Đặc điểm ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên (khảo sát ở trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng)
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người, phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, trong thời đại hiện nay, nó là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hóa giữa các dân tộc.
Trong bối cảnh hội nhập, thống nhất và phát triển hiện nay, tiếng Việt đang có biến đổi sâu sắc trên nhiều phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa đến ngữ pháp, ngữ dụng … Sự biến đổi và phát triển của tiếng Việt trong hành chức tạo ra nhiều phương ngữ xã hội với nhiều đặc điểm khác biệt nhau. Một trong những kiểu phương ngữ xã hội thường được nhắc đến trong tiếng Việt hiện nay là phương ngữ theo tuổi tác, mà nổi bật là phương ngữ giới trẻ, thường được gọi theo nhiều tên gọi khác nhau như: ngôn ngữ sinh viên, ngôn ngữ tuổi teen, …
Đối với sinh viên, giao tiếp không những có vai trò quan trọng trọng sự hình thành và phát triển nhân cách mà còn là phương thức, công cụ cơ bản nhất để định hướng tương lai. Do đó, vấn đề đặt ra đối với sinh viên là mỗi sinh viên chủ động tự chuẩn bị cho mình về năng lực ngôn ngữ giao tiếp và khi bước vào cuộc sống họ nhanh chóng thích ứng với công việc, sẵn sàng giải quyết được những công việc trong cuộc sống.
Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng là một trường đào tạo đa ngôn ngữ, với số lượng sinh viên của trường là 6867 sinh viên, bao gồm các ngôn ngữ khác nhau như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Thái, tiếng Việt dành cho người nước ngoài, và với đặc thù như vậy nên sinh viên có thể giao tiếp với thầy cô, bạn bè đồng trang lứa bằng những ngôn ngữ khác nhau. Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng có kế hoạch đào tạo, có sứ mạng nhằm nâng cao ngôn ngữ giao tiếp cho sinh viên, trong công tác đào tạo trồng người không những vững vàng về kỹ năng kiến thức trong chương trình đào tạo, mà còn giảng dạy, tổ chức các hội nghị, hội thảo để nâng cao các kỹ năng giao tiếp.
Do đó chúng tôi lựa chọn đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên (khảo sát ở trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng)” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm ngôn ngữ và đặc điểm giao tiếp xã hội của các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp của sinh viên ở một trường đại học, qua đó góp phần làm phong phú hơn những hiểu biết về ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên dưới góc nhìn ngôn ngữ học xã hội.
Góp phần vào việc chuẩn hóa ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên nói chung, sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng nói riêng.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên trên các mặt: các hình thức thể hiện biến thể ngôn ngữ sinh viên, đặc điểm ngôn ngữ và đặc điểm giao tiếp xã hội của biển thể ngôn ngữ sinh viên, khảo sát qua diễn đàn của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng.
Tên đề tài là “Đặc điểm ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên khảo sát ở trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng” hướng đến đối tượng là các biểu hiện của biến thể ngôn ngữ sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ gồm: tiếng lóng, chêm xen tiếng Anh vào tiếng Việt, kết cấu mới lạ. Ngôn ngữ sinh viên là một biến thể xã hội của ngôn ngữ, được chú ý nghiên cứu gần đây trong tiếng Việt trong bối cảnh xã hội – ngôn ngữ có nhiều biến động hiện nay. Biến thể ngôn ngữ sinh viên có sự thể hiện đa dạng, phong phú và phức tạp trên các bình diện ngữ âm (âm thanh lẫn chữ viết), từ vựng, ngữ nghĩa và ngữ pháp. Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề cụ thể như sau:
- Ba hình thức thể hiện nổi bật của biến thể ngôn ngữ sinh viên: chêm xen các ngôn ngữ tiếng Anh vào trong giao tiếp tiếng Việt, sử dụng tiếng lóng, sử dụng các kết cấu mới lạ.
- Hai bình diện của ngôn ngữ sinh viên: Bình diện hệ thống cấu trúc (ngữ âm – chữ viết, cấu tạo, ngữ nghĩa) và bình diện sử dụng, giao tiếp xã hội (thái độ ngôn ngữ, quan hệ giao tiếp).
5.1. Phương pháp miêu tả
Luận văn sử dụng phương pháp miêu tả của ngôn ngữ học với các thủ pháp sau:
(1) Thủ pháp thống kê toán học để thống kê số lượng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ qua 200 đoạn trên diễn đàn và 100 cuộc hôi thoại giao tiếp qua mạng Facebook, thống kê tỷ lệ lựa chọn của 100 sinh viên về thái độ, mức độ, đối tượng, mục đích về việc lựa chọn và sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ, thống kê tỷ lệ lựa chọn của 50 cán bộ viên chức trường Đại học Ngoại ngữ về thái độ và mục đích sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ. Kết quả thống kê sẽ được sử dụng để rút ra các đặc điểm giao tiếp của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng và cũng chính là căn cứ giúp cho các số liệu có tính xác thực, tính thuyết phục.
(2) Thủ pháp trường nghĩa để phân tích trường nghĩa, việc sử dụng tiếng lóng và chêm xen các từ ngữ tiếng Anh theo trường nghĩa biểu hiện. Thủ pháp phân tích nghĩa tố dùng để phân tích cấu trúc nghĩa của các từ vựng trong biến thể ngôn ngữ giới trẻ, nghĩa của từ được phân tích như là một cấu trúc tập hợp các nghĩa tố, trong đó có những nét nghĩa được bảo lưu từ đơn vị từ vựng gốc và những nét nghĩa được sáng tạo, cấp thêm cho từ.
(3) Thủ pháp phân tích ngôn cảnh được sử dụng để miêu tả, phân tích sự lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ giới trẻ gắn với ngôn cảnh tình huống (ngôn cảnh hẹp trong phát ngôn) lẫn ngôn cảnh văn hóa văn hóa (ngôn cảnh rộng).
5.2. Phương pháp điều tra xã hội học ngôn ngữ
Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra của Ngôn ngữ học xã hội là dùng bảng hỏi. Để phục vụ mục đích nghiên cứu, chúng tôi sử dụng hai bảng hỏi:
(1) Bảng hỏi về sự lựa chọn và sử dụng biến thể ngôn ngữ giới trẻ, dành riêng cho cộng tác viên sinh viên để điều tra sự lựa chọn và sự lựa chọn biến thể ngôn ngữ sinh viên trong hành chức.
(2) Bảng hỏi về sự lựa chọn và sử dụng biến thể ngôn ngữ giới trẻ dành cho các cộng tác viên cán bộ viên chức để điều tra sự lựa chọn và sự lựa chọn biến thể ngôn ngữ sinh viên trong hành chức.
Luận văn khảo sát biển thể ngôn ngữ sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng trên Confessions (diễn đàn) của trường Đại học Ngoại ngữ và các hội thoại trên Facebook của sinh viên.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có:
Chương 1: Cơ sở lí luận: Trình bày các vấn đề lí luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài.
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của một số hình thức thể hiện biến thể ngôn ngữ giao tiếp sinh viên ở trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng: Nghiên cứu biến thể ngôn ngữ giới trẻ trên bình diện hệ thống cấu trúc.
Chương 3: Đặc điểm giao tiếp xã hội của biển thể ngôn ngữ sinh viên ở trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng: Trình bày các kết quả khảo sát đánh giá của sinh viên và cán bộ viên chức về các biến thể ngôn ngữ giới trẻ thể hiện đặc điểm giao tiếp như: thái độ, mức độ, đối tượng, mục đích về việc lựa chọn và sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp qua Confessions và các hội thoại trên Facebook.
- Khái niệm giao tiếp và ngôn ngữ giao tiếp
- Khái niệm giao tiếp
- Khái niệm giao tiếp và ngôn ngữ giao tiếp
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp, quan điểm giao tiếp của tâm lí như sau.
Theo Huỳnh Văn Sơn, trong giáo trình Tâm lí học đại cương, “giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người thông qua đó con người trao đổi thông tin, cảm giác, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau mà trong đó giao tiếp xác lập và vận hành mối quan hệ người – người, hiện thực hóa các mối quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” và “giao tiếp bằng ngôn ngữ là hính thức giao tiếp đặc trưng của con người bằng cách sử dụng những tín hiệu chung là từ, ngữ. Đây là hình thức giao tiếp phổ biến nhất và đạt hiệu quả cao”. Trong Từ điển tâm lí học, Vũ Dũng đưa ra định nghĩa “giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hoạt động. Giao tiếp gồm hàng loạt hoạt động các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược, hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khá. Giao tiếp có ba khía cạnh chính: giao lưu, tác động tương hỗ và tri giác” [28, tr.59].
Theo tác giả Hoàng Phê, “Giao tiếp nghĩa là trao đổi, tiếp xúc với nhau. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp” [22, tr.393].
Theo Nguyễn Thiện Giáp, “Giao tiếp là sự trao đổi tư tưởng, thông tin,…giữa hai hoặc hơn hai người. Trong mỗi hành động giao tiếp thường có ít nhất một người nói hoặc người gửi, một thông điệp được truyền đạt và một người hoặc những người tiếp nhận” [12, tr.195-196].
Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cho rằng: “Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác với một mục đích nhất định nào đó. Sự giao tiếp được thực hiện nhờ hoạt động giao tiếp giữa hai hoặc hơn hai người với nhau trong một bối cảnh nhất định và bằng một phương tiện giao tiếp chung” [7, tr. 11].
Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán: “Giao tiếp là sự trao đổi, tiếp xúc với nhau. Thực chất giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác nhằm thực hiện một mục đích nhất định. Giao tiếp trở thành nhu cầu thiết yếu của con người. Có thể nói không có giao tiếp thì xã hội không tồn tại. Nhu cầu giao tiếp, theo các nhà sinh lí và tâm lí học gần như mang tính bẩm sinh của con người. Đặc biệt trong thời đại ngày nay – thời đại bùng nổ thông tin, thời đại thông tin vàng thì giao tiếp càng trở nên quan trọng” [6, tr.19].
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “Giao tiếp diễn ra khi trong những điều kiện nhất định, ở một môi trường nhất định có người sử dụng một hệ thống tín hiệu để truyền đạt những hiểu biết, tư tưởng, tình cảm, ý muốn,… của mình về thực tế khách quan để gây ra ở người nghe những biến đổi (về nhận thức, về tình cảm, về hành động) như mình mong muốn. Trong giao tiếp miệng mặt đối mặt có vai nói vai nghe và hai vai này luân lưu nhau có mục đích” [3, tr.92].
Có thể hiểu, giao tiếp là một hoạt động đặc trưng của con người nhằm mục đích trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm qua lại lẫn nhau; ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu và mang lại hiệu quả cao. Trong giao tiếp, người ta thường dùng lời nói để biểu đạt ý nghĩa của mình, trao đổi thông tin với người khác, sử dụng ngôn ngữ không lời, như nét mặt, cử chỉ, động tác, … để biểu lộ tình cảm, thông tin muốn chuyển tải.
- Khái niệm ngôn ngữ giao tiếp
Trong xã hội loài người, phần lớn nhất và trọng yếu nhất của thông tin (gồm các kiểu dạng, các nguồn gốc khác nhau) được tàng trữ và lưu hành nhờ ngôn ngữ. Nói như V.I. Lênin: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”. Sở dĩ nó quan trọng nhất là vì trên góc độ lịch sử và toàn diện mà xét, không một phương tiện giao tiếp nào có thể so sánh được với nó [7, tr.13].
Các tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người. Ngoài ngôn ngữ, con người còn có những phương tiện giao tiếp khác nhau như cử chỉ, các loại dấu hiệu, kí hiệu khác nhau (kí hiệu toán học, đèn tín hiệu giao thông, tín hiệu hằng hải …) những kết hợp âm thanh của âm nhạc, những kết hợp màu sắc của hội họa…nhưng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người”[13, tr.17].
Tác giả Nguyễn Thiện Giápcho rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người” [10, tr.36].
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã chỉ ra: “Ngôn ngữ được dùng để chỉ phương tiện giao tiếp bằng lời của loài người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp ở dạng khả năng tiềm tàng, trừu tượng hóa khỏi bất kì một sự áp dụng cụ thể nào của chúng. Người ta chỉ có thể giao tiếp nếu các lời nói bao gồm những yếu tố có giá trị chung, hoạt động theo những nguyên tắc chung. Ngôn ngữ chính là hệ thống những yếu tố và nguyên tắc có giá trị chung, làm cơ sở để cấu tạo các lời nói” [12, tr.282-283].

Tác giả Nguyễn Văn Khang cho rằng: “Biến thể là thể đã biến đổi ít nhiều so với thể gốc. Với tư cách là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội, biến thể ngôn ngữ có thể được hiểu là các hình thức tồn tại và biến đổi của ngôn ngữ. Nói cách khác, đó là hình thức biểu hiện của ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong hoàn cảnh xã hội giống nhau với các đặc trưng xã hội giống nhau” [19, tr.30]
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, các nhà ngôn ngữ học thường lấy đơn vị nghiên cứu là những biến thể của các biên tố ngôn ngữ nào đó trong mối tương quan với các biến tố xã hội. Họ thường phân tích mối tương quan giữa hai biến tố, một biến tố ngôn ngữ, một biến tố xã hội. Người ta thường nói đến các biến thể như biến thể hình thái học hay còn gọi là từ hình, biến thể từ vựng – ngữ nghĩa hay còn gọi là từ vị, biến thể ngữ âm – hình thái học của từ. Như vậy, tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Biến thể có thể hiểu là những hình thức khác nhau của một biến tố” [12, tr.83].
Theo tác giả Hoàng Phê “Chuẩn tồn tại dưới một dạng duy nhất, mà thường là tồn tại dưới một dạng biến thể. Có khi đó là cái chuẩn mới nảy sinh tồn tại bên cạnh cái chuẩn đã bắt đầu trở thành cái cũ. Cái mới xuất hiện ít khi làm cho cái cũ mất đi ngay, mà đấu tranh giữa cũ và mới có thể giằng co, kéo dài. Tình hình nhiều khi diễn ra phức tạp, bởi vì ở đây, tuy thường là cái mới cuối cùng đánh bật cái cũ, nhưng không phải lúc nào cái mới cũng thắng hoặc hoàn toàn thắng, mà có khi cái cũ có được sức hồi sinh rất mạnh và cuối cùng đánh bạt cái mới; hoặc là cũ và mới song song tồn tại, nhưng với một sự phân công về phạm vi sử dụng, hình thành những biến thể chức năng, còn có những biến thể có thể gọi là biến thể cấu trúc, chỉ khác nhau về hình thức, khồn khác nhau hoặc căn bản không khác nhau về chức năng, có thể dùng thay thế cho nhau trong cùng một phong cách” [23, tr.452-453].
Nguyễn Văn Khang nhận định “Hình thức biểu hiện của ngôn ngữ muốn nói ở đây có thể là ngôn ngữ, cũng có thể phương ngữ hoặc cũng có thể là phong cách hoặc một thành phần ngữ pháp, thậm chí là một từ, âm vị cụ thể” [19, tr.37-38].
Theo công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ “Ngôn ngữ giới trẻ qua phương tiện truyền thông” của tác giả Đỗ Thùy Trang, 2018 liệt kê các công trình nghiên cứu về biến thể: Biến thể ngôn ngữ học xã hội ở Việt Nam: Ngôn ngữ học xã hội, Nguyễn Văn Khang còn có những công trình khác liên quan đến nghiên cứu của luận văn chúng tôi, như cuốn sách Tiếng lóng Việt Nam, khảo sát hệ thống tiếng lóng, là biệt ngữ xã hội xuất hiện dưới tác động và nhu cầu xã hội; Từ ngoại lai trong tiếng Việt năm 2007 khảo sát hoạt động của hệ thống từ có nguồn gốc nước ngoài trong từ vựng tiếng Việt từ góc độ của ngôn ngữ học xã hội.
Có thể hiểu, biến thể ngôn ngữ là dạng ngôn ngữ giao tiếp chiều rộng lẫn chiều sâu trong các độ tuổi, giới tính và sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, thuần khiết trong quá trình giao tiếp. Sử dụng ngôn ngữ có tính chuẩn mực, toàn dân thừa nhận và sử dụng một cách rộng rãi. Biến thể ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp được sử dụng dưới các hình thức nói, viết, …để làm sao người nói và người nghe hiểu được ý nghĩ của nhau. Ngôn ngữ sử dụng mang tính chuẩn mực và được toàn dân thừa nhận.
Theo cách hiểu chung nhất: “Tiếng lóng là cách nói những từ ngữ riêng trong một tầng lớp hoặc một nhóm người nào đó, nhằm để chỉ cho trong nội bộ hiểu được nhau mà thôi” [22,tr.1224]
Theo quan điểm từ vựng học: “Tiếng lóng bao gồm các đơn vị từ vựng thuộc loại thứ hai trong các biệt ngữ tức là những tên gọi “chồng lên” trên những tên gọi chính thức” [3, tr.227]. Theo đó, từ vựng học nhìn nhận tiếng lóng như một đơn vị có sẵn thuộc hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ; Ngôn ngữ học xã hội coi tiếng lóng như một biến thể ngôn ngữ, có tính động, chịu sự chi phối của bối cảnh xã hội, người dùng, …
Theo quan điểm ngôn ngữ học xã hội, Nguyễn Văn Khang chỉ ra: “Tiếng lóng là một phương ngữ xã hội, được các nhóm xã hội tạo ra để giao tiếp nội bộ, thương được sử dụng trong giao tiếp khẩu ngữ” [19, tr.314]
Luận văn sử dụng quan điểm tiếng lóng của Nguyễn Văn Khang. Theo đó, quan điểm này đã được khái quát tiếng lóng như sau:
- Tiếng lóng là một phương ngữ xã hội (vì chúng do các nhóm xã hội tạo ra, chủ yếu được sử dụng trong nhóm xã hội ấy, sự thay đổi của chúng phụ thuộc vào bối cảnh xã hội.
- Tiếng lóng chỉ được dùng trong giao tiếp không nghi thức và có giá trị trong một xã hội hạn hẹp
- Tiếng lóng có tính chất lâm thời, chúng là một hiện tượng kí sinh vào tiếng Việt, xuất hiện và mất đi, thay đổi thường xuyên, không ngừng.
Luận văn của chúng tôi nghiên cứu tiếng lóng như là một hình thức nói năng, giao tiếp đặc thù, diễn ra trong nhóm sinh viên, với các mục đích khác nhau, để từ đó tìm ra các đặc điểm ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng.
Việc sử dụng ngoại ngữ ở Việt Nam không tách khỏi nhân tố toàn cầu hóa, đó là vai trò số một của tiếng Anh. Tại Việt Nam, tiếng Anh đang là ngoại ngữ dẫn đầu trong sử dụng và trong giáo dục với tư cách là môn học ngoại ngữ. Tiếng Anh đang đứng trước một vận hội với những quyết sách mạnh mẽ của Bộ Giáo dục và Đào tạo: tiếng Anh trở thành môn học đại trà tại cấp học đầu tiên của phổ thông (bắt đầu từ lớp ba); tiếng Anh là ngôn ngữ giảng dạy trong nhà trường (một số ngành học và môn học ở một số trường đại học); tiếng Anh là ngoại ngữ bắt buộc đối với bậc học tiến sĩ kể từ ngày 01/01/2010; tiếng Anh cũng là một tiêu chí bắt buộc đối với việc đạt chuẩn giáo sư, phó giáo sư kể từ năm 2011…Đơn giản chỉ vì, giao lưu giữa những người thuộc các quốc gia, dân tộc khác nhau trên thế giới chủ yếu tiếng Anh, quan hệ quốc tế cũng sử dụng ngôn ngữ chủ yếu bằng tiếng Anh, thông tin chủ yếu bằng tiếng Anh (chiếm tới trên 80%),…Vì thế, ở thời đại hiện nay, “muốn hội nhập thì phải biết tiếng Anh” không chỉ là một khẩu hiệu mà là một yêu cầu thực sự [19, tr.81-82].
Chêm xen ngôn ngữ đã trở thành một công cụ không thể thiếu trong giao tiếp ngôn ngữ. Cũng có nhiều cách giải thích khác nhau về vấn để này. Có người thì giải thích chêm xen là kiểu “thích thú”, “hay hay”, “mới lạ” trong phương thức sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của mình. Nhưng có người lại giải thích chêm xen ngôn ngữ do “thiếu hụt ngôn ngữ bản địa và không thể bù đắp cho khi giao tiếp” nên chỉ còn cách khắc phục cho sự tình đó phải chêm xen tiếng nước ngoài để bù đắp cho những thiếu hụt ngôn ngữ bản địa đó. Và cũng có thể hiểu chêm xen là nhấn mạnh điều mình muốn viết nên nội dung đó.
Trong lời ăn tiếng nói, trong văn bản tiếng Việt hiện nay rất phổ biến hiện tượng chêm xen từ ngữ ngoại (chủ yếu là tiếng Anh), kiểu như: “Mày fair play quá”, “Download xong chưa?”, “Nhiều fan hâm mộ ghê”, “Open tour này dành cho nhóm khách teen”…
Đã có một số bài viết trên báo chí về vấn đề này. Có tác giả gọi hiện tượng này là “trộn mã”, có người gọi là “từ vay mượn”, hoặc “đệm”, “đá”, “pha” tiếng nước ngoài. Chúng tôi gọi là “chêm xen” với nghĩa: dùng các từ, ngữ riêng lẻ nguyên dạng gốc tiếng nước ngoài trong lời ăn tiếng nói, trong văn bản tiếng mẹ đẻ tiếng Việt.
Và đặc biệt chúng tôi vận dụng quan niệm của Nguyễn Văn Khang về hiện tượng chêm xen là hiện tượng trộn mã trong ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên.
Tác giả Nguyễn Văn Khang định nghĩa “Mã vốn là một thuật ngữ trong thông tin với nghĩa là hệ thống các từ, chữ cái, kí hiệu… đại diện cho những cái khác dùng cho những thông báo mật hoặc để trình bày hoặc để ghi lại thông tin một cách vắn tắt. Ngôn ngữ học dùng thuật ngữ này với nghĩa hệ thống các tín hiệu có thể truyền đạt thông tin” [19, tr. 376].
Theo tác giả Nguyễn Văn Khang, trộn mã được định nghĩa như sau: “Trộn mã (codes mixing; MX) là hiện tượng trong khi giao tiếp, thành phần mã ngôn ngữ A với mức độ nhất định “trộn” vào mã ngôn ngữ B. Mã ngôn ngữ B đóng vai trò chủ đạo, còn mã ngôn ngữ A chỉ đóng vai trò thứ yếu, có tính chất bổ sung và đương nhiên nó phải chịu ảnh hưởng (áp lực) của A, theo đó, nó không còn được chuẩn xác như chính nó” [19, tr. 387].
Như vậy, việc chêm xen tiếng nước ngoài phải bảo tồn tính nhân văn, chuẩn mực, trong sáng của tiếng Việt. Không nên “lợi dụng” tiếng nước ngoài một cách thái quá khi chêm xen với tiếng Việt.
- Kết cấu mới lạ
Trong công trình nghiên cứu của Đỗ Thùy Trang, tác giả gọi là “mới lạ” vì sự xuất hiện mới mẻ của chúng trong giao tiếp so với các đơn vị tiếng Việt chuẩn.
Chúng tôi sử dụng khái niệm “kết cấu mới lạ” để chỉ một hình thức biểu hiện độc đáo, đặc sắc của biến thể ngôn ngữ giới trẻ. Xét về cấu tạo, đây là đơn vị có tính trung gian, lớn hơn từ, nhưng nhỏ hơn câu. Chúng có tư cách là cụm từ (còn được gọi là ngữ).
Để hiểu rõ hơn về kết cấu mới lạ, chúng tôi đã tìm hiểu các nguồn tin thiết thực, hữu ích cho ngôn ngữ mới lạ này.
Các tác giả đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên tại trường Đại học Sài Gòn [28] đã nêu ra, họa sĩ Thành Phong cho ra đời tập sách có tên “Sát thủ đầu mưng mủ”, tập hợp những “thành ngữ sành điệu” đã được giới trẻ dùng làm câu nói “cửa miệng”. Sách, tuy được đa số giới trẻ ủng hộ nhưng đã làm “dậy” lên một làn sóng phản đối trong dư luận. Nhóm tác giả cùng đơn vị xuất bản sách, sau một thời gian dài lắng nghe mọi ý kiến, nhất là những góp ý trực tiếp của một số chuyên gia ngôn ngữ, giáo dục, đặc biệt là sau tọa đàm “Ngôn ngữgiới trẻ thời @” tổ chức ngày 29-3-2012 do Trung tâm Văn hóa Pháp và Công ty Nhã Nam phối hợp thực hiện, đã có những thay đổi tích cực. Toàn bộ danh mục các thành ngữ có minh họa trong Sát thủ đầu mưng mủ đã được rà soát lại,… Tên của cuốn sách cũng được thay đổi thành Phê như con tê tê để phù hợp với nội dung hơn. Chính động thái này đã cho thấy, thành ngữ kiểu mới đang dần được xã hội chấp nhận. Khi mới xuất hiện, thành ngữ kiểu mới khiến nhiều người lo giới trẻ đang dần đánh mất những giá trị của ngôn ngữ truyền thống. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã lên tiếng bênh vực giới trẻ bằng cách đưa ra những đánh giá thuyết phục dư luận. Với các cách nói: Đâu có đó, thịt chó có mắm tôm; Đã ngu còn cố tỏ ra nguy hiểm; Ế trong tư thế ngẩng cao đầu; Không phải chú dốt chỉ vì mẹ chú quên cho i-ốt vào canh; Nhan sắc có hạn thủ đoạn vô biên; Sống đơn giản cho đời thanh thản…thành ngữ giới trẻ hiện nay có xuất phát từ đặc điểm sâu xa của ngôn ngữ tiếng Việt, đó là khả năng hiệp vần, hoàn toàn chỉ nhằm mục đích vui thú bởi sự hiệp vần đôi khi không có chút ý nghĩa nào. Do đó, thành ngữ thời @ cũng có những đóng góp nhất định cho tiếng Việt. Sau khi Internet trở nên phổ biến ở nước ta; xuất phát từ nhu cầu nói nhanh, bấm phím điện thoại nhanh, nói ít lời mà nhiều nghĩa, nói có vần cho dễ nhớ, không cầu kỳ, đúng lý, đúng nghĩa… Giới trẻ đã và đang tự tạo ra thứ ngôn ngữ “đặc chủng”, mượn lại sự hiệp vần của thành ngữ truyền thống kết hợp với hơi thở thời đại để cho ra đời những câu thành ngữ vui, gần gũi với cuộc sống đời thường.
Khi sử dụng kết cấu mới lạ trong ngôn ngữ, các đối tượng thường hay dùng các thành ngữ, tục ngữ, hay những câu nói thường ngày qua truyền miệng để nói lên ý nghĩa chính của mình cần nói. Những câu nói đó sẽ là kết cấu mới lạ mang nội dung chính, nổi bật trong hành văn, mang tính biểu đạt của nội dung đoạn văn.
Kết cấu mới lạ là một kiểu thức mới trong ngôn ngữ học, có những điều mới mẻ, rất lạ nhưng đầy chất xúc tác. Kết cấu mới lạ trong sinh viên thực sự tựu trung cho tính đa dạng của văn hóa ngôn ngữ trong phương thức sử dụng. Những kết cấu mới là dù chỉ một từ, một câu hay các thành ngữ, tục ngữ …sẽ làm cho chúng ta nhận diện mới mẻ trong cách dùng ngôn ngữ sinh động của sinh viên.
- Thái độ ngôn ngữ
Thái độ được hiểu là “tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó”. Thái độ cũng được hiểu là “cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình” [22].
Theo Nguyễn Văn Khang, thái độ ngôn ngữ, tự thân cụm từ này đã làm cho nó phân biệt với các khái niệm khác, là thái độ thuộc về ngôn ngữ. “Thái độ ngôn ngữ có thể được hiểu là sự đánh giá về giá trị khuynh hướng hành vi của một cộng đồng hay cá nhân đối với một ngôn ngữ hoặc một hiện tượng ngôn ngữ nào đó”. Nghiên cứu thái độ ngôn ngữ có thể giúp cho việc lí giải biến thể về ngôn ngữ mà cụ thể là đối với các biến thể ngôn ngữ. [19, tr. 85]
Nghiên cứu thái độ ngôn ngữ có thể từ nhiều bình diện như: thái độ ngôn ngữ đối với bản sắc dân tộc, thái độ ngôn ngữ đối với các vấn đề đa ngữ, đa thể ngữ, vai trò của ngôn ngữ trong thái độ của giáo viên đối với học sinh, …
Thái độ ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng đối với tư cách là thành viên của cộng đồng lựa chọn ngôn ngữ sử dụng. Sự lựa chọn ngôn ngữ có thể đối với các biến thể ngôn ngữ (đa phương ngữ – đa phương thể ngữ).
Thái độ ngôn ngữ theo góc nhìn tâm lý học xã hội, thường tập trung vào việc lý giải việc cá nhân tham gia giao tiếp nghĩ gì về ngôn ngữ và làm gì với ngôn ngữ. Thái độ ngôn ngữ được phân biệt với thái độ nói chung ở chỗ nó hướng tới ngôn ngữ. Nghiên cứu thái độ ngôn ngữ có thể giải đáp những vấn đề chẳng hạn như: các biến thể của một ngôn ngữ nào đó là phong phú nghèo nàn? Gợi cảm hay không gợi cảm? dễ nghe hay không dễ nghe? Chuẩn mực hay không chuẩn mực? … hoặc xem xét thái độ đối với người nói một ngôn ngữ hay phương ngữ nào đó; hay cũng có thể là thái độ hướng tới người nói những biến thể ngôn ngữ trong giao tiếp. Việc hình thành thái độ ngôn ngữ cũng chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố xã hội như tuổi tác, giới tính, trình độ giáo dục, nghề nghiệp, …
Để làm rõ cho cơ sở lý thuyết này chúng tôi tiến hành điều tra xã hội học thái độ ngôn ngữ của sinh viên và cán bộ viên chức trường Đại học Ngoại ngữ đối với biến thể ngôn ngữ giới trẻ được nói sâu hơn ở chương 3. Chúng tôi sử dụng phương pháp trực tiếp dùng bảng hỏi, phương pháp này được thực hiện theo cách hỏi, trả lời các nội dung thuộc về thái độ ngôn ngữ.
Sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ tại thời điểm này có tổng cộng 6867 sinh viên, được chia thành 08 khoa, và các lớp học theo hệ thống tín chỉ, các em đến từ các tỉnh, thành khác nhau trong cả nước, trong đó có 60% là các em thành phố Đà Nẵng, 40% là các em từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên đến học tập tại ngôi trường này.
Sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ là một nhóm xã hội được tập hợp lại theo một tiêu chí chung là độ tuổi từ 19 – 23. Trong độ tuổi này, sinh viên có nhiều điểm khác nhau như: xuất thân gia đình, tôn giáo, giới tính, đặc biệt các bạn sinh viên đến từ nhiều tỉnh thành trong cả nước với nhiều thói quen, tập tục khác nhau.
Trong giao tiếp qua Confession và mạng Facebook, sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng đã lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ như thế nào? Chúng tôi đã tiến hành thu thập ngữ liệu từ 200 đoạn Confessions (https://www.facebook.com/CflConfessions/) gồm 35.692 người theo dõi và 100 đoạn hội thoại qua mạng Facebook của sinh viên và chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng có những đặc điểm nổi bật giống với đặc điểm ngôn ngữ giới trẻ. Vì vậy, luận văn chúng tôi tập trung nghiên cứu ba biến thể ngôn ngữ giới trẻ tiêu biểu sau:
- Tiếng lóng
- Chêm xen từ ngữ tiếng Anh vào tiếng Việt
- Kết cấu mới lạ
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA MỘT SỐ HÌNH THỨC THỂ HIỆN BIẾN THỂ NGÔN NGỮ GIAO TIẾP SINH VIÊN
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ –ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
2.1.1. Cách thống kê, phân loại
Về cách thức thống kê số liệu, chúng tôi thống kê số lượng và tần số xuất hiện của đối tượng khảo sát bằng phương pháp miêu tả, phương pháp điều tra xã hội học ngôn ngữ, nghĩa là chúng tôi lập danh mục 200 đoạn Confession và 100 đoạn hội thoại ngẫu nhiên, sau đó lần lượt đọc và lập bảng từ ngữ cần khảo sát. Thông qua hai bảng khảo sát, chúng tôi cũng đã khảo sát ý kiến và đánh giá của 100 sinh viên và 50 cán bộ viên chức trường Đại học Ngoại ngữ về thái độ sử dụng, mức độ sử dụng, đối tượng sử dụng và mục đích sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp qua diễn đàn và hội thoại trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng.
2.1.2. Kết quả thống kê, phân loại
Sau khi đã thống kê và phân loại các biến thể ngôn ngữ sinh viên, chúng tôi thu được những kết quả cụ thể ở bảng sau:
Bảng 2.1. Tần số xuất hiện của các biến thể ngôn ngữ sinh viên trong giao tiếp
| Các biến thể ngôn ngữ sinh viên | Tần số xuất hiện | Ví dụ | |
|---|---|---|---|
| Số lần | Tỷ lệ (%) | ||
| Tiếng lóng | 229 | 19.3% | Pê đê, gạ chịch, thả thính, soái ca, bựa, phượt, … |
| Chêm xen từ ngữ tiếng Anh vào tiếng Việt | 935 | 78.7% | Black, make color, unf, double, mess, review, meet their requitment, … |
| Kết cấu mới lạ | 24 | 2% | Dễ như ăn chè, liếc mắt đưa tình, năm trăm anh em, phi công trẻ lái máy bay bà già, … |
| TỔNG | 1189 | 100% | |
2.1.3. Nhận xét
Chêm xen từ ngữ tiếng Anh có số lần xuất hiện nhiều nhất trong các cuộc giao tiếp qua Confession và mạng Facebook của sinh viên (254 đơn vị từ vựng tiếng Anh được chêm xen, 935 lần, chiếm 78.7%). Trong đó, nguyên mẫu xuất hiện (623 lần, chiếm 66.7%).
Tương tự, tiếng lóng cũng được sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ sử dụng nhiều (67 từ ngữ lóng, 229 lần, chiếm 19.3%).
Kết cấu mới lạ xuất hiện ít nhất (24 kết cấu, 24 lần, chiếm 2%).
Từ kết quả khảo sát trên đây, việc sử dụng các biến thể ngôn ngữ chêm xen từ ngữ tiếng Anh vào tiếng Việt của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng chiếm tỷ lệ 78.7%. Còn việc sử dụng tiếng lóng trong giao tiếp chiếm 19.3%, và sử dụng cho kết cấu mới lạ 2%.
Kết quả khảo sát trên đây cho thấy việc lựa chọn biến thể ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng thiên về lựa chọn chêm xen từ ngữ tiếng Anh vào tiếng Việt với tỷ lệ cao nhất và vượt bậc so với các lựa chọn còn lại. Từ đó, cũng cho chúng ta nhận thấy, sử dụng mỗi biến thể ngôn ngữ trong cuộc sống đều có mục đích thực của nó, và có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giao tiếp.
2.2. Đặc điểm tiếng lóng của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng
Theo tác giả Nguyễn Văn Khang đưa ra các hình thức sau:
– Có những từ ngữ lóng mới nguyên;
– Có những từ được gọi là từ lóng do cách gọi tách nghĩa lóng ra khỏi từ đa nghĩa để gọi riêng cho nghĩa lóng ấy. Tức là nghĩa lóng chỉ là một nghĩa trong từ đa nghĩa đó mà thôi.
Những từ lóng thường thấy nhất là những từ lóng sử dụng ngay các đơn vị từ vựng vốn có của tiếng Việt và cấp cho chúng thêm một nghĩa mới: nghĩa lóng. Có thể coi đây là hình thức tạo từ lóng cơ bản nhất, phổ biến nhất của tiếng Việt.
2.2.1. Đặc điểm ngữ âm – chữ viết
- Biến đổi hình thức ngữ âm – chữ viết của từ ngữ có nguồn gốc Ấn Âu
Một trong những cách thức tạo nên tiếng lóng giới trẻ là có nguồn gốc nước ngoài. Những đơn vị có nguồn gốc nước ngoài hoàn toàn không có trong kho từ tiếng Việt toàn dân, ví dụ: fa, f4, k, soái ca, quốc dân, sờ tai, gơ, ha-lô-uin, ninja, LBGT, xõa.
…nhưng mượn phải giữ gìn chứ , làm hư 2 cái tai nghe của mình rồi, mà cái tai nghe mình mua gần 400k chứ có phải mua hàng chợ 3 chục cái đâu. [#9117 ]
Trân: double sát ngày giá walking có thể giảm xuống 350K nhé. Ko e c gửi tn rồi, khách có điện nhớ báo khách dorm nữ hĩ.[#9119]
Sáng tạo ra từ mới
Bên cạnh việc mượn từ sẵn có, sinh viên còn sáng tạo ra từ mới. Những từ này không nằm trong từ vựng tiếng Việt mà Nguyễn Văn Khang gọi chúng là những từ lóng “mới nguyên” và cũng không có mối liên hệ gì với hình thức từ gốc của nghĩa đó. Có thể kể đến những đơn vị từ lóng mới như: săn rau, gạ chịch, phượt, quẩy, bựa, lầy, cua, hãm, chế, bưa. Số lượng những từ lóng mới nguyên này không nhiều, chúng tôi chỉ thống kê được 11/67 từ chiếm 16.2 % nhưng lượt xuất hiện khá dày đặc. Ví dụ:
“Quẩy” còn gọi bánh quẩy, giò cháo quẩy (phương ngữ Nam bộ) hay dầu cháo quẩy (phương ngữ miền Trung), là một loại thực phẩm phổ biến ở châu Á làm từ bột mỳ, pha thêm bột nở, rán vừa chín có dạng một cặp gồm thanh bánh dài có kích thước bằng chiếc xúc xích nhỏ dính nhau, ăn bùi và giòn. Quẩy được dùng kèm theo các món ăn lương thực như: phở, bún, miến, mì, cháo… Ngày trước, “quẩy” dùng để chỉ món ăn, ngày nay, “quẩy” trở thành tiếng lóng của sinh viên, được dùng rộng rãi như một động từ diễn tả hoạt động vui chơi, bộc lộ bản chất của mình bất chấp hoàn cảnh xung quanh.
Những lần anh quẩy thấy mắc cười lắm luôn. Nhưng trên tất cả, anh vẫn duyên dáng và đáng yêu khiến con tim bao cô gái hậu bối như bọn em rung động. Dù anh quẩy hơi ngố nhưng chính cái ngố ấy làm nên nét bẽn lẽn của anh.…[#9148]
“Bựa” mang nghĩa sau: vật nhỏ còn sót lại của cái gì, trở thành lớp chất bẩn bám vào một nơi nào đó (thường nói về lớp chất bẩn bám ở chân răng). Nghĩa đó lại không có liên quan gì đến nghĩa “xấu xí, khác thường (hàm ý chê)” của từ “bựa” mà sinh viên dùng để thể hiện cảm xúc.
Giờ mấy bạn trẻ hay manh động lắm, người ta ko vừa ý mình là trách móc ngay “sao ngày trước nhìn anh cool thế, bây giờ lại bựa thế này, lừa đảo…” nói mà ko tự nhìn lại bản thân luôn…” [#9224]
Nếu như đi du lịch là một hành động rời khỏi nơi thường trú của mình đi đến một nơi khác. Với mục đích thăm thú hoặc chiêm ngưỡng học hỏi. Có địa điểm, lịch trình và chi phí dự kiến cùng thời gian rõ ràng, “phượt” lại được xem là ngược lại. “Phượt” chỉ giống như đi du lịch ở chỗ là hành động rời khỏi nơi thường trú mà thôi,và chúng được hiểu là những chuyến du lịch bụi ngẫu hứng, đôi khi là chẳng có sẵn lịch trình, cũng chẳng biết mình sẽ đi đâu về đâu,không người hướng dẫn, không có đích đến cụ thể, đơn giản chỉ là ham mê khám phá và đi cho thoải mái tâm hồn mà thôi.
Nào sẽ cùng nhau đi phượt, đi chơi hết đà nẵng, sẽ thuê trọ ở chung, chăm sóc cho nhau mỗi ngày…. nhưng tất nhiên chuyện ở chung thì khó có thể thực hiện được vì bố mẹ mình kiểm soát việc này rất kĩ. …” [#9208].
“Chịch” là một từ lóng mới mà các giới trẻ thường dùng trong thời gian gần đây. Nó mang hàm nghĩa xấu, dung tục ám chỉ hành động quan hệ tình dục. Từ lóng này thường xuất hiện kết hợp với từ như gạ chịch, chịch xã giao, …
Rồi thằng em tôi đang học cấp 3 bị một tên trung niên săn rau gạ tình, và người này đã có gia đình nhưng vẫn muốn tìm tình một đêm nên gạ chịch lung tung [#9225].
“Lầy” trong từ điển tiếng Việt có nghĩa là thường nói về đất như là đất chứa nhiều nước gọi là đất sét, được biết lầy có vài từ được dùng như “Đầm lầy”, “Giỡn lầy” …Hay lầy là đất bùn nhão thường xuyên ngập nước vượt qua bãi lầy xe bị mắc lầy. Tính từ có nhiều bùn trơn, bẩn mưa nhiều, đường. Theo đúng nghĩa đen của từ lầy thì người ta thường sử dụng để chỉ các bãi bùn đất nhão nhoét, nhầy nhụa ví dụ như : Bãi lầy, đường lầy, ruộng lầy. Còn theo nghĩa bóng mà sinh viên hay sử dụng từ “lầy” trên Confession để diễn tả cái “bẩn”: chơi lầy vậy – có nghĩa là chơi bẩn vậy. Ngoài nghĩa là bẩn ra thì từ “lầy” còn bao hàm sự dai dẳng ví dụ chơi đùa dai, chơi bẩn và dai dẳng. Lầy = chơi bẩn, chơi đểu + dai dẳng, lì lợm.
… là cả đêm chôn chân đến 2h sáng trong thư viện và lầy đến khi staff bay vào đuổi rồi mới bay về dorm trong cái thời tiết mưa bão, gió tuyết vù vù….[NHTM]
Tại thấy bạn lầy, k như các mom khác, nên trên 150k là bên mình ship[HT 1]
Tuy số lượng xuất hiện ít nhưng từ lóng mới tạo ra nét riêng cho ngôn ngữ sinh viên và được sinh viên sử dụng thường xuyên, phổ biến trên diễn đàn và hội thoại.
Với cách giao tiếp chú trọng đến sự nhanh gọn và tiết kiệm, sinh viên thường tìm cách giản lược chữ cái. Ví dụ: gato, oimeoi. “Gato” là từ lóng được viết tắt từ thành ngữ ghen ăn tức ở, “oimeoi” là ôi mẹ ơi. Từ nguyên liệu trong tiếng Việt, sinh viên đã tạo ra những từ lóng rất đặc trưng, vừa lạ vừa quen. Mặc dù chỉ có 2/67 chiếm 3% nhưng nó là từ lóng có hình thức ngữ âm và cấu tạo khác lạ, tạo nên nét riêng biệt, độc đáo của ngôn ngữ sinh viên.
- Biến đổi những đơn vị có sẵn của tiếng Việt
Sinh viên đã sử dụng những từ ngữ lóng được biến đổi từ nhiều cách (ngữ âm, ngữ nghĩa). Tiếng lóng sinh viên thuộc nhóm này chính là hiện tượng biến âm, biến nghĩa cả từ vựng toàn dân.
+ Về hình thức biến đổi ngữ âm, là biến đổi một phần âm tiết, theo thống kê của chúng tôi, có 2/67 đơn vị từ vựng lóng được tạo nên từ sự biến đổi chiếm 3% những đơn vị có sẵn trong tiếng Việt.
Tiếng lóng được tạo ra bằng cách biến đổi ngữ âm, vừa diễn tả được ý nghĩa của từ gốc lại vừa tạo ra những sắc thái vui tươi, thêm màu sắc sinh động vừa giảm thiểu những sắc thái biểu cảm của người nói.
+ Biến đổi ngữ nghĩa
Cấp thêm nghĩa mới cho từ, đa số tiếng lóng của sinh viên được cấu thành dựa trên việc mượn từ sẵn có trong kho từ vựng tiếng Việt nhưng cấp thêm nghĩa mới cho nó, biến nó trở thành đa nghĩa.
+ Thu hẹp nghĩa gốc của từ: sử dụng những đơn vị có sẵn nhưng chỉ giới trẻ chỉ chuyên dùng một hoặc một số nét nghĩa nào đó thôi.
Về mặt đặc điểm ngữ pháp, chúng tôi nghiên cứu từ ngữ tiếng lóng ở hai khía cạnh: cấu tạo và từ loại.
- Về mặt cấu tạo
Theo bảng khảo sát có 67 từ ngữ tiếng lóng, chúng tôi đã phân loại chúng vào 2 nhóm: từ (gồm có từ đơn, từ phức) và cụm từ.
Từ đơn và từ phức có tỷ lệ gần bằng nhau, từ đơn có 29 từ chiếm 43.3%, từ phức có 30 từ chiếm 44.7%. Cụm từ có số lượng ít nhất có 8 cụm từ chiếm 12%.
- Về mặt từ loại
Trong hơn 67 ngữ liệu chúng tôi khảo sát được thì thực từ chiếm chủ yếu còn hư từ xuất hiện rất ít. Trong thực từ thì số lượng danh từ, động từ là nhiều nhất chiếm 81.1%, sau đó đến tính từ chiếm 10.4% và cuối cùng là một vài từ loại khác.
2.2.3.1. Đặc điểm về trường nghĩa
Qua kết quả thống kê cho thấy, tiếng lóng được các bạn sinh viên sử dụng nhiều nhất thuộc về trường nghĩa tình yêu có 9/67 chiếm 13.4%, trường nghĩa về lĩnh vực trạng thái tâm lý có 3/67 chiếm 4.4%, trường nghĩa về quan hệ tình dục và giới tính có 2/67 chiếm 3%, trường nghĩa về hoạt động nói năng có 1/67 chiếm tỷ lệ ít 1.5%.
+ Trường nghĩa về hoạt động nói năng: chém gió, …
+ Trường nghĩa về quan hệ tình dục: trai đứng đường, săn, …
+ Trường nghĩa về tình yêu: bồ, gấu, cún, cục cưng (cách gọi người yêu),
+ Trường nghĩa về giới tính: gay, pêđê, …
+ Trường nghĩa về trạng thái tâm lí: bựa, bưa, lầy,…
Có thể nhận thấy, tập hợp các từ thuộc trường nghĩa về tình yêu chiếm số lượng lớn chính là đặc trưng tiêu biểu của biến thể ngôn ngữ sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ. Phần lớn sinh viên đều ở độ tuổi 18 đến 23, đây là lứa tuổi tràn đầy sức sống và trước mắt họ là bao điều kỳ diệu đang diễn ra, họ muốn tham gia vào tất cả các mối quan hệ. Trong các mối quan hệ đó, tình bạn, tình yêu vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống của họ.
Vì vậy, có thể coi tình yêu là một nhân tố quan trọng điều chỉnh hành vi và hoạt động của thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng. Đó là một bộ phận trong cấu trúc nhân cách ảnh hưởng trực tiếp đến xu hướng, năng lực, tính cách, lối sống của sinh viên.
2.2.3.2. Đặc điểm về tính đa nghĩa
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “từ đa nghĩa là từ có hai hoặc hơn hai ý nghĩa có quan hệ chặt chẽ với nhau” [12, tr. 442].
Tính đa nghĩa của tiếng lóng giới trẻ chủ yếu được hiểu là đa nghĩa do có nghĩa lóng phái sinh từ nghĩa gốc: hồ ly, hai lúa, gấu, thả thính, … và đa nghĩa lóng tự thân nghĩa lóng gồm nhiều nét nghĩa khác nhau, không bao gồm nghĩa gốc: bão, trẻ trâu, hót, chảnh, chế, hãm, …
Từ lóng đa nghĩa là sản phẩm của các phương thức chuyển nghĩa mà chủ yếu là ẩn dụ, hoán dụ do giới trẻ thiết lập dựa trên sự liên tưởng nghĩa gốc.
Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh với nhau. Nhờ phương thức ẩn dụ, giới trẻ đã tạo ra một loạt từ lóng mới trên cơ sở những từ đã có sẵn trong tiếng Việt.
Ví dụ, ẩn dụ cách thức tức là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thức thực hiện giữa hai hoạt động, hiện tượng: ném đá, thả thính, rải thính, đớp thính, rắc thính, săn rau, đổ, …
“Thả thính” có nghĩa sử dụng là đưa ra những tín hiệu để gọi mời người khác, lôi cuốn, hấp dẫn người khác. Miền Bắc gọi là thả thính, Miền Nam gọi là nhá hàng. Ngày trước, miền Bắc gọi là mồi, tại sao đưa ra dấu hiệu, nghĩa từ nguyên, ở đồng bằng Bắc Bộ, người ta thường thích cá trong ao đồng tự nhiên, loại cá mà họ đặc biệt yêu thích gọi là cá trắm cỏ trên 5kg không còn vị tanh, cá này rất khôn luôn luôn trốn trong đáy hồ. Muốn câu được nó phải thả thính xuống, thính gồm có: gạo, cám, ngô + ốc bươu, rang lên rất thơm. Thả thính xuống làm mồi nhử, cá đớp. Từ đó, miền Bắc gọi là thả thính để phát tín hiệu mời gọi người khác.
“Thả thính” là một từ lóng xuất hiện phổ biến trong ngôn ngữ sinh viên, thống kê của chúng tôi xuất hiện 17 lần, được lóng hóa bằng cách thức thành “mời gọi, lôi cuốn một ai đó có ý với mình, hoặc thích mình thì có thể tiếp cận mình hoặc cưa cẩm mình”. Và từ lóng này thường được sử dụng với các cách khác nhau như: mẻ thính, dính thính, rải thính, đớp thính, né thính, quăng thính, …
Gần tết nghĩ một chút về giây phút bị thả thính được không ạ? Mình là cô gái sinh năm 93 nhưng học chậm nên bây giờ mới học năm cuối. Có ai nghĩ một sinh viên năm cuối nhưng giờ phải đi học lại học phần NN2.1 không? Vâng! Cũng nhờ hoàn cảnh ấy mà mình đã gặp được một người.…” [#9181].
“Săn” là một động từ với nghĩa gốc là đuổi bắt hay bắn chim hoặc thú vật được lóng hóa bằng ẩn dụ cách thức thành “tìm kiếm cái gì một cách khó khăn”: săn rau
Rồi thằng em tôi đang học cấp 3 bị một tên trung niên săn rau gạ tình, và người này đã có gia đình nhưng vẫn muốn tìm tình một đêm nên gạ chịch lung tung …”[#9225].
“Ném” là một động từ với nghĩa gốc là đưa mạnh một vật đi khỏi chỗ mình, trên không và bằng sức tay được lóng hóa bằng ẩn dụ cách thức thành “chỉ sự tấn công tập thể vào một đối tượng cụ thể, có những hành động làm trái ý, chướng mắt bằng cách nói móc mỉa, miệt thị, chửi bới”: ném đá
Hôm nay là một ngày cực kì tệ với chị luôn ấy nên bay vào đọc cfs xem bài của mình có được đăng không và có bị ném đá không, nếu có thì có lí do để òa khóc luôn thể nhưng may là được các đàn em dễ thương chào đón. [#9063].
Hoán dụ là hiện tượng chuyển tên gọi từ sự vật hoặc hiện tượng này sang sự vật hoặc hiện tượng khác dựa trên mối quan hệ logic giữa các sự vật hoặc hiện tượng ấy. Hoán dụ được giới trẻ dùng để chuyển nghĩa nhằm tạo ra các từ lóng từ những từ có sẵn trong tiếng Việt: ku, 9 cái đuôi, 9 cặp sừng, … các hoán dụ này dựa trên quan hệ bộ phận – toàn thể, lấy tên gọi của bộ phận cơ thể thay cho cả cơ thể, cho cả người hay cho cả toàn thể.
“Ku” được hoán dụ để chỉ người con trai trong ngôn ngữ giới trẻ.
Hải Hà: Nguyên, Bảo Nghi, Nau Nguyen, Ánh Minh, truy tìm chàng trai đẹp, dáng đẹp biết nhảy, đi xe ngon, học giỏi, đi đến đâu chiếm spotlight đến đó nào. T tò mò quá.
Nau Nguyen: bồ tao đấy ku =)))
Bảo Nghi: M nói cái chi cu cu suy nghĩ r nâu =))
Hà Trần: Hôm nào mik cũng làm một cái cfs về bồ mik nào.
Hải Hà: khen từ dưới hang khen lên vầy đó cũng bày đặt chảnh☺) đ ưng cơ.[HT 54].
Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và công cụ. Ở trường hợp này, tên gọi của hoạt động được dùng để gọi tên công cụ và ngược lại: 2 nốt nhạc, 5 nốt nhạc.
“2 nốt nhạc”, “5 nốt nhạc” được hoán dụđể chỉ hành động nhanh chóng, mau lẹ
Mai Hương: Vâng và đã đá đít nó sau hai nốt nhạc.
Ngân Trần: wow, cần café tâm sự xin tỉ tỉ chia sẽ kinh nghiệm nè. Lol.[HT 48]
Thứ nhất, lên xin “”review”” giáo viên mần gì, để đứa khác đọc đc ào ào vô đk, cuối cùng full lớp trong vòng 5 nốt nhạc.[#9134].
Đa nghĩa lóng là hiện tượng từ lóng có nhiều nét nghĩa lóng khác nhau, chỉ những sự vật, hiện tượng khác nhau: trẻ trâu, bão, chảnh/ chảnh chó, chém/ chém gió, hãm/ hãm loz, chế/ mấy chế, …
Trâu trong từ lóng giới trẻ có các nghĩa sau:
- Tuổi thơ, hồn nhiên, vô tư
Không khí hôm nay sao giống ngày xưa đến vậy, làm em nhớ lại thời cấp 2 trẻ trâu, được thi cùng phòng với crush…[#9130].
- Ngông cuồng, dại dột
Chồng mình từ 1 người như trẻ trâu ăn rồi cãi nhau với 2 thằng bạn cùng phòng bây giờ trở thành 1 người đàn ông hơn. Nhưng vẫn còn hơi chút trẻ trâu…[#9130].
- . Hiện tượng đồng nghĩa
Theo các nhà Việt ngữ học, từ đồng nghĩa là những từ tương đồng với nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh và có phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách, … nào đó hoặc đồng thời cả hai.
Chẳng hạn:
Từ đồng nghĩa về “mại dâm”: đứng đường, săn rau, gạ chịch
Từ đồng nghĩa chỉ những “người quê mùa”: hai lúa
Từ đồng nghĩa chỉ “tiền”: củ, k
Từ đồng nghĩa về “nói quá, nói không đúng sự thật”: chém gió
- . Tính biểu thái, vui tươi, hài hước, dí dỏm
Tiếng lóng trong ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên biểu hiện sự vui tươi, hài hước, dí dỏm thông qua các ngôn từ: cún, cục cưng, gấu, … gắn liền với đặc điểm tâm lí tính cách năng động, vui tươi, trẻ trung, sôi nổi của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ.
Qua những phân tích như trên, chúng ta có thể thấy tiếng lóng giới trẻ đã sáng tạo ra những từ mới, biến đổi những đơn vị có sẵn của tiếng Việt, cấp thêm nghĩa mới cho từ để phù hợp với giao tiếp và xã hội.
2.3. Đặc điểm hiện tượng chêm xen từ ngữ tiếng Anh
2.3.1. Đặc điểm ngữ âm – chữ viết
Trong đó, hình thức chuẩn tiếng Anh chiếm số lượng lớn, có số lần xuất hiện 623 lần (chiếm 66.7 %). Viết tắt tiếng Anh xuất hiện 311 lần (chiếm 33.3%).
Như vậy, sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ khi chêm xen từ ngữ tiếng Anh vào giao tiếp tiếng Việt thường sử dụng hình thức nguyên dạng chuẩn của tiếng Anh.
- Hình thức viết tắt của tiếng Anh
Kết quả khảo sát cho thấy hình thức viết tắt này chiếm số lượng ít hơn, chỉ chiếm thế yếu vì các viết đơn giản, dễ hiểu trong cộng đồng cùng là sinh viên với nhau.
Theo tác giả Nguyễn Văn Khang “Hiện nay trong tiếng Việt nói chung, tỷ lệ giữa ba dạng hình thức: dịch, phỏng âm, nguyên dạng dường như chưa có biến thể nào nổi trội mà còn ở thế giằng co” [19]. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy từ ngữ tiếng Anh nguyên dạng trong ngôn ngữ sinh viên chiếm số lượng lớn, đến 66.7% tổng số từ ngữ thống kê được. Điều này cho thấy ngôn ngữ sinh viên là biến thể ngôn ngữ xã hội đi đầu trong xu hướng phát triển ngôn ngữ toàn dân nói chung, đặc biệt ở mảng từ ngoại lai gốc tiếng Anh.
Về mặt đặc điểm ngữ pháp, chúng tôi nghiên cứu các từ ngữ tiếng Anh chêm xen ở hai khía cạnh: cấu tạo và từ loại
- Về mặt cấu tạo
Theo bảng khảo sát có 254 từ tiếng Anh chêm xen vào lời nói tiếng Việt, có 222 từ (chiếm 87,4%) và có 17 cụm từ (chiếm 6.7%) và chỉ có 15 câu (chiếm 5.9%). Có thể nói, đơn vị tiếng Anh được giới trẻ sử dụng chêm xen vào trong lời nói tiếng Việt chủ yếu là từ. Trong đó, có những từ tần số xuất hiện lớn, lặp đi lặp lại trong diễn đàn và hội thoại như: crush (67 lần), cfs (66 lần), fb(55 lần), cmt
(27 lần), facebook (15lần), cv (22 lần), …
Kết quả thống kê và phân loại của chúng tôi khá tương đồng với các nghiên cứu đi trước. Về mặt cấu tạo của các từ tiếng Anh chêm xen vào lời nói tiếng Việt như Đỗ Thùy Trang có 498 từ chiếm 77.4%, có 135 cụm từ chiếm 21% và chỉ có 10 câu chiếm 1.6%. Nguyễn Thị Minh Hiếu có 152 từ chiếm 77.55%, có 27 cụm từ chiếm 13.78% và chỉ có 17 câu chiếm 8.67%.
Các cụm từ tiêng Anh được sử dụng trên diễn đàn và hội thoại chủ yêu xuất hiện theo hai dạng:
- Các cụm từ được dùng để chỉ trạng thái: Old but gold, Love all, Body-
- Các cụm từ được dùng chêm xen vào lời nói bình thường thay cho các từ hoặc cụm từ tiếng Việt tương đương: Come out, help me, …
Bằng việc khảo sát phương thức cấu tạo, trong đó sử dụng từ chiếm 87.4%, cụm từ chiếm 6.7% và câu chiếm 5.9%. Từ kết quả đó, chúng ta nhận thấy trong mỗi kiểu sử dụng các loại phương thức cấu tạo đều khác nhau, đó là sử dụng nhiều hay ít từ để tiết kiệm thời gian trong giao tiếp.
- Về mặt từ loại
Trong giao tiếp qua diễn đàn và hội thoại của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ, số lượng danh từ tiếng Anh được chêm xen vào trong lời nói chiếm số lượng lớn 153/239 đơn vị.
Kết quả khảo sát phân loại từ ngữ tiếng Anh theo tiêu chí từ loại danh từ/cụm danh từ; động từ/cụm động từ; tính từ/cụm tính từ và sử dụng các tiêu chí khác.
Bảng kết quả trên đã cho chúng ta thấy rất rõ danh từ/cụm danh từ chiếm 64%, tiếp đến là động từ/cụm động từ chiếm 17%, tính từ/cụm tính từ 13%, và các từ loại khác chỉ chiếm 6%.
Tóm lại, xét về mặt ngữ pháp, việc chêm xen các đơn vị tiếng Anh vào trong tiếng Việt của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ diễn ra chủ yếu ở cấp độ từ sử dụng rất phong phú các loại từ như danh từ, tính từ, động từ, giới từ, phó từ… trong đó danh từ là chủ yêu chiếm 64%. Có thể thấy việc chêm xen vào tiếng Anh vào tiếng Việt trong giao tiếp của sinh viên hết sức phong phú về số lượng, phức tạp về cấu tạo ngữ pháp, có nhiều sự biến đổi so với bản chất ngữ pháp của đơn vị gốc trong tiếng Anh.
Việc chêm xen từ ngữ tiếng Anh vào tiếng Việt trong giao tiếp là hiện tượng chung nhưng sử dụng với số lượng lớn, tần suất cao thì phải kể đến ngôn ngữ sinh viên, chúng tôi tập trung làm rõ hai đặc điểm sau: (1) đặc điểm về trường nghĩa, (2) đặc điểm về ý nghĩa.
2.3.3.1. Đặc điểm về trường nghĩa
Qua thống kê chúng tôi nhận thấy, nhóm công nghệ là trường nghĩa có số lượng và tần số đơn vị tiếng Anh xuất hiện lớn nhất, 56/254 từ ngữ có nội dung công nghệ (công nghệ thông tin, mạng xã hội…) chiếm 22% tổng lượng từ ngữ tiếng Anh. Tiếp theo đến trường nghĩa đời sống tâm lý có 49/254 chiếm 19.3%, trường nghĩa văn hóa giải trí bao gồm (âm nhạc, thể thao, phim ảnh, các trào lưu mới) có 21/254 chiếm 8.3%. Thấp nhất là trường trang phục, thời trang có 8/254 chiếm 3.1%, còn lại là các trường về quan hệ bạn bè, quan hệ tình yêu, giáo dục, …
Như vây, chêm xen tiếng Anh vào lời nói tiếng Việt là hiện tượng chung của sinh viên hiện nay. Trong giao tiếp với bạn bè với nhau, trong không khí giao tiếp thân mật, thoải mái, nhiều khi thấm đẫm màu sắc trêu đùa, mua vui, cho phép thể hiện sự “đẳng cấp”, sành điệu, cho phép thể hiện cá nhân. Và trong môi trường ngoại ngữ, giao tiếp bằng cách chêm xen tiếng Anh cho phép sinh viên học hỏi, đua đòi nhau để sáng tạo ra những kí hiệu độc, lạ.
2.3.3.2. Đặc điểm về ý nghĩa
Các từ ngữ tiếng Anh khi được chêm xen trong ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên thường được giữ nguyên nghĩa gốc. Ví dụ: cute, boy, girl, black, pink, crazy, leader, laptop, teen, hotel, short, thank you, comment, only, said, copy, test, team, administrator, like, status, fashion, …
Đức: Cute k?
Mai: Đẹp thế. Cái này của hàn hay nhật v anh? [HT 4].
Ngọc Diệp: Cứng đầu hay cố chấp thì cũng vì ông nhé.
Trinh Kiều: Ích kỉ òm, t ghét.
Ngọc Diệp: m đang nói boy?
Trinh Kiểu: uh boy răn á.
Ngọc Diệp: kb đặt mình vô vị trí của girl.
Ngọc Duyên: mới 2 tháng thôi mà, hí hí, thấy e trâu chưa, nhưng trâu cho lắm chừ cũng tan tành kk [HT 45]
An Nhiên: hehe, đọc comment xem mn khuyên phải thế nào nề, 2 tháng cơ, em thì 2 năm đấy.
Ngọc Duyên: E định khuyên, viết dài lắm mà rồi lại xóa vì nghĩ chuyện mỗi người mỗi khác, hihi. Nhưng mà… là số 1 rồi, em vẫn tin vậy, hí hí, thấy ai ct mà cười suốt ngày như e k? kkk
An Nhiên: lướt cm 1 vòng thấy vote ct k, hehe, 1 là đau chưa thấm, 2 là chưa tới thời điểm đó. Cố mà cười đc thì tốt. [HT 49].
Các từ ngữ tiếng Anh được giữ nguyên dạng thì cũng có những từ ngữ tiếng Anh được các bạn sinh viên sử dụng có những biến động nghĩa so với từ ngữ gốc. Thông thường, các bạn sinh viên chỉ chọn một (một số) nét nghĩa của đơn vị tiếng Anh để diễn tả ý nghĩa mình muốn nói. Ví dụ, theo từ điển Oxford:
Means là một danh từ, động từ, tính từ có nhiều nghĩa trong tiếng Anh
- Động từ với nét nghĩa truyền đạt điều gì, có nghĩa gì
- Tính từ với nét nghĩa không rộng rãi, ích kỷ
- Danh từ với nét nghĩa trung gian
Nhưng trong tiếng Việt, sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ dùng theo nét nghĩa: “có nghĩa là”.
Cfs cũng là môi trường trẻ, tại sao không? yes, speechless means CẠN LỜI.
một bạn nói chị là ngữ pháp cũng quan trọng. Ừ quan trọng chứ em. [ #9044].
Khi nhắc đến giao tiếp của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ, không thể không nhắc đến từ “crush”. Nó được xuất hiện đến 67 lần, trong tiếng Anh, “crush” là một từ đa nghĩa, theo từ điển Oxford, “crush” có những nghĩa sau đây:
- Động từ với nét nghĩa ép hoặc bóp (cái gì/ai) mạnh tới mức độ gây ra vỡ hoặc bị thương
- Động từ với nét nghĩa thích thú ai cao dộ nhưng rất ngắn ngủi, mê đắm bất chợt
- Tính từ với nét nghĩa trội hơn hẳn, áp đảo
Sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ dùng theo nét nghĩa: “thích thú ai, mê đắm ai”. Ví dụ:
Đây không phải lần đầu tớ yêu,cậu cũng chẳng phải mối tình đầu của tớ nhưng cậu là người đầu tiên cho tớ cái cảm giác có crush,nhưng chuyện kể ra cũng trớ trêu,thường thì crush của mình sẽ có crush mà không phải là mình,tớ thì nói thật chả có điểm nào giống người mà cậu thích chỉ là tớ không hiểu bản thân cần gì nữa[# 9213 Ngày 17 tháng 4 năm 2018].
Nghe danh cơ trưởng khoa Anh đã lâu hôm nay mới đc gặp. Đúng là nụ cười toả nắng cute hơn cả lời đồn. Lúc nghe nói anh là crush quốc dân đã cảm thấy xàm, hôm nay gặp anh phát đã muốn rụng trứng, lời đồn quả thật ko xàm tí nào.
. Cho em ảo tưởng nghĩ lung tung xí rứa thôi chớ em sẽ crush ngầm anh thôi. Mà anh sắp ra trường rồi, nghĩ mà thấy buồn, còn gặp được anh nữa mô anh hỉ[#9203].
Đặc thù là trường Đại học Ngoại ngữ nên có thể nhận thấy chêm xen từ nước ngoài (chủ yếu là tiếng Anh) vào lời nói tiếng Việt là một trong những biểu hiện nổi bật của ngôn ngữ giao tiếp trên confessions và hội thoại ngày càng được ưa chuộng, sử dụng rộng rãi. Sinh viên Ngoại ngữ được học các ngoại ngữ khác nhau nhưng họ chủ yếu vẫn sử dụng tiếng Anh vì tính quốc tế, hội nhập với các nước Châu Âu. Kết quả mà chúng tôi thu được khá tương đồng với kết quả nghiên cứu trong luận án của Đỗ Thùy Trang. Đó là, chêm xen nguyên dạng từ ngữ tiếng Anh chiếm tỷ lệ lớn hơn, thể hiện khuynh hướng hội nhập và trọng chuẩn nguyên ngữ tiếng Anh của sinh viên. Dạng viết tắt các từ tiếng Anh cũng chiếm tỷ lệ tương đối lớn. Còn dạng chêm xen tiếng Anh phỏng âm trong ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên chỉ chiếm một tỷ lệ rất ít. Từ ngữ liệu chúng ta có thể thấy, hệ thống từ ngữ tiếng Anh trong ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên có tính cập nhật, luôn bổ sung những đơn vị mới du nhập, thể hiện xu hướng hội nhập và phát triển.
2.4. Đặc điểm kết cấu mới lạ của sinh viên
Qua khảo sát, chúng tôi thống kê được 24 kết cấu mới lạ. Về kích thước, hầu hết chúng là cụm từ, chỉ có một số rất ít có tư cách như câu:
Bảng 2.7. Kết cấu mới lạ
| Dễ như ăn chè | Có tiếng mà không có miếng |
| Năm trăm anh em | Xinh đẹp như tiên giáng trần |
| Đập chậu cướp hoa | Ngơ ngơ cà lơ phất phơ |
| Mặt mũi cute hạt me | Quần chất chơi con dơi |
| Hiếp dâm thị giác | Hiền như con mèo cuộn mình xó bếp |
| Từ từ nhỏ giọt | Chậu đã có cây |
| Thừa nước đục thả câu | Phi công trẻ lái máy bay bà già |
2.4.1. Đặc điểm ngữ âm – cấu tạo
Kết cấu mới lạ của sinh viên được tạo nên bằng những cách thức khác nhau, trong đó nổi lên ba cách thức nổi bật như sau: phương thức hiệp vần, phương thức cải biên, phương thức sáng tạo mới.
- Phương thức hiệp vần
Thống kê của chúng tôi cho thấy có đến 5/26 chiếm 19.2% kết cấu mới lạ được tạo nên từ phương thức hiệp vần. Ví dụ như: dễ như ăn chè, sầu vơi bớt nỗi sầu, ngơ ngơ cà lơ phất phơ, mặt mũi cute hạt me, quần chất chơi con dơi.
Trò chuyện với một số sinh viên trong trường Đại học Ngoại ngữ, hầu như các bạn đều cho rằng, các kết cấu mới lạ như trên đã trở thành lời ăn tiếng nói hàng ngày và không ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng Việt như nhiều người vẫn nghĩ. Sinh viên nghĩ rằng kết cấu mới lạ là những câu nói vui có vần có điệu, hình ảnh liên tưởng gần gũi, dễ nhớ, chỉ nghe qua một lần là thuộc nên được sinh viên yêu thích.
- Phương thức cải biên
Cải biên là sửa lại một tác phẩm cũ cho hợp với yêu cầu và nhờ vào phương thức cải biên, sinh viên đã tạo ra những kết cấu mới lạ từ kho tàng thành ngữ, tục ngữ Việt Nam.
Bảng 2.8. Kết cấu mới lạ cải biên truyền thống
| Kết cấu mới lạ | Thành ngữ |
| Xinh đẹp như tiên giáng trần | Đẹp như tiên |
| Đập vô mặt bạn mình một thùng nước lạnh | Dội nước lạnh |
| Tức hộc máu | Tức lộn tiết |
- Phương thức sáng tạo mới
Qua khảo sát chúng tôi thống kê được 7/24 kết cấu mới lạ của sinh viên được sáng tạo như: đập chậu cướp bông, chậu đã có cây, chui ngược lại tử cung, bông hoa dâm đãng có đỏ mà không có thơm, hiếp dâm thị giác, ngắt bông cướp chậu, phi công trẻ lái máy bay bà già, năm trăm anh em, …
Những kết cấu này số lượng không nhiều nhưng khá đa dạng về cấu tạo, nhưng nét chung cơ bản đó là tính đối xứng. Đặc trưng cốt lõi của ngữ cố định truyền thống là tính đối xứng, cân đối về cấu tạo, nhịp nhàng hài hòa về mặt ngữ âm đã được vận dụng để tạo ra những kết cấu mới của sinh viên.
2.4.2. Đặc điểm ngữ nghĩa
Xét về đặc điểm ngữ nghĩa, kết cấu mới lạ mà sinh viên sử dụng đã bộc lộ những đặc điểm cốt lõi của ngữ cố định tiếng Việt như: tính thành ngữ, giá trị biểu trưng, tính thời đại và giá trị biểu thái.
Có thể thấy, sinh viên thường nhanh nhạy nắm bắt cái mới, biết vận dụng một cách hợp lý ngôn ngữ, họ lại khao khát chứng tỏ mình, mong muốn khẳng định sự độc đáo cá nhân bằng những cái mới lạ. Sự xuất hiện của ngôn ngữ mới đôi khi lại là công cụ hữu ích giúp sinh viên chuyển tải các sắc thái ý nghĩa mới, có thể coi đó là ngôn ngữ tối thiểu nhưng tạo ra hiệu ứng tối đa trong khoảng thời gian nhất định.
2.5. Tiểu kết
Qua khảo sát ngữ liệu trên Confessions và hội thoại của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ, có thể thấy biến thể ngôn ngữ giới trẻ có sự thể hiện rất đa dạng, sinh động. Trong đó, ba hình thức biến thể nổi bật nhất là: tiếng lóng, chêm xen tiếng Anh vào tiếng Việt và kết cấu mới lạ.
Về hiện tượng sử dụng tiếng lóng của sinh viên, chúng được hình thành từ những đặc điểm và phương thức cấu tạo khác nhau như vay mượn từ nước ngoài, sáng tạo ra từ mới, biến đổi những đơn vị có sẵn của tiếng Việt. Về ngữ pháp, chúng tôi nghiên cứu hai khía cạnh là cấu tạo và từ loại. Về ý nghĩa, từ ngữ lóng của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ thể hiện trường từ vựng, tính đa nghĩa, các hiện tượng đồng nghĩa và tính biểu thái, vui tươi, hài hước, dí dỏm.
Về hiện tượng chêm xen tiếng Anh vào tiếng Việt, đây là hiện tượng nổi bật, đặc trưng của biến thể ngôn ngữ sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ, hình thức thể hiện này có số lượng cũng như tần số xuất hiện cao nhất. Các đơn vị tiếng Anh được sinh viên sử dụng chiếm đa số là giữ nguyên hình thức chữ viết, nhưng có sự biến đổi về đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Về hiện tượng kết cấu mới lạ, dù số lần xuất hiện ít trong 200 đoạn Confessions và hội thoại nhưng đã thể hiện được đặc điểm ngữ âm với các phương thức hiệp vần, phương thức cải biên, phương thức sáng tạo mới. Về mặt ý nghĩa, sinh viên còn bộc lộ những đặc điểm thú vị, có nhiều kết cấu mới lạ của giới trẻ đã thể hiện những đặc điểm cốt lõi của ngữ cố định tiếng Việt như: tính thành ngữ, giá trị biểu trưng, tính dân tộc, tính hình tượng, giá trị biểu thái.
CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP XÃ HỘI CỦA BIẾN THỂ NGÔN NGỮ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGỮ – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Dựa trên lí thuyết về thái độ ngôn ngữ, chúng tôi tiến hành điều tra xã hội học thái độ ngôn ngữ của sinh viên và cán bộ viên chức trường Đại học Ngoại ngữ đối với biến thể ngôn ngữ giới trẻ.
3.1.1. Thái độ của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ về việc lựa chọn và sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp
Để khảo sát thái độ của sinh viên về việc sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp, chúng tôi đã khảo sát dành cho 100 sinh viên.
Kết quả khảo sát thái độ của sinh viên trong việc lựa chọn các biến thể ngôn ngữ trên đây cho chúng ta thấy rõ việc lựa chọn của sinh viên theo tỷ lệ từng loại biến thể ngôn ngữ theo sự lựa chọn của sinh viên.
Câu hỏi “Thái độ của Anh/ Chị sẽ như thế nào khi người bạn của mình sử dụng tiếng lóng (thả thính, bưa, bựa, bão, bồ, lái máy bay, xàm, …) trong cuộc giao tiếp?”, trong câu hỏi này sự lựa chọn “rất thích” và “thích” chiếm 8%; “không thích” chiếm 7%; “rất không thích” chiếm 1%. Trong khi đó sự chọn lựa “bình thường” chiếm tỷ lệ rất cao 76%.
Với câu hỏi “Thái độ của Anh/chịnhư thế nào khi người bạn của mình sử dụng các kết cấu mới lạ (năm trăm anh em, đập chậu cướp bông, phi công trẻ lái máy bay bà già, dễ như ăn chè …) trong cuộc giao tiếp, trong câu hỏi này tỷ lệ lựa chọn “rất thích” 13%, “thích” 11%, “bình thường” 67%, “không thích” 8% và “rất không thích”1%. Kết quả này cho thấy sử dụng kết cấu mới lạ này mang tính bình thường trong quá trình giao tiếp. Trong khi đó lựa chọn rất thích và thích lần lượt là 13% và 11% chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong khi giao tiếp, còn các kết quả còn lại chiếm tỷ lệ không đáng kể.
Và câu hỏi “Thái độ của Anh/ Chị sẽ như thế nào khi người bạn của mình sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen (vote, crush, come out, block, unfriend, make color, miss you, …) trong cuộc giao tiếp, trong câu hỏi này, tỷ lệ lựa chọn “rất thích”chiếm7%, “thích”chiếm 18%, “bình thường” chiếm 59%, “không thích”chiếm 14% và “rất không thích”chiếm 2%.
Điều này góp phần khẳng định, sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ lựa chọn và sử dụng các biến thể ngôn ngữ như một sự phát triển tất yếu trong sự phát triển ngôn ngữ tiếng Việt. Từ đó tạo nên bức tranh sinh động cho ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ nói riêng và tiếng Việt nói chung.
3.1.2. Thái độ của cán bộ viên chức trường Đại học Ngoại ngữ về việc lựa chọn và sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp
Để khảo sát thái độ của cán bộ viên chức về việc sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp, chúng tôi đã khảo sát dành cho 50 cán bộ viên chức.
Đối với sử dụng biến thể ngôn ngữ tiếng lóng với câu hỏi “Thái độ của Thầy/ Cô sẽ như thế nào khi sinh viên của mình sử dụng từ ngữ lóng (thả thính, bưa, bựa, bão, bồ, lái máy bay, xàm, …) trong cuộc giao tiếp?”, trong câu hỏi này sự lựa chọn “rất thích”chiếm3%, “thích” chiếm 4%, “bình thường”chiếm 25%, “không thích” chiếm 17%; “rất không thích” chiếm 1%. Kết quả trên cho chúng ta thấy rõ việc sử dụng các mức độ không đồng đều và đánh giá của cán bộ đối với sinh viên trong phương thức sử dụng tiếng lóng mang tính bình thường.
Tương tự với câu hỏi “Thái độ của Thầy/ Cô sẽ như thế nào khi sinh viên của mình sử dụng các kết cấu mới lạ (năm trăm anh em, đập chậu cướp bông, phi công trẻ lái máy bay bà già, dễ như ăn chè, …) trong cuộc giao tiếp?”, tỷ lệ lựa chọn cho câu hỏi này “rất thích”chiếm1%, thích chiếm 4%, bình thường chiếm 37%, không thích chiếm 7%, và rất không thích chiếm 1%. Nhìn vào biểu đồ hình cột, chúng ta thấy rõ sự vượt bậc của việc lựa chọn định mức bình thường chiếm 37% một tỷ lệ rất cao trong cách đánh giá, nhìn nhận và sử dụng định mức bình thường.
Đánh giá của cán bộ về thái độ sử dụng biến thể ngôn ngữ tiếng Anh chêm xen của sinh viên ở các mức độ “rất thích” chiếm 4%, “thích” chiếm 3%, “bình thường” chiếm 30%, “không thích” 13 % và “rất không thích” 0%. Trong bảng thống kê cũng như biểu đồ thể hiện rõ các mức độ, tỷ lệ 0% với không lựa chọn rất không thích trong việc chêm xen tiếng Anh vào tiếng Việt trong khi giao tiếp. Ở mức độ bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất 30% một tỷ lệ tỏ rõ thái độ và cách đánh giá của cán bộ đối với sinh viên sử dụng bình thường trong quá trình giao tiếp chêm xen ngôn ngữ tiếng Anh.
3.2. Mức độ sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ.
Để khảo sát ý kiến của sinh viên về mức độ sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp qua diễn đàn và hội thoại, chúng tôi đã khảo sát dành cho 100 sinh viên.
Cả ba biến thể ngôn ngữ: tiếng lóng, kết cấu mới lạ và chêm xen tiếng Anh đều có tỷ lệ lựa chọn câu trả lời “thỉnh thoảng” cao nhất chiếm 47% trong 5 mức: rất thường xuyên – thường xuyên – không thường xuyên – thỉnh thoảng – chưa bao giờ. Câu trả lời “chưa bao giờ” chiếm tỷ lệ thấp nhất 2%. Câu trả lời “thường xuyên” được các bạn lựa chọn đến 29%. Tỷ lệ “không thường xuyên” cũng được sinh viên lựa chọn chiếm đến 19%.
Kết quả điều tra phù hợp với giả thuyết nghiên cứu của chúng tôi, đó là sinh viên thường sử dụng biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong nói năng giao tiếp, với tần suất điển hình là “thỉnh thoảng”. Biến thể ngôn ngữ giới trẻ là phương ngữ xã hội cho nên sinh viên chính là chủ thể lựa chọn, sử dụng chúng nhiều nhất, tần suất lớn nhất.
3.3. Đối tượng sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng
Để khảo sát ý kiến của sinh viên đối tượng sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp qua diễn đàn và hội thoại, chúng tôi đã khảo sátdành cho 100 sinh viên.
Kết quả điều tra cho thấy có sự phân hóa sâu sắc trong đối tượng giao tiếp của biến thể ngôn ngữ giới trẻ. Nhóm đối tượng giao tiếp chiếm tỷ lệ cao nhất là “với bạn bè” chiếm 93%, đặc biệt các phương án khác rất ít lựa chọn, phân bố chỉ từ 1-5%, chiếm tỷ lệ rất thấp “với tất cả mọi người” chiếm 5%, “với gia đình và thầy cô” chỉ chiếm 1%. Điều này phần nào phản ánh ý thức, thái độ của sinh viên trong sử dụng ngôn ngữ: thân mật, suồng sã với bạn bè; tôn trọng gia đình, thầy cô.
Như vậy, sự hoạt động của biến thể ngôn ngữ giới trẻ gắn liền với cộng đồng giao tiếp sinh viên, thể hiện ở mức độ, đối tượng giao tiếp. Các hình thức ngôn ngữ giới trẻ như tiếng lóng, chêm xen tiếng Anh, kết cấu mới lạ trở thành phương tiện đặc thù đánh dấu đối tượng giao tiếp là những người có cùng độ tuổi, trình độ học vấn, thị hiếu thẩm mĩ, phong cách cá nhân tương đồng.
3.4. Mục đích sử dụng
3.4.1. Mục đích sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng
Để khảo sát ý kiến của sinh viên về mục đích sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp qua diễn đàn và hội thoại của sinh viên, chúng tôi đã khảo sát bằng bảng hỏi dành cho 100 sinh viên.
Qua kết quả khảo sát chúng tôi nhận thấy đa số sinh viên đồng ý sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ với mục đích thể hiện sự hài hước, dí dỏm chiếm 75%.
Ngoài mục đích thể hiện sự hài hước, dí dỏm và nói giảm, nói tránh, một bộ phận chiếm 66% sinh viên đồng ý với sự lựa chọn theo thói quen, không có mục đích gì. Như vậy, việc sử dụng biến thể ngôn ngữ giới trẻ không cố ý cũng là một thực trạng có thật, tương đối phổ biến trong giao tiếp. Trong quá trình giao tiếp ở mạng xã hội dù vô tình hay cố ý cũng hàng ngày tiếp xúc với những biến thể ngôn ngữ. Sự tiếp xúc này đã chuyển hành vi sử dụng như một thói quen, dù không thực sự chủ ý nhằm một mục đích nào.
Có thể thấy sinh viên đều đồng ý với những mục đích mà chúng tôi đưa ra, tuy nhiên số sinh viên không đồng ý cũng tương đối nhiều, 61% sinh viên không đồng ý thể hiện tính thời thượng, sành điệu, 41% không đồng ý để rèn luyện khả năng tiếng Anh (đối với hiện tượng chêm xen), 36% sinh viên không đồng ý với mục đích nhấn mạnh điều muốn nói, 18% không đồng ý thói quen, không có mục đích gì, 16% nói giảm, nói tránh những điều tế nhị và thể hiện sự hài hước, dí dỏm là mục đích có ít sinh viên không đồng ý nhất chiếm 12%.
3.4.2. Đánh giá của cán bộ viên chức về mục đích sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng
Để khảo sát ý kiến của cán bộ viên chức về mục đích sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ trong giao tiếp qua diễn đàn và hội thoại của sinh viên, chúng tôi cũng đã khảo sát bằng bảng hỏi dành cho 50 cán bộ viên chức.
Đối với cán bộ viên chức, đa số đều “đồng ý” với những mục đích mà chúng tôi nêu ra. Mục đích theo thói quen, không có mục đích gì có tỷ lệ “đồng ý” cao nhất chiếm 36%, 30% “đồng ý” với mục đích thể hiện sự hài hước, dí dỏm, 26% “đồng ý” với mục đích nói giảm, nói tránh những điều tế nhị. Song, số cán bộ viên chức “không đồng ý” cũng tương đối nhiều, có 24% đều “không đồng ý” với mục đích thể hiện tính thời thượng, sành điệu và nhấn mạnh điều muốn nói, 18% “không đồng ý” với mục đích để rèn luyện khả năng tiếng Anh.
Kết quả khảo sát cho chúng ta biết rõ thái độ sử dụng tiếng lóng trong từng trường hợp, hoàn cảnh để phù hợp với cảnh thái sử dụngcác biến thể ngôn ngữ.
Với mục đích “thể hiện tính thời thượng, sành điệu”, và kết quả khảo sát cho chúng ta thấy rõ, mức độ đậm đặc nhất là “không đồng ý” chiếm 24%, tiếp đến là “đồng ý” chỉ chiếm 14% và các mức độ còn lại chiếm dưới 5%. Kết quả đó cho chúng ta thấy rõ phương thức sử dụng các biến thể ngôn ngữchỉ là tỷ lệ khiêm tốn.
Với mục đích “nói giảm, nói tránh những điều tế nhị”, tỷ lệ “đồng ý” chiếm 26%, với kết quả đó, cho chúng ta thấy cán bộ đồng ý chiếm hơn 50% nói giảm nói tránh, trong khi đó tỷ lệ “không đồng ý” chiếm 14%, các phương thức còn lại chiếm 5%.
Với mục đích “Nhấn mạnh điều muốn nói”, kết quả cho chúng ta biết, tỷ lệ “không đồng ý” chiếm 24%, trong khi đó tỷ lệ “đồng ý” chỉ chiếm 15%, các mức độ còn lại chiếm dưới 7%.
Biến thể ngôn ngữ được sử dụng với mục đích “thể hiện sự hài hước, dí dỏm”, kết quả khảo sát cho chúng tôi rất bất ngờ đó là tỷ lệ “đồng ý” chiếm 30%.
“Thói quen, không có mục đích gì” được chúng tôi khảo sát, tỷ lệ “đồng ý” chiếm 36% đây là tỷ lệ đậm đặc nhất và chiếm 2/3 của các mức độ còn lại chiếm dưới 7%.
Với mục đích “Để rèn luyện khả năng tiếng Anh (đối với hiện tượng chêm xen tiếng Anh)” thì kết quả khảo sát của chúng tôi khá bất ngờ “không đồng ý” chiếm 18%, “hoàn toàn không đồng ý” chiếm 15%, trong khi đó “đồng ý” chỉ chiếm 12%, và “hoàn toàn đồng ý” chiếm 5%.
Kết quả khảo sát cho chúng ta nhận biết mức độ sử dụng các biến thể ngôn ngữ của sinh viên hiện nay trong cách đánh giá của cán bộ đa dạng vềcác mức độsử dụng biến thể ngôn ngữhiện nay.
3.3. Tiểu kết
Ở chương 3, chúng tôi đã sử dụng bảng và biểu đồ để thể hiện những ý kiến của sinh viên và cán bộ viên chức trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng về thái độ, mức độ, đối tượng và mục đích về việc lựa chọn và sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ. 150 cộng tác viên là sinh viên và cán bộ viên chức tham gia khảo sát đã cung cấp nhưng thông tin, dữ liệu đa dạng, phong phú và đáng tin cậy.
Chúng tôi phân tích về thái độ ngôn ngữ của sinh viên, cán bộ viên chức trường Đại học Ngoại ngữ đối với biến thể ngôn ngữ giới trẻlà bình thường, chấp nhận biến thể ngôn ngữ giới trẻ như một hiện tượng ngôn ngữ thường ngày trong ngôn ngữ giao tiếp.
Kết quả khảo sát và phân tích về mức độ, đối tượng và mục đích về việc lựa chọn và sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ một lần nữa khẳng định biến thể ngôn ngữ giới trẻđược sử dụng như là một phương tiện để tạo lập cộng đồng giao tiếp của sinh viên. Chủ thể sử dụng và đối tượng trong giao tiếp của sinh viên và bạn bè cùng trang lứa, duy trì giữa các vai giao tiếp bình đẳng, diễn ra trong phạm vi mạng xã hội.
KẾT LUẬN
Luận văn “Đặc điểm ngôn ngữ giao tiếp sinh viên (khảo sát ở trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng)” là một công trình nghiên cứu ứng dụng lý thuyết ngôn ngữ học xã hội, cụ thể là phương ngữ xã hội và phân tích đặc điểm ngôn ngữ giao tiếp sinh viên. Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ đặc điểm ngôn ngữ sinh viên trên bình diện hệ thống cấu trúc lẫn bình diện giao tiếp xã hội. Bằng phương pháp khảo sát ngữ liệu trên 200 đoạn confessions, 100 đoạn hội thoại của sinh vên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng chúng tôi nhận thấy:
- Ngôn ngữ giao tiếp sinh viên mang những đặc trưng của ngôn ngữ giới trẻ nói chung, với việc sử dụng thường xuyên các biến thể ngôn ngữ giới trẻ như:
- Tiếng lóng
- Chêm xen tiếng Anh vào lời nói tiếng Việt
- Kết cấu mới lạ
Qua khảo sát ngữ liệu, chúng tôi thống kê được 254 đơn vị từ vựng tiếng Anh được chêm xen với 935 lần xuất hiện. Trong đó, có những lĩnh vực nội dung xuất hiện với tần suất nhiều các từ ngữ tiếng Anh như công nghệ (công nghệ thông tin, mạng xã hội), đời sống tâm lí, văn hóa giải trí. Có những đơn vị từ vựng tiếng Anh xuất hiện nhiều như: crush, facebook, comment, confession, inbox, cmt, fb, cfs, … Có 67 từ ngữ lóng với 229 lượt xuất hiện: thả thính, bồ, xõa, phượt, gay, ném đá, bão, lầy, chảnh, … Có 24 kết cấu mới lạ với 24 lượt xuất hiện: phi công trẻ lái máy bay bà già, năm trăm anh em, trai Ngoại ngữ không cong cũng dẹo, ngắt bông cướp chậu, hiếp dâm thị giác, …
- Về đặc điểm cấu trúc của các biến thể ngôn ngữ sinh viên: Kết quả khảo sát cho thấy ba hình thức thể hiện tiêu biểu, nổi bật nhất là chêm xen tiếng Anh vào lời nói tiếng Việt với tần số xuất hiện lớn nhất. Chúng tôi đã miêu tả về các đặc điểm ngữ âm – chữ viết, ngữ pháp và ngữ nghĩa. Về hình thức ngữ âm – chữ viết, chêm xen tiếng Anh vào tiếng Việt có hai dạng xuất hiện của từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt, viết đúng theo hình thức chuẩn tiếng Anh và viết tắt tiếng Anh.Trong đó, hình thức chuẩn tiếng Anh chiếm số lượng lớn, có số lần xuất hiện 623 lần (chiếm 66.7 %). Viết tắt tiếng Anh xuất hiện 311 lần (chiếm 33.3%). Về đặc điểm ngữ pháp, chúng tôi nghiên cứu các từ ngữ tiếng Anh chêm xen ở hai khía cạnh: cấu tạo và từ loại. Về mặt cấu tạo, đơn vị tiếng Anh được sinh viên sử dụng chêm xen vào trong lời nói tiếng Việt chủ yếu là từ chiếm 87,4%, cụm từ chiếm 6.7% và câu chiếm 5.9%. Về từ loại, các từ tiếng Anh được sinh viên chêm xen vào lời nói tiếng Việt chủ yếu thuộc lớp thực từ (danh từ, động từ, tính từ, giới từ/ thán từ). Trong đó, các từ thuộc nhóm danh từ là chủ yếu. Giới trẻ chủ yếu dùng các danh từ chỉ sự vật, hiện tượng, sự kiện tiếng Anh chêm xen vào trong lời nói. Về đặc điểm ngữ nghĩa, các từ ngữ tiếng Anh được giữ nguyên dạng thì cũng có những từ ngữ tiếng Anh được các bạn sinh viên sử dụng có những biến động nghĩa so với từ ngữ gốc. Tiếp đến là hình thức sử dụng tiếng lóng, chúng tôi đã xác định các đặc điểm của tiếng lóng sinh viên: đặc điểm ngữ âm– chữ viết, đặc điểm ngữ pháp và đặc điểm ngữ nghĩa. Về hình thức ngữ âm – chữ viết, tiếng lóng được tạo nên từ ba cách thức nổi bật như sau: vay mượn từ nước ngoài, sáng tạo ra từ mới và biến đổi những đơn vị có sẵn của tiếng Việt. Trong đó, cách thức biến đổi những đơn vị có sẵn của tiếng Việt là cách thức tạo từ ngữ lóng sinh viên phổ biến nhất. Về đặc điểm ngữ pháp, chúng tôi nghiên cứu từ ngữ lóng ở hai khía cạnh: cấu tạo và từ loại. Về đặc điểm ngữ nghĩa, tiếng lóng xuất hiện những đặc điểm như sau: trường từ vựng, tính đa nghĩa, các hiện tượng đồng nghĩa và tính biểu thái, vui tươi, hài hước, dí dỏm.
Đối với các kết cấu mới lạ, qua khảo sát, chúng tôi thống kê được 24 kết cấu mới lạ. Về kích thước, hầu hết chúng là cụm từ, chỉ có một số rất ít có tư cách như câu. Về đặc điểm ngữ âm – chữ viết, kết cấu mới lạ của sinh viên được tạo nên bằng những cách thức khác nhau, trong đó nổi lên ba cách thức nổi bật như sau: phương thức hiệp vần, phương thức cải biên, phương thức sáng tạo mới. Dù theo nhiều kiểu cấu tạo khác nhau nhưng chúng có đặc điểm chung là tính nhịp nhàng, cân xứng về hình thức ngữ âm. Về đặc điểm ngữ nghĩa, xét về đặc điểm ngữ nghĩa, kết cấu mới lạ của sinh viên đã bộc lộ những đặc điểm cốt lõi của ngữ cố định tiếng Việt như: tính thành ngữ, giá trị biểu trưng, tính thời đại và giá trị biểu thái. Qua đó, chứng tỏ ngôn ngữ giao tiếp sinh viên phản ánh nhận thức mới, phong cách thời thượng của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng.
3. Về đặc điểm giao tiếp xã hội (thái độ ngôn ngữ, quan hệ giao tiếp), chúng tôi đã dùng phương pháp điều tra xã hội học để tiến hành khảo sát với 100 sinh viên và 50 cán bộ viên chức. Qua kết quả khảo sát cho chúng ta thấy, về thái độ của sinh viên trong việc lựa chọn và sử dụng các biến thể ngôn ngữ sinh viên, sự lựa chọn mức độ bình thường của các biến thể ngôn ngữ là cao nhất, tiếng lóng chiếm 76%, kết cấu mới lạ chiếm 67%, tiếng Anh chêm xen chiếm 59%. Điều đó chứng tỏ sự xuất hiện và phổ biến của các biến thể ngôn ngữ giới trẻ được chấp nhận với một thái độ đánh giá trung hòa. Qua kết quả khảo sát cho chúng ta thấy, về mức độ sử dụng các biến thể ngôn ngữ trong giao tiếp qua Confessions và hội thoại của sinh viên, thỉnh thoảng là mức độ sử dụng cao nhất chiếm đến 47%, thưởng xuyên chiếm 26%. Về đối tượng sử dụng các biến thể ngôn ngữ giới trẻ của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ, qua bảng thống kê và biểu đồ hình cột chúng ta nhận thấy có sự phân hóa rõ rệt trong đối tượng giao tiếp, với bạn bè chiếm 93%, với các phương án khác rất ít sự lựa chọn phân bố chỉ từ 1-5%. Sự phân hóa rõ rệt này khẳng định bạn bè chính là đối tượng tiếp nhận chủ yếu của biến thể ngôn ngữ giới trẻ. Sinh viên lựa chọn và sử dụng biến thể ngôn ngữ này để giao tiếp với chính những người trong nhóm của mình. Biến thể ngôn ngữ trở thành phương tiện giao tiếp đặc thù của cộng đồng sinh viên. Qua khảo sát để nhận dạng, miêu tả đặc điểm cơ bản giao tiếp chúng tôi xem xét các biến thể ngôn ngữ này trong mối tương quan xã hội, với nền văn hóa mà nó vừa là sản phẩm, vừa là công cụ. Từ góc nhìn văn hóa – ngôn ngữ, chúng tôi nhìn nhận mục đích sử dụng các biến thể ngôn ngữ như là cách thức nổi bật thể hiện bản sắc văn hóa sinh viên trong bối cảnh văn hóa đương đại. Ngôn ngữ sinh viên thể hiện cái tôi – hài hước, dí dỏm chiếm 75%, nói giảm, nói tránh những điều tế nhị chiếm 68%, nhấn mạnh điều muốn nói chiếm 49%. Và qua đánh giá của cán bộ viên chức Nhà trường chúng tôi nhận thấy mỗi loại biến thể có những mức độ khác nhau trong phương thức đánh giá cũng như sử dụng các loại biến thể, cán bộ viên chức cho rằng họ chấp nhận sinh viên của mình sử dụng các biến thể như một nhu cầu tất yếu của xã hội.
4. Trong tương lai, chúng tôi hi vọng có thể tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về phương ngữ xã hội sinh viên, khai thác theo nhiều phương diện như:(1) biến đổi hình thức chữ viết của sinh viên, (2) đặc điểm đa phương thức, …
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\NGON NGU HOC\LE THI TRANG


