Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong đời sống xã hội, doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia và đời sống của người dân. Để mở rộng kinh doanh vàphát triểnbềnvững, các doanh nghiệpcầncó chiếnlược kinh doanh phù hợp cùngvớicơchếquảntrịdoanh nghiệp có hiệu quả. Cơ chế này trước hết là sựphân vai của các chủ thể tham gia vào quá trình ra quyết định và thực thi quyết định trong doanh nghiệp mà trước hết là việc xác định đúng vai trò của người đại diện. Quy mô doanh nghiệp càng lớn, yêucầuđócàngcấpthiết và vai trò của người ĐDTPL càngtrởnên quan trọng hơn vìhọlà người thaymặtcho doanh nghiệp thực hiện các giao dịch với các đối tác bên ngoài.

Đạidiện là việc một người (ngườiđạidiện) nhân danh và vìlợiích của người khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền nhất định (còn gọi là phạm vi đại diện). Đây là chế định pháp luật quan trọng đối với các chủ thể mà bản thân không thể tự mình tham gia quan hệ dân sự, trong đó có các doanh nghiệp.

Đạidiện theo pháp luật của doanh nghiệp là việc ngườiđạidiện nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với bên thứba.Đâylà chếđịnhquan trọngđốivới quá trình hoạtđộngcủa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp là chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật nhưng mọi sự tham gia này đều phải thông qua người đại diện (kể từ khi được thành lập chođếnkhi chấmdứthoạt động). Chính vì vai trò quan trọng như vậymà các văn bảnpháp luật như BLDS và LDN, LPSđềuquyđịnhvềĐDTPL của doanh nghiệp. Các quy định này hình thành nên một hệ thống các quy phạm pháp luật điềuchỉnh quanhệđạidiệncủadoanh nghiệp. Cóthểthấy, tuy pháp luật hiện nayđã quyđịnhkhá nhiềuvềĐDTPLcủadoanh nghiệp nhưng pháp luật hiện hành cũng bộc lộ nhiều vấn đề đáng quan tâm:

Thứnhất, mô hình ĐDTPL của doanh nghiệp trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam chưa hoàn thiện, thể hiện rõ ở việc mô hình đại diện của doanh nghiệp chưa được xây dựng theo cơ sở lý thuyết pháp lý thống nhất,

Thứ hai, pháp luật Việt Nam chưa xác định nguyên tắc pháp lý thống nhất chi phối các yếutốliên quan đếnmô hình ĐDTPL như: việc xácđịnhthẩm

1

quyền và phạm vi đại diện của người đại diện trong trường hợp doanh nghiệp cónhiều người ĐDTPL chưa rõ ràng, quyền và nghĩa vụcủa ngườiđạidiện chưađược thiết kế đầy đủ, cơ chế giámsát và trách nhiệm pháp lý của người đại diện cầnđược bổsung hoàn thiện trong yêucầuminh bạch thông tin và tránh xungđộtlợiích trong quảntrịdoanh nghiệp. Mặtkhác, thực tiễn phát sinh những trườnghợpcần có hướngdẫnpháp lýcầnthiết như: xácđịnhnhững loại giao dịch đòi hỏi phải được sự chấp thuận của tất cả các ĐDTPL hay hiệu lực của hợp đồng mà doanh nghiệp ký với khách hàng trong trường hợp người đại diện phản đối văn bản mà người đồng đại diện khác đã ký kết. Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện nay, việc xácđịnhthẩm quyền của ngườiĐDTPL dựa theoĐiềulệcông ty chưa đảmbảoquyền. lợiích hợppháp của bênthứba khi nội dung các điều luật gây khó khăn cho bên thứ ba khi phải rà soátĐiều lệ đối tácđể đảm bảo hợp đồng không vượt quá phạm vi đại diện.

Thứ ba, cơ chế kiểm soát và trách nhiệm pháp lý của người ĐDTPL chưađượcquyđịnhchặtchẽdẫntớihệquảtrên thựctếcó nhiều trườnghợpngười ĐDTPL lợi dụng sự lỏng lẻo trong quy định kiểm soát nội bộ doanh nghiệp thiết lậpgiao dịch tư lợichobảnthân.Đồngthời, các quyđịnh của pháp luật chưađầy đủ dẫn tới việc thực hiện pháp luật trên thực tế chưa đạt hiệu quả tối ưu. Vídụnhư các vấnđềliên quan tới thẩm quyền giám sátngườiđạidiện của BKS trong doanh nghiệp, nghĩa vụcủa ngườiđạidiện trong giaiđoạndoanh nghiệp

có nguy cơ phá sản…

Những vấn đề trên cho thấy việc nghiên cứu có hệ thống về ĐDTPL góp phần hoàn thiện cơ cấuquảntrịdoanh nghiệp và nâng cao hiệuquảthực hiện pháp luật trên thực tế. Với mong muốn góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễnkểtrên trongđiềuchỉnh pháp luật, nghiêncứusinh lựa chọnđềtài:“Đại diện theo pháp luậtcủadoanh nghiệp theo quy địnhcủapháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sỹ của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Mụcđích nghiêncứucủađềtài làđềxuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về ĐDTPL của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

2

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

– Hệ thống một số vấn đề lý luận về ĐDTPL của doanh nghiệp bao gồm:

khái niệm; bản chất; vai trò ĐDTPL của doanh nghiệp; các lý thuyết pháp lý cơ bản có liên quan đến ĐDTPL của doanh nghiệp.

– Tìm hiểu mô hình ĐDTPL của doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới và sựảnhhưởngcủacác lý thuyết pháp lý cơ bảnliên quanđếnđạidiện của doanh nghiệp. Lý giải được những điểm giống và khác nhau giữa quy định của pháp luật các quốc gia về vấn đề này.

– Phân tích quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng thực hiện pháp luật về ĐDTPL của doanh nghiệp ở Việt Nam. Qua đó, chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và thực hiện pháp luật, đánh giá nguyên nhân của các hạn chế đó .

-Đềxuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quyđịnhcủa pháp luậtvềĐDTPL của doanh nghiệp trong BLDS, LDN, LPS trong thời gian tới.

– Kiến nghị những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về ĐDTPL của doanh nghiệp ở Việt Nam.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án hướng đến đối tượng nghiên cứu là:

– Các lý thuyết pháp lý cơ bản đã đượccác nhà nghiên cứu trong và ngoài nước công bố liên quan đến đại diện của doanh nghiệp, bao gồm các lý thuyết vềbản chất pháp lý của doanh nghiệp và các lí thuyết về đại diện.

– Các quan điểm khoa học về nguyên tắc pháp lý trong từng vấn đề chi tiết có liên quanđến mô hình ĐDTPL như: phạm vi thẩm quyền, bảovệquyền lợi người thứ ba trong giao dịch vượt quá thẩm quyền do người đại diện của doanh nghiệp xác lập, quyền và nghĩa vụ cũng như có chế giám sát người đại diện.

– Các quyđịnhcủa pháp luật của mộtsốquốc gia như Anh,Mỹ,Pháp,Đức, Trung Quốc về ĐDTPL của doanh nghiệp.

– Các quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay về ĐDTPL của doanh nghiệp.

– Thực tiễn thực hiện pháp luật về ĐDTPL của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

3

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu về nội dung

Luận án chỉ tập trung nghiên cứu về ĐDTPL của doanh nghiệp với phạm vihẹplà hình thức đạidiện được pháp luậtchỉđịnhcó quyền nhân danh cho doanh nghiệp thực hiện các giao dịch dân sựvà chịu trách nhiệmvớicơ quan nhà nước, với các bên thứ ba. Những người đại diện khác của doanh nghiệp như:

đạidiện thương mạiđộc lậphay đạilý, nhân viên đạidiện cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án. Do đó, trong luận án, thuật ngữ người đại diện của doanh nghiệp được đề cập chính là người ĐDTPL. Bên cạnh đó, phạm vi doanh nghiệp được xácđịnhgồm các loại hình công ty (Công ty TNHH, CTCP, CTHD), không bao gồm doanh nghiệp tư nhân bởi xét về bản chất, đây là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làmchủđồng thời là người ĐDTPL.Do đó, nghiên cứu về ĐDTPL của DNTN không phùhợp với bản chất quan hệ đại diện: người đại diện hoạt động nhân danh và vì lợi ích của ngườiđược đạidiện. Thuậtngữdoanh nghiệp trong luận án nàyđược hiểu giới hạn là các loại hình công ty. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật doanh nghiệp được xác định bao gồm LDN và LPS bởi các văn bản luật này quyđịnh về tổ chức hoạt động và chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp.

Phạm vi nghiên cứu về không gian

Nghiên cứu về lí luận và các quy định của pháp luật về ĐDTPL được tác giả nghiên cứu trong phạm vi rộng, bao gồm quy định của pháp luật một số quốc gia theo hệ thống pháp luật thông luật (Comon Law) với đại diện là Anh, Mỹ; hệthống pháp luật Châu Âulụcđịa(Civil Law)vớiđạidiện là Pháp,Đức,Nhật vàquốc gia pháp luật xãhộichủnghĩa như Trung Quốc. Việc nghiêncứupháp luật của các nước được nghiên cứu điểm xuyết theo từng chủ đề chỉ nhằm mục đích so sánh, tham khảo kinh nghiệm, còn Luận án cơbảnchỉtậptrung nghiên cứu quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về ĐDTPL của Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu về thời gian

Thời gian thực hiệnđềtàitừnăm 2016đếnnay, do đó, Luận án nghiên cứu quy định của pháp luật về đại diện trong văn bản pháp luật doanh nghiệp cóhiệu lực trong thời gian đó, bao gồm BLDS năm 2015, LDN năm 2014, LPS năm 2014, LDN năm 2020 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) và các văn bản dưới

4

luật hướng dẫn các văn bản luật trên. Bên cạnh đó, thực tiễn thực hiện pháp luật liên quan đến ĐDTPL được nghiên cứu theo mốc thời gian từ năm 2016 đến nay. 4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng

duy vật của chủ nghĩa Mác – Lê Nin.

Luận án kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu phổ biến như:

– Phương pháp mô tả, phương pháp tổnghợplà các phương phápchủ đạo được tácgiảsửdụngtạiChương 1 nhằm trình bày nhữngkếtquảnghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đại diện của doanh nghiệp.

– Phương pháp lịch sử,phương pháp luật học so sánh, phương pháp phân tích được sử dụng để giải quyết nhiệm vụ tìm hiểu ưu, nhược điểm của các quy định của pháp luật liên quan đến ĐDTPL của doanh nghiệp.

– Phương pháp phân tích, phương pháp luật học so sánh và phân tích tình huống thực tiễn được sử dụng thường xuyên tại Chương 3, Chương 4 nhằm làm nổi bậttình hình thực hiện pháp luậtvềĐDTPLcủadoanh nghiệp và nghiêncứuđềxuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật.

5. Những điểm mới của luận án

– Luận án hệthống hóa những lý thuyết pháp lý hiện nay ảnhhưởngđến việc xácđịnhmô hình ĐDTPL của doanh nghiệp. Lý thuyếtđược tậptrung nghiên cứu gồm:

Các lý thuyếtvề bản chấtpháp lýcủadoanh nghiệp: lý thuyết giả tưởng (Fiction Theory), Lý thuyết hiện thực (Realistic Theory); lý thuyếthợpđồng (Nexus of Contract), Lý thuyếttổchức (Organic Theory), lý thuyếtvề đạidiện (Agency Theory) có liên quan đến vấn đề đại diện của doanh nghiệp.

Luận án hệthống hóa nộidung của các lý thuyết nhằm lý giải cơ sởlýluận lý giải mô hình ĐDTPL trong quy định của pháp luật doanh nghiệp một sốquốc gia.Từnềntảng lý luận này, luận án làm rõ mô hình ĐDTPL của doanh nghiệp hiện tại của Việt Namgầnvới cơ sởlý thuyết nào và đánh giá các ưu, nhược điểm của quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, các nguyên tắc điều chỉnh quan hệpháp luậtvềđạidiện theo pháp luật của doanh nghiệpđược làm rõ. Những lý thuyết và nguyên tắc này là căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam.

5

– Luận án phân tích thực trạng quyđịnhcủa pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nayvềcác khía cạnh liên quanđếnĐDTPLcủadoanh nghiệp như:

điềukiệntrởthành người ĐDTPL, thẩm quyền đại diện, quyền và nghĩa vụ của ngườiđạidiện, cơchếgiám sát và trách nhiệm pháp lýcủangườiĐDTPL. Các vấnđềtrênđượcphân tíchtừcác quyđịnhcủapháp luật doanh nghiệp là LDN năm 2014, LDN năm 2020 và có sự liên hệ với quy định trong BLDS năm 2015, LPS năm 2014 bởi BLDS quy định chung về quan hệ đại diện của pháp nhân vàLPS quy định về cách thức chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp. Các vấn đề này cũngđượcnghiêncứutrongsựđốisánhvớiquyđịnhtươngtựtrong pháp luật một số nước trên thế giới. Cụ thể là:

(i) Luận án chỉra nhữngđiểmhạnchếtrong việc xácđịnhthẩm quyềnđại diện, phân địnhthẩm quyềnđạidiện trong trườnghợpcó nhiềungườiĐDTPL dẫn tới sự xung đột thẩm quyền và gây thiệt hại cho người thứ ba.

(ii) Luận án làm rõ quy định của pháp luật về trách nhiệm của người ĐDTPL của doanh nghiệp và doanh nghiệp đối với bên thứ ba (nhất là trong bối cảnh quyđịnhcủa BLDS năm 2015đã cósựsửa đổi, bổsung sovớiBLDS năm 2005) nhằm đề xuất thay đổi theo hướng bảo vệ tốt hơn cho người thứ ba ngay tình.

(iii) Trên cơ sở phân tích và làm rõ những quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lýcủangườiĐDTPL, luận ánchỉra nhữngđiểmcầnbổsung trong LDN, LPS nhằm hoàn thiện cơ chế giám sát hoạt động của người ĐDTPL.

– Luận án làm rõ một số vướng mắc từ thực tiễn thực hiện pháp luật liên quanđến ĐDTPL. Từ đó, kiến nghị một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật, đặc biệt trong bối cảnh LDN năm 2020 mới có hiệu lực thi hành.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

– Vềmặtlí luận, luận án đã hệthống hóa cácvấnđềlý luận gồmcác lýthuyết là cơ sởcho quanhệĐDTPL của doanh nghiệp, các yếutốtrong môhìnhđạidiện của doanh nghiệp, bao gồm: chức danhngườiĐDTPL trong cơcấu quản trị doanh nghiệp, phạm vi thẩm quyền đại diện, quyền và nghĩa vụ của ngườiđạidiện, cơ chếkiểm soát quyềnhạncủa ngườiđạidiệnđặc biệt trong bối cảnh mỗi doanh nghiệp có thể có nhiều người ĐDTPL. Những vấn đề trênđược sosánh với pháp luật của một số nước nhằm làm rõ ưu, nhược điểm của

Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp  theo quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam và rút ra những kinh nghiệm mang tính gợi mở cho việc hoàn thiện quy định của pháp luật.

– Về thực tiễn: từ việc đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về ĐDTPL của doanh nghiệp thông qua những vụ việc, tranh chấp, luận án đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật. Đây sẽ là tài liệu tham khảo có giá

trị đối với các nhà nghiên cứu; người quản lý doanh nghiệp… trong hoạt động nghiên cứu và làm việc. Các thông tin được hệ thống trong Luận án có giá trị làtài liệu giảng dạy và học tập hữu ích trong chuyên ngành Luật kinh tế.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về đại diện theo pháp luật của

doanh nghiệp

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luậtvềđại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

7

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc

Quan hệ đại diện nói chung cũng như mô hình ĐDTPL của doanh nghiệp nói riêng đã được nhắc đến trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lýtrong và ngoài nước. Sở dĩ đây là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm là bởi quan hệ này gắn bó chặt chẽ, ảnh hưởng rất lớn tới đời sống dân sự, thương mại của các chủ thể nhất là các doanh nghiệp.

Có thể chia các công trình nghiên cứu liên quan đến đại diện và mô hình ĐDTPL của doanh nghiệp của các học giả trong nước và ngoài nước thành các nhóm sau:

1.1.1. Các nghiêncứuvềlý thuyết pháp lý liên quanđếnvấnđềđạidiện của

doanh nghiệp

1.1.2. Mô hình đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

1.1.3. Phạm vi thẩm quyền đại diện trong quan hệ đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

1.1.4. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật đối với doanh nghiệp

Phân tích vai trò của các Giám đốc với tư cách là người đại diện của Công ty trong pháp luật , nhà nghiên cứu Asley Kuyper đã làm phân tích sâu thêmvấnđề lợi ích của các cổđông và vai trò của các Giámđốctừ lý thuyếtđạidiện

(Agency Theory). Người viết phân tích mâu thuẫn giữa lợi ích của chủ sở hữu –

cổ đông (Shareholders) và người nắm giữ quyền quản lý – đại diện cho công ty

(các thành viên HĐQT – Director).Mâu thuẫn nàytồntạikhi tách biệt giữa quyềnsởhữuvà quyềnđiềuhành. Theo đó, các Giámđốc (có quyềnđạidiện cho doanh nghiệp) luôn mong muốnsửdụng tiềnđểmởrộng hoạtđộngkinh doanh, khiến vịtrí của họổnđịnhhơn, lương thưởng và quyền lực lớnhơn. Đồng thời họ có xu hướng đầu tư vào những lĩnh vực phù hợp với kỹ năng và lợi ích của mình chứ không nhất thiết là lĩnh vực mà chủ sở hữu mong muốn. Đối với các công ty lớn, có lịch sử hoạt động lâu, dòng tiền vốn nhàn rỗi lớn thì nguy cơ Giám đốc (Director) sử dụng tiền vào mục đích riêng có khả năng xuất hiện mà việc kiểm soát không hề đơn giản [83].

Trong khoa học pháp lý, nghĩa vụ của người đại diện trong pháp luật Anh, Mỹvà Đứcđược phân tích đối sánh với nhau cho thấy nhiều thông tin có giá trị. Cụ thể:vị trí và thẩm quyền của người đại diện được xác định theo quy định của pháp luật, Điềulệhoặc hợpđồngthì những nghĩa vụcủangườiđạidiện như:

trung thành, ngay tình, cẩntrọngđược đềcao nhằmbảovệlợiích của doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu đã phân tích các dấu hiệu cụ thể và viện dẫn hai án lệ của Tòa án Anh, Tòa án Bang Delaware của Mỹ nhằm xác định các hành vi vi phạm [59; tr 332 – 368]. Các vấn đề đó được phân tích chi tiết trong tác phẩm:

“Comparative Company Law” (Luật công ty so sánh) của Andreas Cahn vàDavid C.Donald.

Giải thích cụthểvềnghĩa vụtrung thành, nghĩa vụcẩntrọng, nghĩa vụthực hiện theo thẩm quyền, phân chia các nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý, trách nhiệmbồithường và miễn trừ, thời hạn, bảohiểm nghề nghiệp chongườiđại diện được Karin Madisson nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình tại Trường Luật Riga, Estonia: “Duties and liabilities of company director under German and

20

Estonian Law: a comparative analysis” (Những nghĩa vụ và trách nhiệm của giámđốccông ty theo quyđịnhcủapháp luậtĐứcvà Estonia:mộtphân tích so sánh) năm 2012. Nhà nghiên cứu đó đã đã định nghĩa nghĩa vụ cẩn trọng được hiểu là “người đại diện của công ty phải quản lý công ty vì lợi ích tốt nhất của công ty và với sự siêng năng thường được trông đợi ở một vị trí tương tự”[73;tr.19], vànghĩa vụtrung thànhđược hiểu là “nghĩavụbảovệlợiích củacông ty”.Đối sánhvớicác quyđịnhcủa pháp luật trong Luật ThươngmạiViệt Nam năm 2005; LDN năm 2005, tác giả Hồ Ngọc Hiển đã nhận xét: “pháp luật Việt Nam quy địnhkhông rõ ràngvềnghĩavụtrung thành và nghĩavụcẩntrọng của người đại diện” [26; tr127].

Nhằm làm rõ nghĩa vụ trung thành được quyđịnhtrong pháp luật doanh nghiệp, Nguyễn Hoàng Duyđã phân tích cụmtừ“lợiích công ty”:“Ngườiđại diện khi xác lập, thực hiện giao dịch phải nhìn nhận công ty nhưmộtthực thểđang tồn tại, phát triển và phải cân bằng những lợi ích dài hạn với những lợi ích trước mắtcủanhững thành viên đang hiện hữu. Hay nói cách khác,đólàsựphát triểnbềnvững. Sẽkhôngđược coi là vìlợiích củacông ty nếuhọhànhđộngvìlợiích củabảnthân hoặc vìlợiíchcủabênthứba mà không xem xétđến lợi ích của công ty”[13; tr35].

Việc liệt kê các nghĩa vụ đặc thù của người ĐDTPL được nhiều công trìnhđề cậpkhá đầyđủ, bao gồm: các nghĩa vụvới bên ngoài như công bố hoặcủy quyền công bố thông tin của doanh nghiệp;gửivà chịu trách nhiệm về thay đổi trong hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp; gửi và chịu trách nhiệm về hồ sơ giải thể của doanh nghiệp, hồsơ chấmdứthoạtđộngcủachi nhánh, văn phòng đại diện. Các nghĩa vụ của người ĐDTPL của doanh nghiệp đối với doanh nghiệp và các cổ đông như nghĩa vụ hành động trung thực, nghĩa vụ cẩn trọng, trung thành và hành động vì lợi ích cao nhất của công ty. Đó là các nhà nghiên cứu: HồNgọc Hiển trong bài viết“Nghĩavụ củangườiđạidiện và ngườiủy quyền theo pháp luật kinh doanh của Hoa Kỳ trong sự so sánh với các quy định của pháp luật tương ứng của Việt Nam” (2007), Nguyễn Minh Tuấn trong công trình “Một số vấn đề pháp lý về quyền và nghĩa vụ của người quản lý Công ty” (2018).

21

Qua việc tìm hiểu các công trình nghiêncứutrên, tácgiảnhận thấy: khi xem xét nghĩa vụcủa ngườiđạidiệncầncó sựphân biệtvớingườiquản lýdoanh nghiệp. Cả hai đều có những nghĩa vụ chung như nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng, trung thành và hành động vì lợi ích của doanh nghiệp song có những điểm khác biết do thẩm quyền đại diện bên ngoài của người ĐDTPL. Bên cạnh đó, các nghĩa vụ của người ĐDTPL xem xét từ góc độ quản trị doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến trách nhiệm trong việc ban hành các quyết định quan trọng hay kết quả kinh doanh của công ty cũng cần được làm rõ hơn.

Nhìn chung, những luận giải của những nhà nghiên cứu về người ĐDTPL nói chung và quyền, nghĩa vụ của người ĐDTPL nói riêng có ý nghĩa to lớn đối với việc giải thích quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện nay.

1.1.5. Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật và của doanh nghiệp đối với bên thứ ba

Trongmốiquanhệ với bên thứ ba, trách nhiệm của doanh nghiệp liên quan đến hành vi của người ĐDTPL là không thể trốn tránh, căn cứ vào các điều kiện: “Hành vi quản lý và điềuhành kinh doanhcủangườiđạidiện theo pháp luật (Legal representative) được coi là hànhđộngcủacông ty, nói cách khác, công ty sẽ phảichịu trách nhiệm đối với hành vicủangườiđại diệntheo pháp luậtđốivớibên thứba. Trong trườnghợpthỏa thuậnvớibênthứba không thuộc thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật, công ty vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện đúng hợp đồng mà người đại diện hợp pháp đã xác lập, trừphi bênthứba biết hoặc phải biết rằngngườiđạidiệnđãhànhđộngvượt quá phạm vi thẩm quyềncủamình”[72;tr.58]. Rõ ràng, khi nghiên cứu về quyđịnh của pháp luật Trung Quốc, Giovanni Pisacane đã chỉ rõ trong giao dịch với ngườiĐDTPL, việc xem xét yếu tố ngay tình của người thứ ba là điều kiện quan trọng nhất để xác định trách nhiệm của doanh nghiệp.

Mộttrong các vấnđềđáng quan tâm là quyền vàlợiích hợppháp của ngườithứba trong các giao dịchvớidoanh nghiệp do người ĐDTPL xác lập, thực hiện mà thuộc vào trường hợp giao dịch vượt quá thẩm quyền đại diện hoặc không có thẩm quyềnđạidiệnđược Eric Rasmusen trong cuốn sách “Agency Law and Contract information” (Pháp luậtvềđạidiện và thông tin trong hợp đồng) phân tích chi tiết. Bên thứ ba phải gánh chịu thiệt hại trong giao dịch vượt

22

quá thẩm quyền trong các trường hợp: bên thứ ba phải có nghĩa vụ biết về thẩm quyền của người đại diện, bên thứ ba đã được thông tin về giao dịch, có sự hợp tác giữa bên thứ ba và người đại diện trong xác lập giao dịch lỗi đó, các bên cóthỏa thuận trước [66, tr23-27]. Cóthểthấy thiệthạido bênthứba gánh chịu được chia sẻ cho người đại diện, người được đại diện và bên thứ ba tùy theo lỗi của các bên.

Rodedick Munday có nhấn mạnh đến trách nhiệm của bên được đại diện đối với người thứ ba trong cuốn sách: “Agency Law and Principles” (Luật và các nguyên tắc về đại diện) (Nhà xuất bản Đại học Oxford năm 2010). Học giả đánh giá cao nguyên tắc:“bất cứ sự hạn chế hoặc sửa đổi nào về quyền hạn đại diện của những người quản lý không được áp dụng nhằm chống lại những người thứba ngay tình. Nội dung tiến bộ của nguyên tắc đó là tránh trường hợp hành động của những người quản lý trong nội bộ công ty đưa ra những quyết định như sửa đổi điều lệ, các văn bản nội bộ nhằm thay đổi quyền hạn của người đại diện với mục đích để gây bất lợi hoặc chối bỏ trách nhiệm đối với bên thứ ba”[60; tr48].

Cùng chung quan điểm về bảo vệ quyền lợi người thứ ba trong quan hệđại diện, nhà nghiên cứu Đỗ Văn Đại đã nghiên cứu và bình luận trong góp ý vềDựthảo BLDS năm 2015 phần phạm viđạidiện theo pháp luật:“ỞPháp, đểbảovệchongườithứba, ánlệPhápđãphải can thiệp theo hướng: trong mối quan hệ với người thứ ba, công ty chịu sự ràng buộc của giao dịch do chủ tịch hộiđồngquảntrịxáclậpcho dù không phùhợpvớimục đích hoạtđộngcủa công ty, trừ trường hợp người thứ ba đã biết hoặc đã phải biết giao dịch đó vượt quá mục đích hoạtđộng(CA Orléans, ch. com., 24 nov. 2011, n° 10/03266). Ởđây chúng ta thấy họ bảo vệ người thứ ba rất triệt để” [15].

Nhấn mạnh đến trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người thứ ba trong giao kếthợpđồngtừgóc độthực tiễn có nhiều công trình nghiên cứunhư bài viết “Quyềnlợicủangườithứba ngay tình khi giaokếthợpđồngvớingười không phải đại diện theo pháp luật của công ty” của Phạm Văn Cường [12], bài viết: “Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba trong Công ty có nhiều người đại diện theo pháp luật” của Nguyễn Hợp Toàn [47, tr31-33]. Các bài viết này đã chỉ ra nguyên nhân cũng như nhữngđiểmchưa hợplý trong quyđịnhtạiBLDS năm 2015 và LDN năm 2014 liên quan đến trách nhiệm đối với bên thứ ba. Việc thực

23

hiện giao dịch chưa được bảo đảm, việc xác định người có thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp chưa được hiểu một cách tường minh dẫn đến phát sinh nhiều tranh chấp về quyền lợi và nghĩa vụ. Có thể khẳng định những ý kiến của trong các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu có ý nghĩa nhất định.

Bảo vệ người thứ ba còn được nhìn nhận ở các khía cạnh khác trong đócó các quy định về phá sản doanh nghiệp. Người đại diện của công ty phải chịu trách nhiệm pháp lý khi vi phạm nghĩa vụnộpđơnyêucầuphásảnnhằm bồi thường cho các chủ nợ, khi không thực hiện các hoạtđộngbảotoàn vốn nhằm hạn chế thiệt hại gây ra cho các chủ nợ. Có thể thấy đặc thù riêng trong việc xácđịnhtrách nhiệm của người ĐDTPLcủadoanh nghiệp khi phá sảnbởinó gắn vớitrách nhiệm cá nhân trong quá trình điều hành doanh nghiệp và thiệt hại to

lớnđốivớingườithứba.Yếutốnữa đólà trách nhiệm cá nhân trong việc xác

lập và xử lý các khoản nợ trong phá sản doanh nghiệp. Nội dung đó được Trần Anh Tú, Tạ Văn Giang nghiên cứu trong bài viết: “Điều hòa lợi ích giữa chủ nợvà con nợ thông qua thủ tục phá sản” [51], Nguyễn Ngọc Anh trong bài viết: “Các

chủthểtham gia quanhệpháp luật phá sản –mộtsốbấtcậpvà kiến nghị hoàn thiện” [3]. Nhìn chung, trách nhiệm người ĐDTPL và doanh nghiệp đối với bên thứba được phân tích và so sánh với pháp luật các quốc gia khác khá đầy đủ.

1.1.6. Cơ chếgiám sát hoạtđộngvà trách nhiệm pháp lý củangườiđạidiện theo pháp luật của doanh nghiệp

Trong mô hình quản trị doanh nghiệp có sự tách bạch giữa chủ sở hữu với ngườiđạidiện quản lý, mâu thuẫnlợiích giữa chủsởhữuvà ngườiđạidiện, quản lý là khôngthểtránh khỏi. Tình trạng thông tinbấtcân xứng là mộtrào cảntrong việc tham gia quảntrịdoanh nghiệp. Việc thiếtlậpcơ chếgiám sát hoạt động của người ĐDTPL là yêu cầu cấp thiết.

Nghiêncứu vềchếđịnhđại diệntrong quản trị doanh nghiệp, theo LDN năm 1999, Bùi Xuân Hảikếtluận: “Với bản chất quan hệ đại diện, người quản lý công ty luôn có xu hướng tìm kiếm lợiích cá nhân cho họ hơn là luôn hànhđộng vìlợi ích chung của công ty và cổ đông. Bởi vậy, muốn hình thành một môhình giám sát hiệu quả thì phải có một chế độ tiền lương và thù lao thích hợp, cơchế thông tin và giám sát hiệu quả hoạt động của người quản lý công ty là một

24

yếu tố rất quan trọng để hạn chế bớt khả năng tư lợi của người quản lý công ty và đểhọ biết giữ thái độ trung thành và hành động vì lợi ích của công ty”[22, tr21-27].

Đốivớitrách nhiệm pháp lýcủangườiĐDTPLcủadoanh nghiệp khi cóhành vi vi phạm, các học giả nước ngoài đã phân tích vấn đề này khá kỹ. Leonid Tolstov trong luận văn “Tort liability of the director to company’s creditors” (Trách nhiệm pháp lý của Giám đốc công ty đối với các chủ nợ của công ty) tại Trường Đại học Tartu, Estonia cho rằng: xem xét vấn đề này không thể tách riêng LDN mà phải gắn liền với các quy định của pháp luật có liên quan. “Trách nhiệm của giám đốc là một chủ đề rộng liên quan đến các lĩnh vực khác nhau của pháp luật, chẳnghạnnhư luật công ty, luậtvềnghĩa vụ, luậthợpđồngvà luật bồi thường, luật hình sự và luật thuế”[74; tr 14].

Một sốbài viết khác có nêu thực tiễn người ĐDTPL tham gia tố tụng dân sự tạiTòa án. Bài viết“Về vấnđề không xác địnhđược địachỉngườiđại diện theo pháp luậtcủadoanh nghiệp trongthụlý, giải quyếtvụán dânsự” của Nguyễn Thị Hạnh đăng trên tạp chí Tòa án số 19 năm 2013 [24, tr32-35] hay bài viết“Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với những doanh nghiệp vắng ngườiđạidiệnhợppháp” của Nguyễn Công Lực đăng trêntạpchí Tòa án số 13 năm 2012 [33, tr 7-8], bài viết “Về thủ tục khởi kiện đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật” của tác giả Vĩnh Sơn đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân điện tử tháng 10 năm 2018 [41, tr15-21]. Trong các bài viết này, người viết đã nêu khó khăn trong thực tiễn khi người ĐDTPLđãđi khỏi nơi cư trú, không xácđịnh được địa chỉ, việc xét xử hay thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệpđótạiTòa án nhân dân cáccấpkhông thống nhất do chưa xácđịnhrõ tưcách pháp lý của người ĐDTPL. Vấn đề này đã được LDN năm 2014, LDN năm 2020 hiện hành giải quyết qua điểm sửa đổi, bổ sung: người ĐDTPL của pháp nhân là người được cơ quan Tòa án chỉ định trong quá trình tham gia tố tụng.

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 1.2.1.Những kết quả đạt được

Thứnhất, các tác giả trong và ngoài nước đã hệ thống hóa, phân tích các lý thuyết pháp lý cơ bản về bản chất pháp lý của doanh nghiệp. Đây là nền tảng lí luận để hiểu rõ hơn mô hình đại diện của doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới.

25

Thứhai, các công trình nghiêncứuđã chỉrõsự cầnthiết và vịtrí của ngườiĐDTPL của doanh nghiệp trong hoạtđộngquảntrịdoanh nghiệp cũng như hoạt động kinh doanh.

Đểtồntạivà vậnhành bình thường, các doanh nghiệpcầncó người ĐDTPL. Khẳngđịnhđóđược nhiều nhà nghiêncứuthống nhất trong các công trình khoa họctrong thời gian qua. Tiêu biểu như:học giảBùi Xuân Hải trong “Lý thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam“, Tạp chíKhoa học Pháp lý 2007, số 4 (14); tác giả Ngô Huy Cương trong bàiviết “Chế

địnhđạidiện theo quy địnhcủapháp luật Việt Nam–nhìntừgóc độluật so sánh”, Tạpchí Nhà nước và Pháp luậtsố4/2009; Luật gia Trương Thanh Đức vớibài viết“Bình luận chế định pháp nhân và đại diện pháp nhân trong Bộ luật Dân sự năm 2005” trong Kỷ yếu Hội thảo sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Dân sự năm 2005 do Bộ Tư pháp tổ chức 30/82011, Lê Văn Thiệp trong bàiviết “Một số vấn đềlý luận và thực tiễnvềđạidiện theo phápluật”, Tạpchí Kiểm sát, SốTân Xuân năm 2012 hay nhà nghiên cứu VũThịLan Anh trong bài“Quy địnhmới của LDN năm 2014 về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”, Tạp chíLuật học số 4 năm 2016.

Thứ ba, ĐDTPL của doanh nghiệp là một hình thức quan hệ đại diện.

Dù mô hình đại diện cho doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau là không giống nhau thìbảnchất ĐDTPLvẫnlà mộtloạiđạidiện. Dođó,phầnlớncác công trình nghiên cứukhoa họcđềuphân tích quanhệđạidiệnvớinhữngđặc trưng chung, phân loại quanhệđạidiệnvớinhữngyếutốliên quan như thẩm quyền, phạm viđạidiện, quyền và nghĩa vụcủa ngườiđạidiện,mốiquan hệgiữa các bên trong quan hệ đại diện với các bên có liên quan… Những công trìnhở nước ngoài tiêu biểu có thể kể đến như: Andreas Cahn và David C.Donald với sách chuyên khảo: “Comprative Company Law” (Luật công ty so sánh); Brenda Hanniganvới“Company Law” (Luật Công ty), Paul L. Davies với công trình “Gower’s Principles of Modern Company Law” (NguyêntắccủaLuật Công ty hiện đại) và Ewan McGaughey với cuốn sách “Participation in corporate

governance” tại London School of Economics and Political Science…

Các công trình trong nước có trực tiếp đề cập tới quy định của pháp luật Việt Nam rất đa dạng, bao gồm: Bài viết “Chế định đại diện theo quy định của

26

pháp luật Việt Nam–nhìntừgóc độso sánh” củanhà nghiêncứuNgô Huy Cương đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/2009; bài viết “Lý thuyết vềđạidiện vàmấyvấnđềcủapháp luật công ty Việt Nam” của học giảBùi Xuân Hải đăng trên Tạp chí khoa học pháp lý số 4/2007; bài viết“Chế định đại diện trong pháp luật Việt Nam và vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng” của tác giả Nguyễn Vũ Hoàng trên tạp chí Luật học số 2/2013. Tất cả các bài viết phân tích các vấn đề liên quan đến đại diện dựa trên quy định LDN năm 2005. Nhìn chung các công trìnhđãchỉra nhữngđiểmbấtcậptrong quá trình áp dụng pháp luật nhưng cơ bản là đánh giá quy định trong LDN 2005 và BLDS năm 2005. Do đó, cónhững điểm trong các kiến nghị đã được sửa đổi, bổ sung trong LDN năm 2014.

Luật doanh nghiệp năm 2014 ra đời với nhiều quy định được sửa đổi, bổsung. Trên cơ sở đó, các bài viết, sách chuyên khảo của các nhà nghiên cứu như:

cuốn sách“LuậngiảivềLuật doanh nghiệp” của Luật sư Trương ThanhĐức

[19], “Phápluậtvềdoanh nghiệp –các vấnđềpháp lý cơ bản”của Luật sư Trương Nhật Quang[40]; Một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ của người quản lýcông ty cổ phần của Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn [52],“Giải quyết tranh chấp hợp đồng, nhữngđiềudoanh nhâncầnbiết” của Trung tâm trọng tài quốc tếViệt Nam [53]. Tuy nhiên,đối vớicác nghiêncứucủa các học giảtrong nước, nhìn chung, có nhiều vấn đề được phân tích dựa trên quy định LDN năm 2005, LDN năm 2014 nên tính thời sự, cập nhật đến nay phần nào bị hạn chế. Mặt khác, các công trình này nghiên cứu chưa sâuvềmộtsốvấnđềnhư:lựachọn mô hìnhĐDTPL phùhợpvới lý thuyết pháp lý trong quảntrịdoanh nghiệp và tương thích với chế định đại diện được quy định trong BLDS; trách nhiệm pháp lý của người ĐDTPL cũng như doanh nghiệp quan hệ đại diện và đối với người thứ ba.

Thứ tư, các công trình nghiên cứu về đại diện ở một số quốc gia như Anh, Hòa Kỳ, Pháp, Đức, Trung Quốc… đã hình thành nên bức tranh tổng thể về môhình đại diện của doanh nghiệp, quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý của ngườiĐDTPLởcác nước.Trong đó, có làm rõđược sựtươngđồngvàkhác biệt trong quy định của pháp luật các nước về người có quyền đại diện cho doanh nghiệp trong mối quan hệ với chính doanh nghiệp và với bên thứ ba. Tuy nhiên, khi tham khảo các bài viết, sách chuyên khảo cho thấy cơsởtrong việc lựa chọn mô hình ĐDTPL của doanh nghiệp, việc xác định quyền, nghĩa vụ của

27

người đại diện hay trách nhiệm với bên thứ ba có sự khác nhau. Mặc dù vậy, các nghiên cứu của các học giả này có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu so sánh mô hình đại diện của doanh nghiệp ở Việt Nam với các nước. Điều này thể hiện trong các công trình nghiêncứunhư: Comprative Company Law của Andreas Cahn và David C.Donald (2010), Agency Law and Principles của Rodedick Munday (2010), Corporate Governance in China của Giovanni Pisacane (2017),… Các công trình này góp phần đưa ra những gợimởcho việc xácđịnh những giải pháp phù hợp nhất trong thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật ởViệt Nam.

1.2.2. Những vấn đề luận án tiếp thu và tiếp tục phát triển

Thứnhất, tácgiảtiếp tục nghiên cứuvềmô hình ĐDTPLcủadoanh nghiệp trên cơ sở những lý thuyết đã được các nhà khoa học pháp lý xây dựng vànghiên cứu rất công phu. Đó là cách tiếp cận vấn đề từ các lý thuyết về bản chất pháp lý của công ty, lý thuyết về đại diện đã được tìm hiểu và phân tích tại mục 1.1.1 chương 1 của luận án. Những lý thuyết này được phân tích trong bối cảnh hệ thống pháp luật Việt Nam về quan hệ đại diện, điều kiện kinh tế và xã hội đểlàm rõ thêm những ưu, nhược điểm của mô hình ĐDTPL của doanh nghiệp hiện nay. Khi nghiêncứumô hình ĐDTPL củadoanh nghiệp trong và ngoài nước, cần cân nhắc điều kiện thực tiễn ở Việt Nam hiện nay với đặc trưng riêng trong sự phát triển kinh tế, để xác định xem việc lựa chọn áp dụng biện pháp, nguyên

tắc nào thực sựhữuích và phùhợpvớiđờisống kinhtếvà hệthống văn bản pháp luật có liên quan.

Thứ hai, trên cơ sở kết quả nghiên cứu của những công trình nghiên cứu khoa học đi trước về lý luận như đặc trưng, thẩm quyền đại diện, phân loại đại diện, quyền và nghĩa vụ của các bên bên trong quan hệ đại diện và với bên thứba, nghiên cứu sinh sẽ hệ thống hóa, phân tích các quy định của pháp luật hiện nay nhằm làm rõsựkếthừa, phát triển và nhữngđiểmtồntạicầnkhắc phục trong pháp luật doanh nghiệp liên quan đến ĐDTPL. Mặt khác, các nghiên cứu về mô hình ĐDTPL của doanh nghiệp từ các khía cạnh như thẩm quyền, căn cứxác lập và thay đổi quan hệ đại diện, tiêu chuẩn và điều kiện, quyền và nghĩa vụcủa người đại diện trong BLDS năm 2015, LDN năm 2005, LDN năm 2014 đãđược nhắc đến không ít. Ít nhiều, các vấn đề lý luận đó vẫn còn giá trị nhất định.

28

Các kết quả nghiên cứu các quy định về người ĐDTPL của pháp nhân trong BLDS năm 2015 vàcủadoanh nghiệp trong LDN năm 2020đãđượccôngbốdù chưa nhiều nhưng cũng là nguồn tư liệu tham khảo rất có giá trị khi viết luận án này.

Thứba, việc nghiêncứuhoàn thiện pháp luậtvềĐDTPL của doanh nghiệp cũng như tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật cần tham khảo kinh nghiệm quyđịnhvà quá trình thực thi pháp luật của các nước trên thếgiới, trongđócó thểkểđến Pháp, Đức,Anh, Mỹlà các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. tác giả tập trung nghiên cứu pháp luật các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa(Civil Law) với đạidiện tiêu biểu là Pháp, Đức và các nước theo hệ thống thông luật (Common Law) với đại diện làAnh, Mỹ. Nguyên nhân bởi sự khác nhau cơ bản giữa hai hệ thống này về việc sửdụng những khái niệm pháp lý cơ bản(vídụ:các nước Châu Âu lục địa không có khải niệm tương đương với khái niệm “Trust” – ủy thác như pháp luật Anh) và phương thức lâp luận pháp lý cũngđược sửdụngvớimức độưu tiên khác nhau. Hệthống pháp luật Châu Âu lục địa thườngsử dụng phương thức suy diễn (căn cứ quy tắc chung để suy ra các quy định cụ thể cần áp dụng) và các nước Anh, Mỹ sử dụng phương thức áp dụng áp luật tương tự (áp dụng quy định của pháp luật hiện có cho những trườnghợpgiống như các trườnghợpđã áp dụng trước đó). Đây được xem là hai hệ thống pháp luật lớn được phân loại dựa trên tiêu chí cơ cấu của các quy định của pháp luật. Mặt khác, tác giả cũng giới thiệu các quy định của pháp luật của Trung Quốc, bởi có những sự liên hệ về ảnh

hưởng lịch sử của pháp luật Xô – Viết. Chính vì vậy, các kết quả nghiên cứu vềngười đại diện của doanh nghiệp, các quy định của pháp luật và các án lệ có liên quanởcác quốc gia nàysẽđượcluận án tham khảo trong việc đềxuất các giải pháp, vận dụng vào bối cảnh thực tế của Việt Nam.

Trên cơ sở kế thừa kết quả đã đạt được từ các công trình đi trước, tácgiảtiếp tục nghiên cứu và giải quyết một số vấn đề, cụ thể là:

– Nghiên cứu nhằm xácđịnh rõmô hình ĐDTPL của doanh nghiệp trong pháp luật Việt Nam. Cụ thể là: xác định mô hình đại diện của doanh nghiệp hiện này với những ưu điểm và nhược điểm cần khắc phục; xácđịnhchỉ dẫn rõ ràng cho doanh nghiệp trong việc thực hiện pháp luật về vấn đề này. Điều này đượcđặt trong bối cảnh các văn bản pháp luật như BLDS năm 2015, LDN năm 2014

29

và LDN năm 2020được ban hành chưa lâu, chưa bao quáthếtcác trường hợp tranh chấp trong thực tiễn, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong giao dịch. Đối với trường hợp doanh nghiệp có nhiều người ĐDTPL, để đảm bảo an toàn, bên thứ ba luôn phải xác minh phạm vi thẩm quyền hoặc yêu cầu tất cả những người đại diện đều xácnhận giao dịch ảnh hưởng tới thời gian giao dịch, làm thời gian giao dịch tăng lên và chưa đáp ứng được nhu cầu của các bên.

– Nghiên cứunhằm làm rõ quyền và nghĩa vụ các bên trong quanhệ đại diện này:người đạidiện và doanh nghiệp hoặc ngườiđạidiện với các cổ đông (người sở hữu).

– Nghiêncứunhằmđềxuất cơ chếgiám sáthữuhiệutừnộibộdoanh nghiệp đối với người đại diện và việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người ĐDTPL khi có hành vi vi phạm pháp luật. Trách nhiệm này phải được xem xétởba góc độ: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự.

– Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về ĐDTPL của doanh nghiệp Việt Nam hiện hành: BLDS, LDN, LPS. Trong thực tế, việc áp dụng các đạo luật này vẫncònvướngmắc do các quyđịnhBLDSvềđạidiện nói chung và các luật chuyên ngành như LDN, LPS chưa thống nhất trong cách tiếp cận.

-Đềxuất các giải pháp hoàn thiện quyđịnhcủa pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong thực tiễn.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu.

Luận án tập trung trả lời câu hỏi nghiên cứu sau đây:

– Cơ sởlý thuyết pháp lý có liên quanđếnmô hình ĐDTPL của doanh nghiệp có nội dung như thế nào?

– Mô hình ĐDTPL của mộtsốquốc gia trên thếgiới theo haihệthống pháp luật cơ bản là pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law) với đại diện là Pháp,Đức và hệthống thông luật (Common Law)vớiđạidiện là Anh, Mỹnhư thếnào? Có điểm gì giống và khác nhau? Tại sao có sự khác nhau đó?

– Mô hình ĐDTPL của doanh nghiệp được quy định trong pháp luật doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay như thếnào? Mô hìnhđótươngđồnghay khác biệt gì trong so sánh mô hình tương ứng ở một số quốc gia như Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Trung Quốc? Tại sao có sự khác nhau đó?

– Quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam về mô hìnhĐDTPL của doanh nghiệp có những ưu và nhược điểm gì?

30

– Vấn đề pháp lý nền tảng là cơ sở cho hoạt động của ĐDTPL của doanh nghiệp trong pháp luật dânsự:trách nhiệm pháp lýcủadoanh nghiệp và người ĐDTPL đối với bên thứ ba và xử lý hậu quả pháp lý trong các giao dịch không cóthẩm quyền đại diện, vượt quá thẩm quyền đại có ưu, nhược điểm gì? Tại sao?

– Thực tiễn thực hiện pháp luật về ĐDTPL tại Việt Nam hiện nay diễn ra như thếnào? Nhữngvướngmắc có thểnhận thấy qua thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp? Nguyên nhân những hạn chế đó?

– Giải pháp nàocầnthực hiệnđểhoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về ĐDTPL của doanh nghiệp ở Việt Nam?

Giả thuyết nghiên cứu đƣợc đặt ra nhằm làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu:

-Sựđa dạngcủacác lý thuyết pháp lý liên quanđếnĐDTPLcủadoanh nghiệp là sự thuận lợi để lựa chọn lý thuyết pháp lý phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, hệ thống pháp luật của Việt Nam và xây dựng mô hình ĐDTPL hợp lý.

– Quyđịnhcủa pháp luật doanh nghiệp hiện nayvềĐDTPLcủadoanh nghiệp như: phạm vi thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ, trách nhiệmđốivớibên thứ ba cũng như trách nhiệm pháp lý của người đại diện chưa bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

– Thực tiễn thực hiện pháp luậtvềĐDTPL của doanh nghiệp còn nhiều bất cập: hoạt động áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về ĐDTPL của doanh nghiệp tại Tòa án nhân dân các cấp còn nhiềuvướngmắc; phầnlớncác doanh nghiệp vừa và nhỏchưa hoàn thiện mô hình quảntrịdoanh nghiệp hiệuquảtrongđóthiếu cơ chếkiểm soát quyền lực của ngườiđạidiện, chưa khắc phục được tình trạng lạm quyền trong điều hành, tình trạng thông tin bất cân xứng vàảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông.

– Những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật liên quanđếnngườiĐDTPL của doanh nghiêpcầnhướngvào tiêu chuẩn: hiệu quả thực hiện pháp luật trong xã hội.

Lý thuyết nghiên cứu mà tác giả vận dụng là:

Thứnhất, lý thuyết pháp lý liên quan đến bản chất pháp lý của công ty. Có khá nhiều lý thuyết pháp lý có liên quan, song nghiên cứusinhtậptrung nghiêncứuvào các lý thuyết cơ bảnbao gồm: lý thuyếtgiảtưởng(Fiction Theory), lý thuyết hiện thực (Realistic Theory), lý thuyết mối liên hệ hợp đồng (Nexus of contracts) và lý thuyếttổchức (Organnic Theory). Đâylà các lýthuyết pháp lý cơ bản liên quan đến lý giải bản chất của công ty có tư cách pháp

31

nhân. Dựa trên các lý thuyết này, vấn đề lí luận được làm rõ hơn bao gồm: người đại diện và người được đại diện trong doanh nghiệp là ai? vấn đề về cơ cấu phân bố quyền lực trong quản trị doanh nghiệp, mô hình của của doanh nghiệp và cơchế chịu trách nhiệm bồi thường của pháp nhân thay cho người đại diện đối với bên thứ ba. Các lý thuyết này cũng là cơ sở nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của người ĐDTPL của doanh nghiệp.

Thứ hai, lý thuyết về đại diện (Agency Theory) với các vấn đề xung đột lợi ích và thông tin bất cân xứng trong quản trị doanh nghiệp được vận dụng đểxem xét cơ chế giám sát người ĐDTPL. Từ góc độ kinh tế học pháp luật, vấn đềphòng tránh mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu doanh nghiệp với người đại diện được đặt ra nhằm điều hòa, đảm bảo lợi ích chung của doanh nghiệp, các bên thứba có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp trong các quyết định của người ĐDTPL. Xungđộtlợiích tồntạitrong cácbộphậnnộibộcủa doanh nghiệp, giữa cổ đông thiểu số và cổ đông đa số, giữa các thành viên trong Hội đồng nắm giữ quyền điều hành với các thành viên không có quyền điều hành. Bên cạnh đó, sự tồn tại vấn đề tiếp cận thông tin bất không công bằng giữa người đại diện với các cổđông cũng là nguyên nhândẫntớisựbấtbình đẳng, kẽhở đểthực hiện các giao dịch tư lợi. Do đó, thiết lập phương thức kiểm soát quyền lực hiệu quảcũng như phânđịnhtrách nhiệm pháp lý rõ ràng khi có hành vi vi phạm pháp luật trở nên cực kỳ quan trọng.

TIỂU KẾT CHƢƠNG 1

Qua phân tích các nội dung tại chương 1, các nội dung tập trung làm rõ bao gồm:

1. Có nhiều lý thuyết pháp lý liên quanđếnvấnđềđạidiệncủadoanh nghiệp bao gồm các lý thuyết về bản chất pháp lý của các công ty (lý thuyết giảtưởng, lý thuyết hiện thực, lý thuyết hợp đồng, lý thuyết tổ chức). Lý thuyết vềđại diện vàcác lý thuyết trong quản trị doanh nghiệp (lý thuyết quản lý, lý thuyết các bên liên quan, lý thuyết hợp đồng xã hội). Mỗi lý thuyết có mỗi quan điểm riêng ảnh hưởng tới cách phân bổ quyền lực trong quản trị doanh nghiệp. Mỗi lýthuyết này được vậndụng khác nhau trong pháp luật các nướctạonênsựđa dạng trong pháp luật các quốc gia về đại diện của doanh nghiệp.

2. Các công trình trongnước và ngoàinước được côngbốđã làm sángtỏphần nào vị trí, vai trò, đặc trưng của ĐDTPL của doanh nghiệp. Đại diện theo

32

pháp luật của doanh nghiệp là vấnđềcóvịtrí quan trọng trong quyđịnhcủa pháp luật doanh nghiệp vì liên quan trực tiếptớihoạtđộngvà sựtồntạicủa doanh nghiệp.

Bên cạnhđó,các yếutốchung như: thẩm quyềnđạidiện, bảovệngườithứba trong quan hệ đại diện của doanh nghiệp, quyền và nghĩa vụ của người đại diện, cơ chếgiám sát cũngđãđược phân tích khá chi tiết và cho thấy nhiềuđiểm tương đồng. Bên cạnh đó, có thể thấy các công trình nghiên cứu nước ngoài chỉ rõmô hình đại diện của doanh nghiệp đa dạng, do sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật đó về nguồn pháp luật, áp dụng án lệ trong quan điểm về pháp nhân và vấn đềđại diện.

3. Trên cơ sở lý thuyết về bản chất pháp lý của công ty, lý thuyết quản lý, lýthuyết các bên liên quan, lý thuyết về xung đột lợi ích và thông tin bất cân xứng trong quảntrịdoanh nghiệp, luận ánđềra nhiệmvụnghiên cứuvà đánh giáĐDTPL của doanh nghiệpởViệt Nam hiện naytừnhiều góc độ. Mục đích hướng tới của luận án là tìm ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquảthực thi pháp luậtvềĐDTPLcủadoanh nghiệp ởViệt Nam trong giaiđoạn tới.

33

Chƣơng 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN THEO

PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP

2.1. Khái niệm đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 2.1.1. Khái niệm đại diện theo pháp luật

Đạidiện là mộtquanhệgiữa các chủthểmà theo đó, mộtcá nhân hay pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của một chủ thể khácđể xáclập và thực hiện mộtgiao dịch. Xã hộicàng phát triển, sựphân công lao độngcàng chuyên nghiệp và phân phối hàng hóa dịch vụ càng phát triển thì đại diện càng trở nên quan trọng. Hay nói cách khác“ở phương diện vĩ mô, nó thúc đẩy phân công laođộngxãhộivà tăng cường giao lưu dân sự, ởphương diện vi mô, nó giúp các chỉ thể thuận tiện hơn trong việc giao kết các hợp đồng” [9; tr 282].

Đâylà chếđịnhpháp luậtđược ghi nhận trong các hệthống pháp luật các nước trênthếgiới do tầm quan trọng của chếđịnhnày. Viện Luật Mỹđã định nghĩa vềđạidiệntạiĐiều1.01 Phần sửa đổiLuậtĐạidiệnlần3 (2006):“Đại diện là mối quan hệ ủy thác được phát sinh khi một người (người được đại diện) thỏa thuậnvớimộtngườikhác (ngườiđạidiện) rằngngườiđạidiệnsẽhành động nhân danh người được đại diện dựa trên phạm viđược đại diện, vàngười đại diện thể hiện sự đồng thuận hoặc đồng ý khác để hành động”[86, tr 1]. Khái niệm này được BLDS Pháp năm 1803, sửa đổi, bổ sung vào năm 2016 ghi nhận:

“Đại diện được xác lập thẩm quyền từ quy định của pháp luật, từ quyết định của tòa án hoặc từhợpđồngchỉđược hànhđộngtrong giớihạnthẩm quyềnđược trao cho người đó” [114, Điều 1153]. Pháp luật Việt Nam ghi nhận khái niệm đại diện trong BLDS năm 2015: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (người được đại diện) xác

lập, thực hiện giao dịch dân sự” [108, Khoản 1 Điều 134].

Nhìn chung, pháp luật các nước đều ghi nhận khái niệm đại diện tương tựnhau, trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ xuất hiện bên trong giữa người đại diện với ngườiđược đạidiện;mốiquanhệbên ngoài giữa ngườiđạidiện với người thứ ba. Trong đó, không thể không lưu ý, chỉ khi người đại diện nhân danh

34

người khác thực hiện hành động trong phạm vi thẩm quyền được mới ràng buộc trách nhiệm của người được nhân danh đó.

Nhằm mục đích xác định các quy tắc pháp lý điều chỉnh phù hợp tính chất của từng quan hệ đại diện (đại diện bắt buộc cho cá nhân, tổ chức hoặc đại diện theo sự ủy quyền của các chủ thể), việc phân loại đại diện được các nhà lập pháp gọi tên. Một trong số các hình thức đại diện đó, có ĐDTPL. Hình thức ĐDTPL là hình thức khôngthểthiếu trong quyđịnhvềđại diệncủa tất cảcác BLDS ởcác quốc gia trên thếgiới. Bởitrong xã hội, pháp luậtcầnquyđịnhhình thức ĐDTPL để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi họ không có khảnăng hoặc không thể tự mình thực hiện giao dịch.

Trong quy định của pháp luật dân sự của Pháp, có thể tìm thấy thuật ngữ: :đại diện theo pháp luật” (legal représentation) tại Điều 1153. Đây là trường hợp mộtcá nhânđược pháp luậtchỉđịnhlà ngườiđạidiện cho cá nhân vídụnhưtrườnghợptrẻchưa thành niên do cha mẹlà ngườiĐDTPL ) hoặc pháp nhân (vídụnhư ngườilãnhđạocông tyđạidiện cho công ty) thực hiện hoạtđộng nhân danh người được đại diện [107]. Có thể thấy rõ trong pháp luật Pháp, thẩm quyền đại diện được hình thành từ ba nguồn: (i) Người đại diện có thẩm quyền được hình thành từ quy định của pháp luật. Ví dụ như cha mẹ là đại diện của trẻchưa thành niên, thành viên HĐQT công ty có quyền đại diện cho công ty theo quy định của pháp luật. (ii) Người đại diện có thẩm quyền được hình thành từquyết định của tòa án: Người đại diện này thường được chỉ định theo quyết định tư pháp như quyết định của thẩm phán trong các vụ việc phá sản. (iii) Đại diện theo ủy quyền: là kết quả của một hợp đồng ủy nhiệm theođó người được đại diện trao quyền chongườiđạidiệnđểthực hiệnmộthànhđộngpháp lý nhân danh họ trong phạm vi giới hạn thỏa thuận [101].

Bộ Luật dân sự của Đức năm 1896, được sửa đổi, bổ sung lần gần nhất năm 2013 không chỉ rõ khái niệm đại diện theo pháp luật (Gesetzlicher vertreter), song quy định về ĐDTPL của pháp nhân tại Điều 26, ĐDTPL cho cá nhân tạiĐiều127, 1626, 1629, 1809 tươngtựnhư pháp luật của Pháp [113].Đốivớicá nhân, quanhệđạidiện áp dụng trong trườnghợpcha, mẹ, người giám hộ là đại diện hợp pháp cho trẻ vị thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự.

35

Tra cứucác vănbảnpháp luật doanh nghiệp khôngthểtìm thấycụmtừdiễn đạt chính xác “đại diện theo pháp luật” trong hệ thống pháp luật của nước Anh mặc dù có tồntạihình thức đạidiện tươngtựnhư thếnhưngdướitên gọi khác nhau. Trong pháp luậtvềđạidiện không có khái niệm“đạidiện theo pháp luật”. Pháp luật của Anh cho rằng đại diện là mối quan hệ tồn tại giữa người được đại diện và người đại diện, theo đó, chức năng của người đại diện là tạo hợp đồng giữa người được đại diện và bên thứ ba hoặc thiết lập đại diện của người được đại diện theo những cách khác nhau. Người đại diện thay mặt cho người được đại diện thực hiện các hoạt động và người được đại diện phải chịu trách nhiệm về hành động của người đại diện trong phạm vi mà người đại diện đã thể hiện ý chí đồng ý một cách rõ ràng (Express agency) hoặc ngầmđịnh(Implied agency) [62; tr28].Đại diện được phân chia thành các hình thức dựa trên sự thể hiện ý chí của các bên chủthể ra bên ngoài và sự ràng buộc trách nhiệm của bên được đại diện. Về cơ bản cóba loạiđạidiện:Đạidiện thựctế(Actual agency),đạidiện rõ ràng (Apparent agency) và đại diện do phê chuẩn (Ratified agency).

Đạidiện thựctế(Actual agency): Hình thứcđạidiện này chia thành hai trường hợp:đạidiện rõ ràng (Express actual agency) vàđạidiện ngầmđịnh (Implied agency).

Đạidiện rõ ràng (Express actual agency) là hình thứcđạidiện theosựchỉđịnh rõ ràng của người được đại diện. Hình thức thể hiện thẩm quyền rõ ràng nhất là dưới dạng văn bản [86,tr42]. Ví dụ như: Công ty đăng ký chữ ký chuẩn trên hồ sơvới ngân hàng cho phép các đại diện của công ty viết séc tín dụng của công ty.

Đạidiện thực tếngầmđịnh(Implied actual agency) là mốiquanhệđại diện có thể được suy ra từ bản chất mối quan hệ của các bên như vị trí người đại diện đang nắm giữ, qua sự thể hiện bằng lời nói hoặc hành vi của của người đại diện như thể người đó có thẩm quyền và người được đại diện thừa nhận điều đó. Quyền hạn ngầm định này không được đề cập cụ thể bởi hợp đồng nhưng được giả định bởi pháp luật hoặc ngầm định bởi bản chất của mối quan hệ [86,tr48]. Ví dụ, trong một doanh nghiệp, tất cả các giám đốc điều hành và nhân viên cấp cao có quyền ra quyếtđịnhtheo chức vụcủa họvà làm phát sinh trách nhiệm của công ty.

36

(i) Đại diện bề ngoài (Apparent agent)

Đại diện bề ngoài là trường hợp người đại diện có hành động là cơsở đểbên thứ ba ngay tình tin tưởng người đại diện có quyền xác lập, thực hiện giao dịch. Đó có thể là lời nói hoặc hành vi của người được đại diện chấp nhận cho mộtngườihànhxửnhư ngườiđạidiện của mình dù trong thựctếkhông cóthẩm quyền hoặc chấp thuận cho người đại diện tiếp tục xuất hiện với vị trí làngười đại diện dù chấm dứt thẩm quyền hoặc có hành động gây hiểu nhầm rằng ngườiđạidiện có thẩm quyềnlớnhơn thẩm quyềnđạidiện mà trong thực tếngườiđónắmgiữ. Do đó, liên quanđếndoanh nghiệp, chủsởhữudoanh nghiệp cóthểtránh phải chịu trách nhiệm bằng cách thông báo công khaivềviệc chấm dứt thẩm quyền cho người thứ ba. Hoặc trường hợp người đại diện bịchấmdứtquyềnđạidiện nhưngngườiđược đạidiệnđã không thông báo cho người thứ ba biết về việc chấm dứt thẩm quyền của người đại diện [86,tr 63,64]. Cósựtươngđồnggiữa đạidiện bềngoài (Apparent Agency)vớiđạidiện (Estoppel Agency) song chỉ có một sự khác biệt giữa hai trường hợp này, đó là:

đạidiệnbềngoài yêucầungườiđạidiệnthểhiện hànhđộngsai sót trong khiđại diện bề ngoài (Estoppel agency) thì không. Ví dụ như: người đại diện thực hiện hành vi trước sự chứng kiến của người được đại diện, người được đại diện im lặng, không ngăn cản người thứ ba ngay tình thực hiện giao dịch, không nói với bên thứ ba rằng người khác là người đại diện của họ.

(iii)Đạidiệncầnthiết (Neccessary agency) là trường hợp khimộtbên (người được đại diện) gặp trường hợp khẩn cấp có thể đe dọa đến tài sản hoặc lợiích của ngườiđược đạidiện, đếnmức không cóđủthời gian cho việc tìm kiếm sự đồng ý của người được đại diện hoặc sự hướng dẫn trước khi thực hiện hành đồng. Khi khôngthểliên lạc vớingườiđược đạidiện, pháp luậtđã chấp nhận cho người đại diện được có quyền làm những gì cần thiết để bảo trì tài sản của ngườiđược đạidiện, vìlợiích của ngườiđược đạidiện [86,tr 91]. Vídụtrong tình huống khẩn cấp, một người đại diện có quyền hành động vì lợi ích tốt nhấtbảovệngườiđược đạidiện khôngbịthua lỗ. Sau khiđã thực hiện công việc, người được đại diện sẽ hoàn trả các chi phí phát sinh trong việc bảo vệ tài sản cho người đại diện. Hình thức này tương tự như thực hiện công việc không có ủy quyền trong pháp luật dân sự của Việt Nam.

37

(iv) Đại diện do phê chuẩn (Agency by ratification)

Đâylà trườnghợpngườiđược đạidiện phê chuẩnmộtthỏa thuận do người đại diện đã ký kết không thuộc thẩm quyền đại diện. Sự phê duyệt này cóthể là một hành động thể hiện rõ ràng hoặc ngầm hiểu của người được đại diện đối với hành vi của người đại diện và việc này sẽ ràng buộc bên thứ ba đối với giao dịch đã xác lập. Nếu không có sự phê chuẩn của ngườiđược đạidiện thìbên thứ ba không bị ràng buộc vào thỏa thuận trái phép đã xác lập với người đại diện không có thẩm quyền rõ ràng. Điều này khác với đại diện rõ ràng (Apparent agency), người được đạidiện và bênthứba bị ràng buộc kểtừthời điể người đại diện và bên thứ ba hoàn thành thỏa thuận [86,tr105,106].

Có thể thấy, pháp luật Anh không trực tiếp đưa ra khái niệm “đại diện theo pháp luật” mà được xen lẫn trong các hình thức đại diện bởi quốc gia này phân loại quan hệ đại diện không dựa trên nguồn gốc phát sinh quan hệ mà dựa trên các yếu tố thể hiện bên ngoài quan hệ đại diện. Đó có thể là hình thức hợp đồng (đại diện thực tế) hoặc tương tự như hành vi pháp lý đơn phương (đại diện cần thiết). Tuy nhiên, ở bất kỳ loại hình đại diện nào, có thể thấy đặc trưng chung của quan hệ đại diện là dựa trên sự thể hiện ý chí rõ ràng hoặc ngầm định, dựa trên yếu tố lỗi của người được đại diện và người đại diện khi thể hiện thẩm quyền trước người thứ bađể từ đó, ràng buộc trách nhiệm của các bên liên quan, bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên thứ ba.

ỞViệt Nam, ĐDTPLđược nhắc đếnrấtnhiều trong các vănbảnpháp luật. Sự tương đồng về khái niệm với quy định của pháp luật của Pháp được tìm thấy trong Điều 135 BLDS VIệt Nam năm 2015: “là đại diện được xác lập theo quyếtđịnhcủacơ quan nhànước có thẩm quyền, theođiềulệ củapháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật”. Thuật ngữ “đại diện theo pháp luật” từ đó được sử dụng để chỉ cáctrường hợp người đại diện được chỉ định theo quy định của pháp luật, bao gồm cả người ĐDTPL của cá nhân và pháp nhân. Rõ ràng, từkhái niệm này có thể thấy các nhà lập pháp ở Việt Nam nhìn nhận kháiniệm ởgóc độ nguồn gốc hình thành quan hệ đại diện chứ không dựa trên tính chất hay mức độ của quyền đại diện. Từ đó, phạm vi thẩm quyền đại diện trong ĐDTPL cũng rộng mở hơn bởi đây là hình thức đại diện luật định.

38

Qua sự phân tích trên, có thể khẳng định ĐDTPL là trường hợp đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.

Lý giải sự khác nhau trong pháp luật các quốc gia Pháp, Đức và Anh, Mỹ. cần xem xét lịch sử phát triển của chế định này. Theo yêu cầu cấp thiết của xãhội với nền kinh tế thị trường, luật pháp thời kỳ trung cổ các nước Châu Âu lục địa đã hình thành lý thuyếtvềvai trò của chủnhân và đầytớtheo đó,những người đầytớđược thay mặtchủnhân thực hiện quyền giao dịch thương mại. Các BLDS tạicác nước Châu Âu như BLDS Phổnăm 1794, BLDS Napoleon năm 1804 của Pháp đều ghi nhận đại diện như là một chế định pháp luật. Tuy nhiên, song song với sự phát triển quy định này, trong pháp luật Anh, việc tiếp nhận lý thuyết về đại diện có xu hướng kiểm soát ít nghiêm ngặt hơn và sửa đổi nhiều khái niệm luật thông thường. Pháp luật Anh quy định về đại diện khá linh hoạt do dựa trên ba nguồn gốc luật độc lập: một là các quy định của luật, hai làcác quy định trong hợp đồng và ba là các án lệ hình thành từ thực tiễn xétxử, từđó xác lập các quy tắc điều chỉnh thích ứng với các vấn đề và yêu cầu riêng biệt của từng trường hợp [93].

Bên cạnh đó, ởnhững quốc gia cónềnkinhtếphát triển và chịu ảnh hưởng của pháp luật La Mã như Pháp, Đức,đại diện được đánh giá là vấn đề cơbản, tập trung vào dấu hiệu và phân tích pháp lý để xác định các hình thức đại diện và hệquảpháp lý tương ứng. Điềunày khácvớihệthống pháp luật các nước Anh, Mỹ: dựa trên nhiều án lệ về tranh chấp kinh tế, dân sự trong quan hệđại diện đã bổ sung rất nhiều yếu tố chứng minh tính chất của các hình thức đại diện bên cạnhdấuhiệu pháp lýđã được pháp luật thành văn quyđịnh.Từđócho thấy pháp luật các nước Pháp, Đức quy định về đại diện theo hướng xử lýkhái niệm có hệ thống với phạm vi có phần hẹp hơn so với xu thế gắn kết các quy tắc vềđạidiệnvớithực tiễn quanhệkinh doanh, thương mại ởAnh, Mỹ[62; tr20]. Xét về tổng thể, từ khái niệm và các quy định của pháp luật, cóthểkhẳngđịnhpháp luật Việt Nam có nhiều nét biểu hiện bên ngoài tươngđồng với pháp luật các nước Pháp, Đức.

Như vậy, đại diện theo pháp luật là một quan hệ giữa các chủ thể mà theođó, mộtngười(gọi làngườiđạidiện) nhân danh và vìlợiích của mộtngười khác(người được đạidiện) để xác lập và thực hiện các giao dịch mà trong đó

39

người đại diện được chỉ định cụ thể với thẩm quyền xácđịnh rõ ràng trong văn bản luật. Do đó, hình thức đại diện theo pháp luật có quy tắc pháp lý riêng biệt vớiđạidiện theoủyquyền.Đốivớiđạidiện theoủyquyền, căncứhình thành phát sinhtừhợpđồngnên quytắcđiềuchỉnh mang tính linh hoạt, phạm viủy quyềnđược xácđịnh dựa trênýchí của cácchủthể.Ngượclại, trường hợp ĐDTPL, quy tắc điều chỉnh phải đảm bảo lợi ích chính đáng của các chủ thể. Bên cạnh đó, “phạm vi ủy quyền được xác định khá mềm mỏng trên căn bản lợi ích củangườiđượcđạidiện,trừkhi pháp luật có quyđịnhkhác (chẳnghạntrongđiều lệ công ty)” [10; tr 285].

1.1.2. Khái niệm đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Doanh nghiệp là từchungđểchỉcác loại hình doanh nghiệp, trongđócông ty làmộtloại hình doanh nghiệp. Hiện nay, công ty là loại hình kinh doanh phát triểnrấtmạnh mẽ. Công ty là mộttổchức kinhtếđược các thành viên góp vốn, thành lập dựa trên thỏa thuận về quản lý, điều hành, thường gọi làĐiềulệvà có thểhuyđộngvốngóp theo từng loại hình công tycụthể. Thuật ngữ doanh nghiệp hay công ty, loại hình phổ biến nhất đều có điểm chung là tổchức kinhtếvớimụcđích kinh doanh [3, tr 9]. Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2020 đã ghi nhận khái niệm này: “doanh nghiệp được hiểu là tổ chức kinh

tếcó tên riêng, có tài sản, cótrụsởgiao dịch, được thànhlậphoặc đăng kýthành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [110, khoản 10Điều4]. “Pháp luậtcủanhiềunước không có khái niệm chungvề“doanh nghiệp” (enterprise) mà chỉ đưa ra định nghĩa pháp lý về từng loại hình doanh nghiệp, nộihàmcủakhái niệm doanh nghiệpđược giải nghĩa thông qua việc chế định đặc điểm pháp lý của những hình thức tổ chức kinh doanh cụ thể (cá

nhân kinh doanh, hợp danh, công ty…). Lúc này, khái niệm doanh nghiệp đồng nghĩa với khái niệm chủ thể kinh doanh (business entity)”[23, tr 64].

Các loại hình doanh nghiệp bao gồm: DNTN, Công ty TNHH, CTCP vàCTHD. Cách phân loại đó trong pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam dựa trên cách thức tổchức doanh nghiệp theo các mô hình kinh doanh. Phân loại theo hình thức và nguồn gốc vốnchủsởhữu, doanh nghiệpđược phân chia thành:

doanh nghiệp trongnước (là doanh nghiệp nhà nước,doanh nghiệp có nguồn vốn ngoài nhà nước) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp

40

và pháp nhân là hai khái niệm không đồng nhất với nhau và được sử dụng cho các mục đích khác nhau. Đề cậpđếndoanh nghiệp là nhắc đến mô hình kinh doanh của tổchức có quy mô hoạtđộngnhấtđịnhnhằm mục đích sinh lợi nhuận. Còn pháp nhân được hiểu là chủ thể của quan hệ pháp luật với các đặc trưng như tính chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các nghĩa vụ về tàisảntrong phạm vi tàisảnpháp nhân có, sự tách biệt tàisảngiữa pháp nhân và chủ sở hữu góp vốn thành lập pháp nhân. Do đó, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và ngườiđạidiện theo pháp luật pháp nhân cũng khôngđồngnhất với nhau. Bởi lẽ,có trườnghợpdoanh nghiệp có tư cách pháp nhân (Công tycổphần, Công ty TNHH, Công ty hợp danh) và có doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân (Doanh nghiệp tư nhân). Ngượclại, có mộtsốtrườnghợpnhư tổ

chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp… là pháp nhân nhưng không phải là doanh nghiệp. Trong phạm vi của luận án, khái niệm doanh nghiệp được trình bày trong luận án không bao gồm loại hình doanh nghiệp tư nhân mà tập trung vào các công ty có tư cách pháp nhân.

Khái niệm về ĐDTPL của doanh nghiệp được quy định độc lập trong văn bảnpháp luật doanh nghiệpmộtsốquốc gia như Trung Quốc, Việt Nam vàkhông hiện diện trong hệ thống pháp luật các nước Pháp, Anh, Mỹ, Nga.

Với nguyên tắc, pháp nhân là thựcthểpháp lý nhân tạo, dođócầncóĐDTPL,vấnđề nàyđượcBLDS Việt Nam năm 2015 và LDN năm 2020 quyđịnh. Hay nói cách khác, những nguyên tắc pháp lý trong hoạtđộngđạidiện của doanh nghiệp dựa trên nền tảng quy định của pháp luật về đại diện của pháp nhân tại BLDS năm 2015. Điều 12 LDN năm 2020 đã ghi nhận: “ĐDTPL của doanh nghiệp là người đại diện nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệpvớitư cáchngườiyêucầugiải quyếtvụviệc dân sự, nguyên đơn,bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòaán và các quyền, nghĩavụkhác theo quy địnhcủapháp luật”. Đólà các cánhânđược pháp nhân chỉ địnhtheoĐiềulệ hoặc là ngườicó thẩm quyềnđại diện theo quyđịnhcủa pháp luật hoặc là ngườido Toà án chỉ địnhtrong quátrình tố tụng tại Tòa án.

So sánh với pháp luật Trung quốc, có thể thấy quy định tương đồng với pháp luật doanh nghiệp Việt Nam. Bộluật Dân sựTrung Quốc năm 2020 có

41

quyđịnh:“Theo quy địnhcủapháp luật hoặc Điềulệcủapháp nhân, người chịu trách nhiệm về các giao dịch nhân danh pháp nhân là người đại diện theo pháp luật”[116,Điều38]. Rõ ràng, khải niệmđã chỉrõngườicó quyền hạn thay mặt pháp nhân là người ĐDTPL của pháp nhân. Đối với Công ty TNHH vàCTCP, trong Luật Công ty Trung Quốc năm 1993, sửa đổibổsung năm 2013 quyđịnhrõvịtrí của ngườiĐDTPL:Chủtich HĐTV là ngườiĐDTPL của Công ty TNHH [124,Điều45], Chủtịch HĐQT là ngườiĐDTPL của CTCP [124, Điều 68]. Luật Trung Quốc quy định chức danh người ĐDTPL riêng tương

tự Việt Nam.

Trong quyđịnhcủapháp luật Pháp, người đại diện pháp lý của công ty chính là người thực hiện các hành động pháp lý nhân danh công ty và bảo vệ lợi ích của công ty. Đó là có nhiều quyền hạn nhất trong công ty, tùy thuộc vào vịtrí của ngườiđólà cổđông hay thành viênhợpdanh. Các nhà lậpphápnước Pháp quan niệm pháp nhân là một sinh vật hư cấu không có năng lực hành vi vàkhông thể thể hiện ý chí của mình, do đó phải thực hiện hành vi pháp lý thông qua người đại diện. Bộ luật Thương mại Pháp không ghi nhận kháiniệm đó độc lập mà quyđịnhquyềnđạidiện thay mặtCông ty trongmọihoạtđộngcho người đại diện Đó có thể là người quản lý trong Công ty TNHH [117, Điều 223- 18] hoặc Tổng Giám đốc điều hành đối với CTCP đại chúng [117, Điều 225-56].

Tìm hiểu Luật Công ty của Anh năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2018 (The Company Act 2006), khái niệm ĐDTPL của doanh nghiệp không tồn tại như một chức danh độc lập. Trong công ty, Giám đốc (Director) hoặc Hội đồng giámđốc (Board of directors) tương đương với HĐQT khi công ty có quy mô lớn, giữ vai trò là người có quyền “hành động theo điều lệ của công ty và chỉ thực hiện các quyềnhạntheo phạm vi, mục đích quyền lực đạidiệnđược trao chohọ”[118,Điều171]. Giámđốccó quyềnđạidiện cho doanh nghiệp theo quyđịnhphân quyền của HĐQT. Thuật ngữ Giám đốc (Director) được định nghĩa tại Điều 250đã chỉ ra phạm vi rộng lớn của vị trí này. Đó có thể là người nắm giữ thẩm quyền của giám đốc dưới các chức danh khác nhau, hoặc là người đã hoặc đang là giám đốc của một công ty không phụ thuộc vào việc đã được bổ nhiệm hợp lệ hay đãđăng ký theothủtụcluật. Ngườikhông có chức danh giámđốc nhưngđã và đang thực hiện các chức năng pháp lý thực tế của một giámđốc,đưara các loại

42

quyếtđịnhmà các giámđốcthườngđưara cũng được xácđịnhlà Giámđốc [118, Điều 155].

TạiMỹ, các tiểu bang có các đạoluật công ty riêng, song các tiêu chuẩn tối thiểu cho việc mua bán cổ phần trên thị trường chứng khoán được liên bang quy định. Hầu hết, các tập đoàncủa Mỹđược thành lập theo Luật tổng công ty bang Delaware. “Delaware là sự lựa chọn hàng đầu cho các doanh nghiệp giao dịch công khai, dẫnđến nhiều tranh luận cho rằng Delaware đãdẫnđầumột cuộc chay đua đến ngọn nguồn trong Luật doanh nghiệp” [30, tr697]. Bên cạnhđó, 24 tiểu bang tuân theo Đạo luật công ty cổ phần kinh doanh kiểu mẫu, một mô hìnhđượcỦyban pháp luật doanh nghiệp thuộc Hiệphộiluật sưcủaMỹsoạn thảo. Luật doanh nghiệp bang Delaware không khác pháp luật Anh khi quyđịnh:HĐQT (Board of director) và các giámđốc (Director) có quyềnđạidiện cho doanh nghiệp. Các giám đốc công ty phải chịu trách nhiệm đối với việc quản lí kinh doanh và những việc của công ty [122, Điều141]. Các công ty phải cóngườiđạidiện như là thư ký đăng ký (Registerde agent) với cơ quan quản lídoanh nghiệp như là mộtđịa chỉ nhận thông báo, giấytờ liên quanđếndoanh nghiệp. Thư kýđạidiện phải thỏa mãn điều kiện phải cư trú(đốivới cá nhân) hoặc có giấy phép kinh doanh, văn phòng kinh doanh hoạtđộngthường xuyên (đối với công ty) tại tiểu bang Delaware [122, Điều 132].

Tươngtựnhư Anh và Mỹ, BLDS Nga năm 1996, sửađổibổsung năm 2003 không ghi nhậnngườiĐDTPL của pháp nhân. TạiĐiều53, BLDS Nga cho rằng: Pháp nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụdânsựcủa mình thông qua các cơ quan của pháp nhân, là những cơ quan có thẩm quyền được xác định theo quy định của pháp luật hoặc Điều lệ pháp nhân [115, Điều 53]. Trong các quy định về cơ cấu tổ chức và loại hình công ty không đề cập đến ĐDTPL. Có

lẽ, theo quan điểm việc thực hiện quyền của người quản lý được hiểu là hành vi trực tiếp thực hiện năng lực pháp lý của pháp nhân, cho nên thuậtngữngười ĐDTPL là không chính xác về mặt pháp lý [91]. Rõ ràng, soi chiếu vào các lýthuyết bản chất pháp lý của công ty, có thể thấy rõ bóng dáng lý thuyết tổ chứcảnh hưởng quy định của pháp luật.

Pháp luật Nhật Bản không nằm ngoài cách tiếp cận đó khi quy định ĐDTPL chính là người quản lý công ty trong Luật Công ty Nhật Bản năm 2006: “người quản

43

lý có quyền thực hiện bất kỳ và tất cả các hành vi pháp lý và phi tư pháp nhân danh công ty liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình”[66, Điều 11.1].

Tổng hợp lại, có thể thấy, các nước tiếp cận khái niệm ĐDTPL của doanh nghiệp từ các góc độ khác nhau. Trong đó có một số quốc gia không xem quyềnđạidiện là quyềnlựcđộc lập trong quảntrịdoanh nghiệp nên không xây dựng khái niệm độc lập trong pháp luật, một số quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc thì ngược lại.

Thứnhất, cầnkhẳng định, dù cách tiếpcậnkhác nhau nhưng các quốc gia có điểm chung trong việc khẳng định sự tồn tại của ĐDTPL của công ty cótư cách pháp nhân. Người đạidiện là cầnthiếtđểthay mặtdoanh nghiệp giao kếthợpđồng, thực hiện vai trò là nguyênđơnhoặc bịđơntrước Tòa án, thực hiện các quyền năng liên quanđến sởhữutài sản. Xét riêngvềtư cách pháp nhân, BLDS Việt Nam quy định tổ chức là pháp nhân phải có đủ 4 điều kiện: cócơ cấutổchức chặt chẽ, được thànhlậphợppháp, có tàisảnriêng và tựchịu trách nhiệm bằng tài sản của chính pháp nhân (trách nhiệm hữu hạn về tài sản), nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật. Từ góc độ lí thuyết, không nên nhầmlẫngiữa tư cách pháp nhânvớichếđộtrách nhiệmhữuhạn. “Trách nhiệm hữuhạnlàhệ quả hợplý củasựtồntạinhân cách riêng biệt của pháp nhân. Tuy nhiên có trườnghợpngoạilệlà các chủthểthànhlậppháp nhân thỏa thuận loại trừ tính chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản của pháp nhân do những đặc trưng trong ngành nghề kinh doanh. Một công ty có thể có tư cách pháp nhân mà không bị giới hạn trách nhiệm về tài sản bằng cách ký một bản ghi nhớ và nộp nó cho Cơ quan đăng ký công ty“[87].

Một pháp nhân khi thực hiện năng lực pháp luật trao cho họ cũng cần cóngười đại diện hoạt động. Do vậy, ĐDTPL được tạo ra, cần thiết và bắt buộc đểđảm bảo chức năng hoạt động của pháp nhân và là hiện thân của pháp nhân. Khi nhân danh pháp nhân trong giao dịch với bên thứ ba, ĐDTPL của pháp nhân sẽlàm cho bên thứ ba cảm thấy an tâm, có sự chắc chắn về mặt pháp lý khi một ngườicó đủthẩm quyềnđược côngbốtrong quá trình giao dịchđảmbảovềtính hợp lệ của các thoả thuận đã và đang hình thành với pháp nhân.

44

Thứhai, lí giải nguyên nhân của sựkhôngđồngnhất trong việc hình thành và quy định khái niệm ĐDTPL của doanh nghiệp giữa các quốc gia cần xem xét bối cảnh lịch sử quy định về luật công ty và lý thuyết pháp lý chủ đạo ảnh hưởng đến pháp luật quốc gia đó. Có nhiều lý thuyết pháp lý có liên quan bản chất pháp lý của công ty với cách tiếp cận đa dạng như đã phân tích tại mục 1.1 của phần tổng quan. Có thể khẳng định có nhiều lý thuyết pháp lý liên quanđến bản chất pháp lý của công ty song không có một lý thuyết nào chiếm vai tròchủ đạovà giải thích bao trùmđược tấtcả các vấn đề. Trong những năm cuối thếkỉ19, các cuộc thảo luận của các nhà luậthọcngườiĐứcxoay quanh hai chủđềchính: pháp nhân là thực thểhư cấu được pháp luật trao cho năng lực pháp luật và cần có người đại diện để thực hiện tư cách chủ thể với bên ngoài theo quan điểm của lý thuyết giả tưởng (Fiction Theory) [69, tr907] hay là một chủ thể tồn tại trên thực tế, có ý chí riêng và có khả năng hành động thông qua các cơ quan của nó theo quan điểm của lý thuyết hiện thực (Realistic Theory).

Tuy nhiên theo lý thuyết hiện thực, các cơ quan của pháp nhân – lãnhđạo của pháp nhân khôngđược xem như ngườiđạidiện của pháp nhân mà chỉlà một thành phần cấu tạo nên tổ chức, ràng buộc trách nhiệm của pháp nhân với bên thứ ba [75, tr4-6]. Đầu thế kỷ XX, lý thuyết này được tiếp nhận các nước Anh, Mỹ và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến pháp luật công ty các nước. Cùng với sự tiếp nhận trên cơ sởnềntảng hai trường phái đó, xuất hiện các lý thuyết pháp lýcông ty ủng hộ hai quan điểm trên. Lý thuyết nhượng bộ, lý thuyết biểu tượng (Symbol Theory), lý thuyết mục đích (Purpose Theory) [9,tr 166], [75] cùng cóquan niệm chung với lý thuyết giả tưởng ở điểm: công ty là một pháp nhân hay thực thể nhân tạo không tồn tại thực tế mà chỉ được xác định trong luật. Sự tồn tạicủa pháp nhânvớinăng lực pháp luật hoàn toàn do pháp luật trao cho. Dođó, công ty thiếu vắng ý chí và khả năng để hành động một cách độc lập. Công tychỉcóthểhànhđộngthông quangườiđạidiện pháp lý, chủthểcó thẩm quyền và địa vị pháp lý được quy định rõ trong luật. Công ty không có khả năng gánh chịu các trách nhiệm hìnhsựmà các cá nhân phải chịu trách nhiệm liên quanđếnhành vi vi phạmcủahọ[75, tr7]. Cóthểthấy cáchọcgiảủnghộlýthuyết này cho rằng tư cách pháp nhân có thể gán cho bất kỳ nhóm nào có khả

45

năng biểuđạtýchítậpthểđểbảovệlợiích hợpphápchứkhông phải là dựa trên sự tồn tại của ý chí thực của chủ thể. Khả năng biểu đạt ý chí đó được thểhiện bằng phương tiện: người đại diện của chính pháp nhân đó.

Ủnghộtrường phái hiện thực (Realistic Theory) là các lý thuyết: lýthuyếttổchức (Organic Theory) phát triển vào những năm cuốithếkỷXIX [75, tr6]. Theo lý thuyết này, công tytồntạitrên thực tế, cóýchí riêng của mình và hành động thông qua các cá nhân là các cơ quan của nó, tương tự nhưconngườitựnhiên. Hay nói cách khác, các cơ quan của công ty, cụthểlà HĐQT và ĐHĐCĐ, khi hành động trong giới hạn thẩm quyền do Điều lệ công ty quy định, khôngchỉđược coi là đạidiện của công ty mà cònđược coi làchính công ty đang hành động. Một lý thuyết khác là lý thuyết hợp đồng (The Nexus of contract)được ra đờikhẳngđịnhcông tyđượctạothànhtừtậphợp các mối quan hệ từ hợp đồng giữa các thành viên thành lập công ty [75, tr7].

Các lý thuyếtgiảtưởngđược các nước lớncủa hệthống Luật Châu Âu

lục địa (Civil Law) như Đức,Pháp chấp nhận và trởthành cơ sởlý luận của pháp luật về pháp nhân. Minh chứng điều này thể hiện rõ qua các quy định các công ty, hiệp hội bắt buộc phải đăng ký với cơ quan Nhà nước và tư cách pháp nhân chỉ có được sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký. Do đó, khái niệm ĐDTPL

tồn tại bởi cần cómột người đại diện để “hiện thân”doanh nghiệp làm việc với người thứ ba và chính quyền xuất phát từ vai trò quan trọng về mặt kinh tế vàxã hội của nó. Tuy nhiên, sự giải thích và thuyết phục của lý thuyết giả tưởng không thuyết phụcđược các quốc gia Anh, Mỹ[75, tr11]. Các quốc gia nàyđánh giá cao lý thuyết hiện thực, do đó không có khái niệm ĐDTPL trong luật

công ty các nước Anh – Mỹ. Theo đó, công ty là sự tồn tại của một chủ thể tự nhiên,được thành lập bởi các cổ đông, do đó, nó có sự tách biệt với cổ đông, có ý chí vàmục đích rõ ràng. Ý chí đó được thể hiện thông qua vai trò của HĐQT với tư cách “đầu não” của con người này. Trong trường hợp công ty có người quản lý thì người quản lý sẽ có quyền đại diện dựa trên mối quan hệ ủy thác. Từ đó, khi tìm hiểu vềkhái niệm đại diện của công ty trong luật Anh, Mỹ thường được liên hệ tới mối quan hệ đại diện theo ủy thác với các quy định và đặc điểm, hình thức đại diện được xácđịnh theo thuật ngữ “Agency law” (pháp luật về đại diện).

46

2.2.Bản chất pháp lý của đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

2.2.1. Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là đại diện do pháp luật quyđịnh, khôngthểnhầm lẫn vớiquyền đạidiện củacác chủthểkhác trong doanh nghiệp

Tính chất đương nhiên của đại diện của doanh nghiệp được hiểu là sự tồn tại bắt buộc phải có, được quy định trong LDN như là yêu cầu của Nhà nước đối với doanh nghiệp. Quyđịnhnày xuất pháttừvai trò thiết yếu, là hiện thân của doanh nghiệp, sựtồntạibắtbuộcđểđảmbảochức năng hoạtđộngcủa doanh nghiệp. NgườiĐDTPL là cá nhânđạidiện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Do đó, thẩm quyềnđạidiện này là thẩm quyền đạidiện đương nhiên, bắt buộc phải có, nhằm thực hiện các quyền mà doanh nghiệp có. Đâylà nhântốthực hiện các hành vi pháp lýđốivớibên ngoài của doanh nghiệp. Người ĐDTPL nhân danh doanh nghiệp nên các giao dịch khôngđược người ĐDTPL xác lập thì không có giá trị ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp.

Nếuxétđếnbảnchất của doanh nghiệp tiếpcậntừlý thuyếtgiảtưởng (Fiction Theory)được chấp nhận rộng rãiởcác nước theohệthống pháp luật Châu Âu lục địa , vai tròngườiđạidiện của doanh nghiệp ởđâylà mộtthuộc tính tự nhiên bởi xét đến cùng, hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động của các cá nhân những người đại diện. Khi các công ty được thành lập thì cần gán ý chícủa thểnhân vào nhómđểthểhiệnđược ýchí của nhóm đó. Có nhiều trường hợp, khi có nhiều thể nhân đại diện cho nhóm thìcác quyết định tập thể để đạt được lợi ích chung, buộc phải ra quyết định theo cơ chế biểu quyết với tỷ lệ sốphiếu thuận. Đặc trưng này được thể hiện rõ trong quy định của LDN, Điều lệ vàquychếnộibộcủa các doanh nghiệp. Đặttrong trường hợp, tiếpcậntheo lýthuyết hiện thực (Realistic Theory), lý thuyết tổ chức (Organic Theory), công ty là một thực thể riêng biệt tách rời với cổ đông thành lập và chỉ có thể hoạt động thông qua thể nhân. Những hành động của các thể nhân thuộc Ban lãnhđạo cấp cao cũng là hành động của công ty, do đó, tính chất đại diện đầy đủ ở đây không thể bàn cãi.

47

Xuất phát từ tính chất đại diện theo luật định với thẩm quyền đầy đủ, cóthể thấy rõ bản chất quyền đại diện này khác với các quyền đại diện của các chủthểkhác trong doanh nghiệp như:đạidiện thươngmại(đạilý), ngườiquản lý, người đại diện theo ủy quyền hay nhân viên của công ty khi thực hiện hoạt động nhân danh doanh nghiệp.

*NgườiĐDTPL củadoanh nghiệpvớingười quản lý điều hành doanh nghiệp

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *