CÁC PHƯƠNG TIỆN TÌNH THÁI TRONG CÂU VĂN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP KHẢO SÁT QUA TẬP “TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP”
Việc vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học để tiếp cận văn bản nghệ thuật là một hướng đi mới của Việt ngữ học ứng dụng hiện nay. Lý thuyết ngôn ngữ học xã hội, lý thuyết hành động ngôn từ và ngôn ngữ học cơ bản đã giúp cho việc nghiên cứu phong cách văn học hay một văn bản nghệ thuật phát triển nhanh chóng. Bằng việc coi văn bản nghệ thuật như một diễn ngôn và tìm mối quan hệ giữa mã ngôn ngữ và ý nghĩa văn bản nghệ thuật, người học ngôn ngữ có ý thức hơn đối với những thủ pháp thể hiện trong đó.
Hiểu một văn bản nghệ thuật không thể tách rời với trực giác. Tuy nhiên, sự miêu tả và phân tích ngôn ngữ có thể giúp ích nhiều cho sự hiểu biết của chúng ta. Có thể phân tích ngôn ngữ về các mặt ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa, cú pháp để tìm ra giá trị biểu đạt của một văn bản nghệ thuật. Trong việc tiếp nhận một văn bản nghệ thuật, chúng ta không thỏa mãn với việc tìm thấy cái được diễn đạt mà cần phát hiện ra nó đã được diễn đạt như thế nào. Vì thế cách tiếp cận ngôn ngữ học có vai trò quan trọng.
Đồng thời, lĩnh vực tình thái trong ngôn ngữ là một hệ thống lý thuyết mới và ngày càng được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm. Bởi lẽ hiểu về tình thái là hiểu về bản chất ngôn ngữ, “không có tình thái, nội dung thể hiện trong câu nói chỉ là những mảnh ghép nguyên liệu rời rạc. Bally đã rất đúng khi cho rằng tính tình thái là linh hồn của phát ngôn, mà nói rộng ra là của hoạt động ngôn ngữ nói chung” (dẫn của tác giả Nguyễn Văn Hiệp [8, tr.74]) Vai trò của tình thái càng quan trọng khi nó trở thành một phương tiện đặc hữu để phân tích ngữ nghĩa câu và văn bản. Khi vận dụng lý thuyết tình thái này vào tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học đã có thêm những cách nhìn mới mẻ về các phương tiện ngôn ngữ trong câu tiếng Việt.
Tuy nhiên, một thực tế đang tồn tại là mặc dù hệ thống lý thuyết về tình thái trong ngôn ngữ học thế giới đã được nghiên cứu sâu nhưng đối với tiếng Việt, tình thái vẫn là một vấn đề cần được khai triển sâu sát hơn nữa. Các công trình nghiên cứu về tình thái hiện nay ở trong nước đang rất đa dạng, phong phú ở nhiều dạng thức khác nhau, tuy nhiên chưa có sự thống nhất giữa các tác giả. Đặc biệt là các quan niệm về phương tiện biểu thị tình thái trong câu/phát ngôn, và từ lý luận đi đến thực tiễn, những nghiên cứu về các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt vẫn đang rất cần các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu bằng những công trình lớn giải quyết thỏa đáng.
Biểu hiện sinh động nhất của ngôn ngữ là trong văn bản nghệ thuật và vì thế qua tác giả Nguyễn Huy Thiệp và tác phẩm của ông, chúng tôi hi vọng sẽ có được những dẫn liệu thuyết phục nhất về các yếu tố tình thái trong câu. Ngược lại từ kết quả nghiên cứu có thể đặt một điểm nhìn từ góc độ tình thái đến ngôn ngữ nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp. Đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài Các phương tiện biểu thị tình thái trong câu văn của Nguyễn Huy Thiệp, khảo sát qua tập “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nhận diện được sự phong phú của các phương tiện tình thái trong thực tế ngôn ngữ văn chương tiếng Việt
Nhận diện được năng lực biểu đạt của các phương tiện tình thái đối với thế giới nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng hệ thống lý thuyết về các phương tiện biểu thị tình thái trong ngôn ngữ và lĩnh hội được năng lực biểu đạt của chúng.
Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của các phương tiện tình thái trong văn bản Nguyễn Huy Thiệp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên đối tượng: Các yếu tố tình thái trong câu văn Nguyễn Huy Thiệp.
Phạm vi nghiên cứu: Văn bản nghệ thuật trong tập truyện ngắn “Nguyễn Huy Thiệp truyện ngắn”, (Tái bản) NXB Hội nhà văn, [25] Cụ thể có 37 truyện ngắn.
| STT | TÊN TRUYỆN | STT | TÊN TRUYỆN |
| 1 | Chảy đi sông ơi | 20 | Nguyễn Thị Lộ |
| 2 | Tướng về hưu | 21 | Trương chi |
| 3 | Cún | 22 | Đời thế mà vui |
| 4 | Không có vua | 23 | Thiên văn |
| 5 | Muối của rừng | 24 | Tội ác và trừng phạt |
| 6 | Con gái thủy thần | 25 | Thương cả cho đời bạc |
| 7 | Những người thợ xẻ | 26 | Chăn trâu cắt cỏ |
| 8 | Những bài học nông thôn | 27 | Hạc vừa bay vừa kêu thoảng thốt |
| 9 | Kiếm sắc | 28 | Lòng mẹ |
| 10 | Vàng lửa | 29 | Không khóc ở California |
| 11 | Phẩm tiết | 30 | Truyện tình kể trong đêm mưa |
| 12 | Thương nhớ đồng quê | 31 | Đưa sáo sang sông |
| 13 | Mưa nhã nam | 32 | Bài học tiếng Việt |
| 14 | Những ngọn gió Hua Tát | 33 | Sống dễ lắm |
| 15 | Tâm hồn mẹ | 34 | Thổ cẩm |
| 16 | Huyền thoại phố phường | 35 | Những người muôn năm cũ |
| 17 | Giọt máu | 36 | Chuyện ông Móng |
| 18 | Chút thoáng Xuân hương | 37 | Chú hoạt tôi |
| 19 | Mưa |
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học như tiến hành khảo sát cách sử dụng các phương tiện tình thái của tác giả. Sau đó tiến hành thống kê, phân tích, miêu tả dựa trên những khảo sát cụ thể. Đồng thời chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh và đối chiếu theo khuôn mẫu các phương tiện tình thái để làm rõ các giá trị biểu đạt của chúng trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp. Ngoài các thao tác như đã nêu ở trên, thao tác giải thích được sử dụng trong toàn luận văn.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung bao gồm có 3 chương sau:
Chương 1. Những cơ sở lý luận và tổng quan về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Chương 2. Khảo sát các phương tiện tình thái trong câu văn của Nguyễn Huy Thiệp
Chương 3. Giá trị biểu đạt của các yếu tố tình thái trong câu văn của Nguyễn Huy Thiệp.
NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ
TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
. TÌNH THÁI TRONG NGÔN NGỮ VÀ CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU THỊ Ý NGHĨA TÌNH THÁI
. Tình thái trong ngôn ngữ và tình thái trong tiếng Việt

- Tình thái trong logic
Tình thái trong logic còn được gọi là tình thái khách quan bởi nó quan tâm đến tính đúng/ sai hay thực cách của mệnh đề được biểu thị trong câu nói.
Trong logic học, nội dung của một mệnh đề được chia làm hai phần. Phần thứ nhất gọi là ngôn liệu (lexic hay dictum) tức cái tập hợp gồm sở thuyết – vị từ logic và các tham tố của nó được xét như một mối liên hệ tiềm năng. Phần thứ hai gọi là tình thái (modalité) là cách thực hiện mối liên hệ ấy. Nó gắn với sự phân loại các phán đoán, các mệnh đề logic dựa trên những đặc trưng cơ bản của mối liên hệ giữa hai thành phần chủ từ và vị từ, xét ở khía cạnh mức độ phù hợp của phán đoán với hiện thực. Logic truyền thống chia phán đoán được thành ba nhóm lớn: khả năng, tất yếu, hiện thực. Thuộc vào nhóm phán đoán khả năng là những phán đoán phản ánh xác suất có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng nào đó ở đối tượng (đối tượng có thể mang đặc trưng đó ít nhất là trong một thế giới khả hữu nào đó), thuộc vào nhóm phán đoán tất yếu là những phán đoán phản ánh những nội dung nhận thức mà đặc trưng nên ở vị từ có ở đối tượng trong mọi điều kiện (đối tượng mang đặc trưng trong mọi thế giới khả hữu), còn phán đoán hiện thực thì đơn thuần xác nhận sự có mặt (phán đoán phủ định) của đặc trưng nào đó ở đối tượng như là một hiện thực.
Nguyễn Văn Hiệp cho rằng: “Khái niệm tình thái khách quan phản ánh cái nhìn của logic học về nội dung của câu. Theo đó, các phán đoán mà câu biểu thị được phân nhóm dựa trên ba tiêu chí là tính khả năng, tính tất yếu, tính hiện thực. Tình thái khách quan chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất giữa phán đoán với hiện thực, mang tính khách quan, bản thể và được coi như là đặc trưng nội tại của cấu trúc chủ từ – vị từ logic, gạt bỏ mọi nhân tố chủ quan như ý chí, sự đánh giá, mức độ cam kết, thái độ hay lập trường của người nói. Người nói chỉ trình bày lại hiện thực một cách khách quan, như nó vốn có mà thôi” [9, tr.96-97].
Trong tình thái khách quan không có vai trò của người nói mà khái niệm này chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ hcung nhất giữa phán đoán với hiện thực, mang tính khách quan, bản thể và chỉ để phục vụ cho việc phân loại các phán đoán mà thôi. Chính sự “giới hạn” đó đã phân định rạch ròi tình thái trong logic và trong ngôn ngữ.
- Tình thái trong ngôn ngữ
Đối lập với tình thái trong logic là loại tình thái không quan tâm đến vai trò của người nói, tình thái trong ngôn ngữ nhấn mạnh vai trò của người nói đối với điều được nói ra trong câu. Chính vì thế, người ta còn gọi tình thái trong ngôn ngữ là tình thái chủ quan. Tình thái chủ quan về cơ bản cũng dựa trên những phạm trù của tình thái khách quan như: tính tất yếu, tính khả năng, tính hiện thực ….. nhưng trong tình thái chủ quan, người nói hặc đưa ra những bằng chứng, suy luận mang tính cá nhân làm cơ sở cho một cam kết nào đó đối với tính chân thực của điều được nói ra trong câu (khía cạnh nhận thức) hoặc thể hiện thái độ của mình đối với hành động được đề cập trong câu (khía cạnh đạo nghĩa). Có thể thấy, các cách biểu hiện của tình thái chủ quan phong phú và đa dạng hơn nhiều so với tình thái trong logic.
Có thể nói rằng, điểm khác biệt nhất giữa tình thái khách quan và tình thái chủ quan đó là sự có mặt hoặc vắng mặt của vai trò người nói. Hai ví dụ sau đây cho ta thấy rõ sự khác biệt giữa tình thái chủ quan và tình thái khách quan:
- Có lẽ anh ấy cưới vợ rồi.
- Nghe đâu anh ấy cưới vợ rồi.
Đối với nhà logic học, vốn chỉ quan tâm đến tình thái khách quan, thì hai câu (1) và (2) là đồng nhất với nhau, theo nghĩa chúng đều thuộc phạm vi tình thái khả năng (possibility). Tuy nhiên, nếu xét theo góc độ tình thái chủ quan, ta thấy rõ sự khác biệt trong cam kết tình thái giữa hai câu trên. Trong câu (1), người nói đưa ra một cam kết có mức độ về tính chân thực nội dung mệnh đề dựa trên những suy đoán (có lẽ…); trong khi đó, trong câu (2), cam kết về mức độ của người nói dựa trên bằng chứng tin đồn (nghe đâu….). Và cả hai câu trên đều phụ thuộc bằng chứng. Bằng chứng khác nhau thì xác suất hay khả năng hiện thực các nội dung mệnh đề trong câu nói sẽ khác nhau.
Trong ngôn ngữ học, có thể nói Ch. Bally, nhà ngôn ngữ học người Pháp, là người đầu tiên cho việc đặt vấn đề nghiên cứu tình thái một cách có hệ thống. Ông chủ trương phân biệt trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn hai thành phần cơ bản tương ứng là modus (tình thái) và dictum (ngôn liệu). Theo Ch.Bally, dictum là bộ phận biểu hiện nội dung sự tình ở dạng tiềm năng, nó gắn với chức năng kinh nghiệm, chức năng miêu tả của ngôn ngữ; modus gắn với bình diện chủ quan, thể hiện những nhân tố như ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong các chiều kích quan hệ với thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp. Modus là nhân tố quan trọng để thực tại hóa câu, biến nội dung sự tình còn ở dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thực. Modus cho biết sự tình nêu trong phát ngôn là khả năng hay đã hiện thực, khẳng định hay phủ định, mức độ cam kết của người nói đối với độ xác thực của điều được nói ra, thể hiện đánh giá, tình cảm, ý chí, mong muốn, ý đồ của người nói đối với hành động được nêu ra trong câu nói……
Sự đối lập giữa hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn là tình thái và ngôn liệu của Ch. Bally còn được thấy ở nhiều tác giả khác. Đó là một trong những đối lập cơ bản làm cơ sở cho những nghiên cứu về tình thái trong ngôn ngữ học và được thừa nhận rộng rãi, tuy các thuật ngữ mà các tác giả dùng là khác nhau. Chẳng hạn, Fillmore quan niệm, cấu trúc ngữ nghĩa của câu bao gồm hai thành phần: mệnh đề (proposition-P) và tình thái (modus-M). Mệnh đề được hiểu như là tập hợp những quan hệ có tính phi thời (tenseless) giữa động từ và các danh từ. Còn tình thái là loại ý nghĩa có liên quan đến toàn bộ câu (the tense – as – a – whole) như phủ định, thức, thì và thể [37, tr.23]. Từ quan niệm này, Fillmore thể hiện phát ngôn bằng công thức: S=M + P (trong đó S là nghĩa của câu nói, M là thành phần biểu thị tình thái, P là thành phần mệnh đề).
Theo Nguyễn Văn Hiệp, sự đối lập giữa M và P trong cấu trúc nghĩa của câu nói như trên là đối lập cơ bản nhất được thừa nhận rộng rãi trong ngôn ngữ học và được lấy làm cơ sở lý thuyết tình thái. Tuy nhiên, khi xem xét các văn liệu về tình thái, các tác giả có thể dung các thuật ngữ khác nhau nhằm nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác của sự đối lập, chẳng hạn: tình thái/ngôn liệu (thuật ngữ của Bally); tình thái/nội dung mệnh đề (thuật ngữ của Lyons). [9, tr.88].
Chính vì vậy, nói về tình thái trong ngôn ngữ (tình thái chủ quan), tác giả Nguyễn Văn Hiệp cho rằng: “Nếu trong hệ thống tình thái khách quan, dựa trên những tham tố về tính tất yếu, tính khả năng, tính hiện thực, quan hệ giữa chủ thể và vị thể được quy về một số nhóm cơ bản, được coi là mang tính bản thể, khách quan, loại trừ vai trò của người nói thì trong hệ thống tình thái chủ quan, vai trò của người nói đặc biệt được nhấn mạnh. Với tư cách là chủ thể tri nhận và đánh giá tình thái, người nói thể hiện những đánh giá và cam kết tình thái của mình theo một thang độ rất rộng. Trong thực tế, có những bước chuyển tiếp, những ranh giới không dễ xác định giữa nhóm tình thái này với nhóm tình thái khác. Từ khả năng đến tất yếu, từ hiện thực đến phi hiện thực là một phổ liên tục những đánh giá tình thái, phản ánh một cách phức tạp quan hệ lượng – chất dựa trên những bằng chứng cá nhân, những suy luận, những chế định, về quyền và nghĩa vụ được nhìn nhận theo quan điểm của người nói. Vì thế, phổ nội dung hình thái chủ quan phong phú hơn rất nhiều so với phổ nội dung của tình thái khách quan” [9, tr.98-99].
Ví dụ, cùng một nội dung sự tình nói về việc ngày mai mưa, người ta có thể thể hiện những nội dung tình thái rất khác nhau:
- Mai mưa.
- Có lẽ mai mưa.
- Mai mưa đi.
- Mai mưa rồi.
…..
Với phát ngôn (3) người nói thể hiện một thông báo như một xác nhận về một sự tình được coi là hiện thực. Với phát ngôn (4) là một sự phỏng đoán, nội dung sự tình là một kiến giải chủ quan của người nói, dựa vào những bằng chứng nào đó mà người nói có được hoặc dựa trên cơ sở suy luận nào đó. Ở đây, người nói không cam kết hoàn toàn về tính chân thực, tính phù hợp với thực tế của việc “mai mưa”. Với phát ngôn (5), người nói thể hiện nội dung sự tình như là điều mình mong muốn. Với phát ngôn (6), người nói thể hiện nội dung sự tình mang tính khẳng định, là một cam kết dựa trên những cơ sở, lý lẽ mang tính chắc chắn, khoa học (như sau khi xem bản tin thời tiết chẳng hạn).
Cùng với Nguyễn Văn Hiệp, tác giả Bùi Trọng Ngoãn cho rằng, tình thái chủ quan (tình thái trong ngôn ngữ) được chia thành hai phạm trù là tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa. Trong đó:
- Tình thái nhận thức là tình thái về độ chân thực, độ cam kết đối với chuẩn mực chân thực của điều được nói ra là tất yếu hay không tất yếu, có thể hay không có thể. Xét về độ chân thực, trong tình thái nhận thức có 3 phạm trù là:
– Tình thái thực hữu (factive): Người nói cho rằng sự việc được nói đến là hiện thực hay tất yếu hiện thực.
Ví dụ: + Nó đã đi.
+ Nó lấy chồng.
+ Nó nỡ bỏ chồng.
– Tình thái phản thực hữu (contre – factive): Người nói cho rằng sự việc nói đến là phi hiện thực hay tất yếu phi hiện thực.
Ví dụ: + Nó không cho bạn gái chong chóng.
+ Hôm qua tôi đâu đến nhà cậu.
+ Giá mà ngày trước tôi thi đậu vào đại học
+ Nó toan chạy.
+ Nếu nó quý tôi nó đã đến đây.
– Tình thái không thực hữu (non – factive): Người nói cho rằng sự việc đến có thể xảy ra trong một thế giới khả năng nào đó.
Ví dụ: + Tôi định mai đi Hà Nội.
+ Nếu trời không mưa tôi sẽ đi Non Nước.
- Tình thái đạo nghĩa (deontic), còn gọi là tình thái ràng buộc, là nội dung tình thái xét theo những quy ước xã hội về đạo đức, luân lý, tập quán, phong tục, với sự phân biệt: bắt buộc/không bắt buộc; được phép/không được phép; cấm đoán/không cấm đoán; miễn trừ/không miễn trừ.
Ví dụ: + Nó dám cãi bố mẹ.
+ Anh phải làm xong việc này trong ngày mai.
+ Nó nỡ bỏ người vợ hiền thục.
Có thể thấy câu khuyến lệnh có một sự liên quan chặt chẽ với tình thái đạo nghĩa.
Ví dụ: + Đừng hút thuốc!
+ Chớ tắm chỗ nhiều gió!
+ Hãy nhập ngũ!
Nhiều năm gần đây, trong nghiên cứu tình thái trong ngôn ngữ, (tình thái chủ quan), các nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến những cam kết tình thái trong câu nói như ngữ cảnh, người nói, người nghe, ….. cũng như các yếu tố mục đích, yêu cầu, thái độ đánh giá….. của người nói đối với điều được nói ra xét trong quan hệ với hiện thực, với đối tượng giao tiếp. Ch.Bally, nhà ngôn ngữ học người Pháp, đã rất đúng khi cho rằng “tình thái là linh hồn của phát ngôn”.
. Các phương tiện biểu thị tình thái trong Tiếng Việt
Tình thái phản ánh quan hệ đa phương giữa người nói, nội dung mệnh đề, người đối thoại và thực tế. Như đã đề cập ở trên, mỗi phát ngôn luôn là một sự cộng hợp của “dictum” và “modalité”, trong bất cứ ngôn ngữ nào. Như vậy, tình thái là một hiện tượng phổ quát, chung cho tất cả các ngôn ngữ tự nhiên trên thế giới, nghĩa là luôn luôn tồn tại các phương tiện biểu đạt tình thái trong tất cả các ngôn ngữ.
Chúng tôi cũng thấy rằng mỗi ngôn ngữ có các phương tiện điển hình và rất đa dạng để biểu đạt tình thái. Nhiều tác giả đã tập hợp và phân loại các phương tiện biểu thị tình thái ngôn ngữ và đặc biệt trong tiếng mẹ đẻ của mình. Trong đó, ngoài yếu tố ngữ âm, các nghiên cứu về tình thái thường nhắc đến các phương tiện biểu thị tình thái như: các vị từ tình thái (modal verb), các vị từ tình thái tính (modality verb), thức (mood), phụ tố tình thái (modal affixex), trạng từ và tính từ tình thái (adjectives and modal adverbs), kết cấu với động từ thái độ mệnh đề, tiểu từ tình thái…..
Tác giả Hoàng Trọng Phiến (1980) đã nhận định trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt – câu” rằng mỗi ngôn ngữ có các phương tiện biểu đạt tình thái riêng, nhưng những phương tiện thường gặp nhất là ngữ điệu, động từ, trật tự từ, tiểu từ tình thái, thành ngữ và ngữ cố định có chức năng khu biệt và hiện thực hóa câu.
Mỗi ngôn ngữ có các đặc trưng chi phối sự xuất hiện của các phương tiện biểu đạt tình thái. Palmer trong cuốn “Mood and Modality” (Thức và tình thái) cho rằng có 3 phương tiện ngữ pháp biểu thị ý nghĩa là thức (mood), động từ tình thái (modal verbs), và các tiểu từ (particles). Tác giả Bùi Trọng Ngoãn (2004) trong luận án tiến sĩ thì thức của ngôn ngữ Châu Âu bao gồm:
- Thức trực chỉ (indicative) xác nhận điều cam kết của người nói đối với điều nói ra là chân thực.
- Thức mệnh lệnh (imperative) biểu thị mong muốn của người nói về một hành động sẽ xảy ra trong tương lai.
- Thức giả định (subjunctive) giả định và mong muốn một hành động xảy ra trong một điều kiện nào đó. Thức giả định giống thức mệnh lệnh ở chỗ đều nói về tương lai, nếu mệnh đề muốn người nghe thực hiện hành động thì thức giả định chỉ là mong muốn trong những điều kiện đó.
Trong khi đó, cũng theo tác giả thì trong tiếng Việt, thức là một phạm trù hoàn toàn xa lạ. Vậy nên, để có thể xác định được các phương tiện này một cách đầy đủ nhất cần nghiên cứu trên đối tượng ngôn ngữ cụ thể.
Tác giả Nguyễn Văn Hiệp trong Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp đã chỉ ra 12 nhóm phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt như sau:
Nhóm 1: các phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ
Nhóm 2: Các vị từ tình thái làm chính tố trong ngữ động từ
Nhóm 3: Các vị từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề
Nhóm 4: Các quán ngữ tình thái
Nhóm 5: Các vị từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với những điều kiện về ngôi, về chỉ tố thời…)
Nhóm 6: Các thán từ
Nhóm 7: Các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp đặc ngữ (idiom) tương đương
Nhóm 8: Các vị từ đánh giá và tổ hợp có tính đánh giá
Nhóm 9: Các trợ từ
Nhóm 10: Những đại từ nghi vấn được dùng trong những câu phủ định – bác bỏ
Nhóm 11: Các từ ngữ chêm xen biểu thị tình thái
Nhóm 12: Kiểu câu điều kiện giả định
Tác giả Bùi Trọng ngoãn (2004) đã chỉ ra các phương tiện biểu thị nội dung tình thái trong tiếng Việt gồm ba nhóm: (1) ngữ điệu (2) cấu trúc câu (3) từ biểu thị tính tình thái: động từ tình thái, động từ chỉ thái độ mệnh đề, động từ ngữ vi, quán ngữ tình thái, tiểu từ tình thái, thán từ, phó từ tình thái….
TS. Trần Kim Phượng đã tập hợp các phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt bao gồm:
- Động từ tình thái:
+ Động từ tình thái chính danh: Xét về mặt ngữ nghĩa biểu thị thái độ, cách đánh giá của người nói liên quan đến nội dung câu; xét về mặt chức vụ cú pháp, chúng là trung tâm của vị ngữ. Động từ tình thái không dùng một mình mà hay kết hợp với động từ khác, với vị từ đúng trước động từ đó, làm thành vị ngữ của câu. Tiêu biểu là các nhóm:
- Động từ tính thái chỉ khả năng: có thể, không thể
- Động từ tình thái chỉ sự bị động: bị, được, phải, chịu
- Động từ tình thái chỉ sự cần thiết: cần, nên, phải
- Động từ tình thái chỉ ý chí và nguyện vọng: mong, muốn, dám, đành
+ Động từ tình thái lâm thời: Đây vốn dĩ không phải là động từ tình thái, nhưng xét trong những ngữ cảnh nhất định, chúng mang ý nghĩa tình thái. Đó là nhóm động từ chỉ hoạt động thị giác, động từ cảm nghĩ nói năng, động từ chỉ ý nguyện, động từ cầu khiến
- Động từ chỉ hoạt động thị giác: trông, xem, nhìn, nom…
- Động từ cảm nghĩ nói năng: nghĩ, nghe, nói
- Động từ chỉ ý nguyện: muốn, chực
- Động từ cầu khiến thể hiện phép lịch sự: làm ơn, xin, nhờ, giúp, phiền…
- Tình thái từ:
+ Tình thái từ chính danh:
- Trợ từ tình thái: chính, cả, những, tận, mãi chỉ
- Tiểu từ tình thái: à, ư, nhỉ, nhé, cơ, mà, thôi
- Thán từ
+ Tính thái từ lâm thời:
- Tình thái từ do danh từ chuyển hóa thành
- Tình thái từ do động từ chuyển hóa thành
- Tình thái từ do tính từ chuyển hóa thành
- Tình thái từ do phụ từ chuyển hóa thành
- Đại từ nhân xưng: Trong tiếng Việt, rất nhiều các đại từ nhân xưng (chính danh và lâm thời) có thể biểu đạt các ý nghĩa tình thái. Những ý nghĩa tình thái đó có thể có sẳn trong bản thân các từ xưng hô nhưng cũng có thể lâm thời xuất hiện trong những ngữ cảnh đặc biệt.
- Quán ngữ tình thái: Các quán ngữ tình thái trong tiếng Việt có thể là sự kết hợp của các tình thái từ, phụ từ, quan hệ từ, động từ….nhóm này có số lượng khá lớn và xuất hiện nhiều trong cả văn bản nghệ thuật và cách nói hàng ngày. Về tầm tác động, quán ngữ tình thái khác với tình thái từ ở chỗ nó không chỉ tác động lên một từ trong câu mà tác động lên cả toàn bộ nội dung câu.
- Các kiểu câu:
+ Câu đảo:
+ Câu tỉnh lược
+ Câu kết hợp đặc biệt
Từ những quan điểm được các nhà ngôn ngữ học đi trước nêu ra, chúng tôi nhận thấy có “độ chênh” nhất định trong việc liệt kê các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt. Chúng tôi tiếp thu những quan điểm trên để hệ thống hóa các phương tiện biểu đạt tình thái theo ba phương tiện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp như sau:
a. Phương tiện ngữ âm
Các phương tiện ngữ âm dùng để biểu thị tình thái trong câu nói thực chất là các hiện tượng ngôn điệu mà người nói chủ tâm dung trong câu như ngữ điệu, trọng âm, thanh điệu nhằm thể hiện thái độ, tình cảm, đánh giá….
- Ngữ điệu cũng là một phương tiện phân loại lời nói. Nhưng chức năng chính của ngữ điệu là nối liền các bộ phận của lời nói lại với nhau, làm cho lời nói trở nên liền mạch.
Ngữ điệu được sử dụng để biểu thị tính chất của các loại câu. Ở đây nó đóng vai trò là một phương thức ngữ pháp thực thụ. Ngữ điệu còn có ý nghĩa đặc biệt trong việc biểu hiện tất cả những sắc thái cảm xúc đa dạng của lời nói. Ngữ điệu được xem là linh hồn của một ngôn ngữ. Tính chủ quan, lập trường của người nói được bộc lộ khá rõ ràng và logic thông qua ngữ điệu.
Ví dụ: Phát ngôn “giỏi nhỉ!” với từ “giỏi” được phát âm nhấn mạnh và kéo dài hơn từ còn lại giúp người nói biểu đạt ý nghĩa hoàn toàn ngược lại nội hàm từ vựng là “không giỏi” đồng thời kèm theo thái độ mỉa mai.
- Trong các ngôn ngữ Âu châu trọng âm có vai trò đáng kể. Trong tiếng Việt và các ngôn ngữ có thanh điệu khác, vai trò của trọng âm bị mờ nhạt đi trước sự tồn tại của thanh điệu. Tuy nhiên, sẽ là không đúng nếu cực đoan cho rằng tiếng Việt hoàn toàn không có trọng âm.
Trong tiếng Việt, trọng âm được nêu bật chủ yếu bằng cách tăng cường trường độ của nguyên âm. Nói cách khác, trọng âm của tiếng Việt là trọng âm lượng. Trong một số từ trọng âm được thể hiện khá rõ, ví dụ: “cà khẳng cà khiu”, “tóe tòe toe”. … Tuyệt đại đa số các thực từ đều mang trọng âm. Có những cặp từ đối lập, trong đó trọng âm là tiêu chí khu biệt duy nhất.
Ví dụ 1: “cho”, “để” là động từ:
- Tôi cho anh quyển sách.
- Nó để khăn lên bàn
Ví dụ 2: “cho”, “để” là hư từ:
(9) Quét cho sạch
(10) Nói để anh hiểu
Có những từ đa tiết, nếu đặt sai trọng âm thì từ đó bị phá vỡ, mỗi âm tiết thành một từ riêng biệt, ví dụ: (= “nói theo”) và “bảo” (động từ) + “với” (giới từ).
- Thanh điệu là sự nâng cao – hạ thấp “giọng nói” trong một âm tiết có tác dụng khu biệt vỏ âm thanh của từ hoặc hình vị. Nếu ngữ điệu là đặc trưng của câu, trọng âm là đặc trưng của từ thì thanh điệu là đặc trưng của âm tiết.
Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh và các thanh cũng có thể biểu đạt tình thái. Người Việt sử dụng các ký hiệu khác nhau để chỉ các thanh khác nhau: “không” ( ), “huyền” (\), “sắc” (/), “hỏi” (?), “ngã” (~), và “nặng” (.).
Theo F. Sausure, ký hiệu ngôn ngữ là võ đoán, nghĩa là nội hàm của một ký hiệu không liên quan đến chuỗi âm thanh miêu tả cái biểu đạt. Thế nhưng, đôi lúc ta cũng có “cảm giác” với các thanh. Ví dụ, khi ta nghe tên một người là “Trạch Văn Đoành”, người Việt có thể có cảm giác cái tên nghe “kêu” như tiếng súng nổ, trong khi đó cái tên “Tạ Thị Thịnh” lại gợi cảm giác nặng nề.
Các phương tiện ngữ âm (ngữ điệu, trọng âm, thanh điệu) biểu thị tình thái thường dễ nhận diện trong giao tiếp. Trong văn bản viết, để nhận biết phương tiện ngữ âm biểu thị tình thái phải gắn với ngôn cảnh và các dấu câu.
b. Phương tiện từ vựng
Các phương tiện từ vựng được sử dụng phổ biến và đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc biểu thị tình thái trong ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt. Chúng tôi đồng nhất với quan điểm của Nguyễn Văn Hiệp về hệ thống các phương tiện từ vựng biểu thị tình thái, bao gồm:
Nhóm 1: Các nhóm tiền phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ:
- Tiền phó từ biểu thị lặp lại: đều, cũng, vẫn, cứ, là
- Tiền phó từ biểu thị tần số: thường, hay, năng
- Tiền phó từ biểu thị quan hệ thời gian: đã, từng, đang, vừa, mới, sẽ
- Tiền phó từ biểu thị khuyến lệnh: hãy, đừng, chớ
- Tiền phó từ biểu thị mức độ: rất, hơi, khí, quá
- Tiền phó từ biểu thị nội dung phủ định: không, chưa, chẳng, chả
- Tiền phó từ chỉ hạn định: chỉ
Nhóm 2: Các động từ tình thái làm chính tố trong ngữ động từ: toan, định, cố, muốn, đành, được, bị, bỏ, ……..
Nhóm 3: Các vị từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề: tôi e rằng, tôi sợ rằng, tôi hi vọng rằng, tôi nghĩ rằng, tôi thấy rằng……
Nhóm 4: Các quán ngữ tình thái: ai bảo, nói gì thì nói, ngó bộ, thảo nào, tội gì, kể ra, làm như thể…..
Nhóm 5: Các vị từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với những điều kiện về ngôi, về chỉ tố thời…) như: ra lệnh, van, xin, đề nghị, yêu cầu….
Nhóm 6: Các thán từ: ôi, eo ôi, chao ôi, ồ….
Nhóm 7: Các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp đặc ngữ (idiom) tương đương: à, ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, đi, mất, thật, cũng nên, lại còn, thì chết…..
Nhóm 8: Các vị từ đánh giá và tổ hợp có tính đánh giá: may (là), may một cái (là), đáng mừng (là), đáng tiếc (là), hình như, có lẽ, dường như….
Nhóm 9: Các trợ từ: đến, những, mỗi, nào, ngay, cả, chính…..
Nhóm 10: Những đại từ nghi vấn được dùng trong những câu phủ định – bác bỏ: (P làm gì? P thế nào được?), các liên từ dùng trong các câu hỏi (Hay P?, Hay là P?).
Nhóm 11: Các từ ngữ chêm xen biểu thị tình thái: nó biết cóc gì, mua cha nó cho rồi, hỏi cái đếch gì, biết khỉ gì mà nói….
Nhóm 12: Kiểu câu điều kiện, giả định: nếu…. thì…, giá ….. thì…..,
Dĩ nhiên, hệ thống được tác giả Nguyễn Văn Hiệp liệt kê như trên mang tính phổ quát, không phải lúc nào các phương tiện trên cũng xuất hiện đầy đủ trong ngữ cảnh cụ thể. Bản thân chúng tôi khi nhận diện cũng cho rằng trong 12 nhóm phương tiện từ vựng biểu thị tình thái thì 11 nhóm đầu tiên thuộc về các phương tiện từ vựng, riêng nhóm 12 thì thuộc về các phương tiện ngữ pháp biểu thị tình thái.
- Một điều đặc trưng khi chúng tôi nghiên cứu nữa là Nguyễn Huy Thiệp sử dụng khá nhiều các từ láy giàu hình ảnh, theo TS. Bùi Trọng Ngoãn, từ láy là từ phức được tạo ra bằng phương thức láy âm có tác dụng tạo nghĩa. Để tạo ra nhạc tính cho sự hòa phối âm thanh, sự láy không đơn thuần là sự lặp lại âm, thanh của âm tiết ban đầu mà bao giờ cũng là sự biến đổi âm, thanh nhất định, dù là ít, để tạo ra cái thế vừa giống nhau lại vừa khác nhau. Vì thế ít nhiều từ láy bao giờ cũng là dấu hiệu tình thái.
- Cụ thể, yếu tố nhận diện tính tình thái ở từ láy biểu hiện qua 3 phương diện:
+ Láy tượng thanh: gợi lên cảm giác cho người nghe (quá trình nhận thức – đánh giá). Ví dụ: Giọng bà ấy cứ rin rít
+ Láy tượng hình: gợi lên cảm giác cho người nghe (quá trình nhận thức – đánh giá).
Ví dụ: Thanh ngồi thù lù một đống
+ Láy mang tính sắc thái hóa:
Ví dụ: xa xăm – xa tít mù, xa tận điểm cuối cùng
gầy guộc – gầy trơ xương
Phân loại từ láy: Căn cứ vào số lượng tiếng người ta chia láy ra làm 3 lớp là láy đôi, láy ba, láy tư. Trong đó láy đôi chiếm vị trí hàng đầu vì chúng chiếm số lượng lớn và hội đủ các đặc trưng bản chất của hiện tượng láy xét ở mặt cấu tạo âm thanh cũng như mặt cấu tạo nghĩa.
Ví dụ:
khấp khểnh -> khấp kha khấp khểnh;
càu nhàu -> càu nhảu càu nhàu.
- Tác giả sử dụng các thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ dân gian gần gũi với người dân
+ Thành ngữ: là cụm từ cố định có tính hoàn chỉnh về nghĩa, tính gợi cảm, được sử dụng như một đơn vị từ vựng sẵn có.
Ví dụ: mẹ tròn con vuông, ném đá dấu tay, chuột sa chỉnh gạo.
+ Tục ngữ: là câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân
Ví dụ: Đói cho sạch, rách cho thơm / Một giọt máu đào hơn ao nuớc lã.
+ Quán ngữ: Quán ngữ cũng là cụm từ cố định được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, đưa đẩy, nhập đề, dẫn ý, nhấn lạnh, rào đón…. Một nội dung nào đó.
Ví dụ: Nói trộm vía, nói khí không phải, của đáng tội….
- Tác giả sử dụng các từ ngữ khẩu ngữ Bắc bộ
Ví dụ: mất thì giờ bỏ mẹ, bác lại nhà….
c. Phương tiện ngữ pháp
Trong các ngôn ngữ biến hình, thì (tense) và thức (mood) của động từ có vai trò tích cực trong việc biểu đạt các ý nghĩa tình thái. Đối với các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt, các phương tiện ngữ pháp thường được kể đến là đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc của câu để thực hiện ý đồ của người nói khi muốn nhấn mạnh vào điểm nào đó trong phát ngôn.
Tuy nhiên, khi bàn đến các phương tiện ngữ pháp biểu thị tình thái trên thực tế có những quan niệm khác nhau giữa các nhà ngôn ngữ học nên khó mà phân biệt rạch ròi đâu là phương tiện ngữ pháp, đâu là phương tiện từ vựng. Palmer cho rằng nên xem các động từ tình thái (modal verb), tiểu từ (particle) cùng với thức của động từ thuộc về các phương tiện ngữ pháp (Palmer 1986, tr.33), trong khi đó một số tác giả khác, nhất là các nhà ngôn ngữ học của Việt Nam xếp động từ tình thái và tiểu từ vào số các phương tiện từ vựng. Trong khi đó, J.Lyons cho rằng các tiểu từ tình thái nên xem là bán ngữ pháp (semi – grammatical) hay bán từ vựng (semi – lexical) (J.Lyons 1995, tr.33). Trong tiếng việt, các tiểu từ tình thái cuối câu thường được xem là hư từ (công cụ ngữ pháp) nhưng hàm lượng nghĩa miêu tả của một số tiểu từ tình thái vẫn còn nên cũng có thể xem nó là phương tiện từ vựng.
Xét về các phương tiện biểu thị ngữ pháp trong tiếng Việt hiện nay chủ yếu xuất hiện ở các thành phần phụ của câu, điển hình là: Trạng ngữ; tình thái ngữ; các kết từ trong các kiểu câu ghép.
- Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn Thành phần câu tiếng Việt phân loại rõ 7 loại trạng ngữ chủ yếu xét theo bình diện nghĩa học như sau:
+ Trạng ngữ chỉ thời gian: Đây là loại trạng ngữ định vị sự tình ở một thời điểm hay trong một phiến đoạn thời gian nào đó, ví dụ:
Ví dụ (1) Cuối buổi chiều, Huế thường trở về trong một sự yên tĩnh lạ lùng.
Ví dụ (2) Bao giờ cũng vậy, sự cùng quẫn hay khiến người ta nghĩ ngợi và giận dữ.
+ Trạng ngữ chỉ không gian, nơi chốn: Biểu thị không gian hiện thực hoặc một không gian tưởng tượng, với tư cách là nơi diễn ra sự tình.
Ví dụ (1) Trên mu bàn tay, những đường gân xanh bóng ra làn da mỏng và xanh trong, xanh lọc.
Ví dụ (2) Trong lòng hắn, những nỗi niềm không rõ rệt cũng rối bời.
+ Trạng ngữ chỉ nguyên nhân sự tình:
Ví dụ (1) Thị không thể sợ hắn có thể phạm đến thị bởi cái lẽ rất giản dị là thị chưa thấy ai phạm đến thị bao giờ.
+ Trạng ngữ chỉ mục đích: (biểu thị mục đích mà hành động thể hiện ở vị ngữ hướng tới hay trạng thái mà chủ thể của hành động mong muốn đạt đến)
Ví dụ (1) Để đền cho thằng bé sau khi xức thuốc, chị Ngò cho nó bú.
Ví dụ (2) Bà bếp thì làm bộ không tin để những bà kia tức mình, phải nói cả quyết hơn, đem những chứng cớ rõ rệt ra.
+ Trạng ngữ chỉ hạn định: Biểu thị phạm vi, giới hạn mà sự tình của câu có hiệu lực
Ví dụ (1) Qua câu chuyện, tôi chỉ có nhận xét cái tính lão cũng hệt bọn đồ Cóc đã dốt lại hay khoe chữ.
Ví dụ (2) Vả lại Hộ, đối với Từ, còn là một ân nhân nữa.
+ Trạng ngữ chỉ phương thức: (cách thức của sự tình để thực hiện hành động)
Ví dụ (1) Hắn thừ mặt ra, như một kẻ phải đi đày, một buổi chiều âm thầm kia, ngồi trong một làn khói nặng u buồn mà nhớ quê hương.
+ Trạng ngữ chỉ chủ thể của hành động:
Ví dụ (1) Chùa xây từ thời cách đây một nghìn sáu trăm năm bởi một nhà sư Ấn Độ.
- Cũng theo Nguyễn Văn Hiệp, tình thái ngữ xét về mặt cấu tạo hay theo đặc trưng ngữ nghĩa – cú pháp để nhận diện thì căn cứ theo các tiểu từ tình thái và các tổ hợp có tính “đặc ngữ” đảm nhiệm
+ Tiểu từ tình thái đứng cuối câu đảm nhiệm:
Ví dụ (1) Bà lấy đâu ra được mật mà nấu chè thế?
Ví dụ (2) Ông ghé tạm vào chơi xơi nước ạ.
+ Các tổ hợp có tính “đặc ngữ” đảm nhiệm:
Ví dụ (1) Nó lại lấy cả quần áo mang đi mới chết!
Ví dụ (2) Kia kìa mày trông, người ta đi chân còn được nữa là …
– Các kết từ trong các kiểu câu ghép: TS. Bùi Trọng Ngoãn phân loại các kiểu câu ghép như sau:
+ Câu ghép đẳng lập: có các kiểu cấu trúc như
Ghép đẳng lập liệt kê: “…. và …..”
Ví dụ (1) Tôi đi học và hắn đi chơi
Ghép đẳng lập nối tiếp: “…. rồi …”
Ví dụ (1) Tôi đi học rồi tôi đi dạo
Ghép đẳng lập lựa chọn: “….. hay……”
Ví dụ (1) Anh đến tôi hay tôi đến anh
Ghép đẳng lập tương phản, đối nghịch
Ví dụ (1) Hắn bỏ đi, vợ hắn cũng không còn càm ràm nữa
+ Câu ghép chính phụ: Có các kiểu cấu trúc như
Điều kiện giả thiết – kết quả: “Nếu ….. thì ….”; “Hễ ….. thì…..”
Nguyên nhân – kết quả: “vì …… nên…..”
Nhượng bộ – tăng tiến: “Tuy/ dẫu ….. nhưng …”
Mục đích – kết quả: “Để ….. thì ….”
+ Câu ghép qua lại: Có các kiểu cấu trúc như
Cặp phó từ tương ứng: “…..vừa …… đã …..”
Cặp đại từ tương ứng: “…..bao nhiêu ….. bấy nhiêu”
+ Câu ghép chuỗi: cách nhận diện câu ghép chuỗi như sau:
Không có kết từ, thay vào đó là sử dụng dấu phẩy, dấu chấm phẩy
Các phương tiện biểu thị tình thái trong ngôn ngữ tự nhiên rất phong phú, đa dạng có thể phân thành ba nhóm chính: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp như trên. Tuy nhiên, tiếng Việt là một loại hình ngôn ngữ đơn lập không biến hình nên các phương tiện biểu thị tình thái gần như chỉ thể hiện ở nhóm phương tiện từ vựng, phương tiện ngữ pháp có tính chất bổ trợ, còn mặt ngữ âm rất mờ nhạt, nhất là trên văn bản, vì vậy các phương tiện biểu thị tình thái ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp được chúng tôi nêu trên chỉ có tính chất phổ quát được dùng làm công cụ chung để nhận diện. Vì việc áp dụng một hệ thống phổ quát vào từng đối tượng có đặc trưng cụ thể là việc làm khiên cưỡng, cho nên ở từng chương của đề tài, chúng tôi chỉ nêu và phân tích những dấu hiệu biểu thị tình thái rõ ràng, có cơ sở khoa học dựa trên hệ thống ngữ liệu khảo sát được.
. NGUYỄN HUY THIỆP VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA ÔNG
. Nguyễn Huy Thiệp trong đời sống văn chương Việt Nam hiện đại
a. Giới thiệu tác giả
Sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950 tại Thanh Trì, Hà Nội, Nguyễn Huy Thiệp từng có một tuổi thơ vất vả. Ông đã cùng gia đình lưu lạc khắp nhiều vùng nông thôn của đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Yên … Sau khi tốt nghiệp Khoa Sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Nguyễn Huy Thiệp đã có 10 năm giảng dạy ở miền núi Tây Bắc. Năm 1980, ông trở về Hà Nội, làm việc tại công ty Sách Giáo khoa thuộc Sở giáo dục Hà Nội. Hiện nay ông sống cùng gia đình tại Hà Nội. Ngoài công việc sáng tác, Nguyễn Huy Thiệp còn thử sức trong nhiều công việc và ngành nghề khác nhau, gần đây nhất ông chuyển sang kinh doanh, với nhà hàng Hoa Ban.
Nguyễn Huy Thiệp có điều kiện để thể nghiệm một lối đi riêng cùng với những cách tân hiện đại trong mỗi trang viết của mình. Những tác phẩm của ông đã lập tức gây được tiếng vang lớn và ông nhanh chóng trở thành một hiện tượng độc đáo trong đời sống văn học đang từng bước khởi sắc của nước nhà. Người ta chờ đón tác phẩm của ông trong sự háo hức, và ông từng bước khẳng định tài năng cũng như phong cách văn xuôi đặc biệt của mình trong sự tiếp nhận đa dạng: khen, chê, khẳng định, phủ định. Tác phẩm của ông đem đến cho độc giả những cách lí giải mới về cuộc sống, khiến họ có thể chạm sâu vào đời sống thực tế, hiểu hơn về bản chất của nó cũng như những trạng thái nhân sinh trong buổi đầu của thời kì đổi mới. Với hơn 40 truyện ngắn, 3 tiểu thuyết, hơn gần 10 vở kịch cùng với nhiều bài phê bình văn học … Nguyễn Huy Thiệp quả đã đóng góp nhiều cho văn học Việt Nam. Song, thể loại làm nên tên tuổi và mang lại cho ông một phong cách nghệ thuật độc đáo chính là truyện ngắn.
b. Tác giả và vị trí trong văn học
Xuất hiện vào những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước, Nguyễn Huy Thiệp đã khuấy động cả một bầu không khí sinh hoạt văn hoá, văn nghệ nước nhà. Tác phẩm của ông, với những hiệu ứng mà nó gây nên, đã góp phần phá vỡ thế bình ổn của văn học dân tộc trong suốt hai cuộc kháng chiến, đồng thời tạo nên sự chuyển nhịp, tăng tốc cho những bước đi vốn bình thường, chậm rãi của lí luận và phê bình văn học đương đại Việt Nam. Các ý kiến xung quanh “hiện tượng” Nguyễn Huy Thiệp trong vòng hơn hai thập kỉ qua phải tính đến con số hàng trăm và chắc hẳn con số này ngày càng một nhiều thêm. Tháng 1 năm 1987, “Những chuyện kể bất tận của thung lũng Hua Tát”, tác phẩm đầu tay của Nguyễn Huy Thiệp được khởi đăng, song tác phẩm này chưa gây được tiếng vang trong dư luận. Phải đến khi “Tướng về hưu” trình làng trên báo Văn nghệ số 24 ra ngày 20 tháng 6 năm1987, và đặc biệt từ sau khi chùm truyện “Kiếm sắc – Vàng lửa – Phẩm tiết” liên tiếp ra mắt bạn đọc từ tháng 4 năm 1988, dư luận về tác phẩm của ông mới trở nên sôi nổi.
Về cách viết của Nguyễn Huy Thiệp, tiến sĩ sử học người Úc – Greg Lockhart đã nhận xét: “cách viết của Nguyễn Huy Thiệp là cách viết của một nghệ sĩ khách quan đứng ở ngoài truyện nhìn vào. Anh ấy không bị vướng chân vào đời sống nhân vật, vừa nói về đời sống vĩ đại của vua Gia Long, vừa nói về đời sống của một đồ tể, của một bác sĩ phá thai, thậm chí vừa nói đến một người Tây, thì số phận con người tự bộc lộ chỉ qua lời khái quát và hành động của nó”. Để lí giải vì sao lại chọn dịch tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Anh, ông khẳng định: tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp không chỉ là đóng góp cho văn học Việt Nam mà “cũng là đóng góp cho văn học thế giới”, sở dĩ như vậy “chính là vì tính chất nhân bản của chúng”. Một điều thật thú vị cần phải nói thêm rằng, ngay cả những người từng lên án chỉ trích gay gắt ông vẫn không thể không thừa nhận tài năng của cây bút truyện ngắn độc đáo này. Bên cạnh những lời phê phán Nguyễn Huy Thiệp, nhà sử học Tạ Ngọc Liễn viết: “mặc dầu mới xuất hiện, song anh đã sớm chứng tỏ được mình là một nhà văn có bản sắc riêng, mới mẻ, bạo dạn, súc tích gây được chú ý thật sựcủa độc giả”. Cùng với các bài viết đã được công bố rộng rãi trên sách báo mà những người yêu mến Nguyễn Huy Thiệp biết tới, còn một số lượng khá lớn các bài viết được đưa lên mạng internet rải rác trong khoảng hơn chục năm gần đây. Những tác phẩm đã từng một thời gây bao sóng gió trên văn đàn cũng được nhìn nhận, đánh giá lại một cách bình tĩnh hơn. Khuê Các (trong “Nhân đọc “Vàng Lửa”- nguồn Talawas năm 2005) khẳng định: “Truyện ngắn “Vàng Lửa” của Nguyễn Huy Thiệp có ba mảng, chính xác hơn là cuộc đời của ba nhân vật: Gia Long, Nguyễn Du và Phăng. Nguyễn Huy Thiệp không hề viết tiểu sử của ba nhân vật ấy, nhưng thông qua họ, Thiệp muốn đi sâu vào các chủ đề: Quyền lực, quyền lợi và vai trò của trí thức nói chung và văn nghệ sĩ nói riêng trong lịch sử nhân loại”. Bài “Triết lí văn chương trên trang viết Nguyễn Huy Thiệp” trên Evăn cho rằng “Bởi không như Nam Cao, cuối cuộc hành trình đó, Nguyễn Huy Thiệp không đưa ra bất kỳ một chân lý nào. Cái ông đem đến cho người đọc lại là một sự hoài nghi về chân lý”. Trong Đọc lại “Sang sông” (Evan ngày 21.1.2005) có đoạn “Mười một con người, mười một gương mặt mờ nhạt. Theo tiêu chí của chủ nghĩa hiện thực truyền thống, đó là những nhân vật không đạt yêu cầu cả khái quát hóa lẫn cá biệt hóa. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp đâu có miêu tả nhân vật. Người trên đò là một tập hợp đủ các thành phần nam phụ lão ấu, quân tử tiểu nhân, thiện và ác… Rõ ràng chuyến đò là sự mã hóa chúng sinh hữu tình trôi lăn theo bánh xe sinh tử luân hồi… Nói tóm lại, đó là chúng sinh thời mở cửa, thời kinh tế thị trường”. Nếu nhiều độc giả khó tính chê Nguyễn Huy Thiệp rằng: trong truyện ngắn này ông đã đưa ra một hình mẫu nhân vật tên tướng cướp phi thực tế thì tác giả bài viết trên lại có cách lí giải khác: Nguyễn Huy Thiệp đã “phá vỡ mô hình, ném vào giữa thế gian một “tên cướp lương thiện” hoang dã, chưa qua một lò đúc sẵn nào. Nguyễn Huy Thiệp chỉ đưa ra những mảnh vụn về thế giới nhân sinh. Người đọc mặc tình sắp xếp, lựa chọn, suy ngẫm. Tên cướp là một mảnh vụn đó. Cho dù hắn là kẻ xấu, ta sẽ chẳng thể có căn cơ nào để đào thải hắn ra khỏi thế giới loài người, cái thế giới mà Nho giáo đã dứt khoát khẳng định “nhân chi sơ tính bản thiện”.
Nguyễn Thị Minh Thái cũng đánh giá rất cao thủ pháp “lạ hoá” trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp: “Tiếng Việt được viết lạ chưa từng thấy. Cung cách tưởng tượng và phản ánh hiện thực cuộc sống người Việt được “lạ hoá” một cách hiện đại cũng chưa từng thấy” “Nguyễn Huy Thiệp kể một cách trầm tĩnh, ém nhẹm một cái buồn nhân thế dưới cái nhìn “Dân chủ hoá”. Dường như nhà văn này thật kinh hãi sự giáo huấn thô lậu, lộ liễu và chỉ muốn khơi dậy, đánh thức sự bất ổn trong người đọc”. Châu Minh Hùng cũng tìm thấy ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp những điểm cách tân độc đáo: “Đến Nguyễn Huy Thiệp, hình thức đa thanh như một tổ chức nghệ thuật mới được phát huy một cách triệt để. Nguyễn Huy Thiệp tạo ra nhiều tiếng nói của nhiều quan điểm, tư tưởng khác nhau bên ngoài môi trường xã hội để tạo ra cuộc đối thoại không khoan nhượng giữa các nhân vật”.
Trên đây, chúng tôi đã điểm qua một số ý kiến khen chê có thể được coi là khá tiêu biểu về sáng tác Nguyễn Huy Thiệp. Mặc dù mỗi bài có những phát hiện và cách lí giải riêng nhưng tựu trung lại, đa số các ý kiến đó đều gặp nhau ở chỗ thừa nhận: Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng văn chương lớn, đáng để chúng ta quan tâm. Tất cả những ý kiến trên có tính chất định hướng, gợi mở, giúp cho chúng tôi có điều kiện để hiểu hơn về văn chương cũng như con người Nguyễn Huy Thiệp.
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã thể hiện nhiều phương diện của đời sống, nhiều khuôn mặt của con người, với những cảm xúc khác nhau, chính vì vậy “các loại hiện tượng đời sống” và các dạng cảm hứng trong tác phẩm của ông cũng hết sức phong phú, đa dạng. Dựa vào nội dung tác phẩm, chúng tôi tạm chia truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thành 3 mảng đề tài chính và 3 cảm hứng tương ứng: đề tài miền núi – nông thôn và cảm hứng trữ tình; đề tài thành thị và cảm hứng phê phán; đề tài lịch sử và cảm hứng tự vấn.
Đề tài miền núi – nông thôn và cảm hứng trữ tình
Nguyễn Huy Thiệp đã từng sống ở vùng cao Tây Bắc trong suốt mười năm kể từ sau khi tốt nghiệp đại học. Trong khoảng thời gian đó ông có điều kiện sống gần gũi với người dân miền núi, được tiếp xúc với kho tàng văn học dân gian và trí tuệ dân gian. Đó là những nguồn tư liệu phong phú, hữu ích góp phần làm nên những thành công lớn cho Nguyễn Huy Thiệp khi ông hoàn thiện chùm truyện Những ngọn gió Hua tát, Những bài học nông thôn Chảy đi sông ơi, Con gái thuỷ thần, Thương nhớ đồng quê, Chăn trâu cắt cỏ … Qua các tác phẩm, người đọc có thể tìm thấy cảm giác êm đềm, da diết, được thấy lòng mình lắng lại với những cảm xúc rất ngọt ngào, thi vị.
Đề tài thành thị và cảm hứng phê phán
Thành thị là nơi Nguyễn Huy Thiệp từng sống thời trai trẻ, cũng là nơi ông trở về sau hơn mười năm gắn bó với đại ngàn. Mười năm là khoảng thời gian không thật dài so với cuộc đời mỗi người, song mười năm xa cuộc sống thị thành trong “buổi giao thời”, nay trở về Nguyễn Huy Thiệp nhận thấy biết bao đổi thay. Cuộc sống của con người trong những năm đầu của thời kì đổi mới cùng với những trạng thái nhân sinh phức tạp hiện lên trong mỗi trang viết của Nguyễn Huy Thiệp khiến người đọc cảm thấy ngỡ ngàng, thậm chí choáng váng, hồ nghi. Nguyễn Huy Thiệp có nhiều tác phẩm viết về đề tài này, song tiêu biểu hơn cả có thể kể đến Tướng về hưu, Không có vua, Huyền thoại phố phường…
Đề tài lịch sử – văn hoá và cảm hứng tự vấn
Được gợi cảm hứng từ lịch sử, văn hóa dân tộc, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng trong truyện ngắn của mình những nhân vật mà tên tuổi của họ đã hằn sâu vào đời sống tâm linh và văn hoá của rất nhiều người. Đó là Nguyễn Trãi, Quang Trung, Gia Long, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương … Những nhân vật này vì được nhìn từ góc độ khác đã trở nên rất thực và rất đời. Họ “cựa quậy” trong trí tưởng tượng của Nguyễn Huy Thiệp và thách thức ông bứt phá người đọc ra khỏi quan niệm cố hữu. (Kiếm Sắc, Vàng lửa, Phẩm Tiết, Mưa Nhã Nam, Nguyễn Thị Lộ, Chút thoáng Xuân Hương, Thương cả cho đời bạc… ) Có thể nói, với đề tài lịch sử – văn hóa, Nguyễn Huy Thiệp đã như muốn khoan sâu vào tầng vỉa di sản quá khứ, để tìm ra bản chất dân tộc.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\NGON NGU HOC\NGUYEN THI TRUNG TU


