Chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Chứng cứ là phương tiện để xácđịnhsự thật khách quan của vụ án trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH. Đó là những thông tin có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và đã được kiểm tra, đánh giá công khai tạiphiên tòa, được dùng làm căn cứđể xácđịnh có hay không có hành vi phạm tội XPSH, ngư i thực hiện hành vi phạm tội XPSH và những tình tiết khác có ý nghĩađể TA ban hành bản án, quyết định giải quyết VAHS về các tội XPSH.
Lý luận và các quy định của pháp luậtvề chứng cứtrong TTHS đã từng bướcđược xây dựng và hoàn thiện. Khái niệm chứng cứ, nguồn chứng cứ, những vấn đềphải chứng minh, hoạtđộngthu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ… đã được quyđịnh trong BLTTHS, cùng với các quy định của BLHS đã tạo cơ sở pháp lý để đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm nói chung, tội XPSH nói riêng. Tuy nhiên về mặt lý luận, quyđịnhcủapháp luật và thực tiễn thi hành quyđịnhcủa pháp luậtvềchứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH còn nhiều vấn đề cần tiếp tục phải nghiên cứu, hoàn thiện trong th i gian tới.
Về mặtlý luận, thuật ngữ “chứngcứ”tuyđã được sử dụngphổbiến trong thực tiễn, quy định trong pháp luật tố tụng hình sự và được nghiên cứu nhiều về mặt lý luận, nhưng quan điểm của các nhà khoa học trong và ngoài nước về khái niệm “chứngcứ” cũng như mộtsốvấnđề khác có liên quanđếnchứngcứnhư:đối tượngchứng minh, giới hạn chứng minh, phạm vi chứng minh, nghĩa vụchứng minh vẫn chưa cósựthống nhất. Mặt khác, việc nghiên cứu mới dừng lại ở những vấn đề lý luận về chứng cứtrong tố tụng hình sự nói chung, chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH.
Về quy định của pháp luật, các quy định của BLTTHS và BLHS hiện hành vềchứng cứ, chứng minh, xét xử sơ thẩm VAHS, các tội XPSH tuy đã được sửađổi, bổ sung và từng bước hoàn thiện, song từ thực tiễn xét xử sơ thẩm cho thấy vẫn bộc lộmộtsốbấtcập, vướng mắc, hạnchế cầntiếp tục được nghiên cứu, sửađổi, bổ
1
sung và hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn xét xử đặt ra.
Về mặtthực tiễn, khi đánh giá công tác xétxử các VAHS, TANDtốicao cónhậnđịnh: “còn có ý kiến khác nhau về đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật” [105]. Mặt khác, các tội XPSH là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạmđến quyền chiếmhữu, sử dụng và định đoạttàisảncủa cá nhân, cơ quan, tổ chức. Các hành vi phạm tội XPSHrấtphức tạp, đa dạng; gây ra nhiều hậu quả vô cùng to
lớn, gây bức xúc trong nhân dân. BLTTHS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng các quyđịnhvề:chứng cứ, chứng minh, nguồn chứng cứ, trìnhtự thủ
tục xét xử sơ thẩm…. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các chủ thể trong TTHS
thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình và là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
Do đó, để nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm về các tội XPSH trong tình hình mới, việc nghiêncứunhằm hoàn thiện lý luận, quyđịnhcủa pháp luật, tạocơ sởbảo đảmthi hành đúng quy định của pháp luậtvề chứng cứtrong xét xử sơ thẩmvềcác tội XPSH là hết sức cần thiết. Với những lý do trên, nghiên cứu sinh đã chọn đềtài Chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu ở Việt Nam làm luận án tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thựctiễn vềchứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở Việt Nam; từ đó góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở nước ta.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thựchiện mục đích nêu trên, luận án có những nhiệm vụ sau:
– Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về chứng cứ trong xétxử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH: Cơ sở phương pháp luận, khái niệm, đặc điểm, vai trò, ýnghĩacủachứngcứvà nguồn chứngcứ;nhữngvấnđề phải chứng minh vàquá trình chứng minh trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH; các yếu tố tácđộngđếnthi hành các quyđịnhcủa pháp luậtvề chứngcứtrong xétxử sơ thẩm
2
VAHS về các tội XPSH.
– Thứ hai, làm sáng tỏ quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành những quyđịnh đó trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở nước ta.
-Thứba, Phân tích các yêucầuđặtra và đề xuất các giải phápbảođảmthi hành đúng quy định của pháp luậtvề chứng cứtrong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở nước ta hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS đối với các tội XPSH và thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về chứng cứ trong xétxửsơ thẩm VAHS đối với các tội XPSH ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề chứng cứ trong xétxửsơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở Việt Nam hiện nay. Cụ thể gồm: Các lý thuyết về chứngcứtrongtốtụng hìnhsự nói chung và chứngcứtrong xétxử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH nói riêng. Nghiên cứu quy định của pháp luậtvề chứng cứvà thực tiễn thi hành trong xét xử sơ thẩm VAHS đối với nhóm tội XPSH.
+ Về địa bàn: Luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng thi hành quy định của pháp luậtvề chứng cứtrong xét xử sơ thẩm VAHS đối với nhóm tội XPSH ở phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam.
+ Về th i gian: Từ năm 2011đến năm2020.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận:
Trong luận án, nghiên cứu sinh dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử,duyvậtbiện chứng của chủnghĩa Mác-Lênin; tư tưởngHồChí Minhvề nhànướcvà pháp luật; quan điểmcủa ĐảngCộngsảnViệt Namvề cảicách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Bên cạnh đó, luận án cũng tiếp thu các tinh hoa tư tưởng pháp lý của nhân loại, các giá trị pháp luật quốc tế và tham khảo quy
3
định của pháp luật một số nước trên thế giới về chứng cứ trong TTHS.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận án nghiên cứutheo phương pháp liên ngành khoa học xãhộivà liên ngành luật học. Trong đó, có sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp nghiên cứu lịchsử-cụthể: Đểtìm hiểu sự hình thành và phát triển về chứng cứ trong tố tụng hình sự trên thế giới (chương 2); tìm hiểu quy định của pháp luật về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH trong giaiđoạn chuẩn bị xét xử, tại phiên tòa sơ thẩm và khi nghị án (chương 3).
Phương pháp tổng hợp: Để hệ thống hoá các quan điểm về chứng cứ, các dấu hiệu pháp lý của nhóm tội XPSH; đưa ra khái niệm và đặc điểm về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH (chương 1 và chương 2); hệ thống hoá các yêucầuvềbảođảmáp dụng đúng pháp luậtvềchứngcứtrong xétxửsơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở nước ta hiện nay (chương 4).
Phương pháp so sánh:Đểlàm rõ các đặc điểmgiaiđoạnxétxửsơ thẩm VAHS vềcáctộiXPSH. Từđó,so sánh nhữngđiểmkhác biệtvớicác giaiđoạn điều tra, truy tố, xét xử phúc thẩm VAHS về các tội XPSH (chương 1).
Phương pháp thống kê: Để đánh giá kết quả xét xử sơ thẩm VAHS nhóm tội XPSH (chương 3).
Phương pháp phân tích: Để phân tích các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứngcứtrong xétxửsơ thẩm VAHS nhómtộiXPSH (chương 2); đánh giáthực trạng thi hành quy định của pháp luật về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS nhóm tội XPSH ở nước ta (chương 3); đưa ra các giải pháp bảo đảm thi hành đúng quyđịnhcủa pháp luậtvềchứngcứtrong xétxửsơ thẩm VAHS nhómtộiXPSH (chương 4).
Ngoài ra, nghiên cứu sinh còn sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, nghiên cứu văn bản pháp luật, phỏng vấn sâu để chứng minh các luận điểm, đánh giá, nhận định trong luận án.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là một công trình nghiên cứu có tính hệ thống, toàn diện về chứng cứ
4
trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở Việt Nam và gắn với th i gian cụthể. Điểm mới của luận án được thể hiện chủ yếu ở các điểm sau:
– Với việc sử dụng phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành; luận án đãphân tíchrõ một số vấn đề lý luận cơ bản về chứng cứtrong xétxử sơthẩm VAHS về các tộiXPSH: Cơsở phương pháp luận, khái niệm, đặcđiểm, vai trò, ýnghĩa của chứngcứvà nguồn chứngcứ;nhữngvấnđề phải chứng minh và quá trình chứng minh; các yếu tố tácđộng đếnthi hành các quy định của pháp luật về chứng cứtrong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH. Đồng th i, phân tích quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH. Trên cơ sở đó, đưara các giải phápbảođảm thi hành đúng quyđịnhcủapháp luậtvềchứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở Việt Nam.
– Bằng quan điểm tiếp cận tổng thể, toàn diện và đa chiều về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH trên cơ sở những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành. Từ đó, làm cơ sở nâng cao chất lượng xétxử sơthẩmvềcác tộiXPSH, bảođảmtốthơn quyền con ngư i, hạnchếnhững sai sót thư ng gặp trong xétxử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH.
– Luận án là công trình nghiêncứuchuyên sâuvềchứngcứtrong xétxửsơthẩm VAHS về các tội XPSH, trên cơ sở phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận thông qua thực tiễn xét xử đã làm sáng tỏ, sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về chứng cứ vàcác vấn đề liên quan trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH. Thông qua đó, phát hiện ra những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân trong thực tiễn thi hành, nên có ý nghĩa to lớn trong việc hoàn thiện về cơ sở lý luận và giải pháp thực hiện.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
-Ýnghĩa lý luận: Luận án nghiêncứumộtcáchđầyđủ,toàn diện và cóhệthống về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần phát triển và hoàn thiện hơn lý luận về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH.
– Ý nghĩa thực tiễn: Luận án cóthểđược sửdụng trong công tác nghiên cứu của các cơ sởđàotạochuyên ngành luật, các cơ quanbảovệpháp luật và cóý
5
nghĩa lý luận và thực tiễn đối với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đặc biệtđốivớiTA và cũng là tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện các quyđịnh của BLHS, BLTTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành; góp phần làm phong phú và hoàn thiện hơn cơ sở lý luận về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các
tội XPSH, nâng cao hiệu quả cải cách tư pháp trong th i gian tới.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phầnmởđầu, kếtluận và danhmụctham khảo, nộidung của luận ánđược chia thành bốn chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Chương 2. Những vấn đề lý luận về chứng cứ trong xétxử sơthẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu.
Chương 3. Quyđịnhcủa pháp luật vềchứngcứtrong xétxửsơ thẩmvụán hình sự về các tội xâm phạm sở hữu và thực tiễn thi hành ở Việt Nam hiện nay.
Chương 4. Yêucầuvà giải pháp bảođảm thi hành đúng quyđịnhcủa pháp luật về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc
1.1.1. Tình hình nghiên cứu những vấnđề lý luận vềchứng cứ trong xétxửsơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thực trạng thi hành các quy định của pháp luật vềchứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sởhữu
1.1.3. Tình hình nghiên cứu về các giải pháp bảo đảm thi hành đúng pháp luật về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sởhữu
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài
18
1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 2.3.1. Các vấn đề đã thống nhất:
Qua việcđiểmlạicác công trình nổi bật trong và ngoàinướccóthể thấy được một số kếtquả, cụ thể như sau:
Thứ nhất, một số vấn đề lý luậncơbản về chứng cứtrong tố tụng hình sự; các học giả đãthống nhất chứngcứlà phương tiện chứng minh, đểxácđịnhsự thật khách quan của VAHS được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định.
Thứ hai, quá trình giải quyết VAHS phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, tuy nhiên ở giai đoạn nào các chủ thể cũng phảisử dụng chứng cứ để làmsáng tỏcác vấn đề phảichứng minh. Trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán và HĐXX sử dụng chứng cứ để làm rõ những vấn đề thuộc về đối tượng chứng minh trong vụ án.
Thứ ba, các công trình đã công bố có sự thống nhất rằng, thực trạng xét xử các VAHS về các tội XPSH và việc bảo quản, xử lý chứng cứ trong xét xử VAHS ở nước ta còn hạn chế, bất cập; chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế, cải cách tư pháp và bảo vệ quyền con ngư i.
Thứ tư, các tác giả đưa ra các giải pháp khác nhau và đều hướng đến mục đích thi hành đúng, hiệu quả quyđịnhcủa pháp luậtvề chứng cứ trong xétxửsơ thẩm VAHS, trong đó có xét xử sơ thẩm về các tội XPSH.
2.3.2. Các vấn đề chưa thống nhất còn tranh luận:
Thứ nhất, vẫn chưa thống nhấtđược kháiniệm chứng cứ trong TTHS dưới gócđộ khoa học pháp lý và pháp luật thực định. Mặc dù hầu hết các công trình nghiên cứuđều khẳng định chứng cứlà những thông tin xác thực về những gì có thật liên quanđến hành vi phạm tội và làm căn cứđể xácđịnh sự thậtkhách quan của vụ án. Tuy nhiên, có nghiêncứu đồng nhấtchứng cứ với những sự kiện, tình tiết; có quan điểm
về chứng cứlà những sự kiện thông thư ng…và chỉ cần chúng được đưa vào phạm vi của trình tự tố tụng, trở thành biện pháp để xác định những tình tiết mà cơ quan xét xử và điều tra quan tâm, thì chúng là những chứng cứ tố tụng.
Thứ hai, thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về về chứng cứ trong xét xử
19
sơ thẩm VAHSvềcáctộiXPSH có nhiều đánh giáởmứcđộkhác nhau tùy thuộc vào cách tiếpcậncủatừng tác giả. Vídụ:có nghiêncứuthực tiễn xétxửnhóm tội XPSH, đã phân tích vướng mắc chủ yếu trong công tác xét xử là việc xác định hành vi khách quan, thủ đoạn phạm tội để phân biệt tội danh; tình trạng lúng túng, chưa thống nhất khi xácđịnhmộtsốtình tiếtđịnhkhung tăng nặnglạilà dấuhiệu cấu thànhtộiphạm khác; có nghiên cứutập trung vàotộiphạmcụ thể trong nhóm tội này; có nghiên cứu lại đánh giá thực tiễn của việcxử lý vậtchứng trong xét xử các
VAHS, trong đó có nhóm tội XPSH…
Thứ ba, các nghiên cứu cũng đề xuất nhiều giải pháp khác nhauđể nângcao hiệu quả sửdụng chứngcứtrong xétxử các VAHS. Vídụ:có ngư iđề xuấtđổi mới tố tụng hình sựở ViệtNam, trong đó hoàn thiện chế định chứng cứ và chứng minh; có công trình tập trung đổi mới phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp, với yêucầucủa phiên tòa: HĐXXđộc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện tốt nguyêntắctranh tụng, tôn trọng quyền con ngư i, thực hiệnhếtthẩm quyền của mình theo quy định của pháp luật; có công trình nghiên cứu hướng hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội XPSH; có nghiên cứu theo hướng hoàn thiện chế định chứng
cứ để bảo đảm yêu cầu của nguyên tắc suy đoán vô tội…
2.3.3. Các vấn đề cần được nghiên cứu trong luận án
Thứ nhất, khái niệm chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH, các công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm thư ng tiếp cận chứng cứ theo hướng chung hoặc chứngcứtrongtốtụng hìnhsự.Dođó,tácgiảtiếptụcnghiêncứuđưara khái niệm, dấu hiệu đặc trưng của chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH.
Thứ hai, Hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong xét xử VAHS đãđược nghiên cứu với cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, chưa học giả nào nghiên cứu một cách hệ thống trong xét xử sơ thẩm VAHS. Tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ các hoạt động này trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH.
Thứ ba,Những vấn đề phảichứng minh trong VAHS là hệ thống các tình tiết phản ánhvề VAHS cầnphảiđược làm rõđể giải quyết VAHS đúng pháp luật.

Nhưng chưa có công trình nào nghiêncứucóhệthống nhữngvấnđề phải chứng minh trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH. Trong khi đó, đây là việc quan trọng để bảo đảm nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm các VAHS về các tội XPSH.
Thứ tư, việc đánh giá thực trạng thi hành các quy định của pháp luật về chứng cứtrong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở Việt Nam thư ng dựa trên thông tin từbáo chí, phân tích pháp luật và mang tính lý thuyết. Do vậy, các nhận định, đánh giáchưa sát thực với thực tiễn xét xử. Trong khi đó, để bảo đảm tính chính xác, bên cạnh các biện pháp nêu trên, cần phải xuất phát từ thực tiễn xét xử các tội XPSH.
Thứ năm, có nhiều tác giả kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềchứng cứ; về thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Cùng với đó, có nhiều tácgiảkiến nghị hoàn thiện quyđịnhhoặchướngdẫnáp dụng thống nhất các quyđịnh pháp luậtvề các tội XPSH. Tuy nhiên, BLHS, BLTTHS năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật; nên nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu các yêu cầu và đề ra các giải pháp bảo đảm thi hành đúng các quy định của pháp luật về chứng cứ trong xét xử sơthẩm VAHS về các tội XPSH trong th i gian tới.
Kết luận chƣơng 1
Chứng cứ có vai trò quan trọng là xácđịnh sự thậtkhách quan của VAHS vàphản ánh quá trình xác định sự thật của vụ án. Trong các hoạt động tố tụng hình sự, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ có thể xác định các tình tiếtcủa vụán bằng chứng cứ, trên cơsởchứngcứđã đượcthu thập, kiểm tra, đánh giá. Nhưvậy, có thể khẳng định chứng cứ là phương tiện khẳng định các sự kiện, hiện tượng nhất định nhằm giải quyết đúng đắn VAHS.
Thông qua việc khảo cứu các công trình khoa học đã được công bố liên quanđếnviệc thực hiện các nộidung của luận án, nghiêncứusinhđã tham khảo các công trình khoa học để rút rađược những kinh nghiệm, cách tiếp cậnvà phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận án của mình đạtkếtquả. Bên cạnhđó, giúp nghiên cứusinhđịnhhướngđược nộidung, mục đích, ýnghĩa và định
21
hướngnghiêncứulàm sángtỏchứngcứtrong xétxử sơ thẩm VAHS về các tội XPSHở ViệtNam.
Kếtquả nghiên cứu các công trình trong nước và ngoàinước,nghiên cứu sinhđãrút ra mộtsốnộidung như sau: các tác giả đã thống nhất chứngcứlà phương tiện chứng minh, để xácđịnhsựthật khách quan của VAHS; quá trình giải quyết VAHS phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, tuy nhiên ở giai đoạn nào các chủthể cũng phảisử dụng chứngcứđể làm sángtỏcác vấnđề cầnphải chứng minh; thực trạng xét xử và việc bảo quản, xử lý vật chứng trong xét xử VAHS về các tội XPSHở nướcta còn nhiều hạn chế,bấtcập; các tácgiả đưara các giải pháp khác nhau và đều hướng đến mục đích thi hành đúng, hiệu quả quy định của pháp luậtvềchứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS, trong đó có xét xử sơ thẩm các tội XPSH.
Từcác công trình nghiên cứuđó, nghiên cứu sinhđã có thêm kiến thức sâu hơnvề lý luận, thực tiễn và rút ra được cách tiếp cận nghiên cứuphùhợpđể giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận án.
22
Chƣơng 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG CỨ TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
2.1. Nhận thức lý luận về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vềcác tội xâm phạm sở hữu
2.1.1. Cơ sởphương pháp luậncủachứngcứ trong xétxử sơ thẩmvụ án hình sự về các tội xâm phạm sởhữu
Cơ sở phương pháp luận của chứng cứ trong xétxử sơthẩm VAHS về các tội XPSH là quan điểm duy vật biện chứng của triết học học Mác – Lênin. Trên cơ sởlý luận nhận thức của triết học Mác – Lênin mà chứng cứ trong tố tụng hình sự cóđược một phương pháp biện chứng. Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật gồm hai nguyên lý, ba quy luật và sáu cặp phạm trù. Theo đó, bản chất của thế giới là vật chất, con ngư i có khả năng nhận thức được thế giới khách quan và quy luật của nó; trên thế giới không có sự vật, hiện tượng không thể nhận thứcđược, mà chỉcó sự vật, hiệntượngchưa nhận thứcđược, nhưng con ngư i sẽnhận thứcđược. Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi sự nhận thức của con ngư i là một quá trình phức tạp, mâu thuẫn, luôn luôn phát triển trong lịch sử, đi từ không biết đến biết, từ biết không đầy đủ đến biết đầy đủ hơn, từ nhận thứccác hiện tượng đến nhận thức bản chất của thế giới khách quan, các quan hệ mang tính quy luật ở bên trong các sự vật, hiện tượng. Vật chất là thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức và được ý thức phản ánh. Chứng cứ là một dạng vật chất nên nó cũng vận động và phát triển theođúng các quy luật của tự nhiên, quy luật của xã hội và tư duy.
Thực tiễn là cơsởvàđộnglựccủanhận thức, là tiêu chuẩn duy nhấtđểkiểm nghiệm chân lý. Lê Nin đã khẳngđịnhvai tròcủathực tiễn trong lý luận nhận thức:
“Quanđiểmvềđờisống,vềthực tiễn, phải là quanđiểmthứnhất và cơbảncủalýluận nhận thức”[130, tr.193]. Theo lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mọi tội phạmxảyra trên thựctếluôn luônvậnđộngvà biếnđổikhông ngừng, nhưng con ngư i đều có thể phát hiện, chứng minh được. Bởilẽ, mọi sự vật,hiện tượng đều cóthuộc tính phản ánh, vì vậy hoạt động của con ngư i, trong đó các hành vi phạmtộiđều để lại dấu vết trong thế giới khách quan. Trên cơ sở thu thập đầy đủ, có hệ thống
23
các dấu vết này, con ngư i có thể nhận thức được diễn biến của hành vi phạm tội.
Để xétxử sơ thẩm chính xác, khách quan tội phạm và ngư i phạm tội XPSH, thì việc chứng minh làm sángtỏcác tình tiết của vụán có ýnghĩa đặcbiệt quan trọng;đòihỏiphải có các thông tin, tài liệu phản ánh hành vi phạm tội, phản ánh các yếu tố khách quan, chủ quan của các tội XPSH và các yếu tố liên quan chứng minh ngư i phạm tội.Đểđạtđược mục đích đócầncó đầy đủ hệ thống chứngcứhay nói cách khác chứngcứlà phương tiện duy nhấtđượcTAsử dụngđể chứng minh trong quá trình xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH.
Trên cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng đòi hỏi toàn bộ hoạt động thi hành quyđịnhcủa pháp luậtvềchứngcứtrong xétxử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH phảiđược tiến hành theo nguyêntắckhách quan và toàn diện. Nguyên tắc khách quan là một yêu cầu vô cùng quan trọng, nó là cơ sở đảm bảo cho việc xácđịnh sự thật của vụ án về các tội XPSH và được xác định khi xét xử sơ thẩm VAHS:
“…phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thậpđược vềvụ án” [74]. Nguyên tắc toàn diện yêu cầu khi xét xử sơ thẩm phải xem xét mộtcách toàn diệntấtcảcác chứng cứ, phải quan tâmđầyđủđến các chứngcứbuộc tội và chứng cứ gỡ tội, không được coi chứng cứ này có giá trị hơn chứng cứkhác hay nói rộng ra phải xem xétsự vậttrong tấtcảcác mặt, các mối liên hệ của nó cũng như tìm ra những mối liên hệ bản chấtđể nhận thứcđúng đắn sự vật, hiện tượng: “muốn thậtsự hiểuđược sự vật, cần phảinhìn bao quát và nghiên cứu tấtcảcác mặt, tất cả các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó” [131].
Học thuyết nhận thứccủachủ nghĩa duy vật biệnchứng được sửdụng như làcơ sở phương pháp luận của chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH với những quan điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, mọisự vật, hiện tượng của thế giới khách quan luôn luôntồntại trong mối quan hệ qua lạivà chịu sự tácđộnglẫn nhau. Bằngsự tác động qua lạiđó, sự tồntạicủa sự vật, hiệntượngnày luônđể lạidấuvếtở sự vật, hiện tượng khác. Tộiphạm là hành vicụ thể của con ngư iđược thể hiện ra thế giới khách quan. Chính vì sự tồn tại khách quan mà tội phạmcũng để lạicác dấu vết nhấtđịnh [112, tr.154]. Những dấu vết đó là chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
24
tụng, ngư i có thẩm quyền tiến hành tố tụng dùng làm phương tiện chứng minh tội phạm và ngư i phạm tội.
Trong hoạt động xétxử sơ thẩm VAHS về các tộiXPSH thì hoạtđộngkiểm tra, đánh giá chứng cứ có vai trò quan trọng. Trong giai đoạn này, các chứng cứ cơbản đã được thu thập đầy đủ, để xác định chính xácsựthật khách quan của vụ án thìThẩm phán, Hội thẩm nhân dân căn cứ vào các đặcđiểmhình thành và tồn tại của từng loạidấu vếtmà xác định trình tự, thủ tục, cách thức kiểm tra, đánh giá chứng cứkhác nhau, phù hợp quy định của pháp luật. Ví dụ: Khi kiểm tra, đánh giá chứng cứphi vật chất (thông qua l i khai, l i trình bày, báo cáo…) có những điểm khác so
với chứng cứ vật chất (xem xét vật chứng, xem xét hiện trư ng vụ án…).
Thứ hai, chủnghĩa duyvậtbiện chứng khẳng định, con ngư i có khả năng nhận thứcđược mọisự vật, hiệntượngtrong thế giới khách quan. Trên thế giới không có cái gì con ngư i không nhận thứcđược,chỉ có những cái con ngư i chưa nhận thức được nhưng con ngư i sẽ nhận thứcđược.Do đó, hành vi phạm tội XPSH xảy ra, thì dù ngư i phạm tội có cố gắng che dấu tội phạm thì chúng ta vẫn có thể làm rõ được hành vi phạm tội. Ví dụ: Khi ngư i phạm tội XPSH cố ý tẩu tán tàisảnchiếmđoạtđược, CQĐT không thu hồi được tài sản. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn thu thập được các tài liệu, chứng cứ làm căn cứxác định giá trị tài sản. Trên cơ sở đó, HĐXX vẫn có căn cứ đánh giá và xácđịnh giá trị tài sản bị chiếm đoạt, mặc dù tài sản trong vụ án không thu hồi được.
Thứ ba, họcthuyếtvề nhận thức của chủnghĩa duyvậtbiện chứng là cơ sởphương pháp luậnđặc biệt quan trọng trong lý luậnvềchứngcứ trong xétxử sơthẩm VAHS về các tội XPSH. Tinh thần cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về nhận thứclà “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn -đólà conđườngbiện chứngcủanhận thức chân lí, củasựnhận thức hiện thực khách quan” [132, tr.179]. Từ nhận thứccảmtính (trực quan sinh động) thu nhận các thông tin về tội phạm, từ đó có sự kiểm tra, đánh giá thông qua tư duy của mình, ngư i chứng minh cókếtluậnvềcác tình tiết nói riêng và về tộiphạm nói chung. Chứng minh trong tố tụng hình sự chính là nhận thức của con ngư ivềtộiphạm như là nhận thứcvề mộthiện thực khách quan và vì vậy cũng phải tuân
25
theo quy luật nhận thức đó của chủ nghĩa Mác – Lênin [112,tr154-155].
Tội phạm XPSH là một hiện tượng xã hội rất đa dạng, nhưng các yếu tố cóýnghĩa pháp lý hình sự của một tội trong nhóm tội này được xácđịnh rấtcụ thể.Căn cứvào ý nghĩa pháp lý hình sự của tội phạm, pháp luật hình sự và tố tụng hình sựđã quyđịnhđốitượngchứng minh, giới hạn cácvấnđề phải chứng minhởmột phạm vi nhất định nhằm xácđịnh sự thậtkhách quan của vụ án. Khi xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH, HĐXX cũng không thể ra phán quyết giải quyết vụ án nếu chưa xácđịnhđầyđủsự thật khách quan của vụán. Trong các trư nghợpđó, HĐXX phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc yêu cầu điều tra bổ sung.
Thứ tư, phương pháp biện chứng đặt nền móng cho việc áp dụng các quy luật của phép biện chứng duy vật vào quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ. Các nội dung quan trọng của phép biện chứng trong nhận thức như nguyên tắc toàn diện, đầy đủ, cụ thể, hệ thống… đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh.
Cơ sở phương pháp luận của chứng cứ trong xétxử sơthẩm VAHS về các tội XPSH là quan điểm duy vật biện chứng của triết học học Mác – Lênin, thông qua việc áp dụng các cặp phạm trù cơ bản và các quy luật của phép biện chứng duy vật vào chứngcứtrong xétxử sơ thẩm VAHSvề các tộiXPSH nhằm bảo đảmhoạtđộng xét xử đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luậtvà có tính thuyết phục cao.
2.1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của chứng cứ trong xétxử sơthẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu
2.1.2.1. Khái niệm chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sởhữu
Khái niệm chứng cứlà cơ sở để giảiquyết những vấn đề quan trọng khác nhưcác thuộc tính của chứng cứ, các phương pháp thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ
trong TTHS…Nộihàm của khái niệm chứngcứcòn cóảnhhưởngđếnviệc xácđịnhquyền và nghĩa vụcủa cơ quan có thẩm quyền tiến hànhtốtụng, ngư i cóthẩm quyền tiến hành tố tụng, ngư i tham gia tố tụng và có mối quan hệ biện chứng với việc thực hiện các nguyên tắc của luật TTHS. Do không trực tiếp chứng kiến sựviệc phạm tội nên cơ quan, ngư i có thẩm quyền tiến hành tố tụng phảidựavào các thông tin liên quan đến đốitượngchứng minh được thu thập theo trìnhtự,thủtục
26
do pháp luật quyđịnhđể kếtluận các tình tiết nhằm giải quyết đúngđắnVAHS. Tứclà, phải căn cứ vào chứng cứ đã thu thập được theo quy định của pháp luậtđểrút ra kết luận nhằm giải quyết VAHS.
Chứngcứtrong xétxử sơ thẩm VAHS về các tộiXPSH là những gì có thật,
tồn tại khách quan và được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Với tính chất là sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan, chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH phải tuân theo những quy luật chung của quátrình nhận thức khách quan mà các nhà kinhđiểncủa chủnghĩa Mác – Lêninđãchứng minh rằng: con ngư i có thể nhận thức được thế giới khách quan và quy luật của nó; trên thế giới không có sự vật, hiện tượng không thể nhận thứcđược, mà chỉcó sự vật, hiệntượngchưa nhận thứcđược, nhưng con ngư i sẽnhận thứcđược. Theo lý luận của chủ nghĩa duyvậtbiện chứng, mọitộiphạmxảyra trên thực tế, con ngư i đều có thể phát hiện, chứng minh được và mọi sự vật, hiệntượng đềucóthuộc tính phản ánh, nên các hành vi phạmtộiđềuđể lạidấuvếttrong thế giới khách quan. Trên cơsở việc thu thậpđầyđủ,cóhệthống các dấuvếtnày, con ngư i có thể nhận thức được diễn biến của hành vi phạm tội.
Tuy nhiên, trong khoa học luật TTHS hiện còn có những quan điểm khác nhau về chứng cứ, như:
Quanđiểmcủa nhà luật học ngư i Nga M.A.Trenxôv cho rằng, “chứng cứ lànhữngsự kiện, tìnhtiết”[137,tr.134]. Tác giả của quanđiểmnày, đã đồngnhất chứng cứ với sự kiện của thực tiễn khách quan đã xảy ra trong quá khứ.
Quanđiểmkháclạicho rằng:“bảnthân thuật ngữ “chứngcứ” được sửdụng trong TTHS với hai ý nghĩa: chứng cứ là nguồn thu thập thông tin điều tra, xétxửvà chứngcứlà sự kiện, tình tiết mà trên cơsở đóTA rút ra kếtluậnvề nhữngsựkiện khác cần phải làm rõ trong VAHS” [138,tr.126]. Trong quan điểm này, tácgiảđã nêu về ý nghĩa kép của chứng cứ.
Hay quanđiểm:“Chứngcứtốtụng là nhữngsựkiện thông thư ng, là những hiện tượng như thếxuất hiện trong đ i sống, nhữngsự vậtnhư thế, những con ngư i như thế, những hành vi như thế của con ngư i. Chỉ cần chúng được đưa vào phạm vi của trình tự tố tụng, trở thành biện pháp để xác định những tình tiết mà cơ
27
quan xét xử và điều tra quan tâm, thì chúng là những chứng cứ tố tụng” [135,tr.353- 354]. Quan điểm này đã nhấn mạnh sự giống nhau giữa chứng cứ tố tụng và chứng cứ thông thư ng.
Thông qua các quanđiểmnêu trên, nghiêncứusinh cho rằng các quan điểmđưara đượcxây dựng trên cơ sởlý luận khác nhau, nhưng chưa phản ánhđầyđủbảnchất của chứngcứtrongtốtụng hìnhsự,có sự nhầm lẫn giữa chứngcứvànguồn chứng cứ. Hay có thể khẳng định, chứng cứ được rút ra từ nguồn chứng cứ, bản thân nguồn chứng cứ không phải là chứng cứ.
Bản chất của chứng cứ trong TTHS là thông tin xác thựcvề sự kiện thựctế cóliên quan đến VAHS. Do vậy, nội hàmcủakhái niệmvề chứng cứđược xácđịnh như sau: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTHS quy định, đượcdùng làm căncứ để xácđịnhcó hay không có hành vi phạm tội, ngư i thực hiện hành vi phạmtộicũng như những tình tiết khác cóýnghĩa cho việc giải quyết VAHS.
Theo TS. Đỗ Văn Đương cho rằng: “Chứng cứ là những thông tin xác thựcvềnhững gì có thật liên quan đến hành vi phạm tội, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà những ngư i và cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứđể xácđịnh sự thậtkhách quan của vụ án” [35,tr.30]. Nghiên cứu sinh đồng tình với quanđiểmnày, bởi lẽ:Chủnghĩa duy vật biện chứng là phương pháp luậnđểxây dựng hệ thống lý luận về chứng cứ trong TTHS Việt Nam. Từ khái niệm chứng cứtrên có thể rút ra ba thuộc tính của chứng cứ, đó là thuộc tính khách quan, thuộc tính liên quan và thuộc tính hợp pháp.
Tốtụng hình sự trải qua nhiều giaiđoạnkhác nhau, từ khởi tố, điều tra, truy tốvà xétxử.Hoạt động xétxử sơthẩm VAHS của TA là một giaiđoạn của hoạtđộng tố tụng hình sự mà ở đó TA giữ vai trò là trung tâm. Có thể nói, hoạt động xét xử tại phiên tòa được xem là hoạt động quan trọng nhất [47,tr.179].
Xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH cũng chính là việc kiểm tra công khai tính đúng đắn của các hoạt động tố tụng trước đó của CQĐT, VKS, mà ở đó mọi tài liệu, chứng cứcủa vụán do CQĐT, VKS thu thập trong quá trình điều tra, truy tốđều được xemxét một cách công khai, đầyđủtạiphiên toà. Những ngư i có thẩm
28
quyền tiến hành tố tụng và ngư i tham gia tốtụng đượcnghe trực tiếp l i khai, l i trình bày của nhau,đượctranh luận chấtvấnnhững vấn đềmàtạiCQĐT họ chưa cóđiềukiện thực hiện.Tạiphiên tòa, KSV là ngư i thực hiện chức năng buộc tội, thực hành quyền côngtốtrước phiên tòa.Bịcáo và ngư i bào chữacủahọlà bên thực hành chức năng bào chữa trong sự bảo hộ đầy đủ của pháp luật TTHS. Và cuối cùng, TA sẽ thực hiện chức năng xétxử,là chủ thể phán xét, xác định bị cáo có tội hay không có tội cũng như áp dụng loại và mức hình phạt cụ thể trong trư ng hợp bị cáo có tội và các vấn đề liên quan cần giải quyết trong VAHS về các tội XPSH.
Xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH là việc xét xử lần thứ nhất hay còn gọi là cấp thứ nhất, là cơ sở phát sinh các thủ tục xét xử khác, nếu có phát sinh như: xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Trong đó, ngay sau khi thụ lý VAHS, TA phải thực hiện các hoạtđộngtốtụng được pháp luật quy định. TA có thẩm quyền phải chuẩn bị và tiến hành các công việc cần thiếtđể bảo đảmcho xét xử sơ thẩmđúng quy định pháp luật trong th i hạn chuẩn bị xét xử.
Trong th i hạn chuẩn bị xét xử, qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơvụ án, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa thấy hồ sơ có đầy đủ tài liệu, chứng cứ và các điều kiện đưa vụ án ra xét xử thì sẽ ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nếu không đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử, Thì Thẩm phán sẽ ra một trong các quyết định: quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; quyết định trả hồ sơ để điều tra lại; quyết định trả hồ sơ để VKS truy tố lại; yêu cầu VKS bổ sung tài liệu, chứng cứ; quyết định tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ vụ án. Khi vụ án được đưa ra xét xử, phiên tòa sơ thẩm là nơi kiểm tra, đánh giá chứng cứ công khai, chính thức với sự tham gia đầy đủ của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ngư i có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ngư i tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các chứng cứ được xem xét công khai; các bên được tranh luận, đưa ra các quan điểm của mình về đánh giá chứng cứ, về các khoản điều BLHS, BLTTHS và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan được áp dụng; đề xuất các hình thức, biện phápcụthểđểgiải quyếtvụán. Trên cơsởkiểm tra, đánh giáchứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX sẽ ra bản án hoặc quyết định đúngđắn, khách quan, đúng pháp luật. Yêu cầu đặt ra đối với phiên tòa xét xử sơ thẩm về
29
các tội XPSH cần bảo đảm phiên toà diễn ra dân chủ, công khai; quyền và lợi ích hợp pháp của những ngư i tham gia tố tụng được tôn trọng, bảo vệ; trình tự, thủ tục phiên tòa sơthẩm được bảo đảm đúngtheo quy định của pháp luật TTHS.
Có thể thấy, chứngcứ là phương tiện để xácđịnh sự thật khách quan của VAHS về các tội XPSH. Do vậy, để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án đúng đắn, xácđịnh được sự thậtkhách quan, để từ đó có cơ sở kết luận chính xác về hành vi phạm tội đã xảy ra trong quá trình xét xử sơ thẩm; Thẩm phán, Hội thẩm phải thông qua các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và kiểm tra, đánh giá công khai tại phiên tòa để chứng minhbảnchất của VAHS về các tộiXPSH. Vì vậy, chứngcứcó ýnghĩa rấtquan trọng và là phương tiện duy nhấtđểchứng minh trong xétxửsơthẩm VAHS về các tội XPSH.
Từnhững phân tích trên, cóthểđưara khái niệm chứngcứtrong xétxử sơthẩm VAHS về các tội XPSH như sau: Chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tộiXPSH là những thông tin có thật, được thu thập theo trìnhtự,thủtụcdo BLTTHS quy địnhvàđãđược kiểm tra, đánh giá công khaitạiphiên tòa, được d ng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội XPSH, người thực hiện hành vi phạm tội XPSH và những tình tiết khác có ý nghĩa để TA ban hành bảnán, quyết định giải quyết VAHS về các tội XPSH.
2.1.2.2. Đặc điểm của chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sựvềcác tội xâm phạm sở hữu
Thứ nhất, chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH thể hiệnđầyđủ ba thuộc tính của chứng cứ, đó là tính khách quan, liên quan và hợp pháp.
Tính khách quan: Chứngcứtrong xétxửsơ thẩm VAHSvềcáctộiXPSH lànhững thông tin có thật, tức là phải tồn tại trong thực tế khách quan. Chứng cứ được sửdụng làm căn cứ để xác định tội phạm XPSH, ngư i phạm tội và những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn VAHS về các tội XPSH, cho nên để bảo đảm xửlý đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật, chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tộiXPSH phải có tính khách quan.Nếuchứngcứkhôngbảođảmthuộc tính khách quan, việc xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH chắc chắn sẽ dẫn tới oan, sai.
Tính khách quan của chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH
30
có cơ sở lý luận là nguyêntắckhách quan của chủnghĩa duyvậtbiện chứng. Nguyêntắckhách quan của chủnghĩa duyvậtbiện chứngđòihỏikhi xétxử sơthẩm VAHS về các tội XPSH phải xuất phát từ những thông tin tồn tại trong thựctếkhách quan, tôn trọngsự thật, tránh tháiđộchủquan, nóng vội, phiến điện, định kiến, không trung thực,đồngth i phải phát huynỗlựcchủquan của Thẩm phán, Hội thẩm trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH.
Tính liên quan: Những thông tin có thật, tồntạikhách quan, chỉđược coi làchứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH khi có liên quan đến VAHS về các tội XPSH, khi nó chứng minh cho những vấn đề cần biết, nhưng chưa biết. Chứngcứtrong xétxử sơ thẩm VAHS về các tộiXPSH dùng làm căncứđể xácđịnhcó hay không có hành vi phạmtộiXPSH, ngư i thực hiện hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn VAHS về các tội XPSH, cho nên chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH phải có tính liên quan. Tính liên quan của chứng cứ có cơ sở lý luận là nguyêntắctoàn diện của chủnghĩa duyvậtbiện chứng. Khi giải quyết VAHS, phải xem xét toàn diện các mối quan hệ có liên quan đến vụ án, rút ra được những mối quan hệ bản chất, chủyếu để làmsáng tỏ bản chất VAHS về các tội XPSH. Việc xác định tính liên quan của chứng cứ về các tội XPSH phụ thuộc vào nhận thức đúng đắn, khách quan, toàn diện của ngư i tiến hành tố tụng đối với bản chất VAHS về các tội XPSH để tránh thu thập tài liệu một cách tràn lan, đồng th i lại không bỏ sót những tài liệu có liên quan đến VAHS về các tội XPSH.
Tính hợp pháp: Tính hợp pháp của chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS vềcác tội XPSH được thể hiện ở việc chứng cứ được chứa đựng trong những nguồn vàđượcthu thập bằng những biện pháp do pháp luật TTHS quy định. Nguồn chứng cứđược hiểu là nơi, mà từ đó, cơ quan tiến hành tố tụng cũng như ngư i tiến hành tốtụng có thể tìm ra chứngcứtrong VAHS về các tộiXPSH. Biện pháp thu thập chứng cứ là cách thức mà các cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng sửdụng để thu thập chứng cứ. Những tài liệu không được phản ánh từ những nguồn vàthu thập bằng những biện pháp do pháp luật TTHS quy định, thì không được coi làchứng cứđể làmcăn cứ ra bản án, quyếtđịnhtrong xét xử sơ thẩm VAHS về các
31
tội XPSH.
Ba thuộc tính của chứng cứ có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau. Tính khách quan là tiền đề của tính hợp pháp, tính liên quan; tính liên quan tạo tiềnđề bảo đảmtính hợp pháp, tính khách quan; tính hợp pháp là cơ sở pháp lý của tính khách quan và tính liên quan. Chứngcứtrong xétxử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH phải là sự thống nhất của ba thuộc tính, thỏa mãn đầy đủ ba thuộc tính, nếu thiếu một trong ba thuộc tính, thì không được xác định là chứng cứ.
Thứ hai, chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH là cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề phải chứng minh của VAHS về các tội XPSH.
Những vấn đề phảichứng minh của VAHS về các tội XPSH là những tình tiết, sự kiện cần phải làm rõ trongmộtVAHS về các tội XPSH. Làm rõ những vấnđềphải chứng minh là để rút rakếtluậnvề bản chất của vụán là mục đích của hoạtđộngchứng minh VAHSvềcáctộiXPSH trong quá trình xétxửsơ thẩm và mụcđích này chỉ đạt được khi có phương tiện chứng minh là chứng cứ.
Trong xét xử sơ thẩm của VAHS về các tội XPSH cần phải xác định đối tượng chứng minh, điều này quyết định tính có kế hoạch của việc xét xử sơ thẩm của TA, tính định hướng có mục đích trong hoạt động xét xử sơ thẩm của Thẩm phán, Hội thẩm. Nếunhữngvấnđềphải chứng minh trongvụánđượcxácđịnhrấtrõ ràng thông qua hệ thống chứng cứ của vụ án, thì HĐXX tập trung đến cácsự kiện về mặt thực tế có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và sẽ không mất th i gian trong việc làm sáng tỏ các sự kiện không có ý nghĩa đối với VAHS về các tội XPSH.
Các sự kiện, tình tiết của vụ án XPSH do cơ quan, ngư i có thẩm quyền trong mỗi giaiđoạntố tụng xem xét và giảiquyết đượcchứng minh bằng các chứng cứ. Mỗi chứng cứ liên quan đến đối tượng chứng minh xác định một tình tiết, sự kiện nào đó thuộc đối tượng chứng minh của vụ án. Do đó, khi xét xử sơ thẩm, TA cũng cầnlàm rõ những vấnđề phảichứng minh của vụ án bằng chứngcứhay nói cách khác, chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSHlà cơ sở để làmsáng tỏ những vấn đề phảichứng minh của VAHS về các tội XPSH.
Trong trư ng hợp hệ thống chứng cứ chưa đầy đủ để làm rõ những vấnđề phải chứng minh của VAHS về các tội XPSH, thì TA có thể chủ động thực hiện các hoạt
32
động thu thập chứng cứ hoặc có thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc yêu cầu VKS bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc có thể tuyên bố bị cáo không phạm tội.
Thứ ba, trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tộiXPSH thì chứngcứxácđịnh giá trị tàisảnbị chiếm đoạt, xâmhạiluôn được làm rõ và có ý nghĩa quan trọng đểgiải quyết đúng đắn vụ án XPSH.
Khi xét xử sơ thẩm VAHS các tội XPSH cần xácđịnh được thiệthạivề tài sản do tội phạm gây ra. Giá trị tàisảnbị chiếm đoạt, xâmhạido tội phạm gây ra là căn cứ để định tội hoặcđịnh khung hình phạt tăng nặng đối với các tội XPSH.
Hồ sơVAHS về các tội XPSH luôn có các tài liệu, chứng cứ thể hiện giá trị tài sảnbị thiệthạido các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập trong các giaiđoạn tốtụng, như: biên bảnthu giữ tài sản, biênbảnxácđịnhgiá trịtài sản
trong tố tụng hình sự,kếtluận giámđịnh hoặcđịnh giá tàisản…Yêu cầu đặtra khi xétxử sơthẩm VAHS các tội XPSH phải xác định chính xác giá trị tàisảnbị chiếmđoạt, xâm hại. Dođó,TAcầnphải kiểm tra tínhhợpphápvề trìnhtự,thủtục vàtính có căn cứcủa kếtluận định giá tàisản. Từ đó mới có đủ cơ sở xácđịnh chính xác giá trị tàisảnbị chiếm đoạt, xâm hại. Trong trư ng hợp chưađủ căn cứđể xácđịnh hoặccó vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, TA cấp sơ thẩm có thể trả hồ sơđể điều tra bổ sung hoặc yêu cầu VKS bổ sung tài liệu, chứng cứđể xácđịnh chính xác giá trị tài sản bị chiếm đoạt, xâm hại.
Giá trị tài sản bị chiếm đoạt, xâmhạilà căn cứ để xác định đó là hành vi phạm tội hay không (trừ 4 tội có cấu thành hình thức). Bởi lẽ, giá trị tàisảnbị chiếm đoạt, xâmhạiphải trên mức tối thiểu mới bị coi là tội phạm, nếu không có dấu hiệu bắt buộc khác trong cấu thành cơ bản. Đối với 4 tội có cấu thành hình thức, giá trị tài sảnbị chiếm đoạt, xâm hại là căn cứ để định khung tăng nặng. Xác định chính xác giá trịtàisảnbịchiếm đoạt, xâmhạichính là cơ sở để địnhtộidanh, xácđịnh khung hình phạt và có ý nghĩa quan trọng để giải quyết đúng đắn các vấn đề khác của vụ án, như: đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội; giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự;xử lý vậtchứng; án phí…Như vậy, chứngcứ xác địnhgiá trịtàisảnbịchiếm đoạt, xâmhạicó ý nghĩa quan trọngđểgiải quyết đúng đắn vụ án XPSH.
33
Thứ tư, chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH đều được kiểm tra, đánh giá công khai tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong VAHS về các tội XPSH được tiến hành công khai tại phiên tòa với các thủ tục xét hỏi, tranh luận theo quyđịnhcủa pháp luật TTHS. Phiên tòa sơ thẩm VAHS về cáctộiXPSH diễn ra dướisự điềukhiển của Thẩm phánchủtọaphiên tòa, có ngư i tiến hànhtốtụng, ngư i tham gia tố tụng và những ngư i tham dự phiên tòa. Các thủ tục tiến hành tốtụng như khai mạc phiên tòa, phổ biến quyền và nghĩa vụ của những ngư i tham gia tố tụng, xét hỏi, tranh luận, xem xét các chứng cứ… thể hiện rõ nét tính dân chủ của phiên tòa.
Trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH, bị cáo được tự do trình bày ýkiến của mình về việc buộc tội của cơ quan công tố, được quyền đưa ra những tài liệu chứng cứ, đề nghị HĐXX triệu tập thêm những ngư i mà bị cáo cho là cần thiếtđể chứng minh mình không phạmtộihoặc có phạmtộinhưng khôngđến mứcđộnhư cáo trạngđã truy tố. Ngư i bào chữađược đưara các tài liệu, chứngcứvàtranh luận với đại diện VKS để thực hiện quyền bào chữa cho bị cáo.
Xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH là trình tự mở đầu của giai đoạn xét xử VAHS, kế tiếp của giaiđoạntruy tố. Sau khi TA nhận hồsơ vụán do VKS chuyển sang, TA xem xét tiến hànhthụlývụán. Trong th i hạnchuẩnbịxét xử, Toà án có thẩm quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó, ban hành các quyếtđịnh tố tụng hoặc quyếtđịnh đưavụ án ra xét xử và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc mở phiên toà. Việc xét xử sơ thẩmtạiphiên toà được tiến hành công khai do HĐXX thực hiện, có sự tham gia của đạidiện VKS và sự có mặtcủa những ngư i tham gia tốtụng. Trên cơ sở những tài liệu, chứngcứđã được thu thập sẽđược kiểmtra, đánh giá công khaitạiphiên toà, HĐXX ra bản án tuyên bị cáo vôtội hay quyết định tội danh, hình phạt của bị cáo và các vấn đề khác liên quan.
Xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSHđược thựchiện trên cơ sở những tài liệu, chứng cứ đã được thu thập; đồng th i bằng việc kiểm tra, đánh giá công khai những chứng cứ có được qua hoạtđộng xét xử tạiphiên toà. Từ đó, Toà án ra bảnán, quyết định theo đúng quy định của pháp luật.
34
Thứ năm, chứngcứtrong xétxửsơ thẩm VAHS về các tộiXPSHđược thu thập, kiểm tra, đánh giá công khaitạiphiên tòa theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Ngay trong giaiđoạn khởi tố, điềutra, khi tiến hành các biện pháp và áp dụng các phương tiện để thu thập chứng cứ phải phù hợp với trình tự,thủ tục và được thểhiện bằng các hình thức do pháp luật quy định. Việc áp dụng các biện pháp trái
pháp luậtđể thu thập chứngcứ,như:mớmcung, bứccung, dùng nhục hình… thìnhững thông tin thu thậpđược cho dù phản ánh đúngsự thật khách quan cũng không được coi là chứng cứ và không có giá trị chứng minh. Trong quá trình xétxửsơ thẩm VAHS về các tội XPSH, HĐXX luôn phải kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Việc tuânthủquyđịnhpháp luật TTHS trong hoạtđộngthu thập, kiểm tra,đánh giá chứngcứcủa các cơ quan tiến hànhtốtụng là mộtnguyêntắcbắtbuộc thực hiện. Vì nếu khi hoạt động này vi phạm sẽ làm cho các tình tiết liên quan đến vụán XPSHđược thu thập không còn giátrịđể chứng minh. Để đảmbảomọi chứngcứđều được thu thậpkịpth i,đầyđủnhằm giải quyếtvụánđược khách quan, chính xác, đúng ngư i,đúng tội, đặtra cho các chủ thể của quá trình chứng minh phải biếtlựachọn, áp dụng các phương pháp thu thập, kiểm tra, đánh giáchứng cứ phù hợpvới các đặcđiểm khách quan của chứng cứ.
2.1.2.3. Vai trò và ý nghĩa của chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vềcác tội xâm phạm sởhữu
Việc xem xét, giải quyết VAHS về các tội XPSH chỉ phát sinh khi có tội phạm XPSH xảy ra. Mỗi vụ án, có rất nhiều tình tiết xảy ra, có tình tiết có ý nghĩa, có tình tiết không có ý nghĩa cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Trong quá trình tiến hành tốtụng, cơ quan, ngư i có thẩm quyền tiến hànhtốtụng phải tiến hành thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứđể làmsáng tỏ các vấn đề cần phải chứng minh trong VAHS về các tội XPSH. Những vấn đề này không bao gồm tấtcảcác tình tiếtcủa
sự việc phạmtộixảyra trên thực tế,mà chỉcầnchứng minh nhữngvấnđềcó ý nghĩa,để làm rõnội dung, bản chất và liên quan của vụ án về các tội XPSH.
Bản chấtcủachứng minh trong xétxử sơ thẩm VAHS về các tộiXPSH là
35
dùng chứng cứđể làmsáng tỏ những vấn đề thuộc đối tượng chứng minh của vụ án về các tộiXPSH;tứclà, làm rõsự thật khách quan của vụánđể xétxử sơ thẩmđúngđắnVAHSvềcáctộiXPSH. Từđócó thể thấy, chứngcứ trong xétxửsơthẩm VAHS về các tội XPSH có vai trò làm rõ những vấn đề thuộc đối tượng chứng minh để giải quyết đúng đắn vụ án trên cơ sở xácđịnh sự thậtkhách quan của vụ án về các tội XPSH.
Xuất phát từ bản chất, nhiệm vụ, mục đích của mỗi giai đoạn tố tụng, nên tùy theo từng giai đoạn tố tụng mà vai trò của chứng cứ của VAHS về các tội XPSH cóthể khác nhau, nhưng đều là để giải quyết đúng đắn VAHS về các tội XPSH. Giaiđoạnkhởi tố VAHS về các tội XPSH, cơ quan, ngư i có thẩm quyền khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm XPSH, chứng minh có sự việc xảy ra hay không, sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm XPSH hay không để quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố VAHS. Trong giai đoạn này, chứng cứ để chứng minh ai là ngư i thực hiện hành vi phạm tội và và một số tình tiết khác của VAHS về các tội XPSH là chưa cần thiết thu thập. Giai đoạn điều tra, tùy theo chứng cứ đã được thu thập và kết quả chứng minh, CQĐT làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra, tạmđình chỉ điều travềcáctộiXPSH. Cơ quan, ngư i có thẩm quyền khôngchỉchứng minh làm rõ sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm XPSH hay không màcòn phải làm rõ tất cả những vấn đề phải chứng minh theo quy định của pháp luật và những tình tiết kháccầnthiết cho việc giải quyết đúngđắnVAHSvềcác tội XPSH. Giai đoạn truy tố, VKS cũng phải căn cứ vào chứng cứ đã được thu thập, ra quyết định truy tố bị can trước TA bằng bản cáo trạng hay quyết định truy tố (nếu vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn) hoặc quyết định đình chỉ, tạm đình chỉVAHS về các tội XPSH hoặc trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung.
Trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH, TA muốn làm sáng tỏ và cókếtluận chính xác về hành vi phạmtội đã xảyra, ngư i cụ thể thực hiện hành vi phạm tội, thì phải dựa vào những tài liệu quan trọng và duy nhất để chứng minhđó là chứng cứ. Trong quá trình chứng minh VAHS về các tội XPSH, thì chứng cứcó vai trò lần lượt là chứng minh và làm táidiễn lại sự thật đã xảyra. Do đó, TA
36
phải căncứvào chứng cứ đã được thu thập, kiểm tra, đánh giá và kết quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm để ban hành bản án quyết định bị cáo có tội hay không có tội, hình phạt, các biện pháp tư pháp, các vấnkhác có liên quan hoặc quyếtđịnh đình chỉ, tạm đình chỉ VAHS về các tội XPSH.
Tóm lại, chứngcứtrong xétxửsơ thẩm VAHSvềcáctộiXPSH có vai tròrấtquan trọng và có tính quyếtđịnhđốivớiquá trình chứng minh trong trong VAHSvềcáctộiXPSH;tứclà làm sángtỏnhữngvấnđềphải chứng minh và làm rõsựthật khách quancủavụánđểxétxửđúngđắnVAHSvềcác tội XPSH. Cùng với đó, chứng cứ có vai trò là phương tiện để chứng minh VAHS về các tội XPSH.
Chứng cứ trong VAHS về các tội XPSH là cơ sở phát hiện kịp th i và xác định tộiphạm, ngư i phạmtộiXPSHmộtcách khách quan, toàn diện, khôngđểlọttội phạm, không làm oan ngư i vô tội. Trên cơ sở hệ thống các chứng cứ và quy định của pháp luật có đư ng lối xử lý đúng đắn theo quy định của pháp luật. Khi chứng minhđược tộiphạm XPSHmộtcách chính xác, khách quan, toàn diện trên cơ sở hệthống chứng cứ đã được thu thập, kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa bảo đảm nguyên tắc mọi hành vi phạm tội phảiđược pháthiện kịp th i, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN.
Trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH, các hoạt động và quyếtđịnh tốtụng của TA luôn dựa vào chứng cứ và quy định của pháp luật, tức là tôn trọng sựthật khách quan còn có ýnghĩa bảođảmnguyêntắcbình đẳng, nguyêntắccông bằng. Đồng th i,bảo đảmquyền con ngư i, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và cụ thể nhất là bảovệ quyền sở hữucủacông dân, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu khi tài sản bị xâm phạm.
Như vậy, chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH có ý nghĩa làm sáng tỏ sự thật khách quan VAHS về các tội XPSH, bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN, bảo đảm quyền con ngư i, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảođảmnguyêntắcbình đẳng, nguyên tắc công bằng và trực tiếp bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của chủ sở hữu.
37
2.1.3. Nguồn chứng cứ trong xétxửsơ thẩm vụ án hình sự vềcác tội xâm phạm sở hữu
Nguồn chứng cứ về các tội XPSH là những sự vật chứa đựng chứng cứ, nghĩa là cái lưu giữ các thông tin, sự kiện, tình tiếttồntạitrong thế giới khách quan, cóliên quan đến VAHS về các tội XPSH và được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật TTHS quy định [112, tr.168]. Do đó, nếu chứng cứ về các tội XPSH được hiểu là thông tin, sự kiện, tình tiết của VAHS về các tội XPSH thì nguồn chứng cứlà nơi chứa đựng thông tin, sự kiện, tình tiết đó.
Thông qua nghiêncứuhồsơ VAHSvềcáctộiXPSH, quyđịnhcủapháp luật hình sự, TTHS và căn cứ vào hình thức, đặc điểm, vai trò của nguồn chứng cứ, nghiên cứu sinh nhận thấy có thể chia nguồn chứngcứtrong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH thành các loại như sau:
2.1.3.1. Kết luận định giá tài sản, tài liệu xác định giá trị tài sản
Thiệt hại về tài sản là căn cứ để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xãhội của hành vi phạm tội về các tội XPSH. Trong nhóm tội XPSH, thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra là căn cứ để định tội hoặc định khung hình phạt tăng nặng. Đối với VAHS về các tội XPSH, kết luận định giá tài sản là nguồn chứng cứ quan trọng đối với vụ án.
Để được xác định là chứng cứ trong VAHS về các tội XPSH, kết luận định giá tàisảnphải thỏa mãn:Kếtluậnđịnhgiá tàisảndoHộiđồngđịnhgiá tài sản trong tố tụng hình sựlập để kếtluận về giá của tài sản được trưng cầu định giá; kết luận địnhgiá tàisảnphải có chữ ký của tấtcảthành viênHộiđồng. Trư ng hợp khôngđồngývới giácủatàisảndoHộiđồngquyếtđịnhthì thành viên củaHộiđồng ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận. Khi cơ quan có thẩm quyền tiến hànhtốtụng không đồngý với kếtluận định giá tàisảnthì phải nêu rõ lý do, nếu kết luận chưa rõ thì quyết định định giá lại theo quy định BLTTHS.
KếtluậnđịnhgiácủaHộiđồngđịnh giá tàisảntrong TTHS vi phạm quyđịnh của BLTTHS và các quy định khác của pháp luật về định giá thì không có giá trị pháp lý và không được coi là chứng cứ để làm căn cứ giải quyết VAHS về các tội XPSH.
Bên cạnh đó, trong VAHS về các tội XPSH, ngoài kết luận giám định, định giá
38
tài sản, thìhồsơ vụán cũng thư ng có các tài liệu xác định giá trịtàisảnbịxâm hại, như: các hoá đơn, chứng từ về giá trị tài sản; các hoá đơn, chứng từ về giá trị tài sảnphảisửachữa; tài liệu, công văn của các cơ quan, tổ chức về giá trị tàisảncủa vụ án…Ví dụ: Trong vụ án cố ý làm hư hỏng tài sản, mặc dù không có kết luậnđịnh giá tài sản, nhưng có các hóa đơn, chứng từ về các chi phí cho việc sửa chữa tài sản bị hư hỏng.
2.1.3.2. Lời khai, lời trình bày của những người tham gia tố tụng – Lời khai của người bị tạm giữ, bị bắt:
L i khai của ngư ibị tạmgiữ,bị bắtlà l i trình bày của những ngư i này vềnhững tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm XPSH, được thực hiện trước các cơ quan tiến hành tố tụng, theo thủ tục do pháp luậtTTHS quy định.
L i khai của ngư i bị tạm giữ, bị bắt đề cập việc ngư iđó bị nghi thực hiện tội phạm XPSH, cho nên đây là nguồn chứng cứ quan trọng giúp các cơ quan tiến hành
tố tụng bước đầu xác định tính chất hành vi phạm tội, để có căn cứ ra các quyếtđịnh tố tụng ngay trong giai đoạn khởi tố VAHS về các tội XPSH.
Trong xét xử sơ thẩm, l i khai của ngư ibị tạmgiữ,bị bắtlà nguồn chứng cứđể TA thực hiện các hoạtđộngthu thập chứngcứtrong trư ng hợp cầnthiết vàkiểm tra, đánh giá với các chứng cứ khác trong VAHS về các tội XPSH.
– Lời khai của bị can, bị cáo:
L i khai của bị can, bị cáo là l i trình bày của bị can, bị cáo về những vấn đềphải chứng minh trong VAHS về các tộiXPSH, cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án XPSH, được thực hiện trước cơ quan tiến hành tố tụng hoặc tại phiên tòa, theo trình tự thủ tục do pháp luật TTHS quy định.
Trong quá trình giải quyết hoặc tại phiên tòa sơ thẩm VAHS về các tội XPSH; bị can, bị cáo có thể khaivề tấtcảcác tình tiết của vụ án, có thể nhận tội hoặc kêu oan, cho dù trong trư ng hợp nào thì các nội dung đóđềucó ý nghĩa chứng minhđối với VAHS về các tội XPSH. Nếu bị can, bị cáo kêu oan thì cần phải kiểm tra,đối chiếu để xácđịnh sự thậtkhách quan của vụ án, không được bỏ qua hoặc xem nhẹ. Nếu bị can, bị cáo nhận tội thì họ phải trình bày cụ thể về diễn biến của hành vi phạm tội, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội, mục đích, động cơ phạm tội và
39
về những ngư i kháccùng với họ thực hiện tội phạm XPSH.
L i khai của bị can, bị cáo là nguồn chứng cứ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc làm sáng tỏ VAHS về các tội XPSH. Bị can, bị cáo là ngư i đã thực hiện tội phạm nên họ luôn tìm mọi cách để trốn tránh pháp luật, bằng các thủ đoạn gian dối, như: không nhận tội, đổlỗicho ngư i khác hoặc khai báo quanh co, khôngđúng sự thật. Mặt khác, bị can, bị cáo là ngư i biết rõ hơn aihếtmình có thực hiện tộiphạm hay không và khi thực hiện tội phạm, sẽ biết rõ về các tình tiếtcầnthiết cho việc giải quyết đúng đắn VAHS về các tội XPSH. Do đó, khi kiểm tra, đánh giál i khai của bị can, bị cáo cần thận trọng, khách quan và đối chiếu với những chứng cứkhác của vụ án. Không được dùng l i nhận tội của bị can, bị cáo là chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.
– Lời khai của người làm chứng:
L i khai của ngư i làm chứng là l i trình bày của ngư i làm chứng về những tình tiết cóýnghĩa đốivới VAHS về các tộiXPSH, về đặcđiểmnhân thân của ngư ibịbuộc tội, bịhại, quanhệ giữahọvớingư ibịbuộc tội,bịhại, ngư i làm chứng khác, được thực hiện trước các cơ quan tiến hành tố tụng hoặctạiphiên tòa sơ thẩm theo thủ tục do pháp luật TTHS quy định.
Ngư i làm chứng là ngư i chứng kiến diễn biến của VAHS về các tội XPSH, những sự kiện khách quan của vụ án được ghi nhận, phản ánh trong trí nhớ của họ. Ngư i làm chứng thông thư ng không có quyền và lợi ích liên quanđếnvụán, nhưnghọcó nghĩa vụkhai báo đúngsự thật, nếutừ chối khai báo hoặc khai báo gian dối, thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
Nội dung l i khaicủangư i làm chứng có thể phản ánh về sự việc phạm tội XPSH, ngư i thực hiện tội phạm, những diễn biến thực tế của vụ án như th i gian,
địađiểm, phương pháp, thủđoạn, phương tiện thực hiệntộiphạm,… Ngư i làm chứng còn có thể cungcấpthông tinvề nhân thân của bịcan, bịcáo, bịhại. Do nhữngsự kiện khách quan của vụánđượcghi nhận trong trí nhớ của ngư i làm chứng, cho nên quá trình đánh giá l i khai ngư i làm chứng, cần xác định tình trạng thể chất và tinh thần, xem họ có đủ khả năng nhận thức, ghi nhớ những tình tiết gìliên quan đến vụ án, họ chứng kiến trực tiếp hay nghe ngư i khác thuật lại. Không
40
đượcdùng làm chứngcứnhững thông tin ngư i làm chứng trình bàynếunhưhọkhông thể nói rõ vì sao họ biết tình tiết đó. Cho dù ngư i làm chứng thành thật khai báo, nhưng vẫn có thể phản ánh saivới sự thậtkhách quan của vụ án do óc quan sát và trí nhớ kém. Vì vậy, chứng cứ rút ra từ l i khaicủangư i làm chứng chỉ có giátrị chứng minh nếu bảo đảm các thuộc tính của chứng cứ.
Tạiphiên tòa xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH, ngư i làmchứng được giải thích quyền, nghĩa vụ của mình và phải cam đoan khai trung thực.
– Lời khai của bị hại:
L i khaicủa bị hạilà l i trình bày của họ về những tình tiết về nguồn tin vềtộiphạm, vụán, quanhệ giữahọvới ngư i bịbuộc tội, bịcan, bịcáo và trả l i những câuhỏi đặtra. L i khaicủabị hạiđược quy định là nguồn chứng cứđộc lập, bởi lẽ nó có đặc điểm riêng, khác với nguồn chứng cứ khác.
Bịhạitrong cácvụán XPSH thư ng bị thiệthạivềtàisảnhoặcsứckhỏe, tinh
thần… do tội phạm gây ra, nên họ thư ng nắm được những đặc điểm về ngư i phạm
tội, phương tiện, công cụ phạm tội, tài sản bị xâm hại,… vì vậy l i khai của bị hại có ýnghĩa quan trọng trong việc làm sángtỏsựthật khách quancủaVAHSvềcác tội XPSH.Bảnthânbịhạilà ngư ibịthiệthạido hành vi phạmtộigây ra, cho nênhọmong muốn làm rõ, giải quyết nhanh chóng vụ án. Tuy nhiên, về mặt tâm lý, ngư i bịhại thư ng khai tăng thiệt hại so với thực tế hoặc do căm tức ngư i phạm tội, bị kíchđộng thần kinh, cho nên cung cấp thông tin không chính xác về ngư i phạm tội. Vì vậy , chứng cứ rút ra từ l i khai của ngư i bị hại cũng cần phải được kiểm tra, đối chiếu với các chứng cứ khác trong VAHS về các tội XPSH.
– Lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
L i khai của nguyên đơn dân sự là l i trình bàycủacá nhân, cơ quan hoặctổchức bị thiệt hại vật chất do tội phạm gây ra, có đơn yêu cầu bồi thư ng thiệt hại.
L i khai của nguyên đơndân sự đề cậpnhững tình tiết có liên quanđếnyêu cầubồithư ng thiệthạitrongvụán XPSH, cho nên đâylà nguồn chứngcứquan trọng giúp TA làm sáng tỏ hậu quả của tội phạm XPSH. L i khai của nguyênđơn dân sự là một nguồn chứng cứ độc lập, thể hiện sự tôn trọng quyền và lợi ích
41
hợppháp của nguyênđơndân sự trong VAHS về các tộiXPSH. Tuy nhiên, khi kiểm tra, đánh giá l i khai của nguyên đơn dân sự, cần chú ý tính có căn cứ và tính hợplý trongđề nghị của họvề việcbồithư ng thiệthạivề vậtchất dotộiphạm XPSH gây ra để bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
L i khai của bị đơn dân sự là l i trình bày của cá nhân, cơ quan, tổ chức màpháp luật quyđịnhphải chịu trách nhiệmvề vậtchấtđốivới thiệthạido hành vi phạm tội XPSH gây ra.
L i khai của bịđơndânsự đề cậpnhững tình tiết có liên quanđếnviệc bồi thư ng thiệthạidotộiphạm gây ra, cho nênđâycũng là nguồn chứngcứquan trọng giúp TA trong quá trình xétxử sơ thẩm làm sángtỏhậuquảcủatộiphạm XPSH. Xétvề mặttâm lý, bị đơn dân sự thông thư ng muốn mức bồi thư ng thiệt hạithấp hơn so với thựctế,cho nên l i khai của bị đơn dân sự phảiđược kiểmtra,đánh giá và những tình tiết do bị đơn dân sự trình bày sẽ không được coi là chứng cứ, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
L i khai của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụliên quanđến vụán XPSH là sựtrình bày của ngư i mà quyền lợi, nghĩa vụcủa họ bịảnhhưởngtrực tiếp bởi các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ngư i không tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc có tham gia vào việc thực hiện tội phạm mà chưa tới mứcbị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự, nhưng cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tội phạm XPSH.
L i khai của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đề cập những tình tiếtvềviệc tài sản, quyền lợi của họliên quan đếntộiphạm, cho nên đâylànguồn chứngcứquan trọng giúp TA trong quá trình xétxửsơ thẩm làm sángtỏnhững tình tiết cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn VAHS về các tội XPSH. Do ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án XPSH có quyền lợi, nghĩa vụ phảiđược TAxửlý, giải quyết, nênhọthư ng tìm cách đổtrách nhiệm chobịcan, bịcáo hoặcđổlỗicho nguyên nhân khách quan. Vì vậy, trong quá trình xétxử sơthẩm VAHS về các tộiXPSH phải so sánh, đốichiếu, kiểm tra, đánh giá l i khai của họ với những chứng cứ khác trong vụ án.
42
Ngoài l i khaicủanhững ngư i tham gia tốtụng nêu trên,mộtsốVAHS vềcác tội XPSH còn có l i khai của những ngư i tham gia tố tụng, như: ngư i giámđịnh, ngư iđịnhgiá tài sản…Tuy nhiên, những l i khai này không mang tínhphổbiến trong các vụán về tộiXPSH. Mặcdù vậy, khi có l i khai của những ngư i này, thìđâycũng là nguồn chứngcứđể Tòa án kiểm tra, đánh giá trong quá trình xét xử sơ thẩm về các tội XPSH.
2.1.3.3. Vật chứng
Vậtchứng là vậtđượcdùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vếttộiphạm, vậtlà đốitượngcủa tộiphạm, tiền hoặcvậtkhác có giá trịchứng minhtộiphạm và ngư i phạmtộihoặc cóýnghĩa trong việc giải quyếtvụán XPSH. Vật chứng là nguồn chứng cứ quan trọng giúp TA trong quá trình xétxử sơthẩm đánh giá tính chấtmứcđộ hành vi phạm tội và là căn cứ để ra bản án, quyếtđịnh về các tội XPSH. Vật chứng có đặc trưng cơ bản như sau:
Vậtchứng tồn tạidưới dạng vậtthể: thể rắn, thể lỏng, thể khí, nên vật chứng có thể bị các yếu tố tự nhiên tác động làm thay đổi, biến dạng hoặc bị hủy hoại.
Vậtchứng chứađựngthông tinvề nhữngvấnđề phải chứng minh trong VAHS về các tội XPSH, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyếtđúng đắn vụ án XPSH.
Vậtchứngđược thu thập theo trìnhtự,thủtục do pháp luật TTHS quy định. Vậtchứng trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH có thể đã được xử lý ở các giai đoạn trước đó.
Việcxử lý vậtchứng trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH do Chánhán TA quyếtđịnh nếuvụ án đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xétxử,do HĐXX quyếtđịnh nếu vụ án đã đưara xétxử.Trước khi xét xử sơ thẩm, trong giai đoạn điều tra, truy tố; vật chứng cóthể đã đượccơ quan, ngư i có thẩm quyền xử lý. Tuy nhiên, trong các trư ng hợp này, TA cần xem xét ý kiến của các bên và đánh giá tính hợp pháp, tính có căn cứ trong việc xử lý vật chứng của vụ án XPSH.
2.1.3.4. Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố
Biênbảntrong hoạtđộngkhởitố,điềutra, truytốVAHS về các tộiXPSH làmột trong những nguồn chứng cứ quan trọng và không thể thiếu trong quá trình xét xử
43
sơ thẩm. Tuy nhiên, những biênbảnđóphảiđượclậptheo quyđịnhcủaBLTTHS. Nếu vi phạm các quy định về việc lập biên bản thì các tình tiết được phản ánh trong đókhông thể coi là chứng cứ.
Chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH có thể là những tình tiết được ghi trong các biên bản pháp lý tố tụng hình sự, như: biên bảnbắtngư i, khám xét, khám nghiệm hiện trư ng, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, biên bản phiên toà và biên bản về các hoạt động tố tụng khác tiến hành theo quy định của BLTTHS hoặc những tình tiết có liên quan đến vụ án được ghi trong các tài liệu cũng như đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp.
2.1.3.5. Kết luận giám định
Kếtluận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giámđịnh lậpđể kếtluận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định trong VAHS về các tội XPSH do pháp luật TTHS quy định.
Trong một số vụ án XPSH, để góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụán, việc giám định của giám định viên hoặc ngư i có kiến thức cần thiết về lĩnh vực chuyên môn cần giám định, được các cơ quan tiến hànhtốtụng trưngcầuđốivới các vấnđể phát sinh trongvụán là rấtcầnthiết. Trongmộtsốít trư ng hợp, nếu không cókếtluận giám định, thì không có cơ sở để truycứutrách nhiệm hìnhsựnhư: giámđịnhpháp y tâm thần đốivới bịcan, bịcáo; giámđịnhtàisảnbịxâm
phạm, chiếm đoạt…
Tạiphiên tòa sơ thẩm, ngư i giámđịnhcó thể được triệu tập thamdự phiên tòa và trình bày kết luận của mình về vấn đề được giám định.
2.1.3.6. Các tài liệu, đồ vật khác
Các tài liệu, đồ vật khác trong vụ án XPSH là những văn bản pháp lý, vật chứađựng những thông tin về những tình tiết có liên quan đến VAHS về các tội XPSH do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng. Các tài liệu cóthể là sổ sách, hoá đơn, chứng từ, những số liệu, báo cáo có liên quan đến VAHS về
các tội XPSH… Cácđồ vậtkhác có thể là mẫu vật cùng loạivớicông cụ, phương
tiện phạm tội, đối tượng tác động của tội phạm… Những tình tiết có liên quan đến VAHS về các tội XPSH được ghi nhận trong các tài liệu, cũng như các đồ vật này
44
có thể được coi là chứng cứ của VAHS về các tội XPSH.
2.1.3.7. Dữ liệu điện tử
Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.
Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định ngư i khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.
Nghiên cứu từ các hồ sơ vụ án về các tội XPSH trong quá trình xét xử cho thấy, dữliệu điện tửthư ng có trong các vụ án về tộilừa đảo chiếm đoạttài sản khi có yếu tốnước ngoài hoặc được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử, không gian mạng.
2.1.3.8. Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác
Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với chứng cứkhác của vụ án. Do đó, các tài liệu, đồ vật không do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thu thập mà do nước ngoài thu thập, nhưng nếu chứa đựng các thông tin, sự kiện, tình tiết có thật, có liên quan đến vụ án thì cũng là nguồn chứng cứ của vụ án XPSH.
Nghiên cứu từ các hồ sơ vụ án về các tội XPSH trong quá trình xét xử cho thấy, kếtquả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khácđượccoi là nguồn chứng cứ thư ng không mang tính phổ biến.
2.2. Những vấn đềphải chứng minh và quá trình chứng minh trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạmsởhữu
2.2.1. Những vấn đề phải chứng minh trong xét xử sơ thẩmvụán hình sựvề các tội xâm phạm sở hữu
Nhữngvấnđềphải chứng minh trong VAHSởnước ta là mộthệ thống các tình tiết có mối quan hệ chặt chẽ với nhau [28, tr.54]. Hệ thống các tình tiếtđó phảiđược xác định bảo đảm cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện VAHS. Trong quá trình tiến hành tố tụng, việc xácđịnh cụthể và chính xác những vấnđềphải chứng minh trong VAHS sẽgiúp cơ quan, ngư i có thẩm quyền tiến hànhtốtụng giải quyết VAHS, xử lý ngư i phạmtộiđược khách quan, đúng ngư i, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
45
Việc làm rõ đối tượng chứng minh có ý nghĩa quan trọng trong xác định đúngđắn phạmvi, giới hạn chứng minh. Xác định không đầy đủ đối tượng chứng minh sẽ dẫn đến tội phạmkhông được chứng minh đầy đủ, các tình tiết của vụ án khôngđược làm rõ hết, làm cho việc giải quyếtvụán thiếu toàn diện, thiếu chính xác. Ngược lại, nếuxácđịnhđốitượngchứng minh quá rộng sovớiđòihỏicủa pháp luật thì làm cho việc chứng minh dàn trải không cần thiết [112, tr.165]. Nghiên cứu từ thựctiễn xét xử cho thấy, nếu xác định giới hạn chứng minh quá hẹp, chứng cứđưara chứng minh sẽ không đủ, dẫn tới không kết luận được vụ án, vì tình tiết cần phải chứng minh chưađược làmrõ; nếu xác định giới hạn chứng minh quá rộng thìHĐXX phải kiểm tra, đánh giá tấtcảcác chứng cứđó tạiphiên tòa nên sẽ trở thành tràn lan, lãng phí th i gian, làm chậm tiếnđộ xétxử,và còn có thể trở thành vật cản trên con đư ng đi tìm sự thật khách quan vụ án.
BLTTHS đã quy định về những vấn đề phải chứng minh trong VAHS mà khiđiềutra, truytốvà xétxử VAHS, cơ quan có thẩm quyền tiến hànhtốtụng phải chứng minh. Trong đó, có quy định những sự kiện, tình tiếtbắtbuộc chung đối với tấtcảcác VAHS. Ngoài ra, tuỳ theo từng vụ án cụ thể hoặc chủ thể bị buộc tội còn phải chứng minh những tình tiết khác có ý nghĩa để giải quyết đúng đắn VAHS, vídụ: Đối với ngư i dưới 18 tuổi, pháp nhân thương mại phạm tội.
Trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH, thì Thẩm phán, Hội thẩm phải có trách nhiệm nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Do vậy, để đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện, thì phải nghiên cứu toàn bộ các tài liệu được thu thập trong hồ sơ VAHS và xem xétvậtchứng. Mục đích của việc nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá chứng cứ là xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan của chứng cứlàm căn cứđể giảiquyết VAHS. Nội dung của hoạt động đó là đi tìm câu trả l i cho các vấn đề phải chứng minh trong VAHS về các tội XPSH. Hoạtđộngchứng minh trong xétxử sơ thẩm VAHS thể hiện rõ nét nhất và thực hiện chủyếutại phiên tòa. Đây là quá trình điều tra công khai có sự tham gia đầy đủ của các chủ thểthuộc bên buộc tội, bên bào chữa, HĐXX và những ngư i tham gia tốtụng khác nhằm xác định sự thật khách quan VAHS về các tội XPSH.
Để giải quyết đúngđắn VAHS về các tộiXPSH, đốichiếu với quyđịnhcủa
46
pháp luật thựcđịnh vàdấu hiệu pháp lý của các tội phạm XPSH; khi xét xử sơ thẩm các vụ án XPSH cần chứng minh làm rõ những vấn đề sau:
– Hành vi phạm tội và thủ đoạn thực hiện:
Hành vi phạm tội là hành vi đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệthạiđáng kể đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ; trong các tội XPSH chủ yếu là quan hệtài sản. Vì vậy, cầnkiểm tra, đánh giá các tài liệu, chứngcứchứng minh có tội phạm XPSH xảy ra hay không, phải chứng minh được hành vi đã xảy ra có đủ yếu tốcấuthànhtộiXPSH hay không. Trư ng hợp có hành vi XPSHxảyra, nhưng chưa đếnmứcphải truycứutrách nhiệm hìnhsự,do giá trịtàisảnchưa thỏa mãn cấu thành tội phạm, nên trư ng hợp này chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.
Các tội XPSH thể hiện ở các hành vi: cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếmđoạt tài sản, cưỡngđoạttài sản, cướpgiật tài sản, công nhiên chiếmđoạttài sản, trộm cắptài sản, lừađảo chiếmđoạttài sản, lạmdụng tín nhiệm chiếmđoạttài sản, chiếm giữ trái phép tài sản, sử dụng trái phép tài sản, huỷ hoại tài sản, cố ý làm hưhỏng tài sản, thiếu trách nhiệm gây thiệthạinghiêm trọng đến tài sản, vô ý gây thiệt hạinghiêm trọng đến tài sản. Tuy nhiên, khi làm rõ hành vi phạm tội cụ thể trong nhóm tội XPSH, cần xác định rõ hành vi phạm tội như sau :
Các hành vi cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tàisản, cưỡng đoạttài sản, cướpgiật tài sản quy định là tội phạm khi thực hiện hành vi mà không bắt buộc phải có hậu quả thiệt hại về tài sản xảy ra.
Các hành vi công nhiên chiếmđoạttài sản, trộmcắptài sản, lừa đảo chiếmđoạttài sản, huỷ hoại tàisảnhoặc cố ý làm hư hỏng tàisảnchỉ bị coi là tội phạm khi tàisảnbị xâm phạm có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên. Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếmđoạttàisảnchỉ bị coi là tội phạm khi tài sản bị chiếmđoạtcó giá trị từ4.000.000đồngtrở lên. Trư ng hợptàisảnbịxâm phạm có giá trịdướimứcnêu trên, thì phải có một trong các dấu hiệu như: đã bị kết án, nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trậttự,an toàn xã hội; tàisản
là di vật, cổ vật… thì mới được coi là tội phạm.
Hành vi chiếm giữ trái phép tàisảnbị coi là phạm tội khi tàisảnbị chiếmgiữtrái phép có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên hoặc là di vật, cổ vật.
47
Hành vi sử dụng trái phép tài sản chỉ bị coi là tội phạm khi tài sản bị sử dụng trái phép có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên và đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; tài sản là di vật, cổ vật.
Hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệthạiđến tàisảncủa Nhà nước, cơ quan, tổchức, doanh nghiệpchỉbịcoi là tộiphạm khi tàisảnbịxâm phạm có giá trịtừ100.000.000 đồng trở lên.
Làm rõ thủ đoạn gây án tức là làm rõ cách thức, tính chất, mứcđộ củahành vi phạm tội từ khâu chuẩn bị phạm tội, cách thức thực hiện tội phạm, cách che dấu tội phạm, cách thức tiêu thụ tài sản chiếmđoạtđược.Nghĩa là phải làm rõ được hung thủđãchuẩnbịcho việc gây ánđónhư thếnào; cósựchuẩnbịtrước hay do bột pháttứcth i; khi gây án thủ phạm thực hiện như thế nào; gây án xong thủ phạm cóýthứctạohiện trư ng giả hoặc xóa dấu vếthiện trư ng, đánhlạchướngCQĐT không. Mức độ nguy hiểm của tội phạm được xác định trên cơ sở nghiên cứu tính chất của hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra khi thực hiện hành vi đó.
Để xácđịnh đúng tội danh, thì cần nghiên cứu các chứng cứ xác định phương thức, thủ đoạn phạm tội. Phương thức, thủ đoạn phạm tội thể hiện ở hành vi phạm tội, bao gồm: hành vi công khai, hành vi lén lút, gian dối; dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hay không (nếu có, thì dùng như thế nào). Điều này làmcơ sở để xácđịnh chính xác tội danh trong nhóm tội XPSH đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Các tội XPSH được phân biệt với nhau chủ yếu thông qua hành vi khách quan,đặc biệtlà phương thức, thủ đoạn phạm tội. Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội có thể ngư i phạm tội thay đổi thủ đoạn và sự thay đổi đó có thể dẫn tới chuyển hóa tội phạm. Do vậy, việc làm rõ phương thức, thủ đoạn phạm tội sẽ tạo ra cơ sởquan trọngđể phân biệt rõ giữa các tộiphạm XPSH, từ đóbảođảmxétxử đúng ngư i, đúng tội.
– Mức độ thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội gây ra:
Hậuquảdo cáctộiXPSH gây rachủyếulà thiệthạivềtài sản. Có thể nói, thiệthạivề tàisảnlà thước đo để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xãhội củahành vi phạm tội [67, tr.27]. Khi xét xử sơ thẩm các tội XPSH cần xácđịnhđược thiệthạivề tài sản do tội phạm gây ra. Hậu quả về tài sản do tội phạm gây ra
48
là căn cứ để định tội hoặc định khung hình phạt tăng nặng đối với các tội XPSH.
Trong nhóm tội XPSH (trừ 4 tội có cấu thành hình thức), mứcđộ thiệthạivềtàisảncòn là căncứđể xácđịnhđócó phải là hành vi phạmtộihay không. Nếu không có dấu hiệu bắt buộc khác trong cấu thành cơ bản, thì thiệthạivề tài sản phải trên mức tối thiểu mới bị coi là tội phạm XPSH.
Trong giai đoạn điều tra, truy tố; hồ sơ VAHS đã có các tài liệu, chứng cứthểhiện giá trị tàisảnbị thiệt hại, như: biên bản thu giữ tài sản, biên bản xác định giá
trị tàisảntrong tố tụng hình sự,kếtluận về định giá tàisảntrong tố tụng hình sự … Tuy nhiên khi xét xử sơ thẩm, TA cần phải kiểm tra tính hợp pháp về trình tự,thủtục và tính có căn cứcủa kếtluận định giá tài sản trong tố tụng hình sự,để xácđịnh mức độ thiệt hại về tài sản làm cơ sở giải quyết vụ án.
TrongmộtsốtộiXPSH, ngoài thiệthạivềtàisảnthìcầnlàm rõ thiệthạivềtính mạng, sứckhỏe, nhân phẩm, danhdự của con ngư i; thiệthạido xâm phạmđến trậttự an toàn xã hội; thiệthạido xâm phạmđến hoạtđộng của các cơ quan, tổchức dotộiphạm gây ra… Những thiệthạinày là cơ sở để đánh giá tính chất vàmứcđộ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và là căn cứđể giảiquyết phần dân sự trong VAHS về các tội XPSH.
– Chủ thể thực hiện tội phạm, lỗi, động cơ mục đích phạm tội:
Đây là những yếu tố về chủ thể và mặtchủquan của các tội XPSH, có ý nghĩa trong việc xác định ngư i đã thực hiện hành vi có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không. Để chứng minh làm rõ vấn đề này là một vấn đề không hề đơn giản trong đócần phải làm rõ các nội dung sau:
+ Phải chứng minh làm rõ ai là ngư i thực hiện hành vi phạm tội, nghĩa là xácđịnh chủ thể của các tội XPSH.
+ Khi đã xácđịnh được ngư ithực hiện hành vi XPSH thì cần xác định ngư i đó có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; đạt độ tuổi theo luật định hay chưa.Để xác định chính xác độ tuổi của bị cáo phải căn cứ vào một trong các giấy t như:
Giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, căn cước công dân hoặcsổhộ khẩu… Tuy nhiên, trong một số trư ng hợp việc xác định chính xác tuổi củabịcáo là một vấn đề phức tạp, vì tuổi thực tế không đúng với giấy t hoặc ngư i phạm
49
tội không có giấy t tùy thân. Trong trư nghợp đó phảicó kết quả trưng cầu giámđịnh để xácđịnh độ tuổi của bị cáo.
+ Phải chứng minh lỗi của ngư i phạm tội là cố ý hay vô ý, lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp, lỗi vô ý vì quá tự tin hay lỗi vô ý do cẩu thả.
+ Làm rõ động cơ mục đích gây án. Nghĩa là phải làmrõ đượcthủ phạm gâyán dođộngcơ nào; gây án để nhằm mục đích gì. Vídụ:Bịcáo thực hiện hành vi
cướpgiật để làm nguồn sống, hay lấy tiền mua ma túy…
– Đặc điểm nhân thân của bị cáo:
Nhân thân của ngư i phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu, các đặc tính thể hiện bản chất xã hội của con ngư i khi vi phạm pháp luật hình sự, mà trong sựkếthợp với các điều kiện bên ngoàiđã ảnh hưởng đến việcthực hiện hành vi phạm tội của ngư i đó [98, tr.12]. Những đặc điểm đó có thể là: tuổi, nghề nghiệp, trìnhđộ vănhóa, tôn giáo, lối sống, hoàn cảnh gia đình và đ i sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức pháp luật, tiền án, tiền sự…
Đặcđiểmvềnhân thân của ngư i phạmtộicóýnghĩa rấtquan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự của bị cáo và trong việc quyết định hình phạt khi xét xử sơ thẩm về các tội XPSH. Do đó, để giải quyết đúng đắn VAHS, thì đòi hỏi phải làm rõ nhân thân của ngư i phạm tội.
Trong xétxửsơ thẩm, nhân thân ngư i phạmtộilà cơ sở để khẳngđịnhtội phạm và quyết định hình phạt. Thực tiễn xét xử cho chúng ta thấy những đặcđiểm thuộc về nhân thân của ngư i phạm tội bao gồm: Những đặc điểm có quan hệ trực tiếp đếnviệc thực hiệntộiphạm hoặcđến tháiđộsau khi phạm tội, nêncầnphải làmrõ: Đã bị xử phạthành chính về hành vi chiếmđoạthay chưa; phạmtội lần đầu hay tái phạm, tái phạm nguy hiểm; ngư i đã đủ 18 tuổi hay ngư i chưa đủ 18 tuổi; ngư i có tháiđộ tự nguyện sửachữa bồi thư ng thiệt hại, ngư i tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải v.v…
Nghiên cứu đầy đủ các chứng cứđể làmrõ đặcđiểmnhân thân của bị cáo hết sứcquan trọng và không thể thiếu trong quá trình xétxử VAHS nói chung vàVAHS về các tội XPSH nói riêng. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt thì HĐXX không được quá nhấn mạnh về nhân thân của ngư i phạm tội mà xử lý thiếu công
50
bằng, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
– Những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm:
Quá trình chứng minh VAHS trong xétxửsơ thẩmvề các tộiXPSH, Thẩm phán, HĐXXcầnphải kiểm tra, đánh giá và làm rõcảnhững tài liệu, chứngcứchứng minh tội phạm; cả tài liệu, chứng cứ chứng minh vô tội; cả tình tiết tăng nặng và cảtình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuyệt đối không được chủ quan, định kiến mộtchiều, chỉ chúýtình tiết buộc tộihoặc chỉ chúýtình tiết tăng nặng màkhông chú ý tình tiết gỡ tội, giảm nhẹ và những tình tiết khác liên quan đến vụ án. Việc làm rõ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là yêu cầu bắt buộc khi xét xử sơ thẩm VAHS.
Trong quá trình xét xử sơ thẩm về các tội XPSH, cần phải chứng minh làm rõvề nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm. Đây là cơ sở để HĐXX có những kiến nghị đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức áp dụng các biện pháp phòng ngừa,đấu tranh với loại tội phạm này.
2.2.2. Quá trình chứng minh trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu
Quá trình chứng minh trong trong xétxử sơ thẩmvề các tộiXPSH là tổng hợp các hoạt động thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ của các chủ thể trong quá trình xétxử nhằm xácđịnhsự thật khách quan VAHS về các tộiXPSH. Vìvậy, quá trình này cũng baogồmcác hoạtđộngthu thập, kiểm tra và đánh giáchứng cứ. Tuy nhiên,sự phân chia này cũngchỉmang tính chất tươngđốitrong quá trình chứng minh. Quá trình chứng minh trong VAHS trải qua các bước (các giai đoạn) khác nhau và các bước này có mối quan hệ biện chứng với nhau, bước này là cơ sở, làm tiền đề cho bước sau và ngược lại. Nghiên cứu về các giaiđoạn của quá trình chứng minh, còn có quan điểm khác nhau, cụ thể:
Có quan điểm cho rằng quá trình chứng minh bao gồm ba giai đoạn: Thu thập chứng cứ, kiểm tra chứngcứvà đánh giá chứngcứ[119, tr.199; 75, tr.185]. Cóýkiến cho rằng quá trình chứng minh bao gồm bốn bước sau: Phát hiện chứng cứ, thu
51
thập chứng cứ, kiểm tra chứng cứ và đánh giá chứng cứ [22,tr.171-176]. Có tácgiảcho rằng, quá trình chứng minh gồm ba bước và có một giai đoạn cuối là sử dụng chứng cứ bên cạnh quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Quan niệmsửdụng chứng cứ là việc dùng các chứng cứ đã có để tiếp tục phát hiện các chứng cứkhác [36, tr.138-139]. Có thể thấy, mỗi quan điểm đều dựa trên một cơ sở lý luận cụthể; tuy nhiên nghiên cứu sinh cho rằng quan điểm thứ nhất đã phản ánh một cách toàn diện, đầy đủ và thể hiện rõ nét bản chất của quá trình chứng minh.
Chứng minh trong xétxử sơthẩm VAHS về các tội XPSH chính là làm sáng tỏ sự thật của vụ án bằng chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá công khai. Hoạt động chứng minh trong xétxửsơ thẩm VAHS về các tộiXPSHthểhiện rõ nét nhất vàthực hiện chủ yếu tại phiên tòa sơ thẩm. Đây là quá trình điều tra công khaicó sựtham gia đầy đủ của các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa, HĐXX và những ngư i tham gia tố tụng khác nhằm xácđịnh sự thậtkhách quan về vụ án [28, tr.20]. Mặtkhác, tại phiên tòa sơ thẩm, các hoạt động này có thể được các chủ thể tiến hànhđan xen lẫn nhau trong quá trình xét xử vụ án về các tội XPSH. Hơn nữa, hoạtđộng chứng minh tại phiên tòa sơ thẩmđượctiến hành với sự thamgia đầy đủ củaThẩm phán, Hội thẩm, Thư ký phiên tòa, KSV, bên bào chữa và những ngư i tham gia tốtụngđãthểhiệnđặctrưng và khác biệt cơbảnso với giaiđoạnkhởi tố, điềutra, truy tố. Tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX giữ vai trò quyết định trong quá trình chứng minh, xác định sự thật khách quan VAHS về các tội XPSH.
Sau khi xem xét kiểm tra mộtcách toàn diện, công khai các chứng cứ, bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra quan điểm của mình về đánh giá tính hợp pháp, độtin cậy và tính liên quan của các chứng cứ làm cơ sở cho các kết luận, đề nghị của mình với HĐXXvề cácvấnđề cầnphải giải quyết trongvụán(bịcáo cótộihay không có tội, nếucótộithì là tộigì, áp dụngđiềukhoản nào của BLHS và mức hình phạt cụ thể, về bồi thư ng thiệt hại,xử lý vật chứng…).
2.2.2.1. Thu thập chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sựvềcác tội xâm phạm sởhữu
Trong giai đoạn xétxử,đối với hoạtđộng thu thập chứng cứ TA thư ng dựa vào các chứng cứ được thu thập ở giaiđoạnđiềutra và giai đoạn truy tố [75]. Khi
52
xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH; Thẩm phán hoặc HĐXX phát hiện chứng cứthông qua việc nghiên cứu hồ sơ hoặc xét xử tại phiên tòa. Chứng cứ được phát hiệnđólà chứngcứchưađược thu thập hoặc những chứngcứđể chứng minh các tình tiết, sự kiện của VAHS về các tội XPSH. Hoạt động phát hiện chứng cứ trong giai đoạn xét sử sơ thẩm là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng lớnđến kếtquả xétxửvụ án. Nếu bỏ qua hoặc không pháthiện đầy đủ chứng cứsẽ không bảo đảm xétxửVAHS khách quan, toàn diện, đúng pháp luật.
Hoạt động thu thập chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS có sự khác nhau rõrệtở giai đoạn chuẩn bị xét xử và giai đoạn xétxử tạiphiên tòa. Trong khi chuẩn bịxétxử,hoạtđộngchứng minh của Thẩm phán cũng giống như hoạtđộngchứng minh của ĐTV, KSV, nghĩa là chủyếu thông qua hoạtđộngtư duy, lôgíc và suy luận khách quanđể kiểm tra, đánh giá hệ thống chứngcứđã được phát hiện, thu thập và tổng hợp trong hồ sơ vụ án. Trong khi xétxử tạiphiên tòa, có diễn ra hoạtđộng thu thập chứng cứ của HĐXX nhưng cũng chỉ giới hạn ở việc thực hiện yêu cầutriệutậpthêm ngư i làm chứng, ghi nhận các chứngcứdo ngư i tham gia tốtụngđưara và ghi nhận các thông tin liên quan đến chứngcứthông qua phần xét hỏi. Đây là tiền đề cho hoạt động đánh giá và sử dụng các chứng cứ của cácchủ thểở các phần tiếp sau: tranh luận và nghị án [28, tr.20].
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS, TA mà cụ thể là Thẩm phán, HĐXX sẽ là ngư i tiến hành thu thập chứng cứ. Hoạt động này của TA được thể hiện trong một số trư ng hợp như: TA sẽ trực tiếp tiến hành xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứcủa VAHS về các tội XPSH; triệu tập những ngư i cần xét hỏi đến phiên tòa sơthẩm, như: Điều tra viên, giám định viên…
2.2.2.2. Kiểm tra chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sựvềcác tội xâm phạm sởhữu
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\CHỨNG CỨ TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU Ở VIỆT NAM

