Đặc điểm từ ngữ thể loại điều tra trên Báo Đà Nẵng

Đối chiếu thành ngữ tục ngữ biểu hiện lời khen lời chê trong tiếng Việt và tiếng Hàn Quốc

Đặc điểm từ ngữ thể loại điều tra trên Báo Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Báo chí là công cụ, kênh thông tin quan trọng của Đảng, Nhà nước, nhằm phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật, cổ vũ cá tập thể, cá nhân vươn lên phát triển kinh tế, định hướng dư luận, cũng như phê phán, lên án, đả kích các luận điệu chống phá Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Báo chí có nhiều thể loại như phỏng vấn, ghi chép, phóng sự, ký sự, điều tra, tin…Mỗi thể loại có một đặc điểm, phong cách sử dụng từ ngữ riêng để mang lại sức mạnh, hiệu quả tuyên truyền nhất định, qua đó, định hướng dư luận xã hội.

Trong lịch sử hình thành nền báo chí Cách mạng Việt Nam, cùng với các thể loại khác, thể loại điều tra của báo chí có vai trò, vị trí quan trọng, góp phần tích cực trong việc đấu tranh chống tiêu cực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, lên án phê phán cái xấu, cái ác trong đời sống xã hội. Và thể loại báo chí điều tra ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống, thu hút đông đảo bạn đọc quan tâm. Trong thực tế cuộc sống, nhờ những bài điều tra trên báo chí giúp cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước phát hiện, xử lý nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng nổi cộm, xóa bỏ các hủ tục ăn sâu vào đời sống, chấn chỉnh công tác quản lý trên các lĩnh vực đất đai, xây dựng, kinh tế…

Sau khi Đảng và Nhà nước ta bắt tay vào công cuộc đổi mới đất nước, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã không ngừng vươn lên, có vị thế quan trọng trên trường quốc tế và gặt hái nhiều thành tựu trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng – anh ninh, đời sống người dân ngày một cải thiện, nâng cao. Đáng chú ý, từ năm 2007, sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới WTO đã đánh dấu sự khởi đầu cho một nền kinh tế phát triển sôi động, việc hợp tác, hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ và đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường mạnh mẽ, kéo theo đó là những mặt tiêu cực trong đời sống xã hội cũng xuất hiện khá nhiều và diễn biến phức tạp, khôn lường. Những tệ nạn như: tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, hách dịch, nạn buôn bán ma túy, buôn bán người, mại dâm, cố ý làm trái các quy định của Đảng, Nhà nước gây thiệt hại về kinh tế…xảy ra khá nhiều ở mọi lúc, mọi nơi, trở thành những vấn đề nổi cộm, nhức nhối trong xã hội, thu hút sự quan tâm, lo lắng của người dân. Và đây cũng là mảng đề tài nóng, trở thành “mảnh đất béo bở” của thể loại báo chí điều tra, thôi thúc nhà báo dấn thân vào cuộc đấu tranh.

Đối tượng thực hiện những hành vi tiêu cực, tham nhũng…có mặt ở mọi nơi, mọi lúc, ngay cả trong bộ máy của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức, cá nhân bên ngoài xã hội. Trước tình hình trên, đòi hỏi các cơ quan báo chí không ngừng đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền, phương thức đấu tranh, để kịp thời khai thác, phản ánh, đưa ra ánh sáng những vấn đề tiêu cực, tồn tại của xã hội.

Tác phẩm báo chí điều tra là một văn bản hoàn chỉnh, cung cấp đầy đủ thông tin về các vấn đề, sự kiện, đối tượng phản ảnh, giúp người đọc hiểu, nắm rõ những cái chưa biết, những vấn đề ẩn khuất, có cái nhìn toàn diện về sự việc, qua đó bày tỏ có thái độ yêu – ghét rõ ràng. Đây là một thể loại có phạm vi phản ánh rộng, đa chiều, cung cấp lượng thông tin không nhỏ đáp ứng nhu cầu của đông đảo bạn đọc, giúp cho bạn đọc có cái nhìn chính xác hơn về những “thế giới ngầm”, “thế lực đen”, hành vi sai trái của những tổ chức, cá nhân, gây thiệt hại, kìm hãm sự phát triển của xã hội và đất nước.

Bức xúc trước những vấn nạn tham nhũng, tiêu cực, tệ nạn xã hội đang ngày càng có xu hướng phát triển, cũng như mong muốn đóng góp nhỏ bé vào quá trình đấu tranh đẩy lùi tệ nạn xã hội, loại bỏ những cái xấu, cái ác tồn tại trong đời sống, người viết chọn nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm từ ngữ thể loại điều tra trên Báo Đà Nẵng”. Qua đề tài này, người viết hy vọng có thêm kiến thức về thể loại điều tra, cũng như sử dụng hiệu quả vốn kiến thức về ngôn ngữ học đã được học, tiếp thu ở nhà trường, làm hành trang cho nghiệp vụ báo chí của mình.

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu “Đặc điểm từ ngữ thể loại điều tra trên Báo Đà Nẵng” là nguyện vọng ấp ủ từ rất lâu của người viết. Nhưng đã nói ở trên, báo chí có rất nhiều mảng như: tin tức, giải trí, tin vắn, phóng sự, ký sự, điều tra, ghi chép, phản ảnh…Và thể loại điều tra là một mảng được độc giả quan tâm nhiều nhất. Bởi qua tác phẩm báo chí điều tra, những góc khuất trong đời sống, những việc làm sai trái của các tổ chức, cá nhân, những hành vi tiêu cực, tham nhũng…được xem như “tảng băng chìm”, được nhà báo chịu khó dấn thân, không quản ngại nguy hiểm để dày công thu thập tư liệu phanh phui, lôi ra ánh sáng.

Thông qua khảo sát về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm báo chí điều tra trên Báo Đà Nẵng, người viết có thể khái quát hóa các nội dung chính của thể loại điều tra, chỉ ra đặc điểm từ ngữ của thể loại này, từ đó rút ra đặc điểm chung cho thể loại điều tra trên báo chí hiện nay. Qua việc thực hiện đề tài này, người viết hy vọng có thể hiểu sâu hơn, vận dụng tốt kiến thức về ngôn ngữ học và báo chí trong quá trình hành nghề của mình.

4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm từ ngữ thể loại điều tra trên Báo Đà Nẵng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát 75 bài báo điều tra đăng tải trên Báo Đà Nẵng từ năm 2008 đến tháng 6-2016.

5. Phương pháp nghiên cứu

Ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung, đối với đề tài này, người viết sử dụng một số các phương pháp cụ thể như sau:

– Phương pháp thống kê – phân loại: người viết tiến hành thống kê 75 bài báo điều tra theo hai khía cạnh nội dung và nghệ thuật thuộc phạm vi nghiên cứu. Sau đó, tiến hành khảo sát, phân loại.

– Phương pháp mô hình hóa: Để trình bài một cách hệ thống, mô hình các loại từ ngữ, cách tổ chức ngôn ngữ của từng thể loại và miêu tả quan hệ của các đối tượng khảo sát dưới dạng các bảng biểu.

– Phương pháp phân tích – tổng hợp: người viết đưa ra các lập luận, lí lẽ, dẫn chứng để chứng minh cho các luận điểm đã đặt ra. Trên cơ sở các bài điều tra, khảo sát, các ngữ liệu thống kê, luận văn chỉ ra những đặc điểm, giá trị về nội dung của chúng để tổng hợp, khái quát hóa vấn đề.

Trong quá trình phân tích – tổng hợp người viết có xen phương pháp so sánh, đối chiếu bài điều tra của tác giả này với tác giả khác trên Báo Đà Nẵng theo cùng đề tài, đối tượng, để làm nổi bật cái hay trong từng nội dung và biện pháp nghệ thuật của các bài điều tra trên Báo Đà Nẵng. Đồng thời trên cơ sở phân tích, tổng hợp, khái quát, từ đó phát hiện những lỗi thường gặp và nêu ra hướng khắc phục những lỗi đó trong các tác phẩm báo chí điều tra.

6. Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo; phần nội dung luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Khảo sát, phân loại, miêu tả từ ngữ thể loại điều tra trên Báo Đà Nẵng

Chương 3: Ý nghĩa biểu đạt của từ ngữ thể loại điều tra trên Báo Đà Nẵng

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Khái quát về từ ngữ và ngôn ngữ báo chí

1.1.1. Khái quát về từ

Theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Tất cả các đơn vị ngôn ngữ khác, chẳng hạn: hình vị, thành ngữ, các cấu trúc cú pháp nào đó, bằng cách này hay cách khác đều do sự tồn tại của các từ quy định. Từ chẳng những là đơn vị cơ bản của từ vựng mà còn là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ nói chung.

Trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” F.de. Saussure [23] viết như sau: Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa”.

Theo các tác giả Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, Nguyễn Văn Khang [16] cho đến nay, trên thế giới đã có hàng trăm định nghĩa về từ, song chưa có định nghĩa nào thoả mãn đối với các nhà nghiên cứu. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi lẽ trong khoảng hơn 6.000 ngôn ngữ đang được sử dụng trên thế giới, từ được biểu hiện dưới những hình thức rất đa dạng, đa dạng đến mức mà Viện sĩ L.V.Sherba đã phải viết: Trong thực tế, từ là gì? Thiết nghĩ rằng trong các ngôn ngữ khác nhau, từ sẽ khác nhau. Do đó, tất sẽ không có khái niệm từ nói chung.

Hầu hết bất kỳ nhà ngôn ngữ học nào khi đi vào nghiên cứu một ngôn ngữ cụ thể đều cố gắng tìm hiểu tính đặc thù của từ trong ngôn ngữ ấy và đưa ra những định nghĩa để làm việc. Trong sự đa dạng về các thuộc tính của từ vẫn có thể tìm thấy những thuộc tính bản chất chung cho từ trong mọi ngôn ngữ. Theo V.M.Solncev, những thuộc tính phổ quát ấy là:

a) Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: âm và nghĩa.

b) Từ có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời.

Như vậy, khi nói từ là đơn vị ngôn ngữ là có hàm ý muốn phân biệt nó với câu trong tư cách là đơn vị của lời nói. Còn nói đến tính hai mặt (âm và nghĩa) của từ là muốn nhấn mạnh tính hoàn chỉnh của nó cả về cấu trúc hình thái (gọi là vỏ ngữ âm) cũng như về ngữ nghĩa (dù là nghĩa từ vựng hay nghĩa ngữ pháp). Chính tính hoàn chỉnh về âm và nghĩa này đã khiến cho từ có khả năng độc lập về mặt ngữ pháp khi sử dụng trong lời. Và ngược lại, tính độc lập về cú pháp của từ minh chứng cho tính hoàn chỉnh của nó trong tư cách là một đơn vị của ngôn ngữ. Trong hai thuộc tính vừa nêu, V.M.Solnsev cho rằng thuộc tính thứ hai là thuộc tính bản chất, và trái với nhận định của L.V.Sherba, từ nói chung dầu sao vẫn tồn tại [16].

Xuất phát từ tiêu chí ngữ nghĩa, L.Bloomfield, đại biểu Trường phái Miêu tả luận Mỹ quan niệm: từ là hình thái tự do nhỏ nhất (free), mà hình thái tự do nhỏ nhất là bất kỳ hình thái nào có thể xuất hiện với tính cách một phát ngôn, khác với hình thái ràng buộc (bound) vốn không thể nói riêng một mình. Về mặt thủ thuật nghiên cứu, hình như L.Bloomfield muốn khái quát hoá cách hiểu của mình. Còn trên bình diện lý thuyết, định nghĩa này vấp phải những luận điểm rất cơ bản. Bởi vì, với định nghĩa này, ranh giới giữa hình vị với từ, từ với câu đã trở nên mơ hồ dẫn đến lẫn lộn những cấp hệ ngôn ngữ vốn rất khác nhau. Đồng thời, đặc tính tự do (free) hay ràng buộc (bound) thực chất không nói lên được gì cái đặc điểm cấu trúc – chức năng của từ. Nói như J.Lyons, mặc dù quan niệm của Bloomfield đã được nhiều nhà ngôn ngữ học lớn chấp nhận nhưng hầu như không thể coi là thoả đáng được [21].

Nhìn chung, những nhược điểm của nhiều định nghĩa về từ vốn là do đối tượng nghiên cứu hết sức phức tạp và đa dạng, khó có thể có một cái nhìn bao quát được. Đúng như sự tổng kết của nhà ngôn ngữ học Xô-viết S.E. Jakhontov: các nhà nghiên cứu khác nhau, ít nhất có 5 quan niệm khác nhau về cái được gọi là từ :

* Từ chính tả: là khoảng cách giữa hai chỗ trống trên chữ viết. Từ được định nghĩa như vậy trong những công trình dịch máy. Định nghĩa này có liên quan đến nguyên tắc viết liền hay viết rời những kết cấu nào đó trong chính tả. Tuy nhiên, nguyên tắc chính tả không phải bao giờ cũng phản ánh đúng hiện tượng tồn tại khách quan trong ngôn ngữ cũng như trong cảm thức của người bản ngữ. Đồng thời có những ngôn ngữ mà trên chữ viết không có những khoảng trống giữa các từ thì không có từ chính tả, như chữ viết Thái Lan.

* Từ từ điển học: là căn cứ đặc điểm ý nghĩa của nó phải xếp riêng trong từ điển. Tiêu chuẩn tính thành ngữ về nghĩa do A.O. Xmiriskij đưa ra chính là đặc trưng của từ từ điển học. Như vậy, từ trong từ điển học không nhất thiết trùng với từ chính tả. Ngược lại, có nhiều trường hợp, từ chính tả chỉ tồn tại với tư cách là bộ phận từ của từ điển học.

* Từ ngữ âm: là nhóm các hình vị được thống nhất bởi các hiện tượng ngữ âm nào đó. Từ ngữ âm trong mỗi ngôn ngữ có những đặc trưng riêng của mình: trọng âm, sự hài hoà nguyên âm, sự biến đổi của những âm tố nào đó trong phạm vi của một từ…Xuất phát từ những đặc điểm như vậy, từ ngữ âm là cái mơ hồ nhất trong tất cả những hiện tượng được gọi là từ. Bởi vì, mỗi ngôn ngữ có những đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp khác nhau.

* Từ biến tố: là một phức thể luôn luôn gồm hai phần. Một phần có ý nghĩa đối tượng (thân từ), phần kia (biến tố) biểu thị những quan hệ cú pháp của từ đó với những từ khác trong câu. Như vậy, những ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Hán không thể có từ biến tố.

*Từ hoàn chỉnh: là nhóm hình vị không thể tách hoặc hoán vị các hình vị đó mà lại không làm thay đổi nghĩa của chúng hoặc không vi phạm mối liên hệ của chúng [8].

* Từ tiếng Việt

a. Các quan niệm khác nhau về từ trong tiếng Việt

Cho đến nay, vấn đề ranh giới từ trong Việt ngữ học vẫn đang là vấn đề nan giải. Điều này cũng dề hiểu, bởi lẽ, như đã trình bày, từ là một khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học nhưng cũng là đơn vị đa dạng và khó định nghĩa nhất trong ngôn ngữ học đại cương, nên việc nhận diện từ tiếng Việt cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ. Nhìn chung, có hai khuynh hướng chính quan niệm về từ tiếng Việt:

(1) Từ tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng): Tiêu biểu cho khuynh hướng này là M.B.Emenneu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp.

– Emeneau (1951) định nghĩa: Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học, nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh điệu.

Đặc điểm từ ngữ thể loại điều tra trên Báo Đà Nẵng
Đặc điểm từ ngữ thể loại điều tra trên Báo Đà Nẵng

– Cao Xuân Hạo (1998): Chúng ta hiểu tính đa dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đã đề nghị cho đơn vị khác thường đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordsyllabe), đơn tiết (monosyllabe) hoặc đơn giản là từ (word). Thực ra, nó chính là âm, hình vị hoặc từ và tất cả là đồng thời. Nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ, thì cơ cấu của tiếng Việt hầu như là sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết.

– Nguyễn Thiện Giáp (1996): Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền. Có thể nói, Nguyễn Thiện Giáp là người có những kiến giải tiêu biểu nhất. Tác giả coi mỗi tiếng là một từ. Những đơn vị từ vựng do tiếng kết hợp với tiếng mà thành được tác giả gọi chung là ngữ, gồm ngữ định danh, ngữ láy âm, thành ngữ và quán ngữ. Bởi lẽ, theo tác giả, về mặt tâm lí ngôn ngữ học, cái đơn vị gọi là tiếng trong Việt ngữ hoàn toàn tương đương với cái gọi là từ của các ngôn ngữ Ấn – Âu. Vả lại, truyền thống Ngữ văn Việt Nam trước đây đều coi tiếng là đơn vị cơ bản [8].

(2) Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết: Khuynh hướng thứ hai bao gồm phần lớn các nhà Việt ngữ học trong và ngoài nước. Có thể nhắc đến những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Nguyễn Tài Cẩn, Đái Xuân Ninh, Lưu Văn Lâng, Hồ Lê, Nguyễn Văn Chình-Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành,…

– Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê: Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được.

– Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật chất (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch sử.

– Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp.

– Hồ Lê: Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa.

– Ðái Xuân Ninh: Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc ngôn ngữ ở giữa hình vị và cụm từ. Nó được cấu tạo bằng một hay nhiều đơn vị ở hàng ngay sau nó tức là hình vị và lập thành một khối hoàn chỉnh.

– Lưu Vân Lăng:… Những đơn vị dùng tách biệt nhỏ nhất mới là từ. Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất. Nói cách khác, từ là ngữ đoạn (tĩnh) nhỏ nhất. Từ có thể gồm nhiều tiếng không tự do hoặc chỉ một tiếng tự do hay nhiều tiếng tự do kết hợp lại không theo quan hệ thuần cú pháp tiếng Việt.

– Ðỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu.

– Nguyễn Tài Cẩn: Cho rằng hình vị tiếng Việt là tiếng, tức một âm tiết bất kể có nghĩa, không rõ nghĩa hay vô nghĩa. Do vậy, một từ có thể gồm một tiếng hay nhiều tiếng (từ đơn và từ ghép). Trong đó, từ đơn = 1 tiếng. Trong từ ghép có: ghép âm (láy), ghép đẳng lập, ghép chính phụ, ghép ngẫu kết.

Ví dụ:

– Ăn uống (từ ghép đẳng lập) gồm: ăn + uống = 2 hình vị.

– Mỹ nhân (từ ghép chính phụ) gồm: mỹ = nhân = 2 hình vị.

– Dễ dàng (ghép âm, láy) gồm: dễ = dàng = 2 hình vị.

– Bồ hóng (từ ghép ngẫu kết, do bồ và hóng đều không có quan hệ ngữ pháp và nghĩa, nhưng ghép chung có nghĩa). [1].

Trong luận văn này, chúng tôi theo quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn để thực hiện việc khảo sát, phân tích, đánh giá từ trong thể loại điều tra trên Báo Đà Nẵng. Bởi quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn được đa số các nhà Việt ngữ đồng tình và phù hợp với xu thế dạy học tiếng Việt trong trường phổ thông hiện nay.

1.1.2. Khái quát về ngữ

Theo khảo sát, thống kê của Hoàng Phê [22], tiếng Việt hiện đại sử dụng 6.718 âm tiết – chữ viết. Với con số này, cho thấy số lượng từ trong tiếng Việt không phải là nhiều. Trong quá trình vận động, phát triển, hệ thống từ tiếng Việt không đủ để biểu thị một số lượng lớn các khái niệm, hiện tượng khác nhau trong đời sống xã hội. Vì vậy, nhu cầu cấu tạo thêm những đơn vị từ vựng mới trên cơ sở những từ đã có rất cần thiết, và trở thành nhu cầu tất yếu.

Ngữ là một loại phương tiện, một loại biện pháp mà bất cứ ngôn ngữ nào cũng có nhằm khắc phục một phần nào tính có hạn của các từ, tính không hàm súc, không cô đọng của các phương tiện lời nói trong sự biểu vật và biểu thái. [11, tr. 155].

Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cho rằng, trong tiếng Việt có các loại ngữ sau: ngữ cố định và ngữ tự do. Trong đó, ngữ cố định (gồm thành ngữ và quán ngữ) thuộc lĩnh vực từ vựng học, còn ngữ tự do (danh ngữ, động ngữ, tính ngữ) thuộc lĩnh vực ngữ pháp.

Ngữ cố định là các cụm từ (ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa của cụm từ, cấu tạo là cấu tạo của cụm từ) đã cố định hoá nên nó có tính chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc và có tính xã hội như từ. Ví dụ: mũ ni che tai, hết nước hết cái, mua dây buộc mình, rán sành ra mỡ, nằm mơ giữa ban ngày,…

Cho đến nay đã có nhiều kiến nghị phân loại ngữ cố định tiếng Việt theo kết cấu và mỗi kiến nghị đều có cái được, cái chưa được. Tuy nhiên, phân loại ngữ cố định theo hình thức tốt nhất là phân loại làm sao cho kết quả tương ứng với những đặc trưng ngữ nghĩa của các ngữ cố định trong cùng một loại. Trong Giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt” (2007), Đỗ Hữu Châu đề nghị phân loại hình thức các ngữ cố định tiếng Việt theo kết cấu cú pháp của các từ trong ngữ [4]. Theo tiêu chí này thì các ngữ cố định chia thành hai loại lớn: thứ nhất, các ngữ cố định có kết cấu là cụm từ và thứ hai, các ngữ cố định có kết cấu là câu. Mỗi loại đó lại được tiếp tục phân chia theo các loại nhỏ hơn nữa.

a. Đặc điểm của ngữ cố định

Tính thành ngữ: Do cố định hoá, do tính chất chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều có tính thành ngữ. Tính thành ngữ được định nghĩa như sau: cho một tổ hợp có nghĩa S do các đơn vị A,B, C…mang ý nghĩa lần lượt s[1], s[2], s[3]…tạo nên. Nếu như nghĩa S không thể giải thích bằng các ý nghĩa s[1], s[2], s [3] thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ.

Ví dụ, hết nước hết cái là tổ hợp có tính thành ngữ vì ý nghĩa “quá dài, quá mức chịu đựng, bực dọc, sốt ruột” của nó không thể giải thích được bằng các nghĩa của hết nước hết cái…Tính thành ngữ của các ngữ cố định có những mức độ từ thấp đến cao khác nhau. Ví dụ Ba hoa thiên tướng có tính thành ngữ thấp hơn ba chìm bảy nổi, ba chìm bảy nổi có tính thành ngữ thấp hơn ba cọc ba đồng…

Tính tương đương với từ về chức năng tạo câu: Nói ngữ cố định là các cụm từ cố định hoá ra là nói chung. Sự thực thì trong các ngữ cố định, có nhiều ngữ có hình thức cấu tạo là câu, như: chuột chạy cùng sào, chuột sa chĩnh gạo, cha truyền con nối, chim chích vào rừng, chim sa cá lặn, chạch trong giỏ cua, chó ngáp phải ruồi, đũa mốc chòi mâm son,…thậm chí có hình thức cấu tạo là câu ghép: đâm bị thóc chọc bị gạo, chùa rách phật vàng, gió chiều nào che chiều ấy, ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng,…Bởi vậy, cái quyết định để xác định các ngữ cố định là tính tương đương với từ về chức năng tạo câu. Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ không phải vì chỉ chúng có tính sẵn có, bắt buộc…như từ mà còn vì ở trong câu chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu.

Ví dụ, từ mãi trong câu: “Tôi chờ anh mãi mà không thấy anh đến” có thể thay bằng: “Tôi chờ anh hết nước hết cái mà không thấy anh đến”; hoặc từ hợp lực trong câu: “Nếu không hợp lực với nhau mà làm ăn thì cũng khó thoát được cái đói và cái rét” có thể thay bằng ngữ chung lưng đấu cật thành “Nếu không chung lưng đấu cật với nhau mà….”.

Nói ngữ cố định có tính chất chặt chẽ, cố định không có nghĩa là chúng không biến đổi trong câu văn cụ thể. Ngay cả các từ phức mà ý nghĩa có tính chất thống nhất rất cao cũng còn có những biến thể lới nói, huống chi các ngữ cố định vốn có ý nghĩa lỏng lẻo hơn ý nghĩa của từ phức nhiều. Cho nên, sự biến đổi của các ngữ cố định đa dạng hơn, “tự do” hơn các biến thể của từ phức.

Ví dụ các ngữ cố định cũng có thể rút gọn, như ngữ chết nhăn răng, tốt mã giẻ cùi, có thể rút gọn thành nhăn răng, tốt mã. Chúng cũng có thể được mở rộng thêm thành phần như ngữ: học như cuốc kêu được mở rộng thành: học như cuốc kêu ra rả mùa hạ; ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng mở rộng thành: ăn cơm nhà mà lại đi thổi tù và hàng tổng, người ta cười cho…

Từ trong ngữ cố định cũng có thể thay thế được bằng những từ cùng trường nghĩa hoặc đồng nghĩa: Đi guốc trong bụng thành Lê dép loẹt qoẹt trong bụng; Lúng túng như chó ăn vụng bột thành Lúng túng như chư chó xơi trộm bột.

Chúng ta thấy, những biến thể của ngữ cố định linh hoạt hơn, rộng rãi hơn, không có qui tắc như biến thể của từ phức. Tuy nhiên, dù có biến thể thế nào đi nữa thì các biến thể cũng không được phép vượt quá công thức kết cấu và các quan hệ ngữ nghĩa vốn có trong ngữ quá xa. Nếu không đảm bảo điều kiện này thì chúng ta có ngữ cố định khác, không còn là ngữ cố định cũ nữa.

b. Phân loại ngữ cố định

* Phân loại ngữ cố định theo kết cấu

Đây là sự phân loại căn cứ vào các công thức kết cấu, tức công thức tổ hợp các từ tạo nên ngữ cố định. Cũng có thể gọi phân loại theo kết cấu là phân loại hình thức.

+ Các ngữ cố định có kết cấu là cụm từ:

– Các ngữ cố định có các từ trung tâm: Dai như đỉa, đỏ như son, đen như mực, bạc như vôi, tức như bò đá. dãi dầu mưa nắng, dãi gió dầm mưa, cướp cháo lá đa, cướp công cha mẹ, cướp cơm chim, chạy long tóc gáy, chạy thục mạng, chạy như cờ lông công….

– Các ngữ cố định không có từ trung tâm: dây mơ dễ má, một nắng hai sương, dầu sôi lửa bỏng, đỏ dầu vào lủa, đem con bỏ chợ…

+ Các ngữ cố định có kết cấu là câu:

Các ngữ cố định có kết cấu câu đều không có từ trung tâm. Đó là các ngữ cố định có kết câu là một câu đơn: chuột chạy cùng sào, chuột sa chĩnh gạo, ruột bỏ ngoài da, thân làm tội đời, thần hồn nát thần tính; hoặc có kết cấu là một câu ghép: đâm bị thóc, chọc bị gạo; ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng; mâm cao cỗ đầy; mặt xanh nanh vàng; vật đổi sao dời….

Mỗi loại lớn phân chia theo kết cấu cú pháp lại có thể chia nhỏ thành các kiểu nhỏ hơn:

– Ngữ so sánh: dai như đỉa, nặng như đá, dai như chó nhai dẻ rách…

– Ngữ không so sánh, ngữ đối: sáng nắng chiều mưa, ăn tục nói phét, ăn tươi nuốt sống..

– Ngữ phi đối xứng: cá nằm trên thớt, ngàn cân treo sợi tóc…

* Phân loại ngữ cố định theo chức năng

Căn cứ vào hoạt động của ngữ cố định trong chức năng tạo câu tương tự như chức năng tạo câu của các từ, có thể chia ngữ cố định thành hai loại lớn: ngữ cố định miêu tả và quán ngữ. Trong đó, ngữ cố định miêu tả (còn gọi ngữ định danh, thành ngữ):

– Ngữ cố định miêu tả là những ngữ cố định tương đương với các từ định danh. Chúng vừa có tác dụng gọi tên sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái chưa có tên gọi; vừa có tác dụng thể hiện các sắc thái khác nhau của một sự vật, một hoạt động, một tính chất, một trạng thái nếu chúng đã có tên gọi, đó là trường hợp các ngữ: mắt lươn, mắt phượng, mắt ốc nhồi, mắt cá chày, mắt lợn luộc…miêu tả các hình dáng khác nhau của mắt con người: dai như đỉa, dai như chão, dai như chó nhai dẻ rách…thể hiện các tính chất dai của các sự vật, các hành động khác nhau…; chạy long tóc gáy, chạy bán xới, chạy như cờ lông công…miêu tả các tình thế, các dạng chạy khác nhau; nói nước đôi, nói buông xuôi, nói vuốt đuôi, nói bãi đôi, nói cứ như thật….miêu tả các cách nói khác nhau v.v.

Những ngữ cố định phân loại theo kết cấu cú pháp nói trên đều là các ngữ cố định miêu tả, ngữ cố định định danh, hay còn gọi là các thành ngữ.

Quán ngữ là các ngữ cố định phần lớn không có từ trung tâm, không có kết cấu câu. Chúng là những công thức nói lặp đi lặp lại với những từ ngữ tương đối cố định, không có tác dụng định danh cũng không có tác dụng sắc thái hoá sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái, mà chủ yếu là để đưa đẩy, để liên kết, chuyển ý, để thể hiện các hành động nói khác nhau và nhất là đảm nhiệm chức năng rào đón. Ở trong câu, các quán ngữ không đảm nhiệm chức năng làm thành phần chính trong nòng cốt câu mà đảm nhiệm các chức năng ngoài nòng cốt câu như chuyển tiếp, chêm, xen kẽ, tình thái, các chức năng dụng học cơ bản .

Ví dụ các quán ngữ thường gặp trong tiếng Việt: Một mặt là…,mặt khác là…, thứ nhất …, thứ hai…,nói cách khác…, nói khác đi…, tóm lại…, nói tóm lại…, như sau…, dưới đây…, the tôi thì, ai cũng biết, tôi nghĩ rằng, tôi đã chắc chắn rằng, dễ thường, lẽ nào…, tôi cho rằng, có mà đến tết, thảo nào, khổ một nỗi, xin bỏ ngoài tai, chả trách, may ra,chưa biết chừng…, liệu thần hồn…[6].

C. Giá trị ngữ nghĩa của ngữ cố định

Ngữ cố định là một loại phương tiện, một loại biện pháp mà bất cứ ngôn ngữ nào cũng có nhằm khắc phục một phần nào tính có hạn của các từ, tính không hàm súc, không cô đọng của các phương tiện lời nói trong sự biểu vật và biểu thái. Cho nên, để đánh giá đúng đắn giá trị của các ngữ cố định, cần phải đối chiếu nó với các từ và các cụm từ tự do về ngữ nghĩa. Đối chiếu như vậy thì thấy, hầu như tất cả các ngữ cố định đều có cấu trúc ngữ nghĩa tương đương với ngữ nghĩa của cụm từ tự do. Đây là đặc trưng ngữ nghĩa cơ bản của ngữ cố định.

Việc xác định thành phần trung tâm về ngữ nghĩa chính là căn cứ của việc phân loại ngữ cố định theo kết cấu thành ngữ cố định có từ trung tâm và ngữ cố định không có từ trung tâm thực hiện ở trên.

Nhờ việc xác định các thành phần trung tâm của các cụm từ tự do tương đương mà chúng ta thấy có những ngữ cố định đồng nghĩa với một từ đã có sẵn trong từ vựng và những ngữ cố định không đồng nghĩa với một từ nào đã có trong từ vựng.

Các ngữ cố định mà từ trung tâm nằm ngay trong ngữ thì đồng nghĩa một cách hiển nhiên với từ sẵn có.

Ví dụ:

Dai như chão

Dai như đỉa đói đồng nghĩa với dai

Dai như chó nhai dẻ rách

Nói thánh nói tướng

Nói thiên hô bát xát đồng nghĩa với nói khoác

Nói một tấc lên trời

Chạy long tóc gáy

Chạy thục mạng đồng nghĩa với chạy

Chạy như cờ lông công

Ngữ tự do (cụm từ tự do) là những tổ hợp do từ cấu tạo nên và hoạt động với tư cách là những bộ phận cấu thành câu. Ngữ tự do có tính chất kết hợp tạm thời, mỗi lần dùng đều được cấu tạo mới và chỉ tồn tại trong phạm vi một văn cảnh, ngữ cảnh nhất định. Đặc điểm của ngữ tự do là những bộ phận cấu thành có thể được thay thế bằng những từ khác cùng loại. Nghĩa của cụm từ tự do là nghĩa tổng hợp của các từ riêng lẻ, dùng để định danh như thành ngữ nhưng không có giá trị hình ảnh, biểu cảm. Sự kết hợp của ngữ tự do chỉ phục tùng những chuẩn mực từ vựng, ngữ pháp. [6].

1.2. Đặc điểm ngôn ngữ báo chí

Như chúng ta đã biết hoạt động thông tin truyền thông nói chung và báo chí nói riêng ngày càng có vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Thông qua việc đăng tải các bài viết, tin tức trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh – quốc phòng trong và ngoài nước, báo chí không chỉ tuyên truyền quan điểm đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, định hướng dư luận xã hội mà còn góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống tinh thần của nhân dân.

Trong những năm qua, các bài viết trên Báo Đà Nẵng luôn nhận được sự quan tâm đông đảo của độc giả và ngày càng đa dạng về chất lượng, nội dung, đề tài phản ánh. Đặc biệt, trong nhiều tác phẩm, các tác giả đã khéo léo vận dụng đan xen các yếu tố như: từ toàn dân, từ địa phương, từ Hán Việt, từ thuần Việt, từ ngữ có nguồn gốc khác, tiếng lóng, thành ngữ vào trong bài viết, tạo sự phong phú, đa dạng về ngôn ngữ, lôi cuốn bạn đọc, đồng thời mang lại hiệu quả, mục đích tuyên truyền cao. Nhà báo biết vận dụng từ ngữ linh hoạt, thích hợp với từng sự kiện, đề tài phản ảnh thì bài viết đó sẽ mang nết độc đáo riêng, cô đọng và “đắt giá” hơn nhiều so với cách sử dụng tổ hợp từ thông thường theo khuôn mẫu, sáo mòn.

Ngôn ngữ báo chí phục vụ cho cách thức tiếp cận hiện thực của báo chí. Vì vậy, đặt ngôn ngữ báo chí dưới cái khung đặc thù của báo chí để từ đó tìm ra cách viết riêng của mỗi loại hình báo. Ngôn ngữ báo chí phải đáp ứng những đòi hỏi nghiệp vụ về phẩm chất, về hiểu biết mà ở những ngành khác không cần thiết như vậy. Để đáp ứng được những tiêu chí trên, ngôn ngữ báo chí dựa trên những cơ sở sau đây:

Những người làm báo là những “chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng”, những người trực tiếp tham gia vào hoạt động chính trị – xã hội. Nhà báo hoạt động không khác gì nhà chính trị, nhà ngoại giao, bởi họ phải biết khéo léo trong ứng xử, có cách đối phó, khai thác các sự kiện, vấn đề diễn ra trong đời sống xã hội. Qua đó thực hiện các bài viết, nêu rõ quan điểm cá nhân, có thể là phê phán, lên án hay cổ vũ, bày tỏ thái độ đồng tình trước một sự kiện, vấn đề nhiều người quan tâm, qua đó góp phần định hướng dư luận xã hội.

Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức của quốc gia, là tiếng mẹ đẻ của người Việt. Nên ngoài việc thể hiện sinh động tiếng mẹ đẻ trên các tác phẩm báo chí, truyền tải tư tưởng, tình cảm đến đông đảo các đối tượng công chúng, nhà báo còn có trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt thông qua việc sử dụng từ ngữ theo đúng chuẩn mực trong các tác phẩm báo chí của mình.

Ngoài việc được trang bị kỹ năng, kiến thức nghiệp vụ ở nhà trường, người làm báo phải luôn biết học hỏi, tự trang bị cho mình một vốn kiến thức vừa sâu vừa rộng trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, đời sống xã hội. Thông qua vốn kiến thức về ngôn ngữ, nhà báo phải biết cách khai thác vấn đề, xử lý thông tin, diễn đạt ngôn ngữ sinh động trong tác phẩm dựa trên sự trung thực, khách quan và nhanh chóng, chính xác nhất.

Tóm lại, ngôn ngữ báo chí là một lĩnh vực chuyên nghiệp của báo chí. Và tác phẩm báo chí thể hiện thông qua ngôn ngữ cần có sự linh động, phù hợp với từng ngữ cảnh nhất định trong tác phẩm.

1.3. Khái quát về thể loại điều tra báo chí

1.3.1. Khái niệm thể loại điều tra

Tác phẩm điều tra thường xuất hiện khi cần câu trả lời cho một câu hỏi nào đó. Nhiệm vụ của bài điều tra là giải thích, làm sáng tỏ những vấn đề đang có nhiều ý kiến tranh luận, nhiều quan điểm khác nhau; bám sát những mâu thuẫn tồn tại trong cuộc sống, tái hiện lại, tìm ra bản chất, xu hướng vận động phát triển và đôi khi là hướng giải quyết mâu thuẫn đó.

Tuy nhiên, không giống với cách trả lời bằng nghệ thuật lập luận (như tác phẩm bình luận) hay thông qua một bức tranh toàn cảnh vừa khái quát, vừa chi tiết, sống động (như trong phóng sự), thể loại điều tra trả lời những câu hỏi trên cơ sở của một logic chặt chẽ, thông qua một hệ thống các bằng chứng được bố trí hợp lý nhằm làm sáng tỏ bản chất của các sự vật, hiện tượng.

Trong cuộc sống của chúng ta hằng ngày xuất hiện rất nhiều mâu thuẫn, nhưng không phải mâu thuẫn nào cũng là đối tượng của tác phẩm điều tra. Để trở thành đối tượng phản ánh trong một tác phẩm điều tra, mâu thuẫn đó phải tồn tại trong một vấn đề, trong một hoàn cảnh tiêu biểu, có ý nghĩa.

Nguyễn Đức Dũng, giảng viên học viện Báo chí và Tuyên truyền nói rằng: “Điều tra là một thể loại báo chí nằm trong nhóm các thể thông tấn báo chí. Nó có mục đích và có nhiệm vụ đem lại những câu trả lời trước những sự thật chứa đựng mâu thuẫn nổi bật trong đời sống. Bằng việc nêu lên vấn đề, phân tích những khả năng và nhân tố mới, phân tích mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, người viết điều tra rút ra những kết luận cần thiết, chỉ ra bản chất của sự vật và hiện tượng, đem lại câu trả cho công chúng”. [7].

Còn trong “Giáo trình Báo chí điều tra” của A.A Chertưchơnưi, NXB Thông tấn – Hà Nội, năm 2004 (Phạm Thảo và Huyền Nhung dịch), tác giả cho rằng “Việc điều tra nhằm đạt tới kết quả chính trị hoặc kinh tế nào đó, ví như lên án hoạt động của một tổ chức chính trị cực đoan, phát hiện hiện tượng lợi dụng chức quyền, khai trừ một quan chức tham nhũng khỏi vị trí lãnh đạo bộ, tước quyền miễn trừ của một nghị sĩ gian lận và tìm đường đưa nguồn tài chính bị cướp bóc về nước…Kết quả công tác điều tra khi được tiến hành và công bố còn nhằm đạt tới mục tiêu quan trọng khác là giáo dục đạo đức cho công chúng. Cần nói rằng có thể dành riêng công tác điều tra trong nghề báo chí vào việc phát hiện những hành vi vi phạm đạo đức hoặc rút ra những ý nghĩa (bài học) đạo đức từ một sự kiện nào đó” [5].

Dù mỗi tác giả, mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một khái niệm, có thể dài hay ngắn, rộng hay hẹp, nhưng theo chúng tôi, trước hết điều tra là một thể loại báo chí ra đời sớm, nó có chức năng cung cấp cho bạn đọc những thông tin còn bị ẩn khuất, che lấp trong đời sống xã hội, thông qua ngoài bút khéo léo của nhà báo. Với thể loại báo chí này, nhà báo có trách nhiệm phơi bày những mảng tối, góc khuất ẩn sâu trong các ngõ ngách cuộc sống, trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội…để mọi người có cái nhìn toàn diện, thấu đáo, đánh giá đúng với bản chất sự việc, qua đó bày tỏ thái độ của mình.

1.3.2. Phân loại thể loại điều tra

Trong thể loại báo chí điều tra gồm có điều tra và phòng sự điều tra. Vậy điều tra và phóng sự điều tra có gì khác nhau?

Trong cuốn “Tác phẩm báo chí” tập 2, NXB Lý luận Chính trị, 2014, các tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên), nhà báo Hữu Thọ, TS. Nguyễn Thị Thoa, Ths. Lê Thị Thanh Xuân cho rằng, có người nói điều tra thì nghiêng về nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực tiễn qua sự kiện; còn phóng sự điều tra thì nghiêng về nghiên cứu và đánh giá thực tiễn qua miêu tả sự kiện. Dấu hiệu này cũng dễ nhận biết và có thể nói là tiêu chí quan trọng. Nhưng điều này cũng có thể bàn thêm. Trong các tác phẩm báo chí được gọi là phóng sự, hay đặc tả nhân vật đều có sự đánh giá, phát hiện của người viết, nhưng cái chất nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực tiễn bằng tư duy lô-gic ở điều tra và phóng sự điều tra có tính nổi trội [7].

Phóng sự tập trung trả lời câu hỏi “như thế nào” với chất liệu cơ bản là các chi tiết sống động mắt thấy tai nghe. Còn điều tra lại tập trung nhấn mạnh trả lời câu hỏi “tại sao?”.

Điều tra cũng như các thể loại khác đều phản ánh hiện thực khách quan nhưng là hiện thực khách quan quan trọng, đang nảy sinh hoàn cảnh có vấn đề, tức là nảy sinh những câu hỏi liên quan tới những vấn đề mà nhiều người quan tâm, muốn biết chính xác.

Điều tra cũng như các thể loại phản ánh khác đều phải phản ánh có chọn lọc, chọn lựa đề tài và chi tiết. Trong cuộc sống hàng ngày có rất nhiều câu hỏi nhưng trên mặt báo không thể giải thích hết được. Sự chọn lựa đề tài là sự chọn lựa những hoàn cảnh có vấn đề quan trọng mà nhiều người quan tâm, liên quan tới việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị rộng lớn. Rồi còn còn vấn đề chọn lựa chi tiết. Chi tiết nào đáng giá để trả lời những câu hỏi có tính thuyết phục cao.

Điều tra phải qua cắt nghĩa, giải thích để chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người…Cắt nghĩa, phân tích, tìm ra những câu trả lời cho những câu hỏi đó là định hướng phải làm gì để thay đổi tình trạng đó.

Nếu câu hỏi quan tâm tới nhiều người là thời cơ viết điều tra thì câu trả lời chính xác sẽ tạo ra hiệu quả xã hội rộng lớn của bài điều tra. Người viết điều tra phải có một hoạt động chuẩn bị rất quan trọng là nghiên cứu những câu hỏi của xã hội, nghĩa là nghiên cứu xem xã hội quan tâm vấn đề gì và muốn được giải đáp vấn đề gì? [5].

1.3.3. Đặc trưng của thể loại điều tra

Trên phương diện nội dung, thể loại điều tra trên báo chí hiện nay có những đặc điểm cơ bản như sau: Đối tượng phản ánh của điều tra là những sự thật chứa đựng mâu thuẫn đang cần có câu trả lời hoặc đã có nhiều cách giải đáp khác nhau nhưng chưa có một cách đúng đắn nhất. Như vậy, điều tra có nhiệm vụ trả lời những câu hỏi mà cuộc sống đặt ra, làm sáng tỏ những vấn đề đang gây ra nhiều ý kiến, nhiều cách hiểu khác nhau để giúp cho độc giả có câu trả lời đúng nhất, cách nhìn xác thực nhất.

Tác phẩm báo chí điều tra phải làm rõ những thông tin còn chứa nhiều uẩn khúc, nhiều mâu thuẫn, thường không có sẵn lời giải đáp từ các cơ quan công quyền hoặc các cơ quan chuyên môn. Cũng có thể câu trả lời đang nằm đâu đó, nhưng để đến được với nó, phóng viên phải bỏ nhiều công sức.

Bài điều tra có nhiệm vụ nêu vấn đề, trình bày vấn đề, phân tích vấn đề, và cuối cùng phải kết luận vấn đề. Kết luận của bài điều tra có sức thuyết phục, chính vì các bằng chứng được trình bày một cách thuyết phục và sự phân tích với lý lẽ thuyết phục.

Bài điều tra cần phải có một kết luận rõ ràng, dứt khoát để giúp độc giả có được câu trả lời cuối cùng, chính xác nhất về vấn đề được đề cập. Kết luận thường nhấn mạnh đến điều quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định nhất đến vấn đề đó. Kết luận phải rõ ràng, dứt khoát và có sức thuyết phục. Trong thực tế, tác phẩm điều tra có thể trả lời với những cấp độ khác nhau: vạch trần sự thật; nêu bài học kinh nghiệm và giải pháp; nêu ý kiến, kiến nghị giải quyết…

Đặc điểm hình thức của tác phẩm báo chí điều tra: Tittle và sapô của bài điều tra thường được đặt đơn giản, ngắn gọn, súc tích, chặt chẽ và nó gây ấn tượng, thuyết phục công chúng bằng sự chính xác. Tít thường được đặt theo cách nêu lên thông tin chi tiết, số liệu hoặc nêu chi tiết, số liệu kết hợp với ý nghĩa, tính chất của sự việc.

Trong tác phẩm điều tra, ngoài tittlet chính thì thường có các tittlet xen đặt rải rác trong bài viết. Tùy theo dung lượng bài điều tra dài hay ngắn mà tác giả bố trí tittlet xen phù hợp. Trong mỗi tittlet xen thường có một luận cứ chính. Việc đặt tittlet xen là nhằm phân chia bài điều tra thành các phần cho rõ ràng, dễ đọc, dễ hiểu. Vì đặc điểm dung lượng bài điều tra tương đối lớn nên việc phân chia tittlet xen cũng giúp cho người đọc tránh được sự mỏi mắt, dễ nắm được nội dung của từng phần. Ngoài ra, các tittlet này còn tóm tắt và giúp cho người đọc dễ dàng nắm được nội dung chủ yếu của toàn bài.

Sau tittlet chính, bài điều tra thường có phần sapô để nêu tóm tắt những nội dung cốt lõi, khơi gợi vấn đề, sự kiện phản ảnh để tạo sự tò mò, thu hút sự chú ý của công chúng. Sapô của điều tra thường ngắn gọn, rõ ràng và có tính khái quát, khơi gợi được vấn đề được nêu, giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quát về sự kiện, vấn đề mà tác giả muốn đề cập trong bài viết.

Ngôn ngữ, giọng điệu của bài điều tra: Tác phẩm điều tra thường có ngôn ngữ trực tiếp, ngắn gọn, xác thực, đơn giản, dễ hiểu. Ngôn ngữ trong bài điều tra có tính chất thông tấn. Vì đặc thù của bài điều tra là phân tích, lý giải, chứng minh sự thật nên ngôn từ càng đơn giản, trực tiếp, dễ hiểu bao nhiêu thì người đọc càng dễ tiếp nhận bấy nhiêu.

Tác giả có thể xuất hiện trong bài điều tra với tư cách “cái tôi nhân chứng”, vì vậy để đảm bảo tính khách quan, giọng điệu trong bài điều tra bao giờ cũng phải là một giọng điệu nghiêm túc. Giọng điệu nghiêm túc, đơn giản kết hợp với lý lẽ, phân tích của tác giả nhằm tăng sức thuyết phục người đọc.

Dung lượng, bố cục của bài điều tra: Tác phẩm điều tra thường có dung lượng lớn. Tuy nhiên dung lượng này cũng tuỳ thuộc vào tính chất của nội dung. Có bài điều tra chỉ dài khoảng 800 – 1.000 chữ. Tuy nhiên, cũng có những bài phải đăng đến vài kỳ trên báo, do phụ thuộc vào đề tài được phản ảnh. Nhìn chung, dung lượng của bài điều tra thường lớn hơn các thể loại khác.

Với dung lượng lớn như vậy, việc có được một bố cục rõ ràng, hợp lý sẽ tăng hiệu quả tác động của tác phẩm điều tra. Do hệ thống bằng chứng phong phú nên việc sắp xếp chúng như thế nào để đảm bảo phát huy hiệu quả cao nhất đòi hỏi sự tính toán khéo léo của tác giả. Không thể chỉ đơn thuần liệt kê, biến hệ thống bằng chứng thành số cộng các bằng chứng đơn lẻ, tác giả cần phải biết cách sắp xếp, kết hợp chúng một cách hợp lý nhất.

Tác phẩm điều tra thường có bố cục rất rõ ràng gồm ba phần: nêu vấn đề – chứng minh vấn đề – kết luận. Về bút pháp, người viết thường sử dụng kết hợp các bút pháp phân tích, tổng hợp, đôi khi còn có thống kê, so sánh nhằm giúp độc giả hiểu rõ thêm về vấn đề, sự kiện được phản ánh. Tác giả có thể so sánh vấn đề đó với các vấn đề khác, so sánh sự việc này với chính nó trước đây hoặc so sánh các số liệu với nhau. Thông qua các so sánh đó, công chúng sẽ hình dung được quy mô, tầm vóc của sự việc, vấn đề…[5].

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\NGON NGU HOC\PHAM NGOC DOAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *