PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN PHÓNG SỰ BINH NGUYÊN

PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN PHÓNG SỰ BINH NGUYÊN

PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN PHÓNG SỰ BINH NGUYÊN

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, phân tích diễn ngôn đã và đang trở thành một mảng nghiên cứu đa dạng thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước. Diễn ngôn được các nhà nghiên cứu phân tích nằm trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống: có thể là diễn ngôn giao tiếp hàng ngày trong gia đình, giữa bạn bè và những người thân thuộc; có thể là diễn ngôn trong văn chương hay trong khoa học; có thể là diễn ngôn trong sách giáo khoa hay trong lĩnh vực giáo dục; trong quảng cáo và truyền thông đại chúng; trong những bài diễn văn chính trị; trong văn bản hành chính hay pháp luật… Riêng về lĩnh vực báo chí, cho đến nay, về cơ bản, các vấn đề nghiệp vụ làm báo, quản lý và định hướng báo chí, cuộc đời và sự nghiệp của các nhà báo lớn… đã được giới thiệu rộng rãi ở nhiều công trình nghiên cứu. Song sự hình dung về diễn ngôn, sự lý giải diễn ngôn báo chí, đặc biệt là thể loại phóng sự còn có những điểm chưa rõ ràng.

2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

3. Mục đích nghiên cứu

– Phân tích chiến lược tổ chức diễn ngôn dưới tác động của tư tưởng theo hướng kết hợp các khía cạnh văn hóa, xã hội vào quá trình kiến tạo diễn ngôn và giải thích quá trình đó bằng các phân tích ngôn ngữ theo lý thuyết chức năng hệ thống của Halliday.

– Làm rõ mối quan hệ giữa văn bản thực và thực tiễn xã hội được chuyển tải bởi kinh nghiệm diễn ngôn, nhờ đó con người sử dụng ngôn ngữ để tổ chức và giải mã văn bản.

– Chỉ ra phóng sự báo chí không đơn giản chỉ là sự phản ánh xã hội, chịu sự tác động của những qui luật xã hội mà còn là một hiện tượng ngôn ngữ – văn hóa, một hệ thống kí hiệu có những quy luật riêng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Diễn ngôn phóng sự

– Phạm vi nghiên cứu: 3 tuyển tập phóng sự của Binh Nguyên gồm: Một chuyến đi vào lòng đất, Những hành trình vượt lên số phận, Tường trình từ Tam giác vàng.

5. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích ngữ liệu trong mối quan hệ chặt chẽ với ngữ cảnh tình huống và phân tích nghĩa của lời nói.

– Phương pháp phân tích ngữ nghĩa – miêu tả: Phân tích mối quan hệ nghĩa của các đơn vị trong từ vựng, các nét nghĩa được sử dụng trong ngữ cảnh, nét nghĩa mang tính lịch sử – văn hóa của từ vựng.

– Các thủ pháp nghiên cứu khác như: khảo sát, thống kê, phân loại…

6. Dự kiến đóng góp của luận văn

6.1. Về lý luận

– Luận văn góp phần vào việc hình thành một phương pháp phân tích toàn bộ một đơn vị giao tiếp hoàn chỉnh, thống nhất và có mục đích là diễn ngôn; phát hiện cấu trúc điển hình và các phương tiện thể hiện chức năng ngữ nghĩa của diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên, đồng thời làm sáng tỏ những đặc điểm của loại diễn ngôn này; góp phần làm sáng tỏ thêm phần lý thuyết và phong phú thêm phần thực hành cho chuyên ngành ngôn ngữ báo chí.

– Đem lại cái nhìn hệ thống về thể loại phóng sự – một thể loại quan trọng của báo chí từ cách tiếp cận của phân tích diễn ngôn.

6.2. Về thực tiễn

– Góp phần phục vụ công tác quản lý báo chí, xuất bản, hỗ trợ các cơ quan quản lý báo chí, xuất bản trong việc định hướng chiến lược ngôn ngữ trên các phương tiện truyền thông.

– Minh chứng về vai trò của các phương tiện ngôn ngữ trong chức năng định hướng, tác động, thuyết phục và tổ chức hoạt động xã hội.

– Giúp ích trong việc định hướng nội dung thông tin trên báo chí.

7. Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn có 3 chương bao gồm:

– Chương 1: Một số vấn đề lý luận

– Chương 2: Các phương thức thể hiện chức năng tư tưởng trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

– Chương 3: Các phương thức thể hiện chức năng văn bản trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên.

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn

1.1.1. Diễn ngôn

1.1.1.1. Khái niệm diễn ngôn

“Diễn ngôn” (còn gọi là “ngôn bản”, tiếng Anh: discourse, tiếng Pháp: discours) là khái niệm cơ bản trong lý luận phân tích diễn ngôn. Khái niệm “diễn ngôn” (discourse) được nhiều nhà ngôn ngữ học nhận định là có liên quan mật thiết với là khái niệm “văn bản” (text). Và cũng có rất nhiều ý kiến về thuật ngữ này trong sự so sánh với thuật ngữ “văn bản”.

Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về diễn ngôn, nhưng chưa thật sự có một định nghĩa hoàn chỉnh nhất. Thuật ngữ diễn ngôn với tư cách “sản phẩm” trong việc sử dụng ngôn ngữ được hiểu rất rộng bao gồm tất cả các dạng tồn tại của nó, có thể là chữ viết dưới mọi hình thức, có thể âm thanh tự nhiên khi nói hay mọi hình thức ghi âm lời nói…

Đối tượng của phân tích diễn ngôn là ngôn ngữ hoạt động trong hoàn cảnh xã hội – văn hóa, chứ không phải đối tượng tĩnh (tức chuyển sang lời nói chứ không phải ngôn ngữ, theo thuật ngữ của F.de.Saussure).

1.1.1.2. Phân loại diễn ngôn

Hiện nay có nhiều cách phân loại diễn ngôn và chúng cũng giao nhau trên nhiều phương diện vì ngôn ngữ tồn tại trong rất nhiều tình huống giao tiếp khác nhau. Ở đây có thể kể ra một số cách phân loại như:

– Cách thứ nhất, phân loại diễn ngôn dựa trên trường diễn ngôn.

– Cách thứ hai, phân loại diễn ngôn dựa trên sự phân biệt hay chức năng.

– Cách thứ ba, phân loại diễn ngôn theo cấu trúc.

– Cách thứ tư, phân loại diễn ngôn dựa trên trường diễn ngôn, bầu không khí diễn ngôn và cách thức tổ chức diễn ngôn.

Trong luận văn này, chúng tôi chọn phân loại diễn ngôn theo quan điểm của Halliday, đó là phân loại diễn ngôn dựa trên ngữ vực. Bởi ngữ vực là sự phân chia bao trùm nhất, dưới đó là các thể loại, các kiểu diễn ngôn cụ thể.

1.1.2. Các cơ sở lý luận được áp dụng để phân tích diễn ngôn phóng sự

1.1.2.1. Một số hướng tiếp cận trong phân tích diễn ngôn phóng sự

Có nhiều đường hướng tiếp cận diễn ngôn. Dù có xuất phát trên căn cứ nào đi chăng nữa thì các đường hướng phân tích diễn ngôn nói trên cũng đặt trọng tâm nghiên cứu là ngôn ngữ hành chức trong mối quan hệ với xã hội – văn hóa (ngữ cảnh). Trong luận văn, đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán trở thành định hướng để việc phân tích diễn ngôn phóng sự báo chí luôn gắn liền với ngữ cảnh và chúng luôn thể hiện một quyền lực và hệ tư tưởng nhất định. 1.1.2.2. Ba siêu chức năng ngôn ngữ của Halliday

Thực tiễn phân tích CDA những năm qua cho thấy, Lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday là khung lý thuyết phù hợp, là một căn cứ ngôn ngữ quan trọng để phân tích CDA. Theo Halliday, ngữ pháp là một hệ thống, chứ không phải là một quy tắc, và ngôn ngữ là một nguồn lực tạo nghĩa. Ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp, đảm nhiệm ba siêu chức năng: chức năng kinh nghiệm; chức năng liên nhân; chức năng tạo văn bản diễn đạt hợp phần nghĩa có được qua việc tổ chức câu trong văn bản và trong ngữ cảnh tình huống.

PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN PHÓNG SỰ BINH NGUYÊN
PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN PHÓNG SỰ BINH NGUYÊN

1.1.3. Phóng sự và phân tích diễn ngôn phóng sự

1.1.3.1. Quan điểm về thể loại phóng sự

Cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về thể loại phóng sự. Ở Việt Nam, đối với từng tác giả khác nhau cũng có những ý kiến khác nhau về phóng sự. Theo quan niệm của Đức Dũng, phóng sự là thể loại đứng giữa, là gạch nối giữa văn học và báo chí, không chỉ mô tả sự kiện đơn lẻ mà được xem xét trong quá trình phát sinh, phát triển.

Trong phóng sự báo chí, tác giả có thể sử dụng kết hợp một bút pháp vừa là thông tin thời sự, vừa giàu chất văn học đề nhằm tạo ra giọng điệu riêng. Chính đặc điểm này cùng với vai trò của cái tôi – trần thuật – nhân chứng – thẩm định và đặc biệt là mức độ điển hình của cái vùng hiện thực mà tác phẩm đề cập tới là những nguyên nhân chủ yếu khiến cho phóng sự bước vào điểm giáp ranh giữa kí văn học và kí báo chí. Trên cơ sở những đặc điểm nêu trên, luận văn đi tới một khái niệm về thể loại phóng sự theo quan điểm của tác giả Đức Dũng.

1.1.3.2. Các dạng phóng sự

Phóng sự báo chí hiện đại ở nước ta hiện nay đang có sự giao thoa, chuyển hóa một cách mạnh mẽ cùng các thể loại báo chí khác. Chúng ta có thể phân chia các dạng phóng sự trên cơ sở của nhiều tiêu chí khác nhau như tiêu chí về loại hình (báo in, báo hình, báo mạng điện tử, báo phát thanh, báo ảnh), tiêu chí về đối tượng phản ánh, tiêu chí về phương pháp phản ánh, tiêu chí về dung lượng tác phẩm… Luận văn đã phân chia theo tiêu chí về đối tượng phản ánh thì phóng sự gồm các dạng sau:

– Dạng phóng sự phản ánh những vấn đề của đời sống

– Dạng phóng sự chân dung

– Dạng phóng sự phản ánh các sự kiện thời sự

– Dạng phóng sự điều tra

– Dạng phóng sự phản ánh những hoàn cảnh, hiện trạng

1.1.3.3. Phân tích diễn ngôn phóng sự

Phương tiện để tạo thành diễn ngôn báo chí chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong báo chí là sự hòa kết của ba tiểu chức năng cơ bản: chức năng thông tin, chức năng tác động, chức năng liên nhân. Thông tin là những nội dung cụ thể, là điều mà nguồn, người gửi (tòa soạn, nhà báo) gửi gắm trong thông điệp (bài báo) chuyển đến đích, người nhận (độc giả) với mong muốn thực hiện việc tác động. Điều này thể hiện qua các chiến lược giao tiếp bằng ngôn từ gắn với văn hóa, tâm lý, thói quen của từng nhóm đối tượng đích, của các cộng đồng cụ thể.

Trong bối cảnh của nền báo chí đổi mới hiện nay, thể loại phóng sự có sự thích ứng đặc biệt trong việc phản ánh sự phát triển năng động và đa dạng của đời sống hiện thực. Vì thế, diễn ngôn phóng sự cũng có thế mạnh về đặc điểm ngôn ngữ. Nếu như ngôn ngữ trong tin tức, điều tra là ngôn ngữ khoa học, khúc chiết, mạch lạc thì phóng sự được phép sử dụng bút pháp miêu tả (biểu hiện sự vật bằng chữ, bằng hình tượng, đường nét, màu sắc), tự thuật (kể lại, nói lại sự việc đã diễn ra), lại có thể xen với nghị luận, chất trữ tình (bàn luận, phân tích, đánh giá vấn đề). Thông qua ngôn ngữ tác giả (tả, thuật) gián tiếp bộc lộ tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình.

1.2. Phóng sự Binh Nguyên

1.2.1. Binh Nguyên – con người và sự nghiệp

Binh Nguyên dấn thân vào nghề báo từ năm 1986 sau đợt thi tuyển phóng viên của báo Tuổi Trẻ khi đó tác giả vẫn đang còn là sinh viên năm cuối khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Đó là những năm đất nước bắt đầu đổi mới, mở cửa, báo Tuổi Trẻ bắt đầu phát triển sự nghiệp, tăng từ hai kỳ một tuần lên ba kỳ. Chỉ một năm sau, năm 1987, Binh Nguyên được chuyển thành phóng viên chính thức của báo, lúc 22 tuổi.

Hơn hai năm “lan man” trong nghề báo, từng luân chuyển qua nhiều mảng công tác khác nhau, Binh Nguyên đã tìm được bến dừng ở thể loại phóng sự – kí sự.

1.2.2. Các tác phẩm phóng sự của Binh Nguyên

Đến hôm nay, nhiều người vẫn nhắc các phóng sự có sức chinh phục độc giả của Binh Nguyên như Người đi tìm bóng, Một chuyến đi vào lòng đất, Tường trình từ Tam giác vàng… Với độ lùi thời gian, nhiều phóng sự của Binh Nguyên đọc lại vẫn thấy thú vị vì nhà báo đã kết hợp được chất báo chí với chất văn chương. Yếu tố thẩm mỹ của chữ nghĩa đã giúp phóng sự Binh Nguyên có sức sống lâu bền khi những sự kiện đã trôi vào quá khứ. Binh Nguyên đã khai thác được những góc nhìn rất lạ của nơi tác giả đến, tác giả quan tâm đến suy nghĩ của những con người “dưới đáy” nơi đi qua.

CHƯƠNG 2

CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỨC NĂNG TƯ TƯỞNG

VÀ LIÊN NHÂN TRONG PHÓNG SỰ BINH NGUYÊN

2.1. Các phương thức thể hiện chức năng tư tưởng trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

2.1.1. Nguyên tắc tổ chức thông điệp của diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Nói đến diễn ngôn báo chí, trước tiên chúng tôi muốn nói đến phương thức hoặc quy tắc đặc trưng của việc tổ chức hoạt động ngôn từ. Ở đây, chúng tôi mạnh dạn dùng thuật ngữ “diễn ngôn” tương đương với thuật ngữ “phong cách” và được dùng gần với thuật ngữ “thể loại của phong cách ngôn ngữ chức năng”. Trên cơ sở đó, trong quá trình khảo sát ngôn ngữ được sử dụng trong phóng sự Binh Nguyên, chúng tôi không chỉ đề cập đến thông điệp, mà còn chú ý đến cách tổ chức thông điệp đó theo các yêu cầu của phong cách ngôn ngữ chức năng, như sau:

2.1.1.1. Tính bình giá và tính biểu cảm

Tính bình giá và tính biểu cảm là một đặc trưng của ngôn ngữ báo chí, thể hiện rất rõ nét trong thể loại phóng sự. Phóng sự có tính bình giá bởi vì không chỉ đưa thông tin về các sự kiện, mà còn phải thể hiện công khai thái độ của tác giả đối với sự kiện. Phóng sự có tính biểu cảm vì bản thân ngôn ngữ luôn có nét nghĩa biểu thái khi đi vào phát ngôn sẽ khiến phát ngôn đó có nghĩa tình thái. Tính biểu cảm và tính bình giá trong phóng sự Binh Nguyên được thể hiện qua các dấu hiện sau:

a) Vai trần thuật là tác giả: Trong phóng sự của Binh Nguyên, sự xuất hiện của nhân vật trần thuật, ở đây chính là tác giả đã đóng vai trò hết sức quan trọng. Cái tôi trần thuật trong phóng sự Binh Nguyên thường xuất hiện ở hai dạng: dạng gián tiếp và dạng trực tiếp.

b) Giọng điệu: Trong phóng sự Binh Nguyên, tác giả đã sử dụng nhiều giọng điệu nhằm thể hiện những sắc thái tình cảm khác nhau: khi thì vui tươi, hài hước, khi thì xót xa, thương cảm, tiếc nuối, khi thì lạnh lùng, châm biếm… Mỗi giọng điệu đã biểu thị một cách rõ ràng và trực tiếp thái độ của tác giả đối với sự kiện, đối tượng được nhắc đến trong bài phóng sự.

2.1.1.2. Tính lập luận chặt chẽ

Trong các tác phẩm của mình, Binh Nguyên luôn xây dựng những luận cứ tiêu biểu, gây ấn tượng mạnh mẽ và cung cấp được những chi tiết sinh động mà bản thân tác giả đã quan sát, thu thập được để bạn đọc có thể hình dung về vấn đề, sự kiện, con người, hoàn cảnh, tình huống… một cách sống động như thể họ đang được trực tiếp chứng kiến. Từ những luận cứ đó, Binh Nguyên đã xây dựng luận điểm hết sức chính xác và minh bạch, tạo nên cái khung cốt lõi trong cấu trúc bài phóng sự khiến lập luận chặt chẽ hơn.

2.1.1.3. Hình ảnh mang tính hình tượng

Ngôn ngữ trong phóng sự Binh Nguyên được diễn đạt hết sức sinh động, hình ảnh hấp dẫn mang tính hình tượng để người đọc cảm nhận được thái độ, tình cảm của tác giả, vừa thuyết phục bằng chứng minh, lý luận, vừa thuyết phục bằng tình cảm, bằng đạo đức… Qua việc phân tích trên có thể thấy, không chỉ là người chứng kiến khách quan, Binh Nguyên đã bày tỏ thái độ của mình một cách chủ quan mà vẫn không tạo cảm giác về sự áp đặt thái độ thẩm định hiện thực.

2.1.2. Chủ đề trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Chính hệ tư tưởng của thời đại những năm 90 của thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI đã chi phối các diễn ngôn của thời đại, tạo nên những chủ đề phổ biến, xuyên suốt trong tất cả các diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên; đồng thời vạch ra những vùng khám phá mới, những vấn đề mà trước đây các nhà báo chưa có điều kiện khai thác thì ở giai đoạn này đã được nhà báo Binh Nguyên đầu tư khai thác.

Tỉ lệ của các chủ đề chính mà Binh Nguyên thường khai thác được thể hiện qua bảng khảo sát sau:

Bảng chủ đề chính của diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Chủ đềSố lượngTỉ lệ (%)
Con người1938
Đời sống xã hội1326
Khám phá và chinh phục thiên nhiên1020
Địa danh, văn hóa714
Chiến tranh12

2.1.2.1. Chủ đề về con người

Chủ đề về con người của thời đại mới đã được Binh Nguyên khai thác ở nhiều góc nhìn khác nhau, khi thì thương cảm, xót xa; khi thì khâm phục, ngợi ca. Khi viết về những con người trong thời đại mới, chủ thể của diễn ngôn sự thực trong phóng sự của Binh Nguyên thường có những suy nghĩ khác, những việc làm lớn lao, muốn khám phá những giá trị mới của cuộc sống.

2.1.2.2. Chủ đề về đời sống xã hội

Chủ đề về văn hóa, đời sống, xã hội được Binh Nguyên miêu tả và phản ánh trong các bài phóng sự rất sinh động với bút pháp tả chân linh hoạt, đôi khi tác giả phải nhập thân vào vị trí của những phận con người bất hạnh hay cải trang điều tra những vấn đề nổi cộm trong đời sống. Ngòi bút Binh Nguyên đã phác họa rõ nét mọi ngóc ngách của thực tiễn cùng một lớp từ vựng vô cùng phong phú của đời sống bao gồm những khẩu ngữ, những tiếng lóng…

2.1.2.3. Chủ đề khám phá và chinh phục thiên nhiên

Chủ đề về chinh phục và khám phá thiên nhiên cũng đã tạo nên một hệ thống những hình ảnh tượng trưng, những công thức hành động để miêu tả thế giới cũng như biểu hiện cảm xúc của chủ thể. Ý niệm về những vùng đất mới thường được diễn tả bằng một loạt các từ miêu tả về cái “nhất”, như: nóc nhà Đông Dương, nơi cao nhất, nơi sâu nhất, địa đầu chót vót, tận cùng đất nước…; hay là những từ biểu hiện trạng thái đặc biệt của thiên nhiên.

2.1.3. Các phương thức lập luận phục vụ chủ đề trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên, sự vận động lập luận góp phần làm thay đổi nhận thức của người nhận. Lập luận để người nhận nhận ra lẽ phải, chính nghĩa; lập luận để người nhận thống nhất nhận thức để hình thành sự thương cảm và đồng điệu, thậm chí hướng tới sự thay đổi hành vi. Điều này khiến lập luận vừa thể hiện chức năng kinh nghiệm, vừa thể hiện chức năng liên nhân, chức năng văn bản. Luận văn xác định chức năng tư tưởng là chức năng nổi trội của lập luận trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên.

Dựa trên cơ sở lý luận đó, chúng tôi nhận thấy có 2 dấu hiệu nổi bật thể hiện lập luận trong phóng sự Binh Nguyên là: lẽ thường và những tác tử lập luận.

2.1.3.1. Lẽ thường – Cơ sở của lập luận trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Trên cơ sở cứ liệu khảo sát, chúng tôi cố gắng tìm ra một số loại lẽ thường phổ quát và một số lẽ thường đặc thù trong xây dựng lập luận, đồng thời làm nổi bật chiều sâu tư tưởng. Qua khảo sát và phân loại, chúng tôi phân loại một số nhóm lẽ thường như:

– Lẽ thường trong quy luật đời sống

– Lẽ thường trong văn hóa của dân tộc Việt Nam

– Lẽ thường về phong tục, tập quán vùng miền

– Lẽ thường trong tục ngữ

2.1.3.2. Tác tử lập luận

Khảo sát 500 câu ngẫu nhiên trong 3 tập phóng sự của Binh Nguyên, chúng tôi chia thành 4 loại tác tử nổi bật thể hiện qua bảng thống kê sau:

Bảng phân loại tác tử lập luận diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Phân loạiTừ biểu thịSố lượngTỉ lệ (%)
Tác tử đánh giá về thời gianđã2927,1
Tác tử đánh giá về số lượngchỉ2624,3
Tác tử đánh giá về tiếp diễnvẫn98,4
Tác tử đánh giá về điều kiệnmới1413,1
cũng2927,1

2.2. Các phương thức thể hiện chức năng liên nhân trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

2.2.1. Quy chiếu văn hóa trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Chúng tôi nghiên cứu quy chiếu văn hóa như là một phương thức thể hiện chức năng liên nhân trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên. Do khuôn khổ luận văn và năng lực của bản thân có hạn nên chúng tôi chỉ nghiên cứu định tính một số trường hợp nổi bật trên hai phương diện là: quy chiếu văn hóa đối với hệ thống hình tượng và quy chiếu văn hóa đối với nhan đề tác phẩm.

2.2.1.1. Quy chiếu văn hóa đối với hệ thống hình tượng

Trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên, hệ thống hình tượng tuy không được tác giả sử dụng nhiều thế nhưng trong mỗi trường hợp đều có dụng ý nghệ thuật đắt giá. Hình tượng nghệ thuật trong phóng sự Binh Nguyên cũng là một dạng tín hiệu được cấu tạo từ tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ.

2.2.1.2. Quy chiếu văn hóa đối với nhan đề tác phẩm

Dựa vào nội dung của bài phóng sự, chúng ta có thể biết nhan đề của tác phẩm xuất phát từ vấn đề gì và đem lại hiệu quả gì trong việc đưa thông tin đến với bạn đọc. Tuy nhiên vẫn có không ít những nhan đề mà nếu không vận dụng quy chiếu văn hóa thì bạn đọc sẽ không thể nào biết được mục đích sử dụng của tác giả và hiệu quả biểu đạt của nó, từ đó có thể sẽ không cảm thụ hết nội dung của bài phóng sự.

2.2.2. Các thức trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Chúng tôi chia diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên thành 4 thức, với những dấu hiệu nhận biết khác nhau, được thể hiện qua bảng sau:

Bảng dấu hiệu nhận diện các thức diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Thức sử dụngDấu hiệu nhận diện thường dùng
Thức tường thuậtkhông có dấu hiệu hình thức của những kiểu câu khác
Thức nghi vấnbao nhiêu, ra sao, ai, nơi nào, khi nào, sao, về đâu, à, có mấy ai, nhỉ, ư, làm sao…
Thức mệnh lệnhhãy (hãy tin rằng), phải…
Thức cảm thánđấy, thế đấy, e rằng, quá, lắm, chứ, chứ sao, sao mà, như thế, quá đỗi, ơi…

2.2.2.1. Thức tường thuật

Trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên, thức tường thuật thường biểu thị mối quan hệ khách quan, trung hòa của tác giả với nội dung câu nói với tần suất xuất hiện lớn nhất. Đó thường là những câu miêu tả cảnh, những câu kể chuyện, nhận xét về sự việc hoặc nhân vật… Thức tường thuật trong phóng sự Binh Nguyên không có dạng thức biểu thị riêng, nó trùng với dạng thức biểu thị ngôi và thời của động từ.

2.2.2.2. Thức nghi vấn

Thức nghi vấn trong văn bản diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên thường được dùng để nêu lên điều chưa biết, những điều còn hoài nghi của tác giả hoặc là những trăn trở, dằn vặt về những điều “bất công”, “bất thường”, “trái với đạo lý” ở thực tiễn cuộc sống mà tác giả phản ánh trong bài phóng sự.

2.2.2.3. Thức mệnh lệnh

Đây là thức biểu thị mối quan hệ chủ quan của Binh Nguyên với nội dung câu nói: nêu lên yêu cầu hay mệnh lệnh thực hiện hành động, khơi gợi niềm tin của người nói là tác giả đối với người nghe là bạn đọc.

2.2.2.4. Thức cảm thán

Trong văn bản diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên, thức cảm thán được sử dụng với tần số nhiều trong các bài phóng sự về chủ đề khám phá thiên nhiên và phóng sự nhân vật. Với những bài phóng sự về các chủ đề này, tác giả thường bày tỏ thái độ tình cảm của mình đối với sự việc, nhân vật được nhắc tới một cách chủ quan để từ đó khơi gợi sự đồng cảm, thấu hiểu nơi bạn đọc.

CHƯƠNG 3

CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỨC NĂNG VĂN BẢN

TRONG DIỄN NGÔN PHÓNG SỰ BINH NGUYÊN

3.1. Tổ chức diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

3.1.1. Cấu trúc tổ chức diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Khảo sát 50 bài viết trong 3 tuyển tập phóng sự của Binh Nguyên, cho thấy sự đa dạng trong cấu trúc tổ chức diễn ngôn

3.1.1.1. Cấu trúc theo các khía cạnh của nội dung sự việc

Đây là cấu trúc được Binh Nguyên vận dụng chủ yếu vào việc xây dựng các phóng sự xã hội với những đề tài về thân phận con người, về văn hóa và đời sống xã hội. Diễn biến của câu chuyện như thế nào, tác giả thể hiện trong phóng sự như thế ấy theo mạch nguồn tự nhiên của cuộc sống. Ở đây không gian nghệ thuật trở thành một đối tượng thẩm mỹ mang tính quyết định của cấu trúc phóng sự. Yếu tố thời gian không quá phức tạp và không quan trọng. Những sự kiện này nối tiếp các sự kiện khác theo sự vận động nhân quả.

3.1.1.2. Cấu trúc theo trình tự thời gian

Đây là kiểu cấu trúc thường thấy trong hầu hết các tác phẩm phóng sự truyền thống. Trong phóng sự Binh Nguyên có cấu trúc tuyến tính, các sự kiện được sắp xếp theo trình tự thời gian, đi từ tình thái đầu đến tình thái cuối của câu chuyện. Tuy nhiên, ngay cả khi cùng tuân thủ một kiểu cấu trúc này, với mỗi bài phóng sự khác nhau, tác giả lại dùng các thủ pháp riêng trong việc tạo hiệu quả về nội dung và hình thức cho tác phẩm.

3.1.1.3. Cấu trúc vòng tròn

Cấu trúc vòng tròn là kiểu cấu trúc khá thông dụng sau cấu trúc tuyến tính. Trong các phóng sự có cấu trúc vòng tròn, câu chuyện thường được kể lại theo trình tự hiện tại – quá khứ – hiện tại. Cũng được xây dựng với cấu trúc vòng tròn, nhưng một số phóng sự của Binh Nguyên lại không tuân thủ quy tắc hiện tại – quá khứ – hiện tại mà lấy hình ảnh lặp lại ở đầu và cuối bài viết làm giao điểm vòng tròn.

3.1.1.4. Cấu trúc đa tuyến

Cấu trúc đa tuyến là những phóng sự có từ hai tuyến sự việc trở lên, mỗi tuyến tương đương với một hành động, một số phận của một hoặc một nhóm nhân vật thực hiện. Các phóng sự được xây dựng theo kiểu cấu trúc đa tuyến thường có dung lượng dài nhất so với các phóng sự được xây dựng theo các kiểu cấu trúc khác.

3.1.1.5. Cấu trúc hình tháp xuôi

Cấu trúc hình tháp xuôi cũng được nhà báo Binh Nguyên vận dụng hiệu quả trong việc xây dựng các bài phóng sự có hướng điều tra. Với cấu trúc này ta có thể thấy rằng, logic của nghề báo thường không tương thích với trình tự thời gian, dù đó là trình tự thời gian của các sự kiện hay trình tự thời gian mà nhân vật chính kể lại.

3.1.2. Các bộ phận trong cấu trúc diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Ngoài nhan đề, cấu trúc nội dung chính của diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên bao gồm các phần: Mở đầu, Triển khai vấn đề và Kết luận.

3.1.2.1. Nhan đề trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Nhan đề trong văn bản diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên đóng vai trò là phương tiện diễn đạt chủ đề của bài.

a) Về phương diện nội dung: Khảo sát 50 nhan đề trong 3 tập phóng sự của Binh Nguyên, chúng tôi nhận thấy, 44% nhan đề thể hiện trực tiếp chủ đề, 56% nhan đề còn lại thể hiện dưới dạng thông tin hàm ngôn.

b) Về phương diện hình thức biểu đạt: Nhan đề trong phóng sự Binh Nguyên có cấu trúc là một ngữ như: danh ngữ, động ngữ, giới ngữ, mệnh đề.

c) Về phương diện hình thức cấu trúc: Nhan đề trong phóng sự Binh Nguyên được thể hiện dưới hai dạng: thông tin hiển ngôn và thông tin hàm ngôn.

3.1.2.2. Mở đầu trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Chúng tôi cũng phân tích phần mở đầu trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên được thực hiện theo 2 loại gồm mở đầu trực tiếp và mở đầu gián tiếp. Có thể có phần mở đầu cung cấp thông tin nền cơ bản cho lời bình của tác giả; mở đầu bắt đầu với lời tâm sự, chiêm nghiệm của tác giả hoặc mở đầu bằng một câu hỏi nêu vấn đề.

3.1.2.3. Kết luận trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Về cơ bản, các bài phóng sự của Binh Nguyên có phần kết riêng với các kiểu kết như sau: tóm tắt, mở rộng vấn đề, khái quát và nâng cao, nêu ấn tượng hoặc cảm tưởng của tác giả.

Một điểm rất đặc biệt trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên là phần kết thúc đa phần tác giả đều sử dụng dấu chấm lửng, một số bài là dấu chấm than và số ít là dấu chấm.

3.1.2.4. Phần triển khai vấn đề trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

a) Một số đặc điểm hình thức

– Dung lượng diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên: Trong số liệu phân tích, các diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên có từ 60 đến 150 câu và số lượng trung bình là 105 câu/bài.

– Đoạn văn: Đa số các đoạn văn sử dụng trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên là các đoạn văn theo ý nghĩa thông thường, là các kết hợp có câu chủ đề và phần phát triển.

– Lời bình, đánh giá của tác giả: Qua những lời bình của Binh Nguyên hầu như ít nhiều đều có xuất hiện trong các bài phóng sự, đã thể hiện khả năng phản ánh hiện thực qua cái tôi chứng kiến, cái tôi thẩm định và cái tôi cảm xúc của tác giả.

– Lời nói trực tiếp hoặc gián tiếp của nhân vật: Lời nói trực tiếp là lời nói đối lập với gián tiếp và trong văn bản diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên được đặt trong dấu ngoặc kép hoặc đặt sau dấu gạch đầu dòng.

– Trật tự câu: Luận văn chọn phân tích ngẫu nhiên một vài câu trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên dựa trên quan điểm phân chia câu theo cấu trúc đề – thuyết của Cao Xuân Hạo.

– Sử dụng từ ngữ: Kết quả phân tích cho thấy, Binh Nguyên có thiên hướng sử dụng nhiều từ ngữ mang sắc thải biểu cảm, hay các thành ngữ hoặc các từ ngữ có tính hình tượng cao.

– Về phương diện hình thức, cấu trúc: Dung lượng của phần triển khai khá dài và được cấu trúc linh hoạt thành nhiều khối sự kiện. Ở đây chúng tôi gọi là block sự kiện. Mỗi block là một cụm nội dung, chuyển tải những chủ đề, những cụm sự kiện khác nhau.

b) Cấu trúc phát triển nội dung: Trong văn bản diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên, tác giả thường đưa ra những thông tin nền, thông tin chứng minh, những phân tích, đánh giá, bình luận về vấn đề trên nhiều mặt.

– Thông tin nền, ngữ cảnh tình huống.

– Thông tin chi tiết minh chứng, giải thích cho sự tình được nêu trong nhan đề.

– Thông tin bình luận, đánh giá, nhận định về sự kiện, nhân vật.

– Thông tin định hướng nhận thức, củng cố lòng tin.

3.2. Mạch lạc trong triển khai thông điệp của diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát các phương tiện liên kết dùng để duy trì và phát triển chủ đề (liên kết chủ đề), đồng thời khảo sát các phương tiện thể hiện sự bố trí các thành tố trong diễn ngôn (liên kết lôgic).

3.2.1. Các phương tiện liên kết chủ đề trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Mạch lạc của diễn ngôn được thể hiện qua tính thống nhất về chủ đề trong toàn diễn ngôn, đồng thời được thể hiện qua tính liên kết trên phương diện văn bản. Liên kết văn bản bao gồm hai mặt gắn bó mật thiết với nhau là lien kết nội dung và liên kết hình thức.

Qua khảo sát các phép liên kết biểu hiện mạch lạc duy trì và phát triển chủ đề trong một số bài lựa chọn ngẫu nhiên rải đều trong 3 tập phóng sự (khoảng 315 câu), chúng tôi thu được số liệu theo bảng sau:

Bảng khảo sát phương tiện liên kết trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

Các phương tiện liên kết trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên Tỉ lệ (%)
Các phương tiện liên kết chủ đềDuy trì chủ đềPhép lặp từ vựng30,8%
Phép thế đồng nghĩa11,2%
Phép thế đại từ5,9%
Phép tỉnh lược5,3%
Phát triển chủ đềPhép liên tưởng16%
Phép đối2,4%
Các phương tiện liên kết lôgicSự bố trí các thành tố trong diễn ngônPhép tuyến tính19,5%
Phép nối8,9%

3.2.1.1. Mạch lạc biểu hiện trong cách duy trì chủ đề

– Phép lặp từ vựng

– Phép thế

– Phép tỉnh lược

3.2.1.2. Mạch lạc biểu hiện trong cách phát triển chủ đề

– Phép đối lập từ ngữ

– Phép liên tưởng

3.2.2. Các phương tiện liên kết lôgic trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

3.2.2.1. Phép tuyến tính

Phép tuyến tính giữa các câu là một trong những phương tiện làm cho trật tự bài phóng sự của Binh Nguyên có tính cố định cao. Rất khó thay đổi trật tự các câu trong văn bản.

3.2.2.2. Phép nối

Để phát triển chủ đề, trong phóng sự Binh Nguyên, thường sử dụng các từ ngữ làm phép nối sau: nhưng, nếu, nói chung là, có lẽ, thứ nhất, thứ hai… và đặc biệt là sử dụng các từ ngữ chỉ thời gian như: ngày ấy, lúc ấy, sáng nay…

3.2.3. Phát triển mạch lạc theo tính quan yếu

Luận văn tập trung miêu tả cấu trúc phát triển nội dung của diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên theo phương châm “quan hệ – relation”, tức là tính chất quan yếu của các yếu tố phát triển nội dung. Có thể thấy rằng việc miêu tả được các yếu tố phát triển thường xuyên xuất hiện trong bài phóng sự sẽ là một căn cứ để khẳng định về tính quan yếu của các yếu tố tạo nên mạch lạc này. Trong đó, hai yếu tố thông tin nền và bình luận, nhận xét, đánh giá của tác giả là hai hướng phát triển nội dung chủ yếu. Tuy nhiên cần phải thấy rằng yếu tố bình luận là yếu tố chen lồng vào các yếu tố khác.

Các yếu tố có thể xuất hiện trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên được gọi là các yếu tố quan yếu (relevant factors). Chúng không những thường xuyên xuất hiện trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên, mà còn tạo nên mối quan hệ liên tưởng cho nó. Xét theo sự hiện diện của các yếu tố phát triển nội dung trong diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên, cấu trúc nội dung của diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên có thể được chi tiết hóa như sau:

Diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên
Chủ đềPhần nội dung
Nhan đềMở đầuPhát triểnKết luận
– Hiển ngôn

– Hàm ngôn

– Tâm sự của tác giả

– Thẳng

– Thông tin nền

– Nền

– Đánh giá

– Kết quả

– Chi tiết hóa

– Tóm tắt

– Khái quát và nâng cao

– Mở rộng vấn đề

– Nêu ấn tượng hoặc cảm tưởng

Hình chi tiết hóa cấu trúc nội dung của diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên

KẾT LUẬN

Dưới ánh sáng của lý thuyết phân tích diễn ngôn M.A.K.Halliday, luận văn tiến hành nhận diện, giải thích và đánh giá một số phương tiện thực hiện chức năng tác động của phóng sự Binh Nguyên với khối ngữ liệu gồm 50 bài phóng sự và đi đến một số kết luận sau:

1) Luận văn đã tập hợp và trình bày những vấn đề lý lufận cơ bản của phân tích diễn ngôn, xác định khung lý thuyết cho hướng tiếp cận, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu. Luận văn cũng xác định một cách thống nhất trong sử dụng khái niệm diễn ngôn là để chỉ ngôn ngữ trong hoạt động, ngôn ngữ được sử dụng trong ngữ cảnh văn hoá – xã hội.

2) Từ định hướng nghiên cứu, luận văn xác định vận dụng khung lý thuyết chức năng hệ thống của M.A.K.Halliday theo đường hướng phân tích diễn ngôn tổng hợp và phê phán để phân tích diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên. Đây là đường hướng phân tích diễn ngôn từ tiếp cận ngôn ngữ học phù hợp với việc nghiên cứu thể loại diễn ngôn phóng sự báo chí và các mục đích ứng dụng của luận văn vào lý thuyết cũng như thực tiễn.

3) Chức năng tư tưởng được thể hiện bao trùm, quán xuyến trong tất cả các bài phóng sự. Mỗi phương thức, hành động ngôn ngữ được sử dụng, xét đến cùng đều thể hiện chức năng tư tưởng bởi phóng sự báo chí có chức năng định hướng tư tưởng, khơi gợi cảm xúc đồng điệu nơi bạn đọc.

4) Phóng sự Binh Nguyên là một thể loại diễn ngôn báo chí với những bài viết từ những năm 90 của thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI. Đây là giai đoạn chuyển giao sang thiên niên kỷ mới với hệ tư tưởng thời đại chi phối lên nhận thức và hành động của con người. Thông qua diễn ngôn báo chí, người phát đã thể hiện tư tưởng, thái độ của mình trong việc lựa chọn từ ngữ mang sắc thải biểu cảm, hay các thành ngữ hoặc các từ ngữ có tính hình tượng cao.

5) Phân tích diễn ngôn phóng sự Binh Nguyên từ bình diện chức năng tổ chức thông điệp và bình diện liên nhân cho thấy, dựa trên giá trị kinh nghiệm mà bản thân tích lũy được, trong điều kiện ngữ cảnh cụ thể, tác giả đã tạo lập lập luận và quy chiếu văn hóa nhằm dẫn dắt bạn đọc đi theo định hướng của mình.

6) Nhìn từ góc độ cấu trúc vĩ mô, cách tổ chức thông điệp của diễn ngôn đưa đến một cái nhìn hệ thống và tổng thể khi tác giả tổ chức, xử lý văn bản ở mọi tầng bậc. Dựa trên sự đánh dấu chủ đề/hệ chủ đề trong văn bản, người xử lý văn bản có thể tổ chức và điều chỉnh văn bản trở nên có hệ thống và mạch lạc.

7) Luận văn nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệ với các yếu tố ngoài xã hội, gắn hệ thống ngôn ngữ với quá trình hoạt động và xem nó như một quá trình giao tiếp/ tương tác. Qua đó thấy được, ngôn ngữ có mối quan hệ biện chứng với các yếu tố phi ngôn ngữ: Đó là sự tác động của các yếu tố ngữ cảnh đến quá trình lựa chọn và cách thức sử dụng ngôn ngữ của người tạo lập diễn ngôn; ngược lại, nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình hành chức sẽ thấy hết được các chức năng cơ bản nó: chức năng biểu hiện, chức năng liên nhân và chức năng tạo lập văn bản.

Trong quá trình nghiên cứu, trên cơ sở mục đích ban đầu, luận văn đã cố gắng hướng đến giải quyết thấu suốt các vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Chúng tôi xác định có những hướng mở rộng đề tài như sau:

– So sánh/đối chiếu diễn ngôn phóng sự báo chí với các thể loại báo chí khác để có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn nhằm có những định hướng sử dụng ngôn ngữ trong bối cảnh tiếp biến, giao thoa và hội nhập văn hóa hiện nay.

– Phân tích diễn ngôn phóng sự báo chí của các tác giả khác để xem những phương tiện cơ bản cấu thành nên thể loại được xem là có vị trí đầu tiên trong hệ thống thể loại báo chí này.

– Phân tích diễn ngôn phóng sự báo chí và phóng sự văn học trong mối quan hệ đối chiếu để tìm ra sự khác nhau và giống nhau của hai thể loại này, từ đó xác định đường biên giữa chúng.

Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng cho thấy ứng dụng cách tiếp cận phân tích diễn ngôn vào các thể loại văn bản cụ thể là một công việc cần được tiếp tục mở rộng đối với nhiều thể loại diễn ngôn. Ở đây, do khuôn khổ luận văn có hạn, vẫn còn nhiều vấn đề mà nghiên cứu chưa có dịp đi sâu khảo sát chi tiết, cụ thể. Bởi phân tích diễn ngôn, đặc biệt là diễn ngôn báo chí, rất hữu ích đối với việc giảng dạy ngôn ngữ và ngành báo chí nhằm nâng cao ý thức sử dụng cho người học, đồng thời đưa ra một số gợi mở cho các nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà giáo, nhà báo trong việc sử dụng ngôn ngữ như một công cụ nghề nghiệp.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\NGON NGU HOC\LE NU HOANG HAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *