Đặc điểm ngôn ngữ tiêu đề báo in Đà Nẵng
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, trong bối cảnh ngôn ngữ học đang phát triển theo hướng mở thì việc nghiên cứu ngôn ngữ văn bản trở thành một xu hướng mới và ngày càng khẳng định vị trí trong ngôn ngữ học đại cương. Ngay từ những năm 70, 80 thế kỷ XX, những công trình chuyên sâu của I.R.Galperin, O.I.Moskalskaja, Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu… về ngôn ngữ học văn bản đã đưa ra nhiều sáng kiến khoa học có giá trị về lí luận và hướng nghiên cứu ngữ pháp văn bản tiếng Việt. Về sau, những giá trị trên đã và đang có những ứng dụng hết sức thiết thực, đặc biệt là trong việc nghiên cứu văn bản, phân tích diễn ngôn. Trong các loại văn bản thì báo chí đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Một bài báo, dù ở thể loại nào, bên cạnh nội dung, cái mà bạn đọc chú ý trước hết vẫn là tiêu đề của nó. Bên cạnh nội dung thông tin biểu hiện được trình bày trong văn bản, yếu tố tiêu đề được xem là một tín hiệu ban đầu để truyền đạt thông tin đến người đọc. Vì vậy, tiêu đề bài báo phải được đặt một cách cẩn thận và trau chuốt để lôi cuốn người đọc. Ngược lại, tiêu đề kém hấp dẫn sẽ làm cho bài báo không được chú ý. Đặc biệt là với những tờ báo địa phương thì việc đặt tiêu đề cũng rất được chú trọng.
Tôi chọn Báo Đà Nẵng làm đối tượng khảo sát nghiên cứu, một mặt vì đây chính là cơ quan mà tôi đang công tác; mặt khác bản thân tôi mong muốn được tìm hiểu một cách cụ thể về tiêu đề thông qua đặc điểm ngôn ngữ, từ đó rút ra được cái hay, cái đặc sắc trong từng tiêu đề trên báo. Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn góp thêm một nghiên cứu nhỏ của mình vào lĩnh vực này, đồng thời phân tích ra những ưu điểm, hạn chế và đề xuất biện pháp khắc phục trong cách đặt tên bài trên Báo Đà Nẵng. Với những lí do trên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm ngôn ngữ tiêu đề báo in Đà Nẵng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chọn đối tượng nghiên cứu là: đặc điểm ngôn ngữ tiêu đề báo in Đà Nẵng ở các thể loại: tin tức, phản ánh, phỏng vấn, phóng sự, ghi chép, bình luận báo chí… trên các lĩnh vực như đời sống, chính trị, kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật, quân sự, pháp luật, giáo dục, văn hóa, thể thao…
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn sẽ làm rõ đặc điểm của tiêu đề báo in Đà Nẵng từ góc độ ngôn ngữ ở các phương diện như: nội dung, chức năng của tên bài, từ ngữ sử dụng trong tiêu đề báo, cấu trúc ngữ pháp tiêu đề Báo Đà Nẵng… Ngoài ra, luận văn cũng làm sáng tỏ một số ưu điểm, hạn chế thường gặp trong cách đặt tên bài và cách khắc phục.
4. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu, nguồn ngữ liệu
4.1. Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
Các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chủ yếu mà tôi sử dụng trong luận văn là: phương pháp miêu tả ngôn ngữ với những thủ pháp khảo sát, thống kê; phân tích, hệ thống hóa.
4.2. Nguồn ngữ liệu
Tôi chọn tư liệu khảo sát là tiêu đề Báo Đà Nẵng ngẫu nhiên trong 3 năm liên tục từ số báo ngày 04/01/2016 đến ngày 02/07/2018.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
– Thống kê định lượng các tiêu đề Báo Đà Nẵng ở một giai đoạn nhất định.
– Miêu tả và phân tích đặc điểm từ vựng, cấu trúc ngữ pháp và đặc điểm diễn đạt tiêu đề Báo Đà Nẵng.
6. Đóng góp của đề tài
6.1. Về lí luận
Dựa trên kết quả khảo sát cụ thể, luận văn này sẽ góp một tiếng nói cho việc tìm hiểu ngôn ngữ báo chí nói chung và ngôn ngữ của một tờ báo Đảng địa phương (báo in) nói riêng.
Luận văn cũng cung cấp những tư liệu cần thiết trong việc nghiên cứu một thành phần quan trọng (tiêu đề) trong chỉnh thể của tác phẩm báo chí.
6.2. Về thực tiễn
Là luận văn đầu khảo sát về cách đặt tiêu đề trên Báo Đà Nẵng nhìn từ bình diện từ vựng và ngữ pháp, do đó:
– Kết quả của luận văn sẽ giúp cho việc tìm hiểu về ngôn ngữ báo chí, tác phẩm báo chí cũng như thực trạng đặt tên bài trên một tờ báo Đảng địa phương cụ thể.
– Luận văn cũng chỉ ra các ưu điểm, hạn chế và bước đầu đưa ra các giải pháp khắc phục nhằm phát huy các yếu tố tích cực trong việc sử dụng ngôn ngữ để đặt tên bài với mục đích truyền tải nội dung thông tin của tác phẩm báo chí một cách hiệu quả, đặc biệt là một tờ báo lớn như Báo Đà Nẵng
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm từ vựng của tiêu đề Báo Đà Nẵng
Chương 3: Cấu trúc ngữ pháp và đặc điểm diễn đạt của tiêu đề Báo Đà Nẵng
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Một số vấn đề ngữ pháp Tiếng Việt
Vì cấu trúc cú pháp của tiêu đề có thể là từ, cụm từ, giới ngữ, câu hay một kết cấu đặc biệt nên chúng tôi thấy cần thiết phải trình bày một số khái niệm có liên quan đến các đơn vị ngữ pháp này để làm cơ sở cho phần khảo sát và kiến giải ở những phần sau.
1.1.1. Từ
Nhìn chung, có hai khuynh hướng chính:
(1) Từ tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng):
(2) Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết:
Theo Nguyễn Tài Cẩn [5], hình vị tiếng Việt là tiếng, tức một âm tiết bất kể có nghĩa, không rõ nghĩa hay vô nghĩa. Do vậy, một từ có thể gồm một tiếng hay nhiều tiếng.
Trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, từ được định nghĩa là “đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định dùng để đặt câu” [29, tr.1372] cũng là cơ sở lí thuyết dễ được chấp nhận.
1.1.2. Cụm từ
1.1.2.1. Khái niệm cụm từ
Khi các từ kết hợp với nhau theo những quan hệ nhất định chúng ta sẽ có các đơn vị cú pháp. Đơn vị cú pháp nhỏ nhất trong tiếng Việt là cụm từ.
Luận văn quan niệm về cụm từ như sau: Cụm từ là tổ hợp gồm hai từ trở lên, giữa các từ có mối quan hệ về ngữ nghĩa và ngữ pháp nhưng chưa thành câu.
Như vậy, cụm từ không phải là một loại đơn vị ngôn ngữ (hoặc đơn vị lời nói) thuộc cấp độ trên từ. Xét về tôn ti các đơn vị trong hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ, cụm từ cùng cấp độ với từ. Cũng như từ, cụm từ là yếu tố cấu tạo câu và chỉ có chức năng định danh, không có chức năng thông báo.
1.1.2.2. Các loại cụm từ
Tùy theo mối quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong cụm từ, người ta phân định thành:
+ Cụm đẳng lập: Các thành tố trong cụm từ bình đẳng về ngữ pháp. Ví dụ: anh và em; cò và vạc, nó với tôi.
+ Cụm chính phụ: Thành tố trung tâm quyết định bản chất ngữ pháp của toàn bộ kết cấu, các thành tố còn lại phụ thuộc vào nó. Ví dụ: sách của tôi, những ngày ấy, sẽ về quê.
+ Cụm chủ vị (kết cấu chủ-vị): Mối quan hệ giữa hai thành tố trong cụm từ là quan hệ chủ vị, quan hệ nêu-báo: gió thổi, đèn bị tắt trong câu: Gió thổi mạnh khiến đèn bị tắt.
Cụm từ cố định (ngữ cố định) là đối tượng nghiên cứu của từ vựng học; còn cụm từ tự do là đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp học.
Luận văn chỉ đề cập các loại cụm từ chính phụ tiêu biểu: cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ.
1.1.2.3. Đặc điểm của cụm từ chính phụ
Cấu tạo của cụm từ chính phụ thường gồm 3 phần: Phần trung tâm (T) đứng giữa và do thực từ đảm nhiệm, phần phụ trước (Pt) đứng trước trung tâm và phần phụ sau (Ps) đứng sau trung tâm. Giữa trung tâm và phần phụ sau có thể có sự hiện diện của một từ nối (n). Trong mỗi phần của cụm từ có thể chứa nhiều yếu tố được gọi là một thành tố. Có thể hình dung cấu tạo của cụm từ chính phụ theo mô hình như sau: Pt + T + (n) Ps.
a) Cụm danh từ (danh ngữ/ngữ danh từ)
Cụm danh từ là cụm từ chính phụ trong đó có danh từ làm thành tố chính (trung tâm) và một hay nhiều thành tố phụ đứng chung quanh bổ sung ý nghĩa cho thành tố chính.
b) Cụm động từ (động ngữ, ngữ động từ)
Cụm động từ là cụm từ chính phụ có động từ làm thành tố chính và một hay nhiều thành tố phụ đứng chung quanh bổ sung ý nghĩa cho thành tố chính.
c) Cụm tính từ (tính ngữ/ngữ đoạn tính từ)
Cụm tính từ là cụm từ tự do có quan hệ chính phụ mang thành tố chính là tính từ.
1.1.3. Giới ngữ
Như đã nói, các từ kết hợp với nhau một cách có tổ chức sẽ tạo ra các tổ hợp từ. Các tổ hợp từ có thể là một câu hoặc kiến trúc tương đương với câu nhưng chưa thành câu. Các tổ hợp từ chưa thành câu được gọi chung là tổ hợp từ tự do. Các tổ hợp từ này có thể chứa kết từ ở đầu để chỉ chức vụ ngữ pháp của toàn bộ phần còn lại trong tổ hợp từ này. Những tổ hợp từ có chứa kết từ ở đầu như vậy được gọi là giới ngữ.
1.1.4. Câu
1.1.4.1. Khái niệm
Trong luận văn này, chúng tôi chấp nhận tạm thời định nghĩa về câu như sau: Câu là đơn vị lời nói có cấu tạo ngữ pháp nhất định, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị lời nói nhỏ nhất có chức năng thông báo.

1.1.4.2. Đặc điểm của câu gồm: Câu có chức năng thông báo; Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập;Câu có ngữ điệu kết thúc; Câu được gắn với một ngữ cảnh nhất định
1.1.4.3. Ba bình diện nghiên cứu câu
Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt, ngôn ngữ học là một bộ phận của kí hiệu học. Ngữ học hiện đại tiếp thu không ít thành tựu của kí hiệu học, đặc biệt là ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học của kí hiệu học hiện đại. Học giả này phân biệt trong mọi hệ thống kí hiệu học ba lĩnh vực:
1. Kết pháp (Syntactics) (hay cú pháp như đã quen dùng đối với hệ thống kí hiệu ngôn ngữ), nghiên cứu các kí hiệu trong những mối quan hệ kết hợp với các kí hiệu khác.
2. Nghĩa học (Semantics), nghiên cứu các kí hiệu trong những mối quan hệ với các sự vật ở bên ngoài hệ thống kí hiệu.
3. Dụng pháp (Pragmatics), nghiên cứu các kí hiệu trong những mối quan hệ với những người sử dụng nó.
1.1.4.4. Phân loại câu
a) Theo cấu tạo ngữ pháp
b) Theo nghĩa biểu hiện
c) Theo mục đích nói
1.2. Phong cách ngôn ngữ báo chí và đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí
1.2.1. Phong cách ngôn ngữ báo chí
1.2.1.1. Khái niệm
Phong cách báo chí là phong cách ngôn ngữ dùng trong lĩnh vực giao tiếp của báo, đài phát thanh, đài truyền hình.
1.2.2.2. Các nhân tố giao tiếp chi phối phong cách báo chí
– Vai giao tiếp
– Nội dung giao tiếp
– Mục đích giao tiếp
– Hoàn cảnh giao tiếp
– Dạng thức ngôn ngữ
1.2.2.3. Chức năng
Báo chí có chức năng thông tin – tác động. Báo chí là công cụ thông tin đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn của một giai cấp, một thể chế xã hội.
1.2.2. Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí
1.2.2.1. Tính thời sự
1.2.2.2. Tính hấp dẫn
1.2.2.3. Tính đại chúng
1.2.2.4. Tính ngắn gọn
1.2.2.5. Tính cụ thể, xác thực
1.2.3. Đặc điểm ngôn ngữ phong cách báo chí
1.2.3.1. Về ngữ âm
+ Ngữ âm chuẩn mực, hướng về chuẩn mực (phát thanh viên, bình luận viên, biên tập viên, MC của đài phát thanh và đài truyền hình).
+ Ngữ âm phải mang tính chân thực của cuộc sống, của nhân chứng, sự kiện, tránh dàn dựng, lạm dụng kỹ thuật.
1.2.3.2. Về từ ngữ
+ Có một lớp từ vựng thuộc về nghề báo được sử dụng lặp đi lặp lại như: phóng viên, bạn đọc, cộng tác viên, đặc phái viên, thông tấn, hãng thông tấn, theo nguồn tin,…
+ Sử dụng một lớp từ ngữ có màu sắc biểu cảm rõ rệt và được cấu tạo theo một dạng thức đặc biệt có tính chất hình ảnh, tu từ.
+ Hay sử dụng lớp từ ngữ mới tạo ra (tân từ) có tính chất thời thượng.
1.2.3.3. Về ngữ pháp
+ Câu văn tương đối ngắn gọn (thường từ 10 đến 30 âm tiết), linh hoạt, đa dạng.
+ Có những khuôn câu theo phong cách báo chí.
1.2.3.4. Về tu từ
Hay sử dụng các phép tu từ như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tượng trưng, chơi chữ…, đảo ngữ, tương phản, lặp cú pháp, câu hỏi tu từ, . . .
1.2.3.5. Về kết cấu văn bản
Thường có những khuôn mẫu cấu trúc định sẵn cho từng thể loại báo, nhưng không nhất thiết phải bắt buộc theo một cách máy móc.
1.3. Một số vấn đề về tiêu đề và tiêu đề báo
1.3.1. Ranh giới giữa tiêu đề và tiêu đề phi văn bản
1.3.1.1. Tiêu đề
Ở đây, tiêu đề được xem như là bộ phận trong chỉnh thể văn bản. Tiêu đề có thể thể hiện chủ đề – nội dung cô đúc, nén kín và khái quát nhất của văn bản. Qua tiêu đề, độc giả có thể nắm được nội dung cơ bản của văn bản.
1.3.1.2. Tiêu đề phi văn bản và tiêu đề văn bản
Theo tác giả Trịnh Sâm [31], trong “Tiêu đề văn bản Tiếng Việt”, ông chia tiêu đề thành 2 loại: tiêu đề phi văn bản, tiêu đề văn bản.
a. Tiêu đề phi văn bản: Thứ nhất là tiêu đề phi văn bản. Đối tượng mà tiêu đề loại này định danh không phải là văn bản hoặc một bộ phận trong văn bản.
b. Tiêu đề văn bản: Theo tác giả Trịnh Sâm [31], tiêu để văn bản là loại tiêu đề được xem như là một bộ phận của văn bản, có chức năng đánh dấu đầu vào của văn bản và chuyển tải nội dung cô đọng, súc tích, ngắn gọn của văn bản.
1.3.2. Đặc điểm tiêu đề văn bản
1.3.2.1. Các tên gọi và cấu tạo của tiêu đề văn bản
– Tiêu đề duy nhất, tức ứng với một văn bản chỉ có một tiêu đề, tiêu đề này được thể hiện bằng câu chữ.
– Tiêu đề của toàn văn bản (sẽ gọi là tiêu đề chung), phân biệt với tiêu đề của một bộ phận văn bản được đặt tên (sẽ gọi là tiêu đề bộ phận).
– Ngoài ra, ở vị trí và chức năng của tiêu đề chung có thể có tiêu đề chính, tiêu đề phụ.
1.3.2.2.Các loại tiêu đề văn bản
Tác giả Nguyễn Đức Dân trong quyển “Ngôn ngữ báo chí và những vấn đề cơ bản”[9], cho rằng có các loại tiêu đề văn bản như sau:
* Căn cứ vào nội dung của tiêu đề có:
Tiêu đề nhận định, bình luận
Tiêu đề thông báo, tường thuật, nhận định, sự kiện, tuyên bố
* Căn cứ vào mô hình cấu tạo (cấu trúc) của tiêu đề, ta có 2 loại:
Tiêu đề là câu (thường là những tiêu đề trong lĩnh vực chính trị – đòi hỏi sự trang trọng, nghiêm túc)
Tiêu đề là cụm từ (cụm danh từ/động từ/tính từ)
* Căn cứ vào tiêu chí “nghệ thuật ngôn từ” hay “biện pháp tu từ” được sử dụng, ta có các loại tiêu đề cơ bản sau: Dùng những lời dẫn trực tiếp; Lập âm tiết; Dùng hình thức nói lái; Dùng từ, cụm từ đối nhau; Dùng những từ đồng âm; Dùng lối tách từ; Dùng lối nói bỏ lửng; Dùng lối nói khuếch đại hay bỏ lửng; Dùng hình ảnh biểu trưng; Dùng từ vay mượn nước ngoài; Dùng lối nói so sánh; Dùng lối nói ẩn dụ; Dùng lối nói nhân hóa; Đảo cấu trúc; Những cách nói mâu thuẩn, nghịch thường; Vận dụng tục ngữ, thành ngữ.
1.3.2.3. Các hướng nghiên cứu tiêu đề văn bản
Trong luận văn này, hướng tiếp cận của tôi chủ yếu ở phương diện ngôn ngữ học mà cụ thể là từ vựng và ngữ pháp của tiêu đề Báo Đà Nẵng.
1.3.3.1. Khái niệm
Theo Vũ Quang Hào, tiêu đề báo “là bộ phận hữu cơ của tác phẩm báo chí”, có khả năng “khái quát được nội dung của cả bài báo trong một cấu trúc ngôn ngữ định danh xác định, chuẩn mực, ngắn gọn và có thể có sức biểu cảm.” [21, tr.142].
1.3.3.2. Đặc điểm nổi bật của tiêu đề báo
Thứ nhất, số lượng tiêu đề báo là rất lớn. Thứ hai, chính vì số lượng tiêu đề lớn như vậy nên ngoại trừ những tên bài rất đặc biệt, rất hấp dẫn, độc giả khó có thể lưu nhớ và nhắc lại. Thứ ba, đời sống của tiêu đề báo rất ngắn ngủi. Thứ tư, tiêu đề báo đòi hỏi một sự hấp dẫn cao, có khả năng “níu mắt” người đọc.
1.3.3.3. Chức năng của tiêu đề báo
Bên cạnh những đặc điểm nổi bật, khi nói đến chức năng của tiêu đề báo thì chức năng đầu tiên là phải “bắt mắt” độc giả. Chức năng thứ hai là phải có khả năng phân biệt bài nào hơn bài nào. Tiếp theo là tiêu đề báo phải nêu được chủ đề, nếu có thể được thì nêu cả góc độ của bài báo nữa. Tiêu đề báo phải nhấn mạnh có gì mới, có gì hay để độc giả có thể lựa chọn ngay khi xem lướt qua tờ báo.
1.3.3.4. Tính chất của tiêu đề báo
– Tiêu đề phải rõ ràng, dễ hiểu, nghĩa là làm thế nào để độc giả có thể hiểu ngay lập tức. Tránh các từ trừu tượng, từ viết tắt, từ chuyên môn hay từ gây hiểu lầm.
– Tiêu đề phải ngắn gọn, sinh động, nghĩa là phải viết trực tiếp, loại bỏ các yếu tố thừa, yếu tố lặp.
– Tiêu đề đề phải chính xác và chứa thông tin, không mơ hồ, chung chung.
– Tiêu đề phải thích đáng, phải nêu được thông tin độc đáo và nhất thiết phải phù hợp với nội dung bài báo.
1.3.3.5. Dạng và cấu trúc của tiêu đề báo
* Về dạng tiêu đề: Có ba loại chính: Tiêu đề thông báo; Tiêu đề kích thích; Tiêu đề hỗn hợp
* Cấu trúc ngữ pháp của tiêu đề: Tiêu đề có thể là một từ, một ngữ, một câu, một kết cấu cố định, thậm chí một kết cấu đặc biệt.
1.3.3.6. Các thủ pháp đặt tiêu đề thường gặp
Theo tác giả Vũ Quang Hào trong [21, tr.150-153], có 11 thủ pháp đặt tiêu đề (hay có 11 loại tiêu đề) thường gặp. Thực tế khảo sát tiêu đề báo in Đà Nẵng, không phải 11 cách đặt tiêu đề mà tác giả Vũ Quang Hào nêu trên đều có/xuất hiện trong các thể loại báo in Đà Nẵng, mà chỉ một số cách đặt tiêu đề nổi bật được Báo Đà Nẵng sử dụng mà thôi. Điều này sẽ được làm rõ hơn khi phân tích về đặc điểm diễn đạt của tiêu đề ở mục 3.2 của chương 3 luận văn.
1.4. Giới thiệu về Báo Đà Nẵng
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thành phố, Báo Đà Nẵng với tư cách là cơ quan của Đảng bộ, tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố không ngừng được nâng cao. Báo không ngừng đổi mới để thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ chính trị của mình. Đảng ủy, Ban Biên tập Báo tập trung với một ý thức thường trực về yêu cầu chính trị đổi mới cách thể hiện. Nhìn vào tờ báo hiện nay, bạn đọc sẽ thấy tên bài được thiết kế sinh động, phù hợp hơn với cấu trúc của từng trang báo.
Trong chương 1, luận văn đã tổng hợp và giới thiệu những cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn như các vấn đề về từ, cụm từ, câu; khái niệm và đặc trưng của tiêu đề văn bản báo chí; đặc điểm, dạng thức, cấu tạo, yêu cầu của tiêu đề báo. Ngoài ra, luận văn còn giới thiệu ngắn gọn về lịch sử hình thành, phát triển của Báo Đà Nẵng. Đây là những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn quan trọng làm tiền đề để chúng tôi tiến hành làm rõ các đặc điểm tiêu đề báo in Đà Nẵng trên bình diện từ vựng, ngữ pháp, diễn đạt ở các chương tiếp theo.
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG CỦA TIÊU ĐỀ BÁO ĐÀ NẴNG
Trong chương 2, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát các tên bài trên Báo Đà Nẵng trong 3 năm liên tục từ năm 2016 đến năm 2018. Sau quá trình khảo sát, phân loại và từ những thống kê chi tiết, tôi đã thu được tổng số 1.392 tiêu đề. Sau đó, chúng tôi tiến hành phân loại, phân tích các tên bài từ góc độ từ vựng để làm rõ đặc điểm của tiêu đề trên Báo Đà Nẵng.
2.1. Tiêu chí khảo sát
Về phương diện từ ngữ, để đảm bảo hiệu quả diễn đạt và an toàn nhất, lớp từ ngữ được dùng phổ biến trong báo chí tiếng Việt nói chung, trong cấu tạo tiêu đề nói riêng chính là lớp từ ngữ thuần Việt và lớp từ ngữ toàn dân. Song, để tạo tính biểu cảm và giá trị biểu đạt thông tin nhằm gây hứng thú cho độc giả, người viết còn sử dụng một cách sáng tạo các lớp từ ngữ khác như: (1) từ ngữ địa phương; (2) từ ngữ hội thoại; (3) từ ngữ ngoại lai; (4) từ ngữ mới và (5) thành ngữ và tục ngữ, cũng như những biến thể của chúng trong việc mã hoá thông tin ở tác phẩm báo chí.
2.2. Kết quả khảo sát
Qua khảo sát 1.392 tiêu đề của Báo Đà Nẵng trong ba năm (2016, 2017, 2018), chúng tôi nhận thấy các tiêu đề của tờ báo này có sử dụng các lớp từ vựng khá phong phú, đa dạng với sự xuất hiện của các nhóm như: từ thuần Việt, từ toàn dân và từ ngữ địa phương; từ ngữ hội thoại; từ ngữ ngoại lai; từ ngữ mới; thành ngữ và tục ngữ. Kết quả cụ thể sẽ được thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 2.1: Các lớp từ vựng trong tiêu đề báo Đà Nẵng
| Từ vựng | Tần suất xuất hiện | Tỉ lệ |
| Thuần Việt và toàn dân | 1219 | 87,57% |
| Địa phương | 24 | 1,72% |
| Hội thoại | 43 | 3,08% |
| Ngoại lai | 109 | 7,83% |
| Mới | 80 | 5,74% |
| Thành ngữ, tục ngữ | 15 | 1,07% |
2.3. Miểu tả các lớp từ vựng tiêu đề Báo Đà Nẵng
2.3.1. Từ ngữ thuần Việt và từ ngữ toàn dân
Từ kết quả khảo sát, chúng tôi thấy lớp từ ngữ thuần Việt và lớp từ toàn dân được dùng một cách rộng rãi trên tiêu đề, chiếm đến 87,57%. Chính việc sử dụng phổ biến và rộng rãi lớp từ ngữ thuần Việt và lớp từ ngữ toàn dân đã góp phần tích cực, làm cho Báo Đà Nẵng vừa là tiếng nói chung của nhân dân Đà Nẵng, vừa mở rộng phạm vi phát hành và được độc giả mọi lứa tuổi khắp cả nước và cả Việt kiều ở nước ngoài đón nhận.
2.3.2. Từ ngữ địa phương
Báo Đà Nẵng là một tờ báo Đảng địa phương ra đời nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu của nhân dân thành phố là chính. Bên cạnh lớp từ ngữ thuần Việt và lớp từ ngữ toàn dân, đôi khi để thu hút người đọc và để cho dễ hiểu, những người viết báo còn sử dụng một lớp từ khá đặc biệt chính là từ địa phương. Từ ngữ địa phương luôn mang đậm dấu ấn riêng. Nó phản ánh nếp sống và tính cách cư dân của từng vùng, miền. Theo kết quả khảo sát được, đối với Báo Đà Nẵng, từ ngữ địa phương được dùng khá hạn chế, chỉ chiếm 1,72% trên tiêu đề báo, chủ yếu là từ ngữ địa phương Trung Bộ.
2.3.3. Từ ngữ hội thoại
Ngoài 2 nhóm từ trên, đôi khi trong một số tiêu đề báo, chúng ta vẫn thấy đâu đó những từ ngữ hội thoại được các tác giả sử dụng nhằm giúp cho bài báo trở nên gần gũi và như chính ngôn từ mà chúng ta giao tiếp hằng ngày. Từ kết quả đã khảo sát được, cho thấy việc sử dụng lớp từ ngữ này trong tiêu đề của Báo Đà Nẵng chiếm một tỉ lệ không lớn, chỉ khoảng 3,08% nhưng nó góp phần mang lại hiệu quả nhất định trong việc cung cấp thông tin. Điều này rất phù hợp với xu thế chung trên thế giới là “hội thoại hoá ngôn ngữ báo chí để nó đơn giản hơn, gần gũi hơn với cuộc sống hàng ngày” [1, tr.22], tăng tính biểu cảm cho tiêu đề. Song, việc sử dụng các yếu tố hội thoại này là không hề dễ dàng, vì vậy chúng ta cần tránh lạm dụng, đòi hỏi người viết phải dùng đúng chỗ, phải gọt giũa và đạt đến sự chuẩn mực nhất định về văn hoá.
2.3.4. Từ ngữ ngoại lai
Từ kết quả khảo sát, chúng tôi thấy nguồn vay mượn chủ yếu là từ các ngôn ngữ Ấn – Âu với hình thức khá đa dạng như dịch, phiên âm (phỏng theo âm đọc của nguyên ngữ), chuyển tự, dùng nguyên dạng và phiên chuyển, chiếm tỉ lệ 7,83%.
2.3.5. Từ ngữ mới
Do quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường và sự ra đời của Internet, giới trẻ với đặc trưng cố hữu là năng động, nhanh nhạy, ham thích cái mới cũng đang góp phần làm phong phú thêm tiếng Việt qua cách sử dụng từ ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt trong những ngữ cảnh cụ thể, điều đó đang từng ngày làm giàu đẹp thêm tiếng Việt. Song, sự xuất hiện lớp từ ngữ này trên tiêu đề của báo Đà Nẵng lại chiếm tỉ lệ không đáng kể, khoảng 5,7 %.
2.3.6. Thành ngữ, tục ngữ
Qua khối dữ liệu đã khảo sát, chúng tôi thấy việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thiết lập tiêu đề chỉ chiếm 1,07%. Điều này cũng dễ hiểu bởi việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ để thiết lập tiêu đề là một điều không hề dễ dàng. Một mặt nó đòi hỏi người viết “phải nắm được quy tắc về âm điệu, vần nhịp và cách hình thành nghĩa bóng của nó” [18, tr. 106].
Tóm lại, việc sử dụng từ ngữ trong tiêu đề của Báo Đà Nẵng nhìn chung là chính xác, rõ ràng, đúng nghĩa, đúng phong cách, gần với hiện thực cuộc sống về mặt ý nghĩa, ít có trường hợp lạm dụng quá mức cần thiết một lớp từ vựng nào đó, nhất là từ ngữ địa phương, từ ngữ ngoại lại và từ ngữ mới.
2.4. Tiểu kết
Có thể thấy rằng, cách sử dụng từ ngữ để đặt tên cho mỗi tiêu đề tin, bài trên Báo Đà Nẵng hầu hết đều tuân thủ theo những dạng thức, cấu trúc và chất liệu quen thuộc của việc đặt tiêu đề cho các loại báo nói chung. Song, không thể phủ nhận rằng, sự đa dạng và linh hoạt trong việc sử dụng nhiều lớp từ vựng của chúng có phần khác biệt và độc đáo. Cũng chính vì vậy mà mỗi loại từ vựng sử dụng để đặt tiêu đề đều có ưu, nhược điểm riêng và chức năng, hiệu quả cũng không khác nhau.
CHƯƠNG 3
CẤU TRÚCNGỮ PHÁP VÀ ĐẶC ĐIỂM DIỄN ĐẠT
CỦA TIÊU ĐỀ BÁO ĐÀ NẴNG
3.1. Cấu trúc ngữ pháp tiêu đề Báo Đà Nẵng
3.1.1.Tiêu chí khảo sát
Cùng với đặc điểm từ vựng thì việc quan tâm đến cấu trúc ngữ pháp của một tin, bài cũng là điều vô cùng quan trọng. Cấu trúc của một bài báo có thể là một từ, một ngữ, một câu, hoặc một kết cấu cố định.
3.1.2. Kết quả khảo sát
Qua khảo sát nguồn dữ liệu tiêu đề Báo Đà Nẵng, thu được kết quả như sau:
Bảng 3.1: Các loại tiêu đề báo Đà Nẵng xét theo đặc điểm ngữ pháp
| STT | Cấu trúc ngữ pháp của tiêu đề | Số lượng | (%) | ||
| 1 | Từ | 4 | 0,29 | ||
| 2 | Cụm từ | Cụm từ CP | Cụm danh từ | 218 | 15,66 |
| 3 | Cụm động từ | 416 | 29,89 | ||
| 4 | Cụm tính từ | 79 | 5,68 | ||
| 5 | Cụm từ ĐL | 25 | 1,8 | ||
| 6 | Giới ngữ | 11 | 0,79 | ||
| 7 | Câu | Câu trần thuật | 441 | 31,68 | |
| 8 | Câu nghi vấn | 28 | 2,01 | ||
| 9 | Câu cầu khiến | 38 | 2,73 | ||
| 10 | Tiêu đề có dạng đặc biệt | 106 | 7,61 | ||
Qua bảng khảo sát, chúng tôi nhận thấy: Trong tổng số 1.392 tiêu đề được khảo sát, kiểu tên bài có cấu trúc là một cụm từ chiếm số lượng nhiều nhất với 738 lượt xuất hiện, chiếm 53,02%. Đứng thứ hai là kiểu tiêu đề có cấu trúc là một câu, với 533 lượt xuất hiện, chiếm 38,29%. Kiểu tiêu đề có cấu trúc là dạng đặc biệt có số lượng đứng thứ ba, với 106 lượt xuất hiện, chiếm 7,61%. Kiểu tiêu đề là giới ngữ có 11 lượt xuất hiện, chiếm 0,79%. Chiếm số lượng ít nhất là kiểu tiêu đề có cấu trúc là một từ với 4 lượt xuất hiện (chiếm 0,29%).
3.1.3. Kiểu tiêu đề có cấu trúc là một từ
Qua kết quả đã khảo sát, loại tiêu đề này chỉ xuất hiện 4 lần, chiếm 0,29% trong tổng số các tiêu đề được khảo sát.
3.1.4. Kiểu tiêu đề có cấu trúc là một cụm từ
Trong quá trình khảo sát, tôi nhận thấy tiêu đề báo dạng cụm từ chiếm số lượng lớn nhất với 738 lượt xuất hiện, chiếm 53,02%. Theo kết quả khảo sát, có 738 tiêu đề là cụm từ, trong đó chỉ có 25 tiêu đề là cụm từ đẳng lập (chiếm 3,39%), còn lại 713 tiêu đề là cụm từ chính phụ. Trong cụm từ chính phụ, đa số các tiêu đề là cụm động từ, cụm danh từ và tính từ chiếm tỉ lệ nhỏ hơn rất nhiều.
3.1.4.1. Tiêu đề là cụm từ đẳng lập
Như kết quả đã khảo sát, trong 1.392 tiêu đề thì chỉ có 25 tiêu đề là cụm từ đẳng lập, chiếm 3,39%. Có thể thấy, mặt dù khá ngắn gọn và đơn giản, tuy nhiên ấu trúc này ít được sử dụng trong việc đặt tiêu đề.
3.1.4.2. Tiêu đề là cụm từ chính phụ
Có số lượng gấp nhiều lần cụm từ đẳng lập là cụm từ chính phụ với 713 cụm từ, chiếm 96,61%. Ở dạng đầy đủ, cụm từ chính phụ gồm ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước và phần phụ sau. Mỗi phần phụ trước và phụ sau lại có thể gồm nhiều thành tố phụ.
Cụm động từ là cụm từ có động từ làm thành tố chính. Có 416 tiêu đề có cấu trúc là cụm động từ, chiếm 58,35%, nhiều nhất trong các loại cụm từ. Số lượng tiêu đề có cấu trúc là cụm động từ là nhiều nhất so với các cấu trúc khác. Đây cũng chính là một đặc điểm riêng về hình thức của các tiêu đề trên Báo Đà Nẵng so với các loại hình báo chí khác.
b) Tiêu đề là cụm danh từ: Chỉ đứng sau cụm động từ là cụm danh từ với 218 tiêu đề là cụm danh từ chiếm 30,58%. Đây là cấu trúc cũng được dùng khá phổ biến bởi lẽ tiêu đề báo bao giờ cũng mang chức năng định danh, gọi tên sự vật, hiện tượng. Để làm tốt chức năng này, không cấu trúc nào đắc dụng hơn cụm danh từ.
c) Tiêu đề là cụm tính từ: Một thành phần không thể thiếu khi khảo sát các loại tiêu đề là tiêu đề có dạng cụm tính từ. Mặc dù chỉ xuất hiện 79 lần, chiếm 5,68%, nhưng cũng mang nhiều nét đặc biệt. Cụm tính từ là tổ hợp từ do tính từ và các từ khác đi kèm tạo thành.
3.1.4.3. Kiểu tiêu đề có cấu trúc là một câu
Đây là dạng tên bài có mức độ “nghiêm chỉnh” cao, sử dụng nhiều ở mức thứ hai với 533 lượt xuất hiện, chiếm 38,29%. Đối với các tiêu đề trên Báo Đà Nẵng, đây cũng là kiểu cấu trúc thường xuyên được sử dụng nhưng không phải với mật độ dày đặc bởi nó thường không gây được sự chú ý gì cho độc giả. Qua khảo sát, chúng tôi xác định có tới 96,99% các câu là câu đơn với 517 lượt xuất hiện. Rất ít câu có cấu trúc là câu phức, câu ghép.
– Câu đơn: Đội quân “vẽ” hoa lên bầu trời. (22/05/2018)
– Câu phức: G20 muốn Mỹ không thay đổi chính sách ngoại giao. (17/02/2017)
– Câu ghép: Mĩ trừng phạt Nga, Châu Âu lo lắng. (27/07/2017)
Xét về một phương diện mục đích nói, những tiêu đề có cấu trúc là một câu, chủ yếu là câu trần thuật và câu nghi vấn; tiêu đề là câu cầu khiến và câu cảm thán chiếm tỉ lệ không đáng kể. Ví dụ:
– Câu trần thuật: Biển số xe 43A-299.99 là biển số thật (23/02/2017)
– Câu nghi vấn: Bao giờ có nước sạch? (03/02/2017)
Hay Làm sao để kỳ nghỉ hè vui và bổ ích ? (01/06/2018)
Có 38 tiêu đề là câu cầu khiến chiếm 2,73%. Các tiêu đề dạng này chiếm tỉ lệ rất nhỏ. Ví dụ:
– Câu cầu khiến: Xin hãy vì đại cuộc và đạo lý! (14/10/2016)
Hay “Con hút cỏ Mỹ cho vui chứ đã sử dụng ma túy đâu!” (27/04/2018)
3.1.4.4. Kiểu tiêu đề có cấu trúc theo một kết cấu cố định/kết cấu đặc biệt
Ngoài ba kiểu tiêu đề được cấu trúc tương ứng với các cấp độ ngôn ngữ (từ, cụm từ và câu), chúng tôi còn nhận thấy tiêu đề trên Báo Đà Nẵng còn có kiểu cấu trúc theo một kết cấu cố định: vấn đề chính yếu, nội dung quan trọng luôn được đặt ở phần đầu tiêu đề. Vế sau đó được ngăn cách với nội dung bởi dấu hai chấm (:) luôn là kết quả hoặc phương hướng, nội dung bổ sung; nó gần giống như một thành phần phụ chú trong câu. Kiểu tên bài này xuất hiện 106 lượt, chiếm 7,61% trong tổng số ngữ liệu chúng tôi thu thập được.
3.1.4.5. Kiểu tiêu đề có cấu trúc là giới ngữ
Qua khảo sát, có 11 tiêu đề là giới ngữ, chiếm 0,79 %. Thường thì giới ngữ ít được sử dụng trong đặt tiêu đề báo. Đa phần các giới ngữ đều được bắt đầu bằng từ “về”, hoặc “từ”, hoặc cấu trúc “từ… đến”. Các tiêu đề có cấu trúc này thường được dùng để giới thiệu về một công trình, một cuốn sách, một hiện tượng… Cấu trúc giới ngữ thường dài dòng mà lại rất chung chung, thiếu tính cụ thể, rõ ràng, thiếu tính khái quát và chiếm nhiều diện tích khi trình bày nên cấu trúc này không phù hợp để đặt tiêu đề. Ví dụ: Từ mắt đến tim (09/04/2016); Từ núi Sam đến Sơn Trà (25/03/2017).
3.2. Đặc điểm diễn đạt tiêu đề Báo Đà Nẵng
3.2.1. Tiêu chí khảo sát
Dựa vào tiêu chí hình thức hay dựa vào các thủ pháp đặt tên bài thường gặp, qua xử lý 1.392 ngữ liệu tên bài, chúng tôi khảo sát được hầu hết các tác giả trên Báo Đà Nẵng với dụng ý trong việc đặt tiêu đề tin, bài nhằm đảm bảo chức năng chủ yếu là thông tin tới người đọc một cách hiệu quả nhất. Các dạng tiêu đề thường mang tính đơn giản, dễ hiểu, ít có bất ngờ đột biến. Báo Đà Nẵng là tờ báo Đảng có uy tín của địa phương và của cả nước trên phương diện báo Đảng của thành phố trực thuộc Trung ương, vì vậy các thông tin được truyền tải mang tính chính thống, việc đặt tên các bài viết cũng đòi hỏi sự nghiêm túc và cẩn trọng.
Dựa trên dữ liệu khảo sát được, đối với Báo Đà Nẵng, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã sử dụng 5 thủ pháp nổi bật và thường được sử dụng nhiều nhất là: Dùng con số để nhấn mạnh; Dùng dấu chấm lửng giữa tên bài; Đặt ra những câu hỏi; Dùng ngôn ngữ dân gian như thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca; Dùng biện pháp tu từ. Sau đây là bảng tổng hợp của chúng tôi về 5 kiểu diễn đạt tiêu đề trên Báo Đà Nẵng.
Bảng 3.3: Tên bài trên Báo Đà Nẵng xét theo thủ pháp đặt tên bài
| TT | Thủ pháp | Số lần xuất hiện |
| 1 | Dùng con số để nhấn mạnh | 188 |
| 2 | Dùng dấu chấm lửng giữa tên bài | 46 |
| 3 | Đặt ra những câu hỏi | 25 |
| 4 | Dùng ngôn ngữ dân gian như thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca… | 4 |
| 5 | Dùng biện pháp tu từ | 68 |
Ngoài ra, một số thủ pháp khác cũng được các tác giả trên Báo Đà Nẵng sử dụng với mức độ khác nhau nhưng không nổi bật và thường xuyên nên chúng tôi không xem xét.
3.2.2. Một số thủ pháp diễn đạt nổi bật của tiêu đề Báo Đà Nẵng
3.2.2.1. Dùng con số để nhấn mạnh
Dạng tên bài này có tác dụng tạo ra sự rõ ràng và có tính thuyết phục cao đối với độc giả. Tần số sử dụng các con số trong tên bài trên Báo Đà Nẵng khá cao, với 188 lượt, bởi các con số có tác dụng rất tốt trong các tiêu đề. Những con số sẽ tạo ra sự tin cậy và một hình ảnh chính xác cho câu tiêu đề. Số lẻ thường gây sự chú ý tốt hơn số chẵn (riêng số 10 là một số chẵn ngoại lệ). Ví dụ: 25 năm tù giam cho kẻ hiếp dâm, giết người (22/03/2016)
3.2.2.2. Dùng dấu chấm lửng giữa tên bài
Dạng tiêu đề có sử dụng dấu chấm lửng cũng được một số tác giả sử dụng khi đặt tiêu đề nhưng ít hơn, chỉ 46 lần. Theo kết quả khảo sát, chúng tôi thấy một số tác giả dùng dấu chấm lửng đặt sau từ ngữ nhằm biểu thị sự châm biếm, hài hước hoặc gây bất ngờ trong suy nghĩ của người đọc. Ví dụ: Bao giờ thị trường lao động hết…vênh? (04/04/2017)
Như vậy, có thể thấy, việc dùng cấu trúc bỏ lửng mà dấu lửng hiện diện ở giữa tên bài là không nhiều. Bởi lẽ, việc dùng dấu chấm lửng nhiều khi lại tạo cho tiêu đề có vẻ như dài dòng, rối mắt và đôi khi khiến cho thông tin tác giả đưa ra trở nên mơ hồ, khó hiểu. Điều này, chứng tỏ các tác giả trên Báo Đà Nẵng vẫn luôn có ý thức đảm bảo tính chất “nghiêm chỉnh” cần có của tiêu đề báo Đảng. Đó là yêu cầu ngắn gọn, chính xác, không mơ hồ, chung chung.
3.2.2.3. Đặt ra những câu hỏi
Các câu hỏi thường có tác động mạnh và trực tiếp tới não bộ của chúng ta. Chỉ cần nhìn thấy câu hỏi là chúng ta đã bị kích thích. Nó vừa gợi sự phán đoán của độc giả về một vấn đề bức xúc, đáng được quan tâm nào đó, vừa hứa hẹn câu trả lời thỏa đáng trong bài viết. Trong tổng số 1.392 tiêu đề, có 25 tên bài xuất hiện dưới dạng là câu hỏi, chiếm 0,87 %. Ví dụ: Tương lai về đâu? (18/03/2017)
3.2.2.4. Dùng ngôn ngữ dân gian như thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca…
Thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca có khả năng tạo ra hiệu quả thẩm mỹ cho tên tiêu đề mỗi bài báo. Hiệu quả này chỉ có được khi nhà báo biết khai thác vận dụng thành ngữ, tục ngữ một cách linh hoạt. Nhờ những chất liệu dân gian này mà mỗi bài báo sẽ có thêm sức nặng và trở nên rất gần gũi với người đọc.
Ví dụ: “Ngựa quen đường cũ” (23/06/2018)
Tuy có những ưu điểm trên nhưng tiêu đề sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca không được các phóng viên sử dụng nhiều. Qua khối dữ liệu đã khảo sát, tôi thấy việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thiết lập tiêu đề Báo Đà Nẵng chỉ chiếm 1,07%.
3.2.2.5. Dùng biện pháp tu từ
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi thấy nhiều tác giả trên Báo Đà Nẵng còn sử dụng một số biện pháp tu từ trong việc đặt tên bài để tạo những tiêu đề hay, độc đáo, “bắt mắt” độc giả.
Qua khảo sát, chúng tôi thấy những biện pháp tu từ thường được các tác sử dụng bao gồm: Nhân hóa; Ẩn dụ; Hoán dụ.
Như vậy, một số biện pháp tu từ như nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ đã được các tác giả sử dụng trong khi đặt tên bài trên Báo Đà Nẵng. Tuy số lần sử dụng thủ pháp này không nhiều nhưng các nhà báo đã tạo nên tên bài có tính biểu cảm, gợi tả rất cao và thu hút được sự quan tâm của người đọc.
3.3. Tiểu kết
Trong chương 3, chúng tôi đã nêu và phân tích được các đặc điểm cơ bản của tiêu đề Báo Đà Nẵng, đó là: các dạng cấu trúc, đặc điểm diễn đạt và một số đặc điểm nội dung cơ bản của tiêu đề. Dựa trên các đặc điểm đó, chúng tôi đã chỉ ra các ưu, nhược điểm. Cấu trúc và nội dung của các tiêu đề có mối quan hệ vô cùng mật thiết.
Nhìn chung, các tiêu đề sử dụng đa dạng các cấu trúc ngôn ngữ trong đó dạng cấu trúc là một ngữ hoặc là một câu khá phổ biến. Nội dung phản ánh của các tiêu đề có tính trung thực, chính xác, ứng với nội dung của các tin, bài, nghĩa là tiêu đề nào, nội dung ấy.
KẾT LUẬN
Từ các kết quả nghiên cứu trong luận văn, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1. Tiêu đề chính là một bộ phận quan trọng cấu thành nên văn bản, văn bản tác phẩm báo chí cũng vậy. Đó cũng là yếu tố đầu tiên mà người đọc thường quan tâm khi tiếp cận với tác phẩm. Do vậy, việc tìm hiểu đặc điểm tiêu đề báo là việc làm cần thiết và luôn có tính thời sự. Chúng tôi đã lựa chọn khảo sát trên Báo Đà Nẵng (báo in) vì đây không chỉ là tờ báo Đảng của một địa phương giàu truyền thống cách mạng mà đây còn được coi là tờ báo tiêu biểu của khu vực miền Trung. Hơn nữa, đây lại cơ quan mà tôi đang công tác nên có nhiều điều kiện khảo sát, tìm hiểu tư liệu một cách chân thực và kỹ càng.
2. Về mặt lý luận, luận văn này đã góp thêm một tiếng nói cho việc tìm hiểu tiêu đề báo nói chung và tiêu đề của một tờ báo Đảng địa phương nói riêng. Những kết quả của luận văn sẽ cung cấp những tư liệu cần thiết trong việc nghiên cứu một thành phần quan trọng (tiêu đề) trong chỉnh thể của tác phẩm báo chí.
3. Dựa trên các cơ sở lý luận được trình bày một cách rõ ràng, hệ thống luận văn đã tiến hành khảo sát các số Báo Đà Nẵng ngẫu nhiên từ năm 2016 đến ngày 02/07/2018 và thu được 1392 ngữ liệu tiêu đề. Từ đó, dựa theo tiêu chí từ vựng, luận văn đã khảo sát và phân loại tiêu đề thành 6 dạng cơ bản. Đó là: từ thuần Việt và từ toàn dân, từ ngữ địa phương; từ ngữ hội thoại; từ ngữ ngoại lai; từ ngữ mới và thành ngữ và tục ngữ.
4. Dựa theo tiêu chí ngữ pháp, luận văn đã phân loại 1.392 ngữ liệu tiêu đề thành 5 dạng khác nhau, bao gồm: từ, cụm từ, giới ngữ, câu, kết cấu đặc biệt. Từ các đặc điểm đó, luận văn cũng đã phân tích và chỉ ra một số ưu điểm nổi bật, cũng như một vài hạn chế. Chúng tôi nhận thấy, các tiêu đề trên Báo Đà Nẵng đều sử dụng cả 5 loại cấu trúc nói trên. Tuy nhiên, tiêu đề có cấu trúc là một từ có mật độ sử dụng ít nhất. Điều này chứng tỏ các phóng viên đã có sự quan tâm sâu sắc đến nhu cầu và thị hiếu của độc giả để đặt ra những tiêu đề mang tính phổ thông và cũng dễ hiểu nhất.
5. Luận văn là công trình nghiên cứu bước đầu về cách đặt tên bài của một tờ báo Đảng địa phương (khảo sát trong một giai đoạn nhất định, gần đây nhất và với một số lượng ngữ liệu còn khiêm tốn). Tác giả luận văn mong muốn sẽ tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cách đặt tên bài trong các chuyên mục cụ thể hoặc nghiên cứu trong sự đối sánh với các tờ báo khác khi có dịp nghiên cứu sâu hơn trong thời gian tiếp theo.
6. Ưu điểm nói chung của các tiêu đề trên Báo Đà Nẵng là về cơ bản đã phản ánh được đúng nội dung, không mắc lỗi về chính tả, trình bày khá đẹp mắt, từ ngữ gây được sự chú ý của độc giả. Nhưng hạn chế ở chỗ, vẫn còn có những tiêu đề chưa thật sự hấp dẫn bởi cách đặt tiêu đề đôi khi còn mang tính rập khuôn và khó hiểu, một số ít tiêu đề còn dài dòng, kém hấp dẫn hoặc nội dung mơ hồ. Muốn khắc phục được hạn chế này, thiết nghĩ các tác giả nên đầu tư công phu hơn khi đặt tiêu đề, chú ý quan tâm hơn đến thị hiếu và nhu cầu của độc giả khi tiếp cận với một tin, bài. Bên cạnh đó, Ban biên tập và bộ phận kỹ thuật cũng cần nâng cao hơn công tác kiểm duyệt, sửa chữa và trình bày để có được những tên bài vừa hay về nội dung, đẹp về hình thức. Có như vậy, độc giả sẽ cảm thấy thích thú và thỏa mãn nhãn hơn khi tiếp nhận bài báo và do đó sức sống của mỗi tác phẩm báo chí sẽ được nâng cao.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\NGON NGU HOC\NGUYEN THI XUAN DUYEN\SAU BAO VE


