Chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai

Chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Chứng minh trong tốtụng hình sựlà một trong những vấn đềlý luận quan trọng, cơ bản của tố tụng hình sự. Mặc dù đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau vềchứng minh trong tố tụng hình sự nhưng phần lớn là nghiên cứu về đối tượng chứng minh trong tốtụng hình sự, quá trình chứng minh trong vụán hình sự, nghĩa vụchứng minh trong tố tụng hình sự, quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ

án hình sự… Tuy nhiên, để giải quyết vụ án hình sự các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải chứng minh làm rõ được sự thật của vụ án. Vì không thể làm sángtỏtất cả mọi khía cạnh củavụán hìnhsựmà chỉ có thể và chỉ cần làm rõ những tình tiết có ý nghĩa pháp lý, những vấn đề cần thiết mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Muốn làm sáng tỏ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được những chứng cứ cần thiết theo đúng quy định của pháp luật.

Xét về trình tự tố tụng chứng minh là phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giávà sửdụng chứng cứtrên cơ sở đó mớixác địnhđượcsựthật của vụ án. Do vậy, cần nhận thức đúng,đầyđủvà sâu sắc vềnguyên tắc xácđịnhsựthật củavụán, trên cơ sở đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có cách nhìn và thái độ làm việc khách quan, toàn diện trong việc tìm kiếm, đánh giá chứng cứ. Nhận thức đúngđắn lý luận về chứng cứ bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào điềukiện cụ thể của vụ án để có quyết địnhchính xác trong những tình huống giữa có tội và không có tội, áp dụng trách nhiệm hình sựhay miễn trách nhiệm hình sự. Để bảo đảmpháp chế và công lý, đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải có kiến thức pháp luật và hiểu biết đầy đủ, khách quan, toàn diện về các tình tiết của vụ án, nhân thân người phạm tội, đảmbảo cho việc chứng minh tội phạm được khách quan, toàn diện, chính xác, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2015 đã quyđịnh chứng minh và chứng cứthành mộtchương riêng, theo đó được quyđịnh tại chương VI của Bộ luật. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm,đặc biệt trong giai đoạn hiện nay tình hình tội phạm rất phức tạp, phương thức và thủ đoạn gây án rất tinh vi, quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết chưa triệt để, làm cho việc xác định sự thật khách quan vụ án còn có nhiều sai sót, dẫn đến việc

1

điều tra, truy tố, xét xử không đúng người, đúng tội dẫn đếnnhiều trường hợp làm oan người vô tôi, bỏ lọt tội phạm.

Như vậy, xét từgóc độquyđịnh pháp luật, việc nghiên cứu chứng minh trong tốtụng hình sựcó ý nghĩa rất quan trọng là bảo đảmtốt hơn vềquyền con người, bảo vệ bên bị yếu thế và góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung và cải cách tư pháp nói riêng.

Xét từ góc độ thực tiễn, việc thực hiện chứng minh trong tố tụng hình sự còn có những bất cập xuất phát từ việc chưa quy định cụ thể, rõ ràng giữa các chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử dẫn đến tình trạng chồng chéo nhau, làm cho các chủ thể thực hiện chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, có sự đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Ngoài ramộtnhântốcũng không kém phần quan trọngđólà trìnhđộchuyên môn của các chủ thể thực hiện các hoạt động chứng minh ngày càng được nâng cao, nhưng thực tiễn trong những năm gần đây chất lượng giải quyết các vụ án hình sựvẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này bao gồm cảnguyên nhân chủ quan từ phía các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện chứng minh trong tố tụng hình sự và nguyên nhân khách quan từ chính các quy định của pháp luật hình sự.

Đồng Nai là một trong những tỉnh cósố lượngán nhiều chỉ đứng sau Tp. HồChí Minh và Tp.Hà Nội vì tập trung nhiều khu công nghiệp, số lượng dân di cư lớn, tình hình an ninh trật tự cũng có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là tội phạm hình sự xảy ra với tính chất, mức độ nguy hiểm cho cho xã hội ngày càng gia tăng.Việc tiếp tục nghiên cứu chứng minh trong tố tụng hình sự là một nội dung hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn cả vềmặtlý luận và thực tiễn, góp phần bảo vệ quyền con người, nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Chính vìvậy, tác giả đã chọn đềtài “Chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn

tỉnh Đồng Nai” làm luận án tiến sĩ luật học.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, làmrõ một số vấn đề lýluận, những quy định của pháp luật liên quan đến chứng minh trong tố tụng hình sự cùng với sự tổng kết thực trạng hoạt độngchứng minh trong tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng tại tỉnh Đồng Nai, luận án đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự và các giải pháp khác nhằm bảo đảm và nâng cao hơn nữa chất lượng chứng minh trong vụ án hình sự.

2

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu như trên, nhiệm vụ đặt ra đối với luận án như sau:

– Đánh giá tổng quan tình hình nghiêncứu ở nước ngoài và ở Việt Nam vềnhững vấn đề liên quan đến chứng minh trong tố tụng hình sự, chỉ ra những điểm đã thống nhất, nhữngđiểm còn tranh luận chưa được giải quyết thấu đáo và nhữngđiểm luận án tập trung giải quyết.

– Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về chứng minh trong tố tụng hình sựnhư khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nội dung… của chứng minh trong tố tụng hình sự.

– Phân tích và làm rõ quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam qua các thời kỳ, chỉ ra những bất cập và thiếu sót trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành của Việt Nam.

– Nghiên cứu, tìm hiểu quy định trong pháp luật tố tụng hình sựcủa một sốnước trên thế giới về chứng minh trong tố tụng hình sự, chỉ ra sự tương đồng, khác biệt và kinh nghiệm đối với Việt Nam.

– Đánh giáthực trạng chứng minh trong tố tụng hìnhsựkhi giải quyết vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những vướng mắc trong thực tiễn chứng minh vụ án hình sự.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứucủa luận án là những vấn đềlý luận vềchứng minh trong tốtụng hình sự,các quyđịnh của pháp luật tốtụng hình sựViệt Namvềchứng minh trong tố tụng hình sự, có tham khảo luật tố tụng hình sự của nước ngoài và thực tiễn thực hiện quyđịnh của pháp luậttố tụng hình sựViệt Namvề chứng minh trong tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về không gian và thời gian, Luận án tập trung nghiên cứu thực tiễn chứng minh trong các giai giai đoạn tố tụng do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tiến hành trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian từ năm 2008 đến năm tháng 6 năm 2019.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận

Luận án nghiên cứu chứng minh trongtố tụnghình sự theo phương pháp liên ngành khoa học xã hội và đa ngành, liên ngành luật học. Trong luận án, tác giả chútrọng sử dụng phương pháp luận nghiên cứu sau:

3

– Luận án sửdụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sửcủa

chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như các quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng HồChí Minh trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệquyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự.

-Luận án được hoàn thành dựa trên cơ sở lý luận nhận thức của Chủ nghĩa duy vật biện chứng để luận giải quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự, từ việc thu thập, kiểm tra chođến đánh giá chứng cứ. Với triết lý nhận thức là một quátrình vận động và phát triển không ngừng từkhông biết cho đếnbiết, từít đến nhiều, từthấpđến cao, từnông đếnsâuđểnắm đượcquy luật của sựvật và hiện tượng. Vấn đề này hoàn toàn phù hợp với việc chứng minh trong tố tụng hình sự.

– Luận án sử dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu lý luận luật hình sự, luật tố tụng hình sự làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá luật thực định về hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự.

– Với lý luận về dấu vết trong khoa học điều tra tội phạm, đây là cơ chế hình thành chứng cứ trong vụ án hình sự mà các chủ thể có thẩm quyền cần phải nghiên cứu đểcó thểthu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứmột cách khách quan, toàn diện và đầy đủ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp khái quát, tổng hợp được sử dụng trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự nhằm hệthống hóa các công trình khoa học đã được công bốvà phân loại theo nhóm công trình liên quan đến nội dung luận án.

– Phương pháp phân tích được sửdụng trong hầu hết các nộidung được nghiên cứu trong luận án nhằm luận giải làm sáng tỏ nhữngvấn đề lý luận,làm rõquy định của pháp luật và từ đó đưa ra nhận xét, đánh gía mang tính kết luận đối với từng vấn đề hoặc từng nhóm vấn đề.

– Phương pháp lịchsửđược sửdụng trong việc nghiên cứuquá trình phát triển của những quy định về hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự với sự thểhiện gắn kết và nối tiếp về thời gian nhằm đưa ra những minh chứng cho giá trị của nó và việc kế thừa những quy định về hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự.

– Phương pháp so sánh được sửdụng đểtìm ra đặcđiểm của hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự so với tố tụng phi hình sự, tìm ra sự tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam với một số nước trên thế giới và tiếp thu kinh nghiệm đối với Việt Nam.

4

– Phương pháp thống kê được sửdụng đểđánh giá thực tiễn thực hiện quyđịnh của pháp luật vềchứng minh trong tố tụng hình sự làm cơ sở cho việc chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó.

Tuy nhiên, tùy thuộc vào nội dung nghiên cứu trong từng chương mục của đềtài, luận án chú trọng lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp. Vì vậy,đểđạt được mục đích nghiên cứu, tác giảkết hợp chặt chẽcác phương pháp trong quátrình nghiên cứu của toàn bộnội dung luận án, đồng thời cũng xác định phương pháp chủ đạo trong việc nghiên cứu từng nội dung trong từng chương, mục của luận án nhằm làm rõ những vấn đề lý luận chung, những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và thực trạng chứng minh trong tố tụng hình sự.

Chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai
Chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Đề tài là một công trình nghiên cứu có tínhhệ thống, toàn diện về chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam mà cụ thể trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và gắn với thời giancụ thể từnăm 2008 đếntháng 6 năm 2019. Điểm mới củaluận ánđược thể hiện chủ yếu ở các điểm sau:

-Về phương pháp tiếp cận:Bằng việc sửdụng phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành luật học, đặc biệt là các phương pháp triết học pháp luật, phương pháp duyvậtbiện chứng, luận án đãphân tích rõ khái niệm chứng minh, trách nhiệm chứng minh, chủ thể chứng minh và đối tượng chứng minh trong pháp luật tố

tụng hình sựViệt Namtừthực tiễn tỉnh Đồng Nai từnăm 2008 đến tháng 6 năm 2019 và tổng kết những kinh nghiệm chứng minh của các cơ quan tư pháp hình sự

tại tỉnh Đồng Nai, đồng thời chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế từviệc áp dụng các quy định pháp luật Tố tụng hình sự, đặc biệt là các quy định mới của BLTTHS năm 2015 vào thực tiễn chứng minh của các cơ quanđiềutra, truy tố, xét xử tại tỉnhĐồng Nai. Qua đó làm cơ sở cho việc đưa ra các kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả chứng minh trongtố tụng hình sựViệt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnhĐồng Nai nói riêng.

-Về quan điểm tiếp cận:Với quan điểmtiếp cận tổng thể, toàn diện và đa chiều về chứng minh trong tố tụng hình sự giữa quy định của pháp luật hiện hành vàthực tiễn chứng minh trong tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nghiên cứu trách nhiệm chứng minh và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong chứng minh tội phạm. Luận án làm sángtỏquy định trách nhiệm chứng minh cũng nhưđối tượng chứngminh và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự, đảm bảo tốt hơn quyền con người, quyền công dân, tránh oan sai.

5

– Về tính tổng quát của luận án:Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chứng minh trongtố tụnghìnhsựViệt Nam, trên cơsởphương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận, đặc biệt là trên cơ sở quy định của pháp luật tố tụng hình sự và qua nghiên cứu thực tiễn để làm sáng tỏ, sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về chứng minh trong

tố tụnghình sự, qua đó phát hiện ra những nguyên nhân hạn chế, bất cập trong thực tiễn áp dụng.Điềunày có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiệnvề mặt lý luận mà trước hết là lý luận về chứng minh trong tố tụng hình sự.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

– Ý nghĩa lý luận: Luận án nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về chứng minh trong tố tụng hình sự ở nước ta. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần xây dựng và phát triển hoàn thiện hơn lý luận về chứng minh trong trong tố tụng hìnhsựở nướcta. Luận án đưa ra được các luận cứ khoa học về nội dung, các bước và các giải pháp về chứng minh trong tố tụng hình sự.

– Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thểđượcsửdụng trong công tác nghiên cứu của các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật, các cơ quan bảo vệ pháp luật và có ý nghĩa lýluận và thực tiễnđốivới chính các cơ quan tiến hành tốtụng và cũng là tài liệu tham khảo trong quá trình xây dựng vàsửa đổiBộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình

sựvà các văn bản dưới luật góp phần làm phong phú và hoàn thiện hơn lý luận chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam, nâng cao hiệu quả trong công cuộc cải cách tư pháp, đặc biệt là hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được chia thành bốn chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Những vấn đề lý luận về chứng minh trong tố tụng hình sự. Chương 3: Quy định của pháp luật về chứng minh trong tố tụng hình sự và thực

tiễn thực hiện tại tỉnh Đồng Nai.

Chương 4: Yêucầuvà các giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh trong tố tụng hìnhsự

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

6

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Chứng minh trong tố tụng hình sự đã được đề cập nhiều trong những năm gần đâyvànhằmđápứngyêucầucảicách tư pháp thì chứng minh trongtốtụng hìnhsựđượcxem như làmộtnhiệmvụtrọng tâm, luôn nhậnđượcsựquan tâmcủanhiều chuyên gia, các nhà khoa học trên nhiều phương diện khác nhau về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Chứng minh trong tố tụng hình sự làmột đề tài phức tạp cả vềmặt lýluận và thực tiễn cần được nghiên cứu làm rõ, nhưng cho đến nay tài liệu nghiên cứu về vấn đề nàycòn rất ít, các tác giả khi nghiên cứu chỉ đề cập ở một khía cạnh phạm vichứng minh hay quá trình chứng minh của một cơ quan tiến hành tố tụng.

1.2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đếnthực trạng chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.2.3. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh trong tố tụng hình sự:

1.2.4. Nhóm các công trình nghiên cứu khác có liên quan

1.3.2. Những vấn đề chưa thống nhất còn tranh luận

Cũng với năm vấn đề đã thống nhất như tác giả đã nêu trong tiểu mục 2.3.1, tác giả thấy rằng còn một số điểm chưa được thống nhất trong các công trình nghiên cứu mà tác giả tham khảo. Tuy nhiên, theo tácgiả, sựkhác nhau về quan điểm cũng như về cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu là vấn đề không thể tránh khỏi và đó cũng là chuyên bình thường trong nghiên cứu khoa học.

Qua nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giảluận án nhận thấy một số vấn đề chưa thống nhất mà nghiên cứu sinh cần phải tiếp tục nghiên cứu và làm rõ trong luận án của mình. Đó là những vấn đề sau :Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sựcó tiến hành các hoạt động chứng minh hay không. Vấn đề này chưa được thể hiện rõ trong các công trình nghiên nói trên. Tất cả các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều là chủthể chứng minh hay chỉ một số chủ thể nhấtđịnh; người tham giatố tụngcó làchủthể chứng minh vụ án hình sự không.Chứng minh trong tố tụng hình sựchỉ bảogồmcác hoạt độngthu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ hay cả hoạt động sử dụng chứng cứ. Đối tượng chứng minh trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự là giống nhau hay khác nhau.

1.3.3. Những vấn đề luận án tập trung giải quyết

Trên cơ sở xác định đề tài luận án thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự; kết quả đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong đó có những điểm đãđược thống nhất, những điểm còn đang tranh luận của các công trình đã được công bố; căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh xin được tiếp thu, kế thừa những ưu điểm của các công trình đã được công bố,đồng thời tiếp tục làm rõ những vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc đã được nghiên cứu có liên quan đến luận án nhưng chưa thấu đáo. Cụ thể là:

Thứnhất, trên cơsởnghiêncứutổng hợp, tiếp thu nhữngvấnđềlý luậnvềchứng minh trong tụng hình sự nói chung cũng như trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụán hình sự nói riêng, nghiên cứu sinh sẽ xây dựng những vấn đề lý luận về chứng minh trong tố tụng hình sự như: Khái niệm chứng minh trong tố tụng hình sự; đặc điểm của

22

hoạt động chứng minh trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự và mối tương quan giữa các giai đoạn; nội dung của hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự.

Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu các quyđịnhcủa pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam qua các giai đoạn lịchsửkhác nhau, tác giả đánh giá và chỉ ra bức tranh

tổng thể trong quy định của pháp luật về chứng minh trong tố tụng hình sự và làm rõ những giá trị kế thừa của chế định này trong lịch sử lập pháp của nước ta.

Thứ ba, trên cơ sở những yếu tố có ảnh hưởng đến chứng minh trong tố tụng hình sựtừthực tiễn tỉnh Đồng Nai; các số liệu thống kê về hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian

từnăm 2008 đến tháng 6 năm 2019 cùng với các công trình khoa học mà tác giảtham khảo, luận án làm rõ thực trạng chứng minh, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế vướng mắc và nguyên nhân của nó.

Thứ tư,từ kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật về chứng minh trongtố tụnghìnhsựvà thực tiễn thực hiện trênđịabàn tỉnh Đồng Nai, nghiên cứu sinh đề xuất một số giải pháp bảo đảm thực hiện tốt hơn nữa hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự. Đó là giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng minh; giải pháp đối với các chủ thể có trách nhiệm chứng minh; giải pháp đối với các chủ thể tham gia chứng minh và một số giải pháp khác.

Kết luận chương 1

Chứng minh trong tố tụng hình sự là một trong những nội dung quan trọng đãđược ghi nhận trong Hiến pháp 2013 và đặc biệt là Bộluật tốtụng hình sựnăm 2015.Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhất là trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tếcủa đất nướcta thì tình hình tộiphạm diễn ra ngày càng đa dạng, có tính chất phức tạp, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội tinh vi, xảo quyệt, thì việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật về chứng minh trong tố tụng hình sự và thực tiễn vận dụng, áp dụng pháp luật trong thực tiễn cuộc sống, để trên cơ sở đó đúc kết kinh nghiệm về mặt khoa học và thực tiễn, nhằm đưa ra những bảo đảm và giải pháp để đảm bảo quyền con người, bảo đảm công bằng và công lý là rất thiết thực và cần thiết. Đặc biệt đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng vàNhà nước ta trong giai đoạn hiện nay và bảo đảmhiệu quảtrong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.Chứng minh trong tố tụng hình sựlà vấn đềcó rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong công cuộc đấu tranh phòng

23

chống tội phạm, vì phải vừa đảm bảo về mặt trừng trị đúng người, đúng tội và đúng với tính chất, mức độhành vi phạm tội, giáo dục họtrởthành công dân tốt, vừa không làm oan người vô tội, bảo đảm quyền công dân. Vì vậy, chứng minh trongtố

tụng hình sựvới mục đích cuối cùng là nhằm giải quyết vụán hình sựđúng quyđịnh của pháp luật, bảo đảm quyền công dân, quyền con người. Việc nhận thức và áp dụng pháp luật trong quá trình chứng minh có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt khoa học và thực tiễn.

Bởi tầm quan trọng của việc khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quanđối với việc thực hiện các nội dung của luận án, tác giảđãtham khảo các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước để rút ra được những kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận án của mình có hiệu quả.

Đối với các công trình nghiên cứu trong nước chỉ có các công trình nghiên cứu ởcác lĩnh vựckhác nhau củachứng minh trong tốtụng hình sự, tác giảđã tham khảo ở các cấp độ khác nhau, từ công trình nghiên cứu sách giáo trình, các bộ luật,

các đề tài nghiên cứu khoa học…trong số những công trình nghiên cứu đó có những nội dung liên quan trực tiếp đến đề tài, song có những công trình không liên quan trực tiếp nhưng lại có ý nghĩa ở phương diện cấp lý luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu vấn đềdưới gốc độtội phạm học và phòng ngừa tội phạm. Chính nhờcác công trình nghiên cứu đó mà tác giả không những có được hiểu biết sâu hơn vềlý luận, về thực tiễn mà còn rút ra được cách tiếp cận nghiên cứu phù hợp để thực hiện các nhiệm vụ và mục đích mà luận án đã đặt ra.

Qua tham khảo các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước đã giúp cho tác giả định hướng được mục đích, nội dung, ý nghĩa và đặc biệt là định hướng nghiên cứu làm rõ chứng minh trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai.

Khi nghiên cứu chứng minh trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai tác giả đã nghiên cứu tìm những nguyên nhân thiếu sót và hạn chế, những biện pháp khắc phục những thiếu sót và hạn chế của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn

tỉnh Đồng Nai, đểtừđó rút ra được những kiến nghị, giải pháp bảođảmcho hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự nói chung và chứng minh trong tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng. Để đạt được mục đích như trên tác giả đãnghiên cứu và kết hợp những kiến thức, kinh nghiệm, cách tiếp cận nghiên cứu từcác công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước đãđược tácgiả tham khảo nghiên cứu tại phần tổng quan của luận án.

24

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1. Cơ sở phương pháp luận của chứng minh trong tố tụng hìnhsự

Cơ sở, phương pháp luận của chứng minh trong tố tụng hình sự là quan điểm duy vật biện chứng của triết học học Mác – Lênin. Nhờ có lý luận nhận thức của

triết học Mác –Lênin mà việc chứng minh trong tố tụng hình sựcó được một phương pháp biện chứng thông qua việc áp dụng các phạm trù,các quy luật của phép biện chứng duy vật và quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ. Theo đó, bản chất của thế giới là vật chất, con người có khả năng nhân thức được thế giới khách quan. Vật chất là thực tại khách quan tồn tại độc lập với ýthức và được ý thức phản ánh. Chứng cứ là một dạng vật chất nên nó cũng vận động và phát triển theo đúng các quy luật của tự nhiên, quy luật của xã hội và tư duy. Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật gồm hai nguyên lý, ba quy luật và sáu cặp phạm trù.

Tội phạm là một hiện tượng của thế giới khách quan luôn luôn vận động và biếnđổi không ngừng. Những gì xảy ra từ hành vi phạm tội cũng không nằm ngoài quy luậtđó. Chẳng hạn trong một vụ án giết người, khi khám nghiệm hiện trường cơ quan điều tra thu được một con dao do người phạm tội để lại có dính máu. Nếu cơ quan điều tra không thu giữ con dao một cách kịp thời và đưa đi giám định thì sẽ gặp khó khăn trong

việc xác định đó là máu của ai, dấu vân tay để lại trên cán dao?…. Bởi lẽ, vết máu này

sẽ khô dần và biến đổi trong một khoảng thời gian nhất định, dấu vân tay cũng có thểmất đi do tác động của môi trường. Xuất phát từ quy luật vận động của vật chất này mà pháp luật cần phải quy định trình tự, thủ tục thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong chứng minh vụ án hình sự phải được tiến hành trong một thời hạn nhất định để tránh sựbiến đổi của vật chất từ dạng này sang dạng khác[59].

Lý luận nhận thức đặt nền tảng cho yêu cầu chứng minh, là nơi khởi nguồn của phương pháp luận cho quá trình chứng minh trong việc nhìn nhận, xem xét sự

thật, chân lý của vụ án hình sự. Triết học Mác –Lê nin đã chỉ rõ: Chân lý là kết quả của quá trình nhận thức của con người. Chân lý là khách quan, tính khách quan của chân lý thể hiện ở chỗ, nội dung phản ánh của chân lý là khách quan, tồn tại không

lệ thuộc vào ý thức của con người.

Lý luận chứng minh dựa trên cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng đòi hỏi toàn bộ hoạt động chứng minh phải được tiến hành theo nguyên tắc khách quan

25

và toàn diện. Nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải xem xét sựvật từbản thân sự vật, phản ánh sự vật một cách trung thực. Nguyên tắc toàn diện yêu cầu phải xem xét sựvật trong tất cả các mặt, các mối liên hệ của nó cũng như tìm ra những mối liênhệbản chất để nhận thức đúng đắn sựvật, hiện tượng:‘‘muốn thật sựhiểu được sựvật, cần phải nhìn bao quát và nghiêncứu tấtcảcác mặt, tất cả cácmốiliên hệ và quan hệ gián tiếp của sựvật đó. Chúng ta không thể làmđược điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầmvà sựcứng nhắc [118, tr.364]. Từnhững phương diện triết học, con người cóthể nhận thức được tất cả nhờ sựhiểu biết sâu sắc các hiện

tượng, sựvật củathếgiới khách quan. Triết học Mác – Lê nin cụ thể là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là chìa khóa của toàn bộ quá trìnháp dụng lý luận chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Để xác định có tội phạm xảy ra hay không các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh các tình tiết thỏa mãn các dấu hiệu trong khái niệm tội phạm được quyđịnh trong Bộ luật hình sự, chứng minh họ có thuộc trường hợp được miễn TNHS hay không, nếu không thuộc trường hợp được miễn thì phải chứng minh các tình

tiết là căn cứquyếtđịnh hìnhphạt…. do đócó thể khẳng định căn cứ, cơsởcủa chứng minh trong tố tụng hình sựchủ yếu là các khái niệm, các quyđịnh của Bộluật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên không phải căn cứvào tất cả các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự mà chỉ căn cứ vào những quyđịnh nào liên quan đến việc chứng minh trong tố tụng hình sự.

Học thuyết nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng được sử dụng như làcơ sở phương pháp luận của chứng minh trong tố tụng hình sự với những quan điểm cơ bản sau đây:

Một là,mọisựvật, hiện tượng của thế giới khách quan luôn luôn tồn tại trong mối quan hệ qua lại và chịu sựtác động lẫn nhau. Bằng sựtác động qua lạiđó, sựtồn tại của sựvật, hiện tượng này luôn để lại dấu vết ở sựvật, hiện tượng khác. Tộiphạm là hành vi cụthểcủa con người được thểhiện ra thếgiới khách quan. Chính vì sự tồn tại khách quan mà tội phạm cũngđể lại cácdấu vết nhất định. Bằng cách thu thập các dấu vết để lại và thông qua chúng con người có thể xác địnhđược sự thật khách quan của vụ án. Căn cứ vào các đặc điểm hình thành và tồn tại của từng loại dấu vết mà các nhà làm luật quyđịnh trình tự, thủtục thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá chứng cứ khác nhau để đảm bảo cho việc xác định sự thật

26

khách quan của vụ án. Ví dụ: Thủ tục thu thập vật chứng, chứng cứ vật chất (thông qua thu giữ, khám nghiệm…) khác với thu thập chứng cứ phi vật chất (thông qua lấy lời khai, cung cấptài liệu, báo cáo…); thủtục kiểm tra chứng cứvật chất cũng cónhững điểm khác so với thủ tục kiểm tra chứng cứ phi vật chất v.v..[88 tr 186];

Hai là,họcthuyếtvềnhận thức của chủnghĩa duy vật biện chứng khẳng định, con người có khảnăng nhận thức đượcmọi hiện tượng trong thếgiới khách quan. Trên thế giới không có cái gì con người không nhận thức được, chỉ có những cái con người chưa nhận thức được nhưng dần dần sẽ nhận thức được.

Như vậy, khi một hành vi phạm tội xảy ra, thì dù người phạm tội có cố gắng dùng những thủ đoạn tinh vi để che dấu tội phạm thì chúng ta cũng có thể điều tra, khám phá và làm rõ được hành vi phạm tội.

Ba là, học thuyết vềnhận thức của chủnghĩa duy vật biện chứng là cơ sởphương pháp luận đặc biệt quan trọng trong lí luận về chứng cứ trong luật tố tụng hình sựnước ta. Tinh thần cơ bản của học thuyết Mác-Lênin vềnhận thức là “Từtrực quan sinh động đến tư duy trừu tượng vàtừ tưduy trừu tượng đến thực tiễn -đó là con đường biện chứng củanhận thức chân lí, củasựnhận thức hiện thực khách quan”[119]Từ nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) thu nhận các thông tin vềtội phạm, từđócó sựkiểm tra, đánh giá thông qua tư duy của mình, người chứng minh có kết luận về các tình tiết nói riêng và về tội phạm nói chung. Chứng minh trong tốtụng hình sựchính là nhận thức của con người vềtội phạm như lànhận thức về một hiện thực khách quan và vì vậy cũng phải tuân theo quy luật nhận thức đó của chủ nghĩa Mác-Lênin.[88, tr. 187]

Trong tố tụng hình sự, phải nói rằng tội phạm là một hiện tượng xã hội có muôn hình, muôn vẻ. Tuy nhiên, các yếu tố có ý nghĩa pháp lí hình sự của một tội phạm lại được xác định rất cụ thể. Căn cứ vào ý nghĩa pháp lí hình sự của tội phạm mà người làm luật quy định đối tượng chứng minh, giới hạn các vấn đề chứng minh ở một phạm vi nhất định. Đó là sự việc phạm tội (bao gồm thời gian, địa điểm, hành vi), người thực hiệntộiphạm,lỗivàđộngcơ,mụcđích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảmnhẹtrách nhiệm hình sự, các đặc điểm về nhân thân người phạm tội, thiệt hại do tội phạm gây ra, nguyên nhân và điều kiện phạm tội… Như vậy, nhiệm vụ chứng minh trong tố

tụng hình sự là rất cụ thể và được giới hạn trong phạm vi nhất định. Vì vậy, từ góc độnhiệm vụ tố tụng đặt ra, có thể nói việc chứng minh trong tố tụng hình sự là xác định sựthật khách quan của vụ án. Luật tố tụng hình sự nước ta quy định trong bất kì giai đoạn

27

tố tụng hình sự nào, cơ quan có thẩm quyền cũng không thể quyết định giải quyết thực chất vụ án nếu chưa xác định đầy đủ sự thật khách quan. Trong các trường hợp này, vụán phải được điều tra bổ sung hoặc điều tra lại;[88, tr.188]Khi giải quyết vụ án hình sựđòi hỏi chủ thể có thẩm quyền phải trên cơ sở xác định sự thật khách quan của vụ án. Chân lýđượcxácđịnhtrong chứng minhvụán hìnhsựlà chân lý khách quanchứkhông phải là chân lý tuyệt đối hay tương đối…

Bốn là, theo học thuyết về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì, “nhận thức là sự phản ánh biện chứng, tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vận động và phát triển không ngừng từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từhiện tượng đến bản chất, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu để nắm được bản chất của quy luật, của sựvật và hiện tượng”. Quy luật này cũng hoàn toàn phù hợp với chứng minh trong tố tụng hình sự. Khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền bước đầu mới chỉ biết được sự việc phạm tội xảyra nhưng bằng việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứtrong quá trình tố

tụng, cóthểbiếtđược bản chấtcủavụán đãxảyra trên cơ sởlàm sáng tỏnhững vấn đề thuộc đối tượng chứng minh.

Năm là, phương pháp biện chứng đặt nền móng cho việc áp dụng các quy luật của phép biện chứng duy vật vào quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ. Các nội dung quan trọng của phép biện chứng trong nhận thức như nguyên tắc toàn diện, đầy đủ, cụ thể, hệ thống… đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh. Phương pháp biện chứng của triết học Mác-Lênin được thểhiện tương đối đầy đủ tại khoản 2 Điều 108 BLTTHS năm 2015: “Người có thẩm quyền tiến hành

tốtụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án”[88, tr. 189].

Vì vậy, có thể khẳng định lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác –Lê nin là cơsở phương pháp luận của chứng minh trong tố tụng hình sự, cụ thể là lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng, thông qua việc áp dụng các cặp phạm trù cơ bản và các quy luật của phép biện chứng duy vật vào việc chứng minh trong tố tụng hình sự là điều kiện tiên quyết bảo đảm việc điều tra, truy tố vàxét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

2.2. Khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa chứng minh trong tố tụng hình sự

2.2.1. Khái niệm chứng minh trong tố tụng hình sự

Chứng cứvà chứng minh là mộttrong những vấn đềquan trọng, mang tính lý

28

luận phức tạp nhất trong tốtụng hình sự, nhưng hiện nay vấn đềnày chưa được quan tâm, nghiên cứunhiều và cũng chưa được giải đáp một cách thỏa đáng. Vì vậy, trong lý luận cũng như trong thực tiễn còn nhiều tranh luận về vấn đề này.

Khái niệm chứngcứđượcsửdụng rộng rãi trong nhiều lĩnhvựckhoahọckhác nhau. Trong TTHS, để xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những vấn đề khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, các chủ thể có thẩm quyền có thể sử dụng những tình tiết đã biết trong mối liên hệ với tình tiết chưa biết nàođó.Từ các tình tiết đã biết, các chủ thể chứng minh có thể kết luận về sự tồn tại của tình tiết cần biết nhưng chưa biết. Khi những sự kiện (thông tin, dấu vết) riêng lẻ như vậy nằm trong mối liên hệ qua lại với nhau, thì sự kiện này là chứng cứ của sựkiện kia, tức là nó chứng minh cho sự tồn tại của sự kiện kia[ 88, tr 216].

Do không trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền tiến hành tốtụng chỉdựa vào các thông tin liên quan đến đối tượng chứng minh được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định để kết luận về các tình tiết nhằm giải quyết đúng đắn vụ án[88, tr 216].Hay nói cách khác là phải dựa vào các chứng cứ đã thu thập được theo quy định của pháp luật để rút ra kết luận nhằm giải quyết vụ án.

Theo nghĩa rộng, chứng cứlà một sựkiện được giả định là có thật, sựkiện ấyđược coi nhưmột sựkiện đương nhiên làm lý do để tin tưởng để có hay không cómột sựkiện khác [123, tr 8]. Theo quan điểmnày chứng cứlà cái được xác định một cách chủ quan, phụ thuộc vào ý chí của những người sử dụng chúng mà không quan tâm xác định tính khách quan của sự kiện dùng làm căn cứđể xác định sựkiện có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án.

Quan điểm khác lại cho rằng: Tất cả cái gì ở trong thế giới vật chất, tất cả cái gì mà chứng ta có thể lĩnh hội đượctrong thế giới tinh thần, đều có thể trở thành chứng cứtố tụng [123]. Quan điểmnày không làm rõ được nhữngđặc điểmbản chất của chứng cứ.

Hoặc, chứng cứ là cái để chứng minh sự tồn tại hay không tồn tại của một sựviệc liên quan đến vụ án. Chứng cứbao gồm:Lờikhai người làm chứng, các tài

liệu, vật chứng…[125, tr.151]. Quan điểmnàyđặc biệt nhấn mạnh đến tính hợp pháp của chứng cứ.

Trong TTHS Việt Nam, phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng làcơ sở để xây dựng hệ thống lý luận về chứng. Khái niệm về chứng cứ đã được chú ýđầy đủ đến các thuộc tính khách quan, tínhliên quan và tínhhợp pháp.

29

Tính khách quan của chứng cứ:Chứng cứphải là những gì có thật, tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức của con người. V.I Lê nin: Người Mác xít chỉ có thể sửdụng để làm căn cứcho chính sách của mình, những sựthật được chứng minh rõ rệt và không thể chối cải.

Tính liên quan của chứng cứ: Chứng cứ phải liên quan đến vụ án và để chứng minh những vấn đề cần phải làm sáng tỏ trong vụ án. Vì nếu chứng cứ đó không có liên quan đến vụ án thì chứng cứ đó không có ý nghĩa cho việc chứng minh.

Tính hợp pháp của chứng cứ: Chứng cứ phải là những gì có thật và có liên quanđến vụ án, nhưng phải bảo đảm về mặt pháp lý. Bảo đảm từ việc thu thập phải đúng trình

tự thủ tục, nguyên tắc đánh giá chứng cứ và bảo quản chứng cứ… tức là chứng cứ phảiđược thu thập, đánh giá đúng theo quy định của pháp luật thì mới có giá trị pháp lý.

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì mọi tội phạm xảy ra trên thực tế, con

người đều có thể phát hiện, chứng minh được… Mọi sự vật đều có thuộc tính phảnánh, vì vậyhoạt động của con người, trong đó có các hành vi phạm tội đều để lại dấu vếttrong thế giới khách quan. Nếu thuthập đầy đủ, cóhệ thống, đúng kỹ thuật, khoa học các dấu vết này, con người có thể nhận thức được diễn biến của hành vi phạm tội đã xảy ra.

Chứng cứlà phương tiện để xác định chân lý của vụ án hình sự. Do vậy, trong quá trình chứng minh, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng đắn, xác địnhđược sựthật khách quan, để từ đó có cơsởkết luận chính xác về hành vi phạm tộiđã xảyra thì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có tài liệu, chứng cứđể chứng minh bản chất của người phạm tội. Thông qua các tài liệu, chứng cứcác sựkiện thực tế được xác định, khẳng định vàđồng thời cũngphủđịnh, loại trừ các sự kiện không xảy ra trong thực tế. Vì vậy, chứngcứcó ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở, phương tiện duy nhất để chứng minh trong tố tụng hình sự.

Bản chất của chứngcứlà thông tin xác thực về sự kiện thực tế có liên quanđến vụ án. Do vậy, nội hàm của khái niệmvề chứng cứđược xác định như sau:

Chứng cứlà những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật tốtụng hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi

phạm tội,ngườithực hiện hành vi phạmtộicũng như những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án. Để làm sáng tỏ thêm nội hàm của khái niệm chứng cứtừđó có thể xác định được ngoại diên của khái niệm chứng cứ tức là những gìchứng cứ trong thực tế giải quyết các vụ án hình sự.

30

Khái niệm chứng cứ được thể hiện rõ nét nhất trong quy định tại Điều 86 của BLTTHS năm 2015. Theo đó, chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định được dùng làm căn cứ để xác định có hay không cóhành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Theo quy định này thì chứng cứ là phương tiện để chứng minh tội phạm, là phương tiện để xác định sự thật khách quan của vụ án.

Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng muốn làm rõ được tội phạm và người phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyếtđúng đắn vụ án thì phải dựa vào chứng cứ. Quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giáchứng cứđể giải quyếtđúng đắn vụ án hình sự chính là quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự.

Chứng minh trongtốtụng hìnhsựlàmộtvấnđềphức tạp,vừamang tính lýluận, tính thực tiễn, đồng thời có tính quyết định trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự. Việc nhận thức đúng và đầy đủ lý luận về chứng cứ nói chung trongđó có chứng minh trong vụ án hình sự, sẽ bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử được khách quan chính xác, không để lọt tội phạm, không làm oan, sai đối với người vô tội [129].Theo từ điển tiếng việt, cụm từ ‘‘chứng minh’’ dùng để chỉ dạng hoạt động phổ biến của con người trongđời thường, ví dụ như chứng minh khi tranh luận trong các cuộc hội thảo, chứng minh

khi phát biểu bảo vệ quan điểm trên các diễn đàn… nhằm làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự vật hoặc bằng lý lẽ [39, tr.192].

Chứng minh trong tố tụng hình sự cũng là một dạng hoạt động nhưng là hoạtđộng của những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, đó là hoạtđộng mang tính pháp lýđược điềuchỉnh bằng luật tố tụng hình sựdo chủ thểcó thẩm quyền thực hiện thông qua hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứđể làm rõ nhữngvấnđề thuộc đối tượngchứng minhcủa vụán hìnhsự. Chứng minh là việc xác định trên cơ sở của chứng cứ, tấtcả những sựkiện, tình tiết có ý nghĩađốivới việc giải quyếtvụán hình sự, việc thực hiện hoặc không thực hiện tội phạm, tính có lỗi hoặc tính không có lỗi của người này hay người khác trong việc thực hiện tội phạm và tất cả những tình tiết khác xác địnhtrách nhiệm của người thực hiện tội phạm. Nói cách khác, chứng minh là việc sử dụng các chứng cứđể làmsáng tỏ các tình tiết của vụ án hình sự.

31

Do đó, để xác định một hành vi nào đó được thực hiện có phải là hành vi nguy hiểm cho xãhộiđược quyđịnh trong BLHS, dongườicó năng lực trách nhiệm hình sựthực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ tổquốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa hay không thì phải chứng minh.

Là quá trình xác định sự thật của vụ án, chứng minh trong tố tụng hình sự thực chất là xác minh những sự việc có liên quan đếntộiphạm đang được tiến hành xem xét, khẳng định được rằng tội phạm đã xảy ra, xác định được người cụ thể đã thực hiện hành vi tội phạm và họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện. Tất cả các sựkiện và tình tiết của vụ án phải phù hợp với hiện thực khách quan. Để làm được điều đó,các cơ quan tiến hànhtốtụng,ngườitiến hànhtốtụng phảidựavào chứng cứ. Thông qua chứng cứ, kiểm sát viên thực hành quyền công tố trước Toà án đưa ra lời buộc tội đối với bị cáo, còn người bào chữa và thân chủ của họ có thể bác bỏ lời buộc

tội hoặc đưa ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Trong tố tụng hình sự việc nghiên cứu, xác định các sự kiện, tình tiết của vụán được tiến hành trên cơ sở của các chứng cứ và chỉ bằng cách dựa vào các chứng cứmới làm sáng tỏ được những vấn đề cần chứng minh. Thông qua việc phát hiện chứng cứ, xem xét và ghi nhận chứng cứ về mặt tố tụng, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng cứ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể nghiên cứu đầy đủ vàtoàn diện các tình tiết của vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từđótìm ra chân lý khách quan. Như vậy, CMTTTHS thực chất là quá trình xác địnhsựthật khách quan của vụ án dựa vào những chứng cứđã được thu thập, kiểm tra,đánh giá theo quy định của pháp luật. Có thể nói hầu hết mọi giai đoạn của tố tụng hình sựđều được mở ra và kết thúc từvấn đề chứng cứ. Vì vậy, chứng cứlà một trong nhữngvấnđề có vị tríđặc biệt quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tiễn của hoạt động tố tụng hình sự. Việc nhận thức đúng vấn đề chứng cứ sẽ là cơ sởlý luận, định hướng đúng đắn cho quá trình thu thập, nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá, sử dụng, chứng cứ.

Chứng minh trong giaiđoạn xét xửvụ án hình sự là việc xác định trên cơ sở

tất cả những sựviệc, tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án hình sự. Việc

32

thực hiện (hoặc không thực hiện) tội phạm, tính có lỗi (hoặc tính không có lỗi) của bị cáo trong việc thực hiện tội phạm cũng như tất cả những tình tiết khác xác định trách nhiệm của ngườithực hiện tội phạmđểáp dụng hình phạt và giải quyết các vấn đề khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự [29].

Khái niệm trên đây đã chỉ rõ được mục đích của việc chứng minh trong giaiđoạn xét xửlà để áp dụng hình phạt và giải quyết các vấn đề khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự.Những vấn đề cần phải chứng minh là việc thực hiện (hoặc không thực hiện) tội phạm, tính có lỗi(hoặc tính không có lỗi) của bị cáo trong việc thực hiện tội phạm cũng như tất cả những tình tiết khác xác định trách nhiệm của người thực hiện tội phạm nhưng chưa chỉ rõ được chủ thể có trách nhiệm chứng minh, hoạt động chứng minh.

Quá trình chứng minh vụ án hình sự là hệ thống các hành vi tố tụng hình sựdo các chủ thể tiến hành theo trình tự được Bộ luật tố tụng hình sự quy định nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, qua đó làm rõ sự thật khách quan của vụ án hình sự, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.[40]

Quan điểm này đã khẳng định chứng minh là một quá trình và quá trình này là tổng hợp các hành vi của chủ thể có thẩm quyền thực hiện theo quyđịnh của BLTTHS nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, qua đó làm rõsựthật khách quan của vụ án hình sự…Tuy nhiên, quan điểm này chưa thể hiện cụ thểmục đích của chứng minh là nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.

Quá trình chứng minh là quá trình tư duy logic và thực tiễn của cơ quan vàngười có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự để thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm giải quyết vụ án vụ án[88].

So với hai quan điểm trên thì quan điểm này thể hiện đầy đủ hơn nội hàm của khái niệm chứng minh không chỉ dưới góc độ pháp luật, thực tiễn mà còn dưới gócđộ tâm lý học và logic học.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *