Đánh giá hiệu quả Đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của nghiên cứu đề tài luận án
Kể từ sau đổi mới từ giữa những năm 80 của thế kỷ trước, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng với kinh tếthếgiới, tăng trưởng kinh tế cao trong một thời gian dài và mức sống người dân được cải thiện. Cùng với tốc độ tăng trưởng ấn tượngcủa nền kinh tế, hoạt động đầu tư của khu vực doanh nghiệp ngày càng mở rộng, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề an sinh xã hội và bổ sung vốn đầu tư.
Hiện nay, các nghiên cứu về hiệu quả đầu tư ở Việt Nam thường tập trung vào đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư toàn xã hội và mối liên hệ giữa đầu tư và tăng trưởng. Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy hiệu quả đầu tư của Việt Nam đang ở mức thấp. Một trong các nguyên nhân làm giảm hiệu quả đầu tư của Việt Nam là những thách thức chính sách trong việc cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước (IMF, 2013; OECD, 2013; VEPR, 2012). Hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp nhànước được coilà trụ cột chiến lược giai đoạn 2011-2015 nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù tiến trình cải cách và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh nhưng khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn có kết quả hoạt động kém hiệu quả (IMF, 2013; Báo cáo phát triển Việt Nam, 2012).
Trong những năm gần đây, đã có thêm nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của sở hữu tới hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, những nghiên cứu đã có thường tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán do tính sẵn có của số liệu (Võ Xuân Vinh 2011, 2013). Trong khiđó,việc nghiên cứu hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp niêm yết và không niêm yết) đặt trong cùng một bối cảnh không chỉ nhằm so sánh hiệu quảđầu tư giữa các loại hình doanh nghiệp mà còn giúp chỉ ra những vướng mắc của chính sách đối với cộng đồng doanh nghiệp nói chung,từđó đềxuất giải pháp
2
nâng cao hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp. Thêm nữa, phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay hầu hết sử dụng phương pháp định tính. Những nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thường sửdụng số liệu với thời gian ngắn, quy mô mẫu nhỏ và được thực hiện khá lâu (trước khi Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực).
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ởViệt Nam, màcụ thể làđánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp theo loại hình sở hữu,theo ngành và theo quy mô doanh nghiệp sẽ cho thấy khu vực doanh nghiệp nào đang hoạt động hiệu quả nhất, và vốn đầu tư của khu vực nào hiện đang bị sửdụng kém hiệu quả nhất. Việc sử dụng các số liệu sơ cấp và thứ cấp cùng với việc kết hợp phương pháp định tính và định lượng sẽ cho thấy những bằng chứng rõ nét vềhiệu quả đầu tưcủa doanh nghiệp ở Việt Nam, đồng thời chỉ ra những yếu tố nào có ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam.
2. Những điểm mới của Luận án 2.1.Về lýluận
Từ việc tổng quan tài liệu nghiên cứu và các lý thuyết về đầu tư, Luận án đã xây dựng khung nghiên cứu về đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp dưới góc độ đánh giá hiệu quả vốn đầu tư của các nhóm doanh nghiệp, bao gồm: doanh nghiệp nhà nước,doanh nghiệp tư nhân, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Luận án cũng đã làm sâu sắc hơn các lý thuyết vềđánh giá hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp ở góc độ vĩ mô và vi mô.
Ở góc độ vĩmô, khung lý thuyết đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp được xây dựng thông qua việc so sánh các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế-xã hội giữa các nhóm doanh nghiệp theo loại hình kinh tế để xem xét hiệu quả của từng nhóm doanh nghiệp. Các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp cũng được Luận án đưa vào khung phân tích. Đó là các yếu tố của môitrường đầu tư và mức độ cạnh tranh của ngành.
3
Ở góc độ vimô, Luận án xây dựng khung đánh giá hiệu quả đầu tư từ các chỉsốtài chính đo lường hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố về đặc điểm doanh nghiệp cũng được đưa vào khung phân tích như là các yếu tố ảnhhưởngđến hiệu quả đầu tư.
Từ các mô hình lý thuyết đầu tư, Luận án cũng đã xây dựng được mô hình định lượng đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam và mô hình đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
2.2. Về thực tiễn
Từ khung phân tích đã có, Luận án sử dụng đồng thời phương pháp định tính và định lượng để đánh giá hiệu quả đầu tư và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tưcủa doanh nghiệp ở Việt Nam với số liệu điều tra doanh nghiệp giaiđoạn 2006-2020 (thu thập thông tin giai đoạn 2005-2019). Việc đánh giá hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp đã được xem xét, phân tích ở 3 khu vực doanh nghiệp:
doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước. Một số phát hiện của Luận án là:
Thứ nhất, theo thời gian, hiệu quả kinh tế – xã hội của vốn đầu tư của doanh nghiệp đang tăng lên, đặc biệt ở khía cạnh tạo việc làm chính thức. Hiệu quả kinh tế – xã hội của khu vực doanh nghiệp tư nhân (DNTN) cũng cao hơn so với khu vực doanh nghiệp nhà nước(DNNN) và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DN FDI), thể hiện qua mức tăng năng suất lao động, đóng góp vào ngân sách và tạo việc làm.
Thứ hai, hiệu quả đầu tư ở góc độ tài chính của doanh nghiệp ở Việt Nam không có sự thay đổi theo thời gian. Dường như hoạt động đầu tư của khối DNNN không xuất phát từ kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ ba, xét theo ngành nghiên cứu, kết quả phân tích định lượng không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế biến chế tạo, xây dựng và kinh doanh bất động sản và ngành dịch vụ (không bao gồm ngành tài chính-ngân
4
hàng, và các ngành dịch vụ công như y tế, giáo dục).
Thứ tư, quy mô doanh nghiệp tỷ lệ thuận với hiệu quả của vốn đầu tư. Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì hiệu quả đầu tư càng cao.
Thứ năm, môi trường đầu tư chưa thể hiện ảnh hưởng rõrệt đến hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam. Trong khi đó, việc tiếp cận vốn vay đang là rào cản cho hoạt động đầu tư của các DNTN ở Việt Nam.
Từ các kết quả nghiên cứu, Luận án đã đưa ra những đề xuất và hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
3. Nội dung chính của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận án bao gồm 4 chương sau:
Chương 1 trình bày tổng quan các nghiên cứu về đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư và các phương pháp đánh giá. Chương này cũng trình bày khoảng trống nghiên cứu,điểm mới của Luận án và mục tiêu, phạm vi, phương pháp nghiên cứu của Luận án.
Chương 2 trình bày cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, bao gồm các khái niệm, lý thuyết đầu tư, các chỉ tiêu hiệu quảđầu tư và phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam.
Chương 3 trình bày thực trạng hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ở Việt Nam, khuôn khổ chính sách liên quan đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, các kết quả nghiên cứu về đánh giá hiệu quả đầu tư và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam.
Chương 4 trình bày các nội dungvềbối cảnh vĩ mô trong và ngoàinước giaiđoạn 2021-2025 ảnh hưởng tới hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp;đềxuất quan điểm, định hướng phát triển và nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp,
từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH
VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐTRONG VÀ NGOÀINƯỚC VỀHIỆU QUẢĐẦU TƯ VÀ CÁC YẾU TỐẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp
Kể từ sau Đổi mới, với mong muốn xoá bỏ dần cơ chế quan liêu bao cấp của nền kinh tế kế hoạch hoá, xây dựng nền kinh tế thị trường năng động và hội nhập với kinh tế quốc tế, Việt Nam đã xây dựng và ban hành các chính sách nhằm phát triển khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Sau 35 năm đổi mới, khu vực doanh nghiệp, chủ thể chính của nền kinh tế, đã trở thành động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế Việt Nam. Sự năng động của các doanh nghiệp ở Việt Namđã góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập, tạo đà tăng trưởng cao cho đất nước trong một thời gian dài. Mặc dù vậy, có những giai đoạn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế chậm lại, sức cạnh tranh bị suy giảm.Đãcó nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, hiệu quảđầu tư của khu vực doanh nghiệp,đặc biệt là các doanh nghiệp trong nước (bao gồm doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân) sẽ quyết định sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Các nghiên cứu về hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp cũng thường so sánh hiệu quả đầu tư của khối doanh nghiệp nhà nước và khối doanh nghiệp tư nhân thông qua các chỉ tiêu hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội. Đối với khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), hiệu quả đầu tư, bên cạnh các chỉ số hiệu quả tài chính, được xem xét thông qua các tác động tràn đến khu vực doanh nghiệp
6
nội địa.Tổng quan tài liệu vềhiệu quảđầutư của các doanh nghiệp có một sốđiểm đáng chú ý như sau:
1.1.1.1. Đánh giá hiệu quả đầu tư thông qua việc so sánh hiệu quả đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân
1.1.1.2. Đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1.1.1.3. Đánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp cổ phần
1.1.1.4. Đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu khác
1.1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp
1.1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến phương phápđánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp
1.1.3.1. Sử dụng mô hình đầu tư tân cổ điển để đánh giá hiệu quả đầu tư
Để đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp dựa trên sản phẩm vốn biên, các nghiên cứu xem xét lợi nhuận tiềm năng của một đơn vị vốn hoặc đơn vị tài sản tăng thêm của doanh nghiệp. Việc này giúp xem xét đã có bao nhiêu lợi nhuận thu được trên một đơn vị vốn/tài sản cho đến thời điểm nghiên cứu, từ đó giúp cósự đánh giá tương đối về lợi nhuận biên trong tương lai của doanh nghiệp.
Với số liệu bảng (panel data) ở cấp độ doanh nghiệp, (Dong, Louis Putterman, và Unel 2006, Dollar và Wei 2007) đã sử dụng mô hình đầu tư tân cổđiển,đánh giá hiệu quả đầu tư theo giá trị tăng thêm của lợi nhuận và doanh thu,đểđánh giá hiệu quảđầu tư của các doanh nghiệpởTrung Quốc,cụthểlà tácđộng của sở hữu nhà nước tới hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc. Sử dụng mô hình đầu tư tân cổ điển để dự báo mối quan hệ giữa lợi nhuận và vốn cũng như sự khác biệt về vốn, lao động và sản lượng. Các tác giả nàysử dụng chỉtiêu doanh thu/vốn và lợi nhuận/vốn là biến thay thế (proxy) cho giá trị sản phẩm biên của vốn. Họ phát hiện rằng, DNNN có tương quan lợi nhuận/vốn trung bình thấp hơn doanh nghiệp tư nhân. Sử dụng phương pháp tương tự với số liệu doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2001-2012, (O’Toole và cộng sự 2015) đã tiến hành
26
so sánh hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và DNNN và chỉ ra rằng, DNNN có lợi nhuận biên hậu nghiệm thấp hơn doanh nghiệp tư nhân. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, các quyết định đầu tư của DNNN ở Việt Nam dường như không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Cũng sử dụng mô hình đầu tư tân cổ điển với số liệu Điều tra doanh nghiệp của World Bank ở 90 nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi, nghiên cứu của (O’Toole và Tarp 2012) xem xét tác động của tham nhũng tới hiệu quảđầu tư.Sửdụng cách ước lượng phân đoạn và các biến công cụđểkiểm soát, nghiên cứu này đã xem xét ảnh hưởng của tham nhũng tới sản phẩm vốn biên – MVPK của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy hối lộ làm giảm hiệu quảđầu tư và tác động tiêu cực của hối lộ ảnh hưởng mạnh nhất đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) nội địa trong khi hầu như không có tác động đáng kể với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nội địa có quy mô lớn.
Trong nghiên cứu của Kim và Kwon (2015), các tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) với sai số chuẩn điều chỉnh để kiểm soát hiện tượng phương sai saisốthayđổi nhằm xem xét hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp tư nhân và DNNN ở Hàn Quốc và tác động của thông tin bất đối xứng tới hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Sử dụng theo cách của (Biddle, Hilary, và Verdi 2009), Kim và Kwon đã sử dụng các đặc điểm đặc trưng ban đầu của công ty có thể ảnh hưởng đến khả năng đầu tư vượt quá (over) hoặc đầu tư thấp (under). Các tác giả sử dụng biến đòn bẩy tài chính (leverage) và số dư tiền mặt làbiến thay thế (proxy) cho hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
1.1.3.2. Đánh giá hiệu quả đầu tư thông qua độ co giãn đầu tư – tăng trưởng doanh thu (mô hình gia tốc đầu tư)
Trong một nghiên cứu về hiệu quả phân bổ vốn đầu tư, (Wurgler 2000) đã ước lượng độ co giãn của đầu tư tới giá trị tăng thêm ở 65 nước không phải nền
27
kinh tế chuyển đổi. Tác giả đã chứng minh rằng, hiệu quả đầu tư tỷ lệ thuận với
độ co giãn đầu tư – tăng trưởng doanh thu. Hiệu quả đầu tư tăng khiđộ nhạy của đầu tư tới sản lượng tăng. Tuy nhiên, cũng như mô hình gia tốc đầu tư truyền thống, mô hình của Wurgler chỉ xem xéthiệu quả đầu tư ở cấp độ quốc gia với dữliệu ngành kinh tế mà không xem xét hiệu quả đầu tư ở cấp độ doanh nghiệp.
Mở rộng mô hình của Wurgle, (O’Toole và cộng sự 2015) đã tính toán độ
co giãn đầu tư – tăng trưởng doanh thu sử dụng số liệu điều tra doanh nghiệp của Việt Nam giai đoạn 2001-2012 để so sánh hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp tưnhân và DNNN ở Việt Nam (mô hình gia tốc đầu tư linh hoạt). Kết quả cho thấy, các quyết định đầu tư của doanh nghiệp tư nhân có quan hệchặt chẽvới tăng trưởng doanh thu trong khi ở khu vực DNNN không có mối quan hệ này. Cũng như các nghiên cứu về hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ở các nền kinh tếchuyển đổi và cácnước đang phát triển (Jun 2003, Galindo, Schiantarelli, vàWeiss 2007, Dollar và Wei 2007, Shleifer 1998, Kim và Kwon 2015, Chen vàcộng sự 2011), nghiên cứu của (O’Toole và cộng sự 2015) không xem xét hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
1.1.3.3. Đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bằng mô hình cấu trúc Q của Tobin
Sửdụng mô hình cấutrúc Q của Tobin, Chen và cộng sự(2011, 2014), Bond và Soderbom (2013), Hennessy và cộng sự (2007) đã đánh giá ảnh hưởng của loại hình sở hữu doanh nghiệp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Trong một nghiên cứu vềhiệu quảphân bổvốn,sửdụng mô hình Q của Tobin, (Wurgler 2000) đã ước lượng độ co giãn của vốn tới giá trị tăng thêm ở 65 nước không phải nền kinh tế chuyển đổi. Tác giả đã chứng minh rằng,hiệu quả sử
dụng vốn tỷlệthuận với độco giãn vốn tăng thêm (vốn đầu tư)–tăng trưởng doanh thu. Hiệu quả sử dụng vốn tăng khi độ nhạy của vốn đầu tư tới sản lượng
28
tăng. Tuy nhiên, mô hình của Wurgler chỉ xem xét hiệu quả đầu tư ở cấp độ quốc gia với dữ liệu ngành kinh tế mà không xem xét hiệu quả đầu tư ở cấp độ doanh nghiệp.
Mở rộng mô hình của Wurgle, (O’Toole và cộng sự 2015) đã tính toánđộ
co giãn vốn tăng thêm – tăng trưởng doanh thu sử dụng thống kê Q của Tobin (dựa trên số liệu điều tra doanh nghiệp của Việt Nam giai đoạn 2001-2012 để so sánh hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và DNNN ở Việt Nam). Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả đã chỉ ra rằng, khối doanh nghiệp tư nhân thực hiện hoạt động tăng vốn đầu tư dựa trên việc tính toán hiệu quả của vốn trong khiở khối DNNN thì không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa Q và quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Cũng sử dụng mô hình Q của Tobin, (Hạ 2017) đã đánh giá tác động của chính sách cổ phần hoá tới hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp có nguồn gốc
nhà nước trong giaiđoạn 2008 –2015. Kết quảnghiên cứu chỉra rằng, doanh nghiệp được tư nhân hoá hoàn toàn có hiệu quả đầu tư tốt hơn các doanh nghiệp cổ phần vẫn còn vốn nhà nước.
1.1.3.4. Mô hình đánh giá hiệu quả của khu vực doanh nghiệp FDI
(Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự 2006) sử dụng mô hình tăng trưởng nội sinh để xem xét tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng của việc Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới và sử dụng mô hình ảnh hưởng cốđịnh FEM kết hợp với bảng cân đối liên ngành (I-O)đểđánh giá tác động lan toảcủa khu vực FDI đến doanh nghiệp trong nước.Phương pháp này cũng được (Mogenroth và cộng sự 2015) sử dụng khi đánh giá tác động lan toảcủa khu vực FDI đến ngành chế biến chế tạo. Trong khiđó,để đánh giá tác động tràn năng suất của FDI đến khu vực trong nước, (Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự2014) đã sử dụng phương pháp hàm sản xuất ngẫu nhiên (SFA) để tiến hành đo đạc năng suất và phân rã các thành phần như: sự thay đổi về công nghệ, sự thay
29
đổi về hiệu quả kỹ thuật và sự thay đổi về hiệu quả do quy mô.
Phương pháp kinh tế lượng không gian được sử dụng để đánh giá tác động lan toả của khu vực FDI đến khu vực kinh tế trong nước theo vùng địa lý. Trong các nghiên cứu sửdụng phương pháp này ởViệt Nam (Nguyễn Ngọc Anh và Nguyễn Thắng, 2007; Trần Toàn Thắng và Phạm Thị Song Hạnh, 2012), các tác giả đã chỉ ra tác động lan toả xuôi của khu vực FDI đến khu vực doanh nghiệp trong nước ở không chỉ ở trong vùng mà còn ở cả các vùng lân cận.
1.1.4. Khoảng trống nghiên cứu 1.1.4.1. Về nội dung
Có thể thấy, những nghiên cứu về hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam mới chủ yếu dừng trên mẫu nhỏ, hoặc mẫu các doanh nghiệp đại chúng (một phần do tính sẵn có của số liệu), một số nghiên cứu đã sử dụng số liệu Tổng điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê nhưng trong thời gian ngắn. Vì vậy, kết quả nghiên cứu có thể chưa phản ánh hết được hiệu quả đầu tư của các loại hình doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế.
Các công trình nghiên cứu đã có về hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp chủyếu đánh giá hiệu quả đầu tư của từng loại hình doanh nghiệp riêng biệt (doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp niêm
yết…) mà chưa có sự so sánh, đánh giá tổng thể với toàn bộ khối doanh nghiệp.
Thêm nữa, các nghiên cứu đã có hầu như chưa xem xét ảnh hưởng của môi trường kinh doanh và tác động của các yếu tố vĩmô đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
Mặt khác, trong bối cảnh các chính sách hiện tại về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi, và do đó có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả đầu tư doanh nghiệp. Trong khiđó,những nghiên cứu đã có chủ yếu sử dụng
30
số liệu trước năm 2014, thời điểm chưa có sự thay đổi về Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và các chính sách liên quan.
Có thể thấy, khoảng trống nội dung lớn nhất của các nghiên cứu đã có vềhiệu quả đầu tư của doanh nghiệp là việc sử dụng mẫu nhỏ, thời gian nghiên cứu ngắn và các kết quả đã cũ.
1.1.4.2. Về Phương pháp
Các nghiên cứu trong nước về hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp chủ yếu sửdụng phương pháp định tính với việc mô tả số liệu và đánh giá dựa trên nhận định của các chuyên gia.
Trong số những nghiên cứu sử dụng định lượng thì các tác giả mới chỉ đánh giá hiệu quả đầu tư ở những khía cạnh đơn lẻ như tác động của doanh nghiệp FDIđến doanh nghiệp nội địa hoặc hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp đang niêm yết, hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp tư nhân mà chưa có một nghiên cứu sử dụng định lượng để đánh giá,so sánh hiệu quả đầu tư và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của toàn khối doanh nghiệp ở Việt Nam.
Các nghiên cứu trong nước sử dụng mô hình kinh tế lượng mới dừng lại ở sốliệu trước năm 2014, chưa có nghiên cứu mới nào sử dụng số liệu mới nhất của doanh nghiệp. Đồng thời, cũng chưa có nghiên cứu nào sử dụng kết hợp các mô hình kinh tế lượng để đánh giá hiệu quả đầu tư của toàn khối doanh nghiệp ở Việt Nam.
1.2.HƯỚNGNGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và nội dung nghiên cứu 1.2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá hiệu quả đầu tư và các yếu tốảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ở Việt Nam từ góc độ quản
31
lý nhà nước, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể của luận án:
+ Xây dựng cơ sở khoa học của việc đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bao gồm: xác định khung lý thuyết về đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp; Xác định các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp; Tổng quan kinh nghiệm quốc tế trong việc đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
+ Tổng quan chính sách ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp từ năm 2005 đến nay; Tổng quan kết quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam từnăm 2005 đến 2019.
+ Đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam trong giaiđoạn 2006-2020 (số liệu thu thập giai đoạn 2005-2019) bằng các phương pháp định tính và định lượng; và xác định các yếu tốảnh hưởng đến hiệu quảđầu tư của các doanh nghiệp ở Việt Nam.
+ Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam.
1.2.1.2. Câu hỏi nghiên cứu
Do luận án thuộc chuyên ngành kinh tế phát triển, mục đích của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ở Việt Nam kể từ sau luật Doanh nghiệp 2005đến nay (khi khu vực doanh nghiệp tư nhân được tạo điều kiện thuận lợi phát triển mạnh mẽ và hệ thống các chính sách tác động đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp (bối cảnh ra đời chính sách, ưu điểm và những vấn đề còn tồn tại) để từ đó đưa ra những hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam. Luận án không đánh giá hiệu quả đầu tư của một dự án hay một doanh nghiệp đơn lẻ mà chỉ đánh giá hiệu quả đầu tư toàn bộ
32
doanh nghiệp, tập trung vào 3 khu vực: DNNN, DNTN (doanh nghiệp ngoài quốc doanh), và DNFD. Vì vậy, các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của Luận án đều tập trung vào mục tiêu này.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời những câu hỏi sau:
Về lý luận: Làm rõ các khái niệm về hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp:
•Hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp là gì?
•Tiêu chínào đượcsử dụng đểđánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp?
•Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp?
Về thực trạng:
•Thực trạng hoạt động đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam những năm
vừa qua?
•Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam?
•Hàm ý chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam? 1.2.1.3. Nội dung nghiên cứu
Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu được xác định ở trên, Luận án dựkiến có các nội dung chính sau:
1) Tổng quan các nghiên cứu về đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp
Tổng quan nghiên cứu bao gồm: nghiên cứu trong nước và nghiên cứu ngoài nước sẽ tập trung vào các vấn đề sau:
– Các công trình nghiên cứu có liên quan đến hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp: Các vấn đề về hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp theo sở hữu và theo các chỉ tiêu khác;
– Các công trình nghiên cứu có liên quan đến xác định yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp;
33
– Các công trình nghiên cứu liên quan đến phương pháp đánh giá hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp, bao gồm: phương pháp đánh giá, chỉ tiêu đánh giá.
Từ phần tổng quan, Luận án sẽ chỉ ra những khoảng trống nghiên cứu và lựa chọn những phương pháp phù hợp để giải quyết vấn đề nghiên cứu của Luận án.
2) Xác định khung lý thuyết đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp
Thông qua nghiên cứu tài liệu thứ cấp, nội dung này làm rõ các vấn đề cơ bản sau đây:
– Làm rõ các khái niệm phục vụ nghiên cứu của Luận án: Khái niệm đầu tư và hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp;
– Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp;
– Xác định phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ở Việt Nam.
3) Tổng quan chính sách về đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay
Với nội dung này, Luận án sẽ tập trung nghiên cứu và phân tích các chính sách vĩ mô liên quan đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, bao gồm:
(1) Luật Doanh nghiệp; (2) Luật Đầu tư; (3) Luật Thuế TNDN. Trong mỗi chính sách, Luận án sẽ phân tích về: (1) Bối cảnh ra đời chính sách; (2) Nội dung của chính sách; (3) Quá trình thực thi chính sách.
4) Đánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ở Việt Nam theo khía cạnh hiệu quả kinh tế-xã hội và hiệu quả tài chính. Ở nội dung này, Luận án sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với nghiên cứu tài liệu để phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp (phân theo loại hình sở hữu, quy mô, ngành và địa bàn hoạt động) bao gồm: hiệu quả kinh tế xã hội và hiệu quả tài chính.
34
Các chỉ tiêu phản ánh kết quả đầu tư của doanh nghiệp như: doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, thu nhập của người lao độngsẽ được sử dụng để đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
5) Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam
Luận án sẽ phân tích, đánh giá hiệu quả đầu tư và các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam bằng các mô hình kinh tế lượng được xác định trong nội dung 2.
6) Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam
Dựa trên tổng hợp phân tích từ các nội dung (1) đến nội dung (5), Luận án sẽ đưa ra các kết luận đánh giá về hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam. Đồng thời, dựa trên phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế trong thời gian tới, Luận án sẽ đề xuất các quan điểm và hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới.
1.2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án 1.2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ở Việt Nam (phân theo loại hình sở hữu) và các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ở Việt Nam.
1.2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung: Từ góc độ nhân tố sản xuất, hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bao gồm hiệu quả vốn vật chất, hiệu quả vốn con người, và hiệu quảcông nghệ. Nhiều năm qua, Việt Nam tăng trưởng chủ yếu dựa vào việc tăng vốn đầu tư, cụ thể làtăng vốn vật chất, nhưng nguồn lực vốn đầu tư còn khan hiếm. Trong bối cảnh đó, luận án sẽ tập trung đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp dưới góc độ vốn vật chất màkhông nghiên cứu hiệu quả đầu tư ở góc độ vốn con
35
người và công nghệ. Vốn vật chất được hình thành từ vốn chủ sở hữu và vốn vay,được đầu tư vào tàisản cố định hàng năm và có thể được bổ sung khi doanh nghiệp tiến hành đầu tư làm tăng giá trị tài sản cố định. Và, tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp chính là tích lũy vốn tàisản cố định,hay còn gọi là vốn tích lũy.
Dưới góc độ nghiên cứu chuyên ngành về Kinh tế phát triển, nghiên cứu sinh xem xét đánh giá hiệu quả vốn đầu tư trên cả hai khía cạnh: vĩ mô và vi mô. Theođó,trên khía cạnh vĩ mô, hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp được đánh giá thông qua các chỉtiêu hiệu quảkinh tếxã hội của các khối doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ở khía cạnh vi mô, các chỉ tiêu tài chính được sử dụng đểso sánh hiệu quả đầu tư giữa các khu vực doanh nghiệp phân theo loại hình sởhữu, theo quy mô, và theo ngành.
Luận án sẽ đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp dựa trên việc so sánh sự thay đổi của các chỉ tiêu hiệu quả theo thời gian và giữa các loại hình doanh nghiệp phân theo sở hữu.
+ Phạm vi về doanh nghiệp: Đối tượng trong nghiên cứu của Luận án là các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hoạt động theo Luật Doanh nghiệp theo 3 khu vực kinh tế gồm: DNNN, DNTN và DN FDI. Theo đó, DNNN là những doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp cổ phần từ 51% vốn nhà nước; DNTN là các công ty tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH, công ty cổ phần không có vốn nhà nước, và công ty cổ phần có vốn nhà nước dưới 51%; DN FDI là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Xét theo ngành, Luận án tập trung đánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế biến chế tạo, xây dựng và kinh doanh bất động sản, và ngành dịch vụ khác (bao gồm cả ngành sản xuất và cung cấp dịch vụ điện, nước và ngành xử lý chất thải). Cũng như các
36
nghiên cứu đã có, Luận án không xem xét đánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp hoạt động công ích (hoạt động với hiệu quả kinh tế – xã hội là mục tiêu chính), doanh nghiệp trong ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (do kết quả hoạt
động đầu tư phụ thuộc nhiều vào thời tiết) và doanh nghiệp ngành tài chính – ngân hàng (do có những khác biệt về số liệu thống kê thu thập được).
Để xác định quy mô của doanh nghiệp, căn cứ theo Nghị định 56/2009/NĐ- CP của Chính phủ, Luận án dựa vào tiêu chí lao động đểxác định quy mô của doanh nghiệp. Theo đó, những doanh nghiệp có 10 lao động trở xuống là doanh nghiệp siêu nhỏ; đối với ngành công nghiệp và xây dựng: doanh nghiệp có từ trên 10 đến 200 lao động là doanh nghiệp nhỏ, có từ trên 200 đến 300 lao động là doanh nghiệp vừa và trên 300 lao động là doanh nghiệp lớn; đối với ngành dịch vụ: từtrên 10 đến 50 lao động là doanh nghiệp nhỏ, từ trên 50 đến 100 lao động là doanh nghiệp vừa và trên 100 lao động là doanh nghiệp lớn. Do tính ít tincậy từ số liệu tài chính của các doanh nghiệp siêu nhỏ, Luận án không nghiên cứu hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp siêu nhỏ trong giai đoạn 2005-2019.
+ Phạm vi về thời gian: từ năm 2005-2019 (số liệu điều tra trong giaiđoạn 2006-2020).
+ Với các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế – xã hội, Luận án đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam từ năm 2005-2019. Năm 2005 là năm đầu tiên được lựa chọn để bắt đầu nghiên cứu vìđây là năm mà Luật Doanh nghiệp 2004 có hiệu lực. Đồng thời, cũng là năm có hiệu lực của Luật Đầu tư 2004, đây là lần đầu tiên Việt Nam có Luật Đầu tư thống nhất, áp dụng chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp.
+ Với mô hình kinh tế lượng, Luận án sử dụng số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2006-2020 với số liệu thu thập kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giai đoạn 2005-2019. Đây là bộ số liệu sơ
37
cấp có đầy đủ các thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như ngành hoạt động, địa bàn hoạt động, quy mô và loại hình sở hữu.
+ Phạm vi về không gian: các doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. 1.2.3. Cách tiếp cận và khung phân tích
1.2.3.1. Cách tiếp cận
Cách tiếp cận đa chiều: tiếp cận vĩ mô và vi mô, tiếp cận hệ thống, tiếp cận hiệu quả, sẽ được sử dụng để đánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ởViệt Nam.
Cách tiếp cận vĩ mô và vi mô
Việc đánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ở Việt Nam được xét xétở cả góc độ vĩmô và góc độ vi mô.Ở góc độ vĩmô, hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp được xem xétở dưới góc độ về quy mô vốn đầu tư,quy mô lao động tăng thêm, số tiền nộp vào ngân sách nhà nước. Đồng thời, việc đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp được xem xét với từng loại hình doanh nghiệp phân theo sởhữu, phân theo quy mô và phân theo ngành.Ở góc độ vimô, các chỉ tiêu đánh giáhiệu quả đầu tư là các chỉ tiêu đo lường ở cấp độ doanh nghiệp như: doanh thu/vốn
đầu tư,lợi nhuận/vốn đầu tư,tốc độ tăng vốn đầu tư…
Cách tiếp cận hệ thống
Với cách tiếp cận này, việc đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ởViệt Nam được đặt trong bối cảnh chung với sự phát triển kinh tế của đất nước và sựthayđổi của hệthống chính sách đầu tư. Hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp chịu tác động không chỉ từ những đặc điểm nội tại của doanh nghiệp mà còn từmôi trường đầu tư, chính sách vĩ mô và những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, khi đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp cần xem xétđồng
38
bộ sự thay đổi của chính sách đầu tư và môi trường đầu tư của Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu, cách tiếp cận này sẽ được vận dụng để xem xét tính hài hòa, hiệu quả của mỗi loại chính sách đầu tư.
Cách tiếp cận hiệu quả đầu tư
Đánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ở Việt Nam về cơ bản là xem xét hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư thông qua các kết quả đầu ra như doanh thu, lợi nhuận, và các kết quả kinh tế – xã hội khác. Hiệu quả đầu tư không đơn thuần là hiệu quả tài chính mà còn là hiệu quả xã hội và môi trường. Với mỗi loại hình doanh nghiệp thì hiệu quả đầu tư được nhìn nhận khác nhau. Trong Luận án này, hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp được xem xét đồng thời dưới góc độ hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế – xã hội. Mặc dù vậy, hiệu quả tài chính sẽ lànội dung xem xét chủ yếu của luận án với đối tượng là các doanh nghiệp hoạt động đơn thuần vì mục tiêu lợi nhuận.
1.2.3.2. Khung phân tích của Luận án
Từ tổng quan các nghiên cứu đã có về đánh giá hiệu quả đầu tư và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, khung phân tích chính của Luận án thể hiện các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu hiệu quả đầu tư và các yếu tốảnh hưởng. Dựa trên khung phân tích này, Luận án sẽ đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam theo 2 khía cạnh: hiệu quả kinh tế – xã hội và hiệu quảtài chính. Các chỉ tiêu hiệu quảđược sửdụng cho toàn khối doanh nghiệp, phân theo loại hìnhsởhữu bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bao gồm: yếu tố từ môi trường vĩ mô và yếu tố từ đặc điểm của doanh nghiệp.
39
Năngsuất lao động
Sựthay đổi thu nhập của
Sốlao động tăng thêm
Đónggóp vào ngân sách
người lao động
nhà nước
Chiphí gia nhập thị
Cácchính sách hỗ trợ
Tỷlệ vốn vay/tổng vốn
Ngànhhoạt động sản
doanh nghiệp
xuất kinh doanh
trường
Hiệu quả Kinh tế – xã
hội
Các yếu tố từ môi
trường vĩ mô
Các yếu tố từ đặcđiểm của doanh nghiệp
HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ
CỦA DOANH NGHIỆP
Hiệu quả tài chính
Khảnăng tiếp cận đất
Mức độ cạnh tranh của
Chiphí không chính thức
Quymô doanh nghiệp
Loại hình sở hữu
ngành
Thốngkê Q của Tobin
Sảnphẩm cận biên của
Lợi nhuận/tổng tài sản
Lợinhuận/vốn đầu tư
Doanh thu/tổng tài sản
Doanh thu/vốn đầu tư
vốn
Hình 1.1: Khung phân tích chính của Luận án
Các yếu tốtừmôi trường vĩ mô tác động đến hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp bao gồm: chi phí gia nhập thị trường,khảnăng tiếp cận đất đai, chi phí không chính thức và mức độ cạnh tranh của ngành (để đo lường tính minh bạch thông tin trong ngành). Các thông tin này được sử dụng từ số liệu điều tra Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
40
Các yếu tốtừđặc điểm doanh nghiệp tác động đến hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp gồm: quy mô doanh nghiệp, loại hình sở hữu, ngành hoạt động sản xuất kinh doanh và cơ cấu vốn (đòn bẩy tài chính) của doanh nghiệp.
Ngoài ra, còn có tác động từ các chính sách vĩ mô tới hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp,cụ thể làcác chính sách về đầu tư, phát triển doanh nghiệp, tín dụng và chính sách thuế.
1.2.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng cùng được sử dụng,cụ thểnhư sau:
Phương pháp tổng quan tài liệu
Phương pháp tổng quan tài liệu được sử dụng trong hầu hết các nội dung nghiên cứu,đặc biệt làtrong Nội dung 1, 2 và 3. Các tài liệu đầu vào được thu thập dựa trên nguồn các Thư viện, các Viện nghiên cứu, các tạp chí khoa học trong và ngoàinước;các tổ chức nghiên cứu, các trường đại học, tổ chức quốc tế…
Phương pháp thống kê mô tả
Dựa trên số liệu thu thập từ các nguồn khác nhau như: số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê, niên giám thống kê, số liệu điều tra năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), và các nguồn số liệu thứ cấp, sơ cấp khác, phương pháp phân tích thống kê được sử dụng trong quá trình phân tích ở Nội dung 4. Phương pháp cơ bản là tính bình quân theo nhóm, lập bảng chéo (cross-tabulation), và các đồthị, biểu đồ.
Phương pháp phân tích định lượng, mô hình kinh tế lượng
Cùng với phương pháp định tính, phương pháp định lượng sẽ được dùng đểđánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam (Nội dung 5). Mô hình kinh tế lượng cũng được sử dụng để xem xét tác động của các yếu tố đến hiệu quả
41
đầu tư của doanh nghiệp. Việc đánh giá tác động của chính sách sẽ được đưa vào mô hình dưới dạng biến giả (dummy) trong các phương trình ước lượng kết quảvà hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
1.2.5. Giả thiết nghiên cứu
Dựa trên các cách tiếp cận nghiên cứu và để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, luận án sẽ kiểm định các giả thiết nghiên cứu sau đây:
•H1: Hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp ở Việt Nam tăng dần theo
thời gian
•H2: Doanh nghiệp tư nhân có hiệu quả đầu tư tốt hơn doanh nghiệp
nhà nước
•H3: Ngành hoạt động sản xuất kinh doanh có tác động tới hiệu quả
đầu tư của doanh nghiệp
•H4: Doanh nghiệp có quy mô nhỏ có hiệu quả đầu tư thấp hơn doanh
nghiệp có quy mô vừa và lớn
•H5: Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp tư nhân chịu áp lực của các
khoản vay nợ
Giả thiết H1 và H2 được đưa ra dựa trên những đánh giá về thay đổi chính sách phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn từ 2005 đến nay. Theo đó,kểtừnăm 2005,sốlượng doanh nghiệp đăng ký mới hàng nămđãtăng liên tục.
Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tăng thu ngân sách, tạo công ăn việc làm, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế. Thêm nữa, khu vực doanh nghiệp tư nhân ngày càng thể hiện khả năng thích nghi và cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới. Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các ngành, nhiều doanh nghiệp trở thành các nhà xuất khẩu lớn và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Giả thiết H3, H4, H5 được đưa ra dựa trên tổng quan các nghiên cứu đánh
42
giá về hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Các nghiên cứu đã có đều chỉ ra rằng, quy mô doanh nghiệp tỷ lệ thuận với hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả đầu tư nói riêng của doanh nghiệp. Đó là do những lợi thế vềvốn dài hạn, và khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng.
Ngành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng có ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Ngành công nghiệp thường có năng suất lao động cao hơn so với các ngành khác và do đó hiệu quả cũng thường cao hơn.
Đối với việc tiếp cận tín dụng, các doanh nghiệp tư nhân thường gặp nhiều khó khăn hơn so với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI do những bất lợi về quy mô doanh nghiệp (so với doanh nghiệp FDI) và sự ưu đãi mềm (so với doanh nghiệp nhà nước). Đa phần doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam có quy mônhỏ và vừa nên thường thiếu tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng. Thêm nữa phần lớn doanh nghiệp tư nhân chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán nên không có khả năng huy động vốn từ kênh tài chính này.
Các giả thiết nghiên cứu sẽ được kiểm định bằng phương pháp hồi quy môhình kinh tế lượng.
43
Tóm tắt Chương 1:
Chương 1đã trình bày tổng quan các nghiên cứu đã có ởtrong và ngoài nước về đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp và các phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Kết quả tổng quan tài liệu cho thấy,ở cấp độvĩ mô, việc đánh giá hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp thường gắnvới việc so sánh hiệu quả đầu tư của các khu vực doanh nghiệp phân theo loại hình sở hữu. Các nghiên cứu quốc tế và trong nước đều chỉ ra rằng, doanh nghiệp khu vực tưnhân có hiệu quảđầu tư tốt hơn doanh nghiệp thuộc sởhữu nhà nước.Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các nghiên cứu về hiệu quả đầu tư thường tập trung đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội, được đo bằng số lao động có việc làm,
hệ số lan tỏa đến các doanh nghiệp nội địa trong cùng ngành, cùng địa phương…
Các nghiên cứu đã có cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Theo đó, không chỉ các yếu tố từ môi trường đầu tư (chính
sách, năng lực thể chế…) và các yếu tố liên quan đến đặc điểm của doanh nghiệp
(quy mô, sở hữu, ngành…), mà chính kết quả đầu tư của kỳ trước cũng là động lực cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp (hệ số thống kê Q của Tobin)
Về các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư, hầu hết các nghiên cứu đã có sửdụng các chỉ tiêu hiệu quả tài chính để xem xét và đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Các nghiên cứu đã có cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp như môi trường kinh doanh, quy mô doanh nghiệp,
ngành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu kỳ trước …
Vềphương pháp đánh giá hiệu quảđầu tư,cảphương pháp định tính và định lượng đều đã được sử dụng.Phương pháp định tính thườngđược đưa ranhư là các đánh giá chuyên gia về hiệu quả đầu tư dưới góc độ kinh tế xã hội. Trong khiđó,phương pháp định lượng được sử dụng để ước lượng hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính.
44
Trong Chương1, Luận án cũng chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của Luận án. Đó là việc đánh giá hiệu quả đầu tư của toàn bộ khu vực doanh nghiệp ở Việt Nam thay vì chỉ đánh giá hiệu quả đầu tư đơn lẻ của một khu vực doanh nghiệp. Đồng thời, Luận án cũng sử dụng dữ liệu mới nhất với chuỗi thời gian dài để đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
Từ các giả thiết nghiên cứu, Luận án đã xây dựng khung phân tích chính bao gồm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư và các yếu tố tác động tới hiệu quảđầu tư của DN. Luận án sử dụng đồng thời cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng để nghiên cứu.
45
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ
CỦA DOANH NGHIỆP
2.1. CÁC KHÁI NIỆM 2.1.1.Đầu tư
Theo Giáo trình Kinh tế Đầu tư (Đại học Kinh tế quốc dân, 2013),đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏra để đạt được kết quả đó.Như vậy mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Nguồn lực hy sinh có thểlà tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Theo Từ điển kinh tế học hiện đại “Đầu tư là thuật ngữ được dùngphổ biến nhất để môtả các khoản chi tiêu (trong một thời kỳ nhất định) để làm tăng hay duy trì tài sản thực”. Trên thực tế, một định nghĩa chính xác hơn bao hàmđược yếu tố trên là: đầu tư là những khoản chi tiêu dành cho các dự án sản xuất xuất hàng hóa, những khoản chi tiêu này không dự định dùng cho tiêu dùng trung gian.Đầu tư bao gồm cả đầu tư vào tài sản vật chất và đầu tư vào vốn nhân lực.Điểm khác biệt của hai khoản đầu tư này là người ta không thể tính được lợi ích trong tương lai do đầu tư vào vốn nhân lực như thường tính khi đưa ra quyết định đầu tư vào tài sản vật chất qua giá trị hiện tại thuần của dự án đầu tư. Do đó, trong kinh tế học vĩ mô, đầu tư vào vốn nhân lực không coi là đầu tư kinh tế.
Theo lý thuyết kinh tếhọc, đầu tư là sốtiền mua một đơnvịthời gian của hàng hóa không được tiêu thụ mà sẽ được sử dụng cho sản xuất trong tương
46
lai. Đầu tư thường được mô hình hóa như một hàm của thu nhập và lãisuất, được đưa ra bởi mối quan hệ I = f(Y, r). Một gia tăng trong thu nhập khuyến khích đầu tư cao hơn, trong khi một lãi suất cao hơn có thể không khuyến khích đầu tư do nó trở nên tốn kém hơn để vay tiền. Ngay cả khi một doanh nghiệp lựa chọn để sửdụng quỹ riêng của mình trong một khoản đầu tư, lãi suất đại diện cho một chi phícơ hội của đầu tư các quỹ này thay vì việc cho vay ra số tiền đó để có tiền lãi.
Theo giáo trình tài chính doanh nghiệp “đầu tư là một hoạt động quan trọng của bất kỳ chủ thể nào trong nền kinh tế. Đó là hoạt động bỏ vốn ở hiện tại với hy vọng đạt được lợi ích tài chính, kinh tế xã hội trong tương lai”.Điều này có thểđược hoặc không được hỗ trợ bởi nghiên cứu và phân tích. Hầu hết hoặc tất cả các hình thức đầu tư liên quan đến một số hình thức rủi ro, chẳng hạn như đầu tư vào cổphần, bất động sản và thậm chí các chứng khoán lãi suất cốđịnh mà có thể, ngoài những điều khác, rủi ro lạm phát.
Theo Sachs – Larrain (1993) thìđầu tư là phần sản lượng được tích luỹ đểtăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế. Sản lượng ở đây bao gồm phần sản lượng được sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài – theo luồng sản phẩm; đối với loại sản phẩm hữu hình như nhà cửa, công trình xây dựng cơ bản, máy móc thiết bị…hay các sản phẩm vô hình như bằng phát minh sáng chế, phí chuyển nhượng tài sản…, và tàisản cố địnhtrong nền kinh tế tại một thời điểm nào đó được định nghĩa bằng tổng các đầu tư qua các năm, tính đến thời điểm đó.
Theo Luật Đầu tư 2020, đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện kinh doanh. Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác theo quy định của pháp luật về dân sự và điều ước quốc tế mànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh.
Đầu tư là hoạt động chủ quan có cân nhắc của người quản lý cho việc bỏvốn vào một mục tiêu kinh doanh nào đó với hy vọng sẽđem lại hiệu quảcao
47
trong tương lai. Trong điều kiện của nền sản xuất hàng hoá, để tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải có tiền. Đối với các doanh nghiệp lần đầu được hình thành thì tiền này được dùng để xây dựng nhà xưởng, mua sắm thiết bị, mua sắm nguyên vật liệu,trảlương cho người lao động; Đối với doanh nghiệpđang hoạtđộng thì tiền này dùng đểmua sắm máy móc thiết bị, xây thêm nhà xưởng, tăng thêm vốn lưu động nhằm mởrộng quy mô hoạt động hiện có, sửa chữa hoặc mua sắm tài sản cố định mới, thay thế tài sản cũ đã bị hư hỏng.
Vốn đầu tư làkhái niệm dùng để chỉ các nguồn lực hiện tại chi dùng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu về một nguồn lực mới có khối lượng và giá trị lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra. Đối với một doanh nghiệp thìvốn đầu tư xuất hiện từ khi doanh nghiệp còn chưa hình thành và sẽ tiếp tục phát triển đến khi nào doanh nghiệp dừng hoạt động. Hiện nay, vốn đầu tư là một trong những yếu tố tiên quyết trong sự phát triển của bất kì một doanh nghiệp nào.Vốn đầu tư bao gồm:
– Tài sản tài chính: tiền vốn
– Vốn vật chất: là các tài sản vật chất như nhà xưởng, thiếtbị, vậttư …(tài
sản cố định)
– Tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực như trình độ văn hóa, trình độ chuyên
môn, trình độ khoa học kỹ thuật
Số tiền cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn, không thể trích ra một lúc từ các khoản tiền chi tiêu thường xuyên của các doanh nghiệp vì sẽ làm xáo trộn mọi hoạt động bình thường của sản xuất và sinh hoạt xã hội. Do đó tiền sửdụng vào các hoạt động đầu tư chỉ có thể là tiền tích luỹ của xã hội, là tiền tích luỹcủa các doanh nghiệp, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ nước ngoài.
Khái niệm vốn đầu tư có thể hiểu là “tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sởsản xuất kinh doanh, là tiền tiết kiệm của dân và huy động từ các nguồn khác đưa
48
vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt xã hội và trong mỗi gia đình”. Hay có thể nói vốn đầu tư nói chung là tổng số tiền bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư trong một khoảng thời gian nào đó. Như vậy, đầu tư của doanh nghiệp là việc doanh nghiệp sử dụng vốn để thực hiện một mục tiêu kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận trong tương lai.
Vốn đầu tư của doanh nghiệp được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay. Theo đó, vốn chủ sở hữu là vốn góp của chủ doanh nghiệp, vốn cổ phần,
lợi nhuận để lại. Vốn vay là các khoản vốn mà doanh nghiệp đi vay để tài trợ cho hoạt động đầu tư,bao gồm vay từ các tổ chức tín dụng, vốn trái phiếu, vay từ các
nguồn khác…
Kể từ sau đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam được tài trợ chủ yếu từ việc tăng vốn đầu tư. Trong bối cảnh nguồn lực vốn đầu tư (vốn vật chất) ngày càng khan hiếm, Luận án thực hiện đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp dưới góc độ hiệu quả vốn vật chất. Đây là nguồn vốn được hình thành từ vốn chủsở hữu và vốn vay đầu tư vào tài sản cố định và hàng năm có thể được bổ sung khi doanh nghiệp tiến hành đầu tư mới. Như vậy, tích lũy vốn của doanh nghiệp là khoản vốn được chuyển hóa từ vốn vay và vốn chủ sở hữu vào tàisản cố định của doanh nghiệp..
Để đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, Luận án sử dụng khái niệm “Vốn đầu tư của doanh nghiệp là tích lũy vốn tài sản cố định của doanh nghiệp được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh”.
2.1.2. Hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế – xã hội đã đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra đểcó các kết quảđó trong một thời kỳnhất định.Với vai trò quan trọng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, các nhà quản lý cũng như giới nghiên cứu rất quan
49
tâm đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp và đây cũng là chủ đề được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu. Có nhiều thước đo để đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Xétvềkhía cạnh tài chính, có thểđo lường hiệuquảđầu tư của doanh nghiệp một cách chung nhất là tỷ lệ giữa khoản thặng dư (vốn, lợi nhuận) thu được và khoản đầu tư (vốn) bỏ ra. Như vậy, xét về khía cạnh này, khái niệm hiệu quảđầu tư của doanh nghiệp khá tương đồng với khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Ở cấp độ doanh nghiệp, hiệu quả đầu tư thường gắn với hiệu quả của dự án đầu tư.Và do đó, việc đánh giá hiệu quả đầu tư được hiểu là đánh giá hiệu quảcủa dự án đầu tư.Tuy nhiên, Luận án không thực hiện đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư cụ thể màđánh giá chung hiệu quả đầu tư của các khu vực doanh nghiệp nhằm xem xét hiệu quả chung của hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Ở cấp độ nền kinh tế, hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp thường gắn với (1) hiệu quả kinh tế – xã hội mà khu vực doanh nghiệp tạo ra như: đóng góp vào ngân
sách nhà nước, tạo việc làm, nâng cao mức sống người lao động…; và (2) hiệu quả tài chính của các khu vực doanh nghiệp (được xem xét trên các chỉ tiêu hiệu quả tài chính như tỷ suất lợi nhuận/vốn đầu tư, doanh thu/vốn đầu tư,tốc độ tăng
vốn đầu tư…của doanh nghiệp)để từ đó xemxét hiệu quả của các chính sách vềdoanh nghiệp của mỗi quốc gia.
Trong phạm vi nghiên cứu của Luận án, hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế xã hội (thông qua các chỉ tiêu hiệu quả xã hội) và hiệu quả tài chính (thông qua các chỉ tiêu hiệu quả tài chính) của các khu vực doanh nghiệp phân theo loại hìnhsởhữu(doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Các yếu tố về môi trường đầu tư và đặc điểm của doanh nghiệp cũng được đưa vào phân tích như là các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
50
2.1.3. Đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Đánh giá hiệu quả Đầu tư của doanh nghiệp ở Việt Nam


