Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam

Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, xu hướng tự do h a thương mại và toàn cầu hóa phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh diễn ra sôi động. Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì các hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra với tốc độnhanh hơn bao giờ hết. Trong môi trường kinh tế phát triển thuận lợi như vậy, các hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cũng ng y c ng đa dạng, phong phú hơn.Đểcó thểnhanh chóng hoàn tất giao dịch, đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách h ng, đồng thời đểnâng cao hiệu quảcủacác giao dịch đòi hỏicác doanh nghiệp phải soạn thảo trước những điều khoản, quy tắc ổn định để có thể áp dụng cho các giao dịch cùng loại đ l “điều kiện giao dịch chung”, tên tiếng Anh thường là “General Terms and Conditions” hay “Standard Terms and Conditions”. Sựra đời của ĐKGDC hoàn toàn khách quan, phù hợp với sựphát triển của nền sản xuất hàng loạt ng y c ng được tiêu chuẩn hóa. Xu thế các doanh nghiệp sử dụngĐKGDC cho tất cả các giao dịch với các đối tác ngày càng phổ biến, điều này giúp cho doanh nghiệp giảm chi phí đ m phán, giảm rủi ro pháp lý và chi phí xã hội.

Vấn đềđặt ra là ĐKGDC sửdụng cho việc giao kếthợp đồng do một bên soạn thảo sẵn, bên còn lại muốn xác lập hợp đồng phải đồng ý, chấp nhận vô điều kiện các điều khoản đ , vậy c hay không các ĐKGDC đã l m hạn chế quyền tự do giao kết hợp đồng? Việc sử dụng ĐKGDC cho giao kết hợp đồng trong trường hợp này có tạo sựbất bìnhđẳng vềquyền lợi giữa các bên hay không? ên soạn thảoĐKGDC c những quyđịnh nhằm hạn chế, loại bỏ quyền của bên giao kết hợp đồng hay buộc bên giao kết hợp đồngphải gánh chịu những rủi ro bất hợp lý gì không? Trong các hợpđồng HHH, các DNBH là bên soạn thảo trướccác điều khoản mẫu đểkhách hàng xem xét trảlời chấp nhận trong một khoảng thời gian nhất định, nếu khách h ng đồng ý tham gia bảo hiểm đồng nghĩa với việc chấp nhận toàn bộnội dung hợp đồng bảo hiểm theo điều khoản mẫu mà doanh nghiệp bảo hiểmđã đưa ra. Chính vì vậy, người mua bảo hiểm không được đ m phán, thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung điều khoản của hợp đồng bảo hiểm, khách hàng khó

1

có thểhiểu hết các điều khoản ĐKGDC trong khi DNBH lại là bên ban hànhĐKGDC có thể c xu hướng lựa chọn các ĐKGDC c lợi cho mình, dồn người mua

bảo hiểm vào tình thế khó lựa chọn…g y bất lợi cho bên mua bảo hiểm khi giao kết và thực hiện hợp đồng. Do phải chấp nhận các ĐKGDC một cách bị động nên nguy cơ khách h ng c thểbị hạnchế quyềntựdo trong giao kếthợp đồngv dễ bịrủiro trong quá trình thực hiện. Vì vậy, cần phải có những cơ chế giải quyết kịp thời và kiểm soát chặt chẽcác ĐKGDC trong các hợp đồng BHHHđểcác doanh nghiệp Việt Nam tận dụng được các lợi thếcủa ĐKGDC sửdụng cho việc giao kết hợp đồng với các khách h ng, đồngthời bảo vệquyền lợi cho các khách hàng là bên không soạn thảo ĐKGDC l rất cần thiết.

Về khía cạnh pháp lý, pháp luật Việt Nam hiện h nh vềchế định hợp đồng chiếm dunglượng rấtlớnnhưngchỉc số ít quy định của pháp luật trực tiếpđiều chỉnh các ĐKGDC trong hợp đồng như Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, LDS năm 2015 v rải rác ở một số luật chuyên ng nh nên chưa c biện pháp kiểm soát đồng bộ, thống nhất. Trong quá trình thực hiện, việc kiểm soát chưa thực sực hiệu quả g y ra những hệ lụyl mảnhhưởng đến quyền lợi của bên không soạn thảo ĐKGDC; chưa đáp ứng được yêu cầu của môi trường kinh doanh hiện đại cũng nhưyêu cầu đảm bảo sựcông bằng, thỏa thuận về quyền lợi giữa các bên giao kết hợpđồng. Vì thế, việc hiểu, áp dụng các ĐKGDC chưa đảm bảo được sự nhất quán, chưa mang lại hiệu quả áp dụng ĐKGDC cao trong thực tiễn.

Bởi vậy, việc nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận về ĐKGDC trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, pháp luật điều chỉnh hợp đồng sử dụng ĐKGDC, các biện pháp kiểm soát của pháp luật đối với các ĐKGDC trong hợp đồng nói chung, hợp đồng bảo hiểm hàng hóa nói riêng, trên cơ sởđ ph n tích đánh giá các quyđịnh pháp luật hiện hành của Việt Nam, tham khảo thêm kinh nghiệm pháp luật của một sốnướctrên thếgiới vềĐKGDC l m b i học cho Việt Nam, từđ kiến nghịhoàn thiện pháp luật điều chỉnh ĐKGDC trong hợpđồngnói chung và hợp đồng bảo hiểm hàng hóa nói riêng là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng được thực tiễn nhu cầu sử dụng ĐKGDC trong hợp đồng hiện nay.

Từ những lý do trên, NCSđã lựa chọn đề tài“Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam ” l m đề tài luận án tiến sĩ của mình.

2

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm rõ, bổ sung vào lý luận pháp luật về ĐKGDC trong hợp đồng BHHH; trên cơ sở phân tích làm rõ thực trạng quy định của pháp luật vềĐKGDC trong hợp đồng BHHH và quá trình thực thi trong thời gian qua ở Việt Nam cũng như so sánh pháp luật hiện hành có liên quan với pháp luật một sốnước trên thếgiới đểphân tích,đềxuất những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về ĐKGDC, tăng cường sử dụng ĐKGDC về hợp đồng n i chung v HĐ H h ng h a n i riêng cho các bên trong hợp đồng.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đểđạt được mục đích nghiên cứu trên, tácgiảsẽthực hiện các nhiệmvụnghiên cứu cơ bản như sau :

– NCS tổng quan tình hình nghiên cứu ởtrong nước v nướcngoài vềĐKGDC v ĐKGDC trong hợp đồng BHHH

– Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về ĐKGDC, cụ thể, NCS làm sáng tỏ các vấn đề sau: khái niệm về ĐKGDC, đặc điểm, những ưu điểm và hạn chế của ĐKGDC; nguồn gốc của ĐKGDC; phân tích mối quan hệ giữa ĐKGDC với nguyên tắc tự do hợp đồng.

– Nghiên cứu khái niệm v đặc điểm của ĐKGDC trong hợp đồng BHHH, ý nghĩa thực tiễn của ĐKGDC trong hợp đồng BHHH và một số hạn chế của ĐKGDC trong hợp đồng BHHH.

– Nghiên cứu các ĐKGDC trong hợp đồng BHHH ở Việt Nam hiện nay nhưcác điều khoản chung, các quy tắc bảo hiểm, phạm vi bảo hiểm, điều khoản loại trừbảo hiểm, thủtục bảo hiểm, thời gian bắt đầu và kết thúc bảo hiểm, nghĩa vụcủa người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất, cách xác định tổn thất, cách xác định bồi

thường, thời hiệu khiếu nại và giải quyết tranh chấp…

– Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về ĐKGDC và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, từ đ gợi mở hướng hoàn thiện cho pháp luật về ĐKGDC của Việt Nam.

3

– Ph n tích, đánh giá một cách toàn diện thực tiễn sửdụng ĐKGDC trong hợp đồng BHHH.

– Trên cơ sở giải quyết những vấn đề trên về mặt lý luận và nghiên cứu, đánh giá, đúc kết từthực tiễn, NCS đềxuất định hướng và khuyến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh ĐKGDC; giải pháp tăng cường sửdụng ĐKGDC trong hợp đồng nói chung và hợp đồng BHHH ở Việt Nam.

3. ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề t i l điều kiện giao dịch chung, điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, pháp luật vềđiều kiện giao dịch chung của Việt Nam và một số nước trên thế giới, thực tiễn thực hiện pháp luật vềđiều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về nội dung, để đạt được mục đích v nhiệm vụ nghiên cứu, NCS tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về ĐKGDC tronghợp đồngnói chung vàhợp đồng BHHH nói riêng; các ĐKGDC trong hợp đồng BHHH, các quy định của pháp luật Việt Nam về ĐKGDC; thực tiễn thực thi pháp luật về ĐKGDC trong hợp đồng BHHH; nghiên cứu pháp luật về ĐKGDC của một số nước trên thế giới nhằm gợi mởhướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh ĐKGDC v những giải pháp tăng cường sửdụng ĐKGDC ởViệt Nam trong hợp đồng nói chung và hợp đồng BHHH nói riêng. Trong khuôn khổ của luận án, NCS không thể đi s u ph n tích tất cả thực tiễn thực hiện pháp luật về ĐKGDC trong các hợp đồng BHHH mà chủyếu tậptrung phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật ĐKGDC trong các hợp đồng vận chuyển hàng hóa.

– Về không gian: Luận án giới hạn ở việc tìm hiểu pháp luật về ĐKGDC của Việt Nam, Úc và một số nước trong Hội đồng Liên minh Ch u Âu như Đức, Anh… là những nước cónềnkinh tếphát triển mạnh gắn liền với sựxuất hiện ĐKGDC sớm nhất v cũng l những nước có kinh nghiệm về xây dựng, ban hành sớm Luật vềĐKGDC, quyđịnhvềĐKGDC trong LDS hoặc Luật bảo vệquyền lợi của NTD để rút ra bài học kinh nghiệm và gợi mở hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam.

4

– Về thời gian: Luận án nghiên cứu từ thời điểm Luật Kinh doanh bảo hiểm được ban h nh năm 2000 cho đến nay bởi đ y l văn bản quy phạm pháp luật tạo môi trường pháp lý thuận lợi của Nh nướccho hoạt động kinh doanh bảo hiểm phát triển, bao gồm cả bảo hiểm hàng hóa.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Ngo i việc sửdụng các phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học nhưduy vật biện chứng, duy vật lịch sử, NCSsửdụng các phương pháp nghiên cứu đan xen như phương pháp ph n tích, tổng hợp, hệ thống, luật học so sánh v dự báo qua các t i liệu thứ cấp để l m sáng tỏ các vấn đề được nghiên cứu trong luận án.

Để đạt được kết quả nghiên cứu, làmrõ những vấn đề nghiên cứu đặt ra, luận án chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

+ Phương pháp kế thừa, thu thập tài liệu: Trên cơ sở thu thập tài liệu sơ cấp và thứ cấp, NCS kế thừa một số kết quả nghiên cứu khoa học của các tác giả trong v ngo i nước đã công bố c liên quan đến nội dung của luận án được NCS sử dụng trong chương 2 của Luận án.

+ Phương pháp phân tíchđược NCS sửdụng khi đánh giá, bình luận các quyđịnh của pháp luật cũng như thực tiễn sửdụng các ĐKGDC, xem xét vềtính thống nhất, phát hiện mâu thuẫn của pháp luật có liên quan về ĐKGDC trong hợp đồng l m cơ sở cho những kết luận khoa học.

+ Phương pháp tổng hợp được sử dụng khi NCS tổng hợp các công trình đãđược công bố trong v ngo i nước, có sự kế thừa, chọn lọc và sáng tạo,làm nền tảng đểNCS tổng quan các vấn đềnghiên cứu, giải quyết những vấn đềlý luận của ĐKGDC.

Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các vấn đề, từ đ đánh giá nhằm rút ra những kết luận tổng quan, những quan điểm, các đềxuất, kiến nghị. Phương pháp n yđược sử dụng trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.

+ Phương pháp so sánh luật họcđược sửdụng khi ph n tích, đánh giá các quy định của pháp luật c liên quan đến ĐKGDC của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một sốnước trên thếgiới nhằm làm sáng tỏnhững điểmchung, sựkhác

5

biệt trong các quyđịnh hiện hành củapháp luật Việt Nam với pháp luật củacác nước trên thế giới về ĐKGDC.

+ Phương pháp l ch s được sử dụngkhi nghiêncứuvềnguồngốcv sự phát triển của ĐKGDC, khái quát quá trình điều chỉnh pháp luật về ĐKGDC trong hợp đồng.

Trong quá trình viết luận án, các phương pháp n y c thể sửdụng đan xen v tiếp cậncảtheo hướng đa ng nh v liên ng nh đểthuận tiện cho việc ph n tích, đánh giá to n bộ các vấn đề được đặt ra trong phạm vi nghiên cứu của đề t i.

5. óng góp mới về khoa học của Luận án

– Luận ánđã xây dựngđược luận cứkhoa học về ĐKGDC trong hợp đồng

BHHH – nền tảng quan trọng của các giao dịch hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tếthịtrường hiện đại; bổsung vào kiến thức vềgiao kết hợp đồng, vềĐKGDC sửdụng trong giao kết hợp đồng nói chung v trong lĩnh vực giao kết hợp đồng bảo hiểm hàng hóa nói riêng.

– Luận án đã ph n tích, đánh giá được thực trạng pháp luật về ĐKGDC trong hợp đồng BHHH, chỉra được những bấtcậpcủa pháp luật vềĐKGDC trong quá trình áp dụng vào hợp đồng BHHH.

– Luận án đã đềxuấtđược các giải pháp pháp ho n thiện pháp luật vềĐKGDC trong hợp đồng nói chung và hợp đồng BHHH nói riêng, đồng thời, luận án đãđề xuất được cácgiải pháp tăngcườngsử dụngĐKGDC một cách hợp lý trên cơ sở hiệu quả, cân bằng quyền lợi giữa các bên trong hợp đồng BHHH.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Trên cơsởnghiên cứuĐKGDC trong hợp đồng BHHH, có thểkhẳng định rằng đề t i được nghiên cứu góp phần vào việc làm phong phú thêm về lý luận vàthực tiễn vềĐKGDC trong hợp đồng và trong hợp đồng BHHH, đồng thời góp phần hoàn thiện pháp luật điềuchỉnhvềĐKGDC trong hợp đồng nói chung vàHĐ H h ng h a n i riêng.

Những đề xuất, kiến nghị được đúc kết sau quá trình nghiên cứu Luận án không chỉ góp phần hoàn thiện pháp luật về ĐKGDC trong hợp đồng BHHH mà còn góp phần tăng cường sử dụng ĐKGDC cho việc giao kết hợp đồng ở Việt Nam. Những đề xuất,

6

kiến nghị m luận án nêu ra đều c cơ sở khoa học v thực tiễn, c ý nghĩa đối với việc x y dựng v ho n thiện pháp luật về ĐKGDC trong hợp đồng tại Việt Nam.

Luận án cũng được kỳvọng l t i liệu tham khảo hữu ích phụcvụ việc nghiên cứu lý luận v thực tiễn sử dụng ĐKGDC l m t i liệu giảng dạy v học tập đối với chuyên ng nh Luật Kinh tế v chuyên ng nh kinh doanh.

LDS năm 2015 c hiệu lực từ ng y 01/01/2017, quy định về ĐKGDC sẽ l cơsở pháp lý điều chỉnh cáchợpđồng,dịchvụ sử dụngcác ĐKGDC trong các lĩnh vực kinh doanh, thương mại, dịch vụ. Về lâu dài, NCS mong muốn Nh nước hoàn thiện chếđịnh hợp đồng sử dụng ĐKGDC nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn nữa các doanh nghiệp sửdụng ĐKGDC nhằm đảm bảo công bằng về quyền v nghĩa vụ của các bên.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,Luận án bao gồm 4 chương:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan chủ đề Luận án

Chương 2.Một số vấn đề lýluận chung về điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa

Chương 3. Thực trạng pháp luật về điều kiện giao dịch chung và thực tiễn sửdụng điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa

Chương 4. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa

7

hƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU V Ơ SỞ LÝ THUYẾT

NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

ĐKGDC có nguồn gốc hình thành từ khoảng thế kỷ XIX [55] cùng với quá trình sản xuất và phân phối hàng loạt ở các nước phương T y dẫn tới việc các nhàsản xuất, cung ứng dịch vụ mang tính hàng loạt sử dụng các form, mẫu trong giao dịch với khách hàng. Các form mẫun yđược các học giảgọi bằng nhiều cái tên khác nhau như điều kiện giao dịch chung (general terms and conditions), hợp đồng mẫu1 (standard form contracts, standard terms of contracts),hợpđồng gia nhập (contracts of adhesion, boilerplate contract)… tuỳ thuộc v o quanđiểm của mỗi học giả hay điều kiện lịch sử – xã hội v cách tiếp cận khác nhau của hệ thống pháp luật các nước. Tất cả những thuật ngữn yđều được mô tả để chỉ những điều khoản,điều kiện được một bên soạn sẵn, áp dụng cho nhiều đối tượng khách hàng giao dịch cùng loại, phía bên không soạn thảo ĐKGDC nếu chấp nhận giao kết hợp đồng đồng nghĩa với việc chấp nhận các ĐKGDC đ . NCS sơ lược các công trình nghiên cứu sau đ y minh chứng cho những quan niệm đó.

1.1.1. Nhóm các nghiên cứu những vấn đề lý luận của điều kiện giao dịch chung

1.1.2. Nhóm các nghiên cứu pháp luật nước ngoài về điều kiện giao dịch chung

15

1.1.3. Nhóm nghiên cứu điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa

1.1.4. Nhóm nghiên cứu về thực tiễn áp dụng ĐKGDC trong các hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hóa

1.1.5. Nhóm nghiên cứu về cơ chế kiểm soát điều kiện giao dịch chung

Để bảo vệ người tiêudùng n i chung v người tham gia bảo hiểm nói riêng trước những ĐKGDC không phù hợp, trái pháp luật trong khi những quy định của pháp luật hiện h nh chưa đủkhảnăng bảovệquyềnlợingườitiêu dùng,bảovệquyền lợicho người tham gia bảo hiểm, đồng thời khắc phục vịthếbất cân xứng của họtrước các ĐKGDC thì rất cần phải có một cơ chếkiểm soát chặt chẽĐKGDC nhằm ngăn chặn, hạnchếtình trạng lạm dụng ĐKGDC đểtrụclợihoặc lạmdụng vịthếđộc quyền, thống lĩnh thịtrường. Đ y chính l đềxuất và chia sẻkinh nghiệm của nhiều tác giả các công trình nghiên cứu, bài viết về hợp đồng mẫu v ĐKGDC, bao gồm: [8], [9], [14], [20], [22], [24], [27], [29]. Các tài liệu nghiên cứu mà NCS tổng hợp được đã giải thích lý do phải kiểm soát các ĐKGDC nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa các bên, đ là cần phải có pháp luật điều chỉnh các ĐKGDC. NCS cho rằng các biện pháp được đềcập trong các nghiên cứu này rất hữu ích, thiết thực để kiểm soát các ĐKGDC trong cáchợp đồngnói chung và hợp đồng BHHH nói riêng ở Việt Nam hiện nay. Đ sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cógiá trịđểNCS phân tích, đánh giásựphù hợp với việc kiểm soát ĐKGDC trong hợp đồng BHHH.

Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam
Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam

1.2. ánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài luận án trong thời gian qua

Thông qua việc tổng quan các t i liệu nghiên cứu liên quan đến ĐKGDC v ĐKGDC trong hợpđồng BHHH nhưđã đề cập ở trên, NCS c một số nhận xét, đánh giá về các kết quả nghiên cứu như sau:

1.2.1. Những kết quả trong nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển

Mặc dù các tài liệu nghiên cứu vềĐKGDC trong hợp đồng BHHH mà tác giả thu thập còn khiêm tốn về mặt số lượng nhưng tổng quan tình hình nghiên cứu về ĐKGDC cho phép đi đến những kết luận mang tính khái quát trạng thái nghiên cứu vềĐKGDC trong hợp đồng HHH n i riêng v xu hướngnghiên cứu vềĐKGDC n i chung hiện nay. Các công trình nghiên cứu trong v ngo i nước mà NCS đã thu thập đã ph n tích những lý luận và thực tiễn sử dụng ĐKGDC như khái niệm, đặc điểm, ưu nhược điểmcủa ĐKGDC, giá trịpháp lý của ĐKGDC, nguồn gốc hình thành và phát triển của ĐKGDC, xu hướng sử dụng ĐKGDC… Đ y cũng chính l nền tảng xuất phát điểm để NCS tiếp tục đi s u ph n tích cơ sở lý luận của ĐKGDC sử dụng tronghợp đồngBHHH, phân tíchnhững đặc điểm v đặcthù của ĐKGDC trong hợp đồng BHHH, từ đ đề xuất các giải pháp ho n thiện pháp luật điều chỉnh ĐKGDC trong hợp đồng nói chung và hợp đồng BHHH nói riêng. NCS

t m lược theo các nhóm vấn đề như sau:

– Về nhóm các công trình nghiên cứu khái niệm ĐKGDC, mặc dùđược tiếp cận ở những g c độ khác nhau, với nhiều quan điểm khác nhau về tên gọi nhưng dù l điều kiện chung hay điều kiện thương mại chung, điều khoản mẫu hay hợp đồng

mẫu, hợp đồng gia nhập,… đều có bản chất chung l các điều kiện, điều khoản, các quy tắc do một bên soạn sẵn áp dụng chung cho các khách hàng khác nhau cùng tham gia vào một loại giao dịch m không được thương lượng nếu như muốn giao kết hợp đồng. Ở Việt Nam hiện nay cùng tồn tại hai khái niệm hợp đồng theo mẫu v điều kiện giao dịch chung, điều này có phù hợp với thông lệ quốc tế hay không, giữa chúng có gì khác biệt, vấn đề này sẽ được NCS l m rõ hơn trong luận án. Các tài liệu nghiêncứulà nguồn tài liệu tham khảo có giá trị, NCS kếthừa kếtquả

19

nghiên cứu này vận dụng liên hệlàm sáng tỏnhững vấn đềlý luận vềĐKGDC trong HĐ H h ng h a được phân tích ở chương 2 luận án

-Vềưu điểm, hạn chếvà giá trịpháp lý của ĐKGDC, nh m các b i viết, công trình nghiên cứuđã nhận diện được những ưu điểm, những hạn chếcủa ĐKGDC v giá trị pháp lý của ĐKGDC. Hầu hết các tài liệu nghiên cứu chỉ ra rằngĐKGDC c ưu điểm là giúp doanh nghiệp đáp ứng được số lượng khách hàng lớn, tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại, hạn chếđược những rủi ro pháp lý từhợpđồng gây ra cho doanh nghiệp. Việc thiết lập các ĐKGDCđược áp dụng đồng đều cho mọi khách hàng khôngchỉnhằm mụctiêu hợp lý hóa bán hàng, còn giúp cho các bên có thểtiết kiệmđược thời gian, sức lựctrong đ m phán v thỏa thuận. Tuy nhiên, việc áp dụng ĐKGDC cũng c nhữnghạn chế nhất địnhđ l ĐKGDC l m hạn chế quyền tự do hợp đồng, đặt bên xác lập giao dịch với bên ban h nh ĐKGDC vào tình thế ít có khả năng lựa chọn hoặc không còn phương án lựa chọn nào khác là phải ký kết hợp đồng với bên ban h nh ĐKGDC. Về mặt hình thức, các ĐKGDC thường chữnhỏ, dài, ngôn ngữmang tính chuyên ngành, khó hiểu, có thểkhông trực tiếp thể hiện ở trong hợp đồng m được quy định ở phần phụ lục của hợp đồng hayởmặtsaucủachứngtừ,vậnđơn;ởcácbảnquy tắc,điềulệđượccôngbốtrên website của doanh nghiệp khiến khách hàng không biết hoặc có biết nhưng không thểđọchếthoặc c đọcnhưng cũng không hiểu… ĐKGDC c giátrịràng buộcvớibênđược đề nghị giao kết, không phụ thuộc vào việc họ đã đọc kỹ n hay chưa. Những tài liệu nghiên cứu này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo để NCS tìm hiểu những ưu điểm vàhạn chế của ĐKGDC trong hợp đồng HHH v đặc thù của loại hợp đồng này.

– Về nguồn gốc của ĐKGDC v xu hướng sử dụng ĐKGDC, tổng quan các tài liệu tiếp cận dưới g c độ lịch sử đều c chung quan điểm l ĐKGDC xuất hiện từkhoảng giữa thếkỷ19 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng và hiện nay, xu hướng tự do h a thương mại toàn cầu thúc đẩy các hoạt độngkinh doanh diễn ra sôi nổi buộc các doanh nghiệp phải có những cách thức giao dịch được tiêu chuẩn hóa, chính xác và ổn định. Bởivậy, sửdụng ĐKGDC l xu hướng tất yếutrong giaiđoạnhiện nay vàphổbiến ởcác các lĩnh vực kinh doanh đặc thù như bảo hiểm, xây dựng, tài chính, ngân hàng, vận tải, viễn

20

thông … Kết quả nghiên cứu n y được NCS kế thừa và tiếp tục nghiên cứu s u hơn về sự hình thành và phát triển của ĐKGDC.

– Về vấn đề quyền tự do hợp đồng, nhóm các bài viết, công trình nghiên cứu đã chỉra được sựhạn chếquyền tựdo hợp đồng trong giao kết và thực hiện hợp đồng chứa đựng các ĐKGDC, trong đ c hợp đồng bảo hiểm. Dựa trên các học thuyết về hợp đồng, một số công trình nghiên cứu đã ph n tích chuyên sâu về quyền tự do hợp đồng và hạn chế quyền tự do hợp đồng vànhận địnhviệc một bên soạn thảo các ĐKGDC trởthành một phần nội dung của hợp đồng đã m u thuẫn với nguyên tắc tự do ý chí của trong các giao kết hợp đồng, có thể sẽ gây ra những bất lợi cho bên xác lập với bên ban h nh ĐKGDC thường là bên yếuthế, chủyếulà NTD, tuy nhiên, về giá trị pháp lý, ĐKGDC vẫn có giá trị pháp lý ràng buộc khách hàng, không phụthuộc vào việc khách h ngđã đọcn hay chưa, c đọc kỹhay không. Những kết quả nghiên cứu này sẽ được NCS kế thừa và tiếp tục nghiên cứu s u hơn trong hợp đồng BHHH.

-Vềsựbất cân xứng thông tin giữa các bên trong hợp đồng, các bài viết, công trình nghiên cứu đã chỉ ra được sự bất cân xứng về vị thế giữa các bên trong hợp đồng, sự yếu thế của bên xác lập giao dịch và thế mạnh thuộc về bên ban hànhĐKGDC, sựcần thiết phải c cơ chếkiểm soát các ĐKGDC v đặt ra những yêu cầu hoàn thiện pháp luật điều chỉnh ĐKGDC, bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế nhất là bảo vệ quyền lợi của NTD.

-Vềnhững vấnđềlý luận pháp luật ĐKGDC tronghợpđồng HHH nhưkhái niệm ĐKGDC trong hợp đồng HHH, các ĐKGDC trong hợp đồng BHHH, điều kiện có hiệu lực của ĐKGDC trong hợp đồng BHHH, giải thích ĐKGDC trong hợp đồng HHH, các điều khoản miễn trách trong hợp đồng HHH… chưa c nhiều nghiên cứuđềcập tới. Dựa vào những nghiên cứu vấn đềlý luận chung vềĐKGDC n i chung m NCS thu thập được, NCS sẽ áp dụng vào hợp đồng BHHH, tiếp tục làm rõ các vấn đềlý luận chung vềĐKGDC trong hợp đồng BHHH, giải thích vì sao việc sử dụng ĐKGDC trong hợp đồng BHHH là phù hợp.

-Vềthực trạng áp dụng ĐKGDC trong hợpđồng BHHH, các tài liệu thu thập được bao gồm các bản Quy tắc BHHH của một số DNBH, một số bản án giải

21

quyết các tranh chấp hợp đồng HHH nhưng các nghiên cứu chưa ph n tích được thực trạng áp dụng ĐKGDC trong hợp đồng BHHH thể hiện như thế nào. Trên cơsở các kết quả nghiên cứu thu thập được, NCS sẽ tập trung phân tích thực trạng áp dụng ĐKGDC trong hợp đồng BHHH nhằm đánh giá được thực trạng pháp luật vềĐKGDC có đáp ứng nhu cầu sửdụng ĐKGDC trong các hợp đồng BHHH hay không, có bảo vệ quyền và lợi ích cho bên trong hợp đồng BHHH hay không, từ đ , NCS chỉ ra những hạn chế của pháp luật về ĐKGDC cần phải hoàn thiện.

-Vềcơ chếkiểm soát ĐKGDC trong hợp đồng BHHH, các nghiên cứu đã chỉra được các biện pháp kiểm soát tiền kiểm, hậu kiểm các ĐKGDC trong các giao dịch với NTD và đưa ra các giải pháp nhằm bảo vệ NTD như ho n thiện pháp luật, vai trò của các cơ quan nh nước, xã hội và NTD trong các giao dịch sử dụngĐKGDC. Tuy nhiên, các biện pháp đ c kiểm soát được các ĐKGDC trong hợp đồng BHHH do DNBH soạn thảo sẵn hay không? Trên cơ sởkếthừa kếtquảnghiên cứu đ , NCSkếthừa, tiếp tụcphân tích và vận dụng các cơ chếkiểm soátĐKGDC đ trong hợp đồng HHH để đánh giá được cơ chế kiểm soát các ĐKGDC của pháp luật hiện h nh c đảmbảo lợi ích cho người được bảo hiểm trong hợp đồng BHHH hay không.

-Vềvấn đềtham khảo kinh nghiệm pháp xây dựng và thực hiện pháp luật ĐKGDC của một số nước trên thế giới, tổng quan các bài viết, công trình nghiên cứu đã nghiên cứu pháp luật về hợp đồng mẫu v ĐKGDC ở một số quốc gia trên thế giới v đưa ra nhiều gợi mở để Việt Nam tham khảo hoàn thiện pháp luật về ĐKGDC. Đ y là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị để NCS nghiên cứu so sánh một cách toàn diện với pháp luật Việt Nam về ĐKGDC v áp dụng trong HĐ H h ng h a.

– Về giải pháp hoàn thiện pháp luật ĐKGDC trong hợp đồng BHHH,một sốcông trình nghiên cứu, bài viết cũng đã đề xuất giải pháp cần phải c cơ sở pháp lýđiều chỉnh ĐKGDC như pháp luật cần quyđịnh trách nhiệmcủabên ban hànhĐKGDC phải đảm bảo quyền tự do hợp đồng được xác định trong LDS; ĐKGDC phải được công bố công khai cho bên khách hàng biết; ĐKGDC phải được ban hành

theo trình tự, thủtục, có sựkiểm soát của cơ quan nh nước có thẩm quyền … Những giải pháp đ được tác giảkếthừa và áp dụng có chọn lọc khi đềxuất các

22

giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về ĐKGDC v tăng cường khảnăng áp dụng trong hợp đồng BHHH ở nước ta.

Như vậy, hiện chưa c công trình khoa học nào ở cấp độ luận án tiến sĩ đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận về ĐKGDC trong các hợp đồng BHHH, thực trạng áp dụng ĐKGDC trong hợp đồng BHHH, chỉ ra những hạn chế, bất cập trong việc kiểm soát ĐKGDC, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật ĐKGDC trong hợp đồng BHHH.

Những thành tựu nghiên cứu kể trên l cơ sở lý luận cơ bản làm nền tảng, là nguồn tri thức lý luận dồi d o đápứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu vềĐKGDC.Đ cũng l nguồn tài liệu quý báu để NCS dựa v o đ xây dựng luận cứ khoa học những vấn đề lý luận cơ bản về ĐKGDC n i chung v áp dụng ĐKGDC trong hợp đồng BHHH ở Việt Nam. Vì vậy, NCS sẽ tiếp tục phát triển các kết quả nghiên cứu về thực tiễn áp dụng ĐKGDC trong các hợp đồng BHHH ở g c độ lý luận và thực tiễn áp dụng ĐKGDC trong hợp đồng BHHH là rất cần thiết.

1.2.2. Những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau

Tổng quan các bài viết, công trình nghiên cứu, NCS nhận thấyvẫncòn tồn tại một số vấn đề có ý kiến khác nhau:

Cùng nội hàm là những điều khoản, điều kiện, quy tắc do một bên trong quan hệhợp đồng soạn thảo, được áp dụng hàng loạt cho một nhóm khách hàng cùng loại, áp dụng chung cho các khách hàng khác nhau cùng tham gia vào một loại giao dịch nhưng c tác giảquan niệm đ l điều kiện giao dịch chung, có tác giảquan niệm đ l hợp đồng mẫu hayhợpđồnggia nhập hayđiều khoản mẫu, điềukiện

thương mại chung… chính vì vậy,một sốbài viết cho rằng hợp đồng bảo hiểm làhợp đồng gia nhập. Thuật ngữ nào là chính xác, phù hợp với pháp luật Việt Nam vàxu thế chung pháp luật thế giới.

1.2.3. Những vấn đềcòn bỏngỏ, chưa được giải quyết thấu đáo cần tiếp tục nghiên cứu

Tổng quan các tài liệu đã được công bố cho thấy, về cơ bản các bài viết và công trình nghiên cứu đã phát hiện và giải quyết được những vấn đề lý luận cơ bản về ĐKGDC, đ l những nghiên cứu có giá trị làm tài liệu tham khảo chủ yếu của

23

luận án. Tuy nhiên, do mục đích v phạm vi nghiên cứu của mỗi tài liệu khác nhau, do thời gian hạn chế nên các tài liệu nghiên cứu trên vẫn chưa giải quyết được tất cảcác vấn đềmang tính lý luận, thực trạng và giải pháp đểhoàn thiện pháp luật vềĐKGDC trong hợp đồng BHHH; vẫn còn nhiều vấn đề đã được các tác giả bài viết đặt ra nhưng còn bỏ ngỏ, chưa ph n tích, luận giải chuyên sâu nên các bài viết, công trình nghiên cứu nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt để, cần phải được tiếp tục nghiên cứu, l m rõ hơn nữa.

– Các bài viết, công trình nghiên cứu đề cập nhiều thuật ngữ: hợp đồng theo mẫu, điều kiện thương mại chung, hợp đồnggia nhập, điều khoản mẫu… có bản chất nhưđiều kiện giao dịch chung. Luật bảo vệquyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và BLDS năm 2015đã tách biệt HĐTM v ĐKGDC th nh hai điều khoản khác nhau nhưng cũng chưa c thể hiện rõ sự khác biệt giữa HĐTM v ĐKGDC. Vì vậy, luận án sẽ nghiên cứu v l m rõ hơn vấn đề này.

– Hầu hết các bài viết, công trình nghiên cứu đều c quan điểm ĐKGDC do một bên trong quan hệ hợp đồng soạn thảo trước áp dụng cho các khách hàng cùng loại. Vậytrong trườnghợpcảhai bên hợp đồng đềuđặtra ĐKGDC thì áp dụngĐKGDC của bên nào? Vấn đề n y cũng sẽ được tác giả l m rõ hơn trong luận án.

-Đểngăn ngừa những ĐKGDC trái pháp luật, bảo vệquyền lợi cho phía khách hàng là bên yếu thế nói chung cần phải c cơ chế kiểm soát các ĐKGDC một cách chặt chẽ. Nhiều công trình nghiên cứu, bài viết cũng đã đề xuất giải pháp cần phải cơ sở pháp lý quy định rõ ràng hay nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, của

khách h ng … Tuy nhiên, để đảm bảo các giải pháp được đề xuất có khả năng thực thi cao, NCS sẽphải nghiên cứu, đánh giá thực trạng, tình hình giải quyết tranh chấp c liên quan đến ĐKGDC trong các hợp đồng BHHH hiện nay. Vì vậy, ngoài những giải pháp chung chung đ , luận án còn đềxuất những giải pháp cụthể, tập trung phù hợp với các ĐKGDC trong hợp đồng BHHH nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý nh nước, các hiệp hội, trách nhiệm của chính doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm ban h nh ĐKGDC v trách nhiệm của chính khách hàng mua bảo hiểm. Chẳng hạn như:

– Luận án đề xuất những biện pháp hạn chế việc lạm dụng vị thế của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm khi sử dụng ĐKGDC; quy định điều kiện có hiệu lực của ĐKGDC; quy định các trường hợp ĐKGDC sẽ bị vô hiệu trong những trường

24

hợp nhất định; quyđịnh chặt chẽnội dung được đưa v o ĐKGDC nhằmđảmbảo cân bằng lợi ích giữa DN H v khách h ng; ưu tiên giải thích điều khoản theo

hướng có lợi cho phía khách h ng…

Liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, đã c nhiều công trình nghiên cứu về loại hợp đồngn y nhưng chưa c công trình nghiên cứu chuyên sâu đề cập tới ĐKGDC trong hợp đồng BHHH là gì; đặc điểmcủaĐKGDC trong hợp đồng BHHH; các điều khoản ĐKGDC trong hợp đồng BHHH là những điều khoản nào; trong trường hợp giữa ĐKGDC v điều khoản hợp đồng BHHH mâu thuẫnvớinhau thì giải quyết như thế nào; giá trị pháp lý của ĐKGDC? Trường hợp ĐKGDC trái với điều khoản hợp đồng thì có vô hiệu không? Chưa c công trình nghiên cứu những vấn đề

lý luận pháp luật vềĐKGDC trong hợp đồng BHHH… Đ y l những vấn đềcòn mới, chưa được các tác giả đề cập hoặc làm rõ trong các bài viết, những vấn đề này sẽ được NCS làm sáng tỏ trong luận án.

Tổng quan các vấn đềtrên cho thấy các bài viết, công trình nghiên cứu mà tác giả thu thập được còn nhiều vấn đề đang bỏ ngỏ, vẫn còn chung chung, chủ yếu nghiên cứu những nội dung cơ bản của ĐKGDC, chưa gắn trực tiếp với hợp đồng BHHH. Những vấn đề đ sẽ được NCS tiếp tục nghiên cứu v đềxuất những giải pháp có khả năng thực thi.

1.3. ơ sở lý thuyết và hƣớng tiếp cận 1.3.1. Cơ sở lý thuyết

1.3.1.1. Lý thuyết nghiên cứu

Theo lý thuyết truyền thống thì hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chígiữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền v nghĩa vụ trên cơsởtựdo,tựnguyện, bình đẳng. Hợpđồngchỉ được xác lậpkhi c sựtựdo thỏa thuận, tựdo ý chí củacác bên. Do đ , tựdo ý chí l nguyên tắc cơ bản của hợp đồng dù ở bất cứ hệ thống pháp luật nào [23].

– Thuyết tự do ý chí phát triển mạnh mẽ ở Pháp vào thế kỷ XVIII, nội dung của thuyết này xuất phát từ quan điểm cho rằng ý chí của con người là tối thượng và

tự chủ, chỉ các hành vi xuất phát từ ý chí tự chủ của một người mới có hiệu lực ràng buộc đối với người đ . Một hợp đồng sẽ công bằng khi các bên cho n l công bằng, không ai c thể bị ép buộc làm hay không làm một việc gì đ ngo i ý muốn của người đ . Một hợp đồng sẽ công bằng khi các bên cho n l công bằng: Công lý

25

hay công bằng chỉ l quy ước. Khi ta quy ước đ l công bằng thì đ l công bằng (Fouille ),điềun y c nghĩa l không ai c thể bị ép buộc làm hay không làm một việc gì đ ngo iýmuốn của người đ . Hợp đồng n phải l kếtquả củasựthống nhất ý chí, tự do, tự nguyện giữa các bên l m phát sinh nghĩa vụ.Sựtựdo ý chí ấy dẫn đến kết quả l hợpđồng được ký kết, đảm bảo sựtựdo v thống nhất ý chí của các bên trong hợp đồng.

– Lý thuyết về chi phí giao dịch: Thuyết này nhấn mạnhđến bản chất của hợp đồng mẫu khi có sự bất cân xứng về chi phí giao dịch (transaction costs) giữa bên ban h nh ĐKGDC và bên giao kết hợp đồng, trong đ , một bên đơn phương ban hành ĐKGDC,sửdụng các điều khoản này áp dụng cho nhiều khách hàng với nhiều lần giao dịch khác nhau giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí đầu tư cho việc soạn thảo hợp đồng.

– Lý thuyếtvềlạmdụng vịthế: thuyết này nhấn mạnh đến nhu cầu bảovệmột nh m người cụthể-ngườitiêu dùng l bên thường được coi là bên yếu thếtrong quan hệhợp đồng vớidoanh nghiệp. Theo đ , doanh nghiệp thường cókhảnăng đơn phương áp đặt các điều khoản do mình soạn thảo gây bất lợi cho người tiêu dùng. Các đạo luật về kiểm soát tính côngbằng của hợp đồng được thiết kế dựa trên một nguyên tắc mới của luật hợp đồng hiện đại – nguyên tắc bảo vệ bên yếu thếtrong quan hệ hợp đồng. Những đối tượng được coi l người yếu thế là những đối tượng mà trong những hoàn cảnh giống nhau khi tham gia vào một quan hệ xã hội luôn gặpnhững bất lợi hơn so vớinhững đối tượng khác trong cùng một hoàn cảnh. Trong hợp đồng bảo hiểm, dohạnchếvềtrìnhđộchuyên môn vàkhảnăngđ m phán trực tiếpvớidoanh nghiệpbảohiểm,ngườimuabảohiểm thườngởvịthế bất lợi hơn trong việc thỏa thuận dẫn đến nguy cơ phải chịu những rủi ro về phía mình, nhucầupháp luậttrởthànhyếutốquan trọng chi phốiđếnhợpđồngbảo hiểm nhằm bảo vệ bên yếu thế.

– Lý thuyết về thông tin bất cân xứng để đánh giá khả năng cung cấp thông tin giữa các chủ thể giao dịch nhằm góp phần giảm thiểu rủi ro cho các bên giao dịch. Bên bảo hiểm cố tình che giấu các điều khoản bất lợi cho người mua bảo hiểm để mong bánđược bảo hiểm; người mua bảo hiểm không biết đến sự tồn tại của các điều khoản đnên khi sự kiện bảo hiểm xảy ra mới vỡ lẽ ra l không được bồi thường.

26

– Lý thuyết trung thực tuyệt đối để đánh giá khả năng thích ứng của các bên trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm bởi từ chính sách kinh tế vĩ mô cho tới giao dịch hàng ngày của doanh nh n, điều phối thông tin quan trọng không kém huy động vốn hoặc tổ chức sản xuất, kinh doanh. Nếu doanh nghiệp lạm dụng sự không hiểu biết của bạn h ng đểgiành lợi ích kinh tế, xuất hiện tình trạng lạmdụng thông tin bất cân xứng mà pháp luật cần can thiệp để bảo vệ lẽ công bằng.

– Lý thuyết kinh tếcho nghiên cứu của đềt i l Định lý Coase (Coase Theorem). Hợp đồng nảy sinh trong điều kiện thị trường mà không phát sinh chi phígiao dịch có khảnăng giảm thiểu tối đa chi phí nguồn lực, bất chấp nội dung của các quy tắc luật định. Bản thân các bên trong quan hệ hợp đồng chính là bên luôn tìm thấy các điều khoản hợp đồng m gia tăng nhất lợi nhuận của họ. Nếu trong một môi trường kinh doanh mà thông tin là hoàn hảo thì tựthịtrườngsẽđiềutiết mà không cần pháp luật phải can thiệp.Từhọcthuyết này cho thấysựbất cân xứng thông tin trên thị trường là lý do quan trọng của việc can thiệp của luật pháp. Từ lý thuyết kinh tếcó thểlý giải thích được lý do điều chỉnh pháp luật ĐKGDC đ l vấn đềkiểm soát tình trạng bất cân xứng thông tin nhằm cân bằng lại giá trịđích thực của giao dịch- mục tiêu hướng đến bảo vệ lẽ công bằng.

– Lý thuyết pháp lý, dựa trên học thuyết về“công bằng vềthủtục” nhấn mạnh sựbất cân xứng vềchi phí giao dịch giữa bên sửdụng ĐKGDC v bên đối tác. Bởivì bênsửdụng ĐKGDC chỉphải trảchi phí một lần cho hàng loạt giao dịch, họ luôn có thông tin tốt hơn v những thông tin này cho phéphọ đơnphương quyết định nội dung của hợp đồng. Trong khi đ , đối với bên đối tác, đểc được các thông tin cần thiết trong quá trình đ m phán đòi hỏi rất tốn kém về chi phí. Hậu quả là, việc sử dụng các ĐKGDC cho thấy đ l sự tước đi cơ hội xem xét lại cácđiều khoản hợp đồng một cách chi tiết [22].

Từnhững ph n tích trên c thểkết luận hợp đồng bao gồm các ĐKGDCđược hình th nh dựa trên lý thuyết về tự do ý chí, kinh tế, pháp lý, trung thực tuyệt đối… ên mạnh hơn về kinh tế buộc bên kia xác lập giao dịch với mình phải theo những điều kiện m họ không c lợi, họ bịr ng buộcbởicác điều khoản đãđược soạn thảo trước, không c cơ hội được đ m phán các ĐKGDC, thậm chí không thể

từchối giao kết hợp đồng nếu như muốnđượcbên soạn thảo ĐKGDC cung cấp cho h ng h a, dịch vụ sử dụng.

27

1.3.1.2. Giả thuyết nghiên cứu

– ĐKGDC trong hợp đồng BHHH là những điều khoản bất công bằng giữa các bên giao kết hợp đồng

– Cơ chế kiểm soát các ĐKGDC trong hợp đồng BHHH chưa hiệu quả.

– Pháp luậtvềĐKGDC trong hợp đồng BHHH loạibỏnhững ĐKGDC do tổchức, cá nhân soạn thảo không phù hợp với quy định và nguyên tắc của pháp luật.

1.3.1.3. Câu hỏi nghiên cứu

– ĐKGDC trong hợp đồng BHHH là gì, bao gồm những điều kiện nào?

– Những vấn đềpháp lý củaĐKGDC trong hợp đồng BHHH? Việc kiểm soát ĐKGDC trong hợp đồng HHH được thể hiện như thế nào?

– Các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh ĐKGDC trong hợp đồng BHHH? 1.3. . ề hướng tiếp cận của đề t i nghiên cứu

– Trên cơ sở hệ thống các tài liệu nghiên cứu đã thu thập được, luận án sẽ kếthừa c chọn lọc, ph n tích v đánh giá các kết quả nghiên cứu đ , từđ đưa ra quan điểm của NCS về vấn đề nghiên cứu.

– Luận án tiếp cận theo chiềuhướnglịchsửđược sửdụng trong suốt quátrình nghiên cứu, vừa kế thừa vừa l cơ sở nền tảng để nghiên cứu các hướng mới về ĐKGDC v ĐKGDC trong hợp đồng BHHH.

– Cùng với việc nghiên cứu các quy định pháp luật về ĐKGDC v quá trình áp dụng những quy định pháp luật này trong thực tiễn, kết hợp việc ph n tích, đánh giá và tham khảo kinh nghiệm của các nước,từđ luận án sẽcó những đánh giátoàn diện, định hướng v đề xuất, kiến nghị giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật vềĐKGDC trong hợp đồng và tăng cường sửdụng ĐKGDC trong hợp đồng BHHH ở nước ta hiện nay.

28

Kết luận chƣơng 1

1. Trên cơ sở thu thập và nghiên cứu, đánh giá thực trạng các bài viết, công trình nghiên cứu đã công bố c liên quan đến đề tài luận án cho thấy các tác giả giải quyết đượcmộtsốnội dung cơ bản vềĐKGDC, tuy các t i liệu nghiên cứu vềĐKGDC trong hợp đồng BHHH còn rất ít ỏi nhưng những nguồn tài liệu quý báu đ l cơ sởđểNCS tham khảo có chọn lọc, kếthừa và phát triển những nội dung mới của luận án

2. ĐKGDC là hiện tượng tất yếu của nền kinh tế phát triển thị trường nhằm thúc đẩynhanh việc giao kết hợp đồng cho các bên tham gia giao dịch.Trên thếgiới, ĐKGDC đã đượccác doanh nghiệp sửdụng phổbiến từthếkỷ19 trong các sản xuất, kinh doanh và cung cấpdịch vụđại trà, do đ , pháp luật điều chỉnh ĐKGDC cũng xuất hiện sớm trong khoa học pháp lý ở những nước có nền kinh tếphát triển. Ở Việt Nam chỉ mới được các nhà lập pháp chú ý trong những năm gần đ y cùng với nhu cầu bức thiết của việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước các ĐKGDC trái pháp luật. Những nội dung đã tổng hợp tại chương 1 l cơ sở để NCS phát triển s u hơn những vấn đề lý luận về ĐKGDC trong hợp đồng BHHH, phân tích thực trạng ĐKGDC trong hợp đồng BHHH ởViệt Nam, tham khảo kinh nghiệm pháp luật của một số nước trên thế giới về ĐKGDC, từ đ gợi mở cho pháp luật Việt Nam.

3. Từ tổng quan nghiên cứu tài liệu ở Việt Nam, có thể khẳng định chưa c một công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện, có hệthống, đầyđủcác vấn đề lý luận và thực tiễn ĐKGDC trong hợp đồng BHHH. Trong điều kiện từng bước hoàn thiện pháp luật, để có thể tham gia và nắm bắt được những cơ hội cũng như thách thức khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận lý và thực tiễn ĐKGDC trong hợp đồng BHHH là

lựa chọn hoàn toàn mới, lần đầu tiên được tiếp cận.

29

hƣơng 2

NHỮNG VẤN Ề LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ỀU KIỆN GIAO DỊCH

CHUNG TRONG HỢP ỒNG BẢO HIỂM HÀNG HÓA

2.1. Những vấn đề lý luận chung về điều kiện giao dịch chung 2.1.1. Khái niệm điều kiện giao dịch chung

ĐKGDC xuất hiện và sử dụng phổ biến trên thế giới từ khoảng giữa thế kỷ 19 do khả năng sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ mang tính hàng loạt và liên tục cho vô số các khách hàng nên vấn đề “tiêu chuẩn h a” các điều khoản của các hợp đồng mua bán đã được đặt ra. Với sựphát triển của nềnsản xuất hàng loạt ngày càng tiêu chuẩn hóa, các doanh nghiệp c xu hướng sử dụngnhiều hợp đồng mẫu hoặc các điều kiện giao dịch chung để áp dụng cho tất cả các giao dịch với các đối tác đơn lẻ. Điều này giúp giảm chi phí, giảm rủi ro (rủi ro pháp lý: các điều khoản sau khi đã phát sinh tranh chấp được hoàn thiện và áp dụng rộng rãi), từ đ giảm chi phí cho xã hội [50]. Việc soạn thảo các ĐKGDC l m điều khoản mẫu áp dụng cho các hợp đồng có số lượng khách hàng lớn, lặp đi lặp lại nhiều lần đã thúc đẩy việc giao kết hợp đồng một cách thuận tiện, nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian, công sức cho các bên giao kết hợp đồng. Do vậy, đòi hỏibên soạn thảo hợp đồng vừa phải củng cố uy tín thương mại của họ và vì vậy cũng mang lại lợi ích cho bên giao kết hợp đồng. Ngày nay, cùng với sựphát triển của giao dịch thương mại điện tửđòi hỏiphải cósựchuyên môn hóa và tốc độcao của các giao dịch, các ĐKGDC ng y c ng được áp dụng phổ biến.

ĐKGDC, tiếng Anh là General terms and conditions, trong đ , “terms and conditions”được lý giải là những điều khoản, điều kiện; “general” c nghĩa l chung, nếu ĐKGDC được sử dụng trong các hợp đồng thì chung c nghĩa l nhữngđiều khoản, điều kiện n yđược áp dụng chung cho các chủthểcó giao dịch cùng loại. Do vậy, có thể hiểu ĐKGDC l những điều khoản, điều kiện do một bên soạn thảo sẵn có tính tiêu chuẩn, ổn định mà bên khách hàng (tiềm năng) không thể thỏa thuận làm thay đổi các điều khoản, điều kiện đ .

30

Liên quan đến việc sử dụng thuật ngữ Điều kiện giao dịch chung, trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn chưa c sự thống nhất về mặt thuật ngữ. Có nhiều thuật ngữ khác nhau như contracts of adhesion hay boilerplate contract (hợp đồng gia nhập), standard form contracts hay standard terms of contracts (hợp đồng mẫu)… tuỳ thuộc v o quan điểm của mỗi học giả hay điều kiện lịch sử – xã hội v cách tiếp cận khác nhau của hệ thống pháp luật các nước. Tất cả những thuật ngữn y đều được mô tả đểchỉ những điều khoản, điều kiện được một bên soạn sẵn, áp dụng cho nhiều đối tượng khách h ng, phía bên khách h ng khôngđược thương lượng các điều khoản của hợp đồng mà chỉ có thể đồng ý hay không đồng ý giao kết hợp đồng đ .

Trước hết là thuật ngữ hợp đồng gia nhập, tiếng Anh là adhesion contract, có nguồn gốc từ Luật dân sự cộng hòa Pháp nhưng không được học thuyết pháp lý của Hoa Kỳchấp nhận cho tới khi tạp chí luật học của đại học Havard công bốnăm 1919 công trình của Edwin W. Patterson v ngay sau đ phần lớn được các tòa án Mỹ chấp nhận và sử dụng.

Theo từ điển Deluxe lack s Law Dictionary, hợp đồng gia nhập là một dạng hợp đồng được tiêu chuẩn h a để đề nghị tới NTD hàng hóa và dịchvụ chủ yếu dựa trên cơ sở chọn nó hoặc từ bỏ n , không cho NTD cơ hội thực tế để thỏa thuận và theo những điều kiện rõ ràng rằng NTD không thể c được sản phẩm hoặc dịch vụtrừ khi chấp nhận hợp đồng theo mẫu.

VớiFriedrick Kessler [50], hợp đồng gia nhập (adhesion contract) bao gồm các ĐKGDC được soạn sẵn bởi một bên, bên còn lại muốn giao kết hợp đồng thìphải gia nhập hợp đồng đ , tức là chấp nhận những điều khoản do bên soạn thảo đặt ra, chỉ có thể lựa chọn ký kết hợp đồng để sử dụng hàng hóa/dịch vụ, hoặc không kýkết và khôngsửdụng hàng hóa/dịch vụ. Hợpđồng gia nhập, dù cósửdụng thuật ngữ“hợp đồng”nhưng thiếu đi đặcđiểm cơ bản củahợpđồng, đ l quyền đ m phán của các bên.

Theo Arthur Lenhoff [45], hợpđồng thểhiện rằng các giao dịch được hình thành không phải trên cơ sở đ m phán để đạt được sự cân bằng lợi ích giữa các bên. Khách hàng, nếu tham gia giao dịch, thì phải chấp nhận các điều khoản do doanh

31

nghiệp đưa ra – chỉ có một số rất ít điều khoản có thể thỏa thuận thì đ l Contracts of adhesion, tức hợp đồng gia nhập.

Khi nghiên cứu vềpháp luật hợp đồng củaĐức, Thomas Zerres lại sửdụng một thuật ngữkhác đ l điều khoản mẫuđểmô tảcho hiện tượngtrên. Các điều khoản n y thường được in sẵntrong hợp đồng v thường một bên khi đưa ra đềnghị giao kết hợp đồng sẽ đính kèm các điều khoản mẫu trong đề nghị với mục đích

l các điều khoản này trở thành một phần của hợp đồng [59]. Chính vì những lẽ đ mà các nhà kinh tếhọc gọi những điều khoản m được hình thành thông qua quátrình đ m phán, thương lượng giữa các bên trong hợp đồng l “individually negotiateed”, còn điềukhoản được soạn sẵn trong các hợp đồngmẫu l “non- negotitalbe terms and conditions”.

Dưới g c độpháp lý, Bộnguyên tắc của Unidroit vềhợp đồngthương mại quốc tế 2016 (PICC) sử dụng một khái niệm khác, theo đ “những điều khoản được một trong các bên lậpsẵnđểs dụng chung và s dụng nhiều lần đồng thời s

dụng trong thực tếmà không có đàm phán với bên kia”được gọilà những điều khoản mẫu (standard terms) [10, tr124]. Các điều khoản mẫu này yếu tố quyết định không phải l hình thức trong đ các điều khoản n y được trình b y mà l việc thực tế các điều khoản n y đã được soạn sẵn để sử dụng chung, nhiều lần lặp đi lặp lại v phải được một bên thực sựsửdụng. Điều kiện cuối cùng liên quan đến các điều khoản mẫu l bên kia phải chấp nhận to n bộ điều khoản đ mặc dù các điều khoản khác của hợp đồng c thể được thoả thuận giữa các bên” [10, tr125].

Chỉ thị số 93/13/EEC của Hội đồng chung Châu Âu, các điều khoản soạn sẵn n yđượccác nh lậppháp củaHộiđồngchung Ch u Âugọil “not individually negociated terms and condition” [48], theo đ , “một điều khoản được coi là ĐKGDC khi nó đượcsoạn thảo từtrước và người tiêu dùng vì thếkhôngthểs a đổi hay điều chỉnh điều khoản đó, đặc biệt là trong trường hợp của hợp đồng mẫu được soạn trước”.2 Người tiêu dùng không bịbắt buộc phải thực hiện các điều khoản không công bằng, các điều khoản còn lại sẽ vẫn có hiệu lực nếu sự tồn tại của

2Phụ lục 1 dẫn chiếu khoản 3 Điều 3 Chỉ th số 93/13/EEC ngày 05/4/1993 của Hội đồng Châu Âu ngày vềcác ĐKGDC không công bằng trong các hợp đồng với người tiêu dùng

32

nó không lệ thuộc v o điều khoản không công bằng đ . Điểm chung của cả hai văn bản n y, ĐKGDC phải là những điều khoảnđược soạn thảo trước v không được đ m phán, sửađổi gì bởi bênđượcđềnghị giao kếthợpđồng.So với địnhnghĩa của PICC thì định nghĩa của Chỉthị93/13/EEC có phần hạn hẹp hơn nhưng phần n o đã khẳng định được rằng ĐKGDC không thể đồng nhất được với hợp đồng mẫu như quan niệm của nhiều người hiện nay.

Tương tự như vậy, ở Anh, vì Anh chịu ảnh hưởng của các quy định pháp luật vềbảo vệngười tiêu dùng của EU, do đ , Đạo luật vềquyền lợi người tiêu dùng năm 2015 (Consumer Rights Act 2015 – CRA)3 [71], tuy không trực tiếp sửdụng thuật ngữ điều kiện giao dịch chung mà sử dụng thuật ngữ “unfair terms in consumer contracts” c nghĩa l các điều khoản không công bằng trong hợp đồng với người tiêu dùng được hiểu l cácđiều khoản gây rasựmất cân bằng lớn vềquyền và lợi ích của các bên trong hợp đồng với người tiêu dùng. Bất kỳ điều khoản nào tronghợp đồngcho phép bên đặt ra các điều khoản có khả năng vi phạm cam kết các nghĩa vụhợp đồng, loại bỏhoặc hạn chếtrách nhiệm củabên đ đối với người tiêu dùng gây ra một bất hợp lý cho người tiêu dùng thì điều khoản đ sẽ

không có hiệu lực. Luật Người tiêu dùng của Úc (Australian Consumer Law –ACL) cũng quy định tương tự như Luật về quyền lợi người tiêu dùng của Anh, dành riêng một phần đểquyđịnh vềcác điều khoản bất bình đẳng trong hợp đồng mẫu

(Unfair contract terms). [45]ACL không đưa ra định nghĩavề hợp đồng mẫu,nhưngđưa ra hướng dẫn đểtòa án xác định hợp đồng mẫu như sau: i) Liệu một bên có chiếm hoàn toàn hoặc phần lớn quyền lực đ m phán trong giao dịch; ii) Liệu hợp đồng c được soạn sẵn bởi một bên trước khi xảy ra việc thương lượng về giao dịch giữa các bên; iii) Liệu một bên có bị yêu cầu chấp nhận hay từ chối điều khoản của hợp đồngtheo form mẫu; iv) Liệu một bên c cơ hội để đ m phán các điều khoản

3Ở Anh tồn tại song song 2 văn bản pháp luật Đạo luật vềđiềukhoản bất bình đẳng trong hợp đồng năm

1977 (Unfair Contract Terms Act 1977 – UCTA) [69] vàĐạo luật vềquyền lợi NTD năm 2015 (Consumer Rights Act 2015 – CRA) [70]. Trước khi CRA ra đời, Anh đã ban hành Quy đ nh về điều khoản bất bình đẳng trong Hợp đồng với NTD (Unfair Terms in Consumer Contracts Regulations 1999 – UTCCR) để thực hiện Chỉ th số93/13/EEC ngày 5/4/1993 của Ủy ban châu Âuvềcácđiềukhoảnbấtbình đẳng trong hợpđồng tiêu dùng (sau đ y gọi là“Chỉ thị số93/13/EEC”).Từkhi CRA được ban hành năm 2015, các quy đ nh vềđiềukhoản không công bằng trong UTCCR được đưa vào phần 2 của CRA.

33

của hợp đồng;v) Liệu các điều khoản của hợp đồng có xem xét tới điều kiện riêng biệt của một bên hoặc của một giao dịch riêng biệt (Điều 23 ACL).

Bộ luật dân sự của CHLB Đức (Bürgerliches Gesetzbuch – BGB)4 [38] sử dụng trực tiếp thuật ngữđiều kiện giao dịch chung (Standard business terms) là những điều khoản hợp đồng được soạn thảo từ trước để s dụng cho nhiều hợp đồng màmột bên (bên soạn thảo) đưa ra cho bên còn lại khi ký kết hợp đồng”(Khoản 1Điều 305 BGB). Khái niệm ĐKGDC của BGB thể hiện đúng bản chất của ĐKGDC phải là những điều khoản do một bên soạn thảo trước, sẽ không thể coi l ĐKGDC nếu n được đ m phán một cách chi tiết mà phải được sử dụng cho nhiều lần cho bên giao kết hợp đồng.

ỞViệt Nam, ĐKGDC l một phần củapháp luật hợp đồng quyđịnh trong BLDS và Luật VQLNTD c điểm chung đều coi ĐKGDC l những điều khoản do một bên tổ chức, cá nh n kinh doanh h ng h a, dịch vụsoạn thảo sẵn, đượccông bốvà áp dụng cho bên khách h ng hoặc người tiêu dùng (Khoản Điều 406 LDS năm 2015 v Khoản 6 Điều 3 Luật VQLNTD).

Trong thực tiễn nghiên cứu, những điều khoản được một bên soạn sẵn sử dụng trong giao kết hợp đồng mà phía bên kia chỉ có thể chấp nhận hay không chấp nhận cũng đã được nhiều các học giảquan tâm nghiên cứu và tranh luận nhưng cũng chưa c sựthống nhấtvềmặt thuật ngữ. Có nhiều khái niệm khác nhau được sửdụng để diễn tả hiện tượng này. PGS.TS. Nguyễn Như Phát quan niệm tất cả những điều kiện hợp đồng, quy tắc bán h ng được soạn thảo trước bởi một bên trong quan hệ hợp đồng v được sử dụng trong khi ký kết hợp đồng với nhiều khách hàng khác nhau l điều kiện thương mại chung. Cũng theo tác giả, “trong những năm tháng

4CHLBĐức là một trong các quốc gia đầutiên ban hành Luật vềđiềukhoản giao dịch chung năm 1976

(tiếng Đức là Das Gesetz zur Regelung des Rechts der Allgemeinen Geschäftsbedingungen–AGBG) [52, tr129], luật này tiếp tục được sửa đổi năm 1996. Sauđ Đức đã chuẩn hóa Nghị định 93/13/EEC thành luật quốc gia ngày 19/7/1996 trong Luật sửa đổi về các ĐKGDC. Năm 2002, trong quá trình sửa đổi luật dân sự, các quyđịnhtrong AGBG sau n yđược đưa th nhmộtphần trongBộluật dânsựĐức (Bürgerliches

Gesetzbuch – BGB), nhập chung v o LDS Đức phần nghĩavụ hợp đồng v chú thích rõ quy định này nhằm đểthực thiChỉthị93/13/EEC ngày 05/4/1993 của Hội đồngChâu Âuvềcác ĐKGDC không công bằng trong các hợp đồng với NTD.

34

của kếhoạch, khoa học pháp lý tìm cách giải quyết chúng trong khuôn khổcủa “hợp đồng mẫu” hay “mẫu hợp đồng”. Ngy nay, một số nhà khoa học tìm cách đềcập vấn đề này trong khái niệm “hợp đồng gia nhập”[27, tr42]. Cùng với quan niệm này, tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga khẳng định những điều kiện, quy tắc thương mại được “lặp đi, lặp lại”, bên không được soạn thảo không có khả năng đ m phán, sửa đổi nó và quan trọng l các điều khoản hợp đồng n y không được hình thành trên nguyên tắc tự do khế ước đúng nghĩa cần phải được quan niệm l điều kiện thương mại chung[22, tr34]. Với tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh thì các quy định, hợp đồng mẫu, điều kiện bán hàng áp dụng cho tất cả khách hàng của mình đ chính l điều kiện thương mạichung nhằm đểđáp ứng với sốlượng NTD ngày c ng tăng cũng như tạo thuận lợitrong hoạt động kinh doanh của mình, nhiều doanh nghiệpđặc biệt là các doanh nghiệp có số lượng khách hàng lớn[9]. Không chỉ có vậy, tác giảPhan Thảo Nguyên cũng cho rằng tất cảnhững điều kiện hợp đồng, quy tắc cung ứng dịch vụ, bán h ngđược soạn thảo trước bởi mộtbên trong quan hệhợp đồng với bên cung cấp dịchvụv được sửdụng trong khi ký kết hợp đồng với nhiều khách h ng khác nhau l điều kiện thương mại chung [26, tr55].

Tuy nhiên, vẫn với nội hàm của điều kiện thương mại chung, PGS.TS. Bùi Nguyên Khánh lạiquan niệm những điều kiện hợp đồng, quy tắc bán h ng được soạn thảo trước bởi một bên trong quan hệ hợp đồng v được sử dụng trong khi kýkết hợp đồng với nhiều khách hàng khác nhau là Điều kiện giao dịch chung [14, tr79]. Đồng quan điểm với PGS.TS. Bùi Nguyên Khánh, PGS.TS. Tăng Văn Nghĩa quan niệm rằng “những nội dung có tính tiêu chuẩn, ổn đ nh trong hợp đồng, được doanh nghiệp s dụng chung cho các khách hàng khác nhau đối với cùng một loại giao d ch mà khách hàng không thể s a đổi những nội dung đó” là Điều kiện giao dịch chung [24, tr22].

Một số tác giả lại xem xét vấn đề này là một hợp đồng gia nhập, nếu nhữngđiều kiện của hợp đồng được một bên soạn sẵn nhằm giao kết hợp đồng với nhiều người và phía bên kia chấp nhận giao kết hợp đồng c nghĩa l chấp nhận toàn bộcác điều khoản của hợp đồng. Tác giả Vũ Văn Mẫu [19, tr58] nhận định trong thực tiễn đã xuất hiện một loại khếước đặc biệt đ l khếướcgia nhập (tiếng anh là

35

contract adhesion). Khi phân tíchvềkhếước gia nhập, tácgiảcho rằng sựưng thuận có tính cách lý thuyết nhiều hơn l thực tế, một bên khế ước đã mất đisự tựdo thương thuyết và phải nhận các điều khoản của đối phương. Danhtừ “gia nhập” để chỉ loại khế ước n y vì người thụ trái trong khế ước thường phải thuận nhận tất cảcác điều khoản do trái chủđặt ra không có quyền bàn cãi. Khi phân loại hợp đồng, tác giảNgô Huy Cươngđã ph n chia th nh hợpđồng thương lượng và hợp đồng gia nhập, theo đ , những hợp đồng mà do một bên thiết lập các điều kiện của hợp đồngnhằm giao kết với nhiều người trên cơ sở các điều kiện đãđược thiết lập đ l hợp đồng gia nhập. Bên chấp nhận ký kết hợp đồng với các điều kiện đ gọi là bên gia nhập [2].

Một số tác giả tiếp cận n dưới dạng là một hợp đồng theo mẫu. Tác giả Lê Nết [20] dựa vào ý chí của các bên để phân chia hợp đồng thành hợp đồng dânsựtheo mẫu(standard form contract) vàhợpđồng do hai bên cùng soạn. Hợp đồng theo mẫu là hợp đồnggồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý, nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộnội dung củahợpđồng theo mẫu m bênđềnghị đưa ra. Trên thực tế, loại hợp đồng này rất thông dụng (hợp đồng li-xăng phần mềm, hợp đồng hứa thưởngBMW cho người khui chai bia Tiger thắng cuộc).

Bên cạnh đ cũng c những quan điểm nội hàm của hai khái niệm hợp đồng theo mẫuv ĐKGDC tương đốigiống nhau nên đã đánh đồng hai khái niệm này, hợp đồng theo mẫu cũng được coi như l ĐKGDC, bởi vì hợp đồng theo mẫu cũng c đầy đủ các đặc điểm giống như ĐKGDC v xét về bản chất thì hai khái niệm này là đồng nhất với nhau [37]. Hiện nay, nhiều học giả tiếp cận theo hướng coi những điều khoản do một bên đơn phương soạn thảo hoặc công bố trong các hợp đồng theo mẫu vàĐKGDC m được sử dụng trên thực tế với đối tác, không cần có sự thoả thuận, mặc cảvề nội dung của điều khoản ấy gọi chung l điều khoản mẫu [20].

Với hợp đồng theo mẫu,5 đ y l loại hợp đồng do một bên soạn thảo sẵn đểsửdụng vào việc xác lập giao dịch với nhiều khách hàng khác nhau, phía khách

5 Không phải là mẫu hợp đồng hướng dẫn cách thức soạn thảo nội dung các điều khoản của hợp đồng

36

hàng không trực tiếp soạn thảo các điều khoản của hợp đồng có thể lựa chọn đồng ý hay không đồng ý các điều khoản hợp đồng đã được soạn sẵn. Hợp đồng theo mẫu loại trừ hoàn toàn sự tham gia soạn thảo của bên được đề nghị giao kết hợp đồng; nếu bên được đề nghịgiao kết hợp đồng không đồng ý cácđiều khoản đ m vẫn muốn hướng tới giao kết hợp đồng thì “buộc” phải chấp nhận giao kết hợp đồng, một khi chấp nhận giao kết hợp đồng đ thì coi như chấp nhận tất cả các điều khoản của hợpđồng,bao gồm cảĐKGDC. Ví dụtrong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, DNBH là bên soạn thảo hợp đồng theo mẫu nhưng không ho n to n quyết định toàn bộ nội dung hợp đồng, một phần hợp đồng vẫn có những điều khoản thỏa thuận có sự thương lượng của người mua bảo hiểm, thể hiện ý chí của hai bên, như: số tiền bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, người thụ hưởng… Hợp đồng theo mẫu không chỉ bao gồmcác điều khoản thoả thuận ghi trong hợp đồng mà còn bao gồmnhững điều kiện giao dịch không được thương lượng, đ m phán, mặc nhiên trở thành nội dung của hợp đồng, thể hiện trên hợp đồng hoặc đính kèm với hợp đồng, ví dụ như trong hợp đồng bảo hiểm, ngo i điều khoản thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, còn có bộ Quy tắc bảo hiểm kèm theo là một phần của hợp đồng. Hợp đồng theo mẫu bao gồm có hai phần: một phần l các điều khoản thỏa thuận có thể thay đổi thông tin theo từng thương vụ, được áp dụng cho một loạt các bên tham gia giao kết hợp đồng, không có sự phân biệt về địa vị, uy tín, kinh nghiệm, năng lực tài chính, được thể hiện bằng văn bản, tức là thiên về tính hình thức nhiều hơn…; v một phần bao gồm các điều khoản không được đ m phán, thương lượng, thể hiện trong chính hợp đồng hoặc ởphụlục hợp đồng hoặcđược dẫn chiếu tới một văn bản khác, một website khác nhưng n c giá trị ràng buộc trong hợp đồng, mặc nhiên trở thành nội dung của hợp đồng, đ chính l điều kiện giao dịch chung.

Hợp đồng hàng loạt cũng do một bên soạn thảo trước theo nội dungđã được định sẵn v được sử dụng để áp dụngcho hàng loạt các khách hàng khác nhau khi giao kết cùng một lĩnh vực đ . Còn đối với hợp đồng gia nhập là loại hợp đồng cũng do một bên soạn sẵn, thiết lập nên những quy tắc, điều khoản của hợp đồng,

37

quyết định mọi nội dung, bên còn lại sẽ gia nhập hợp đồng mà không có quyền đ m phán, sửa đổi các điềukhoản ấy, chỉviệc kýkết/từchối ký kết hoặc trảlời đồng ý/không đồng ý. C nghĩa l phía bên kia nếu chấp nhận các quy tắc, điều khoản soạn sẵn đ thì chỉ việc đặt bút ký kết hoặc gật đầu đồng ý gia nhập vào hợp đồng đ (gọi là bên gia nhập) như l một sự thể hiện về ý chí chấp nhận toàn bộ nội dung điều khoản củahợp đồng. Do vậy, với hợp đồng gia nhập quyền quyết định của khách hàng chỉgiới hạn ởviệc có tham gia giao dịch hay không. Ví dụtrong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, bên bảo hiểm là bên soạn thảo trước hợp đồng, bên mua bảo hiểm sau khi đọc xong thấy phù hợp với nhu cầucủa mình thì gia nhập vào. Khác hẳn với hợp đồng truyền thống có sự thỏa thuận, sự thống nhất về ý chí của cảhai bên, nhưng đối với hợp đồng gia nhập thì ý chí của một bên không được đề cao. NCS đồng tình với quan điểm của tác giả Ngô Huy Cương, dường như sự tự do ýchí ấyn đã bị“thủtiêu” [2]. Xét vềmặt lý luận thì ĐKGDC n cũng gần giống nhưhợp đồnggia nhập, tức l n cũng bao gồm những điều khoản do một bên soạn thảo trước và không có sự đ m phán, tự do thỏa thuận giữa các bên trong qua trình giao kết hợp đồng.

Đối với điều kiện thương mại chung, xétvềmặt thuật ngữ có nội h mđiều chỉnh hẹp hơn ĐKGDC. Điều kiện thương mại chung điều chỉnh những giao dịch thương mại, còn ĐKGDC ngo i điều chỉnh các giao dịch thương mại, còn điều chỉnh cả những giao dịch nhằm mục đích phục vụ cho sinh hoạt, tiêu dùng. Chủ thểtham gia vào quan hệ này không chỉ bao gồm tổ chức sản xuất, kinh doanh thương mại nhằm mục đích sinh lời mà còn cả những cá nhân, tổ chức sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho tiêu dùng. Hơn nữa, ĐKGDC tên tiếng Anh cũng c tên gọi khác nhau như general terms and conditons hay standard contract terms, hay contract of

adhesion…Mỗi doanh nghiệp trên các website bán hàng của mình lại sử dụng những từngữ khác nhau để mô tả các điều khoản, các quy tắc của ĐKGDC, do đ , khi được dịch từ tiếng Anh có thể mỗi một học giả nhận thức và có cách dịch khác nhau. NCS cho rằng việc sử dụng thuật ngữ ĐKGDC sẽ đúng với mong muốn của nhà làm luật, phùhợp với xu thế chung của pháp luật nhiều nước trên thế giới hiện nay.

38

Như vậy, cùng một bản chất pháp lý là những điều khoản hay những quy tắc,điều kiện do một bên soạn sẵn, phía bên kia muốn giao kết hợp đồng thì phải chấp nhận toàn bộ những điều khoản đ m không được đ m phán, thương lượng nhưng mỗi một học giả lại có những quan niệm khác nhau.

Tóm lại, hợp đồng mẫu hay hợp đồng gia nhập, hợp đồng hàng loạt, điều kiện giao dịch chung đều c điểmgiống nhau đều do một bên soạn thảo sẵn, cócùng mục đích xuất phát từ nhu cầu thực tiễn nhằm thúc đẩy các giao dịch xác lập một cách nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các bên, những hợp đồng sử dụng ĐKGDC. C thể coi các loại hợp đồng này một trong những hình thức thể hiện của ĐKGDC, l sản phẩm có giá trị ràng buộc các ĐKGDC trong hợp đồng. Theo tác giảNguyễn ThịHằng Nga, nếu không được thểhiện ra bên ngoài qua các hợp đồng n i trên, ĐKGDC không được đưa v o ứng dụng trong các giao dịch, nó chỉl các quyđịnh “chết cứng” vô nghĩa của doanh nghiệp/tổ chức ban hành [22, tr37]. Hay nói cách khác,hợpđồng mẫu,hợpđồng gia nhập, hợp đồng hàng loạt là những hợp đồng sử dụng ĐKGDC trong giao dịch hợp đồng.

Đối với ĐKGDC, xét về bản chất thì cũng giống như l hợp đồng theo mẫu hay hợp đồng gia nhập đều là những điều khoản do một bên soạn sẵn, phía bên kia giao kết hợp đồng hoàn toàn không có khả năng để đ m phán, thươnglượng sửa đổi các điều khoản đ , chỉ có thể lựa chọn một là chấp nhận hợp đồng, hai là từ chối ký kết hợp đồng đ . Nếucó sựđ m phán, thương lượng giữa các bên vềcác điều khoản ấy thì sẽ không được gọi l ĐKGDC. Tuy nhiên, khác hẳn với hợp đồng theo mẫu hay hợp đồng gia nhập, các ĐKGDC c thể tồn tại ngay chính trong hợp đồng nhưng cũng c thể thể hiện bên ngoài hợp đồng đ , được hợp đồng dẫn chiếu đến chứ không nhất thiết phải nằm trong hợp đồng đ , ví dụ như các bản quy tắc mua bán, vận chuyển h ng h a hay điều lệ của doanh nghiệp…

Sự khác biệt giữa hợpđồng mẫu v ĐKGDC, cần căn cứ không chỉvềmặt thuật ngữ, bản chất, giá trịpháp lý của nó mà còn bao gồmcảthực tiễn sửdụng chúng. Sựkhác biệt cơ bản nhất giữa hợp đồng theo mẫu v ĐKGDC thểhiện ởthực tiễn áp dụng. Đối với hợp đồng theo mẫu, bên được đề nghị giao kết hợp đồng (bên không soạn sẵn các ĐKGDC) c một khoảng thời gian hợplýđểtham khảo

39

trước các điều khoản của hợp đồng tạo điều kiện thuận lợi cho việc ký kết hợp đồng, trên cơ sở đ đi đến thương lượng, đ m phán xem xét đồng ý hay không đồng ý với các điều khoản của hợpđồngđã đượcsoạn sẵn trướcđ . Còn đốivới các ĐKGDC thường đượccác doanh nghiệp đúckết từnhững kinh nghiệm thực tiễn trong kinh doanh, đã được tính toán, lựa chọn kỹ lưỡng, đảm bảo luôn có lợi cho mình nên thường mang tính áp đặt, bắt buộc áp dụng, do đ , bên được đề nghị giao kết không c cơ hội đểđ m phán, thương lượng mà chỉcó thểlựa chọn hoặc làkhông đồng ý giao kết hợp đồng với bên đưa ra ĐKGDC đ , hoặc l đồng ý với tất cả các điều kiện, quy định, quy tắc, điều khoản mẫu mà bên soạn thảo các ĐKGDC đã đưa ra nếu như muốn giaokết hợp đồng,tức là phải chấp nhận toàn bộ nội dung các điều khoản ấy (take it or leave it)[49]. Việc không thể thay đổi về nội dung làm cho ĐKGDC trở thành nội dung đặc thù trong hợp đồng được giao kết trên nền tảng của ĐKGDC [24].

Trong thực tiễn áp dụng, hợp đồng theo mẫu được thiết kếthành hai phần, trong đ , một phần là những điều khoản để trống những thông tin thay đổi theo từng giao dịch hợp đồng đểkhách h ng điền v o đ chi tiết những nội dung của hợp đồng như số lượng, trị giá hợp đồng, thời gian, địa điểm giao hàng, hình thức thanh toán… và phần còn lại là những điều khoản đã được in sẵn các nội dung không thayđổi của hợp đồng như điều khoản giải quyết tranh chấp, khiếu nại, giải quyết bồi thường… Còn ĐKGDC l những điều khoảnđược soạn sẵntồn tại ngay trong chính hợp đồng theo mẫu hoặc phụ lục kèm theo của hợp đồng hoặc ở một bản quy tắc khác, c nghĩa là hợp đồng theo mẫu là một trong những hình thức thể hiện phổ biến của ĐKGDC, n có thể nằm trong hợp đồng theo mẫu nhưng cũng c thể nằm ngoài hợp đồng đ , chẳng hạn như trong các điều lệ, quy tắc kinh doanh của doanh nghiệp …

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM

Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam Điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *