9
Đối chiếu thành ngữ tục ngữ biểu hiện lời khen lời chê trong tiếng Việt và tiếng Hàn Quốc
MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong giao tiếp, thành ngữ và tục ngữ là những sáng tạo dân gian mang đậm bản sắc dân tộc, do vậy khi nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa của bất kì quốc gia nào trên thế giới, người ta không thể không nói đến thành ngữ và tục ngữ. Thành ngữ, tục ngữ là sản phẩm của tư duy, là công cụ diễn đạt tri thức và ghi lại những kính nghiệm quý báu về cuộc sống lao động, sản xuất, đấu tranh…của con người. Bên cạnh đó, thành ngữ và tục ngữ còn mang những giá trị giáo huấn rất cao. Thành ngữ, tục ngữ sâu sắc, thâm thúy về nội dung, phong phú, đa dạng về nghệ thuật biểu hiện, do đó có sức sống lâu bền, có thể truyền từ đời này sang đời khác. Và bất kỳ dân tộc nào trên thế giới, cũng có ít nhiều những thành ngữ, tục ngữ biểu hiện lời khen (LK) và lời chê (LC).
Khen, chê là một trong những mục đích của hoạt động giao tiếp ngôn ngữ mà trong bất kỳ xã hội, dân tộc nào cũng có. Sự khen, chê thường được sử dụng theo thói quen, theo tập quán, tập tục của từng dân tộc. Cùng với sự phát triển của lý thuyết ngôn ngữ học và những nghiên cứu về phép lịch sự trong giao tiếp, dần dần khen, chê được xét đến như là một trong những hoạt động ngôn từ gắn với phép lịch sự trong nghi thức giao tiếp.
Khi người nói muốn diễn đạt sự đánh giá tích cực về người, vật, thuộc tính, hoặc hành vi nào đó với quan điểm hài lòng, ghi nhận vì cho rằng như thế là tốt, là giỏi, là đạt yêu cầu, đáng được đánh giá cao…, chúng ta đã thực hiện một hành vi, một thái độ khen người, vật, thuộc tính, hoặc hành vi đó và các biểu thức ngôn ngữ diễn đạt các hàm ý như trên thì được coi là biểu thức ngôn ngữ có hàm ý khen. Chẳng hạn, ngoài cái ý nghĩa miêu tả bình thường ra, thành ngữ “tài sắc vẹn toàn”,“chim sa cá lặn” bao hàm ý khen về vẻ đẹp của hình thức, diện mạo, cốt cách mỹ nhân của người được nói tới, được miêu tả bằng thành ngữ đó; còn thành ngữ “thức khuya dậy sớm” thì lại bao hàm ý khen về sự chăm chỉ siêng năng trong công việc của người được đề cập.
Ngược lại, khi người nói muốn diễn đạt sự đánh giá tiêu cực, có hàm ý chê về người, vật, thuộc tính, hoặc hành vi nào đó với quan điểm không ưa thích, không hài lòng, đánh giá thấp…theo chiều hướng tiêu cực vì cho là kém, là xấu, không đạt yêu cầu, không được bình thường…Ví dụ trong các thành ngữ “mặt bủng da chì”, “ăn xó mó niêu”, “qua cầu cất nhịp”, “chị em nắm nem ba đồng”… ngoài các ý nghĩa miêu tả bình thường, còn bao hàm ý chê bai về dung mạo và sức khoẻ (mặt bủng da chì), chê bai về hành vi, nhân cách bần tiện (ăn xó mó niêu), đố kỵ, không muốn cho ai cùng được thuận lợi, may mắn như mình (qua cầu cất nhịp), coi trọng tiền tài hơn cả tình nghĩa, đạo lý (chị em nắm nem ba đồng)…
Cũng như mọi quốc gia khác trên thế giới, ở Hàn Quốc, sự giao tiếp của con người cũng bao gồm giao tiếp bằng lời và không lời để truyền tải kiến thức, thông tin, chia sẻ những tâm tư, tình cảm, dự định… của những người tham gia cuộc trò chuyện bằng cách đưa những câu thành ngữ, tục ngữ vào trong các tình huống giao tiếp, làm cho việc giao tiếp trở nên gần gũi và người nghe sẽ dễ dàng nhận ra bất kỳ ý định nào mà người nói muốn đạt được. Để làm được như vậy, giao tiếp không chỉ cần có sự chính xác của các quy tắc trong hệ thống ngôn ngữ, mà bản thân nó còn phải có tính xã hội. Do vậy, hiệu quả giao tiếp sẽ rất cao nếu người dùng ngôn ngữ biết lựa chọn các biểu thức giao tiếp hoặc chiến lược giao tiếp phù hợp với ngữ cảnh.
Ví dụ: 우물 안 개구리 (nghĩa tương đương: ếch ngồi đáy giếng); 이를 갈다 (nghiến răng chịu đựng); 콧대가 높다 (tự cao tự đại, mèo khen mèo dài đuôi); 님의 떡이 더 커 보인다 (đứng núi này trông núi nọ); 힘에 겹도록 물건을 짊어지고 있는 (tay xách nách mang)…
Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Đối chiếu thành ngữ, tục ngữ biểu hiện lời khen, lời chê trong tiếng Việt và tiếng Hàn Quốc” để làm luận văn của mình.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa của những thành ngữ, tục ngữ biểu hiện ý nghĩa LK và LC trong tiếng Việt và tiếng Hàn.
Đồng thời thông qua việc đối chiếu cấu trúc ngữ nghĩa của những thành ngữ, tục ngữ biểu hiện ý nghĩa LK và LC trong tiếng Việt và tiếng Hàn để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng ngôn ngữ của từng nhóm đối tượng, gắn liền với tư duy và văn hóa. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp ích cho công tác dịch thuật, biên soạn giáo trình dạy tiếng và góp phần nâng cao việc dạy và học tiếng Hàn cho người Việt và tiếng Việt cho người nước ngoài, đồng thời giúp cho việc giao tiếp ứng xử trong xã hội hằng ngày đạt hiệu quả cao nhất.
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cấu trúc ngữ nghĩa của những thành ngữ, tục ngữ biểu hiện ý nghĩa LK và LC trong tiếng Việt và tiếng Hàn.
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa của những thành ngữ, tục ngữ biểu hiện ý nghĩa LK và LC trong tiếng Việt và tiếng Hàn qua các chiến lược giao tiếp trực tiếp/gián tiếp, tường minh/hàm ẩn. Các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này.
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2021-5/2022.
1.4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, chúng tôi hướng đến những câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Cấu trúc ngữ nghĩa của những thành ngữ, tục ngữ mang ý nghĩa LK và LC được biểu hiện như thế nào trong tiếng Việt?
(2) Cấu trúc ngữ nghĩa của những thành ngữ, tục ngữ mang ý nghĩa LK và LC được biểu hiện như thế nào trong tiếng Hàn?
(3) Trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn, đâu là những điểm tương đồng và điểm khác nhau trong việc thể hiện những nội dung, ý nghĩa của LK và LC này?
1.5. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn giúp chúng ta hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về cách biểu hiện LK, LC trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn Quốc ở góc độ ngữ nghĩa; nêu lên đặc điểm tương đồng và dị biệt trong hành vi khen và hành vi chê giữa tiếng Việt và tiếng Hàn.
Góp phần tích cực trong việc dạy và học ngoại ngữ (cụ thể là việc dạy và học tiếng Việt và tiếng Hàn), đặc biệt là trong văn hóa ứng xử, giao tiếp hằng ngày.
Có thể vận dụng những hiểu biết về cách nói khen, chê của hai thứ tiếng Việt, Hàn vào việc biên soạn các chương trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, tiếng Hàn cho người Việt.
1.6. Cấu trúc của đề tài
Luận văn được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1. Mở đầu
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về ngôn ngữ biểu hiện lời khen, lời chê.
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Chương 4. Đặc điểm ngữ nghĩa của lời khen trong tiếng Việt và tiếng Hàn Quốc.
Chương 5. Đặc điểm ngữ nghĩa của lời chê trong tiếng Việt và tiếng Hàn Quốc.
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGÔN NGỮ BIỂU HIỆN LỜI KHEN, LỜI CHÊ
2.1. Tổng quan nghiên cứu
2.1.1. Các nghiên cứu ngoài nước
Tác giả Youngmi (2003), “한국어와 일본어의 칭찬 화행 연구” của Trường Đại học Nữ sinh Ewha, Hàn Quốc. Bài báo này đã so sánh và phân tích hành động nói “tuân thủ” giữa các hành động hội thoại bằng tiếng Hàn và tiếng Nhật. Nghiên cứu này xem xét những điểm giống và khác nhau bằng cách so sánh và phân tích hành vi nói LK của người Hàn Quốc và Nhật Bản bắt nguồn từ các đặc điểm văn hóa xã hội, đồng thời cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi lời nói khen ngợi của cả hai quốc gia Hàn Quốc và Nhật Bản trong việc giảng dạy tiếng Hàn và tiếng Nhật.
Tác giả Chung-hye Han (1992) nghiên cứu sự khác nhau trong việc đáp trả LK giữa phụ nữ Mỹ và phụ nữ Hàn Quốc và kết luận phụ nữ Hàn thường từ chối LK, chỉ có 20% chấp nhận LK trong khi đó 75% phụ nữ Mỹ chấp nhận LK.
Tác giả 전지원 (2006), với bài 한국어 교육을 위한 칭찬 화행 연구: 칭찬 반응을 중심으로, trong bài đã nghiên cứu về việc giáo dục hành động nói LK gián tiếp (tập trung vào người học là người Trung Quốc), nghiên cứu này chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau thông qua phân tích, so sánh các đặc điểm của LK gián tiếp trong tiếng Hàn và tiếng Trung đặc biệt đối với người học tiếng Hàn ở Trung Quốc. Từ đó đưa ra mục đích giao tiếp đúng cách bằng cách sử dụng chính xác LK gián tiếp trong tiếng Hàn cho người học. Đồng thời bài báo đã cho thấy hành vi khen ngợi gián tiếp thường xuyên được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của người Trung Quốc và Hàn Quốc. Tuy rằng cả Trung Quốc và Hàn Quốc đều thuộc các nước Phương Đông, nhưng vẫn có những yếu tố văn hoá khác biệt, khiến thói quen ngôn ngữ của hai nước có một số điểm khác biệt.
2.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến hành động khen và cách hồi đáp. Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thu Hoa (1996) “Cấu trúc nghĩa của động từ nói năng “khen”, “tặng”, “chê” đã tập trung miêu tả các động từ nói năng, trong đó có hành động khen. Luận văn chưa nghiên cứu sâu về đặc điểm của hành vi này trong các vấn đề liên quan đến văn hóa và giao thoa văn hóa; “Một vài khảo sát về đặc điểm văn hóa của người châu Âu và người Việt thể hiện qua lời khen” của Bùi Thị Phương Chi và Phạm Thị Thu Hà (2005) đã tìm hiểu đặc điểm tâm lý, văn hóa của người Châu Âu và người Việt thể hiện qua hành động khen, tuy nhiên chỉ giới hạn trong một nhóm nghiệm thể nhỏ (30 người Việt và 30 người châu Âu), hầu hết là sinh viên đại học, nên kết quả khảo sát chỉ thể hiện được một phần nào đặc điểm tâm lý của hai dân tộc. Nổi bật có luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang (1999) – “Một số khác biệt giao tiếp Việt – Mỹ trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen”. Tác giả đã so sánh sự khác biệt trong cách xưng hô, các dấu hiệu từ vựng tình thái, cái nên khen và cái không nên khen, các chiến lược tiếp nhận LK khác nhau giữa người Việt và người Mỹ.
2.2. Cơ sở lý thuyết
2.2.1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến thành ngữ, tục ngữ
Khi nghiên cứu về thành ngữ, các học giả Việt Nam đã đưa ra nhiều điểm khá thống nhất. Hồ Lê trong “Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại” coi thành ngữ là “những tổ hợp từ có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa dùng để miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đó”. Nguyễn Thiện Giáp (2008) trong “Giáo trình ngôn ngữ học” quan niệm: “Thành ngữ (idiom) là những cụm từ trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó. Nói cách khác, thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó”.
Tại Hàn Quốc, trong “Nghiên cứu thành ngữ quốc ngữ”, Kim Moon Chang (1974) quan niệm “Thành ngữ là cụm từ hoặc từ có cấu tạo từ hai từ trở lên hoặc mang ý nghĩa đặc biệt khác với phương pháp diễn đạt thông thường của một ngôn ngữ.” Theo Park Young Sun (1985), trong “Nghiên cứu về thành ngữ” thì “Thành ngữ là một hình thái ngôn ngữ được kết hợp từ hai từ trở lên, nó được sử dụng phổ biến giữa những từ kết hợp phi cú pháp. Về mặt cấu trúc, thành ngữ là từ ghép được ghép bởi hai từ trở lên, còn về mặt ý nghĩa nó là loại ngôn ngữ đặc thù mang ý nghĩa thứ ba mà không mang theo ý nghĩa cơ bản”.
Tuy nhiên, dù có nhiều định nghĩa khác nhau về thành ngữ nhưng nhìn chung lại các tác giả đều thống nhất với nhau ở chỗ: Đó là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó.
Nói về tục ngữ, Dương Quảng Hàm (1968) trong quyển “Việt Nam văn học sử yếu” quan niệm: “Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì”. Kế thừa quan điểm của các học giả đi trước, vào năm 1985, Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt”, cho rằng: “Các tục ngữ cũng được dùng lặp đi lặp lại nhiều lần trong lời nói như một đơn vị có sẵn; nhưng khác với thành ngữ ở chỗ nghĩa của tục ngữ bao giờ cũng là một phán đoán. Về mặt nội dung, nghĩa của tục ngữ gần với cụm từ tự do, bởi vì nó không biểu thị một khái niệm như thành ngữ mà biểu thị một tổ hợp khái niệm”.
Cũng giống như Việt Nam, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hàn Quốc cũng có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về tục ngữ. Ở Hàn Quốc, một trong những người quan tâm đặc biệt đến tục ngữ là Im Dong Kwon, trong cuốn “Từ điển tục ngữ” (2002), tác giả đưa ra quan điểm tục ngữ “có thể được coi là di sản văn hóa tuyệt vời, trong đó cô đọng và hàm súc những lời giáo huấn, những tri thức, kinh nghiệm trong cuộc sống, là nghệ thuật ngôn từ của toàn thể dân tộc được truyền khẩu từ đời này sang đời khác”. Cũng với quan niệm tương tự, Won Young Sub (2003) coi “Tục ngữ không phải là những cái được làm mới trong một khoảng thời gian ngắn mà là những lời đúc kết cô đọng truyền miệng từ đời này sang đời khác”.
Như vậy, qua cách hiểu cũng như định nghĩa của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ kể trên chúng ta có thể hiểu tục ngữ chính là sản phẩm tư duy, di sản văn hóa dân tộc, là công cụ diễn đạt những kinh nghiệm sống hay những lời giáo huấn quý báu, cô đọng và hàm súc, đồng thời tục ngữ có thể là một nhận xét, một phê phán khen hay chê…Tục ngữ được truyền từ đời này sang đời khác.

- Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nghĩa biểu trưng của thành ngữ và tục ngữ nhưng phần lớn đều cho rằng: thành ngữ và tục ngữ có hai loại nghĩa đó là nghĩa đen và nghĩa bóng.
Những câu tục ngữ có nghĩa đen là những câu tục ngữ đơn thuần chỉ đúc kết kinh nghiệm thuộc về các lĩnh vực trong cuộc sống, hay các hiện tượng tự nhiên đề cập đến các sự tích lịch sử, đặc điểm địa phương. Người ta gọi những thành ngữ, tục ngữ kiểu này là những câu tục ngữ đơn nghĩa như: mưa tháng bảy gãy cành tràm, đau như dao cắt…
Bên cạnh các câu tục ngữ, thành ngữ đơn nghĩa như trên, phần lớn những thành ngữ, tục ngữ còn lại thuộc loại đa nghĩa và nó được chia thành hai loại: những câu tục ngữ được hiểu theo cả “nghĩa đen” và “nghĩa bóng” như bạc như vôi, chắc như cua gạch và những câu tục ngữ, thành ngữ chỉ được dùng theo “nghĩa bóng”.
Nghĩa của thành ngữ, tục ngữ ngoài “nghĩa đen” như đã trình bày thì phương tiện giúp ĐTGT nhận diện được yếu tố “nghĩa bóng” đó chính nhờ các phương thức ẩn dụ hoặc phương thức hoán dụ.
2.2.2. Các vấn đề lý luận liên quan đến ngữ nghĩa và ngôn ngữ học tri nhận
Trong cuốn “Ngữ nghĩa học” của Lê Quang Thiêm [32], tác giả có trình bày khái lược về tiến trình và khuynh hướng ngữ nghĩa học, khuynh hướng ngữ nghĩa học hình thức, siêu ngôn ngữ tự nhiên ngữ nghĩa, khuynh hướng ngữ nghĩa tri nhận, một số sơ đồ kiến giải nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ thế kỉ XX, hoạt động chức năng của việc xác định nghĩa trong ngôn ngữ, đường hướng tiếp cận nghĩa từ vựng từ nhân tố hoạt động chức năng, tầng nghĩa và kiểu nghĩa chức năng từ vựng, v.v.
Khi đề cập tới khuynh hướng ngữ nghĩa học tri nhận, Lê Quang Thiêm coi đây là khuynh hướng lý thuyết mà trong nghiên cứu nghĩa coi trọng sự tri nhận, đề cao sự tri giác, sự nhận thức là những hình thức của năng lực tư duy. Đó là quá trình, kết quả phản ánh, tái hiện hiện thực vào tư duy, là quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc qui luật tư duy cũng như kết quả của quá trình đó. Coi trọng sự tri nhận là coi trọng mặt nội dung, mặt nghĩa trong phân tích miêu tả nghĩa của ngôn ngữ. Ông khẳng định rằng, ngôn ngữ học tri nhận coi ngôn ngữ là một năng lực tinh thần và khả năng ngôn ngữ của con người được xác định như một hình thức của tri thức, của khả năng tri nhận.
Khi nhận xét, so sánh ngữ nghĩa học tri nhận với ngôn ngữ học truyền thống và ngữ nghĩa học của ngữ pháp tạo sinh N. Chomsky, Lê Quang Thiêm cho rằng: ngữ nghĩa học tri nhận ở bình diện tâm lý và sự nhận thức trong xem xét và giải thích sự thay đổi nghĩa là có sự gắn kết với văn cảnh, ngữ cảnh và hướng tới các loại đơn vị khác như câu và lời…, coi trọng đúng mức đến hành chức, hoạt động trong xác định miêu tả nghĩa.
2.2.3. Khái niệm hành vi ngôn ngữ và đặc điểm hành vi khen, chê
2.2.3.1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ
J.L. Austin (1962) quan niệm “nói là làm” trong công trình nghiên cứu “How to do thing with words”, ông xem hành vi ngôn ngữ là một thể thống nhất những hành vi, bao gồm: hành vi tạo lời (locutionary act); hành vi tại lời (illocutionary act); hành vi mượn lời (perlocutionary act). Trong ba loại hành vi đó, hành vi tại lời là đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng học.
Khái niệm về hành vi ngôn ngữ được hiểu theo nghĩa hẹp là hành vi tại lời. Hành vi tại lời là nói một điều gì đó và thực hiện điều đó như thế nào và thực hiện hành vi ấy ngay sau khi phát ra lời nói.
2.2.3.2. Đặc điểm hành vi khen
Khen là một hành vi tồn tại trong mọi nền văn hóa, được thực hiện trong mọi ngôn ngữ và thực hiện nhiều chức năng khác nhau như chào hỏi, bộc lộ tình cảm, ngưỡng mộ, đề nghị, động viên khích lệ, bộc lộ sự quan tâm… Hoàng Phê định nghĩa “khen là nói đến sự đánh giá tốt về ai, về cái gì, việc gì với ý vừa lòng”.
Theo từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary, khen là việc biểu lộ sự ca ngợi, thán phục, tán đồng…Có thể nói khen là việc nêu lên những nhận xét tích cực đối với đối tượng được khen và đây là một hành vi mang tính chủ quan cao. J. Manes cho rằng chức năng chính của LK là sự hình thành và củng cố mối quan hệ giữa người nói và người nghe, LK làm dịu bớt sự phức tạp của các mối quan hệ xã hội. Rất nhiều nhà nghiên cứu cùng kết luận LK không chỉ bày tỏ sự ngưỡng mộ các đặc tính tích cực mà chúng còn được sử dụng thay cho lời chào, lời cảm ơn, lời xin lỗi và làm giảm nhẹ những hành động đe dọa thể diện, ví dụ như lời phê bình, la mắng hay đề nghị (P. Brown và S. Levinson; J. Holmes và N. Wolfson).
LK được thực hiện với các chức năng sau: (1) biểu lộ sự thán phục hay chấp thuận một người nào đó về công việc, ngoại hình, thị hiếu của họ. (J. Manes, 1983; R. Herbert, 1989); (2) củng cố, khẳng định hay duy trì sự đoàn kết. (J. Manes và N. Wolfson, 1989); (3) thay thế lời chào, chào hỏi, xin lỗi hay chúc mừng. (N. Wolfson, 1983, 1989); (4) xoa dịu các hành động đe dọa thể diện như xin lỗi, đề nghị hay phê bình. (P. Brown và S. Levinson, 1978; N. Wolfson, 1983); (5) mở đầu và duy trì cuộc hội thoại. (N. Wolfson, 1983); (6) Tăng cường hành vi được mong đợi. (J. Manes, 1983).
2.2.3.3. Đặc điểm hành vi chê
Tương tự, trong giao tiếp hằng ngày, LC được thực hiện với nhiều mục đích: không tán đồng, khắc phục những điều chưa chuẩn, chưa đạt yêu cầu, khuyên bảo…. Tuy nhiên đây là một hành vi rất cần sự cẩn trọng trong giao tiếp vì nó là một hành vi âm tính, hành vi đe dọa thể diện của cả người nói và người nghe. Vì thế việc lựa chọn các chiến lược chê phù hợp: thêm vị đắng để làm cho đối tượng bị chê thấm thía với những khuyết điểm của mình hay ngọt hóa để giảm mức độ đe dọa thể diện người nghe là một nghệ thuật trong giao tiếp.
Theo từ điển tiếng Việt, chê là tỏ ra không thích, không vừa ý vì cho là kém, là xấu. A. Wierzbicka định nghĩa hành động chê là một hành động ngôn trung trong đó người nói nêu lên những nhận xét tiêu cực về những hành động, lựa chọn, từ ngữ, sản phẩm của người bị chê. Phát ngôn chê được thực hiện với mục đích giúp người bị chê làm tốt hơn trong tương lai hoặc nêu lên sự không hài lòng, không thích những gì đối tác giao tiếp đã làm nhưng không có ngụ ý rằng những gì đối tác đã làm đem đến những hậu quả không mong muốn đối với người chê.
TIỂU KẾT
Quan hệ tương tác giữa văn hóa và ngôn ngữ là mối quan hệ vô cùng chặt chẽ. Trong mỗi hành vi giao tiếp, cả giao tiếp ngôn từ và giao tiếp phi ngôn từ đều có dấu ấn của văn hóa. Lối suy nghĩ và cách thức diễn đạt nội dung giao tiếp của mỗi người bị chi phối nhiều bởi yếu tố văn hóa. Văn hóa phương Đông ưa chuộng cách nói gián tiếp, nói vòng trong giao tiếp trong khi cách diễn đạt này trong văn hóa phương Tây bị coi là thiếu quyết đoán, không thật lòng.
Trong mọi ngôn ngữ đều tồn tại hai hình thức diễn đạt cơ bản là diễn đạt trực tiếp và diễn đạt gián tiếp. Trong giao tiếp, người giao tiếp luôn muốn chứng tỏ mình lịch sự và giữ thể diện cho mình và cho người khác nên họ phải biết chọn cách diễn đạt hợp lý trong từng tình huống giao tiếp cụ thể. Về cơ bản, lịch sự là một chức năng của hành động đền bù mà hành động này có quan hệ tương liên với gián tiếp. Tuy nhiên, các chiến lược gián tiếp nhất không có nghĩa là các chiến lược lịch sự nhất. Về mối quan hệ giữa trực tiếp, gián tiếp và lịch sự, vẫn còn nhiều điểm bất đồng giữa các nhà nghiên cứu về vấn đề liệu gián tiếp có đồng thuận với lịch sự không. Nguyễn Quang khẳng định cách diễn đạt thẳng hay vòng, trực tiếp hay gián tiếp không chỉ nằm trong bình diện ngôn ngữ mà còn mang tính ngôn ngữ tự thân; chúng còn phải được đặt vào các bình diện đa dạng của văn hóa.
Khen là hành động ngôn trung giao tiếp thuộc nhóm biểu ân. LK được dùng để nêu lên những nhận xét tích cực, những đánh giá tốt về ai đó, cái gì đó và được bộc lộ bằng một thái độ tích cực. LK cũng được dùng thay cho lời chào hỏi, xin lỗi, chúc mừng và còn có thể dùng để châm biếm, mỉa mai. LK còn được dùng để xoa dịu các hành động đe dọa thể diện như xin lỗi hay phê bình. Bản chất của LK là lịch sự nhưng nếu phát ngôn khen được thực hiện không phù hợp, LK lại trở nên phản tác dụng. Muốn phân biệt một phát ngôn có đích ở lời có phải là khen hay không, cần phải dựa vào ngữ cảnh và thái độ của người nói thông qua các yếu tố khác như giọng nói, ngữ điệu, cử chỉ, ánh mắt…
Chê là một hành động ngôn trung trong đó người nói nêu lên những nhận xét tiêu cực về những hành động, lựa chọn, từ ngữ, sản phẩm của người nghe. Chê là một hành vi âm tính đe dọa thể diện của cả người nói và người nghe, nên người nói cần phải biết lựa chọn các CLC, các hình thức ngôn từ phù hợp. Việc chọn lựa ngôn từ phù hợp quyết định sự thành công trong giao tiếp.
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp nghiên cứu
3.1.1. Phương pháp thống kê định lượng
Phương pháp thống kê định lượng là phương pháp nghiên cứu khá quen thuộc. Tuy nhiên trong luận văn này, chúng tôi không sử dụng những phép toán phức tạp khi thống kê mà chỉ sử dụng những phép tính đơn giản để tiến hành phân loại dữ liệu được thu thập.
3.1.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp so sánh – đối chiếu là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn vì tính chất của đề tài là so sánh ngôn ngữ. Từ những phương thức người Việt và người Hàn Quốc thường sử dụng khi thực hiện hành vi khen và hành vi chê, tác giả tiến hành đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt của hai nền văn hóa khi bộc lộ hai hành động ngôn ngữ này, đối chiếu các thành ngữ và tục ngữ biểu hiện LK, LC trong tiếng Hàn với tiếng Việt.
3.1.3. Phương pháp phân tích diễn ngôn, ngữ nghĩa, ngữ cảnh
Phương pháp phân tích diễn ngôn, ngữ nghĩa, ngữ cảnh cũng được sử dụng trong luận văn để nghiên cứu về hình thức, nội dung, mối liên quan giữa các tham thoại. Vận dụng kiến thức ngữ dụng học để tìm ra những sự tương đồng hay dị biệt của hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn, đồng thời thông qua việc phân tích diễn ngôn, ngữ nghĩa và ngữ cảnh của các thành ngữ, tục ngữ đó, chúng tôi thấy được giá trị biểu trưng, lớp nghĩa biểu trưng.
CHƯƠNG 4
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA LỜI KHEN TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÀN QUỐC
4.1. Đặc điểm ngữ nghĩa của lời khen trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt
Đối với LK trong tiếng Việt, từ phía người khen, đó là khen ai, khen ở đâu, khen lúc nào, khen cái gì và khen như thế nào; từ phía người được khen, đó là thái độ tiếp nhận và cách tiếp nhận LK. Tất cả sự tương tác ấy được biểu thị chủ yếu bằng ngôn từ.
Từ góc độ ngữ dụng học, với lí thuyết hành vi ngôn ngữ (speech acts), hành vi khen thuộc vào phạm trù ứng xử (behabitives, comportementaux). Theo hướng này, nghiên cứu khen phải chỉ ra được các biểu thức ngôn từ của hành vi khen và tiếp nhận khen (hồi đáp khen) ở các bối cảnh giao tiếp khác nhau.
Từ góc nhìn tri nhận, hành vi khen được nghiên cứu theo quan hệ tương tác giao tiếp có sự phân tầng về xã hội. Theo hướng này, với tư cách là biến thể, khen và tiếp nhận LK được xem xét dưới tác động của các biến xã hội như tuổi, giới, nghề nghiệp, thu nhập, địa vị, học vấn,… của người khen và người tiếp nhận LK.
Lời khen: là lời ghi nhận, động viên, khích lệ tinh thần của người khác khi họ làm được điều gì đó tốt đẹp. Ví dụ: Anh làm tốt lắm! Anh thực sự đã rất cố gắng rồi!…
LK là lời ngợi ca, tán thưởng, khâm phục. Nó thể hiện sự ghi nhận, động viên, khuyến khích mang ý nghĩa tích cực. Đó là LK chân tình, thật lòng, LK đúng chỗ, đúng lúc xuất phát từ sự thực với động cơ lành mạnh. Ví dụ: Trông bạn thật rạng rỡ đấy! Bạn giỏi thật đấy! …
4.2. Kết quả tổng hợp một số thành ngữ, tục ngữ biểu hiện LK trong tiếng Việt
Qua kết quả nghiên cứu, thu thập các thành ngữ, tục ngữ có biểu hiện LK trong tiếng Việt chúng tôi liệt kê 144 thành ngữ, tục ngữ liên quan đến LK theo các nhóm chủ đề.
4.2.1. Khen về dáng vẻ bề ngoài
4.2.2. Khen về hành động, khả năng (phẩm chất, hành vi, thái độ, ứng xử…)
4.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của LK trong tiếng Việt trong các chiến lược giao tiếp
4.3.1. Khen dáng vẻ bề ngoài
4.3.1.1. Biểu hiện lời khen hiển ngôn (CLK hiển ngôn)
4.3.1.2. Biểu hiện lời khen hàm ngôn (CLK hàm ngôn)
4.3.2. Khen hành động và khả năng (phẩm chất, nhân cách, hành vi, thái độ, ứng xử…)
4.3.2.1. Biểu hiện LK hiển ngôn (CLK hiển ngôn)
4.3.2.2. Biểu hiện lời khen hàm ngôn (CLK hàm ngôn)
4.3.2.3. CLK không dùng cấu trúc khen
4.3.2.4. CLK không bày tỏ quan điểm
4.4. Đặc điểm ngữ nghĩa của lời khen trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn Quốc
Trong tiếng Hàn cũng vậy ngữ nghĩa từ khen cũng tương tự như tiếng Việt. Đó là lời ghi nhận, động viên, khích lệ tinh thần của người khác khi họ làm được điều gì đó tốt đẹp và là lời ngợi ca, tán thưởng, khâm phục dành cho người khác với sắc thái tích cực. LK trong tiếng Hàn cũng được sử dụng nhiều trong giao tiếp hằng ngày và chúng tôi thống kê được 46 thành ngữ, tục ngữ có ý nghĩa khen ngợi.
VD: 당신은 눈이 참 예쁘군요 (Bạn có đôi mắt thật đẹp).
4.4.1. Khen dáng vẻ bề ngoài
4.4.1.1. Biểu hiện lời khen hiển ngôn (CLK hiển ngôn)
4.4.1.2. Biểu hiện lời khen hàm ngôn (CLK hàm ngôn)
4.4.1.3. CLK không dùng cấu trúc khen
4.4.2. Khen hành động và khả năng (phẩm chất, nhân cách, hành vi, thái độ, ứng xử…)
4.4.2.1. Biểu hiện lời khen hiển ngôn (CLK hiển ngôn)
4.4.2.2. Biểu hiện lời khen hàm ngôn (CLK hàm ngôn)
4.4.2.3. CLK không dùng cấu trúc khen
4.4.2.4. CLK không bày tỏ quan điểm
4.4.3. Tổng hợp một số câu tục ngữ, thành ngữ tiếng Hàn biểu hiện lời khen hành động và khả năng (phẩm chất, nhân cách, hành vi, thái độ, ứng xử…)
4.5. So sánh những điểm tương đồng và dị biệt trong đặc điểm ngữ nghĩa của lời khen giữa hai ngôn ngữ
4.5.3. Xét ở góc độ nghề nghiệp
TIỂU KẾT
Có thể thấy rằng trong văn hóa Việt Nam và văn hóa Hàn Quốc, việc biểu hiện LK thông qua những thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hàn khá phổ biến. Những thành ngữ, tục ngữ ấy có thể biểu hiện LK một trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua những hình ảnh ẩn dụ, hàm ý. Do cùng ảnh hưởng của nền văn hóa phương Đông nên đặc điểm ngữ nghĩa của LK trong tiếng Hàn và tiếng Việt có khá nhiều điểm tương đồng như: lớp người trẻ tuổi có xu hướng sử dụng CLK2 và CLK3 để thể hiện LK, đối với bạn bè, đồng nghiệp họ rất thân thiện, cởi mở và không ngại sử dụng các LK hiển ngôn để biểu hiện ý khen với đối phương nhưng lớp trẻ này lại rất coi trọng lời ăn tiếng nói đối với cấp trên và người lớn tuổi. Việc ưu tiên sử dụng CLK2 và CLK3 của lớp trẻ thể hiện nét văn hóa “nói vòng vo” ở Phương Đông, nó thể hiện sự quan tâm, cẩn trọng trong LK. Ngược lại, đối với những người từng trải, những người đã ổn định gia đình, sự nghiệp và người lớn tuổi họ lại luôn ưu tiên CLK1 để ghi nhận, động viên, tán thưởng những người xung quanh.
CHƯƠNG 5
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA LỜI CHÊ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÀN QUỐC
5.1. Khái quát về LC trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt
Trong văn hóa Việt Nam, chê là hành vi bày tỏ thái độ không ưa thích, không vừa ý, đánh giá thấp, theo chiều hướng tiêu cực vì cho là kém, là xấu, không đạt yêu cầu, không được bình thường…chẳng hạn, trong các thành ngữ mặt bủng da chì, ăn xó mó niêu, qua cầu cất nhịp, chị em nắm nem ba đồng… ngoài các ý nghĩa miêu tả bình thường, còn bao hàm ý chê bai về dung mạo và sức khoẻ (mặt bủng da chì), chê bai về hành vi, nhân cách bần tiện (ăn xó mó niêu) hoặc là đố kỵ, không muốn cho ai cùng được thuận lợi, may mắn như mình (qua cầu cất nhịp), coi trọng tiền tài hơn cả tình nghĩa, đạo lý (chị em nắm nem ba đồng)…
Phát ngôn chê được thực hiện với mục đích giúp người bị chê làm tốt hơn trong tương lai hoặc nêu lên sự không hài lòng, không thích những gì đối tác giao tiếp đã làm. Có thể nhận thấy rằng có hai loại LC: LC có ý tốt và LC có ý đồ xấu. Những LC có ý tốt là những LC để động viên, khuyến khích người khác, chê để khen, khen ngầm, để thể hiện sự quan tâm hoặc dạy dỗ, khuyên răn,…Còn những LC có ý đồ xấu là chê để hạ giá trị của người bị chê hoặc vật bị chê,…
Các CLC cũng được phân thành bốn nhóm: CLC hiển ngôn, CLC hàm ngôn, CLC không dùng cấu trúc chê và CLC không bộc lộ quan điểm.
5.2. Kết quả tổng hợp một số thành ngữ, tục ngữ biểu hiện LC trong tiếng Việt
Các thành ngữ, tục ngữ có hàm ý chê rất phong phú trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Việt. Có lẽ cách diễn đạt gián tiếp, văn hóa nói năng tránh va chạm, đối đầu trực tiếp đã tạo nên sự phong phú trong cách diễn đạt LC bằng các thành ngữ, tục ngữ… Về phương tiện biểu hiện giá trị ngữ nghĩa chủ yếu bằng hình thức ẩn dụ. Chúng tôi liệt kê 653 thành ngữ, tục ngữ diễn đạt LC theo các chủ đề.
5.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của LC trong tiếng Việt
5.3.1. Các CLC trong văn hóa Việt
5.3.2. Chê dáng vẻ bề ngoài
5.3.3. Chê hành động và khả năng (phẩm chất, nhân cách, hành vi, thái độ, ứng xử…)
5.4. Đặc điểm ngữ nghĩa của lời chê trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn
5.4.1. Chê dáng vẻ bề ngoài
5.4.2. Chê hành động và khả năng (phẩm chất, nhân cách, hành vi, thái độ, ứng xử…)
5.4.3. Tổng hợp thành ngữ, tục ngữ, cụm cố định biểu hiện LC hành động, khả năng,… trong tiếng Hàn
5.5. So sánh những điểm tương đồng và điểm khác nhau trong đặc điểm ngữ nghĩa của lời chê giữa hai ngôn ngữ
TIỂU KẾT
Chê là hành vi bày tỏ thái độ không ưa thích, không vừa ý, đánh giá thấp, theo chiều hướng tiêu cực vì cho là kém, là xấu, không đạt yêu cầu, không được bình thường… Trong văn hóa cả Việt Nam và Hàn Quốc, mọi người thường sử những CLC gián tiếp và tránh những CLC trực tiếp, hiển ngôn. Nhiều khi họ lựa chọn im lặng hoặc sử dụng cách phát ngôn không mang nội dung tiêu cực. Đây là điểm chung rất dễ thấy ở văn hóa giao tiếp Hàn- Việt. Số lượng thành ngữ, tục ngữ biểu hiện LC chiếm số lượng rất nhiều cả trong tiếng Việt và tiếng Hàn. Người Việt và người Hàn rất hay sử dụng những thành ngữ, tục ngữ biểu hiện LC trong cuộc sống hàng ngày với mục đích phê phán, khuyên răn hoặc nhắc nhở. Điều đó cũng cho thấy rằng, CLC hàm ý, ẩn ý được người Việt sử dụng thường xuyên.
KẾT LUẬN
Ngôn ngữ là phương tiện gắn kết con người với con người nhưng nó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự bất hòa, xung đột. “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Văn hóa ứng xử trong giao tiếp hằng ngày đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Các loại nghi thức giao tiếp và chức năng của chúng có liên quan đến lịch sự trong giao tiếp. Nghi thức khen và chê là hai nghi thức hoàn toàn đối lập nhau, một bên là nghi thức dương tính, tự bản thân nó đã hàm chứa lịch sự. Một bên là nghi thức âm tính, dễ đụng chạm đến thể diện, lợi ích của của cả người nói và người nghe. Vì vậy nghi thức này cần có một số phương thức bù đắp để giảm nhẹ mức đe dọa này.
Nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa hành vi khen, chê và các thành ngữ, tục ngữ biểu hiện LK, LC trong hai nền văn hóa Việt và Hàn giúp ta hiểu biết về văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp, những điểm tương đồng và khác biệt trong hai nền văn hóa này.
Từ những nội dung cụ thể đã được trình bày trong 5 chương của luận văn, chúng ta có thể đi đến những kết luận chủ yếu như sau:
1. Tiếng Việt và tiếng Hàn có một hệ thống từ ngữ phong phú để diễn đạt LK và LC. Các thành ngữ, tục ngữ có hàm ý khen và chê trong tiếng Việt và tiếng Hàn rất đa dạng. Nghĩa biểu trưng của những LK và LC biểu hiện thông qua các thành ngữ, tục ngữ được diễn đạt một sự thâm thúy trong cách dùng từ ngữ và là một chiến lược rất tinh tế trong giao tiếp. Tuy nhiên, việc chọn những từ ngữ nào, mức độ ra sao để diễn đạt LK và LC còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố như ngữ cảnh, vai giao tiếp, mối quan hệ với người giao tiếp và mục đích của phát ngôn ấy trong từng hoàn cảnh cụ thể.
2. Do cùng ảnh hưởng của nền văn hóa phương Đông nên đặc điểm ngữ nghĩa của lời khen trong tiếng Hàn và tiếng Việt có khá nhiều điểm tương đồng và được sử dụng khá giống nhau trong các nhóm đối tượng (thông qua phần khảo sát mức độ sử dụng các CLK/CKC trong tiếng Việt và tiếng Hàn) như: lớp người trẻ tuổi có xu hướng sử dụng CLK2 và CLK3 để thể hiện lời khen, đối với bạn bè, đồng nghiệp họ rất thân thiện, cởi mở và không ngại sử dụng các lời khen hiển ngôn để biểu hiện ý khen với đối phương nhưng lớp trẻ này lại rất coi trọng lời ăn tiếng nói đối với cấp trên và người lớn tuổi. Việc ưu tiên sử dụng CLK2 và CLK3 của lớp trẻ thể hiện nét văn hóa “nói vòng vo” ở Phương Đông, nó thể hiện sự quan tâm, cẩn trọng trong lời khen. Ngược lại, đối với những người từng trải, những người đã ổn định gia đình, sự nghiệp và người lớn tuổi họ lại luôn ưu tiên CLK1 để ghi nhận, động viên, tán thưởng những người xung quanh.
Văn hóa Việt và Hàn đều bị chi phối bởi yếu tố lễ. Những quy định, phép tắc, lễ nghi ban cho một số người có đặc quyền hơn, cụ thể là người có tuổi lớn hơn, người có vai vế, địa vị xã hội cao hơn. LK và LC bị chi phối rất lớn bởi yếu tố này. Người có đặc quyền hơn sẽ tự do hơn trong việc chọn lựa các CLK và CLC. Tần suất LC xuất hiện với các trường hợp người nói cao hơn người nghe là nhiều nhất. Người có vai càng nhỏ càng dễ bị chê nhất và phải cẩn trọng nhất khi đưa ra LC. Họ phải suy xét đến các yếu tố xung quanh, ngoài yếu tố đề tài giao tiếp là gì, mục đích chê là gì, yếu tố mà họ phải cẩn trọng nhất là đang giao tiếp với ai để khi đưa ra phát ngôn, họ không bị cho là vô lễ. Cách nói bóng gió, hàm ý trong cả LK và LC thể hiện những đặc điểm ngôn ngữ – văn hóa Việt. Văn hóa Hàn Quốc cũng vậy, người chê phải cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói, phải xem xét đối tượng giao tiếp cụ thể rồi mới lựa chọn CLC phù hợp.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\NGON NGU HOC\PHAM NGOC MAI LAN


