Chức năng công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam và Đức

Chức năng công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam và Đức

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

CNCT là chức năng quan trọng trong TTHS, được Nhà nước sử dụng đểtruy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhộiđược quyđịnhlàtộiphạm, đưa họra trước Toà ánđểxét xử. Thực hiện đúngđắnvàhiệuquảchức năng này, cùngvớichức năng xétxửcủa Tòa án, chức nănggỡtội, khôngchỉgóp phần vào nhiệmvụphòng ngừa và đấutranh chốngtộiphạm, màcònbảovệquyền con người, nhất làquyền, lợiích hợp pháp của người tham gia TTHS, góp phần xây dựng nền tư pháp dân chủ, hiệu quả, vì con người.

Theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sauđâygọi là Hiến pháp) và BLTTHS năm 2015, CNCT được trao cho Viện kiểm sát1. Nói cách khác, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất thực hiện CNCT. Tuy nhiên, theo chúng tôi, thực tiễn thi hành BLTTHS lại chưa thể hiện đúng đắn quy định này. Thực tiễn cho thấy còn nhiều điểm bất cập, đặc biệt là về sự phân định các chức năngtốtụng trong BLTTHS,cầnphải được sửa đổi, bổsunghướngđếnmục tiêu ưu tiên tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với luật pháp quốc tế. Nhữngbấtcậpchủyếuđược ghi nhậntừgóc độnhận thức cũng như thực tiễn là: (i) Những quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ chế làm việc của các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn bất hợp lí; chưa xác định rõràng, cụ thể phạm vi, nội dung quyền công tố; chưa có sự phân định chính xác, hợp lígiữa các chức năng cơ bản của tố tụng, dẫn đến việc quy định vai trò, nhiệm vụ, quyềnhạncụthểcủa từngchủthểtốtụng vàtrìnhtựtiến hành các thủtục tố

tụng chưa phùhợp. Cónhững quyền thuộc chức năng buộc tộilạikhôngđược giao cho Viện kiểm sát làCQCT thực hiện; ngược lại, Tòa án (là cơ quan xét xử) lạiđược giao các quyền thuộc chức năng buộc tộitrong quátrình xét xử; mốiquanhệgiữa các chủthểtốtụng khác nhau (chỉđạo, phối hợp, chếước),

1 Điều 107, Hiến pháp năm 2013; Điều 20 BLTTHS năm 2015;

8

nhất là giữa các chủ thể có chức năng buộc tội chưa được xác định rõràng; (ii) Chưa có sự phân biệt rõràng giữa chức năng thực hành quyền công tố và kiểm

sát hoạt động tư pháp;…2.

Những vướng mắc, bất cập nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quảhoạt động tư pháp hình sự, đến kết quả phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, đến yêu cầu xây dựng một nền tư pháp dân chủ, công bằng, ảnh hưởng đến quyền tố tụngcủa người bị buộc tội và đặc biệt là không tạo ra được cơ chế pháp lí hữu hiệu để thúc đẩy các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, Viện kiểm sát nói riêng

tự hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.

BLTTHS năm 2015 (cùng với Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014) đã có nhiều sửa đổi, hoàn thiện hơn sovớiBLTTHS năm 2003đốivới chế định CNCT, cụ thể như bảo đảm sự phân định rõ ràng hơn về chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng; tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạtđộngđiềutra, gắncôngtốvớihoạtđộngđiềutra (quyđịnhđểxác định trách nhiệm của Viện kiểm sát phảinắmbắtvàquản lýđầyđủ, kịpthời các thông tinvềtộiphạm, quyđịnhcơ chếđểràng buộc trách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu, quyếtđịnhtốtụngcủaViện kiểm sát nhằm đảmbảoViện kiểm sát thực hiệnđầyđủ, hiệuquảCNCT; quyđịnhvềquyền quyếtđịnhviệc truytốđốivớitộiphạm và ngườiphạm tội -mộttrong những quyền năng trung tâm và quan trọng của CNCT). Domớicóhiệu lực thi hành (từ 01/01/2018), cho nên câu hỏi liệu BLTTHS năm 2015 có thực sự khắc phục và khắc phục triệt để các vấn đề vướng mắc của BLTTHS năm 2003 hay khôngđangđược bỏngỏ. Tuy nhiên, điềunày khôngảnhhưởngđếnsựcầnthiết nghiêncứucủa Luận án vì:(i) Luận án nghiêncứuso sánh các quyđịnhpháp luật TTHS thực định giữa Việt Nam và Đức, do đó, mặc dù BLTTHS năm 2015 mới có hiệu lực thi hành, nhưng trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội trong thời gian tới chưa đề nghị sửa đổi dự án luật này. Do đó, việc so

2 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2010), Đề án mô hình tố tụng hình sự, tr.2;

9

sánhsẽkhôngbịảnhhưởngvàvẫngiữnguyên giátrị khoa học; (ii) các quốc gia, dù cónhững điểm tương đồng về mô hình TTHS, thậm chí cónhững điểm tương đồng xuất phát từ lịch sử thì các quy định về mô hình tố tụng nói chung, vềCNCTvàsựvậnhành của chức năng này trong thực tiễntốtụng cũng cónhững sự khác biệt. Mỗi quốc gia có nhữngnét đặcthù riêng.Đức là quốc giađược đánh giá cao về sự dân chủ và bảo vệ quyền con người trong TTHS, đồng thời quốc gia này cũng vừa thực hiện cải cách tư pháp với nhiều đổi mới tiến bộ, tích hợp nhiều yếu tố của mô hình tố tụng tranh tụng, do đó, nghiên cứu, so sánh chếđịnhCNCT trong TTHS Đức vàViệt Nam hứa hẹnnhiều giátrị khoa học đối với Việt Nam – quốc gia đang thực hiện cải cách tư pháp, hướng đến nền tưpháp trong sạch, dân chủ, tiến bộ, bảo vệ công lí, bảo vệ quyền con người.

Mặtkhác, mộttrong những nhiệmvụưu tiên của Cảicách tư phápthểhiện trong Nghị quyếtsố49/NQ-TW (sauđâygọilàNghị Quyết 49) ngày 02/6/2005 của BộChínhtrịvềChiếnlược Cảicách tư phápđếnnăm 2020 là “Xác địnhrõchức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền vàhoàn thiện tổ chức, bộmáy các cơ quan tư pháp”. Ngoài ra, Nghị quyết 49 cũng nhấn mạnh “tăngcường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn

với hoạt động điều tra…”. Tiếp đó, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và các CQĐT theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cáchđến năm2020 khẳng định “Mục tiêu chung của việc đổi mới là xác định rõchức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức của hệ thống tòa án, viện kiểm sát và cơquanđiềutra thực sựkhoa học, đảmbảotínhđồngbộ, phùhợpvớicác chủ

trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp…”.

Thực tế hiện nay cho thấy hầu hết các quốc gia đều ghi nhận sự đan xen trong mô hình tố tụng nói chung và trong quy định về chức năng (của cơ quan) côngtốnói riêng3. ỞĐức, công cuộc cảicách tư phápbướcđầuđã ghi nhận

3 Timothy Waters, “A comparison of the inquisitorial and adversarial systems, xem trực tuyến tại trang thông tinđiện tử của Bộ tư pháp New Zealand, http://www.justice.govt.nz/publications/global-publications/a/alternative-

10

những thành công khi các ưu điểm của mô hình tố tụng tranh tụng về tính công bằng, dân chủ và đặc biệt là bảo vệ quyền con người dần được thừa nhận trong cả nghiên cứu khoa học và luật pháp4. Ngoài ra, hệ thống CQCT của Đức được các nhà nghiên cứu so sánh thuộc các truyền thống pháp luật khác nhau (truyền thống luật châu âu lục địa, truyền thống thông luật) đánh giá cao về tính khách quan và công tâm5. Ở Việt Nam, vấn đề CNCT, mô hình tổ chức và quyền hạn của Viện kiểm sát rất được quan tâm, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mục tiêu xây dựngnềntư pháp dân chủ, công bằngđược Đảngvà Nhà nước thúcđẩy. Do vậy, so sánh, học tậpkinh nghiệm của Đức vềcảicách tư pháp nói chung, cải cách đối với CQCT nói riêng đối với thực tiễn TTHS Việt Nam là rất cần thiết.

Cóthể khẳng định, nghiên cứu quy định pháp luật TTHS về CNCTvà sựvậnhành của các quyđịnhnàyởĐức khôngchỉcógiátrị khoa học lí luận vàthực tiễn sâu sắc, màcòn tiếp thu nhiều kinh nghiệm quýbáu cho Việt Nam trong công cuộc Cảicách tư pháp, xây dựng líthuyếtvềmôhình TTHS, nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp hình sự.

Tóm lại, trước thực tế cho thấy, việc nghiên cứu, so sánh về CNCT trong TTHS làhếtsức cầnthiết. Vìvậy, đềtài“Chức năng côngtốtrongtốtụng hình sự Việt Nam và Đức” sẽ là công trình nghiên cứu toàn diện về chức năng

pre-trial-and-trial-processes-for-child-witnesses-in-new-zealands-criminal-justice-system/appendix-b-a- comparison-of-the-inquisitorial-and-adversarial-systems, truycập ngày 23/10/2014; Xem thêm các bài viết: Jehle, Jörg-Martin, (2000), “Prosecution in Europe: Varying structures, convergent trends.” European Journal on Criminal Policy and Research, Vol8/1, p. 27-42; Brants, Chrisje, and Allard Ringnalda, (2011), “Issues of Convergence: Inquisitorial Prosecution in England and Wales, Wolff Legal Publishers”; Ringnalda, Allard,

(2014), “Procedural Tradition and the Convergence of Criminal Procedure Systems: The Case of the Investigation and Disclosure of Evidence in Scotland.” American Journal of Comparative Law, Vol62/4, p.1133-

1166…;

4 Xem Ma, Yue, (2002) “Prosecutorial discretion and plea bargaining in the United States, France, Germany, and Italy: A comparative perspective”, International Criminal Justice Review, Vol12/1, p. 22-52; Albrecht, Hans-Jörg, (2000), Criminal prosecution: Developments, trends and open questions in the Federal Republic of Germany, European Journal of Crime Criminal Law and Criminal Justice, Vol8/3, p.245-256; Ekaterina Trendafilova, Werner Roth, (2008), Report on the public prosecution service in Germany, in trong sách “Promoting prosecutorial accountability, independence and effectiveness”, Open Society Institute Sofia, p.233-235;

5 Boyne, Shawn Marie, (2011), The German prosecution service: Guardians of the Law, Springer, p. 21 và các trang tiếp theo;

11

quan trọng này trong TTHS từ góc độ so sánh, cógiá trị lí luận và thực tiễn sâu sắc, đáp ứng yêu cầu Cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.

2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận án là từ việc nghiên cứu, so sánh pháp luật về CNCT trong TTHS Việt Nam và Đức, đánh giá tổng quan về sự tương đồng vàkhác biệtvềchức năng này theo quyđịnhpháp luật hiện hành trong TTHS Việt Namvà Đức.Qua đó, Luận án đề xuất những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả CNCT trong mô hình TTHS Việt Nam.

Đểthực hiện mục đích nghiêncứutrên, Luận án phải giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:

– Nghiên cứu lí luận chung về CNCT như khái niệm CNCT, đối tượng của CNCT, chủ thể, nội dung và phạm vi của CNCT; mối quan hệ giữa CNCT với chức năng xétxửcủa Tòa án, chức năng bào chữa, chức năngđiềutra của CQĐT và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp;

– Nghiên cứu CNCT trong pháp luật TTHS ĐứcvàViệt Nam, so sánh pháp luật thực địnhcủa hai quốc gia vềchức năng này;đồngthời đưa ra đánh giá tổng quan về sự tương đồng và khác biệt giữa hai quốc gia, trên cơ sở đó rút ra bài học, kinh nghiệm đối với nước ta;

– Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về CNCT, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng này trong TTHS Việt Nam.

3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

-Đốitượngnghiêncứucủa Luận án lànhữngvấnđềlíluậnvềCNCT; pháp luật TTHS của Việt Nam và Đức về CNCT.

– Phạm vi nghiêncứucủa Luận án là nghiên cứu toàn diện các vấnđề líluận và pháp luật Việt Nam và Đức về CNCT, thực tiễn thực hiện CNCTở Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện và thời gian nghiêncứucó hạn nên Luận án tập trung vào những vấn đề sau:

12

+ Nghiêncứukhái niệm, đốitượng, chủthể, nộidung vàphạm vi của CNCT với vai trò là chức năng gắn liền với chủ thể trong TTHS;

+ Đốivới pháp luật Việt NamvềCNCT, tập trung nghiêncứuBLTTHS năm 2015 là Bộluật đang có hiệu lực thi hành; ngoài ra, nghiêncứucác quyđịnh cóliên quan trong Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

+ Đối với pháp luật Đức về CNCT, tập trung nghiên cứu Hiến pháp năm 1949, BLTTHS năm 1987, sửa đổi, bổsung năm 2014, LuậtTổchức Tòa án năm 1975, sửa đổi, bổ sung năm 20196;

+ Trong quátrình nghiên cứu, thực hiệnmộtsốphân tích, đánh giá vềthực tiễn thực hiện CNCT ở Việt Nam.

– Trong các giải pháp nâng cao hiệuquảthực hiện CNCT, Luận án tập trung nghiên cứu giải pháp hoàn thiện qui định của pháp luật TTHS về CNCT, nghiên cứu thành lập Viện Công tố.

4. Cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý thuyết

– Quanđiểmcủa Đảngvà Nhà nướctavềnhà nước vàpháp luật,vềcải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.

– Lí thuyết về chức năng tố tụng, mô hình TTHS và sự vận hành của các chức năng tố tụng trong các mô hình tố tụng, đặc biệt là sự vận hành, vị trí của CNCT trong TTHS.

– Líthuyếtvềchức năng luận nói chung, vềCNCT nói riêngvàvịtrí, chức năng, mô hình của cơ quan giữ CNCT.

6 Luật Tổ chức Tòa án Đức [Court Constitution Act], bản tiếng anh xem trực tuyến tại Cổng thông tin điện tửCông báo của Đức https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_gvg/englisch_gvg.html, truy cập ngày 20/4/2015;

13

4.2. Câu hỏi nghiên cứu

Luận án được thực hiện với các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu như sau:

– CNCT nhìn từ góc độ lịch sử hình thành và thuyết chức năng luận là gì? Mốiquanhệgiữa CNCT vàchức năng khác trong TTHS nói chung, mốiquan hệ giữaCNCTvớichức năng kiểm soát hoạt động tư pháp, chức năng điều tra như thế nào?

– Với khái niệm CNCT theo thuyết chức năng luận đã được xây dựng thì:

Nội dung của CNCT? Chủ thể tố tụng nắm giữ CNCT? Bản chất của mối quanhệgiữa chủthểgiữCNCTvàchủthểgiữchức năng điều tra, chức năng buộc tội trong TTHS?

-Sựtươngđồngtrong tư duylậppháp vàpháp luật TTHS Việt Nam vàpháp luật TTHS Đức?

– Sự khác biệt trong tư duy lập pháp vàpháp luật TTHS Việt Nam và pháp luật TTHS Đức.

– Những yêucầuvàgiải phápđểnâng cao hiệuquảcủa CNCT trong TTHS Việt Nam hiện nay từ kinh nghiệm của Đức.

4.3. Giả thiết nghiên cứu

Viện kiểm sát – cơ quan duy nhất giữ CNCT đang được trao trách nhiệm rất lớn trong TTHS, tuy nhiên, những quy định cụ thể và pháp luật TTHS hiện hành chưa đảm bảo cơ chế thực chất để Viện kiểm sát thực hiện chức năng của mình cóhiệu quả. Vì vậy, nghiên cứu, củng cố lí luận về CNCT và so sánh, học tập kinh nghiệm của pháp luật TTHS Đức về vấn đề này là hợp lí, cần thiết, đápứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.

5. Cơ sở phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận được sử dụng trong Luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và lí luận về nhận thức của triết học Mác-Lênin; tưtưởngHồChíMinh

14

vềNhà nước vàPháp luật; quanđiểmcủa ĐảngcộngsảnViệt NamvềvấnđềCải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền.

Các phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu trong Luận án gồm: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháphệthống, phương pháp lịch sử và phương pháp kết hợp lí luận với thực tiễn, cụ thể, nghiên cứu sinh sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong từng phần của Luận án như sau:

– Để nghiên cứu có hiệu quả những vấn đề do đề tài đặt ra, Luận án sử dụng phương pháp luậncủachủnghĩa duyvậtbiện chứng vàduyvậtlịchsử.Đâylàphương pháp chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận án, để đưa ra những nhận định, kết luận khoa học đảm tính khách quan, chân thực.

– Luận án sử dụng các cách tiếp cận liên ngành, đa ngành, nhất là lịch sử, so sánh, chính trị học để giải quyết cụ thể các vấn đề nghiên cứu.

-Từphương pháp chung đó, Luận ánsửdụng các phương pháp nghiên cứucụthể, đó là phương pháp tiếpcậnhệthống; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp luật học so sánh. Để thực hiện cóhiệu quả mục đích nghiên cứu, Luận án kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp trong suốt quá trình nghiên cứucủa toànbộnộidung Luận án. Tuỳthuộc vàođốitượngnghiêncứucủa từng chương, mục trong Luận án tác giả vận dụng, chú trọng các phương pháp khác nhau cho phù hợp. Cụ thể:

– Phần tổng quan tình hình nghiên cứu: tác giảchủyếusửdụng phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình nghiêncứutrongnướccũng nhưtrên thế giới về CNCT. Trên cơ sở đó xác định những nội dung cần tiếp tục được làm rõ trong Luận án.

– Chương 1, tác giảsửdụngchủyếuphương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành, liên ngành (lịch sử, luật học, chínhtrịhọc, xã hội học…); phương pháp luật học so sánh đưa ra

15

những vấn đề lí luận cơ bản về CNCT.

– Chương 2, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp luật học so sánh, phân tích tổng hợp, phương pháp lịchsửđểlàm rõ các quyđịnhcủa pháp luật hiện hành về CNCT trong pháp luật TTHS thực định của Đức và Việt Nam.

– Chương 3, tác giả sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp đối chiếu đưa ra quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả CNCT ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.

6. Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của Luận án

Luận án làcông trình nghiêncứuso sánhđầutiên, toàn diệnvềCNCT trong TTHS giữa Việt Nam và Đức – quốc gia có mô hình TTHS thiên về thẩm vấn với nhiều điểm tương đồng và được đánh giá cao về sự dân chủ và bảo vệquyền con người.

Kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện lí luận vềCNCTvớivai tròlàchức năng của mộtthiếtchếđược nhà nước ủyquyền vàdưới góc độ chức năng luận.

Trên phương diện pháp luật, kếtquảnghiên cứu, so sánh giữa pháp luật thực định của hai quốc gia và sự đánh giá, luận giải về tương đồng và khác biệt về CNCT giữa Việt Nam và Đức có ý nghĩa lí luận, nghiên cứu và thực tiễn cao. Các giải pháp, kinh nghiệm đối với Việt Nam về hoàn thiện pháp luật về CNCT và một số quy định có liên quan, về mô hình CQCT ở nước ta có giá trị thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao hiệu quả công tố trong TTHS ở nước ta, đồng thờiđáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp trong bối cảnh hội nhập quốc tếsâu, rộng hiện nay.

Kếtquảnghiêncứulàtài liệu tham khảo trước hếtcho công tác nghiên cứu, giảng dạy, tài liệu tham khảo quan trọng trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về CNCT nói riêng, hoàn thiện pháp luật về TTHS nói chung.

16

PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Công tố không phải là khái niệm mới đối với pháp luật Việt Nam bởi, do nguyên nhân lịch sử, Việt Nam thuộc mô hình tố tụng thẩm vấn nên CNCT vàcơ quan thực hiện chức năng này xuất hiện từ sớm. Qua thời gian tìm hiểu, tác giảnhận thấy, ởtrong nước, vấnđềCNCTđã được đềcậptrongmộtsốcông trình nghiêncứuvớicác cấpđộkhác nhau. Tựuchung cóthểchia làm hai nhóm: (i) các công trình nghiêncứutrực tiếpvềcôngtốvà(ii) các công trình nghiên cứu có liên quan.

1.1. Các công trình nghiên cứu trực tiếp về công tố

1.2. Các công trình nghiên cứu gián tiếp về công tố

1.3. Các công trình khác có nội dung đề cập đến chức năng công tốĐâylà nhóm các công trình nghiên cứu, bình luậnvềNhà nước pháp

quyền, Hiến pháp, Cải cách tư pháp, trong đó có các nội dung về quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp, vấn đề kiểm soát quyền lực giữa các nhánh quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, việc phân định các chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong lĩnh vực tư pháp hình sự trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trước tiên, phải kể đến Sách chuyên khảo Kiểm soát quyền lực nhà nước của GS.TS. Nguyễn Đăng Dung23. Tác giả đi từ bản chất của nhà nước để luận giải tính khách quantấtyếucủa kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong đó, các học thuyết về Nhà nước pháp quyền và chủ nghĩa Hiến pháp được tác giả luận bàn sâu, làm cơ sở phân tích các vấn đề về nội dung, hình thức và công cụ của việc kiểm soát quyền lực nhà nước. Sau cùng, tác giảdành 01 chươngđểluận bàn sâu về tư pháp Việt Nam với việc kiểm soát quyền lực nhà nước, đặc biệt làcơ chế pháp lí hiến định trong Hiến pháp năm 2013. Tác giả khẳng định, “so với

21 Nguyễn Hòa Bình (chủ biên) và đồng nghiệp, “Những nội dung mới trong BLTTHS năm 2015”, tr.301;

22Chỉ cómột công trình nghiên cứu về “Quyền công tố ở Việt Nam” ở cấp độ Tiến sĩ của TS. Lê Thị Tuyết Hoa. Nhưng công trình này được nghiên cứu từ khi còn đang áp dụng BLTTHS 1988, như trên đã trình bày, nên tínhứng dụng và đáp ứng yêu cầu thực tiễn của tố tụng hình sự bị suy giảm. Do đó, không làm ảnh hưởng đến sự cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài trong thực tiễn tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay;

23 Nguyễn Đăng Dung, (2017), “Kiểm soát quyền lực Nhà nước (Sách chuyên khảo)”, Nhà xuất bản Chính trịquốc gia, HàNội;

24

các nước phát triển và nhiều nước khác thì khái niệm “tư pháp” của Việt Nam không đồng nhất. Nếu như của các nước phát triển, khái niệm tư pháp chỉ được dùngđểchỉcho hoạtđộngcủaToà án, thìViệt Nam khái niệm tư pháp không chỉđược dùng cho Toà án, mà còn các cơ quan nhànước khác thực hiện các chức năng có liên quan đến hoạt động xét xử. Trước hết đó là Viện Kiểm sát, rồi đến các cơ quan điều tra, thi hành án…,”. Về vấn đề công tố, tác giả đã đưa ra quanđiểmvềmốiquanhệgiữa chức năngđiềutra và CNCT, theo đó, CQĐT phải trực thuộc trực tiếp CQCT – cơ quan buộc tội. Đâylà quanđiểmquan trọng, nghiêncứusinhsửdụng đểphân tích, so sánh giữa CNCT trong TTHS Việt Namvà Đức, để từ đóđưa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp với thực tiễn TTHS Việt Nam.

SáchCảicách tư pháp vìmộtnềntư pháp liêm chính24 làcông trình nghiên cứu của nhiều tác giả sau khi Hiến pháp năm 2013 ban hành. Công trìnhđềcậpđếnnhiềunộidung của quyền tư phápvàcảicách tư pháp trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, bản chất, đặc điểm, các nguyêntắcchủđạocủa quyền tư pháp và cơ chếthực hiện vàkiểm soát quyền tư pháp ở Việt Nam được phân tích sâu dưới nhiều góc nhìn của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam. Tiếp đó, các vấn đề về liêm chính tư pháp được luận bàn từ nhiều góc độvà tiếp cận về khái niệm tư pháp và cơ quan tư pháp trên bình diện rộng.

Đối với nội dung kiểm soát quyền lực tư pháp phải kể đến Luận án tiến sĩKiểm soát quyền lực tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nguyễn Quốc Hùng.25 Trong luận án, tác giảđã phân tích những vấn đề lí luận về kiểm soát quyền lực tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam, theo đó, việc kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung, kiểm soát quyền lực tư pháp nói riêng là vấn đề cótính tất yếu khách quan. Tính đặc

24 Viện Chính sách công và pháp luật, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, (2014), “Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính (Sách chuyên khảo)”, NXB Đại học Quốc gia HàNội;

25 Nguyễn Quốc Hùng, (2016), “Kiểm soát quyền lực tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án tiến sĩ”, Học viện Khoa học xã hội;

25

thùvàthực trạng kiểm soát quyền lực tư pháp trong Nhà nướcpháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam đã được tác giả tập trung phân tích sâu. Trên cơsở đó, tác giảđềxuất các giải phápbảođảmkiểm soát quyền lực tư pháp trong Nhà nước pháp quyềnxãhộichủnghĩa Việt Nam. Theo tác giả, Việt Nam nên áp dụng mô hình đáp ứng trong kiểm soát quyền lực tư pháp.26

Ngoài ra, rất nhiều bài tạp chí về kiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền tư pháp được các tác giả quan tâm, nghiên cứu như Kiểm soát quyền lực nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Phạm Hồng Thái, TạpchíKhoa học Đạihọc Quốc gia HàNội, Luậthọc28, 2012), Quyền lực nhànước làthống nhất, nhưng cósựphân công vàphốikếthợpgiữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Nguyễn Đăng Dung, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, 23, 2012), Bàn về quyền tư pháp trong Nhà

nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa (Đào Trí Úc, Tạp chí Luật học số 8/2010),…

Có thể nói, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền tư pháp, cảicách tư pháp trong xây dựng Nhànướcpháp quyềnđượcrấtnhiềuhọcgiảquan tâm từ cả góc độ lí luận và thực tiễn. Các quan điểm, các mô hình về kiểm soát quyền lực được các nhà nghiên cứu luận bàn sâu. Tác giả sẽ nghiên cứu, tiếp thu các quan điểm này để đề xuất giải pháp xây dựng mô hình Viện Công tố với vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

2. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 2.1. Tình hình nghiên cứu ở Đức

ỞĐức, vấn đềCNCT cũng rất được quan tâm. Như trênđã đềcập, Đức vừa tiến hành công cuộc cải cách tư pháp và ghi nhận nhiều thành công đáng kể, trong đó phải kể đến thành tựu về cải cách và nâng cao hiệu quả của CNCT, tổchức và hoạt động của CQCT trong bối cảnh ngày càng quá tải của hệ thống cơ quan tư pháp. Vì vậy, các công trình nghiêncứuđa dạngvớinhiềucấpđộvà

Chức năng  công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam và Đức
Chức năng công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam và Đức

26 Nguyễn Quốc Hùng, (2016), “Kiểm soát quyền lực tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ cấp Học viện, HàNội, tr. 130 -132;

phương pháp tiếp cận. Tuy nhiên, cóthểnhận thấy rõ xuhướngnghiên cứu trọng tâm của các tác giả là về nguyên tắc truy tố và quyền hạn của CQCT.

Trước tiên phảikểđếncông trình nghiêncứucủa nhóm tác giảElsner, Beatrix, vàJulia Petersvớicông trình nghiên cứu The prosecution service function within the German criminal justice system [Chức năng của CQCT tronghệthống tư pháp hìnhsựĐức], in trong cuốn Coping with Overloaded Criminal Justice Systems, Springer Berlin Heidelberg, 2006, (tr.207-236). Trong công trình nghiên cứu của mình, điều đầu tiên các tácgiả khẳng định là “Điểm đặc trưng nổi bật, cơ bản và có tính truyền thống của TTHS Đức là nguyên tắc truy tố bắt buộc, với quyền năng quyết định hình phạt thuộc về Tòa án”27. Trong nghiên cứu, các tác giảchủyếuphân tích quyềnhạncủa CQCTvề“buộc tội” đối với tội phạm và người phạm tội. Những phân tích cho thấy rõ, ở Đức, các tác giảrấtquan tâmđếnnộidung của CNCT, đặc biệt làquyền năng quyếtđịnh việc truy tố. Có thể nói, mặc dù thuộc mô hình tố tụng thiên về thẩm vấn với đặc điểm là “mô hình CQCT mạnh, chỉ đạo hoạt động điều tra, quyết định toàn bộnhiệm vụ tố tụng, các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra tương tự”28, nhưng các học giả ở Đức cũng coi thẩm quyền quyết định việc truy tố là quyền năng trung tâm và quan trọng của CNCT. Đây sẽ làmột trong những nội dung quan trọng nghiên cứu sinh sẽ đi sâu phân tích, so sánh.

Tiếp đến, khi nghiên cứu về vấn đề công tố, tác giả Hans- Joerg Albrechtđã côngbốbàitạpchíCriminal prosecution: development, trends and open questions in the federal republic of Germany,[Công tố: sự phát triển, xu hướng vàcâu hỏi mở ở Cồng hòa liên bang Đức] đăng trên tạp chí European Journal of crime, criminal law and criminal justice, Vol. 8/3, 245-256, 2000, Kluwer Internaltional29. Trong bài viết của mình, Hans- Joerg Albrecht đi sâu phân tích

27 Elsner, Beatrix, và Julia Peters, (2006), “The prosecution service function within the German criminal justice system, in trong cuốn Coping with Overloaded Criminal Justice Systems”, Springer Berlin Heidelberg, p.207;

28 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2010), Đề án đổi mới mô hình tố tụng hình sự, tr.10;

29 Hans- Joerg Albrecht, (2000), “Criminal prosecution: development, trends and open questions in the federal republic of Germany”, European Journal of crime, criminal law and criminal justice, Kluwer Internaltional, Vol. 8/3, p. 245-256;

27

thẩm quyền quyếtđịnhviệc truytốcủa CQCT trongmốiquanhệvớicơ quanđiều tra và tòa án (thẩm phán).

Ngoài ra, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về quyền năng “tùy nghi truy tố”, cóthể kể đến như Langbein, John H. “Controlling prosecutorial discretion in Germany” [Kiểm soát tùy nghi truy tốởĐức],The University of Chicago

Law Review 1974, (tr.439-467) và Herrmann, Joachim, “The rule of compulsory prosecution and the scope of prosecutorial discretion in Germany”,[Nguyên tắc truy tốbắtbuộc vàphạm vi quyền cân nhắc truy tốởĐức],The University of

Chicago Law Review, 1974, (tr.468-505)… Trong bài viết của mình, các tác giảđềukhẳngđịnhnguyên tắc truytốbắtbuộc là đặc trưng của TTHSĐức. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật TTHS đều thừa nhận “sự tùy nghi nhất định” đối với quyền quyết định việc truy tố. Các tác giả phân tích, luận bàn về cơ sở, tính hợp lí của quyền năng này. Tác giả Langbein còn đưa ra quan điểm từ cái nhìn “kiểm soát” đối với quyền năng này.

Gần đây nhất là cuốn “The German Prosecution Service: Guardians of the Law” [CQCT ở Đức: Người bảo vệ pháp luật] của tác giả Shawn Marie Boyne, xuất bản năm 2014. Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chức năng của CQCT/CNCT. Trong nghiên cứu, tác giả đề cập đến quyền tư pháp và mối quan hệ với sự hình thành CQCT, lí luận về “tính tư pháp” của CNCT (xem tiểu mục 2.5.1. The Judicial characters of the prosecution function in 20th Century, tr.25- 28). Ngoài ra, nội dung của quyền quyết định việc truy tố cũng được phân tích sâu trong mối quan hệ với nguyên tắc truy tố bắt buộc. Thêm một lần nữa, trong tác phẩm của mình, tác giảShawn Marie Boyne khôngcósựphân biệt khisửdụng thuật ngữ CNCT và chức năng của CQCT (prosecution function).

Tóm lại, qua nghiêncứutình hình nghiêncứuliên quanđếnđềtài của luận án ở Đức, có thể rút ra một số nhận xét sau:

28

– Nhìn chung, vấn đề CNCT rất được quan tâm nghiên cứu ở Đức. Các tác giả có xu hướng nghiên cứu chuyên sâu và so sánh với pháp luật của các quốc gia khác;

– Các tác giả sử dụng thuật ngữ CNCT và chức năng của CQCT không cósựphân biệt, nhiều trườnghợpsửdụng thuậtngữCNCTởtiêuđề, tiêu mục, nhưng bên trong lại phân tích về chức năng của CQCT;

– Các công trình nghiêncứuphân tích chuyên sâuvềquyền quyếtđịnh việc truy tố với vai trò là quyền trung tâm và quan trọng của CNCT/ chức năng của CQCT;

-Nộidung vàphạm vi của CNCTđược đềcập, nhưng không giải quyết triệt để. Các tác giả mặc nhiên coi quyền quyết định việc truy tố là quyền quan trọng nhất của CNCT và đi sâu phân tích. Các quyền khác của CNCT như quyền khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can í được đề cập đến.

2.2. Tình hình nghiên cứu ở một số nước khác

CNCT không phải là vấn đề mới trong TTHS thế giới nói chung. Vấn đềCNCT được quan tâm nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học, từ sách tham khảo chuyên sâu đến các sách, giáo trình và bài tạp chí. Nghiên cứu về CNCT, mô hình tổ chức và hoạt động của CQCT trên thế giới trong thời gian gần đây đã nổilênvớinhiều nghiêncứuchuyên sâu, nghiêncứuso sánhởnhiềucấpđộ. Nguyên nhân của sựquan tâm này xuất pháttừxuhướnggiao thoa – hay theo một số nhà nghiên cứu là xu hướng xích lại gần nhau của các truyền thống pháp luật. Theo quan điểm của tác giả, để khái quát được bức tranh tổng thể về CNCT trong TTHS, Luận án nên tiếp cận từ góc độ địa – pháp lí và mô hình tố tụng. Từgiác độ địa – pháp lí, thực tiễn cho thấy, khoa học pháp lí nói chung, khoa học vềCNCT nói riêng của các quốc gia ở Châu âu rất phát triển và vô cùng đa dạng. Ngoài ra, sựphát triển của khoa học pháplíởcác quốc gia ChâuMỹmà đại diện tiêu biểu là Hoa Kì cũng cho thấy những nét đặc thù riêng. Khác với giácđộđịa – pháp lí, sựnghiêncứutừlíthuyết môhìnhtốtụnglạicho thấyđiểm

29

khác biệt xuất phát từ đặc trưng của các truyền thống pháp luật. Điều này xuất phátbởilịchsửhình thành, môhìnhtổchức, hoạtđộngcủa CQCT vàquan trọng nhất, nội dung và phạm vi CNCT vận hành trong các mô hình tố tụng thểhiện những nétđặc trưng riêng, không mô hìnhtốtụng của quốc gia nào hoàn toàn giống nhau.

Trênthếgiới hiện naytồntạihai môhình TTHSđiểnhình: môhìnhtố

tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn. Môhình tố tụng tranh tụng tồn tại trong các nước theohệthống pháp luật common law như Hoa Kỳ, Anh, Úc, Canada. Môhìnhtốtụng thẩmvấnvớiđạidiện là các nướctheo truyền thống pháp luật Châu âu lục địa như Pháp, Đức, Italy, Hà Lan,…Mỗi mô hình tố tụngđềuchứa đựngnhững ưuđiểmvà nhượcđiểmtrong việc quyđịnhvềCNCT. Môhìnhtốtụng tranh tụngnổibậtvớitính chất“đốitụng”, tạosựbìnhđẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Ngược lại, các nước theo mô hình tố tụng thẩm

vấn sẽ đạt được mục tiêu kiểm soát tội phạm cao hơn với ưu thế về địa vị pháp lícủa bên buộc tội. Vì vậy, trong thực tiễn tố tụng hiện nay tồn tại xu hướng kết hợpgiữa các môhìnhtốtụng30. Nói cách khác, mỗiquốc gia sẽtiếp thu kinh nghiệm vàáp dụng cóchọnlọcnhững ưuđiểmphùhợpvớitruyền thống của

từng nước. Vìvậy, tác giảsẽnghiêncứuCNCT trong TTHS của mộtsốquốc gia tiêu biểu ở Châu âu, Châu mỹ là đại diện tiêu biểu của hai mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn.

– Tình hình nghiên cứu ở Châu âu

Cóthểnói, nghiêncứuvềCNCTởChâu âu trong thời giangầnđâythu hút được rất nhiều sự quan tâm. Đã có những hội thảo, những công trình nghiên cứu chuyên sâu và công phu về CNCT. Do đề tài hướng đến nghiên cứu so sánh vềCNCT. Do đó, nghiêncứusinh dànhsựưu tiên khảocứucác công trình

30“A comparison of the inquisitorial and adversarial systems”, xem trực tuyến tại trang thông tin điện tử của Bộtư pháp New Zealand, http://www.justice.govt.nz/publications/global-publications/a/alternative-pre-trial-and- trial-processes-for-child-witnesses-in-new-zealands-criminal-justice-system/appendix-b-a-comparison-of-the- inquisitorial-and-adversarial-systems, truycậpngày 23/06/2014;Vấnđềgiao thoa và ưu, nhược điểmcủa các mô hình tố tụng nằm ngoài phạm vi nghiên cứu nên sẽ không được đề cập sâu hơn trong Luận án;

30

nghiêncứucótính chất so sánhvànổibật ởChâu âu, ngoài ra, mộtsốcông trình nghiên cứu chuyên sâu ở các quốc gia tiêu biểu cho hai truyền thống thông luật (common law) vàtruyền thống dân luật thành văn (civil law) cũngđược khảo cứu.

Trước tiên là công trình nghiên cứu “Promoting prosecutorial accountability, independence and effectiveness” [Nâng cao tính trách nhiệm,độc lập và hiệu quả của CNCT] do Open Society Institute Sofia thực hiện năm 2008. Công trình làkết quả của một dự án nghiên cứu so sánh về công tố kéo dài tronggầnsáu năm. Nghiêncứunày khởi nguồntừsựcảicáchvềcôngtốởBulgaria khi quốc gia này ban hành Hiến phápđầutiên sauchếđộxãhộichủnghĩa năm 1991. Công trình nghiêncứudựa trên báo cáocủa9 quốc gia gồm Bulgaria, Chile, Anh và Wales, Pháp, Đức, Hungary, Nam Phi và Hoa Kì. Công trình nghiêncứutiếpcậntheohướngchuyên gia của các quốc gia sẽviết báo cáovềcôngtốdựatrênđềcươngmẫuđược thiếtkếbởimộtchuyên gia hàngđầu, chịu trách nhiệm chính củadựán. Nhóm tác giả cho rằng, trong thời gian 20 năm vừa qua đã có sự thay đổi lớn đối với TTHS và chức năng (của cơ quan) côngtố31ởnhiều quốc gia trênthếgiới. Mục đích của dựán nghiên cứu, một phần nhằm đánh giá những nội dung và ví dụ nổi bật của xu hướng thayđổi đó. 09 quốc gia được lựa chọnđạidiện chosựđa dạngvềlịch sử, kinh nghiệm đương đại thuộc cả hai truyền thống pháp luật thông luật (common law) và dân luật thành văn (civil law), cũng như là xã hội dân chủ lâu đời, hoặc đang trong giai đoạn chuyển đổi32. Do mục đích nghiên cứu hướng đến nâng cao tính trách nhiệm, độc lập vàhiệu quả của CNCT nên các tác giả chủ yếu phân tích mô hình

tổchức vàhoạtđộngcủa CQCT, mốiquan hệ của CQCT với các cơ quan nhànước khác, chức năng, nhiệm vụ của CQCT trong pháp luật TTHS của các quốc

31Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, các tác giả trong dự án nghiên cứu về chức năng của CQCT. Tuy nhiên, thuật ngữ sử dụng không cósự khác biệt giữa chức năng công tố (prosecution function) và chức năng của CQCT (prosecution service function), theo đó, các tác giả châu âu không phân biệt nội hàm thuật ngữ chức năng công tố

và chức năng của CQCT. Ngoài ra, nội hàm của thuật ngữ chức năng công tố rất tương đồng với nội hàm chức năng thực hành quyền công tố trong TTHS Việt Nam;

32 Open Society Institute Sofia, (2008), “Promoting prosecutorial accountability, independence and effectiveness, comparative research”, p.23;

31

gia được nghiêncứu33. Vìvậy, các vấnđềvềlịchsửhình thành CNCT, nội dung, chủ thể, phạm vi của CNCTkhông được đề cập.

Công trình nghiên cứu so sánh về CNCT khác là “Coping with overloaded criminal justice system – The rise of prosecutorial powers across Europe”[Đối phóvớisựquátảicủahệthống tư pháp hìnhsự-sựnổilêncủaquyền năng truy tố ở Châu âu], của hai tác giả Joerg Martin Jehle và Mariane Wade34. Công trình nghiêncứuđược tàitrợbởiQuỹFritz Thyssen vàỦyban Châu âuvềCNCT và CQCT trong một số nước Châu âu nhằm hiểu được vai tròvà CNCT tronghệthống tư pháp hìnhsựcủa các quốc gia nghiêncứuvà quađóchỉra những điểm tương đồng vàkhác biệt quan trọng. Nghiên cứu được thực hiện với một thực tế chung là các quốc gia đều đang đối đầu với tình trạng quá tải của hệthống tư pháp hình sự. Vì vậy, các nghiên cứu trong công trình đề cập và đưa ra líluậnvềCNCT tronghệthống tư pháp hình sự, qua đólàm cơ sởphân tích chuyên sâu chức năng của CQCTđốivớithẩm quyền“loạibỏ” vụán ra khỏi quátrình TTHS. Các nghiên cứu so sánh về thẩm quyền truytốtùy nghi trong TTHS của 6 quốc gia thuộc cả hai mô hình TTHS điển hình (Pháp, Đức, Anh & Wales, HàLan, Thụy Điển, Ba Lan) được phân tích sâu vàminh chứngbởi sốliệu thực tiễn.

Bên cạnh các công trình nghiên cứu, so sánh tiêu biểu nêu trên, nhiều nhàkhoa học cũng quan tâm nghiên cứu về CNCT của một quốc gia, qua đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chức năng này trong thực tiễn TTHS.

Công trình nghiêncứuvềCNCT tiếpđếnlàcuốn sách“The role of the Cyprus Attorney General’s Office in prosecutions: rhetoric, ideology and practice” [Vai trò của Văn phòng Công tố viên trưởng của Đảo Síp trong công

33 Open Society Institute Sofia, (2008), “Promoting prosecutorial accountability, independence and effectiveness, comparative research”, tlđd, p.24;

34 Joerg Martin Jehle, Mariane Wade, (2006), Coping with overloaded criminal justice system –The rise of prosecutorial powers across Europe” Fritz Thyssen Stiftung, Springer;

32

tố: Giải thích, ý tưởng và thực tiễn]35 của tác giả Despina Kyprianou. Cuốn sáchđược xuấtbảnnăm 2008 xuất pháttừluận án tiến sĩcủatácgiảbảovệtại Trường Luật, Đạihọc WarwickởAnh. Tác giảhướngđếnđưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện CNCT, môhìnhvàtổchức hoạtđộngcủa Văn phòng Trưởng công tố của Đảo Síp. Trong sách, tác giả dành hai chương đầu để nói về

lịchsửhình thànhvànộidung CNCT màtrọng tâm làquyền quyếtđịnhviệc truy tố trong các quốc gia thuộc hệ thống thông luật và hệ thống dân luật thành văn. Đối với hệ thống thông luật, tác giả phân tích quy định của Anh & Wales, Ireland, Bắc Ireland vàScotland36.Đốivớicác nước thuộc hệ thống luật thành văn, các quốc gia được lựa chọn phân tích là Pháp, Đức.

Ở Pháp, nghiên cứu CNCT cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Điều này là bởi, hệ thống pháp luật của quốc gia này ảnh hưởng khá nhiềuđến một số quốc gia ở Châu âu, trong đó có Đức và Italia. Môhình tố tụng nói chung vàCNCT nói riêng của Đức và Italia, chođếnnay, vẫncòn nhiềuđiểm tương đồng với Pháp. Ngoài việc Pháp là một trong các quốc gia tham gia dự án nghiên cứu so sánh như đã phân tích ở trên, các học giả cũng giành sự quan tâm nghiên cứu chuyên sâu về CNCT của quốc gia này.

Tiêu biểu phải kể đến cuốn French criminal justice: a comparative account of the investigation and prosecution of crime in France [Tư pháp hình sự ở Pháp: Nghiên cứu so sánh về điều tra và công tố đối với tội phạm ở Pháp]

của tác giảJacqueline Hodgson. Tác giảxác địnhrõmục đích nghiêncứulàkhông nhằm phânđịnhxem quy trìnhtốtụng của Pháp hay Anh & Wales tốt hơn, mà chỉ nhằm cung cấp nghiên cứu chuyên sâu về quy trình tố tụng (điều tra và truy tố đối với tội phạm và người phạm tội) ở Pháp, có nghiên cứu, so sánhđối với quy trình tố tụng của Anh và Wales.37 Trong công trình, tác giả tập trung

35 Despina Kyprianou, (2008) The role of the Cyprus Attorney General’s Office in prosecutions: rhetoric, ideology and practice, Springer;

36 Riêng đối với Scotland, tác giả khẳng định mô hình công tố của quốc gia này làsự pha trộn đặc thù của cả hai mô hình tranh tụng và thẩm vấn. Xem Despina Kyprianou, (2008) tlđd, p.5-7;

37 Jacqueline Hodgson, French criminal justice: a comparative account of the investigation and prosecution of crime in France, Oxford and Portland, Oregon 2005, p.9;

33

phân tích thẩm quyền của Điềutra viên, Kiểm sát viên vàThẩm phánđiềutra (Juges d’intruction). Tác giả khẳng định, trong quy trình TTHS ở Pháp, cảnh sátđiều tra “thống trị” giai đoạn trước xét xử, các Thẩm phán điều tra chỉ giải quyết 5% trong tổng số các vụ án, phần còn lại của vụ án được giải quyết bởi công tốviên (procureur) 38 . Theo tác giả, cùng với thẩm phán điều tra (Juges d’instruction) và thẩm phán xét xử (Trial Juges), Công tố viên ở Pháp cũng được hưởng địa vị pháp línhư cán bộ tư pháp giống như Thẩm phán quận (magistrates) vàcóchức năng giám sát tư pháp (judicial supervision). Tácgiảdành riêng Chương 5 phân tích về chức năng giám sát tư pháp của Công tố viên. Trong đó, CNCT và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp được phân tích đồng thời, không có sự phân biệt.

Tiếpđếnphảikểđếncuốn Unity and diversity of the public prosecution services in Europe: a study of Czech, Dutch, French and Polish systems [Tính thống nhất và khác biệt của cơ quan công tố ở Châu âu: nghiên cứu về hệ thống củaSéc, HàLan, Pháp vàBa Lan] của tác giảTony Paul Marguery, xuất bản năm 1970 ở Cộng hòa Séc. Trong công trình nghiên cứu, tác giả dành Chương 2đểphân tích chuyên sâuvềlịchsửhình thành của CQCT tronghệthống pháp luật thành vănởChâu âu lục địa. Trong đó, tác giảdành phầnlớnnộidung chương này để nói về sự hình thành CQCT trong pháp luật Phápở thời chế độcũ và dưới thời cải cách của Napoleon. Sau đó, Chương 3 được dành để nghiên cứu về mô hình tổ chức của CQCT và chức năng của CQCT trong TTHS. Chức năng của CQCT được phân tích theo giai đoạn tố tụng như giai đoạn điều tra banđầu, giai đoạn sau điều tra ban đầu và giai đoạn xét xử sơ thẩm.

Tuy nằm trong Châu âu, tuy nhiên, Anh và Wales lại thuộc truyền thống thông luật (common law). Do đó, mô hình tố tụng và CNCT ở Anh vàWalesthểhiện nhiều điểm khác biệt so với các nước theo truyền thống dân luật thành văn (civil law) như Pháp, Italia như đề cập bên trên. Lịch sử của CNCT“nhândanh

38 Jacqueline Hodgson, tlđd, p. 5, xem thêm Chương 3;

34

nhà nước” ởAnh và Wales đánh dấu bằng sự phát triển của hệ thống thiếtchếcông tố từ giữa thập niên 1980, và sau đó, một loạt các chiến dịch tái thiết, chođến những thayđổi gần đâynhất (đánh dấu bằng Criminal Justice Act 2003) cóthể đem đến những thay đổi về lí luận về CNCTở đất nước này39.

Chođếncuốithếkỉ19, ởAnh và Wales, không có cơ quan công quyền nào chính thức chịu trách nhiệm về việc truy tố tội phạm – quyền trung tâm của CNCT. Hệ thống tố tụng nhấn mạnh trách nhiệm của cánhân trong nền tư pháp hình sự và vì vậy, trách nhiệm truy tố đối với người thực hiện hành vi phạm tội đặttrongsựcân nhắc của các chủthểlà cá nhân. Như Sanders nhấn mạnh “người bị hại mong muốn việc truy tố sẽ làm việc đó bằng cách đưa vụ việc ra tòa, dưới hình thức pháp lí, rất giống với kiện dân sự”40. Từ giai đoạn đầu thế kỉ19, do cơ quan cảnh sát phát triển và quyền lực của họ tăng lên, cảnh sát dần dần thaythếhệthống áp dụng pháp luật cũ -chếđịnhtư tố. Tuy nhiên, không cómột quyền năng cụ thể hay trách nhiệm được trao cho các cơ quan cảnh sát, chếđịnh tư tố vẫn duy trìvà tồn tại song hành và là mô hình mà trong đóchế định côngtốcủa cảnh sát dựa vào. Sandersđãchỉra rằng, khi thiếu vắng các quyđịnhvềquyền công tố, cảnh sátđã phát triểnhệthống riêng. Cảnh sát truytốhầu hết các vụ án tại các Tòa án quận (Magistrate Courts) và đối với các vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án Hoàng gia (Crown Courts), cảnh sáthướngdẫn các trợlícôngtốviên (Solicitors), nhữngngườinày sauđólạihướngdẫncho Côngtốviên (Barristers). Sau cùng, rấtnhiều lực lượngcảnh sátđã thiết lập được hệthống các côngtốviên nhân danhhọtừcác Solicitor Departments vàSolicitor Local Firms. Vềvấnđềnày, theo tác giảSanders, mốiquanhệgiữa cảnh sát vàcôngtốviên (Solicitors hoặc Barristers) rấtgiốngvớimốiquanhệgiữa khách hàng và luật sư buộc tội. Hay nói cách khác, luật sư buộc tội không thểđộc lậpvớicảnh sát. CNCT trong truyền thống tư pháp Anh lúc nàyđược

39 Despina Kyprianou, (2008), “Comparative or prosecution systems (part I): Origins, constitutional positions and orgarization of Prosecution services”, Springer, p. 3-5;

40 Sanders, A., (1996), “Prosecution in Common Law Jurisdictions”, Aldershot and Brookfield, USA:

Dartmouth, , p. Xiii;

35

trao cho các Công tố viên (Barristers). Tuy nhiên, nội dung của quyền năng công

tố chỉ tập trung ở chức năng thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử (thực hiện việc truytốtrước tòa án) vàchức năng bào chữa. Lịchsửghi nhận lại, những công tố viên nổi tiếng thường tập trung vào CNCT, không thực hiện chức năng bào chữa41.

Vì vậy, trong suốt thế kỉ 19 và 20 (cho tới năm 1986), cảnh sát kiểm soát hầunhư toànbộCNCT trong việc truytốtộiphạm và ngườiphạm tội, với những ngoạilệnhỏđốivớicác vụviệc phức tạpvànghiêm trọng. Nhữngvụviệc nàyđược truytốbởiGiámđốc CQCT (Director of Public Prosecutions [DPP]). Văn phòng DPP được thành lập năm 1879 và xác định là thiết chế hỗn hợpgiữa bênủnghộduy trìcách tiếpcậntruyền thốngcủaAnhvềcôngtố(cảnh sát thực hiện CNCT) vàbên mong muốn CNCT thuộc vềmộthệthống độc lập, nhìn chung cần được tổ chức và kiểm soát giống như phần lớn các nước Châu âu khác. Lịch sử đã ghi nhận, vào khoảng năm 1872 -1873, do sự phản đối đối với CNCTcủacảnh sát nênđãcó nhữngnỗlực nhằm xây dựnghệthống CQCT (đánh dấu bằng sự ra đời của 02 đạo luật năm 1872 và 1873 về CQCT). Tiếp đó, với đạo luật về truy tố tội phạm năm 1879 (Prosecution of Offences Act 1879), Chính phủ đã tránh được những thayđổi cănbản đối với hệ thống đang

tồn tại và thực chất là trao thêm tính hợp pháp đối với các thiết chế đã thành lập trước đó.

CNCT ở Anh và Wales đánh dấu sự thay đổi với sự ra đời của Đạo luật tưpháp hình sự (Criminal Justice Act 2003). Theo đó, trách nhiệm cáo buộc người bịtình nghi và khởi tố đối với hầu hết tội phạm (trừ các tội phạm nhỏ – very minors cases) được chuyển từ cảnh sát sang CQCT. Luật mới cung cấp quyền năng rộng cho CQCT và DPP để các cơ quan này có thể thực thi tốt CNCT của mình.

Về nội dung của CNCT, tác giả khẳng định, quyền quyết định việc truy

tố – đưa vụ án ra trước tòa án là quyền năng trung tâm của CQCT, vai trò và

41 Sanders, tldd, p. 6;

36

quyềnhạncủa CQCT trong giaiđoạnđiềutracósựkhác nhaurấtlớntrong hệthống CQCT.Vấnđềnày gây nhiều tranh luậnvềmốiquanhệgiữa cơquan cảnh sát vàcôngtố.Nhìn chung, cóthểkhẳngđịnhrằng, trong truyền thống thông luật (common law), chức năngđiềutrađượctrao cho cảnh sát, ngược lại đối với hệ thống“thuần” Châuâu lục địa,CQCT chịu trách nhiệm đốivớiđiềutra cũng như giaiđoạntrướcđiềutra. Tuy nhiên, tácgiảcòn khẳngđịnhthêm, cùngvớithời gian,đãcó nhữngsựthayđổivàphát triển đối với các hệ thống này42.

Cóthểthấy, tác giảchủyếuphân tích lịchsửhình thành CQCT vàtập trung bàn luậnvềchủthểcóthẩm quyềnđốivới CNCT trong giaiđoạntrước xét xử và giai đoạn xét xử. Khái niệm và nội hàm của CNCT không được phân tích. Sự luận giải CNCT từ giác độ lịch sử nhà nước và pháp luật không được đềcập, thay vào đó, tácgiảchủyếuđềcậpsựhình thành của các thiếtchếđược trao nắm giữ CNCT.

– Tình hình nghiên cứu ở Hoa Kì

Hoa Kì là quốc gia ở Châu mỹ với hệ thống pháp luật phát triển và thuộc truyền thống thông luật (common law) với mô hình tố tụng thiên về tranh tụng. Do đó, như đã trình bày ở trên, bản chất chung của CQCT của các quốc gia này rấtgầnvớiAnh vàWales. Tuy nhiên, khôngvìthếmànghiêncứuvềCNCT kém phát triển, đặc biệt khi sự thay đổi trong nhận thức và xu hướng giao thoađang có ảnh hưởng mạnh trên toàn thế giới. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như:

Sách nghiêncứu“The changing role of the American Prosecutor” [Vai

trò thay đổi của Công tố viên ở Hoa Kì]của John L. Worall, M. Elaine Nugent –Borakove xuấtbảnnăm 2008 là công trình nghiêncứuchuyên sâu của các tác giảvềchức năng của Côngtốviên trong tư pháp hìnhsựHoa Kì. Trong tác phẩm của mình, các tác giả khẳng định vai trò của Công tố viên là rất đặc biệt,

42 Despina Kyprianou, (2008), tlđd, p. 3-11;

37

cókhi là duy nhất. Tính duy nhất này nằm ở chức năng đặc thù của CQCT: thay mặt chính phủ (quyền hành pháp) tại Tòa án, thực thi pháp luật và bảo vệ hiến pháp liên bang vàthành bang43. Cóthểthấy,ởHoa Kì, CNCT lànhánh của quyền lực hành pháp.Điềunàythểhiệnrõởđịa vịpháp lícủa Côngtốviên – ngườithực hiện CNCTđốivớicác vụán hình sự. Phạm vivànộidung của CNCT được nghiên cứu và phân tích chuyên sâu, thông qua việc phân tích chức năng, quyền hạn của Công tố viên.

Tuy nhiên, về mặt lịch sử, nhóm tác giả khẳng định công tố viên ở Hoa Kìđược “khắc họa” từ 03 hệ thống tiền nhiệm ở Châu âu là Hà Lan, Pháp và Anh. Tuy nhiên, các tác giả cũng khẳng định, vai trò của Công tố viên hiện tại ở Hoa Kì đã khác rất nhiều so với thời kì đầu. Tiếp đến, tác giả dành toàn bộ phần còn

lại của công trình nghiên cứu để phân tích những thay đổi trong điều kiện kinh

tế, xãhội… ảnhhưởngđếnsựthayđổivềchức năng của CôngtốviênởHoa Kì. Trong phần này, mối quan hệ giữa Công tố viên và cảnh sát được phân tích khá chi tiết. Tác giả dùng từ hợp tác khi nói đến mối quan hệ này. Theo các tác giả, cáchtốtnhấtđểnghiêncứuvềCNCT của mộtquốc gia làso sánh thẩm quyền của CQCT với thẩm quyền điều tra. Trong khi nhiều quốc gia tách riêng hệ thống cơ quan nắm giữ thẩm quyền điều tra thì ở Hoa Kì, các CQCT quận cóđội ngũ điều tra riêng của họ44.

Điều thú vịvàthể hiện nétđặc trưng riêng là các tác giảởHoa Kìdùng thuật ngữ CNCT để chỉ chức năng của công tố viên – chức năng của cánhân giữquyền công tố trong TTHS Hoa Kì. Điều này cũng thể hiện quan điểm nhận thức của hệ thống pháp luật Hoa Kì – đề cao trách nhiệm cá nhân trong TTHS.

Công trình nghiêncứutiếpđếncũngđềcậpđếnsựthayđổicủa chức năng của côngtốviên trong giaiđoạnhiện nay. Cụthểlàcông trình What’s changing in Prosecutors [Điều thay đổi đối với chế định Công tố viên] xuất bản

43 John L. Worall, M. Elaine Nugent – Borakove, (2008) “The changing role of the American Prosecutor”, State University of Newyork Press, p.13;

44 John L. Worall, M. Elaine Nugent – Borakove, (2008), tlđd, p. 16;

38

năm 2001 của Hội đồng nghiên cứu quốc gia về pháp luật và tư pháp [National Research Council, Committee on Law and Justice]. Đâylà công trình nghiên cứuchuyên sâu, nhìn CNCTdướigóc độkiểm soát xãhội. Trong nghiên cứu

của mình, tác giả đưa ra quan điểm của Emile Durkheim về kiểm soát xã hội vàcho rằng, chức năng của CQCT quan trọng nhất là đảm bảo công li được thực thi trong xã hội. Tác giả cũng cho rằng, từ năm 1960 cho đến thời điểm công trình nghiêncứuđược công bố, thẩm quyền của CQCTđược mởrộng vànâng lênđáng kể45. Trong công trình nghiên cứu của mình, vai trò, quyền hạn của công tốviên được phân tích, nghiên cứu nhưng chủ yếu dưới góc độ xã hội, từ đó tác giảchỉ ra sự thay đổi đối với Công tố viên là điều tất yếu. Các nghiên cứu của tác giảkhông đưa ra cơ sở lí luậnvềnội dung, bản chất, phạm vi của CNCTdưới góc độ pháp lí.

– Cóthểnói, các công trình nghiên cứu ởChâu âu vàChâumỹvớiđại diện của các truyền thống pháp luật, tiêu biểu như Pháp,Đức, Italia, đảoSíp, Hoa Kì, Anh và Walesđềurấtquan tâmđếnvấnđềnghiêncứucủa đềtài – CNCT. Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu tiêu biểu, nghiên cứu sinh khái quát một số nhận xét như sau:

+ Các công trình nghiên cứu đều thừa nhận CNCT cóvai tròquan trọng trong TTHS, hướng đến đảm bảo sự “công bằng” trong TTHS;

+ Lịch sử hình thành CNCT, nội dung và phạm vi của CNCTđã được đềcập nhưng chỉ chuyên sâu nghiên cứu về thẩm quyền quyết định việc truy tố vànguyên tắc truytốmà chưa giải quyết triệtđểvấnđềnàytừgóc độlíluậnvềchức năng, chức năng của nhà nước và lịch sử nhà nước và pháp luật;

+ Không có sự phân biệt giữa thuật ngữ CNCT và chức năng của CQCT khi phân tích, sửdụng trong công trình nghiên cứu. Do đó, mộtsốcông trình

45 National Research Council, Committee on Law and Justice, (2001), “What’s changing in Prosecutors”, National academy Press, p.2;

39

nghiêncứucòn phân tíchsựhình thành CNCTlàsựhình thành thiếtchếnắm giữ CNCT.

+ Xu hướng nghiên cứu so sánh để học tập kinh nghiệm của quốc gia khác vềCNCT rất được quan tâm, nhiều công trình nghiên cứu so sánh cótính chất công phu, chuyên sâu, với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.

3. Đánh giá kết quả nghiên cứu

3.1. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của Luận án, nghiên cứu sinh có thể đưa ra một số đánh giá tổng quan như sau:

Thứnhất, mặc dùđãcómộtsốcông trình nghiêncứuvềCNCT, CQCT nhưng chưa có công trình nghiên cứu, so sánh về CNCT trong TTHS giữa Việt Nam và Đức.

Thứhai, vấnđềCNCT vàcác nộidung liên quan đến CNCT như quyền công tố, mô hình tổ chức và hoạt động của CQCT, chức năng của CQCT, lịchsử

hình thành CNCT…được nhiều tác giảtrênthếgiới vàViệt Nam quan tâm, nghiên cứu. Trong đó, có những công trình nghiêncứuchuyên sâu, được tiến hành công phu trong thời gian dài, có sự phối hợp của học giả đến từ nhiều quốc gia khác nhau, cócông trình nghiêncứuchuyên sâuvềmộtquốc gia, cócông trình nghiên cứu chuyên sâu về một khía cạnh của CNCT. Tất cả các công trình nghiên cứu, ởtrongnước vàthếgiới, ởcấpđộsách tham khảo, dựán nghiên

cứu hay tạp chí, hội thảo khoa học…đều có giá trị khoa học ở những khía cạnh nhất định. Do đó, đâysẽlànhững tư liệu quý báuđểnghiêncứusinh tiếp thu, tiếp tục nghiên cứu, phát triển hoặc luận bànđểlàm sángtỏthêm những nội dung, khía cạnh của CNCT.

Thứba, các công trình nghiêncứuđềuthừa nhận CNCT cóvai tròquan trọng trong TTHS, do vậy, các khía cạnh của CNCT như: lịchsửhình thành

40

CNCT, bản chất của CNCT, đối tượng, phạm vi của CNCT, nội dung của CNCTđã được các tác giả nghiên cứu, đề cập ở những mức độ nhất định.

Thứtư, xuhướngnghiêncứuso sánhđểhọc tậpkinh nghiệm của quốc gia khácvềCNCTrấtđược quan tâm, nhiều công trình nghiêncứuso sánh cótính chất công phu, chuyên sâu, với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Đặc biệt, các công trình nghiêncứurấtchúýphân tích CNCTđặttrongsựkhác biệtvềchính trị, xãhội, lịchsửvàtruyền thống pháp luật. Xuhướngnghiêncứuso sánh CNCT của quốc gia cósự khác biệt về truyền thống pháp luật và mô hình

tố tụng ngày càng được chú trọng. Cábiệt, cócông trình còn nghiên cứu CNCT của quốc gia cósựthayđổivềthểchếchínhtrị(Promoting prosecutorial accountability, independence and effectiveness”“Nâng cao tính trách nhiệm,độc lập và hiệu quả của CNCT” nghiên cứu về CNCT của Bungaria).

3.2. Những nội dung nghiên cứu đã sáng tỏ và được Luận án kế thừa, phát triển

Sau thời gian nghiêncứucác công trình liên quanđếnđềtài Luận ánởtrong nước cũng như trên thế giới, có thể thấy, một số vấn đề đã được các tác giảnghiên cứu, làm sáng tỏ và có sự thống nhất cao. Đây sẽ là những nội dung màLuận án sẽ tiếp thu, không cần phải bàn luận nhiều.

-Vềlịchsửhình thành, quyền côngtốgắnliềnvớisựra đờicủa Nhànước, xuất phát từ thực tiễn yêu cầu cần phải đấu tranh, “truy cứu” đối với các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

– Về đối tượng và phạm vi của CNCT, hầu hết các tác giả trong nước đều thừa nhận CNCT cóđối tượng là người phạmtội và tội phạm.Sựkhác biệt vềnội hàm khái niệm tội phạm giữa các quốc gia có thể dẫn đến sự khác biệt trên thực tếvềđốitượngcủa CNCT. Tuy nhiên, hầuhếtcác công trìnhđềuthống nhất caovềđốitượngcủa CNCT như trên. Từsựrõ ràng trong xác địnhđối tượng của CNCT, phạm vi của chức năng này cũng thống nhất, đó là CNCTchỉphát sinh trong TTHS.

41

3.3. Những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu của Luận án chưađược giải quyết triệtđểhoặc chưađược đềcậpđến trong các công trình nghiên cứu đã công bố

Thứ nhất, trong các công trình nghiên cứu nước ngoài, các tác giả không cósự phân biệt giữa thuật ngữ CNCT và chức năng của CQCT khi phân tích, sửdụng trong công trình nghiên cứu. Do đó, mộtsốcông trình nghiêncứucòn phân tích sự hình thành CNCT là sự hình thành thiết chế nắm giữ CNCT. Ngược lại, vấn đề lịch sử hình thành CNCT cósự thống nhất cao trong các công trình nghiên cứu ởViệt Nam. Theo các họcgiảtrong nước, sựxuất hiện của quyền công tố gắn liền với sự ra đời của Nhà nước. Tuy nhiên, các học giả trong nước chưa luận giải triệt để vấn đề này từ góc độ lịch sử hình thành nhà nước và pháp luật.

Thứ hai, các nghiên cứu về CNCT đa dạng, phong phú, tuy nhiên, chưa cócông trình nghiên cứu CNCT trên cơ sở thuyết chức năng luận. Từ đó, làm sáng

tỏ vị trícủa CNCT trong TTHS, mối quan hệ giữa CNCT và chức năng buộc tội

– một trong các chức năng cơ bản của TTHS và có nội hàm rất gần với CNCT.

Thứ ba, nội dung của CNCT đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập. Cóthể thấy, các tác giả nước ngoài đều thống nhất cao về quyền năng trung tâm và quan trọng của CNCT – quyền quyết định việc truy tố. Ở Việt Nam, các tác giảđã đềcậpđếnnộidung của CNCT, tuy nhiên, nhữngvướngmắc hiện nay liên quanđếnvấnđềnàylàvậndụng líluậnvềCNCTđểxác địnhcác hoạt động tố tụng thuộc CNCT và các hoạt động tố tụng không thuộc CNCT (thuộc chức năng điều tra, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp).

Thứtư,mốiquanhệgiữa CNCT vàchức năng kiểm sát hoạtđộngtưpháp (thuộc chức năngcủamộtcơ quan nhànướclàViện kiểm sát) chưađược nghiên cứu, giải quyết một cách thuyết phục. Từ đó, còn có ý kiến khác nhauvềsựtồntại CNCT vàchức năng kiểm sát hoạtđộngtư pháp thuộc cùng một cơ quan.

42

Thứnăm, mốiquanhệgiữa CQĐT vàCQCTđược nhiều tácgiảquan tâm, phân tích. Tuy nhiên, hầuhếtcác công trình đều nghiêncứumốiquanhệnàytừgóc độluật thực địnhmà chưa luận giảibảnchất của mốiquanhệnày trên cơ sởxác địnhnộidung của CNCTvàmốiquanhệgiữa CNCT vàchức năng điều tra.

4. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong Luận án

Xuất phát từ quá trình khảo cứu tình hình nghiên cứu liên quanđến đề tài của Luận án nêu trên, cóthểthấy còn nhiều nội dung Luận án cần đề cập, bao gồm những vấn đề sau:

Thứnhất, nghiên cứu lịchsửhình thành CNCT, trên cơ sởđósửdụng phương pháp lịch sử để luận giải các đặc điểm của chức năng này.

Thứhai, nghiêncứuCNCTdướigóc độthuyết chức năng luận, qua đókhẳng định CNCT làchức năng quan trọng trong TTHS và là chức năng gắn liền với một thiết chế/chủ thể TTHS.

Thứ ba, trên cơ sở kết quả nghiên cứu CNCT từ góc độ lịch sử hình thành và thuyết chức năng luận, nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm (chủ thể, đối tượng, phạm vi và nội dung) của CNCT. Mối quan hệ giữa CNCT của (thiết chế) Viện kiểm sát với các chức năng của các chủ thể khác trong TTHS.

Thứ tư, nghiên cứu sự tương đồng về tư duy lập pháp và pháp luật TTHS về CNCT giữa Việt Nam và Đức và nghiên cứu sự khác biệt về tư duy lập pháp và pháp luật TTHS về CNCT giữa Việt Nam và Đức.

Thứ năm, trên cơ sở nghiên cứu sự tương đồng và khác biệt về tư duy lập pháp và pháp luật TTHS giữa Việt Nam và Đức, đưa ra đánh giá tổng quanvềsự tương đồng vàkhác biệt này.

Thứ sáu, qua nghiên cứu các nội dung nêu trên, kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, tìm ra yêu cầu giải pháp nâng cao hiệu quả CNCT trong TTHS ở Việt Nam hiện nay từ kinh nghiệm của Đức.

43

44

PHẦN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 1

LỊCH SỬ VÀ LÍ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CÔNG TỐ

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. Lịch sử hình thành chức năng công tố

Ở nội dung tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án, nghiên cứu sinh đã rút ra một số nhận xét, trong đó, lí luận về CNCT không được giải quyết triệt để và giải quyết trên cơ sở góc nhìn của lịch sử hình thành nhà nước và pháp luật. Do đó, mục tiêu của phần nàyhướngđến nghiêncứuchuyên sâu về lịchsử hình thành CNCT trong TTHS, trên cơ sở đó, sử dụngphương pháp

lịchsửđểluận giảinộidung, bảnchất của CNCT. Như Lêninđã khẳngđịnh:

“Điềuquan trọng nhấtcủamộtsựnghiêncứukhoa học làkhông nên quênsựliênhệlịchsửcăn bản, lànhận xétmỗivấnđềtheo quanđiểmsau đây: Một hiệntượngnàođóđãxuất hiện trong quátrình lịchsửnhư thếnào? Các giaiđoạn chính của nó là những gì? Và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó đểxem xét hiện tượng đó đã trở nên như thế nào?”46

Trước tiên, qua nghiên cứu các công trình về lịch sử hình thành CNCT, cóthể khẳng định “Công tố là nét đặc trưng không thể thiếu của nền hành chính tưpháp hiện đại”47. Tuy vậy, cách hiểu về “công tố” như ngày nay đã trải qua thời gian dài hình thành và phát triển. Trong nhiều thế kỷ trước đây, tội phạm là vấn đề của cánhân cần giải quyết và trách nhiệm thuộc về bên bị thiệt hại. Tự giải quyết đối với tội phạm tồn tại dưới nhiều hình thức. Ở thời kì La Mãcổ đại vàthời gianđầucủa thời kìtrung cổ, sựtrảđũacánhân làhình thức chính trong việc xử lí/phản ứng đối với tội phạm. Trong thời gian sau của thời kì trung cổ, nhà vua và người đứng đầu bộ lạc đã hạn chế việc sử dụng sự trả đũa cá nhân đểhạn chế sự chia rẽ gây ra bởi tình trạng “công lí hoang dại” này. Bên bị thiệt hại trước tiên phải tìm kiếm sự bồi thường từ người phạm tội và chỉ được “trả đũa”

46 Lênin, V.I. (1980), “Toàn tập, tập 39”, NXB Sự thật, HàNội, tr.55;

47 Yue Ma, (2008), “Exploring the oringins of public prosecution”, International Criminal Justice Review, Vol 18 No2, p.190;

45

khi người phạm tội từ chối việc bồi thường theo luật định. Với sự phát triển của hệ thống tòa án, sự “trả đũa” và “dànxếp” cótính chất cá nhân được thay thếbằng giải quyết tranh chấp bằng conđườngtư pháp. Tuy nhiên,sựphát triển của hệ thống Tòa án không làm thay đổi bản chất của tội phạm. Tội phạm vẫn đượccoi làhành vi sai trái cánhân vàbênbịthiệthạicóquyềnđưahành vi phạm tội ra trước Tòa án.48

Thế kỷ 13 chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trong phương thức buộc tội vàphiên tòa hình sự. Điều này xuất phát từ nguyên nhân, ở Anh và các nước Châuâu lục địa theo truyền thống luật thành văn (civil law), phương thức không hợp lítrong việc xác định tội phạm bị chỉ trích nặng nề. Điều này dẫn đến thực trạng là ở Anh và Châu âu lục địa, các nước đều tiến hành cải cách phương thức tìm ra

sựthật của vụán và phương thức buộc tội. Kếtquảcảicách đưa hệthốngtốtụng ở Anh và một số nước Châu âu lục địa khác (Pháp, Đức, Italia) thành hai hệ

thống tố tụng với những nét đặc trưng khác nhau về phương thức xét xử và buộc tội – hay nói rộng hơn, phương thức đạt được chân lí tư pháp. Hệ thống tố tụng của Anh trở thành hệ thống tố tụng tranh tụng (adversarial system), ở các nước Châu âu lục địa, mô hình tố tụng đi theo hướng mô hình thẩm vấn (inquisitorial system). Hơn 6 thế kỷtiếp theo, Anh gắn bóvới chế định tư tố (private prosecution), trong khi đó, các nước Châu âu lục địa chuyển sang mô hình công

tố(public prosecution).49 Tuy vậy, trong nghiêncứucủa mình, tác giảYue Ma khẳng định, “mặc dù chế định tư tố là chủ yếu, nhưng ở Anh vẫn luôn tồn tại các thành tố của công tố [official prosecution]”. Tác giả cũng khẳng định, để hoàn toàn hiểu được sự phát triển của CNCT ở Anh, cần phải nghiên cứu vai trò của

48 Xem Esmein (1913), “Ahistory of continental criminal procedure”, NewYork, St. Martin’s Press; Forsyth, (1852), “history of trial by jury”, London, J.W.Parker; Plucknett, (1956),“Aconcise history of the common

law”, Boston; Van Caennegem, (1991), “Legal history: A European perspective”, London, Hambledon Press; tríchdẫnbởi Yue Ma, (2008), “Exploring the oringins of public prosecution”, International Criminal Justice Review, Vol 18 No2, p.192 – p. 194;

49 Xem Yue Ma, (2008), “Exploring the oringins of public prosecution”, International Criminal Justice Review, Vol 18 No2, p.195;

46

các thiếtchếnhư cảnh sát, Tổng côngtốvà Giámđốc CQCT [the Director of Public Prosecution – DPP]50.

Khác với sự phát triển của CNCT ở Anh, sự chuyển sang hình thức công tốchính thức và sự ra đời của phương thức chứng minh tội phạm [hợp lí] ở một sốnướcChâu âulụcđịachủyếubắt nguồntừsựthayđổiquan niệmvềtội phạm. Trong thế kỷ 12 và thế kỷ 13, chế độ bộ lạc ở Châu âu lục địa dần dần trở thành các quốc gia lãnh thổ [territorial states]. Cùng với sự phát triển về khái niệm quốc gia, nhà vua bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của việc duy trì trật tự công cộng. Bởi vì tội phạm sẽ xâm hại đến lợi ích của cả xã hội, do đó, tội phạm không còn được xem như là việc cá nhân [private affairs], mà được coi là hành vi xâm phạmlợiích công. Cùngvớisựthayđổiquan niệm nêu trênvềtộiphạm, chủquyền quốc gia không chấp nhận việc buộctộiđốivớitộiphạmđược trao cho “ngườiphátđộngtrảđũacánhân”[uncertain initiative private avengers]. Các thiết chế chính thống được thiết lập để tiến hành điều tra và thực hiện công tố51.

Cóthể thấy rõ xu hướng này ở hai quốc gia với mô hình tố tụng đặc trưng truyền thống của Châu âu lục địa là Pháp và Đức.Trước thếkỷ12, việc thực hiện phát động buộc tội và buộc tội đối với tội phạm hoàn toàn là “việc cá nhân” [private affairs]. Pháp luật quyđịnhrấtchặtchẽquyềnđược cáo buộc hìnhsự

cho bên bị thiệt hại [injured party]. Hành vi theo đuổi việc buộc tội mà không vìchính bản thân họ hoặc con cái họ bị coi là bất hợp pháp. Ngoại lệ đối với quy

định này là trong các vụ án giết người, khi người đã chết không còn ai thân thíchđể theo đuổi vụán , khi đó Nhà vua sẽ giao việc buộc tộicho cơ quan có thẩm quyền nhân danh người buộc tội [người đã chết]. Ngoại lệ thứ hai là khi người phạm tội bị bắt quả tang. Trong các vụ án thuộc trường hợp thứ hai, thẩm phán cóthểtiến hành xétxửcăncứvàolờikhai của ngườibịbắtmàkhôngcầnsựcáo buộc của người bịthiệt hại.ỞPháp, chếđịnhCôngtốviên của Nhàvua

50 Yue Ma, (2008), “Exploring the oringins of public prosecution”, International Criminal Justice Review, Vol 18 No2, p.193;

51 Xem Yue Ma, (2008), “Exploring the oringins of public prosecution”, International Criminal Justice Review, Vol 18 No2, p.194;

47

[Procureur du Roi]tồntạitrong thời gian dài chođếntrước thếkỷ12. Chức năng của Công tố viên của Nhà vua làbảovệlợi ích của Nhà vua, không phải lợi ích công cộng của toàn xã hội. Như trên đã đề cập, cùng với sự phát triển vềýniệmchủquyền quốc gia đốivớilãnh thổ, Nhàvua bắtđầuquan tâm nhiều hơn đến việc trấn áp tội phạm. Ban đầu, Công tố viên của Nhà vua chỉ thực hiện buộc tội khi vụ án không được cánhân tiến hành. Về sau, Công tố viên của Nhàvua tiến hành khởitốvàthực hiện buộc tội, không phân biệt cóhay khôngsựbuộctộicánhân.BởivìCôngtốviên của Nhà vua đượctrao thẩm quyền lớn hơn về công tố, chế định Công tố viên của Nhà vua đã dần phát triển trở thành chế định Công tố viên [Ministère Publique]. Cho đến hết thế kỷ 16, Công tố viênđã hoàn toàn “độc quyền” kiểm soát đối với việc buộc tội. Chỉ cóCông tố viên mới có thẩm quyền thực hiện việc buộc tội nhân danh nhà nước và bảo vệ lợi ích công cộng.52

Sự phát triển của CNCT ở Đức cũng tương tự như ở Pháp. Trước thế kỷ12, ởĐức khôngtồntạisựbuộc tộichính thức [công tố]. Khôngthểcóphiên tòa xét xử nếu không cócá nhân buộc tội. Từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 16, chế định tưtốbị“tànlụi” dầnvà nhườngchỗchochếđịnhcông tố. Sựthayđổinày, ngoài nguyên nhân chungvềsựthayđổiquan niệmvềtộiphạm nhưđã phân tíchởtrên, còn bắt nguồntừnguyên nhânrấtquan trọng là quyđịnhcủa pháp luật. Pháp luật TTHS Đức thời kì đó quy định, nếu cánhân muốn theo đuổi việc phát động cáo buộc hình sự và buộc tội, cá nhân đó cần phải đặt một khoản tiền bảođảmdo Tòa án xác định. Khoản tiềnbảođảmđểđềnbùnếunhư cá nhân “thất bại” trong việc buộc tội. Nếu cá nhân không đặt tiền bảo đảm, anh ta có thểbịtạmgiam cùng với bịcáo chođếnkhimở phiên tòa. Theo Esmein vàLangbein, đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự “tàn lụi” của tư tố ở Đức.53

52 Xem Langbein, (1974), “Prosecuting crime in the renaissance: England, Germany, France”, Cambrigde, MA, Harvard University Press, p.74;

53 Xem Yue Ma, (2008), “Exploring the oringins of public prosecution”, International Criminal Justice Review, Vol 18 No2, p.195;

48

Do vậy, nếu như CNCT được nhìn nhận dưới góc độ chức năng luận, tức là phương hướng hoạt động chủ yếu gắn liền với một chủ thể độc lập nhất định vàhoạtđộngnày phải nhân danh nhà nước, vìlợiích công54 thìcóthể đưa ra nhận định: CNCT (theo nghĩa nêu trên) không hình thành cùng với sự ra đời của nhà nước. Nếu như quyền công tố là quyền của nhà nước, ra đời gắn liền với sựra đời của nhà nước (tùy từng xã hội và giai đoạn lịch sử nhất định, quyền nàyđược thực hiệnbởicác cơ quan khác nhauvớinhững hình thức đa dạng) thìCNCT ra đờigắnliềnvớisựtrao quyền chomộtthiếtchếnhà nước độc lập – CQCT thay mặt nhà nước thực hiện việc buộc tội và việc buộc tội này phải vì lợi ích công cộng. Nếukhông thỏa mãn haiđặc điểmtrên thìkhôngthểgọilàCNCT theo đúngbảnchất của nó. Vàdo đó, ởmỗiquốc gia, sựtrao quyền CNCT cho một thiết chế công tố độc lập có thể khác nhau.

1.2. Lí luận về chức năng công tố trong tố tụng hình sự1.2.1. Khái niệm về chức năng và công tố

1.2.1.1. Một số khái niệm về chức năng

Từ góc độ thuật ngữ, theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ chức năng được hiểu theo hai nghĩa, cụ thể: (1) Chức năng là toàn thể những việc thường xuyên mà một đoàn thể, một tổ chức, một cánhân phải thực hiện vì nhiệm vụ của mìnhđể giữ một vai trò trong xã hội. Ví dụ: Chức năng của các trường sư phạm là đào

tạo giáo viên; (2) Chức năng là vai trò riêng của một vật trong một toàn thể, vànói riêng của một cơ quan ấy là thành phần. Ví dụ: chức năng của phổi.55

Cóthể thấy, theo nghĩa đầu tiên, chức năng luôn gắn liền với hoạt động/việc của chủ thể nhất định. Chức năng được xem như trách nhiệm/nghĩa vụcủa chủ thể nhất định mà việc thực hiện chức năng đó để hoàn thành vai trò của chủ thể trong xã hội. Theo nghĩa thứ hai, chức năng được hiểu là vai tròriêng cócủa chủ thể nhất định trong một toàn thể. Từ khái niệm này có thể suy rộng ra,

54Về nội dung này, xem thêm mục 1.2.1. Khái niệm về chức năng và công tố; 55 Từ điển Tiếng Việt, (2005) NXB Từ điển bách Khoa, HàNội;

49

thực hiện chức năng của chủ thể để góp phần vào sự vận hành trơn tru và hiệu quảcủa “mộttoànthể”. Ngược lại, chức năng của mộtchủthểbộphận không vận hành đúng đắn, cóthể dẫn đến “toàn thể [mà chủ thể ấy là bộ phận]” cũng vận hành không hoàn toàn hiệu quả, như mong muốn.

Theo Từ điển Luật học, chức năng là phương diện, mặt hoạt động chủ yếu của một thiết chế (cơ quan, tổ chức)56. Theo nghĩa Hán Việt, chức là việc phần mình, năng là sức làm được. Từ đó, chức năng cũng còn được hiểu là hoạt động chủ yếu của một cơ quan, tổ chức đó. Ví dụ: chức năng của Tòa án nhân dân làxét xử, nhân danhnhànướcđưara các phán xét, phán quyết đối với các vụ án theo quy định của pháp luật.

Nghiên cứu sinh chia sẻ với khái niệm chức năng nêu trên, theo đó chức năng là “phương diện hoạt động chủ yếu” và khái niệm chức năng luôn gắn liền với một thiết chế nhất định57.

Từhai khái niệmvềchức năng xéttừgócđộthuậtngữnêu trên, cóthểthấy, mỗikhái niệm cónhững cách nhìn khác nhauvềchức năng, đềuchứa đựng những hạt nhân hợp lí nhất định. Nghiên cứu sinh không cóý luận bàn vềtính đúngđắncủanộihàm khái niệm chức năng trong Luận án. Mục đích của tác giả là rút ra những đặc điểm cơ bản của các khái niệm chức năng, từ đó, vận dụng vào xây dựng khái niệm cốt lõi của Luận án, đó là “CNCT”.

Theo hai khái niệm nêu trên, có thể rút ra hai đặc điểm chung, cơ bản vềchức năng như sau: (1) chức năng luôn được xem xét gắn liền với một chủ thểnhất định (thiết chế, cơ quan, tổ chức là một bộ phận của một toàn thể); (2) chức năng là hoạt động chủ yếu của chủ thể, gắn liền với vai trò của chủ thể đó. Đây sẽ là hai đặc điểm cơ bản mà tác giả vận dụng để xây dựng khái niệm CNCT.

56Từ điển Luật học (2006), Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa – Nhà xuất bản Tư pháp, tr.162;

57 Về quan điểm này, NCS Nguyễn Mạnh Hùng cũng nhất trí khái niệm về chức năng và được đề cập trong Luận án tiến sỹ “Những chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự” của NCS khi luận bàn về khái niệm chức năng tố

tụng hình sự, xem thêm tr. 19-23;

50

Theo thuyết chức năng luận, khái niệm chức năng [theo nghĩa rộng] bao hàm quan niệm về một cấu trúc (structure) gồm một tập hợp các quan hệ (set of relations) giữa những thực thểđơnvị(unit entities), sựliên tục của cấutrúcđược duy trìbởi quá trình đời sống được tạo thành từ những hoạt động của các đơn vị cấu thành.58

Từđịnhnghĩa được đưa ra ởđây, “chức năng” là sựđóng góp mà một hoạt động bộ phận tạo ra cho hoạt động tổng thể mà nó làm bộ phận. Quan niệm như thế hàm ý rằng một hệ thống xã hội (cấu trúc xã hội tổng thể của một xã hội cũng như tổng thể những tập quán xã hội mà cấu trúc ấy xuất hiện và dựa vào đósự tồn tại của nó được liên tục) có một loại thống nhất nào đó mà ta có thể gọi làsự thống nhất chức năng. Ta có thể định nghĩa nó là một điều kiện trong đó toàn thể các bộ phận của hệ thống xã hội cùng hoạt động với một mức độ vừa đủ cho sự hài hòa và sự nhất quán nội tại, tức là không tạo ra những xung đột dai dẳng không giải quyết được cũng như không điều hòa được.59

Như vậy, theo thuyết chức năng luận, khái niệm chức năng có cách hiểu khá tương đồng với cách hiểu thứ hai từ góc độ ngôn ngữ học của Từ điển Tiếng Việt nhưđã phân tíchởtrên. Khái niệm chức năng gắn với vai tròcủa mộtbộphận trong tổng thể. Sự vận hành của chức năng bộ phận sẽ góp phần vào hiệu quả của sự vận hành chức năng tổng thể.

1.2.1.2. Một số khái niệm về công tố

Côngtốlàkhái niệm thu hút nhiềusựquan tâm của các nhànghiên cứu cũng như nhà thực tiễn pháp luật trong và ngoài nước.

Công tố được nhìn dưới hai góc độ chủ yếu là quyền công tố và chức năng [thực hành quyền] công tố. Ở nước ta, thuật ngữ “thực hành quyền công tố” đầu tiên được đưa vào văn bản pháp lí năm 1980. Khi đó, Hiến pháp 1980 ghi nhận

58 M.H Lessnoff, (1969), “Functionalism and explanation in social science”, The Sociological Review, Volume 17, Issue 3, p. 323-340;

59 M.H Lessnoff, (1969) tlđd; p. 323-340;

51

thuậtngữnày khiđềcậpđếnchức năng của Việt kiểm sát nhân dân60. Sau đó, năm 1981, thuật ngữ này tiếp tục được đề cập đến trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 1 và Điều 3. Trong gần 40 năm xuất hiện cho đến nay, vấn đề về công tố đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các học giả Việt Nam. Cóthể nói, từ năm 1960 cho đến nay, cónhiều quan điểm khác nhau về quyền công

tố61, đềcậpđếncác đặc điểmnộihàm của quyền côngtố(đốitượng, chủthể, phạm vi, nội dung). Nghiên cứu sinh sẽ phân tích các quan điểm này, từ đó xây dựng rút ra các đặc điểm của CNCT, phục vụ việc xây dựng khái niệm CNCT – khái niệm quan trọng của Luận án.

Quanđiểmthứnhấtđồngnhất khái niệm quyền côngtốvớihoạtđộng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân (trước khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Quan điểm này xuất phát từchức năng của Viện kiểm sát nhân dân để xem xét quyền công tố. Theo đó, tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công

tố. Ngay cả khi Viện kiểm sát kiến nghị yêu cầu các cơ quan nhà nước sửa chữa những vi phạm pháp luật của mình trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xãhội (trước đây gọi là chức năng kiểm sát chung) cũng là thực hành quyền công tố62. Theo quanđiểmnày, côngtốkhông phảilàmộtchức năngđộc lậpcủa Viện kiểm sát, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Có thể nói đây là quan điểm khá phổ biến, đặc biệt làtrong ngành kiểm sát từ năm 1960 cho đến khi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 ban hành63.

Theo quanđiểmcủa nghiêncứusinh, việc coi quyền côngtốchỉlàmột phần của quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật là hoàn toàn không phù hợp vàchính xác từ cả góc độ líluận và thực tiễn, mặc dù, hai chức năng này cómột số

60 Xem Điều 138, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980;

61 Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương và Nông Xuân Trường, (2014) Thực hành quyền công tố vàkiểm sát các hoạt động tưpháp trong giai đoạn điều tra, NXB Tư pháp, tr.22;

62 VõQuang Nhạn, (1984), “Bàn về quyền công tố”, Tạp chí Công tác kiểm sát, số 2, trích dẫn trong Lê Hữu Thể, Đỗ VănĐương và Nông Xuân Trường, tlđd, NXB Tư pháp, tr.22;

63 Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương và Nông Xuân Trường, tlđd, NXB Tư pháp, tr.22; trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đưa ra khái niệm quyền công tố trên cơ sở phân tích 7 quan điểm khác nhau;

52

nội dung cómối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau. Từ góc độ líluận, quyền công tố và quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật có sự khác biệt rõrệt về đối tượng, nội dung vàbản chất64. Từgóc độthực tiễn, hoạtđộngcủa Viện kiểm sát thể hiện rất rõsự khác biệt giữa hai quyền này. Quyền công tố, với nội hàm vốn có, sẽ bao gồm các hoạt động buộc tội (do nhà nước ủy quyền) đối với tộiphạm và ngườicóhành vibịcoilàtộiphạm.Nộihàmcủaquyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật đưa đến ngoại diên là các hoạt động kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyếtđịnhcủa cơ quan tiến hànhtốtụng và ngườitiến hành tố tụng.

Quanđiểmthứhai cho rằng quyền côngtốlàquyền của nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy tố người phạm tội ra trước Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hiện quyền công tố)65. Quan điểm này khá ngắn gọn và đã chỉra được những đặc điểm nhất định của quyền công tố. Về chủ thể, tác giả khẳng địnhchỉcóViện kiểm sátđược nhà nước giao thực hiện quyền côngtố.Nội dung của quyền công tố là việc “truy tố” đối với người phạm tội ra trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa.

Cóthể thấy, quan điểm này cónhững điểm tiến bộ và khá gần với một sốquanđiểmcủa học giảphương tây. Trong phần tổng quan, nghiêncứusinhđãchỉra rằng, nhiều học giảkhi nghiêncứuvềCNCTđã “mặcnhiên” phân tích quyền quyếtđịnhviệc truytốvàquyềnbảovệsựbuộc tộitạiphiên tòa. Điểm tiến bộ của quan điểm này là tác giả nhìn quyền công tố là quyền của nhà nước, nhà nước thực hiện quyền/chức năng này trong mối quan hệ với chức năng duy trìtrật tự xã hội, do sự vận hành và tổ chức bộ máy, nhà nước giao cho một thiết chế nhất định là Viện kiểm sát/Viện công tố thực hiện. Có thể nói, tác giả đã cócái nhìn về công tố gần với lăng kính của các học giả chức năng luận.CNCT của

64 Vấn đề này sẽ được phân tích cụ thể ở Mục 2.3.1 mối quan hệ giữa chức năng công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp;

65 VõThọ, Một số vấn đề về Luật tố tụng hình sự, NXB Pháp lý, tr.86-88;

53

thiết chế CQCT là chức năng bộ phận của một toàn thể – chức năng duy trì trật tự xã hội/bảo vệ lợi ích công cộng của nhà nước.

Tuy nhiên, khi nhìn từ góc độ lí luận, quan điểm này đã đưa ra khái niệm quyền công tố bị thuhẹpvề phạmvi, nộidung và chưa phản ánhđược đầyđủbảnchất của quyền công tố. Nói cách khác, tác giảđã nhìn côngtốởmột phương diện là buộc tội. Hầu hết các tác giả trong và ngoài nước đều thống nhất, buộc tội là một trong ba chức năng cơ bản của TTHS, ngoài ra, truy tố và thực hiện việc buộc tộitạiphiên tòa lànhững quyền năng chính/cơbảncủa CNCT của CQCT trong TTHS.

Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xétxử để bảo vệ lợi ích của nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật66.

Trái với quan điểm thứ hai, quan điểm này đã mở rộng phạm vi của quyền công tố. Đối tượng của quyền công tố không chỉ là người cóhành vi nguy hiểm choxãhộibịcoilàtộiphạm màcònlàvụviệc vi phạm trậttựpháp luật. Nói cách khác, phạm vi của quyền công tố không chỉ trong lĩnh vực TTHS, mà còn trongcảcác lĩnh vực khác. Tuy nhiên, nghiêncứusinh nhận thấy, quanđiểm này đã nêu được một trong những đặc điểm bản chất của quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước. Nghiên cứu sinh nhất trívà tiếp thu quan điểm này khi xây dựng khái niệm CNCT trong Luận án của mình.

Quanđiểmthứtư cho rằng quyền công tố là quyền bao gồm quyền khởi tố, điều tra vụ án, quyền truy tố và buộc tội bị cáo trước tòa án. Nghiên cứu sinhđồngtìnhvớinhóm tác giảquanđiểmnàyởnộidung quyền côngtốluôn gắn liềnvớihoạtđộngbuộc tộinhân danh nhà nước (nhân danh công quyền). Do vậy, quyền công tố chỉ phát sinh trong một lĩnh vực duy nhất – TTHS.Chủ thểtham gia vào hoạtđộngthực hành quyền côngtốbaogồmCơ quanđiềutra (Điều tra viên) và Viện công tố (Công tố viên). Riêng quyền truy tố người phạm

66 Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Công tác kiểm sát (Phần chung), 1984, tr.84-87;

54

tộira Tòa vàthực hiện quyền buộctộinhân danh nhà nướctạiphiên tòa chỉthuộc về Viện công tố. Về bản chất, các tác giả đã cho thấy quyền công tố được sử dụng để bảo vệ không chỉ các lợi ích công (lợi ích chung của toàn xã hội) màcả lợi ích của cánhân khi bị hành vi phạm tội xâm hại67.

Quan điểm thứ năm cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta làViện kiểm sát) đểphát hiệntộiphạm vàtruycứutrách nhiệm hìnhsựđốivới ngườiphạmtội68. Đâylà quanđiểmđược nhóm tác giảđưa ra sau khi nghiên cứu, phân tích tám quanđiểmvềquyền công tố. Do đó, quanđiểmnày chứa nhiều nhân tố hợp lý. Trước tiên, các tác giả đưa ra khái niệm công tố trêncơ sởthừa nhận rằng các chức năng cơ bảncủaTTHS gồmba chức năng: buộc tội, bào chữa (gỡ tội) và xét xử. Chức năng buộc tội là trục chính, thu hút hoạt động của tấtcảnhữngchủthểtham gia tốtụng. Các tác giảcũng khẳng định, trong các tài liệu của các quốc gia khác, khi đề cập đến vai trò, vị trí của Công tố viên

(Kiểm sát viên), các nhà làm luật đều gọi họ là “người buộc tội nhân danh nhànước”. Và thuậtngữ“buộc tộinhân danh nhà nước” được dịch ngắngọnsang tiếng Việt, theo đúng nghĩa của nó, là “Côngtố”. Quanđiểmnàythểhiệnsựkhác biệt giữa CNCT và chức năng buộc tội. Lí luận và thực tiễn đều cho thấy,đâylà hai chức năng cónộihàm tươngđồnglớnnhưngvẫnlàhai chức năng riêng biệtvớihai giácđộnghiêncứukhác nhau. Chức năng buộctộilàchức năng cơ bản trong TTHS. Quan điểm này, mặt khác, cũng gián tiếp chỉ ra rằng, CNCTđượcthực hiệngắnliềnvớisựnhân danh nhànướcvàmộtthiếtchếthay mặt nhà nước thực hiện. Hay nói cách khác, CNCT là chức năng của chủthể.

Tác giảchia sẻ với quanđiểmnày. Như trên đã phân tích, tác giả không luận bàn chuyên sâu về nội hàm khái niệm chức năng, tuy nhiên các khái niệm

67 Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương và Nông Xuân Trường, tlđd, NXB Tư pháp, tr.28,29; 68 Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương và Nông Xuân Trường, tlđd, NXB Tư pháp, tr.40;

55

chức năng từcảgóc độthuật ngữ vàthuyết chức năng luậnđềucho thấyđiểm chung cơ bản, đó là khái niệm chức năng gắn liềnvớimộtthiếtchếnhất định, thể hiện vai trò của “một bộ phận” trong “một toàn thể”. Tác giả sẽ đi sâu phân tích khái niệm CNCT với vai trò là chức năng của CQCT.

Quan điểm thứ sáu cho rằng, quyền công tố ở Việt Nam là quyền của Nhànước giao cho Viện kiểm sát đưa vụán ra Tòa xétxửđểbảovệlợiích Nhànước, lợi ích chung và bảo vệ lợi ích của công dân được thực hiện trong TTHS, tố tụng dân sự và trong các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác.

Đâylà quanđiểmcủa nghiêncứusinhLêThịTuyết Hoa đưa ra trong Luận án của mình. Tác giả chia sẻ với nhiều nội dung của quan điểm này. Theo tác giả Luận án, nghiên cứu về quyền công tố phải từ kết quả nghiên cứu lịchsửra đời của quyền công tố, những đặc trưng khác biệt giữa hoạt động công tố vàtư tố cũng như sự khác biệt về cách thức tổ chức thực hiện quyền công tố trong

lịch sử và ở mỗi quốc gia trên thế giới hiện nay.

Tuy nhiên, tác giảcủa Luận ánđã quá mởrộng phạm vi lĩnh vực của quyền công tố, theo đó, quyền công tố phát sinh trong cả lĩnh vực TTHS và tố

tụng dân sự, tốtụng tư pháp khác. Nghiêncứusinh khôngđồngtìnhvớiquanđiểm này. Nghiên cứu sinh sẽ lập luận để ủng hộ quan điểm, quyền công tố chỉphát sinh trong lĩnh vực TTHS.

Trên cơsởkhoa họcvànhận thức cóhạncủa mình, chúng tôi cho rằng, các quan điểm về quyền công tố phân tích ở trên đều cónhững hạt nhân hợp línhấtđịnhvàgắnliềnvớibốicảnh phát triển của kinh tế, xãhộinói chung, sựphát triển của khoa học pháp lí nói riêng, do vậy, các quan điểm này chưa thực sự thỏa mãn các nhà khoa học về cơ sở lí luận của quyền công tố trong bối cảnh hiện tại, cụ thể như sau:

– Có quan điểm quá mở rộng phạm vi của quyền công tố, cho rằng quyền côngtốkhôngchỉphát sinh trong lĩnh vực TTHS màcòn phát sinh trong các lĩnh vực tố tụng khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính;

56

– Có quan điểm thu hẹp phạm vi, nội dung của quyền công tố, coi quyền công tố chỉ là quyền đưa vụ án ra xét xử và bảo vệ việc buộc tội tại phiên tòa;

– Cábiệt, có quan điểm không coi quyền công tố là chức năng độc lập của CQCT, màCNCTchỉlàmộtnộidung của chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật.

Nghiên cứu sinh cho rằng, nguyên nhân của “sự không thỏa mãn” nêu trên xuất phát từ những lí do sau. Thứ nhất, trong bối cảnh hiện nay, xu thế hội nhập trong“thếgiớiphẳng” đã đưa khoa học pháplícósựgiao thoa mạnh mẽ, các học thuyếtvềcôngtốđược nghiên cứu, so sánh giữa các quốc gia vớitruyền thống pháp luật khác nhau; Thứ hai, các quốc gia đang rất quan tâm đến cải cách tư pháp và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tố tụng nói chung, CQCT nói riêng. Thứba, nhiều quốc giađềuđangđốimặtvớitình trạng quátải của hệthốngtốtụng, dođó,yêucầunghiên cứu vềchức năng của hệthống cơ quan này nói chung, CNCT của Viện kiểm sát nói riêngvàsựphânđịnhnộidung, phạm vi giữa các chức năng này sẽ góp phần giải quyết tình trạng nêu trên69.

Do đó, chúng tôi cho rằng, đểxây dựng đúngđắnkhái niệmvềquyền công tố cần đảm bảo hai yếu tố sau: (1) trước tiên, phải nghiên cứu quyền công

tố/ CNCT gắn với lịch sử hình thành nhà nước và pháp luật, lịch sử hình thành quyền công tố, cũng như gắn với lí luận về chức năng của nhà nước. Đây cũng là lí do tác giả nghiên cứu lịch sử hình thành CNCT; (2) đồng thời, nghiên cứu quyền công tố/CNCTcầnđặttrongbốicảnh và xuhướngphát triển khoa học pháp lí hiện nay.

69 Xem Timothy Waters, “A comparison of the inquisitorial and adversarial systems”, xem trực tuyến tại trang thông tin điện tử của Bộ tư pháp New Zealand, http://www.justice.govt.nz/publications/global- publications/a/alternative-pre-trial-and-trial-processes-for-child-witnesses-in-new-zealands-criminal-justice- system/appendix-b-a-comparison-of-the-inquisitorial-and-adversarial-systems, truy cập ngày 23/10/2014; Xem thêm các bài viết: Jehle, Jörg-Martin, (2000), “Prosecution in Europe: Varying structures, convergent trends.” European Journal on Criminal Policy and Research, Vol8/1, p.27-42; Brants, Chrisje, and Allard Ringnalda, (2011), “Issues of Convergence: Inquisitorial Prosecution in England and Wales”,Wolf Legal Publishers, p. 214-220; Ringnalda, Allard, (2014), “Procedural Tradition and the Convergence of Criminal Procedure Systems:

The Case of the Investigation and Disclosure of Evidence in Scotland.” American Journal of Comparative Law,

Vol62/4, p. 1133-1166…;

57

Vì vậy, nghiên cứu sinh đồng tình với quan điểm cho rằng quyền công tốlà quyền của cơ quan nhà nước được nhà nước uỷ quyền thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm đưa người đó ra xétxử trước Tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó70. Tác giả bài tạp chí đã chỉ rađược phạm vi lĩnh vực của quyền công tố, vềnộidung của quyền công tố, vàmối quan hệ giữa CNCT và chức năng điều tra. Nghiên cứu sinh sẽ tiếp thu và phát triển quan điểm trong Luận án của mình.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\CHỨC NĂNG CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ ĐỨC

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *