Địa vị pháp lý của Quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tếthịtrường là môi trường lý tưởng đểphát triển Doanh nghiệp (DN), Hợp tác xã (HTX). Thông qua các cơ chếcủa thịtrường, nhiều DN, HTX đãmởrộng sản xuất, kinh doanh, không ngừng thiết lập những quy mô mới và nâng tầm danh tiếng trên thị trường. Tuy nhiên, cũng với những cơ chế đó đã tạo ra một cuộc cạnh tranh khốc liệt, dẫn tới không ít DN, HTX không đáp ứng đủ các yêu cầu của thịtrường đã phải ―hụt hơi‖ trong cuộc đua giànhthịphần, hoạtđộng sản xuất ngưng trệ, các khoản nợgia tăng, mất khảnăng thanh toán và kếtquảlà lâm vào tình trạng khánh kiệt về tài sản dẫn đến phá sản.
Để giải quyết tình trạng phá sản của các DN, HTX, cơ chế tự nhiên cho phép DN đó tự ngừng sản xuất và rút lui khỏi thị trường. Tuy nhiên, đối với các DN cótình trạng nợ, cơ chế này sẽ dẫn tới hệ lụy tiêu cực về thanh toán nợ cho các chủ nợ. Theo đó, DN, HTX sẽ tự ý tiến hành trả nợ riêng rẽ, ưu tiên các con nợ thân quen hoặc đòi nợ trước, dẫn tới các chủ nợ khác bị ảnh hưởng quyền lợi do ít thân quen hơn hoặc do đòi nợ sau. Điều này nhìn rộng ra ảnh hưởng rất tiêu cực đến hoạt động kinh tếvà an ninh, trậttựxã hội. Chính vì thế, khi lâm vào tình trạng khánh kiệt, các DN và HTX phải tuân theo một thủtục pháp lý được nhà nước quyđịnh chặt
chẽ với tên gọi là thủ tục phá sản – vốn được hiểu sát nghĩa là một thủ tục đòi nợtập thể.
Thủtụcphá sản có mục đích cuối cùng giúp cho quá trình rút lui khỏi thịtrường của một DN, HTX diễn ra trong trật tự và việc thanh toán nợ cho các chủ nợđược thực hiện theo nguyên tắc công bằng, bình đẳng và hợp lý. Thẩm quyền tuyên bố phá sản thông thường được trao cho Toà án cùng với sự tham gia của con nợ vàcác chủ nợ. Mỗi chủ thể kể trên đều có một mục đích khác nhau trong quan hệ pháp luật về phá sản, do đó rất cần đến một chế định trung gian để thay mặt tất cả họ điều phối lợi ích chung. Chế định đó được gọi là Quản tài viên (QTV) hoặc Quản trị viên tuỳ vào từng nền pháp lý.
QTV có bản chất làđịnh chếtrung gian, là người không có quyền và lợi ích liên quan đến thủtục phá sản DN, HTX trước khi được chỉđịnh tham gia thủtục đó. Định chế này có địa vị pháp lý độc lập, được các chủ thể thừa nhận và thay mặt các chủ thể thực hiện các thủ tục giải quyết phá sản cho DN và HTX. Trongđó, chủyếu là quản lý, thanh lý sản nghiệp phá sản và thanh lý nợ cho các chủ nợ. Cơ sở để
1
QTV thực thi nhiệm vụ là quy định của pháp luật, chính vì thế sự ghi nhận của pháp luật phásản về địa vị pháp lýcủa QTV đóng vai trò cốt lõi đối với việc xáclập vịtrí, vai trò của định chế này trong thủ tục phá sản.
Tại Việt Nam, QTV được pháp lý hoá từnăm 2014 với Luật Phá sản năm 2014 nhằm thay thế cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản tồn tại trong các văn bản pháp luật vềphá sảntrước đó. Địa vịpháp lý của QTV cũng đượcLuật Phá sản năm 2014 và văn bản hướng dẫn thi hành quy định tương đối chi tiết, tạo điều kiện xác
lập một nghề mới và cũng là cơ sở thể hiện vị trí, vai trò của QTV trong giải quyết thủ tục phá sản ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, cho đến nay, sau hơn sáu năm xác
lập, địa vị pháp lý của QTV vẫn còn chưa hoàn thiện. Nhiều cấu thành địa vị pháp lý quan trọng của QTV còn thiếu hoặc chưa được làm rõ như: trình tựthực hiện nghiệp vụcủa QTV chưa được xây dựng; cơ chếđảmbảo thù lao cho QTV chưa vững chắc; một số nội dung quyền và nghĩa vụ của QTV còn chung chung và chưađược văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành; điều kiện được chỉđịnh tham gia thủ
tục phá sản của QTV chưa chi tiết, vẫn còn những yếu tố cảm tính, không có đơn vị
đo lường… Sự thiếu đầy đủ này của địa vị pháp lý của QTV khiến cho việc thực thi địa vịnày trên thực tiễn gặp nhiều hạn chế. Thực tếcho thấy,đến nay QTV vẫn chưa được xem là một nghề, thay vào đó chỉ là một hoạt động kiêm nhiệm; nhiều vụviệc phá sản kéo dài trên mười năm do không thể tìm ra phương án giải quyết thùlao cho QTV; tình trạng các QTV từchối tham gia khi có sựchỉđịnh của toà án diễn ra nhưng không có cơ chếgiải quyết; những người có chứngchỉhành nghề
QTV thiếusựhứng thú, gắn bó với công việc… Những khuyết điểmnày làm cho hoạt độngcủa QTV trên thực tế chưa được đánh giá cao và các thủ tục phá sản DN, HTX gặp nhiều khó khăn, thời gian kéo dài gây thiệt hại công sức, tiền của cho cảcon nợ, chủ nợ lẫn nhà nước.
Thực tiễn này đòi hỏi phải có một hoạt động nghiên cứu khoa học bài bản vềđịa vị pháp lý của QTV và thực tiễn thực thi địa vị pháp lý của QTV hiện nay, để có những đánh giá, đề xuất hoàn thiện địa vị pháp lý của định chế này. Tuy nhiên, dưới góc độkhoa học, cho đến nay nghiên cứu về QTV nói chung còn hạn chế, nghiên cứu trực tiếp địa vị pháp lý của QTV ở quy mô lớn dường như chưa được thực hiện. Xuất phát từnhững vướng mắctrong thực tiễn và khoảng trống trong nghiên cứu khoa học trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: Địa vị pháp lý của Quản tài viên
2
theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 9. 38. 01. 07.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Luận án được nghiên cứu nhằm mục đích đề xuất các giải pháp hoàn thiện quyđịnh của pháp luật phá sản hiện hành ở Việt Nam về địa vị pháp lý của QTV.
Đểđạtđược mục đích nghiên cứu kểtrên, tác giảxácđịnhcác nhiệm vụnghiên cứu của luận án như sau:
Thứ nhất, hệ thống và phân tích lịch sử nghiên cứu vấn đề địa vị pháp lý của QTV theo luật phá sản. Từ đó rút ra được những đánh giá, nhận định về tình hình nghiên cứu cũng như xác định các ―khoảng trống‖ nghiên cứu của đề tài luận án.
Thứ hai, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến địa vị pháp lýcủa QTV trong pháp luật phá sản như: khái niệm; bản chất; đặc điểm; mục đích và ýnghĩa; các cấu thành địa vị pháp lý của QTV theo pháp luật phá sản.
Thứ ba, dẫn chiếu và phân tích thực tế địa vị pháp lý của QTV ở một số quốc gia trên thế giới và rút ra các kinh nghiệm cho Việt Nam,.
Thứ tư, thống kê và phân tích thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam vàthực tiễn thực hiện các quy định pháp luật đó về địa vị pháp lý của QTV giai đoạn từ năm 2015 đến nay. Trên cơ sở đó, tiến hành đánh giá thực trạngđể rút ra được những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân.
Thứ năm, xác lập các quan điểm, xây dựng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của QTV theo pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là các quy định pháp luật và thực hiện các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của QTV.
3.2. Phạm vi nghiêncứu
– Phạm vi không gian: phạm vi không gian nghiên cứulý thuyết của đềtài luận án bao gồm cả ở Việt Nam và trên thế giới. Phạm vi nghiên cứu thực tiễn và giải pháp của đề tài luận án là trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
– Phạm vi nội dung: phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án là Luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế.
– Phạm vi thời gian: phạm vi thời gian nghiêncứu của đề tàiluận án được xác định từ năm2015 đến hết năm 2020. Năm 2015 là thời điểm có hiệu lực của Luật
3
Phá sản năm 2014 (hiện hành),đồngthời đây cũng là thời điểm chế định về QTV
lần đầu tiên có hiệu lực trên thực tiễn. Năm 2020 là năm có báo cáo tổng kết hoạt động gần nhất so với thời điểm hoàn thành luận án (2021). Đồng thời, các giải phápđược luận án đềxuất có phạm vi thời gian áp dụngđịnh hướng đến năm 2025 vàmở rộng đến năm 2030.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận
Phương pháp luận nghiên cứu của đề tài là những lý luận cơ bản của phương pháp nghiên cứu đượctác giảsửdụng trong luận án. Theo đó, phương pháp luận chung được sử dụng là Triết học Mác-Lênin bao gồm hai phương pháp luận cụ thể: lý luận chủ nghĩa duy vật lịchsử vàchủ nghĩa duy vật biện chứng. Cụ thể, lý luận chủnghĩa duy vật lịchsửđặt ra yêu cầutiến trình lịch sửcủaviệcsửdụng các phương pháp nghiên cứu và chủ nghĩa duy vật biện chứng đặt ra yêu cầu về quan hệtương hỗ, kế thừa của các phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, trong bối cảnh xãhội Việt Nam hiện nay, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế thị trường và vấn đề pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng là phương pháp luận của đề tài luận án.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Đềtài được thực hiện bởi nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Trongđó, tác giảchia thành hai nhóm phương pháp nghiên cứu sau: Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận và Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn của đề tài luận án.
a. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
– Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp. Bằng cách thu thập các tài liệu thứcấp gồm: sách, báo, báo cáo khoa học và pháp luật thực định, tác giảtiến hành nghiên cứu, sàng lọc và tập hợp các thông tin thứ cấp nhằm tạo nguyên liệu thông tin đầuvào cho hoạt động nghiên cứu.Đâylà phương pháp thu thập thông tin cơbản trong nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận. Phương pháp này chủyếu được vận dụng tại Chương 1 và Chương 2 của luận án.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp. Sau khi đã có được những thông tinđầu vào từ phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để tiến hành làm sâu sắc các thông tin lý luận. Sau đó cùng với tư duy nghiên cứu khoa học của bản thân, tác giảsẽtiến hành tổng hợp các luận điểmlý
4
luận của đề tàithành các vấn đề nghiên cứu cần làm rõ. Phương pháp này chủ yếu được vận dụng tại Chương 1 và Chương 2 của luận án.
– Phương pháp so sánh luật học. Phương pháp nàyđược tác giảsửdụng tập trung chủ yếu tại Chương 2 của Luận án bằng cách nghiên cứu thực tiễn quyđịnh pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và so sánh với nhau nhằm tìm ra những điểm khác biệt.
– Phương pháp lịch sử. Phương pháp này được sử dụng nhằm làm rõ diễn trình lịch sử của những vấn đề lý luận của đề tàiluận án. Bằng cách thống kê, phân tích,đánh giá diễn trình lịch sửđó,tác giảsẽrút ra đượcnhững giá trịlý luận cầnkếthừa trongđềtài luận án. Phương pháp này chủyếu đượctác giảsửdụng trong Chương 1 và Chương 2 của luận án.
b. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp. Bằng việc thu thập và nghiên cứu các báo cáo thực tiễn, các luận văn, luận án và các bài báo khoa học có đề cập đến vấn đề thực tiễn pháp luật và thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV, tác giảcó được các thông tinthứcấp đểcùng với phương pháp quan sát khoa học hoàn thiện hệ thống dữ liệu về nghiên cứu thực tiễn phù hợp với nhu cầu của đề tài.
– Phương pháp phân tích, thống kê. Trên cơ sở những dữ liệu cóđược, tác giảtiến hành phân tích để làm sâu sắc các vấn đề thực tiễn của đề tài. Từ đó tiến hành thống kê những vấn đề thực tiễn cần đối chiếu để làm rõ và đưa ra những nhận địnhđánh giá về cả thực tiễn pháp luật và thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV. Phương pháp này ứng dụng chủ yếu tại các mục của Chương 3 và Chương 4.
– Phương pháp quan sát khoa học. Phương pháp quan sát là mộttrong ba phương pháp thu thập dữ liệu của đề tài. Theo đó, tác giả tiến hành quan sát trực quan hoạt động của QTV trong một số vụ việc phá sản tiêu biểu để rút ra được những kết luận mang tính trường hợp về thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV trên thực tế. Phương pháp này được sử dụng trong mục 3.3 của Chương 3.
– Phương pháp lịch sử. Phương pháp này được sử dụng tại mục 3.1 nhằm khái quát lịch sử hình thành của luật phá sản cũng như địa vị pháp lý của QTV trong luật phá sản. Phương pháp này còn được sử dụng một phần ở mục 3.2 khi phân tích thực trạng quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của QTV.
– Phương pháp chuyên gia. Phương pháp chuyên gia được thực hiện thông qua các hình thức như: tham dự hội nghị, hội thảo và tham khảo ý kiến các chuyên gia về vấn đề
5
cần nghiên cứu nhằm làm phong phú hơn nhận thức về lý luận và thực tiễn địa vị pháp lýcủa QTV. Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt đề tài luận án và được biểu hiện chủ yếu bằng kết quả nghiên cứu của mục 4.2 thuộc Chương 4 của luận án.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có những đóng góp mới về khoa học sau:
Luận án góp phần kiến giải những vấn đề lý luận mới về QTV và địa vị pháp lý của QTV. Quađólàm rõ nhữngnộihàm nội dung vềđịavịpháp lý của QTV hiện nay.
Bên cạnh đó, luận án còn cung cấp một bức tranh toàn cảnh thực tiễn về các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật phásản Việt Nam vềđịavịpháp lý của QTV. Qua đó,luận án đã đánh giá, phân tích thực trạng quy định của pháp luật cũng như kết quả thực hiện các quy định của pháp luật vềđịavịpháp lý của QTV ởViệt Nam trong thời gian qua. Những kết quảnghiên cứu nàysẽgóp phần bổkhuyết vào những khoảng trống trong nghiên cứu thực tiễn về vấn đề địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam hiện nay.
Những giải pháp đượcluận án nghiên cứu đềxuất cũng là những đóng góp mới quan trọngvềmặt khoa học. Những giải pháp nàyđược rút ratừhoạtđộng nghiên cứu, đánh giá thực tiễn và sẽcung cấp thêm những ý tưởng, giải phápvềhoàn thiện pháp luật và nâng cao địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa khoa học
Luận án góp phần làm phong phú, đa dạng thêm những giá trị khoa học về địa vịpháp lý của QTV nói riêng và pháp luật về phá sản nói chung. Bên cạnh đó, trên cơ sởnhững kết quả nghiên cứu, luận án hứa hẹn sẽ là sự gợi mở về những hướng nghiên cứu mới liên quan đến pháp luật về phá sản và vai trò của QTV trong thủ tục phá sản.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu thực trạng của luận án cung cấp cho các nhà quản lý một bức tranh tổng thể về quy định và thực hiện các quy định của pháp luật phásản hiện hành về địa vị pháp lý của QTV. Đồng thời, với những phân tích, đánh giáthực tiễn và đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao thực tiễn đó nếu được các nhà quản lý đồng thuận sẽ trở thành một tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho những dựđịnh cải cách sắp tới. Bên cạnh đó, luận án cũng có thể trở thành tài liệu có giá trị
6
phục vụ cho công tác giảng dạy ở bậc đại học và sau đại học các ngành Luật Kinh
tế; Thương mại… ở những góc độ nhất định.
7. Kết cấu của Luận án
Luận án ngoài Phần Mởđầu; Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì phần Nội dung chính được kết cấu thành 04 Chương theo kiểu truyền thống. Gồm:
– Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu;
– Chương 2. Những vấn đềlý luậnvềđịa vịpháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản;
– Chương 3. Thực trạng địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam và thực tiễn thi hành.
– Chương 4. Hoàn thiện pháp luật và nâng cao địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay
7
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở phạm vi nƣớc ngoài
1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài luận án
a. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về phá sản
b. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của QTV
1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đềthực tiễn liên quanđến đề tài luận án
1.1.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề kiến nghị, giải pháp liên quan đến đề tài luận án
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở phạm vi trong nƣớc
1.2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài luận án
1.2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đềthực tiễn liên quanđến đề tài luận án
1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 1.3.1. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được
Các nghiên cứu được thống kê ở trên cả phạm vi trong và ngoài nước đã đạt được những kết quả sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu đã l m rõ được những vấn đề lý luận về QTV dư i các góc đ ti p cận khác nhau. Kết quả phân tích tình hình nghiên cứu cho thấy, các công trình ở những cấp độ khác nhau trong và ngoài nước (đặc biệt là ngoài nước) đã làm rõ những vấn đề lý luận quan trọng của QTV gồm: khái niệm, bản chất pháp
30
lý và cấu thành quyền và nghĩa vụ. Các vấn đề lý luận này mặc dù không đồng nhất do góc độ tiếp cận nghiên cứu khác nhau (chủ yếu dựa trên góc độ tiếp cận nghiên cứu luật thực định, mà mỗi quốc gia lại có sựghi nhận khác nhau vềQTV), song những kết quảnghiên cứu nàyđã làm sinh động, đa dạng nội dung lý luận vềchếđịnh QTV.
Thứhai, các nghiên cứu đã l m rõ được những quy định của pháp lý hiện hành vềQTV. Theo đó, các nghiên cứu tuỳvào phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu đã làm rõ được các cơ sở pháp lý thực định về QTV ở dưới các góc độnội dung: chỉ dẫn pháp lý; tên gọi; nội dung được điều chỉnh bởi pháp luật thực định của QTV (vấn đề tiêu chuẩn; quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm bất lợi). Mặc dù các nghiên cứu về thực tiễn pháp lý này có nội dung phụ thuộc chặt chẽ vào phạm vi thời gian và không gian nghiêncứunên thiếu tínhđồngnhất trongkếtquảcôngbố,tuy nhiên chính đặc điểm này lại cung cấp những giá trị so sánh luật học hết sức quan trọng để cho thấy được quan điểm trong lập pháp của các quốc gia về vấn đề QTV.
Thứba, các nghiên cứu đã phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện các quyđịnh của pháp luật về QTV. Ở cả các nghiên cứu trong và ngoài nước kết quả đều hướng tới việc phân tích và đánh giá thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật vềQTV. Đây là kết quả đi liền sau sự phân tích quy định của phápluật thực định vềchếđịnh này. Kết quảcủa các nghiên cứu cũng phụthuộc hoàn toàn vào phạm vi không gian và thời gian của nghiên cứu nên đã cung cấp một bức tranh sinh động vềcách thức thực hiện và kết quả thực hiện quy định của pháp luật về QTV ở các quốc gia và các thời kỳ khác nhau. Kết quả đạt được giá trị nhất của vấn đề nghiên cứu này là những phân tích, đánh giá về ưu và nhược điểm, những mặt tích cực và tiêu cực của thực trạng thực hiện pháp luật về QTV ở các quốc gia, các thời kỳ. Kết quảnày cung cấp một bài học kinh nghiệm quý giá cho học giới về vấn đề QTV.
Thứ tư, các nghiên cứu cũng đã đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về QTV. Dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về QTV, các nghiên cứu cũng đã đưa ra những đềxuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảthực hiện pháp luật vềQTV ở những phạm vi lãnh thổ nhất định. Các giải pháp này đều có giá trị áp dụng ở nhữngmức độ nhất định ở không gian nghiên cứu của cácđề tài,đồngthời cóýnghĩa tham khảo quan trọng trong việc nghiên cứu giải pháp áp dụng cho các địa bàn nghiên cứu khác.
31
1.3.2. Những vấn đề đặt ra cần được luận án tiếp tục nghiên cứu
Bên cạnh các kết quả nghiên cứu đã đạt được như phân tích ở trên, tình hình nghiên cứu của đề tài ở cả phạm vi trong và ngoài nước còn có nhiều khoảng trống
nghiên cứu – đây được xác định là những nội diện nghiên cứu chính của Luận án. Trên cơ sởđó, có thểkhẳng định những vấnđềđặt ra cần được luận án tiếp tục nghiên cứu gồm:
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của QTV trong điều kiện Việt Nam. Các nghiên cứu được phân tích kể trên tiếp cận về QTV dưới gócđộtư duy pháp lý thực địnhcủamỗi quốc gia, do đó vấnđềlý luậnvềQTV trong môi trường pháp lý Việt Nam chưa được xem xétmộtcách thấu đáo.Đặc biệt, địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật còn gắn liền chặt chẽ với tư duy
lập pháp của một quốc gia, việc xem xét những vấn đề lý luận về QTV trong điều kiện Việt Nam lại là vấn đề then chốt trong nghiên cứu của Luận án. Theođó,các vấn đề lý luận cần được luận án tiếp tục làm rõ bao gồm:
– Xác lập khái niệm địa vị pháp lý của QTV với hai nội dung cơ bản: làm rõnội hàm khái niệm―địa vịpháp lý‖ và khái niệm―Quản tài viên‖ dưới góc độtưduy pháp lý của Việt Nam hiện hành.
– Phân tích đặc điểm địa vị pháp lý của QTV thông qua việc chỉ ra những điểm khác biệt mang tính nhận diện địavịpháp lý củaQTV sovớicácđịnhchếmang tính pháp lý khác.
– Làm rõ mục đích, ý nghĩa sựghi nhận củapháp luật vềđịa vịpháp lý của QTV. Nội dung này cho thấyđược tính tất yếu của ghi nhận pháp luật vềđịa vịpháp lý của QTV.
– Xây dựng và phân tích sâu sắc các cấu thành địa vị pháp lý của QTV. Đây làphần nội dung nghiên cứu quan trọng nhất trong phần nghiên cứu những vấn đề lýluận về QTV mà đề tài luận án phải làm rõ. Các cấu thành này sẽ giúp nhận diện vịtrí và vai trò pháp lý của QTV trong hệ thống pháp luật quốc gia.
Thứ hai, nghiên cứu m t số trường hợp địa vị pháp lý của QTV ở các quốc gia trên th gi i v rút ra được những bài học, giá trị kinh nghiệm. Nội dung này nhằm cung cấp một góc nhìn so sánhluật học về địa vị pháplý của QTVở một số quốc gia trên thế giới. Các quốc gia được luận án phân tích vừa có điều kiện tương đồng, nhưng cũng vừa hàm chứa những vấn đề khác biệt với Việt Nam nhằm góp phần đa dạng góc nhìn về địa vị pháp lý của QTV. Trên cơ sở phân tích các thực tiễn điển
32
hình đó, luận án sẽ chỉ ra được những giá trị mang tính tham khảo có thể có những ý nghĩa nhất định đối với Việt Nam.
Thứ ba, thống kê v phân tích quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của QTV. Luận án sẽ làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành (bao gồm Luật Phá sản và các văn bản liên quan) vềđịa vịpháp lý của QTV dựa trên cấu thành của nó đã đượcphân tích tại phần lý luận. Đâylà một trong hai nội dung trọng điểm khi phân tích thực tiễn địa vị pháp lý của QTV. Nội dung phân tích làm rõ bao gồm khái lược bối cảnh hình thành và các nội dung được điều chỉnh bởi pháp luật hiện hành vềđịa vịpháp lý của QTV. Kết quảnghiên cứu sẽcung cấp bức tranh thực tiễn pháp luật thực định về địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam hiện nay.
Thứtư, phân tích v đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật vềđịa vịpháp lý của QTV ởViệt Nam từnăm 2015 đ n năm 2020.Đâylànộidung nghiên cứu trọng tâmthứhai của phần thực trạng. Phần nghiên cứunày cần được thực hiện dướicảhai góc độ: xét vềmặt tổng thểvà xét các trường hợp chi tiết. Trong đó, vềmặt tổngthểphải nghiên cứu bức tranh chung vềsựhiện diện của QTV trong giải quyết thủ tục phá sản của các DN, HTX ở Việt Nam từ năm 2015đến năm 2020. Xét các trường hợp chi tiết bằng cách dẫn chiếu và phân tích các trường hợp điển hình thực hiện thủ tục phá sản có sự hiện diện của QTV. Kết quảnghiên cứu chỉrõ được những đánh giá vềcác kết quảđạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó.
Thứ năm, nghiên cứu bối cảnh, đề xuất quan đi m và các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảthực hiện pháp luật vềđịa vịpháp lý của QTV ởViệt Nam. Theo đó, nội dung nàyđặt ra ba vấn đềnghiên cứu lớn: phân tích bối cảnh đề xuất giải pháp là làm rõ cácvấn đề thuộc về bối cảnhtrong và ngoàinước hiện nay; đề xuất các quan điểm về việc xây dựng các giải pháp. Hiểu một cách đơn giản thì nội dung nghiên cứu này chính là làm rõ các nguyên tắckhi xây dựng những giải pháp; xây dựng và đề xuất các giải pháp nhằm vừa hoàn thiện pháp luật vừa nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam hiện nay.
1.4. Lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu a. Lý thuy t nghiên cứu
Tác giảxác định lý thuyết nghiên cứu của luận án là thuyết vềsựuỷquyền. Theo đó, xu hướng thu hẹp phạm vi quản lý của nhà nước để xác lập ―một nhà nước
33
gầy‖ và gia tăng sự tham gia của xã hội để xác lập ―một xã hội béo‖ đã được ra đời tại phương Tây từ những năm đầu thứ kỷ 19 và trở nên phổ biến trên phạm vi thếgiới hiện nay. Cơ sở để xác địnhphạm vi quản lý nhà nước được dựa trên ba trục nội dung sau:
Thứ nhất, nhà nước chỉ làm những gì xã hội không làm được. Theo đó, những gì nằm trong khả năng của xã hội thì nhà nước không nhất thiết phải tiến hành hoạt động quản lý mà để cho xã hội tự do điều tiết dựa trên những cơ chế tự nhiên và tựquản của nó.
Thứ hai, nhà nước chỉ làm những gì xã hội không được làm. Trên cơ sở liệt kê những hoạt động tư nhân không thể làm nhằm tránh nguy cơ xâm hại đến trật tự và an toàn của chính xã hội, nhà nước sẽ đảm nhiệm những công việc này
Thứ ba, nhà nước chỉ làm những gì xã hội không muốn làm. Mặc dù được làm vàlàm được, song những hoạt động không mang đến lợi ích cho họ thì xã hội sẽ không muốn làm. Nhà nước sẽ đảm nhận những việc này vì lợi ích chung của xã hội.
Trên cơ sở ba trục nội dung xác định phạm vihoạt độngđócủa nhà nước, cơchế được lựa chọn phổ biến để xác lập sự phân chia này chính là sự uỷ quyền. Theođó, nhànước sẽ sử dụng cơchế uỷ quyền để uỷ thác cho xã hội thực hiện các hoạt động nằm ngoài ba trục nội dung kể trên, qua đó gia tăng sự tham gia của xã hội.
Nghiên cứu về địa vị pháp lý của QTV dựa trên lý thuyết uỷ quyền sẽ cho thấy bản chất của chế định này chính là một sản phẩm của cơ chế uỷ quyền. QTV không thuộc về nhà nước, song được nhà nước (Toà án) uỷ quyền thực hiện các chức năng
về quản lý và thanh lý tài sản – vốn là một trong những nhiệm vụ của Toà án trong thủ tục phá sản DN, HTX.
Bên cạnh đó, lý thuyết tự do trong kinh doanh; lý thuyết về bảo vệ chủ nợ và
lý thuyết về bảo vệ trật tự kinh tế, bảo vệ xã hội, … cũng được vận dụng vào nghiên cứu nhằm làm rõ các khía cạnh khác nhau về chủ đề của luận án. Cụ thể:
– Lý thuyết bảo vệ chủ nợ: lý thuyết bảo vệ chủ nợ xoay quanh vấn đề bảo vệquyền của các chủ nợ. Theo đó, chủ nợ là người cho một cá nhân, tổ chức khác vay một món nợ bằng tiền hay hiện vật. Chủ nợ là người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, cụ thể là hợp đồng vay. Khi đến kỳ hạn, chủ nợ có quyền đòi con nợ phải hoàn trả khoản tiền vay hoặc hiện vật vay, kèm theo lãi. Đồng thời, khi con nợ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, chủ nợ phải được quyền thu hồi lại tài sản đã cho nợ. Dựa trên nguyên tắc ―chủ nợ nó quyền thu hồi tài sản; con nợ có nghĩa
34
vụ chi trả khoản nợ‖, luận án dựa trên lý thuyết nghiên cứu này nhằm cho thấy địa vịpháp lý của QTV với tư cách là một đạidiện cho chủnợthực hiện các quyền trong thủ tục phá sản của các con nợ. Dođó,bản chất địa vị pháp lý cũng như các nhiệm vụ của QTV đều phản ánh sự đại diện nhằm mục tiêu bảo vệ quyền này của chủ nợ.
– Lý thuyết bảo vệ trật tự kinh tế, bảo vệ xã hội: lý thuyết bảo vệ trật tự kinh tế, bảo vệ xã hội hướng tới việc giải quyết các khoản nợ trong kinh doanh một cách hợp lý và ổn thoả nhằm tránh mâu thuẫn dẫn đến đổ vỡ trong các mối quan hệ kinh doanh. Theo đó, việc giải quyết nợ giữa chủ nợ và con nợ – đang lâm vào tình trạng phá sản là một trong những nguyên cơchủđạo dẫn đến mâu thuẫn và tranh chấp giữa các bên. Sốnợcàng lớn, sốchủnợcàng nhiều, mâu thuẫn càng phức tạp và càng gay gắt. Để thu hồi được nợ, các chủ nợ luôncố gắng đòinợ theo nhiều biện pháp khác nhau và luôn cố gắng để là người đòi được nợ trước các chủ nợ còn lại. Chính vì thế, nếu không được điều hoà, hoạt động thu hồi nợ của các chủ nợ sẽ xảy ra tự phát, từ đó gây ra những xáo trộn, làm mất đi tính trật tự của kinh tế – xã hội, nhiều hành vi vi phạm pháp luật phát sinh và nhiều quan hệpháp luật kéo theo bịxâm hại. Trên cơ sở đó, lý thuyết này xác lập một cơ chế điều phối việc giải quyết nợ chung của các chủ thể phá sản nhằm đảm bảo được trật tự kinh tế, bảo vệ xã hội. QTV là một trong những cơ chế của lý thuyết này.
– Lý thuyếttựdo trong kinh doanh: luận án tiếpcậnnghiêncứudựa trên thuyết tự do kinh doanh xoay quanh quyền được thành lập và chấm dứt hoạt động của một chủ thể kinh doanh. Theo đó, quyền tự do kinh doanh cho phép các chủ thểđược phéplựa chọn lĩnh vực, quy mô và các yếu tố khác để bắt đầu hoạt động kinh doanh, sản xuất, đồng thời cũng cấp cho các chủ thể đó quyền được chấm dứt hoạt động kinh doanh, sản xuất theo đúng quy định của pháp luật. Lý thuyết này là cơ sởcho lập luận của quyền phá sản – được pháp luật tuyên chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến phá sản, trong đó có vấn đềgiải quyết nợ chung.
b. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuy t nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài luận án, tác giả đã đặt ra 03 câu hỏi nghiên cứu lớn với 07 câu hỏi nghiên cứu thành phần như sau:
Câu 1: Địa vị pháp lý của QTV là gì?
Các câu hỏi cụ thể cho câu hỏi nghiên cứu số 01 bao gồm:
35
Câu 1.1: QTV l g ? Địa vị pháp lý của QTV là gì?
Câu 1.2: Địa vị pháp lý của QTV được cấu thành bởi bao nhiêu n i dung? Giả thuyết nghiên cứu cho các câu hỏi này là:
Địa vịpháp lý của QTV là tổng thểcác đặc điểmvềvịtrí, vai trò; quyền vànghĩa vụ; trách nhiệm pháp lý và mối quan hệ giữa QTV với các chủ thể khác được pháp luật về phá sản ghi nhận và đảm bảo thực hiện trên thực tiễn. Địa vị pháp lýcủa QTV bao gồm 04 thành phần: vịtrí, vai trò; quyền và nghĩa vụ; trách nhiệm pháp lý và mối quan hệ giữa QTV với các chủ thể khác.
Câu 2: Địa vị pháp lý của QTV được pháp luật phá sản Việt Nam quy định như thế nào và thể hiện ra sao trên thực tiễn?
Các câu hỏi cụ thể cho câu hỏi nghiên cứu số 02 bao gồm:
Câu 2.1: Địa vị pháp lý của QTV được quy định như th nào trong pháp luật phá sản Việt Nam?
Câu 2.2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV ở Việt Namđược thực hiện như th nào?
Giả thuyết nghiên cứu cho các câu hỏi này là:
Trên thực tế, pháp luật Việt Namđã có ghi nhận tươngđối chi tiết vềđịa vịpháp lý của QTV cũng như có những cơ chếđảmbảo thực thi địavịpháp lý của QTV. Tuy nhiên, vì thực tiễn phá sản hếtsức phức tạp, có nhiều sựkiện pháp lý diễn ra khiến cho việc thực hiện địa vịpháp lý của QTV trên thựctếkhông được đảmbảo. QTV còn rất khó khăn trong việc thực thi nhiệmvụmộtcách suôn sẻcũng như chưa có cơ chế giám sát cần thiết khi trao quyền cho QTV.
Câu 3: Làm thế nào để nâng cao địa vị pháp lý của QTV trong thủ tục phá sản ở Việt Nam hiện nay?
Các câu hỏi cụ thể cho câu hỏi nghiên cứu số 03 bao gồm:
Câu 3.1: Bối cảnh đề xuất giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của QTV trong thủ t c phá sản ở Việt Nam như th nào?
Câu 3.2: Các nguyên t c xây dựng giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của QTV trong thủ t c phá sản ở Việt Nam là gì?
Câu 3.3: Các giải pháp c th nhằm nâng cao địa vị pháp lý của QTV trong thủ t c phá sản ở Việt Nam là gì?
36
Giả thuyết nghiên cứu cho các câu hỏi này là:
Trên cơ sở giả thuyết về thực tiễn đó, tác giả đặt ra thêm giả thuyết rằng, muốn nâng caođịa vịpháp lý của QTV trên thực tiễn tất yếu phải rà soát và hoàn thiện những quy định của pháp luật về phá sản nói chung và về QTV nói riêng. Bên cạnhđó, trên thực tiễn thực hiện cũng cần phải có sự chuẩn bị về tâm lý, nhận thức và kỹnăng của QTV cũng như các bên tham gia vào thủ tục phá sản.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Kết quả nghiên cứu Chương 1 cho thấy, vấn đề QTV là một chủ đề nghiên cứu tương đối phổ biến trong khoa học pháp lý và kinh tế ở phạm vi nước ngoài. Minh chứng cho điều đó là có một số lượng lớn các công trình khoa học về vấn đề này.
Các nghiên cứu đã làm rõ rất nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn và giải pháp về QTV –đó cũng là những giá trị kế thừa quý giá cho luận án. Tuy nhiên, vì QTV là một chếđịnh pháp lý, do đó phụ thuộc hoàn toàn vào tư duy lập pháp của từng quốc gia. Các nghiên cứu được thực hiện ởnhững phạm vi nghiên cứu khác nhau cho ra những sản phẩm nghiên cứu có tính khác biệt lớn. Chính vì thế, sự đa dạng trong cách tiếp cận cung cấp phong phú những kiến thức cho tác giả khi thực hiện luận án, nhưng
lại thiếu sự thống nhất về quan điểm. Ngược lại, ở phạm vi trong nước, số lượng các nghiên cứu về QTV chưa nhiều, vì định chế này mới chỉ được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam khoảng hơn 06 năm trước. Bên cạnh đó, việc trực tiếp nghiên cứu địa vị pháp lý của QTV chưa được các công trình tiếp cận mà chủ yếu xem xét quy định pháp luật thực định về QTV cũng đã dẫn tới xuất hiện nhiều ―khoảngtrống‖nghiên cứu cho đề tài luận án. Tác giả xác định, tất cả những kết quả nghiên cứu kể trên,đặc biệt là các nghiên cứu ở phạm vi trong nước đều là nền tảng, đóng vai trò tham khảo rất quan trọng cho luận án. Luận án sẽ tiếp tục kế thừa, phát huy những giá trịđã được đề xuất, tìm kiếm những giá trị khoa học mới để làm sáng tỏ thêm những vấn đề còn đang nhiều tranh cãi hoặc chưa được đề cập.
37
Chƣơng 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA QUẢN TÀI VIÊN
THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN
2.1. Khái niệm và đặc điểm địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản
2.1.1. Khái niệm địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản
Để làm rõ nội hàm khái niệm địa vị pháp lý của QTV theo pháp luật phá sản, trước hết cần phải thao tác hoá các khái niệm liên quan sau đây:
a. Khái niệm địa vị pháp lý
Có rất nhiều cách quan niệm về địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật. Theo nghĩa hẹp nhất, địa vị pháp lý được xem là quyền và nghĩa vụ của một chủ thể pháp lý được pháp luật ghi nhận. Theo cách hiểu này, địa vị pháp lý được cấu thành bởi hai vấn đề, gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của một chủ thể nào đó. Mục đích của việc xác lập quyền và nghĩa vụpháp lý của một chủthểnhằmtrảlời cho câu hỏi chủ thể đó: được làm gì? không được làm gì? và phải làm gì?.
Ở nghĩa hiểu rộng hơn, nhưng đồng thời cũng tường minh hơn, địa vị pháp lýđược hiểu là vịthếpháp lý của một chủthểđược pháp luật ghi nhận. Vịthếnày không chỉ bao gồm: quyền, nghĩa vụ pháp lý mà còn cả trách nhiệm gánh chịu hậu quả của hành vi và mối quanhệ của nóvới những chủ thể chung quanh trong một tổng thể quan hệ pháp luật xác định. Như vậy, ngoài trả lời cho ba câu hỏi nhưđối với cách hiểu theo nghĩa hẹp, với cách tiếp cận này, các câu trảlời được sáng tỏthêm gồm: chủthểlà gì?chủthểđó có mốiquanhệnhưthếnào với cácchủthểpháp luật khác và chủ thể đó phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý ra sao?.
Hiểu theo nghĩa hẹp, hay nghĩa rộng tuỳthuộc vào góc độvà mục đích tiếp cận của từng nghiên cứu.Mỗicách thứcđều chứa đựngnhững giátrịluận giải nội hàm địa vị pháp lý khác nhau. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý ngày nay, phổ biến nhất trong các nghiên cứu, địa vị pháp lý được hiểu theo định nghĩa của Từ điển Luật học [4; tr. 244]. Theo đó, địa vị pháp lý được luận giải nguyên văn như sau:
“Địa vịpháp lý là vịtrí của chủth pháp luật trong mối quan hệv i những chủ th pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật.
Địa vị pháp lý của chủ th pháp luật th hiện thành m t tổng th các quyền vànghĩa v pháp lý của chủ th , qua đó xác lập cũng như gi i hạn khả năng của chủth trong các hoạt đ ng của mình. Ví d : địa vị pháp l cơ bản của công dân được
38
th hiện thành tổng th các quyền v nghĩa v của công dân đượchi n pháp vàpháp luật quy định. M t sựkiện pháp l như ch t, thương tích do tai nạn…, m t h nh vi pháp l như mua, bán, tặng, cho, đ thừa k tạo ra m t loạt quyền, nghĩa v , trách nhiệm… cho m t chủ th nhất định.
Thông qua địa vịpháp lý có th phân biệt chủth pháp luật này v i chủth pháp luật khác, đ ng thời, cũng có th xem xét vị trí và t m quan trọng của chủ th pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật.”
Từđịnh nghĩa này, có thểthấy nội hàmđịa vịpháp lý của một chủthểpháp luật bao gồm các vấn đề sau:
Thứ nhất, địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật trước hết thể hiện vị trí vàvai trò của chủthểđótrong các quan hệpháp luật trước các chủthểkhác. Bằng những ghi nhận của pháp luật, địa vịpháp lý của một chủthểtrước hết cung cấp tính nhận diện vềchủthểđó trong các mối quanhệpháp luật xác định. Khảnăng nhận diện này được cấu thành bởi hai vấn đề: chủ thể đó nằm ở đâu trong quan hệpháp luật và chủ thể đó đóng vai trò gì trong quan hệ pháp luật. Điều này không chỉgiúp nhận biết được bản thân vị trí và vai trò pháp lý của chủ thể mà còn là cơsở đểphân biệt chủ thể này với các chủ thể khác.
Thứhai, địa vịpháp lý thểhiện quyền và nghĩa vụpháp lýcủamột chủthểpháp luật. Nếu như vị trí và vai trò của chủ thể pháp luật là biểu hiện bên ngoài của địa vị pháp lý của một chủ thể thì quyền và nghĩa vụ pháp lý là nội dung địa vị pháp lý của chủthểđó. Nói cách khác, quyền và nghĩa vụgiúp giới hạn phạm vi hoạt động của chủ thể trong các mối quan hệ pháp luật xác định. Quyền được xác định là những khảnăng thực hiện các hành vi pháp lý của chủthể, từđó có thểlàm phát sinh các nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khác. Ngược lại, nghĩa vụ là những bổn phận của chủ thể phải thực hiện, từ đó có thể là cơ sở để đảm bảo quyền của các chủthể khác.
Thứba, địa vịpháp lýthểhiện mối quan hệgiữa chủthểđó với các chủthểkhác trong một quan hệ pháp luật. Đây làmột vấn đề được đảm bảo bởi hai vấn đềtrên. Theo đó, vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của chủ thể được thể hiện ra trong một quan hệ pháp luật nhất định sẽ cho thấy mối quan hệ của chủ thể đó với các chủthể còn lại để cấu thành nên nội dung của quan hệ pháp luật đó. Nói cách khác, địa vị pháp lý của một chủ thể không chỉ chothấy được vị trí,vai tròcủa chủ thể đó màcòn cho thấy được mối quan hệ của chủ thể đó với các chủ thể còn lại.
39
Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án, NCS thừa nhận khái niệm vềđịa vị pháplý được trích dẫn từ Từ điển Luật học ở trên. Theo đó, khái niệm địa vịpháp lý được NCS khái quát hoá trong luận án như sau:
Địa vị pháplý của một chủ thểpháp luật là tổngthểcác quyền – nghĩa vụpháp lý thể hiện vị trí và vai trò pháp lý của một chủ thể trong các quan hệ pháp luật. Từ đó làm cơ sở để nhận diện, phân biệt chủ thể pháp luật này với các chủthểpháp luật khác, đồng thời cũng là cơ sởxác định giới hạn đểchủthểpháp luật đó thực hiện các hành vi pháp lý của mình.
b. Khái niệm QTV
Trong hoạt động sản xuất, thương mại các chủ thể (cá nhân và tổ chức) cũng tuân theo quy luật thịtrường. Theo đó, hầu hết các chủthểsản xuất, kinh doanh cũng có quá trình hình thành, phát triển và suy thoái. Khi quá trình suy thoái đạt tới trạng thái không thể chi trả các khoản chi phí và khoản vay đến hạn,chủ thể đó sẽhướng tới kết quảphải giải quyết các khoản nợvà chấm dứt sựtồn tại của mình. Kết quả này được gọi là phá sản.
Bản chất của phá sản là hoạt động giải quyết nợ chung của con nợ – là chủ thểđang trong tình trạng phá sản. Do đó, thủ tục phá sản ở hầu hết các quốc gia trên thếgiới được thực hiện thông qua conđường tố tụng tưpháp. Theođó,toà án sẽ đóng vai trò là trung gian phân phối khoản nợ chung phải trả dựa trên thanh lý số lượng tài sản còn lạicủa chủthểđang lâm vào tình trạng phá sản. Trong quá trình giải quyết phá sản đó, Toà án sẽ uỷ quyền cho một chủ thể pháp lý đại diện quản lý và thanh lý tài sản, đồng thời là trung gian thanh toán nợ chung cho các chủ nợ của con nợ – chủ thể đang lâm vào tình trạng phá sản. Chủ thể pháp lý đó có thể là tổ chức hoặc cá nhân với những tên gọi khác nhau tuỳ thuộc vào quy định pháp luật của các quốc gia, như: là tổchức có các tên gọi: Công ty quản lý nợ(Trung Quốc)[12]; Công ty quản lý tài sản phá sản (Hàn Quốc)[12]; Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (Việt Nam); hoặc là cá nhân có các tên gọi: Quản trịviên (Trung Quốc, Nhật
Bản)[16]; Người quản lý tàisản(Hàn Quốc); Quản tài viên (Việt Nam)… Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chủ thể này là cá nhân và được sử dụng thống nhất với tên gọi Quản tài viên.
QTV là một thiết chế pháp lý, chính vìthế địa vị pháplý của QTV hoàn toàn phụ thuộc vào sự ghi nhận của từng quốc gia khác nhau. Đặc điểm này đã khiến cho QTV không có những tên gọi và tính chất pháp lý thống nhất trên thếgiới. Tuy
40
nhiên, khi nghiên cứu về QTV nói chung có thể thấy dù ở nền pháp lý nào QTV vẫn tồn tại một số vấn đề mang tính đồng quy như sau:
Thứ nhất, QTV là m t cá nhân. Hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó cóViệt Nam, chủ thể hành nghề này có cả thể nhân và pháp nhân. Trong đó, khác với QTV là một cá nhân, pháp nhân hành nghề này ở các quốc gia khác nhau có những tên gọi khác nhau. Ở Việt Nam được gọi là Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.Điểm khác biệt lớn nhất giữa QTV và Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chính là tính chất pháp lý của hai chủthểnày. Theo đó, QTV là một cá nhân tham gia hành nghề quản lý, thanh lý tài sảnnên không phải chịu sựchi phối của cácđiều kiện pháp lý về thành lập và hoạt động của một doanh nghiệp. Bên cạnh đó, QTV khi thực hiện nhiệm vụ chỉ nhân danh cá nhân người đó, do vậy trách nhiệm pháp lýsẽmang tính trực tiếp và tập trung. Ngược lại, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có bản chất là một tổ chức kinh tế. Dođó,sự thành lập và hoạt động của doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chịu sự điều chỉnhcủa pháp luật về doanh nghiệp bên cạnh sự điều chỉnh của luật phá sản và các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động quản lý, thanh lý tài sản.
Pháp luậtmộtsốquốc gia có ghi nhận sựhiện diện của cảQTV và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đều có những quy định để xác định trường hợp nào lựa chọn QTV và trường hợp nào chọn doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tham gia vào giải quyết thủ tục phá sản. Ví dụ ở trường hợp của Trung Quốc, Tòa án, dựa trên cácđiều kiện thực tế của một con nợ và sau khi tham khảo ý kiến của cơ quan trung gian có liên quan, sẽ chỉ định người có kiến thức chuyên môn cần thiết và có được trình độhành nghề để làm quản trị viên[16]. Hoặc ở Hàn Quốc cũng có quy định về tiêu chuẩn quy mô và tính chất phức tạp của vụ việc phá sản để quyết định chọn cá nhân haytổchức hành nghề quản lý tài sản[12]. Tuy nhiên, trong môi trường pháp lý Việt Nam chưa quy định chi tiết điều này, do đó quyền tự quyết trao về cho người có thẩm quyền
chỉ định QTV – Toà án. Đặc điểm này có thể thấy, giữa QTV và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có thể thay thế cho nhau thực hiện thủ tục phá sản.
Một sốít quốc gia ghi nhận nghề quản lý, thanh lý sản nghiệp phá sản bắt buộc phải là một thể nhân, ví dụ như ở Singapore QTV chỉ hành nghề với tư cách cá
nhân và do ACRA – cơ quan quản lý doanh nghiệp và kế toán phê duyệt [16].
Trong luận án này, từ ―viên‖ trong QTV là từ dùng để chỉ một cá nhân. Từ này cũng có hàm ý như trong các từ―giáo viên‖; ―sinh viên‖; ―hoà giải viên‖; ―chấp
41
hành viên‖…Cá nhân này có thể là một cá nhân độc lập, nhưng cũng có thể là một cá nhân thuộc một pháp nhân hành nghề quản lý, thanh lý sản nghiệp phá sản. Trong phạm vi luận án, QTV được nhắc đến là các cá nhân, bao gồm cả hành nghềđộc lập hay thuộc một pháp nhân cụ thể. Về cơ bản, hai nhóm này không có sự khác nhau rõ rệt về địa vị pháp lý trong thủ tục phá sản.
Thứ hai, QTV hành nghề quản lý và thanh lý tài sản. Bản thân từ ―quản‖ và từ―tài‖ trong tên gọi của chế định này là hai từ viết tắt của: ―quản lý‖ và ―tài sản‖. Từđó có thểsuy luận ra rằng, nghề nghiệp củaQTV chính là quản lý tài sản. Tuy nhiên, tài sản được quản lý bởi QTV không phải là tài sản ở trạng thái bình thường (như quản lý tài sản gia đình hay quản lý tài sản tín thác) mà tàisản được quản lýbởi QTV là tài sản của con nợ – những cá nhân, tổ chức đang lâm vào tình trạng phásản và việc quản lý tài sản này nhằm phục vụ vào mục đích trả nợ cho các chủ nợ. Như vậy, đặc điểm thứ nhất không chỉ cho thấy QTV thực hiện nghề quản lý tài sản mà còn cho thấy phạm vi hoạt động nghề nghiệp đó của QTV.
Bên cạnh việc quản lý tài sản là sản nghiệp phá sản, QTV còn thực hiện cảhoạt động bán tài sản đó theo sự uỷ quyền của con nợ và sự cho phép của Toà án. Nhưđã trình bàyởtrên, tài sản được QTV quản lý là sản nghiệp phá sản của con nợ, mục tiêu cuối cùng của hoạt động quản lý chính là bảo vệtính nguyên trạng thông qua việc ngăn chặn các hành vi tẩu tán và các biện pháp bảo vệ khác để tránh hao mòn haysựtác động củatựnhiên. Và nếu có thể, hoạtđộngquản lý tài sản cũng góp phần gia tăng giá trịtài sản trong quá trình thực hiện thủtục phá sản. Trong khi đó, mục đích của sự quản lý này chính là giải quyết nợ chung một cáchôn hoà và công bằng theo quy định của pháp luật cho các chủ nợ. Để đạt được mục đích đó, tài sản phải được hoá giá – quyvềmột giá trị nào đó mà thông thường làtiền, bằng hoạt động bán tài sản đó đểtiến hành phân bổnợ. Chính vì thế, có thểnói, QTV thực hiện nghề quản lý tài sản và cả thanh lý tài sản là sản nghiệp phá sản của con nợ – chủ thể đang lâm vào tình trạng phá sản để thực hiện nghĩa vụ chi trảnợ chung cho con nợ đó – đồng thời cũng là thu hồi nợ cho các chủ nợ.
Thứba, QTV là m t thi t ch trung gian, có tính đ c lập tương đối. QTV không thực hiện nhiệm vụ mang tính tự thân. Điều này dựa trên: (1) việc tham gia
thủ tục phá sản không xuất phát từ lợi ích của QTV; (2) khách thể quản lý – tài sản không phải là tài sản của chính QTV; (3) kết quảhoạt động nghề nghiệp không mang tính thụ hưởng trực tiếp của QTV. (1) cho thấy việc tham gia vào thủ tục phá
42
sản của QTV với tư cách là một trung gian –không có lợi ích trực tiếp đến hoạt động phá sản. (2) cho thấy QTV là một thụuỷpháp lý được uỷquyền thực hiện quản lý, thanh lý tài sản của người khác. Quyền và nghĩa vụ quản lý, thanh lý này vịthế là một quyền và nghĩa vụ được uỷ thác và có tính tạm thời. (3) cho thấy QTVđược trả thù lao cho kết quả làm việc mà không phải thụ hưởng trực tiếp các kết quả
từ hoạt động phá sản.
Với vai trò này, QTV tham gia vào hoạt động phá sản với hai nội dung nhiệm vụchính: (1) quản lý tài sản phá sảnvà (2) thanh lý tài sảnphá sản. Theo đó, (1) QTV sẽđược uỷquyền thay mặt Toá án quản lý khối tài sản phá sản hiện có khi tiến hành mởthủtục phá sản cho con nợ. Các tài sản này bao gồm cảtài sản hữu hình và tài sản vô hình (tài sản hiện hữu và các phần tài sản bị chiếm dụng). Nhiệm vụnày nhằm bảo toàn tài sản phá sản và có thểlàm tăng trưởng tài sản này trong thời gian thực hiệnthủtục phá sản. (2) QTVđược thay mặt các chủnợthực hiện đấu giá thanh lý tài sản phá sản đểcó nguồn kinh phí giải quyết phá sản con nợđồng thời tạo nguồn chi trả nợ chung cho các chủ nợ. Bên cạnhđó,ngoài 02 nhiệm vụ như trên, trên thực tế ở nhiều quốc gia, QTV còn thay mặt con nợ điều hành vàvạch ra định hướngkhôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh của con nợtrong trường hợp lựa chọn phục hồi thay vì tuyên bố phá sản (3). Từ những phân tích kểtrên có thể thấy rằng, QTV hoàn toàn tham gia vào thủ tục phá sản với tư cách vừa đại diện cho Toà án, vừa đại diện cho chủ nợ và ở khía cạnh nào đó cũng là đại diện cho cả con nợ. QTV thực hiện các nhiệm vụ quản lý và thanh lý tài sản nhằm phục vụphân phối nợchung và giải quyết thủtục phá sản một cách ôn hoà, đúng quyđịnh của pháp luật và nhận tiền công chonhiệm vụ đó. Từ đó cóthể kết luận rằng, QTV là một thiết chế mang tính trung gian.
Tuy nhiên, tính trung gian đó của QTV không được hiểu là một thiết chế hoàn toàn độc lập, càng không thể được hiểu là một ―người phán xử‖, màcần được hiểu chính xác là một ―thụ uỷ pháp lý‖ – một người được pháp luật uỷ quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý và thanh lý sản nghiệp phá sản. Chính vì thế, trong quá trình hoạt động, QTV phải chịu sự giám sát và có nghĩa vụ báo cáo với các chủ thể tham gia thủ tục phásản đó.Cụ thể, trước hết QTV chịu sự giám sát và báo cáo Toà án – người đãlựa chọn, chỉđịnhmộtQTV tham gia vào một vụviệc phá sảncụthể. Đồng thời, QTV cũng phải chịu trách nhiệm báo cáo trước các chủ thể giám sát từphía nhà nước liên quan đến hoạt động thanh lý sản nghiệp phá sản. Tiếp theo, QTV
43
phải chịusựgiám sátcủacácchủnợ,vìvềbảnchất hoạtđộngcủaQTVhướngtới mục tiêu ―chia nợ‖ cho các chủ nợ một cách hài hoà. Như vậy, QTV mặc dù là thiết chế trung gian nhưng không phải có tính độc lập tuyệt đối, mà ngược lại, QTV có tínhđộc lập tương đối, đại diện và chịu sự giám sát cho các bên trong thủ tục phá sản.
Thứ tư, QTV thường hành nghề v i tư cách kiêm nhiệm. Mặc dù không có sựđồng nhất trong các điều kiện hành nghề quản lý, thanh lý sản nghiệp phá sản của QTV, song trên thực tế nhiều quốc gia có yêu cầu bắt buộc QTV phải là một luật sư,
một kiểm toán viên, một kế toánviên…đãcó kinh nghiệm làm các nghề trên trong một khoảng thời gian nhất định mới có thểđủđiều kiện nộp hồsơ trởthành một QTV. Nói cách khác, QTV chính là một danh xưng kiêm nhiệm của một trong các danh xưng nghề nghiệp kể trên. Đặc điểm này cho thấy tiêu chuẩn để trở thành một QTV rất phức tạp, trước hết phải thoả mãn các tiêu chí của những nghề nghiệp gốc
(luật sư; kế toán; kiểm toán…) sauđómới đến các tiêu chuẩn dành riêng cho hành nghề quản lý, thanh lý sản nghiệp phá sản.
Bên cạnh đó, điều này cũng cho thấy hoạt động quản lý, thanh lý sản nghiệp phá sản của QTV là hoạt động mang tính ―thời vụ‖ chứ không phải là một nghề độc lập. Tính thời vụ được thể hiện ở chỗ, QTV tham gia vào một vụ việc phá sản nhất định khi có sựchỉđịnh củaToà án vàkếtthúc vai tròcủamình khi thủ tục phá sản kết thúc. Nhiệm vụ của QTV gắn liền với quy trình giải quyết thủ tục phá sản của từng vụ việc cụ thể, chính vì thế nếu không được Toà án chỉ định, QTV sẽ không có việc làm. Sựngắt quãng này chính là biểu hiện rõ nhất cho tính thời vụ trong hoạt động của QTV.
Như vậy, từ những phân tích trên có thể khái niệm QTV như sau:
QTV là một cá nhân được pháp luật uỷ quyền tham gia vào thủ tục phá sản nhằm tạm thời quản lý và thanh lý sản nghiệp phá sản của các chủ thể mất khảnăng thanh toán. QTV có nhiệm vụ xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ; lập bảng kê tài sản, danh sách chủ nợ; ngăn chặn việc bán, chuyển giao tài sản mà khôngđược phép của thẩm phán… QTV bắtđầu tham gia vụviệc khiđược chỉ định và kết thúc khi thi hành xong quyết định tuyên bố phá sản.
c. Khái niệm địa vị pháp lý của QTV theo pháp luật phá sản
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA QUẢN TÀI VIÊN THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY

