Cấu trúc thông tin trong câu văn Nguyễn Huy Thiệp

Cấu trúc thông tin trong câu văn Nguyễn Huy Thiệp

Cấu trúc thông tin trong câu văn Nguyễn Huy Thiệp

1. Tính cấp thiết của đề tài

1.1. Cấu trúc thông tin (CTTT) dùng để chỉ sự phân đoạn cấu trúc của câu theo vị thế thông tin. Sự khác biệt về vị thế thông tin trong cấu trúc câu thể hiện ở chỗ trong khi một bộ phận của câu biểu thị phần thông tin mà người nói và người nghe cùng chia sẻ thì một bộ phận khác lại biểu thị phần thông tin mà người nói và (hoặc) người nghe chưa hay biết hay biết không giống nhau. Phần thứ nhất gọi là thông tin cơ sở (thông tin tiền giả định). Phần thứ hai gọi là tiêu điểm thông tin (TĐTT). Điều làm nên sự khác biệt giữa một CTTT này với một CTTT khác là do tiêu điểm thông tin chứ không phải là thông tin tiền giả định. Vì vậy để nhận diện một CTTT của câu, hay để phân biệt một CTTT này với một CTTT khác chúng ta chỉ cần căn cứ vào bộ phận quan trọng nhất của nó là TĐTT. Nói cách khác, phân tích CTTT là chỉ ra bộ phận nào đóng vai trò là TĐTT của câu.

Trong thời gian qua, CTTT đã được các nhà ngôn ngữ học thế giới lẫn giới Việt ngữ học nghiên cứu, tiếp cận từ nhiều góc độ, từ ngữ âm, ngữ pháp đến từ vựng ngữ nghĩa, trong mối quan hệ với nhiều yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh, tiền giả định, kiến thức nền, tâm lí… Tán đồng quan điểm của Lambrecht “không có câu nào là không có thông tin” [32], trong cách nhìn của chúng tôi, TĐTT là bộ phận mang thông tin quan trọng nhất của CTTT, biểu hiện sự chênh lệch thông tin giữa người nói và người nghe trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định. TĐTT có thể được nhận diện dựa vào sự đánh dấu ngữ điệu, hình thức câu, hình thức cú pháp.

Tuy nhiên, ở Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về lý thuyết CTTT, ngoại trừ một vài khảo cứu đề cập ở mức độ sơ lược. Hơn nữa, các quan điểm không thống nhất, các khái niệm đưa ra mỗi người mỗi cách, vẫn chưa có được tiếng nói chung. Vì thế, việc nghiên cứu CTTT sẽ góp phần bổ khuyết bức tranh về CTTT một cách hoàn chỉnh hơn đồng thời hứa hẹn mang lại nhiều điều mới mẻ thú vị cho những ai dụng tâm nghiên cứu và yêu thích ngôn ngữ.

1.2. Là nhà văn đương đại, Nguyễn Huy Thiệp mang trong mình dòng máu cách tân của một nền văn học sau đổi mới. Hơn ai hết, ông luôn trăn trở trong những trang viết của mình. Nguyễn Huy Thiệp đã đóng góp ở rất nhiều khía cạnh cho truyện ngắn Việt Nam đương đại: từ cách chọn đề tài, cách dựng truyện, cách xây dựng nhân vật, lối hành văn…Phạm Xuân Nguyên trong lời giới thiệu cuốn sách “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” [45] đã chỉ rõ, cái tạo nên chất “vàng” và “lạ” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là lối hành văn ngắn gọn, súc tích, nhịp điệu dồn dập mang tính hiện đại, sự kết hợp giữa hiện thực và huyền thoại, tính nhiều tầng, đa nghĩa…

Chính vì vậy mà ngay từ khi mới ra đời, những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên một tiếng vang lớn bởi nghệ thuật kể chuyện độc đáo, bởi nguyên tắc khắc họa nhân vật không phải bằng miêu tả ngoại hình mà bằng ngôn ngữ lời thoại. Số lượng lời thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là rất lớn. Dưới cái nhìn của lý thuyết CTTT, chúng tôi thấy rằng các các lời thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có cách thể hiện thông tin và đánh dấu thông tin hết sức đặc biệt. Điều này đã góp phần không nhỏ trong việc khắc họa hình tượng nhân vật và tạo nên phong cách riêng của nhà văn.

Chính vì những lý do trên mà chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài: “Cấu trúc thông tin trong câu văn Nguyễn Huy Thiệp (khảo sát lời qua thoại nhân vật)”.

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

CTTT trong lời thoại truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp được xem xét ở các phương diện: ngữ âm, từ vựng, cú pháp.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu toàn bộ các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp mà chỉ tập trung khảo sát những truyện ngắn tiêu biểu của ông được in trong hai cuốn: Tuyển truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp –tình yêu, tội ác và trừng phạt, Nxb Trẻ, 2013 và Tuyển truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp – hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt, Nxb Trẻ, 2013.

4. Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung hướng vào những mục đích cụ thể sau:

– Phân loại các kiểu CTTT trong lời thoại nhân vật.

– Chỉ ra các hình thức đánh dấu tiêu điểm thông tin trong lời thoại nhân vật.

– Nêu lên ý nghĩa của việc đánh dấu tiêu điểm thông tin trong lời thoại nhân vật.

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để thống kê các lời thoại nhân vật trong truyện ngắn và phân loại theo những tiêu chí cụ thể.

5.2. Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: Sau khi thống kê phân loại cơ sở ngữ liệu là lời thoại nhân vật, chúng tôi vận dụng phương pháp này để phân tích, miêu tả các lời thoại và đưa ra những nhận xét đánh giá. Vận dụng phương pháp này, trong từ chương, phần, mục của luận văn, chúng tôi sử dụng các thủ pháp nghiên cứu cụ thể như thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp, thủ pháp phân tích ngữ cảnh, thủ pháp phân tích vị từ-tham tố, v.v.

Bên cạnh sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là miêu tả ngôn ngữ, trong quá trình viết, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp, thủ pháp chung của các ngành khoa học khác như: Phương pháp quy nạp, diễn dịch, mô hình hóa, thủ pháp phân tích truyện ngắn… để làm rõ hơn các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn.

6. Đóng góp của đề tài

6.1. Về phương diện lý thuyết

CTTT vẫn là một vấn đề hết sức mới mẻ. Tuy nhiên, luận văn cũng đã cố gắng tiếp cận tất cả các quan niệm nghiên cứu khác nhau về CTTT, trong cái nhìn đối sánh đồng đại và lịch đại để tổng hợp thành một hướng nghiên cứu toàn vẹn nhất. Trong chừng mực nhất định, chúng tôi đưa ra một vài phát hiện về mặt lý thuyết để góp phần bổ khuyết bức tranh về CTTT hoàn chỉnh hơn.

6.2. Về phương diện thực tiễn

– CTTT vốn thuộc lĩnh vực ngữ dụng nên việc nghiên cứu vấn đề này rất hữu ích trong thực tế giảng dạy và học tiếng Việt, cho những người làm công tác trong lĩnh vực báo chí, quảng cáo truyền thông và dịch thuật.

– Từ việc nhận diện tiêu điểm thông tin trong lời thoại truyện ngắn, chúng ta có thể nhận diện thông tin trong tít báo, trong các tiêu đề văn bản nghệ thuật, tiêu đề của các tổ chức xã hội, của sản phẩm hàng hóa, của bảng hiệu, pano quảng cáo…

– Khẳng định lần nữa tài năng và sự sáng tạo của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp qua ngôn từ và giọng điệu câu văn qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm.

7. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và những vấn đề có liên quan.

Chương 2: Phân loại, miêu tả cấu trúc thông tin trong lời thoại truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.

Chương 3: Tiêu điểm thông tin và giá trị biểu đạt của TĐTT trong câu văn Nguyễn Huy Thiệp.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN

1.1. CẤU TRÚC THÔNG TIN

1.1.1. Một số quan niệm về CTTT

a. Các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về CTTT của câu. Phổ biến nhất là quan điểm đồng nhất CTTT với cấu trúc đề thuyết (theme- rheme/ comment), trong đó đề/ chủ đề được coi là thành phần biểu hiện TTC, thông tin đã được tiền giả định trong ngữ cảnh, có tỉ lực thông báo thấp nhất, còn thuyết/ tiêu điểm thường được xác định là thành phần mang TTM, thông tin chưa được tiền giả định hoặc là thành phần có tỉ lực thông báo cao nhất. Quan điểm này có nguồn gốc từ V.Mathesius. Cụ thể trong một câu đơn có thể phân thành hai bộ phận: phần thứ nhất là phần chứa cái mà trong tình huống đã cho là cái đã biết hoặc chí ít cũng dễ dàng hiểu được và người nói lấy đó làm điểm xuất phát thì gọi là đề (cơ sở), phần còn lại thông báo về điểm xuất phát là phần thuyết (hạt nhân) của phát ngôn. Vị trí của hai phần này trong câu là không cố định mà thay đổi theo sự thay đổi vị trí của cái cho sẵn và cái mới. Trong từng câu có thể phân đoạn được, hễ phần đề là T (viết tắt của Theme) đứng trước thì phần thuyết R (viết tắt của Rheme) đứng sau và ngược lại:

Cả làng Vũ Đại # nhao lên

T R

Trật tự T – R được coi là trật tự khách quan

Đen đủi # cho nó quá

R T

Trật tự R- T được coi là trật tự chủ quan [2, tr.107].

Kiểu phân đoạn đề – thuyết gắn với cái cho sẵn và cái mới này gặp phải những rắc rối nhất định vì bản thân tính khách quan và chủ quan trong việc xác định cái cũ- cái mới lệ thuộc rất nhiều vào tình huống. Hơn nữa, tính chất khách quan/ chủ quan lại gắn với ngữ cảnh nhất định nhưng ngữ cảnh thì muôn màu muôn vẻ cho nên tính chất không ổn định trong việc phân đoạn đề thuyết gắn với cũ /mới ở đây là điều tất yếu.

Ví dụ:

Byl jeclnou jeden král (Đã từng có hồi nào một ông vua)

Trường hợp câu này không thể phân đoạn được đề/ thuyết, cũ/ mới vì nó chỉ chứa phần thuyết [2, tr.108].

Bên cạnh quan niệm đồng nhất CTTT và cấu trúc đề thuyết, cũng có một số nhà nghiên cứu lại đi chệch khỏi sự phân chia lưỡng phân truyền thống này. J.Firbas đưa ra các phân đoạn tam phân là đề – chuyển đề – thuyết, trong đó chuyển đề là bộ phận là cơ sở để xác định đề/ thuyết, cũ/ mới.

ĐỀ (theme)PHI ĐỀ (non – theme)
ĐỀ

(theme)

CHUYỂN TIẾP

(transition)

THUYẾT

(rheme)

Theo J. Firbas, trong một câu thành phần nào có tính chất chung nhiều và phụ thuộc vào ngữ cảnh thì từ ấy có ít giá trị năng động giao tiếp và nó sẽ là “phần đề”. Thành phần nào có giá trị năng động nhiều hơn, độc lập với ngữ cảnh, thực hiện mục đích giao tiếp của phát ngôn sẽ là phần “phi đề” (non- theme). Firbas còn giải thích thêm “phi đề” gồm hai thành phần: chuyển đề (transition) và thuyết (rheme), chuyển đề gồm các thành phần tạo ra cốt lõi.

Thử lấy ví dụ “John has been taken ill” có chức năng thông báo về sức khỏe của John thì phần đề sẽ là “John”, chuyển đề là “has been + en” và thuyết là “take + ill” [6].

Nhà ngôn ngữ học S. Dik (1981) phân biệt vị thế thông tin của các thành tố câu ở cấp độ dụng học (trong sự khu biệt với cấp độ kết học và nghĩa học) bằng chức năng dụng học: khởi đề, kết đề (nằm ngoài nòng cốt) và chủ đề, tiêu điểm (nằm trong nòng cốt). Điều đáng lưu ý trong quan điểm của Dik là tác giả cho rằng các chức năng dụng học này không tác động đến hình thức câu theo kiểu “nếu chúng ta gắn một chức năng dụng học nào đó cho một thành tố bất kỳ của câu thì toàn bộ phần còn lại của câu phải mang một chức năng dụng học khác” [Dẫn theo 7,tr.25]. Đồng thời tác giả nhấn mạnh đến vai trò của tiêu điểm (focus) với tư cách là trọng tâm thông báo của câu.

Khác với các tác giả trên, R. Dooley (1982) cho rằng phần duy nhất bắt buộc phải có trong câu là hạt nhân dụng pháp, tức là cái lõi thông tin quan trọng nhất, phần còn lại xung quanh chỉ là một cái khung mà nội dung là một tiền giả định được chia sẻ giữa người nói và người nghe. Như vậy với Dooley, CTTT của câu là “cấu trúc một trung tâm với cốt lõi là hạt nhân dụng pháp hay hạt nhân thông báo” [Dẫn theo 7, tr.25].

Cấu trúc thông tin trong câu văn Nguyễn Huy Thiệp
Cấu trúc thông tin trong câu văn Nguyễn Huy Thiệp

b. Ở Việt Nam, những người quan tâm tới việc nghiên cứu CTTT thì không phải là ít nhưng số trang viết về nó lại không nhiều. [47, tr.200]

Khi CTTT được giới Việt ngữ học tiếp thu và nghiên cứu, đã hình thành hai luồng quan điểm tiếp nhận hoàn toàn trái ngược nhau. Một bên là đồng nhất CTTT với cấu trúc đề thuyết (như một số nhà ngôn ngữ học trên thế giới), tiêu biểu cho quan điểm này là có thể kể đến Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Lý Toàn Thắng. Còn một bên là các nhà ngôn ngữ học như Cao Xuân Hạo, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Hồng Cổn… không cho rằng CTTT là cấu trúc đề thuyết.

Những năm 80 của thế kỉ trước, quan điểm đồng nhất CTTT với cấu trúc đề thuyết không chỉ có Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Lý Toàn Thắng mà rất phổ biến trong giới Việt ngữ học, do phần nào chịu ảnh hưởng của lí thuyết phân đoạn thực tại câu. Những nhà ngôn ngữ học phân tích CTTT của câu theo tiêu chí lưỡng phân truyền thống đề/ thuyết nhưng nghiêng theo tiêu chí mở rộng coi đề là “cái được nói đến” hay là “phần được giải thích” còn thuyết là cái “nói về chủ đề” hay “giải thích cho chủ đề”. Nhìn nhận vấn đề ở mức độ sâu hơn, Lý Toàn Thắng cho rằng chủ đề – phần đề có thể đứng trước hoặc sau thuật đề/ phần thuyết và trật tự đó có thể trùng hay không trùng với trật tự của chủ ngữ, vị ngữ. “Nếu câu hai thành phần có trật tự xuôi chủ ngữ – vị ngữ được phát âm với ngữ điệu bình thường thì chủ đề trùng với chủ ngữ, thuật đề trùng với vị ngữ và câu có trật tự khách quan. Còn nếu chủ ngữ được nhấn mạnh bằng một trọng âm logic thì thuật đề lại rơi vào chủ ngữ, chủ đề trùng với vị ngữ và câu có trật tự chủ quan” [7, tr.26]. Chúng ta thấy rằng, về mặt lí thuyết, các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm tiếp cận lưỡng phân này chủ trương khu biệt sự phân đoạn thực tại (đề – thuyết hay nêu – báo) với phân với phân đoạn ngữ pháp (chủ vị) nhưng “trên thực tế việc phân định và xác lập mối tương liên giữa các chức năng của hai bình diện này rất phức tạp bởi vì tiếng Việt không có các dấu hiệu hình thức thỏa đáng nào cho phép phân biệt rạch ròi các cấu trúc lưỡng phân của hai bình diện” [Dẫn theo 7, tr.26].

Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Hồng Cổn lại trái ngược hoàn toàn với quan điểm trên. Theo nhóm tác giả này, cấu trúc đề thuyết không thể là CTTT. Dưới góc độ loại hình ngôn ngữ và ngữ pháp chức năng, các nhà ngôn ngữ học này cho rằng cần phân biệt rõ cấu trúc đề thuyết ở bình diện cú pháp với CTTT ở bình diện dụng pháp- bình diện của cách sử dụng câu (tức sử dụng những cấu trúc đề thuyết) vào những mục đích thông báo khác nhau. Cụ thể hơn theo Cao Xuân Hạo, việc đồng nhất CTTT với cấu trúc đề thuyết “may ra chỉ có thể chấp nhận được cho những ngôn ngữ quy chế hóa sự khác biệt giữa đề và chủ ngữ nhưng lại không có sự phân biệt giữa đề và cái cho sẵn còn trong các ngôn ngữ mà cấu trúc cú pháp cơ bản của câu trực tiếp phản ánh cấu trúc logic ngôn từ (như tiếng Việt, tiếng Hán) thì CTTT và cấu trúc đề thuyết phân biệt với nhau rất rõ” [Dẫn theo 7, tr.28]. Đặc biệt qua những công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Hồng Cổn đã chứng minh rằng, cấu trúc đề thuyết không phải là CTTT mà là cấu trúc cú pháp của câu, được xác lập chung cho tập hợp các phát ngôn có ngữ cảnh đồng nhất về thành tố được chọn làm đề và sử dụng thành tố còn lại làm thuyết. Còn CTTT của câu là cấu trúc cơ sở – tiêu điểm, với nhiều hiện dạng khác nhau, phản ánh sự khác biệt về vị thế thông tin giữa các thành tố cú pháp của câu trong những ngữ cảnh cụ thể theo ý định chủ quan của người nói.

c. Xét về nhiều mặt, chúng tôi thấy quan điểm phân biệt rạch ròi CTTT và cấu trúc đề thuyết là quan điểm có nhiều ưu thế hơn so với quan điểm đồng nhất CTTT với cấu trúc đề thuyết, bởi vì:

Thứ nhất, quan điểm này thực sự đã “làm cho việc phân tích câu tránh được nhiều phức tạp, rắc rối” và điều quan trọng hơn, nó cho phép phân định rạch ròi CTTT với cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của câu “nhất là đối với các ngôn ngữ thiếu vắng các phương tiện hình thức như tiếng Việt” [7].

Thứ hai, xét về mặt chức năng thì cấu trúc đề thuyết có chức năng tổ chức và truyền đạt thông điệp, trong đó đề là “cái được nói đến” hay xuất phát điểm của thông điệp, còn thuyết mang nội dung mà người nói muốn nói về đề. Khác với cấu trúc đề thuyết có chức năng tổ chức thông điệp, CTTT biểu hiện sự khác biệt về vị thế thông tin của các thành tố của thông điệp trong các tình huống giao tiếp cụ thể. Có thể lấy ví dụ sau:

(1) Em Thúy // đến Hội An sáng nay.

Ở câu này, chủ ngữ (em Thúy) của câu được chọn làm đề và vị ngữ mở rộng (đến Hội An sáng nay) đóng vai trò là thuyết. Nếu thực sự cấu trúc đề – thuyết là CTTT thì câu này chỉ có thể xuất hiện trong một ngữ cảnh duy nhất. Điều này trái với thực tế là câu (1) có thể xuất hiện ít nhất trong 5 ngữ cảnh khác nhau về giá trị thông tin (được phân biệt bằng các câu hỏi tương ứng trong ngoặc) như sau:

1a) Em Thúy // đến Hội An sáng nay. (Ai// đến Hội An sáng nay?)

1b) Em Thúy // đến Hội An sáng nay. (Em Thúy // đến Hội An bao giờ?)

1c) Em Thúy // đến Hội An sáng nay. (Em Thúy // đâu rồi?)

1d) Em Thúy // đến Hội An sáng nay. (Em Thúy // đến đâu rồi)

1e) Em Thúy // đến Hội An sáng nay. (Em Thúy // ngày mai đến Hội An à?)

(Ghi chú: Đề // Thuyết; cơ sở –tiêu điểm)

Như vậy là cùng một cấu trúc đề – thuyết nhưng các phát ngôn trên đây khác nhau về giá trị thông tin tương ứng với sự khác biệt về ngữ cảnh sử dụng (thể hiện qua các câu hỏi kiểm chứng).

Chính vì vậy nên đề tài của chúng tôi sẽ được tiến hành dựa trên quan điểm CTTT là một hướng phân tích cấu trúc câu độc lập (mặc dù có liên quan) chứ không đồng nhất với cấu trúc đề thuyết. Việc triển khai nghiên cứu theo hướng này sẽ đem lại nhiều phát hiện về mặt lý thuyết để làm sáng tỏ thêm CTTT.

1.1.2. Khái niệm CTTT

Có nhiều quan niệm về CTTT thì tất yếu sẽ dẫn đến hệ quả là khái niệm đưa ra sẽ không giống nhau, mặc dù về mặt mô tả thuật ngữ đó cùng chỉ một vấn đề, một đối tượng.

a. Theo Brown và Yule: “CTTT là đơn vị nhỏ nhất của kết cấu diễn ngôn, những đơn vị có tính cục bộ ở cấp độ cụm từ hay mệnh đề” [Dẫn theo 6]. Từ điển “Longman” về giảng dạy ngôn ngữ và ngôn ngữ học ứng dụng có cái nhìn bao quát hơn về CTTT. “CTTT là việc sử dụng trật tự từ, ngữ điệu, trọng âm và các biện pháp khác để chỉ ra thông tin biểu thị bởi một câu phải được hiểu như thế nào”[Dẫn theo 6]. Halliday lại cho rằng: trong mọi ngôn ngữ mệnh đề đều có đặc tính của một thông tin. Với quan niệm này, Halliday thừa nhận mệnh đề có chức năng thông tin chứ không phải một chuỗi thành phần mang tính chất ngữ pháp và từ vựng. Ngoài tổ chức của một mệnh đề dưới dạng các thành phần như chủ ngữ – tân ngữ và tác thể – đối thể, một mệnh đề còn là một tổ chức tương tác phản ánh mối quan hệ giữa người nói và người nghe. Người ta có thể phân tích mệnh đề thông tin theo hai loại cấu trúc: cấu trúc đề thuyết và CTTT.

b. Đối với các nhà Việt ngữ học thì trước đây vẫn hay dùng thuật ngữ “cấu trúc thông báo” để chỉ sự phân đoạn cấu trúc của câu theo vị thế thông tin của các thành tố với hàm ý khu biệt nó với cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của câu. Theo Cao Xuân Hạo (1991) Cấu trúc thông báo của câu chỉ có một trọng tâm thông báo hay là tiêu điểm biểu thị thông tin mới, được đánh dấu bằng trọng âm cường điệu. Nguyễn Hồng Cổn (2001) đã trình bày quan điểm cho rằng “Cấu trúc thông báo là cấu trúc có một trọng tâm là tiêu điểm thông báo” [7, tr.23] và khẳng định tiêu điểm thông báo là thành tố quan trọng nhất biểu thị phần thông tin mà người nói giả định là người nói và người nghe không cùng chia sẻ. Tiếp tục phát triển quan điểm này, đồng thời tiếp thu quan niệm của một số nhà nghiên cứu châu Âu, Nguyễn Hồng Cổn (2010) cho rằng: “CTTT của câu bao gồm 2 phần: phần thứ nhất có chức năng nổi bật về mặt thông tin là tiêu điểm thông tin (information focus) hay gọi tắt là tiêu điểm, phần còn lại được coi là phần cơ sở (background) của CTTT. Phạm vi của phần cơ sở và mối quan hệ giữa phần cơ sở và tiêu điểm trong CTTT do vị trí và tầm tác động của tiêu điểm thông tin quyết định” [9, tr.34].

Trong luận án nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền định nghĩa: “CTTT là sự mã hóa các bộ phận cú pháp của câu thành những thành tố thông tin theo một tổ chức nhất định dùng trong những bối cảnh giao tiếp cụ thể” [28].

c. Chúng tôi tán đồng theo quan điểm của Lambrecht về những phạm trù liên quan đến khái niệm CTTT : i) tiền giả định và thuyết định (tương đương TTC-TTM, tiền giả định –tiêu điểm…) liên quan đến quá trình cấu trúc hóa các mệnh đề thành các phần mà người nói cho rằng người nghe đã biết hoặc chưa biết. ii) tính khả định và tính hoạt hóa, liên quan đến các giả định của người nói về trạng thái biểu hiện tinh thần của các sở chỉ diễn ngôn trong nhận thức của người nghe tại thời điểm phát ngôn. iii) chủ đề và tiêu điểm, liên quan đến sự đánh giá của người nói đối với tính có thể dự đoán tương đối và tính không thể dự đoán của các quan hệ giữa mệnh đề và các yếu tố của chúng trong các tình huống diễn ngôn nhất định. [32, tr.19]

Từ những cặp phạm trù này, chúng tôi nhận thấy có một số vấn đề cần được làm rõ:

Thứ nhất, có hai hình thức để xác định tình trạng thông tin của một câu: i) hình thức phân đoạn thông tin trên cấu trúc bề mặt thành hai phần rõ rệt: TTC-TTM (đây là trật tự cơ bản, không phải cho mọi trường hợp), có sự trùng hợp ngẫu nhiên với phân đoạn đề – thuyết, tiền giả định – tiêu điểm; ii) hình thức xác định tình trạng thông tin trên một thành tố bất kì trong câu và tiến hành tiêu điểm hóa thông tin bằng trọng âm cường điệu, bằng cấu trúc cú pháp.

Thứ hai, CTTT phụ thuộc rất lớn vào ngữ cảnh. Đặt trong một ngữ cảnh/ tình huống cụ thể, người nói quyết định thành phần nào là tiêu điểm, thành phần nào là tiền giả định và có thể dựa vào nhiều yếu tố để nhận diện đâu là TĐTT.

Từ đó, có thể hiểu một cách cơ bản về khái niệm CTTT như sau: “CTTT là sự mã hóa các thành phần của câu thành 2 bộ phận, phần thứ nhất có chức năng nổi bật về mặt thông tin là tiêu điểm thông tin (gọi tắt là tiêu điểm), phần thứ 2 là phần cơ sở thông tin (gọi tắt là cơ sở). Tùy thuộc vào thời điểm phát ngôn (ngữ cảnh, tình huống) cụ thể để xác định đâu là TĐTT, và TĐTT có thể được nhận biết bằng nhiều yếu tố (ngữ điệu, từ vựng…).

Từ khái niệm này, luận văn đi vào tìm hiểu những phạm trù có liên quan đến CTTT như: thông tin cũ, thông tin mới, tiêu điểm thông tin.

1.1.3. Khái niệm thông tin cũ (TTC), thông tin mới (TTM), tiêu điểm thông tin (TĐTT)

a. Không chỉ có những quan điểm khác nhau về cách nhìn nhận, về việc đưa ra khái niệm, các nhà ngôn ngữ học trên thế giới còn đưa ra các nhận định khác nhau về tình trạng cũ/ mới của thông tin.

Halliday mô tả tình trạng cũ/ mới của thông tin dưới góc độ dự tính của người nói: “TTC được mô tả như là được người nói xử lý như có thể tìm lại được bằng phép trùng lặp hay nhờ tình huống và TTM được cho là tiêu điểm thể hiện ở chỗ người nói trình bày nó như là không thể tìm lại được từ diễn ngôn đi trước” [Dẫn theo 20, tr.280].

W. Chafe quan điểm TTC là cái người ta hy vọng người nghe đã biết rồi. Tính chất cũ là dễ thay đổi, nó sẽ được coi là cũ khi nó còn nằm trong ý thức của người nói vào thời điểm phát ngôn. Tình trạng cũ nên giới hạn đến kiến thức của người nói giả định là nằm trong nhận thức của người nghe ở thời điểm phát ngôn. Herb Clark thừa nhận quan điểm chung về tình trạng “cũ” do Chafe miêu tả, TTC là cái hy vọng người nghe đã biết rồi. TTC là cái có thể được xác định một cách đơn nhất, là cái mà người nói tin rằng cả hai đều đồng ý và người nói đang khẳng định niềm tin của mình về thông tin ấy còn TTM là cái chưa được biết.

Không đồng tình với quan điểm Halliday và Chafe, các nhà ngôn ngữ học tâm lý như Clark và Sanfor Garrod chủ trương phát triển quan điểm của Clark về TTC, TTM. Quan điểm TTC của những nhà ngôn ngữ học này liên quan đến cấu trúc kiến thức nền. Họ đưa ra mô hình xử lí gợi nên khái niệm kịch bản. Kịch bản được mô tả ở đây là một sơ đồ rập khuôn nào đó của kinh nghiệm trong quá khứ. “TTC không phải vì tình trạng được người nói người viết gán cho thông tin, cũng không phải vì nó nổi trội trong ngữ cảnh hoặc được đề cập đến trước trong ngôn cảnh mà bởi vì tình trạng trong kịch bản mà ngôn ngữ gợi nên. Như vậy nền kịch bản tòa án được xác lập, một “luật sư” sẽ hình thành nên một phần của kịch bản này và vì thế có thể được xem như là cũ” [Dẫn theo 20, tr.282].

Prince lại đưa ra sự phân loại mở rộng cho TTC và TTM. Cách phân loại của Prince đã thỏa mãn và giải quyết được những vấn đề bất cập gây tranh cãi giữa một bên là các nhà ngôn ngữ học Halliday và Chafe, một bên là các nhà ngôn ngữ tâm lý như Clark và Sanfor Garrod. Prince đề xuất người nói có thể giới thiệu thực thể mới vào diễn ngôn. Lớp thực thể thứ nhất gọi là thực thể mới gồm hai loại: i) thực thể mới hoàn toàn (được giả định là người nói không biết đến và sẽ được đưa vào diễn ngôn bằng một biểu thức không xác định). ii) thực thể chưa được dùng (được người nói giả định là người nghe có biết đến trong thời điểm phát ngôn). Lớp thực thể thứ hai gọi là cái có thể suy luận ra. Đây là thực thể mà người nói giả định người nghe có thể rút ra từ thực tiễn diễn ngôn đã được giới thiệu. Sự phân loại lớp thực thể này đã đáp ứng được yêu cầu của các nhà ngôn ngữ học tâm lý Clark và S.Garrod. Tập hợp các thực thể diễn ngôn thứ ba là lớp được gợi lên : i) được gợi lên nhờ tình huống, ii) được gợi lên trong văn bản. Và sự phân loại lớp thực thể được gợi lên này chính là điều mà các nhà ngôn ngữ học Halliday và Chafe mong đợi.

Dahl (1976) dùng khái niệm cái được tiền giả định và thông tin mệnh đề để chỉ cái cũ và cái mới. Xét theo nghĩa thuật ngữ, cái cũ ở đây sẽ tương đương với cái được tiền giả định. Chúng ta có thể nói rằng người nghe nhận thông tin mới theo nghĩa anh ta sẽ biết hoặc tin nhiều hơn về thế giới mà anh ta đã biết đến trước đó. Điều anh ta tin có thể đúng hoặc sai – thông tin về thế giới mà anh ta nhận được có thể chính xác hoặc không chính xác. Nếu chúng ta chấp nhận nhận định cuối cùng đó thì nhận định tiếp theo là điều mà anh ta tin hay thông tin mới ấy phải là điều gì đó có thể đúng hoặc sai – đó là cái thường được gọi là mệnh đề. Vì thế chúng ta hãy gọi loại thông tin này là thông tin mệnh đề [Dẫn theo 32, tr.65].

Kế thừa quan điểm của Dahl, TTC là khối kiến thức được gợi ra trong một câu mà người nói cho là đã có sẵn trong đầu người nghe tại thời điểm phát ngôn – tức là “cái cũ”, “cái đã được đưa ra” hay “cái đã được tiền giả định”. Còn TTM là thông tin được thêm vào cho kiến thức đó bởi chính phát ngôn. Lambrecht đề nghị thay bằng các thuật ngữ cụ thể hơn là “tiền giả định” (tiền giả định dụng học) và “thuyết định” (thuyết định dụng học). Trong đó, tiền giả định dụng học là tập hợp tất cả các mệnh đề được gợi ra vể mặt từ vựng ngữ pháp trong một câu mà người nói cho rằng người nghe đã biết hoặc đã coi là chuyện đương nhiên tại thời điểm câu đó được phát ngôn. Thuyết định dụng học là mệnh đề được diễn đạt bởi một câu mà người nghe được hi vọng là sẽ biết hoặc sẽ coi là chuyện đương nhiên sau khi nghe câu đó được phát ra.

Tóm lại, đối với các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, lí thuyết CTTT vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngõ, vẫn chưa có tiếng nói chung và thống nhất, vẫn còn chờ đợi những công trình nghiên cứu với nhiều đóng góp mới hơn nữa trong tương lai.

b. Đối với các nhà Việt ngữ học, khái niệm TTC, TTM được mô tả qua nhiều thuật ngữ khác nhau: chủ đề (topic) – chú giải (comment); tiêu điểm (focus) – nền (background); cho sẵn (given) – mới (new)…

Các nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Bùi Minh Toán…đều cho rằng CTTT của phát ngôn gồm hai phần: phần tin cũ và tin mới (cái cho sẵn – cái mới) và tình trạng cũ – mới của thông tin phụ thuộc vào ngữ cảnh.

Cụ thể hơn, theo Cao Xuân Hạo, một yếu tố nào đó của câu thường được coi là “mới” (tức là mang “thông tin mới”), nếu nó thông báo một nội dung mà “người nói cho là không có mặt trong ý thức của người nghe” lúc sắp nói. Nếu dùng câu hỏi để kiểm nghiệm, thì phần mang thông tin mới sẽ trực tiếp trả lời cho các câu hỏi ai? gì? nào?, ..vv. Chẳng hạn, trong một câu như “Hôm nay tôi sẽ sửa cái máy này”, tuỳ theo tình huống, ngôn cảnh ứng với các các câu hỏi trên, cái “mới” có thể là bất cứ từ nào, phần nào [22, tr.76]. Còn cái “cũ” hay “cái cho sẵn” là cái mà người nói căn cứ vào tình huống của cuộc đối thoại mà ước đoán là đang có mặt trong ý thức của người nghe lúc mình sắp nói. Theo Bùi Minh Toán , tin mới là phần tin mà ở thời điểm nói hay viết ra một phát ngôn được đưa vào lần đầu tiên trong cuộc giao tiếp. Còn phần thông tin cũ là thông tin mà cả người nói lẫn người nghe đều đã đoán định được trong lúc phát ra câu [56, tr.130]

Tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (2001), cũng sử dụng khái niệm cặp tin cũ – tin mới. Ông cho rằng tin cũ là phần tin đã biết hoặc dễ nhận biết trong câu, tin mới là phần tin chưa biết. Ông cũng đưa ra mối quan hệ của tin cũ, tin mới với phần đề – thuyết. Đặc biệt, Diệp Quang Ban còn đưa ra khái niệm tiêu điểm thông báo (information forcus). Theo ông, trong phần tin mới, chỗ thông tin được nhấn mạnh sẽ là tiêu điểm thông báo. Nhưng đến năm 2004, Diệp Quang Ban sử dụng thuật ngữ cái cho sẵn và cái mới thay cho khái niệm cặp tin cũ – tin mới. Ông lí giải rằng phần cho sẵn là phần không mang tin, theo đúng nghĩa của từ tin, nên không thể gọi là tin cũ.

Kế thừa những nghiên cứu của Nguyễn Minh Thuyết, Diệp Quang Ban, Trần Ngọc Thêm, tác giả Trần Kim Phượng (2012) trong cuốn Các phương pháp phân tích câu [47], dùng khái niệm cho sẵn- cái mới và ông đưa ra 4 tiêu chí để xác định cái cho sẵn- cái mới.

(1) Tiêu chí về ý nghĩa chức năng. Cái cho sẵn là xuất phát điểm của thông báo, là cái đã biết (hoặc dễ nhận biết) mà từ đó người nói bắt đầu thông báo của mình; còn cái mới là trọng tâm của thông báo, tức là điều mà người nói nói về cái được gọi ra ở phần cho sẵn.

(2) Tiêu chí về vai trò cú pháp. Cái cho sẵn – cái mới là các thành phần chính làm nên nòng cốt câu, khả năng lược bỏ chỉ xảy ra đối với phần cho sẵn khi văn cảnh và tình huống cho phép.

(3) Tiêu chí về vị trí. Vị trí thường thấy là cái cho sẵn đứng trước cái mới.

(4) Tiêu chí về dấu hiệu hình thức phân giới hai phần. Dựa vào 4 dấu hiệu chính: hư từ, ngữ điệu, khả năng lược bỏ, phép liên kết câu (lặp, thế).

Đối với khái niệm tiêu điểm thông báo, Trần Kim Phượng cũng tán đồng quan điểm “trong cái mới, chỗ được nhấn mạnh là tiêu điểm thông báo. Nói cách khác, phần quan trọng nhất trong thông tin mới sẽ được gọi là tiêu điểm thông báo”.[47, tr.212]. Tiêu điểm thông báo là nơi tập trung chú ý của người nói nhằm làm cho người nghe hiểu đúng điều mà người nói muốn khẳng định, nhấn mạnh. Nó có thể rơi vào bất cứ thành phần ngữ pháp nào.

Với quan niệm CTTT gồm 2 bộ phận: thông tin tiền giả định và tiêu điểm thông tin, Nguyễn Hồng Cổn cho rằng khái niệm “tiêu điểm thông tin” (trước đây tác giả dùng tiêu điểm thông báo) không trùng với khái niệm thông tin mới. Theo Nguyễn Hồng Cổn, nếu dùng khái niệm TTM theo định nghĩa của Cao Xuân Hạo thì chỉ đúng với trường hợp các câu tường thuật, mà chủ yếu là của các câu trả lời cho những câu hỏi ai? gì? nào? “Ở những câu này, cái “mới” quả là cái “chưa có trong ý thức của người nghe” hay cái mà “người nghe chưa biết”. Tuy nhiên, đối với các câu hỏi thì tình hình không phải như vậy. Ở đây cái mới không phải là cái người nghe chưa biết mà chính là cái người nói chưa biết hay đang muốn biết, được đánh dấu bằng chính các đại từ để hỏi như ai? gì? nào? thế nào? Người nói sử dụng các câu hỏi này dựa trên tiền giả định rằng những thông tin thiếu hụt ở tiêu điểm hỏi có trong ý thức của người nghe tại thời điểm nói.” [7]. Nguyễn Hồng Cổn còn giải thích thêm rằng không phải khi nào tiêu điểm thông báo cũng mang “thông tin mới”, và là “thông tin quan trọng nhất”. Điều này chỉ đúng đối với các câu hỏi có dùng đại từ nghi vấn cũng như ở các câu trả lời tương ứng của chúng. Nếu mở rộng diện xem xét, có những câu phần mang thông tin quan trọng nhất và là trọng tâm thông báo của câu nhưng không phải là mới đối với người nghe hay người nói.

Xét ví dụ sau: a) Này, cậu uống chè hay cà phê?

b) Cho mình ly cà phê. [7, tr.27].

Từ cà phê ở (b) là phần trọng tâm thông báo, mang thông tin quan trọng nhất của câu trả lời, nhưng nó không mới vì nó đã xuất hiện trong câu ngữ cảnh (a), và đã có sẵn trong ý thức của người nghe trước thời điểm nói. Điều này gợi ý rằng phần mang “thông báo quan trọng nhất” hay là “trọng tâm thông báo” của câu, tức là tiêu điểm, không phải bao giờ cũng mang “thông tin mới”. Và tác giả kết luận: tiêu điểm của câu là “phần thông tin trong câu mà người nói giả định rằng nó không được người nói và người nghe cùng chia sẻ”. Nói cách khác TĐTT là phần duy nhất trong CTTT của câu cho thấy sự chênh lệch về thông tin giữa người nói và người nghe, xét theo sự đánh giá của người nói.

Cùng quan điểm với Nguyễn Hồng Cổn, có thể kể đến Nguyễn Thị Thanh Huyền [28]. Tác giả quan niệm về TTC, TTM như sau: “TTC là điều người nói và người nghe cùng biết do sự hiện hữu của đối tượng hoặc được tri nhận thông qua ngữ cảnh hoặc đã được đề cập đến trong ngôn cảnh – văn cảnh. TTM là điều mà người nói cho là người nghe chưa biết, hoặc là không khôi phục lại được từ ngữ cảnh” [28]. Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền thì tính chất cũ, mới của thông tin chỉ mang tính tương đối mà thôi. Nghĩa là người nói có thể ấn định thông tin cũ/ mới nhưng trong ngữ cảnh cụ thể nhưng việc xử lý thông tin lại tùy thuộc vào người nghe. Điều này đã làm xuất hiện một lớp thông tin phái sinh, trong đó câu hoặc chỉ toàn TTM, ranh giới cũ/ mới bị triệt tiêu, hoặc nảy sinh một lớp thông tin mang tính luận suy gọi là thông tin hàm ẩn. Và Nguyễn Thị Thanh Huyền đi đến kết luận: “Bất kể thông tin nào, dù là mới hay cũ nếu quan trọng thì đều mang tính tiêu điểm, một khi mang tính tiêu điểm thì thông tin đó được coi là mới.” [28].

c. TTC, TTM, TĐTT là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài, đến việc xác định TĐTT trong lời thoại nhân vật.

Với quan niệm CTTT của câu gồm 2 thành phần TTC-TTM, TĐTT là thành phần được nhấn mạnh ở TTM. Quan điểm này không sai nhưng chưa đúng ở một số trường hợp như Nguyễn Hồng Cổn đã phân tích. Chúng ta thử xét ví dụ sau:

“Tôi hỏi mẹ tôi: “Ai // cứu con?” Mẹ tôi mỉm cười: “Mẹ Cả// cứu”. Tôi định hỏi thêm nhưng mẹ tôi đã đi ra ngoài, đi sao lá cúc tần sắc cho tôi uống”

(Nguyễn Huy Thiệp – Con gái thủy thần)

Ở phát ngôn “Ai cứu con?” thì không có TTM mà chỉ có “ai” đóng vai trò là TĐTT và chính TĐTT này là thành phần quan trọng nhất của phát ngôn. Vì vậy nên quan niệm câu gồm 2 thành phần TTC và TTM, trong phần TTM, chỗ thông tin được nhấn mạnh sẽ là TĐTT chỉ đúng ở một số trường hợp.

Chúng tôi thừa nhận quan điểm kiến giải mở rộng của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Hồng Cổn và Nguyễn Thị Thanh Huyền về tính chất mới của thông tin. Đây là một cái nhìn mới, cho phép chúng ta giải quyết triệt để những trường hợp “ngoại lệ” như trên.

Một thuộc tính cơ bản của thông tin trong ngôn ngữ tự nhiên là bất cứ điều gì được người nói thừa nhận mà mới đối với người nghe là thông tin được thêm vào cho kho tàng kiến thức đã có sẵn trong đầu người nghe. Đầu người nghe không phải là một tờ giấy trắng mà các mệnh đề mới được viết lên đó. Vì thế, việc truyền đạt thông tin đòi hỏi người nói phải liên tục có những giả thiết về trạng thái hiểu biết của người nghe khi phát ngôn diễn ra. Thông thường, thông tin chỉ có thể được truyền đạt khi những giả thuyết của người nói về trạng thái hiểu biết của người nghe là chính xác, nghĩa là khi thông tin mà người nói đang cố truyền đạt chưa tích trữ trong đầu người nghe. Trạng thái chưa biết của người nghe không bao giờ là tuyệt đối cả. Vì vậy, theo chúng tôi cần phải phân biệt tính chất mới của thông tin trong 2 trường hợp: (1) TTM xét từ bản thân diễn ngôn (từ phía người nói); (2) TTM xét trong sự tương tác giữa thông tin với sự hiểu biết chung và tâm lý người nghe.

Chúng ta thử xét ví dụ sau:

– Cái Tí ngủ rồi hả con? (1)

– Lại giả vờ ngủ đấy mẹ. (2)

Trong phát ngôn (2) không có TTM, mà chỉ có từ hồi chỉ “lại” đóng vai trò chỉ xuất TĐTT “lại giả vờ ngủ”. Bởi việc giả vờ ngủ của cái Tí là việc đã từng xảy ra trước đó, được tiền giả định rằng đã có trong ý thức của người nghe.

Trong phạm vi của đề tài, cụ thể xác định đâu là thông tin quan trọng trong lời thoại nhân vật thì thông tin này phải được xem xét dưới cả hai góc độ: xét dưới góc độ dự tính của người nói và xét trong sự tương tác giữa thông tin với sự hiểu biết chung và tâm lý người nghe.

Bên cạnh đó còn có cả việc xác định các yếu tố không hẳn là mới, song vẫn được coi là yếu tố mới do được người nói chủ định nhấn mạnh nhằm đối lập nó với một thành tố nào đó trong câu hoặc đối lập nó với một yếu tố khác vắng mặt hay có mặt trong ngôn cảnh, bằng một phương thức ngôn ngữ nào đó. Trong một đơn vị thông tin bao giờ cũng có một hay một vài thành tố hạt nhân có chức năng tập trung thông tin, những yếu tố này chính là TĐTT. Trong một câu, có thể có một hay hơn một TĐTT.

Định nghĩa của Bolinger về cái mà ông gọi là “điểm thông tin” của một câu:

“Chúng ta có thể cho rằng trọng âm ngôn điệu…đánh dấu “điểm nhấn” của câu, nơi có sự tập trung thông tin lớn nhất mà ít nhất người nghe cũng có thể luận ra mà không cần được thông báo”. [Dẫn theo 32, tr.274]

Chúng ta có thể kết luận TĐTT là một loại nhấn mạnh mà nhờ đó người nói có thể giới hạn một phần (có thể là toàn bộ) của một khối thông điệp thành một phần mà anh ta muốn được hiểu là có thông tin. Cái thuộc tiêu điểm là thông tin “mới”, không phải theo chiều hướng nó không thể được đề cập trước đây, mặc dù sự thật là nó không được đề cập, mà theo chiều hướng người nói giới thiệu nó như là điều không thể được phục hồi từ diễn ngôn trước đó….Tiêu điểm của thông điệp đó, như được gợi ý, được người nói giới thiệu như là thông tin mới, không thể phát sinh theo văn bản.

Tóm lại, CTTT là một lí thuyết còn khá mới mẻ, bất cứ vấn đề nào đưa ra đều không có tiếng nói đồng nhất. Điều này tạo nên tính hai mặt: thứ nhất, gây khó khăn cho vấn đề ứng dụng CTTT trong nghiên cứu, bởi nhiều quan điểm, nhiều cách tiếp cận sẽ khó xác định đâu là quan điểm toàn diện nhất; thứ hai, CTTT có thể ví như mảnh đất mới chưa được cày xới và đang chờ những công trình nghiên cứu giá trị hơn nữa. Chính vì mảnh đất mới nên sẽ hứa hẹn mang lại nhiều thành quả đáng kể cho những ai dụng tâm nghiên cứu và yêu thích nó.

1.1.4. Dấu hiệu nhận biết TĐTT

Theo Lambrecht, CTTT được biểu hiện về mặt hình thức qua các phương tiện ngôn điệu, các dấu hiệu ngữ pháp đặc biệt, qua hình thức của các thành tố cú pháp…[32, tr.19]

Thành phần thông tin quan trọng và nổi bật nhất của CTTT chính là TĐTT (focus). Nhìn chung, việc xác định tiêu điểm trong câu khá dễ vì nó nổi bật trên trục kết hợp và trục đối vị so với các yếu tố ngôn ngữ liên quan và được đánh dấu bằng các phương tiện ngôn ngữ như ngữ điệu, một số yếu tố từ vựng hoặc thay đổi vị trí các thành phần câu…Chúng tôi đã tập hợp thành 5 dấu hiệu cơ bản để nhận biết TĐTT.

a. Dựa vào hình thức trình bày của ngôn ngữ

Trong các chức năng của giao tiếp, có một chức năng hết sức quan trọng là chức năng thông tin. Nhưng không phải bao giờ thông tin cũng được truyền đạt từ người phát ngôn đến người thụ ngôn một cách hiệu quả. Bởi trong quá trình giao tiếp, thông tin còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố tác động không mong muốn từ bên ngoài. Chính vì vậy các hình thức ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc hỗ trợ định danh thông tin, giúp quá trình truyền đạt thông tin từ phía người phát ngôn đến người thụ ngôn có hiệu quả hơn. Hơn nữa, trong ngôn ngữ nói, TĐTT được đánh dấu bằng sự nhấn mạnh của trọng âm cường điệu thì trong ngôn ngữ viết, sự nhấn mạnh này được mã hóa bằng hình thức trình bày của ngôn ngữ.

Vấn đề hình thức trình bày ngôn ngữ ở đây có thể được xem xét ở 2 góc độ: hình thức thuần túy ngôn ngữ và hình thức hỗ trợ ngôn ngữ. i) hình thức thuần túy ngôn ngữ được thực hiện thông qua sự hiện diện của câu chữ. Đó có thể là cách viết hoa các từ, là cách dùng dấu câu: …; -; “”; ,..?.! để đánh dấu TĐTT. i) hình thức hỗ trợ ngôn ngữ có thể là cỡ chữ (to, nhỏ), kiểu chữ khác thường…

Ví dụ:

(a) Tuần tới thi môn điều kiện, cậu mà 4 điểm thì không được nhận bằng tốt nghiệp.

(b) Sinh viên ra trường cần có “kĩ năng mềm” mới dễ xin việc.

Môn điều kiện, 4 điểm, “kĩ năng mềm” là những thành phần được nhấn mạnh, đóng vai trò là TĐTT. Những từ này được nhấn mạnh để ngầm một sự đối chiếu với những từ khác có thể thay thế nó ở cùng vị trí ấy trong câu: môn điều kiện chứ không phải môn chuyên ngành, 4 điểm chứ không phải 5 điểm, “kĩ năng mềm” chứ không phải “kĩ năng cứng”.

Trong ngôn ngữ nói sự nhấn mạnh thể hiện thông qua trọng âm câu còn trong ngôn ngữ viết sự nhấn mạnh thể hiện qua hình thức thuần túy ngôn ngữ (dấu ngoặt kép ở ví dụ b) và hình thức hỗ trợ ngôn ngữ (kiểu chữ in nghiêng ở ví dụ a). Trong lĩnh vực báo chí, ngôn ngữ truyền thông thì cách đánh dấu TĐTT này hiệu quả đáng kể.

b. Dựa vào ngôn điệu

* Hiện tượng ngôn điệu gồm có: ngữ điệu, thanh điệu, trọng âm. CTTT theo Halliday được hiện thực hóa qua ngữ điệu, thể hiện qua 3 yếu tố.

Thứ nhất, đóng gói thông tin, tức là nhóm lời nói thành những đơn vị thông tin và người nói tự do quyết định thông tin bắt đầu và kết thúc ở đâu.

Ví dụ: John đã đi ra vườn với Mary có thể thành 2 hoặc 3 nhóm.

(a) John – đã đi ra vườn với Mary

(b) John – đã đi ra vườn với – Mary [20, tr.254]

Thứ 2, nhóm trọng âm và trọng âm (tone group and tonics)

Các đơn vị thông tin được hiện thực hóa trực tiếp qua lời nói như là các nhóm trọng âm và người nói sẽ phân bố định lượng thông tin mà anh ta muốn biểu hiện thành các đơn vị xác định về mặt âm vị.

Ví dụ: lời kể chuyện cổ tích của một cô bé 4 tuổi

  1. // ^ in a / far –away / LAND//
  2. // ^ there / lived a / bad / naughty / FAIRy//
  3. // ^ and a handsome / PRINCE //
  4. // ^ and a / lovely / PRINcess //
  5. // ^ she was a / really / WICKed / fairy // [20, tr.247]

(Cách viết hoa: trọng âm, dấu // là nhóm trọng âm bằng và dấu ^ là khoảng lặng)

Thứ 3, đơn vị dừng xác định, nghĩa là dựa vào các khoảng dừng trong phát ngôn để xác định thành phần tin nào mà người nói cho là quan trọng hơn.

* Theo Nguyễn Hồng Cổn, phương tiện ngôn điệu đánh dấu TĐTT điển hình nhất là trọng âm câu (sentence stress). Trọng âm có thể được dùng đánh dấu cả 3 loại tiêu điểm (hỏi, khẳng định, tương phản) nhưng mức độ nổi bật về trọng âm ở 3 loại tiêu điểm ấy có sự khác nhau. Cùng ở vị trí cuối câu nhưng tiêu điểm tương phản được đánh dấu nổi trội về mặt trọng âm hơn tiêu điểm hỏi và tiêu điểm khẳng định. Ngoài trọng âm, TĐTT còn được đánh dấu bằng ngữ điệu đặc biệt là những trường hợp tiêu điểm trùng cả câu. Ví dụ: “Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi!”; “Cháy nhà ông Tư rồi!”

* Nguyễn Thị Thanh Huyền thì dựa vào 3 chức năng ngữ dụng của ngữ điệu, trọng âm để đánh dấu TĐTT: i) đóng gói thông tin, bằng cách nhóm thông tin thành những khúc đoạn khác nhau. Ví dụ “…// Tôi cũng sợ/ người ta nói ra/ nói vào chứ.// Mình nói một, / người ta nói hai,/ nói ba//”; ii) tiêu điểm hóa thông tin, bằng trọng âm cường điệu. Ví dụ: Hôm nay mẹ mua áo cho Minh (Chứ không phải cho Nam), Hôm nay mẹ mua áo cho Minh (Chứ không phải mua cặp sách) [28]; iii)cung cấp thông tin hàm ẩn bằng ngữ điệu tình thái đặc biệt với sự kết hợp của trọng âm cường điệu, thông tin có thể được giải mã theo chiều tích cực hoặc tiêu cực tùy vào ngữ cảnh và thái độ cử chỉ của người nói.

Ngữ điệu là đặc trưng của câu, trọng âm là đặc trưng của từ, hai yếu tố này có đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ xuất TĐTT.

c. Dựa vào từ vựng

* Harris cho rằng hình thức cú pháp thường liên hệ thông tin “cũ” bao gồm: i) ngữ danh từ (các đơn vị từ vựng được đề cập đến lần thứ 2, các đơn vị từ vựng là những trường ngữ nghĩa của các đơn vị từ vựng trước đó); ii) đại từ (đại từ dùng theo phép trùng lặp, đại từ dùng theo phép ngoại chiếu). Trong tiếng Anh, sự có mặt của 2 mạo từ A và THE cũng xác định được tình trạng cũ mới của thông tin.

Ví dụ: Khi đề cập đến tri giác ban đầu chưa biết: “The goes A Beggar, with A long Beard”. Người đàn ông ấy ra đi và quay lại một tuần sau. Lúc này phát ngôn sẽ là: “The goes THE Beggar, with THE long Beard.”, chỉ có mạo từ thay đổi và phần còn lại vẫn được giữ nguyên [Dẫn theo 20, tr.266].

* Theo kiến giải của chúng tôi, về hình thức từ vựng, để nhận biết TĐTT, còn có thể dựa vào từ hồi chỉ- khứ chỉ, trợ từ, phó từ.

+ Từ hồi chỉ – khứ chỉ

Từ hồi chỉ – khứ chỉ nếu xét về mặt ngữ nghĩa thì những từ này được xem là thông tin cũ và trong phát ngôn, khi có những từ này xuất hiện thì phát ngôn đó không còn mang TTM nữa vì những sự việc được nói ra đã có trong ý thức của người nghe (đã nói ra rồi).

Ví dụ: (1) Nó lại bỏ nhà ra đi.

TĐTT

(2) Thêm người chết vì nạn dịch.

TĐTT

Ở ví dụ (1) người đưa ra phát ngôn đã định vị thông tin việc nó bỏ nhà ra đi là thông tin mà người nghe đã biết, vì nó đã từng bỏ nhà đi rồi. Lần này nó “lại bỏ nhà ra đi” thì từ hồi chỉ “lại” đánh dấu phần từ ngữ đi sau nó chính là TĐTT mà người nói muốn thông báo.

Đối với ví dụ (2) cũng tương tự, người đưa ra phát ngôn đã định vị thông tin việc người chết vì nạn dịch là chuyện đã xảy ra và người nghe đã biết rồi. Bây giờ thêm người chết nạn dịch thì từ khứ chỉ “thêm” đánh dấu thành phần phía sau là TĐTT của phát ngôn.

Ví dụ (1), (2) một lần nữa đã chứng minh rằng, việc dùng khái niệm TTM không đúng cho trường hợp CTTT có chứa từ hồi chỉ, khứ chỉ. Việc dùng khái niệm TĐTT thích hợp cho mọi tình huống bởi vì bản thân nó là một khái niệm có nội hàm và ngoại diên rộng hơn.

Chúng ta có thể hình thành quy tắc thứ nhất về nhận diện TĐTT theo hình thức từ vựng: Nếu trong một phát ngôn có xuất hiện từ hồi chỉ hoặc khứ chỉ thì thành phần theo sau từ hồi chỉ khứ chỉ chính là TĐTT.

+ Trợ từ

Trợ từ có 2 loại: trợ từ tình thái và trợ từ nhấn mạnh. Trợ từ tình thái biểu thị tình cảm và trợ từ nhấn mạnh có tác dụng nhấn mạnh thông tin. Cấu trúc ngữ nghĩa – ngữ dụng cơ bản của trợ từ nhấn mạnh gồm các thành tố:

i) Đánh dấu định vị thành phần được nhấn mạnh (nghĩa là chỉ ra cho người nghe biết thành phần thông tin nào, bộ phận thông tin nào được người nói chú tâm nhấn mạnh).

ii) Biểu thị sự đánh giá của người nói về tầm quan trọng của thông tin được nhấn mạnh. Nội dung của sự đánh giá có thể diễn đạt đại thể: phân đoạn thành phần thông tin được đánh dấu, theo đánh giá của người nói là cái có ý nghĩa quan trọng hay đáng được lưu ý ở một phương diện nào đó, cần chú ý để xử lý, ứng xử thích hợp.

Ở thành tố thứ nhất, trợ từ trực tiếp nhấn mạnh vào thành phần đi sau nó, thành phần mà nó phụ thuộc về mặt ngữ pháp.

Ví dụ: (1) “Chính anh đang ở thiên đường”

TĐTT

(2) “Đến cán bộ cũng phạm luật”

TĐTT

Ở thành tố thứ hai, việc dùng trợ từ nhấn mạnh gắn liền với sự đánh giá của người nói về ý nghĩa quan trọng, về tính đáng lưu ý của một thành phần thông tin nào đó. Xét trong nội bộ CTTT, trợ từ nhấn mạnh tác động vào những yếu tố khác nhau nào đó trong câu sẽ làm thay đổi điểm nhấn tiêu điểm.

Ví dụ:

(1) Chính người dân tham gia ngăn chặn hàng độc, hàng giả tràn lan.

TĐTT

(2) Người dân tham gia ngăn chặn chính hàng độc, hàng giả tràn lan.

TĐTT

Trợ từ nhấn mạnh quy định kiểu hoàn cảnh sử dụng, quy định luôn cả các thao tác tương ứng, các bình diện xuất phát và hướng người ta trong việc xử lý TĐTT. Từ đó, chúng ta có thể hình thành quy tắc thứ hai về nhận diện TĐTT theo hình thức từ vựng: Nếu trong một phát ngôn có xuất hiện trợ từ thì tổ hợp từ ngữ đứng sau trợ từ mà trợ từ nhấn mạnh chính là TĐTT.

+ Phó từ

Phó từ là những phụ từ đi kèm với động từ và tính từ để thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp, cách thức, mức độ hay kết quả của hành động, hoạt động. Các phó từ chỉ thời gian (đã, sẽ, đang, vừa, mới….), chỉ sự tiếp diễn đồng nhất (cũng, còn, cứ, lại, vẫn, đều…)v.v. có tác dụng chỉ xuất TĐTT.

Ví dụ:

Ở cửa hàng đang bán xe máy đấy.

TĐTT

Thông tin “bán xe máy” là TTM, là TĐTT.

Với phó từ “đang”, câu nói trên còn có thêm các ý nghĩa:

– Việc cửa hàng bán xe máy là việc quan trọng đối với người nghe, là việc mà có lẽ người nghe đang quan tâm, chờ đợi.

– Cửa hàng chỉ bán xe máy trong một giai đoạn nhất định.

– Mau ra mua! (Nếu không thời cơ có thể hết) [47, tr.207]

Bản thân các phó từ chỉ sự tiếp diễn đồng nhất mang ý nghĩa lặp lại. Tuy nhiên, cái hành động hoặc trạng thái lặp lại ấy vẫn là một điểm nhấn về mặt thông tin.

Ví dụ:

Ngoài ba mươi tuổi, thị vẫn chưa có chồng.

TĐTT

Giống với trường hợp từ hồi chỉ – khứ chỉ, thông tin thị chưa có chồng vốn dĩ là TTC (bởi người nghe đã biết). Nhưng trong trường hợp này, khi đi sau phó từ vẫn, thì thông tin chưa có chồng trở thành TĐTT của phát ngôn. Bởi ngoài giá trị thông báo,, phó từ vẫn còn mang giá trị tình thái: theo đánh giá của người nói, việc ngoài 30 tuổi mà vẫn chưa có chồng là muộn so với chuẩn thông thường. Điều này làm nên tính mới về mặt thông tin. Như vậy thêm một lần nữa chúng ta thấy, cái mới trong câu không hẳn mới về mặt thông tin nhưng vẫn trở thành TĐTT nên việc dùng khái niệm TTM là không chính xác bằng khái niệm TĐTT.

Chúng ta có thể hình thành quy tắc thứ ba về nhận diện TĐTT: Nếu trong một phát ngôn có xuất hiện phó từ thì thành phần theo sau phó từ chính là TĐTT.

d. Dựa vào hình thức câu

Hình thức ngữ pháp của câu được coi là phương tiện để định vị thông tin cũng như là cơ sở để minh hóa TĐTT. Tùy từng hoàn cảnh và tâm thế người giao tiếp sẽ có những cơ cấu cú pháp thích hợp được lựa chọn.

Về quan hệ giữa hình thức câu và CTTT, Lambrecht (1994) xác định: “CTTT là bộ phận cấu thành ngữ pháp của câu. Ở đó, các mệnh đề biểu thị sự tình được kết đôi với các cấu trúc từ vựng ngữ pháp, thể hiện các trạng thái tâm lý của những người đối thoại – những người thể hiện và sử dụng những cấu trúc này như những đơn vị thông tin, trong những ngữ cảnh diễn ngôn nhất định.”[Dẫn theo 28]. Chúng tôi phân chia hình thức câu CTTT thành 2 trường hợp: đánh dấu và không đánh dấu.

* Với trường hợp không được đánh dấu thường thì trật tự cơ sở- tiêu điểm này trùng với trật tự đề – thuyết nên có thể dựa vào cấu trúc đề thuyết để xác định đâu là phần cơ sở và phần TĐTT.

Ví dụ: Cậu Nam// là người tốt

(đề // thuyết; cơ sở // tiêu điểm)

* Trường hợp được đánh dấu về hình thức câu mà chúng tôi muốn đề cập ở đây chính là tỉnh lược và đảo trật tự.

+ Tỉnh lược (ellipsis) là thủ pháp rút gọn hình thức câu bằng cách loại bỏ bớt các thành tố không quan yếu về mặt thông tin trong CTTT của câu. Tỉnh lược sẽ tạo nên các CTTT bị đánh dấu về mặt cấu trúc (không hoàn chỉnh). Trong CTTT, xét theo tính quan yếu về thông tin, phần cơ sở có thể bị tỉnh lược còn TĐTT thì không thể tỉnh lược.

Ví dụ : (1) Ø Đói không? (Cậu // đói không?)

Ø Không đói. (Tớ // không đói)

(2) Cậu muốn uống gì?

Ø Cà phê. (Tớ muốn uống //cà phê)

(Ghi chú: Cơ sở//tiêu điểm)

Ở 2 ví dụ trên, những thành phần thông tin CS vì không quan trọng nên đã bị tỉnh lược. Câu chỉ còn lại phần TĐTT.

+ Đảo trật tự cũng là phương tiện đánh dấu TĐTT. Nguyễn Hồng Cổn phân biệt 2 loại đảo trật tự khác nhau.

+Tiền đảo: được tạo thành bằng cách chuyển thành tố có chức năng tiêu điểm khỏi vị trí cuối câu (không đánh dấu) lên vị trí đầu câu (đánh dấu).

Ví dụ : a. Ông Tư mắng ai vậy?

b. Ông ấy mắng tất cả mọi người. Ông ấy mắng cả tôi.

  • Ông ấy mắng tất cả mọi người. Cả tôi ông ấy cũng mắng.[8, tr.31]

+Hậu đảo: được tạo thành bằng cách chuyển thành tố có chức năng tiêu điểm ở vị trí đầu câu (không đánh dấu) xuống vị trí cuối câu (đánh dấu).

Ví dụ: a.Trong lớp này ai học giỏi nhất?

b.Trong lớp này anh Bình học giỏi nhất

  • Trong lớp này học giỏi nhất là anh Bình.[8, tr.32]

Trên đây là những vấn đề cốt lõi của CTTT, chúng tôi đã cố gắng tiếp cận tất cả các quan niệm từ các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đến giới Việt ngữ học, từ cái nhìn đồng đại cho đến lịch đại, từ khái niệm cho đến các dấu hiệu đánh dấu thông tin. Ngoài việc tiếp thu những thành quả của các nhà ngôn ngữ học đi trước, chúng tôi cũng đã đưa ra được những phát hiện về mặt lí thuyết, từ đó tổng hợp thành lí luận cơ sở để chương 2 đi vào phân tích CTTT trong lời thoại truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.

1.2. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP

1.2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật bằng lời thoại

Theo Từ điển thuật ngữ văn học ”Lời đối thoại là lời trong cuộc giao tiếp song phương mà lời này xuất hiện như là phản ứng đáp lại lời nói của người khác” [42, tr.128]. Điều kiện để thực hiện đối thoại là phải có sự hiện diện của người nói và người nghe và mỗi phát ngôn đều trực tiếp hướng đến người tiếp chuyện và xoay quanh một chủ đề hạn chế của cuộc đối thoại.

Đối thoại làm nên bản sắc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Nguyễn Huy Thiệp ít khi dùng lời gián tiếp của người trần thuật để khắc họa nhân vật trên các bình diện ngoại hình, tính cách. Các nhân vật dường như không cần có người trung gian mà tự thể hiện bộc lộ qua nhau thông qua các cuộc đối thoại. Những đối thoại cứ liên tiếp nhau khiến người đọc luôn phải theo sát từng đối thoại để có thể hình dung ra nhân vật mà nhà văn xây dựng trong tác phẩm.

Lời đối thoại của nhân vật được Nguyễn Huy Thiệp đưa vào trong tác phẩm dưới hai hình thức: Đưa trực tiếp những đoạn thoại không cần sự dẫn dắt của người kể chuyện và các lời đối đáp có kèm theo lời dẫn thoại. Hình thức thứ hai được sử dụng nhiều hơn. Lời dẫn thoại của người kể chuyện luôn được đặt trong sự hạn chế tối đa. Số lượng từ ngữ thường khuôn mình trong cấu trúc của một câu đơn hai thành phần cực kỳ ngắn gọn. Ví dụ: “Đoài bảo”, “Cấn hỏi”, “Khiêm nói” (Không có vua); “cha tôi bảo”, “tôi bảo”, “vợ tôi bảo” (Tướng về hưu)… Cũng có thể xuất hiện thành phần trạng ngữ nhưng cũng hết sức ngắn gọn để làm ra vẻ cái gì, sự gì cũng chân thực cả. Trong cùng một đoạn văn, tác giả không ngần ngại lặp lại gần như y nguyên cấu trúc dẫn thoại, không cần tìm đến sự đa dạng, sinh động trong cách thức diễn đạt mà chỉ thay đổi các danh từ hoặc đại từ chỉ chủ thể và các động từ chỉ hành vi nói năng. Số lượng động từ chỉ hành vi nói năng cũng rất ít và cũng thường lặp lại, quanh quẩn là những từ “nói”, “bảo”… Tâm lý nhân vật chủ yếu được hé mở chút ít qua các động từ có liên quan đến tâm trạng: “cười”, “thở dài”, “càu nhàu”, “chửi”, “mắng”… Lời dẫn thoại kiểu này làm nhạt hóa vai trò người kể chuyện. Sự nhạt hóa dấu ấn ngôn ngữ của người dẫn dắt đã tạo điều kiện thuận lợi để nhân vật tự trình diễn ngôn ngữ của mình, tự trình diễn vở kịch của mình. Những đoạn thoại trong Tướng về hưu, Không có vua, Những người thợ xẻ… khiến người đọc có cảm giác chỉ có nhân vật nói với nhau và chỉ có nhân vật với độc giả. Nhờ vậy, ngôn từ nhân vật đạt giới tính trực tiếp của tư tưởng, tạo nên không khí đối thoại trực diện, căng thẳng, giàu kịch tính.

Sự luân phiên lượt lời trong đối thoại của Nguyễn Huy Thiệp cũng rất đặc biệt. Ông không dừng lại thật lâu để miêu tả, phân tích tâm lý, đánh giá bình luận về nhân vật như Nam Cao, Nguyễn Minh Châu hay tranh luận với nhân vật như Nguyễn Khải mà liên tục đẩy tốc độ đối thoại lên rất nhanh. Các lượt lời thay phiên nhau trong tích tắc, nối tiếp nhau nhanh chóng. Có cảm tưởng tác giả nhặt rất nhanh các lời thoại của nhân vật trong cuộc sống đặt cạnh nhau tạo thành một cuộc thoại xoay quanh một chủ đề. Tốc độ nhanh bởi lời dẫn ngắn gọn và đặc biệt bởi lời đối đáp ngắn gọn, hàm súc, tốc độ nhả lời thần tốc. Lời khởi đầu vừa đưa ra bởi nhân vật này đã bị “cãi” lại ngay bởi lời của nhân vật khác. Ví dụ: “Cha tôi bảo: Anh nhu nhược. Duyên do là anh đếch sống được một mình. Tôi bảo: Không phải, cuộc đời nhiều trò đùa lắm. Cha tôi bảo: Anh cho là trò đùa à? Tôi bảo: Không phải trò đùa, nhưng cũng không phải nghiêm trọng.Tham gia đối thoại nhiều khi không chỉ có hai nhân vật mà có thể có nhiều nhân vật khác nên đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang tính chất đối thoại. Ví dụ: “Đoài bảo: Tôi nghĩ bố già rồi, mổ cũng thế, cứ để chết là hơn. Tốn khóc hu hu. Cấn hỏi: Ý chú Khảm thế nào? Khảm bảo: Các anh em thế nào thì em thế. Cấn hỏi: Chú Khiêm sao im thế? Khiêm hỏi: Anh định thế nào? Cấn bảo: Tôi đang nghĩ. Đoài bảo: Mất thì giờ bỏ mẹ. Ai đồng ý bố chết, giơ tay, tôi biểu quyết nhé. Đoạn văn này có mặt năm nhân vật, bốn nhân vật tham gia đối thoại, một nhân vật “thoại” bằng tiếng khóc hu hu. Bảy lượt thoại trong một đoạn văn ngắn tạo nên một cuộc thảo luận gia đình om sòm xung quanh vấn đề: có để bố chết hay không?

Tốc độ nhanh, mạnh không chỉ ở sự luân phiên lượt lời trong một cuộc thoại mà còn ở tốc độ luân chuyển, tiếp nối liên tục các cuộc thoại tạo nên mật độ đối thoại dày đặc trên những trang sách. Cuộc thoại này chưa dứt, cuộc thoại khác đã nối tiếp. Phương thức trình bày này khiến cho người đọc có cảm giác tác phẩm trong truyện ngắn giống như một vở kịch về đời sống, về sự thoái hóa, biến chất về đạo đức đến mức ghê sợ: họp gia đình để “biểu quyết bố chết”. Và khi bố chết thì: “Thật may quá bây giờ tôi đi mua quan tài”. Ngòi bút của nhà văn đã “bật lên những trang viết như cứa vào trái tim người đọc, cứa đến rớm máu và bật máu ra. Những con người trần trụi đến mức thú tính. Đây là một đám sinh vật biết ăn nói, đi lại suy nghĩ và đối xử với nhau” [45, tr.138]

Ngôn ngữ nhân vật trong đoạn thoại dồn đuổi nhau ráo riết. Hay đoạn đối thoại sau đây cũng tương tự như vậy: “Đoài hỏi: Sinh biết nhà này tương lai thuộc về ai không? Sinh bảo: Không. Đoài cười: Về tôi. Sinh hỏi: Sao thế? Đoài bảo: Bố già bố chết. Thằng Khiêm trước sau cũng vào tù. Thằng Khảm ra trường không đi Tây Bắc thì cũng Tây Nguyên. Thằng Tốn không nói làm gì, vô tích sự. Sinh hỏi: Thế còn anh Cấn? Đoài bảo: Phụ thuộc vào Sinh. Nếu Sinh yêu tôi, tôi sẽ gây sự tống cổ ra đường. Sinh bảo: Dễ thế? Đoài bảo: Sinh còn quyến luyến cái gì? Lão Cấn vừa ngu vừa hèn, lại yếu, bác sĩ bảo bị lãnh tinh, lấy Sinh hai năm mà có con cái gì đâu?“. Sau đó Đoài lại nói tiếp: “Tối nay tôi vào buồng Sinh nhé! Sinh vớ con dao, nói khẽ: Cút đi. Anh đến gần đây là tôi giết đấy! Đoài cười nhạt, đi giật lùi, bỏ lên nhà, vừa đi vừa lẩm bẩm: Đàn bà là giống ác quỷ”. Những lời nói trơ trẽn, bỉ ổi của Đoài đã chỉ rõ bản chất của nhân vật này.

Đối thoại của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang những đặc điểm ngôn ngữ kịch như tính hành động, tính hàm súc, tính khẩu ngữ và phù hợp với cá tính của nhân vật. Qua đối thoại, bản chất của nhân vật được bộ lộ rõ nét.

1.2.2. Các đoạn thoại vi phạm các quy tắc hội thoại với tần số cao

Trong một bài nghiên cứu của chúng tôi “Sự vi phạm các quy tắc hội thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” [63], chúng tôi nhận thấy rằng các đoạn thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp vi phạm các quy tắc hội thoại với tần số cao – 71,3%. Đây quả là một con số không nhỏ.

Việc đảm bảo các quy tắc hội thoại có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động giao tiếp của con người. Mọi quan hệ đều bắt đầu từ cuộc hội thoại. Bắt chuyện với nhau và hướng tới đích hội thoại là tỏ ra sẵn sàng tạo lập quan hệ, gắn kết quan hệ với nhau, quan hệ liên cá nhân thay đổi, con người sẽ trở nên gần nhau hơn.Với con số đoạn thoại vi phạm lên đến 71.3%, nghĩa là trung bình cứ 10 đoạn thoại là có 7,1 đoạn thoại vi phạm, rõ ràng đã thể hiện được ý đồ của Nguyễn Huy Thiệp trong việc phản ánh cuộc sống và bi kịch của con người. Càng đặc biệt hơn, khi một truyện ngắn có 6 đoạn thoại mà cả 6 đoạn đều vi phạm các quy tắc hội thoại, tỉ lệ 100% (Đời thế mà vui). Lại có những truyện ngắn số đoạn thoại đã ít (5 đoạn thoại) mà số đoạn thoại vi phạm lại càng ít hơn nữa (1 đoạn thoại), chỉ chiếm 20% (Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt). Nhưng một đoạn thoại ít ỏi này lại thâu tóm cả nội dung lẫn ý nghĩa câu chuyện. Đoạn thoại vi phạm đóng vai trò là đoạn thoại trung tâm không chỉ xét ở mặt nội dung mà cả về mặt hình thức. Truyện ngắn Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt (5 đoạn thoại, 1 đoạn thoại vi phạm), tổng cộng có 69 lượt lời và chỉ mỗi đoạn thoại vi phạm này chiếm 49 lượt lời, nghĩa là con số lên đến 71%. Nói như vậy để thấy rằng, dù ở mức độ nào, cũng thấy được Nguyễn Huy Thiệp đã khá thành công khi xây dựng bi kịch con người qua những đoạn thoại vi phạm. Hội thoại không làm mối quan hệ của con người gần nhau thêm mà ngược lại càng đẩy con người ra xa ở hai cực của khoảng cách và cô đơn.

Thông qua những đoạn thoại vi phạm các quy tắc hội thoại, Nguyễn Huy Thiệp đã khắc họa chân dung con người thời hiện đại không chỉ với một tấn bi kịch mà nhiều tấn bi kịch.

Sự vi phạm quy tắc liên kết trong hội thoại có tác dụng to lớn giúp Nguyễn Huy Thiệp khắc họa được hình ảnh con người cô đơn. Trong một đoạn thoại, các nhân vật đối thoại với nhau nhưng chẳng hề hiểu nhau. Lời nói trao ra nhưng người đáp chẳng hề đếm xỉa đến ý định, tình cảm của người nói. “Ông bảo: “Việc lớn trong đời cha làm xong rồi!” Tôi bảo: “Vâng”.(Tướng về hưu) Câu nói của người cha chứa đựng niềm tự hào sung sướng, bao nhiêu niềm hân hoan muốn chia sẻ. Người con trai lại đáp bằng một từ khô khan, cụt ngủn “Vâng”. Vâng là từ không có nghĩa, tùy theo hoàn cảnh mà nó có nghĩa là đồng tình hoặc phản đối. Trong hoàn cảnh này, nó chính là câu trả lời cho mục đích không muốn bắt chuyện, có nói nữa cũng vậy, nên đoạn thoại kết thúc. Hay một đoạn thoại khác. “Cha tôi bảo: “Nghỉ rồi, cha làm gì?” Tôi bảo: “Viết hồi kí”. Cha tôi bảo: “Không”. Vợ tôi bảo: “Cha nuôi vẹt xem. Trên phố dạo này nhiều người nuôi chim họa mi, chim vẹt”. Cha tôi bảo: “Kiếm tiền à?”. Vợ tôi không trả lời.” Thế là đoạn thoại kết thúc, không đi đến mục đích giao tiếp nào. Bởi người cha không hiểu được ý của anh con trai và cô con dâu. Với lượt lời “im lặng” là dấu hiệu kết thúc đoạn thoại trong vô vọng, bởi vì có tiếp tục cũng chẳng đem lại hiệu quả gì. Quả đúng vậy, sau đó người cha có nói thêm như để sửa chữa lại lời thoại trước của mình “Để xem đã”. Lời thoại níu kéo cuộc thoại tiếp tục nhưng níu kéo trong vô vọng. Đối thoại để hiểu nhau hơn nhưng đối thoại vi phạm quy tắc liên kết đã khiến cho mỗi nhân vật như rơi vào khoảng trống của lòng mình. Các nhân vật không hiểu được nhau nên quan hệ giữa họ hết sức rời rạc, không có sự cố kết, thúc đẩy. Kết quả là cuộc đối thoại càng khoét sâu thêm nỗi cô đơn của con người.

Đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ta còn nhận thấy con người thực dụng đã lên ngôi và lấn át đi con người nhân bản. Điều này đã được Nguyễn Huy Thiệp khéo léo thể hiện qua những đoạn thoại vi phạm quy tắc thể diện và khiêm tốn. Nguyễn Huy Thiệp để cho các nhân vật hội thoại kiểu “chửi nhau”, chẳng có chút gì tôn trọng nhau, thậm chí ngay cả đối thoại giữa cha và con (trong Không có vua). “Cha chúng mày, chúng mày ám hại ông. Chúng mày mong ông chết, nhưng trời có mắt, ông còn sống lâu”. Đoài nằm trong giường nói vọng ra: “Ở đâu không biết, chứ ở nhà này thì lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống là chuyện thường tình”. Lão Kiền chửi: “Mẹ cha mày, mày ăn nói với bố thế à? Tao không hiểu thế nào người ta lại cho mày làm việc ở Bộ giáo dục!”. Đoài cười: “Họ xét lý lịch, họ thấy nhà mình truyền thống, ba đời trong sạch như gương”. Ở những đoạn thoại này, quan niệm về phép lịch sự dường như bị mờ nhạt đi. Nhân vật tham gia hội thoại không ngần ngại chửi nhau, vạch mặt nhau, thậm chí kẻ vô học lưu manh, ăn cắp, tù tội…không ngần ngại nói ra những lời làm mất thể diện kẻ có học. Anh Bường hỏi: “Em hỏi khí không phải, thế bác làm nghề nghiệp gì?” Ông Kháng bảo: “Tôi giảng dạy mĩ học ở dưới Hà Nội”. Anh Bường bảo: “Đấy cũng là nghề nghiệp hay sao? (…). Ông Kháng bảo: “Xin lỗi, tôi không được trang bị kiến thức giống như của bác”. Anh Bường bảo: “Bác Kháng ạ, mời bác về bú tí mẹ”.(Những người thợ xẻ). Thông qua những đoạn thoại vi phạm quy tắc thể diện, nhân vật hội thoại đã không ngần ngại “lột mặt nạ” của chính mình và lột trần bản chất của người đối thoại để con người thực dụng bên trong hiện lên một cách rõ ràng nhất, không hề che đậy.

Ở nhiều đoạn thoại, Nguyễn Huy Thiệp để cho nhân vật chìm lấp trong những câu thoại lan man, mơ hồ để lộ rõ hình ảnh con người khủng hoảng niềm tin, bất lực trước cuộc đời. Những đoạn thoại này vi phạm quy tắc cộng tác hội thoại một cách nghiêm trọng. Về mặt hình thức tưởng chừng như họ đã thực sự hiểu nhau, khiến ta nhầm tưởng họ là tri âm, tri kỉ. Nhưng thực chất, đó chỉ là vỏ bọc bên ngoài, còn bên trong là sự mơ hồ về nghĩa của những câu thoại. Chẳng hạn, đoạn hội thoại giữa Hiếu và anh Triệu trong Những bài học nông thôn. Những câu thoại của anh Triệu, nhân vật Hiếu đều cố gắng chia sẻ, lắng nghe để hiểu, khiến cả nhân vật hội thoại lẫn độc giả đều nhầm tưởng rằng cậu ta đã hiểu nhưng rốt cuộc cậu ta vẫn không hiểu được. Lý do là bởi anh Triệu, một người có học thức, đã trải nghiệm những nỗi thống khổ của cuộc đời nên anh hoàn toàn nói theo triết lí của đời mình. Những lời thoại của anh lan man, triết lí và hàm ẩn nhiều vấn đề sâu sắc. Còn Hiếu, một cậu học sinh trung học 17 tuổi, hồn nhiên, vô tư, biết quá ít về cuộc đời nên không hiểu được lời của anh Triệu. “Tôi bảo: “Kiến nhiều quá”. Anh Triệu bảo: “Đấy. Tất cả dân chúng cũng đông như thế. Họ sống như kiến cả thôi, xắng xở, loanh quanh, kiếm ăn chẳng được là bao. Chú hãy để con chuồn chuồn ra khỏi chỗ khác xem”. Nhìn bề ngoài thì họ vẫn đáp lời nhau vẫn đi đến đích hội thoại nhưng bên trong là một tâm trạng bất an, là sự đổ vỡ niềm tin trong cách nhìn nhận cuộc đời ở anh Triệu mà Hiếu sẽ không bao hiểu được. Những đoạn thoại vi phạm quy tắc cộng tác đã làm tăng tính chất hoài nghi, bộc lộ sự đổ vỡ đức tin của con người hiện đại.

1.3. TIỂU KẾT

Trong chương 1, chúng tôi đã giới thuyết lại toàn bộ vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu.

1.3.1. Mục đích của việc nghiên cứu CTTT của câu như Lambrecht đã xác định là tìm hiểu mối tương liên giữa câu và hoàn cảnh: “Nếu sinh thái học tập trung vào sự tương tác lẫn nhau giữa các sinh vật và môi trường của chúng thì nghiên cứu CTTT tập trung vào tập trung vào sự tương tác lẫn nhau của các câu và ngữ cảnh của chúng. Nó nhằm trả lời câu hỏi cơ bản là tại sao lại có nhiều loại cấu trúc câu đến như vậy” [32,tr.23]. Điều này có nghĩa rằng CTTT phụ thuộc rất lớn vào ngữ cảnh, tùy theo từng ngữ cảnh xác định mà người nói xác định tình trạng thông tin là mới hay cũ và việc tiếp nhận thông tin lại một lần nữa phụ thuộc vào người nghe.

1.3.2. CTTT phản ánh sự khác biệt về vị thế thông tin giữa các thành phần câu, trong đó một bộ phận của cấu trúc câu biểu thị phần thông tin tiền giả định, thông tin CS (chung cho cả người nói và người nghe), còn bộ phận còn lại biểu thị phần thông tin mà người nói/người nghe chưa biết hoặc biết không giống nhau được gọi là TĐTT. Trong CTTT của câu, TĐTT là thành tố quan trọng nhất biểu thị phần thông tin mà người nói giả định là người nói và người nghe không cùng chia sẻ. Vì vậy để phân tích CTTT của câu hay phân biệt một CTTT này với một CTTT khác, điều quan trọng là phải nhận diện được TĐTT của câu (dựa vào ngữ cảnh và các phương tiện đánh dấu).

1.3.3. Tiêu điểm là phần duy nhất trong CTTT của câu cho thấy sự chênh lệch về thông tin giữa người nói và người nghe, xét theo sự đánh giá của người nói. Ở các câu hỏi có các từ nghi vấn: ai, gì, nào…sự chênh lệch thông tin giữa người nói và người nghe biểu hiện ở chỗ thông tin của TĐ là thông tin người nói chưa biết nhưng người nghe có thể biết, theo sự đánh giá của người nói. Ngược lại, ở những câu trần thuật tương ứng trả lời cho các câu hỏi trên thì thông tin của TĐ là thông tin người nói đã biết nhưng người nghe, theo sự xét đoán của người nói là chưa biết. Còn có cả trường hợp thông tin của TĐ là thông tin được cả người nói và người nghe cùng biết nhưng cố ý giả định là chưa biết. (Ví dụ đã đưa: “Này, cậu uống chè hay cà phê?” “Cho mình ly cà phê”).

1.3.4. Không phải khi nào TTM cũng là thông tin quan trọng nhất và là TĐTT. Có những câu, phần mang thông tin quan trọng nhất và là trọng tâm thông báo của câu nhưng không phải là mới đối với người nghe hay người nói.

1.3.5. Từ chỗ điểm qua các công trình nghiên cứu về CTTT của các nhà ngôn ngữ học thế giới cũng như giới Việt ngữ học, chúng tôi đã mạnh dạn đưa ra một số quan điểm của bản thân về các vấn đề có liên quan. Từ đó tổng hợp thành cơ sở lí luận chung để soi rọi cho những phần sau. Đó là việc khảo sát lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, các kiểu CTTT được phân bố như thế nào (chương 2); là chỉ ra các hình thức đánh dấu TĐTT, TĐTT được nhận diện ra sao, giá trị biểu đạt như thế nào (chương 3).

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\NGON NGU HOC\MAI THI XI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *