đối với thư ký tòa án, mối quan hệ giữa hội thẩm và thư ký tòa án phát sinh chủ yếu tại phiên tòa. Ttrước khi mở phiên tòa thư ký có nhiệm vụ báo cáo hội đồng xét xử danh sách có mặt hoặc vắng mặt của những người được tòa án triệu tập. Thư ký có nhiệm vụ ghi biên bản phiên tòa.
– Mối quan hệ của hội thẩm với những người tham gia tố tụng
Khi tham gia trực tiếp xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương
mại, lao động, hành chính…, pháp luật tố tụng quy định hội thẩm có mối quan hệ
tốtụngvớinhữngngườitham gia tốtụng trong các vụán cụthểnày, đólà mối quan hệvới: bịcáo, ngườibịhại, nguyênđơndân sự, bịđơndân sự, ngườikhởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, người đại diện theo pháp nhân phạm tội, người giám định, người định giá tài sản,
47
người phiên dịch và người dịch thuật… Thực hiện nhiệm vụ xét xử, hội thẩm phải độc lập với những người tham gia tố tụng. Khi tham gia xét xử các vụ án hình sự, hội thẩm cần xác định rõ có hành vi phạm tội hay không, bị cáo có đúng là người đã thực hiện hành vi phạmtộiđóhay không, xem xétbảnkếtluậnđiềutra, cáo
trạng đề nghị khởi tố và truy tố đối với bị cáo có đúng tội danh hay không… Đối với các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, xuất phát từ tính chất của các quan hệ pháp luật, nhất là các quan hệ pháp luật dân sự là dựa trên sự thỏa thuận của các bên nên trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, hội đồng xét xử, hội thẩm luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên đương sự. Là thành viên hội đồng xét xử, cùng với thẩm phán, hội thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụán và kếtquảtranh tụngtạiphiên tòa đểxácđịnhchính xác bảnchất của vụán, hành vi phạm tội của bị cáo; xác định rõ bản chất tranh chấp giữa nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự, đối tượng khởi kiện trong các vụ án hành chính, trên cơ sở đóxác định lỗi, thiệt hại xảy ra, từ đó quyết định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bênđược chính xác. Hộithẩm cùnghộiđồngxétxửphảiđảmbảotính công khai, minh bạch, công bằng, dânchủkhi xét xử, tạomọiđiềukiệnđểngườibào chữa,ngườibảovệquyềnlợichođươngsựtham gia tranh luận, trình bàyhếtýkiến của mình tại phiên tòa, đảm bảo quyền bình đẳng của các bên trong tranh luận để tìm ra sự thật của vụ án, lắng nghe ý kiến của người giám định, người phiên dịch và người dịch thuật, trên cơ sở đó hội thẩm cùng với thẩm phán mới có được những phán quyết công bằng, chính xác và khách quan.
Ngoài ra,hộithẩm còn phải tăngcườngmốiquan hệvới các phương tiện thông tin đại chúng và quần chúng nhân dân. Hội thẩm cùng tòa án phối hợp với cơ quan thông tin đại chúng như: báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình từ trungương đến địa phương để làmtốt công tác tuyên truyền giáo dụng pháp luật đến mọi đối tượng trong cộng đồng xã hội nhằm nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luậtcủanhân dân góp phần tích cựccùngvớitòa án và các cơ quanbảovệpháp luật thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, trong hoạt động xét xử, hội thẩm phải độc lập với các cơ quan báo chí và dư luận xã hội, không bị ảnh hưởng bởi những thông tin không chính thống, theo hướng một chiều
48
từcác bài viết trên báo chí, trang mạng và dư luận xã hội. Hộithẩm phải tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân để làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục và luôn là người đấu tranh bảo vệ lẽ phải, bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhànước và của nhân dân.
Nghiên cứu mối quan hệ của hội thẩm trong hoạt động xét xử đã phản ánhđịa vị pháp lý của hội thẩm, với chức danh tư pháp là người tiến hành tố tụng, chủthể xét xử, có vịtrí trung tâm hoạt động xétxử, hộithẩm tham gia trực tiếp cùng thẩm phán để xét xử các vụ án nhằm đảm bảo tính đúng đắn và hợp pháp của các bản án, quyết định của tòa án.
2.2.4. Các yếu tốbảođảmcho việc thực hiện các quyền và nghĩavụcủa hội thẩm được thực thi trên thực tế
2.2.4.1. Năng lực của hội thẩm
Tính chất đặc thù của hoạt động xét xử là các phán quyết của tòa án có ảnh hưởng trực tiếp tới các quyền rất quan trọng của cá nhân, tổ chức trong xã hội, dođóhộiđồngxétxửphảiđảmbảotính chuyên nghiệp cao, nhằmhạnchếtớimức thấp nhấtbảnán, quyếtđịnhbịtòa áncấptrên sửa, hủy. Nếumộtbảnán, quyết địnhcủa hộiđồngxétxửtuyên không rõ ràng, thiếu khách quan thì chắc chắnsẽảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, của các đương sự, theo đó làtranh chấp, khiếu kiện kéo dài, phải qua nhiều vòng quay tố tụng sẽ tốn kém về thời
gian và những khoản chi phí khôngnhỏtừphía đươngsự, tòa án…, nhưngđiều quan trọng hơn đó là niềm tin của người dân vào tòa án, vào công lý sẽ bị giảm sútđáng kể. Vì vậy, yếu tốnăng lực của hộithẩm, chủthể xétxửcó vai trò rất quan trọng góp phần đảm bảo các phán quyết của tòa án được chính xác, đúng pháp luật.
Trong hoạt động xét xử, để việc việc áp dụng pháp luật được đúng đắn, phùhợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân thì các thành viên trong hội đồng xét xử không chỉ là những người có trình độ cao về mặt luật pháp mà còn phải có kiến thức và kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hộisâu sắc, có đạođức trong sáng, bảnlĩnh vững vàng. Nếuthẩm phán là nhữngngườicó kiến thức chuyên môn cao về pháp luật, được đào tạo kỹ năng xét xử, có kinh nghiệm xét xử,
49
thì quy định của pháp luật về sự tham gia của hội thẩm trong hội đồng xétxử là sựbổ sung cần thiết về kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội, sự hiểu biết về một số
lĩnh vực chuyên môn hẹp (như thương mại, chứng khoán, đất đai…) cho thẩm phán.
Việc tham gia xét xử của hội thẩm vốn là một yêu cầu khách quan của nền tư pháp và sự tham gia trực tiếp hoạt động xétxử của hội thẩm là một yếu tố bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính thực thi đối với các phán quyết của tòa án nhằm đảm bảo công lý. Vì vậy, nếu hội thẩm được lược chọn là những người có năng lực, có kinh nghiệm sống, kiến thức xã hội, thì khi tham gia hoạt động xét xử, hội thẩm sẽ thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của chủ thể xét xử, sẽ có cái nhìn khách quan, vô tư, chính xácvềsựthật khách quan của vụán, vềlẽphải vàsựcông bằng, cùng với thẩm phán điều hành phiên tòa, nâng cao chất lượng tranh tụng, đảm bảo tính công khai, dân chủvà nghiêm minh của phiên tòa. Bằng năng lực củamình, hộithẩm góp phầnbảođảmmộtbảnánđược tuyên phùhợpvớitâm tư, nguyện vọng của nhân dân, hay nói cách khác là đảm bảo một bản án “thấu tình, đạt lý”. Từ đó, nâng cao vị thế pháp lý của hội thẩm – chủ thể xét xử của tòa án. Ngược lại, trong trường hợp, hộithẩm năng lực kém, thiếu kinh nghiệm xã hộithì việc tham gia của hội thẩm tại phiên tòa chỉ mang tính hình thức, tham gia cho có lệ, sẽ dẫn tới có sự nhìn nhận không tốt về hội thẩm, sự nhìn nhận này từ phía quần chúng nhân dân, từ phía những người thẩm phán, làm giảm uy tín của hội thẩm khi tham gia xét xử.
Để thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ mà Hiến pháp và pháp luật quy định,đòihỏitừkhâu lựa chọn, cầnlựa chọnhộithẩm là nhữngngườicó kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội, có uytín đượccáccộng đồngdân cư tín nhiệm bầu ra. Người được lựa chọn làmhội thẩm phải là người đại diện của các giới, các ngành các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, họ có thể phản ánh một cách khách quan suy nghĩ, tâm tư của quần chúng nhân dân, chứ không phải từ góc độ của một luật gia thuần túy, của thẩm phán chuyên nghiệp. Đối với những vụ án liên quan đến các lĩnh vực chuyên môn hẹp, ví dụ như trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, chứng khoán, công nghệ
cao…,hộithẩm có những kiến thức, kinh nghiệmvềnhững lĩnh vực nàysẽbổsung, chia sẻ với thẩm phán về những lĩnh vực mà thẩm phán không chuyên sâu để
50
có mộtphán quyết của tòa án vừa có lý, có tình. Có như vậy, hộithẩmmớiphát huy được vai trò của mình, không làm giảm lòng tin của nhân dân đối với tòa án. Bằng uy tín và năng lực khi tham gia xét xử và ra các phán quyết, hội thẩm khẳngđịnh địa vị pháp lý của mình, là người tiến hành tố tụng, góp phần bảo vệ công lý, quyền được xét xử công bằng, nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử của tòa án.
2.2.4.2. Thể chế pháp lý đầy đủ quy định về quyền và nghĩa vụ của hội thẩm Hệ thống pháp luật ngày càng đầy đủ, hoàn thiện, thống nhất và có tính khả
thi là cơ sở pháp lý để nhà nước và công dân thực hiện đúng đắn, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Trong hoạt động xétxử, để đảm bảocho hội thẩm thực hiện tốt vai trò của mình, cần thiết phải có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hội thẩm hoàn chỉnh, toàn diện, có tính khả thi là cơ sở pháp lý vững chắc để để xây dựng và phát triển đội ngũ hội thẩm. Các quy định để đảm bảo cho hội thẩm thực hiện các quyền và nghĩa vụ khi tham gia hoạt động xét xử, bao gồm: quy trình thành lập, hoạt động của hội thẩm; phạm vi tham gia xét xử của hội thẩm; nhiệm vụ, quyền hạn của hội thẩm; các cơ chếphùhợpđểhộithẩm thực hiệntốtcác quyền và nghĩa vụcủa mình. Việc xây dựng cơ chế pháp lý phù hợp để hội thẩm thực sự được xétxử độc lập, ý kiến xét xử hội thẩm được tôn trọng thì sự tham gia của hội thẩm trong hoạt động xét xử còn mang tính đối trọng, phản biện có tính xây dựng đối với ý kiến vàquyếtđịnhcủa thẩm phán trong cùngmộtvấnđềmà hai bên có mâu thuẫn. Mâu thuẫn có thể xuất phát từ sự nhìn nhận khác nhau về đánh giá chứng cứ, về áp dụng
pháp luật, vềbảovệquyền conngười… hay sựnhìn nhận,cảmnhận khác nhau
giữa đạo đức xã hội với lợi ích giai cấp, lợi ích nhóm…Đây sẽ là động lực cho các tranh luận giữa các chủ thể xét xử, hội thẩm và thẩm phán, từ đó giúp cho các phán quyết của tòa án phải dựa trênlậpluận thuyết phục được các bên tranh chấp vàđược đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ.
Bên cạnhđócầntăngcườngcơchếkiểm tra, giám sátđảmbảohiệu lực, hiệu quả hoạt động xét xử của hội thẩm và kịp thời phát hiện xử lý những hành vi vi phạm pháp luật và vi phạm đạo đức nghề nghiệp của hội thẩm.
51
Hệ thống pháp luật về địa vị hội thẩm phản ánh đúng trình độ phát triển của nền kinh tế, chính trị, văn hóa,xã hội của đất nước.Hệ thống pháp luật thống nhất, hoàn chỉnh, quy định đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của hội thẩm cũng nhưcó cơ chế hữu hiệu, có tính khả thi nhằm đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụcủa hội thẩm khi tham gia hoạt động xét xử, sẽ là công cụ, phương tiện pháp lý đểhội thẩm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, để hội thẩm hoàn toàn độc lậpvớithẩm phán và chỉtuân theo pháp luật khi xét xử. Từđó, khẳngđịnhvịtrípháp lý quan trọng của hộithẩm -ngườitiến hành xét xử, cùng thẩm phán ra các phán quyết công bằng, hợp đạo lý.
2.2.4.3. Nhữngbảođảmvềtínhđộclậpcủahộithẩmtừphía thẩm phán chuyên nghiệp
Trong hoạt động xét xử của tòa án, yêu cầu về tính độc lập đang ngày càng có mộtvai trò quan trọng và đượcghi nhận như là trong nhữngyếutốkhôngthểthiếu được của một nhà nước pháp quyền. Thẩm phán và hội thẩm phải độc lập khi xét xử để đảm bảo tính khách quan, công bằng trong các phán quyết của tòa án, đềcao trách nhiệm và tính tự chủ của thẩm phán, hội thẩm, từ đó đảm bảo chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử. Thẩm phán, hội thẩm độc lập, tự mình quyết định việc giải quyết vụ án mà không phụ thuộc vào ai, thẩm phán và hội thẩm không bị chi phối bởi ý kiến của nhau và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Độc lập vàchỉ tuân theo pháp luật giúp hội đồng xét xử, thẩm phán và hội thẩm giải quyết vụán đúng người, đúng tội, xétxửcông bằng, khách quan, bảovệquyền và lợiích hợp pháp của công dân trước pháp luật.
Để hội thẩm khẳng định được vị trí, vai trò của mình, pháp luật đã quy định về việc nâng cao tính độc lập tự chịu trách nhiệm của hội thẩm trong hoạt động xét xử. Thẩm phán phảitạođiềukiện thuậnlợinhấtđểhộithẩmđộc lậpxét xử, tạo trạng thái tâm lý để hội thẩm tự khẳng định mình là thành viên của hội đồng xét xử, là chủthểxét xử, bằng suy nghĩ, lậpluận của mìnhvềcác tình tiết chứngcứcótronghồsơvụán vàkếtquảtranh tụngtạiphiên tòa,hộithẩmđưara các phán quyết về việc giải quyết vụ án vàtựchịu trách nhiệm trước pháp luật, trước quần
52
chúng nhân dânvềcác phán quyết đó. Thẩm phántạomọiđiềukiệnđểhộithẩm độc lập trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét đánh giá chứng cứ trong vụ án, diễn giải pháp luật, quyết định áp dụng pháp luật và ra bản án. Quyết định của hội thẩm đưara chỉ dựa trên pháp luật và độc lập với quyết định của thẩm phán. Mỗi thành viên trong hội đồng xét xử đều có quyền ngang nhau trong việc đánh giá chứng cứvà đưa ra kết luận về vụ án. Thẩm phán không được đưa ra ý kiến, nhận định chủquan của mình để áp đặt đối với hội thẩm, không có quyền chỉ đạo hội thẩm trong việc định tội danh, quyết định hình phạt. Ngược lại, hội thẩm cũng không dựa vàoưu thếsốđôngđểđánh giá gây áp lực giải quyết các vấnđềtheo quanđiểmcủa mình. Vì vậy, có thể nói những đảm bảo về tính độc lập của hội thẩm từ phía thẩm phán đã ảnh hưởng không nhỏ tới tính độc lập, chủ động, khách quan của hội thẩm, ảnh hưởng tới địa vị của hội thẩm khi tham gia hoạt động xét xử tại tòa án.
2.2.4.4. Các điều kiện về cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động của hội thẩm Nhìn một cách tổng thể, để mỗi cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước hoạt
động có hiệu quả, nhà nước cần quan tâm, tạo điều kiện đảm bảo về nơi làm việc, phương tiện làm việc và các chế độ đãingộ tương xứng đối với những con người làm việc trong các cơ quan, tổ chức đó. Về tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án cũng vậy, thành tố quan trọng đảm bảo cho sự vận hành của tòa án nói chung, hoạt động của hội thẩm nói riêngcần được đảm bảo đó là,về trụ sở làmviệc, trang thiết bị, phương tiện làm việc, trườngđàotạo, bồidưỡng, kinh phíđảmbảocho
hoạtđộngcủa hộithẩm… Nếu không có cácđiềukiện này thì hoạtđộngcủa hội thẩm trong công tác xét xử của tòa án sẽ không đạt được hiệu quả.
2.3. Những yếu tố ảnh hưởng tới địa vị pháp lý của hội thẩm 2.3.1. Yếu tố nhận thức
Nhận thức là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng tới việc xây dựng mô hình tổchức nhà nước, trong đó có các thiết chế để quản lý xã hội, thiết chế tòa án. Nếu cónhận thức thống nhất, phùhợpvớiđiềukiện, hoàn cảnh thựctếmớicó thểxây dựng chiếnlược đổimớihoặc cảicáchnềntư pháp phù hợp. Do vậy, việc nhận thức đúngđắn và thống nhất của các nhà hoạchđịnhchính sách, pháp luật có vai
53
trò quan trọng, tác động đến hệ thống tòa án của các quốc gia, trong đó có mô hìnhđại diện nhân dân tham gia hoạt động xét xử tại tòa án
Nhận thức của các nhà lậppháp, chủthểxétxử- thẩm phán, những người tham gia tốtụng, quần chúng nhân dânảnhhưởngtới địa vịcủa hộithẩm trong hoạt động xét xử. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn, thống nhất về vị trí, vai trò quan trọng của hội thẩm tham gia hoạt động xét xử là nhằm đảm bảo tính dân chủ trong xét xử, là đại diện cho tiếng nói của quần chúng nhân dân về công bằng, công lý và là kênh để nhân dân giám sát thực thi quyền lực tư pháp…, từ đó các nhà lập pháp xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp, quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lýcũng như các cơ chế đảm bảo để hội thẩm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình; thẩm phán khi tham gia xét xử cùng hội thẩm sẽ có sự nhìn nhận đúng đắn vềvị trí của hội thẩm cùng là chủ thể xét xử, ngang quyền với mình, sẽ tạo điều kiện để hội thẩm độc lập khi nghiên cứu hồ sơ cũng như khi đưa ra các phán quyết vềviệc giải quyết vụ án; những người tham gia tố tụng, nhân dân sẽ đặt niềm tin vào hộithẩm, ngườiđãđạidiện cho mìnhthểhiện mong muốncủamìnhvềcông lý, công bằng trong mỗi phiên tòa. Bản thân hội thẩm sẽ nhận thức được rằng khi tham gia xét xử cùng với thẩm phán là nhân danh nhà nước đưa ra phán quyết về các vụán. Sự phán quyết ấy có ý chí của hội thẩm và ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích nhà nước, của cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến uy tín của quốc gia trên trường quốc tế.
Vì vậy, cần phải có nhận thức khách quan vềđịa vịcủa hộithẩm khi tham gia hoạtđộngxétxử tạitòa án, để xâydựng mô hình đại diện nhân dân tham gia xét xử. Bêncạnh đócần phải có nhận thức khoahọckhi nghiên cứu gắn với việc bảovệcông lý, công bằng trong xã hội, bảovệquyền con người, quyền công dân…để từ đó lựa chọn mô hình cho phù hợp.
2.3.2. Yếu tố chính trị
Yếutốchínhtrịlà toàn bộcác yếutốtạonênđờisống chính trị, xã hội ởtừng giai đoạn lịch sử nhất định của mỗi quốc gia, bao gồm môi trường chính trị, hệthống các chuẩn mực chính trị, chủtrương, đườnglối, chính sách củađảngphái chính trị và quá trình tổ chức thực hiện chúng. Vấn đề cơ bản của chính trị là chính
54
quyền, là tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm thực hiện quyền lực nhànước.Thể chế chính trị luôn luôn giữ vai trò định hướng trong xã hội, chi phối đến toàn bộcác hoạtđộngtrong xã hội, mộthệthống pháp luậtđược xây dựng trên quan điểm, nềntảng của hệthống chính trị, đểthực hiệnsứmệnh của đảngcầm quyền. Vì vậy, yếu tố chính trị ảnh hưởng mạnh mẽ tới tổ chức và hoạt động của bộmáy nhà nước. Ở nghĩa hẹp, yếu tố chính trị ảnh hưởng tới tổ chức, hoạt động của từng cơ quan thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, trong đó có tổ chức và hoạt động của tòa án, hoạt động của hội thẩm.
Trongyếutốchính trị, chủtrương, đườnglối, chính sáchcủađảngphái chínhtrịvà chếđộchínhtrịlà nhữngyếutốảnhhưởngsâu sắc đếnhệthống tư pháp, trongđócó tổchức, hoạtđộngcủa tòa án nói chung và tổchức, hoạtđộng của hội thẩm nói riêng. Sự can thiệp của các đảng phái chính trị hay việc đưa ra các chính sách cho hoạt động của bộ máy nhà nước ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính độc lập của thiết chế tòa án trong hệ thống chính trị được coi là yếu tố tiên quyết tới tổchức, hoạt động của hội thẩm.
Yếu tố chính trị thể hiện thông qua việc thu hút nhân dân tham gia quản lýnhà nước và xã hội. Sự ảnh hưởng của yếu tố chính trị thể hiện ở việc định hướng bằng ý chí của nhà cầm quyền trong việc thiết lập mô hình đại diện nhân dân tham gia trực tiếp vào hoạt động xét xử của tòa án. Từ đó, lộ diện nhiều mô hình đại diện nhân dân tham gia hoạtđộngxét xử, cóthểlà theo mô hìnhhộithẩm nhân dân,
hoặc mô hình bồi thẩm đoàn… tùy theo sự lựa chọn của nhà cầm quyền, đảng cầm quyềncủamỗiquốc gia.Điềunày khẳng định, yếutốchínhtrịtácđộngtrực tiếp đếnsựhình thành các thiết chế, trongđócó mô hìnhđạidiện nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của tòa án.
2.3.3. Mô hình tổ chức tư pháp
Mô hình tổ chức tư pháp ở các quốc gia có sự khác nhau do chế độ kinh tế,
thể chế chính trị, truyền thống văn hóa, hệ thống pháp luật… khác nhau. Mô hình
tổ chức tư pháp của mỗi quốc gia có vai trò định hướng lớn trong mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án – cơ quan thực hiện quyền tư pháp của quốc gia.
55
Vì vậy, quyền tư pháp và quá trình thực hiện quyền tư pháp ở những quốc gia khác nhau, chế độ khác nhau, giai đoạn khác nhau của nhà nước có những hiệu ứng khác nhau, khác nhau về cách thức tổ chức các tòa án và cơ quan công tố, có quốc gia tổchức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử, có quốc gia tổ chức hệ thống tòa án theo nguyên tắc lãnh thổ (Việt Nam) và có quốc gia theo khuynh hướng của đa hệthống (các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa); khác nhau về mô hình tố
tụng, quy trình, thủ tục tố tụng tại tòa án. Do mô hình tổ chức hệ thống tòa án của các quốc gia khác nhau đã ảnh hưởng tới tổ chức, hoạt động hoạt động của tòa án,ảnhhưởngtớihoạtđộngcủa các chủthểtham gia trực tiếp thực hiện quyền tưpháp, trongđócóhộithẩm là ngườiđạidiện nhân dân tham gia xétxửtạitòa án (chế độ bồi thẩm đoàn là điểm khác biệt so với chế độ hội thẩm).
Từ mô hình tư pháp quốc gia, mô hình tổ chức hệ thống tòa án, các quốc giađã xây dựng lên mô hìnhđạidiện nhân dân tham gia hoạtđộngxétxửnhằmthểhiện tính khách quan và tính dân chủ trong thực hiện quyền tư pháp. Tuy nhiên, môhình này ởmỗiquốc gia cũng có những điểm khác biệt, có quốc gia áp dụngchế
định hội thẩm cá nhân (Việt Nam, Trung Quốc…), một số quốc gia lại áp dụng chế
định bồi thẩm đoàn (Hoa Kỳ, Australia, Hàn Quốc…) cũng có quốc gia áp dụng cảchế định hội thẩm và chế định bồi thẩm (Nhật Bản, Liên bang Nga). Thẩm quyền của bồi thẩm cá nhân thường được áp dụng như các thẩm phán chuyên nghiệp, tức là có quyền tham gia quyếtđịnhcác vấnđềnhư cùng tham gia hộiđồngxét xử, thẩm vấn đương sự và những người có liên quan, cùng nghị án… Nhưng bồi thẩmđoàn tham gia xétxửlạicó thẩm quyền khácvớithẩm phán, họkhông thực hiện các hành vi thẩm vấn trực tiếp như hội thẩm ở các tòa án của Việt Nam. Vì vậy, cóthể nói mô hình tư pháp các quốc gia có vai trò quan trọng trong việc định hướng xây dựng mô hình đại diện nhân dân tham gia xét xử, quyết định tới địa vị pháp lýcủa họ khi tham gia hoạt động xét xử.
2.3.4. Yếu tố pháp luật
Yếu tố pháp luật ở đây được hiểu bao gồm cả hệ thống luật và ý thức pháp luật ảnh hưởng tới địa vị của hội thẩm với tư cách là chủ thể thamgia quan hệ pháp
56
luật – người tiến hành tố tụng khi tham gia hoạt động xét xử tại tòa án.
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, là công cụ cơbảnđểtổchức và quản lýđờisống cộngđồngnhằm thiết lập, củngcốvàbảovệtrậttựxã hội trên các lĩnh vực của đờisống. Phápluật điềuchỉnh các quan hệ xãhội trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, mức độ hoàn thiện và sự phù hợp của pháp luật ảnhhưởngtrực tiếptớiviệc xây dựng và hoàn thiệnbộmáy nhà nước, trong đó có tổ chức và hoạt động của tòa án nói chung, hoạt động của hội thẩm nói riêng. Có thể thấy, pháp luật phản ánh nhận thức của nhà lập pháp về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của hội thẩm khi tham gia trực tiếp hoạt động xét xửcủa tòa án. Chất lượng, hiệuquảcông tác xétxửcủa hộithẩmphụthuộc chủyếuvào chấtlượngcông táclậppháp, công tác xây dựng pháp luật. Cóthểthấy chất lượng của việc ban hành văn bản pháp luật ảnh hưởng đến quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật. Hệthống pháp luậtvềchếđịnhhộithẩmđược đánh giá áp dụng hiệu quả, trước hết là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, không mâu thuẫn, không chồng chéo, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ban hành kịp thời và dễ tiếp cận, ghi nhận đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của hội thẩm, chủ thể
xét xử… Hệ thống pháp luật thỏa mãn những nội dung trên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác xét xử của hội thẩm, ngược lại, hệ thống pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn sẽ cản trở hoạt động xét xử của hội thẩm, ảnh hưởng tới hiệu quả xét xử của tòa án.
Hệ thống tư pháp của các quốc gia đều đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảovệcông lý, bảovệquyền con người, quyền công dân;đảmbảoan ninh chính trị, trậttựan toàn trong xã hội và tạomôitrường ổn địnhchosựphát triển kinh tế của đất nước. Do vậy, trong lĩnh vực tư pháp nếu có một hệ thống pháp luật ổn định, sẽ giúp cho tổ chức và hoạt động của tòa án trong đó có hoạt động của hội thẩm phát triển theo một trật tự mà các quốc gia mong muốn thiết lập. Chính vì lẽđó mà mỗi quốc gia đều không ngừng hướng tới việc rà soát, cải cách, sửa đổi đểhoàn thiện hệ thống pháp luật của quốc gia mình
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI THẨM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay


