Cơ chế pháp lý giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

Cơ chế pháp  lý giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

Hiến pháp là đạo luật cơ bản, tối cao của mỗi quốc gia đòi hỏi phải được bảo vệ đặc biệt. Nhà nước pháp quyền có mục tiêu cao nhất nhằm bảo vệ các quyền và tự do của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Các quyền con người cũng là một nội dung quan trọng, một cấu phần cơ bản trong bất kỳ bản Hiến pháp của quốc gia nào. Vì vậy, giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp cũng chính là hướng đến mục tiêu bảo đảm quyền con người.

Nhu cầu phải có một cơ chế pháp lý (CCPL) giám sát thực hiện (GSTH) các quy định của Hiến pháp nhằm đảm bảo cho Hiến pháp được tôn trọng và thực hiện ở mức cao nhất cũng chính là bảo đảm đểquyền tự do của công dân không bị vi phạm từ phía các cơ quan nhà nước. Trước thực trạng CCPL GSTH Hiến pháp ởnước ta còn tồn tại nhiều bất cập, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã nhận thấy sự cần thiết phải đổi mới cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã đề cập đến vấn đềnày trong Báo cáo chính trị với định hướng: “Xây dựng cơ chế phán quyết vềnhững vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”.Đại hội ĐCSVN lần thứ XI năm 2011 chính thức công bố chủ trương về kiểm soát quyền lực: “Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể đểđảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 đã tạo lập cơ sở hiến định để hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định (Điều 119). Đồng thời, giao trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của nhà nước. Như vậy, Hiến pháp sửa đổi lần nàytuy chưa hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp chuyên trách như Nghịquyết của Đảng đã đềranhưng đã tạo cơ sở hiến định đểxây dựng một cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định. Đây là cơ sở chính trị quan trọng cho việc đổi mới CCPL GSTH Hiến pháp nói chung ở Việt Nam.

2

Vai trò quan trọng của một CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người (BĐQCN) hiệu quảđã được khẳng định. Tuy nhiên, nghiên cứu vấn đềnày ở Việt Nam cho thấy nhiều điểm bất cập còn tồn tại. Về mặt lý luận, các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này còn khá tản mạn, rời rạc ở các văn bản khác nhau. Hiến pháp 2013quy định vấn đềGSTH Hiến pháp nhưng còn chung chung, hơn nữa mới chỉ nhắc đến việc giải thích hiến pháp, luật, pháp lệnh – một khía cạnh nhỏ trong toàn bộ cơ chế giám sát tính hợp hiến. Mặt khác, theo các quy định pháp lý hiện hành, thẩm quyền huỷ bỏ các văn bản trái vơi các quy định của Hiến pháp về BĐQCN được quy định không thống nhất và thuộc nhiều cơ quan khác nhau. Về mặt thực tiễn, hoạt động GSTH các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN ở nước ta được giao cho nhiều cơ quan, cá nhân mà thiếu một thiết chếchuyên trách, một cơ chế hữu hiệu thực hiện. Hiện tại, nhiều chủ thể cùng tham gia thực hiện nhiệm vụ giám sát các quy định này với sự dàn trải từ Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước, Ủy ban nhân dân (UBND), trong khi đó thủ tục hoạt động và thẩm quyền thực tế của Quốc hội chưa phù hợp với quy định của Hiến pháp; cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước bằng giám sát tối cao của Quốc hội đối với cácquyền hành pháp và tư pháp còn nhiều bất cập; chưa có cơ chế giám sát hoạt động của Quốc hội và giám sát tính hợp hiến của các đạo luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành cũng như giải quyết hậu quả pháp lý khi luật, nghị quyết của Quốc hội trái với các quy định của Hiến pháp về BĐQCN. Bên cạnh đó, chưa có căn cứ pháp lý vững chắc đểcácchủ thểgiám sát khác thực hiện thẩm quyền của mình hiệu quả. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện cơ chế GSTH Hiến pháp nói chung và cơ chế GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN nói riêng, từ đó, sớm thành lập cơ chế tài phán xử lý các hành vi vi phạm các quy định của Hiến pháp về BĐQCN.

Trong thời gian qua, ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu liênquan đến vấn đềGSTH Hiến pháp và bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp. Mặc dù vậy, những nghiên cứu đó mới chỉở mức độkhái quát, còn thiếu những phân tích toàn diện, chuyên sâu. Đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào tập trung kết nối hai vấn đềGSTH Hiến pháp và bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp. Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đềtài “Cơ chế pháp lý giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam” làm Luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật.

3

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án: Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá thực trạng CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN ở Việt Nam thời gian qua, luận án đềxuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

Đểthực hiện mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:

– Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và chỉ ranhững vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

– Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN. Luận án xây dựng một số khái niệm cơ bản như: Giám sát thực hiện Hiến pháp, CCPL GSTH Hiến pháp, CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN. Luận án phân tích các yếu tố cấu thành, mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành và vai trò của CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN.

– Phân tích một số mô hình GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN của một số quốc gia trên thế giới và rút ra giá trị tham khảo đối với Việt Nam.

– Phân tích thực trạng của CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN ở Việt Nam; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế.

– Đềxuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về đảm bảo quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN ởViệt Nam dưới góc độ của chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: GSTH Hiến pháp có phạm vi giám sát rộng, bao gồm toàn bộ việc thực hiện các quy định của Hiến pháp. Với mục đích nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề dưới góc độLý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận án không nghiên cứu GSTH Hiến pháp nói chung mà chỉ tập trung vào nghiên cứu việc GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN: bao gồm GSTH các quyền

4

hiến định- các quyền được ghi nhận trong chương II của Hiến pháp 2013 và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo quyền conngười được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chủ thể của giám sát Hiến pháp nói chung và giám sát Hiến pháp về BĐQCN rất rộng, bao gồm: Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân. Trong phạm vi luận án, nghiên cứu sinhchỉđề cập tới cácchủ thể có tính chất Nhà nước được Hiến pháp quy địnhchức năng GSTH Hiến pháp bao gồm: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân (TAND) và Viện kiểm sát nhân dân.

Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN ở Việt Nam từ năm 1946 đến nay.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước – pháp luật và quyền con người; các quan điểm, đường lối của ĐCSVN về vấn đềnhà nước – pháp luật và quyền con người, về cơchế giám sát thực hiện Hiến pháp.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của triết học Mác Lê Nin để nghiên cứu các nội dung trong đềtài. Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp phân tích, tổng hợp lịch sử; phương pháp hệ thống, so

sánh; phương pháp logic, lịch sử, thống kê; phương pháp chuyêngia, tọa đàm…đểnghiên cứu các nội dung cụ thể của từng chương trong luận án.

Việc vận dụng từng phương pháp cụ thể vào từng chương của Luận án được căn cứ vào nội dung của chương, phương pháp tiếp cận của chương nhằm đảm bảo tính khoa học, logic, cụ thể:

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp lịch sử được sử dụng ở tất cả các chương của luận án nhằm hệ thống hoá cơ sở lý luận, khái quát hoá, đánh giá thực trạng và đềxuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế GSTH các quy định của Hiến

5

pháp về BĐQCN. Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các số liệu từviệc phân tích tài liệu, phỏng vấn, hỏi chuyên gia nhằm đưa ra những luận giải và nhận xét cho luận án.

+ Phương pháp hệ thống, so sánh được sử dụng ở chương 1 để nghiên cứu, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài luận án và được sử dụng trong chương 2 khi nghiên cứu cơ chế GSTH Hiến pháp ở một số quốc gia trên thế giới, góp phần rút ra bài học và những điểm hợp lý có thể vận dụng vào điều kiện Việt Nam. Những thông tin khoa học được thu thập qua việc hệ thống hóa tàiliệu được tác giả sắp xếp theo cấu trúc logic nhằm xây dựng khung lý luận biện chứng, tổng thể và khái quát nhất về CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN.

+ Phương pháp logic được sử dụng xuyên suốt trong chương 2, chương 3 và chương 4. Việc sử dụng phương pháp này nhằm đảm bảo nội dung của ba chương có mối liên kết chặt chẽ với nhau. Việc đánh giá thực trạng CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN được dựa trênnhững luận giải về mặt lý luận ởchương 2, đồng thời là cơ sở để đưa ra các quan điểm và giải pháp hoàn thiện CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN ở Việt Nam.

+ Phương pháp lịch sử, thống kê, sosánh được sử dụng đểđánh giá quá trình phát triển, thực trạng cơ chế GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN ở Việt Nam.

+ Phương pháp chuyên gia, toạ đàm đểthu thập ý kiến và đưa ra các nhận định kết luận, đềxuất của luận án. Đề tài luận ánlà vấn đềthu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều hội thảo khoa học. Nghiên cứu sinh đã chủ động tham gia và thảo luận tại các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học về vấn đềnày đểđược trao đổi quan điểm, thu thập thông tin liênquan đến đềtài luận án.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tương đối hệ thống về CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN ở Việt Nam nêncó một sốđóng góp khoa học mới sau đây:

Thứ nhất, luận án bổ sung, xây dựng cơ sở lý luận của việc hoàn thiện CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về đảm bảo quyền con người ở Việt Nam một cách khoa học, hệ thống và toàn diện. Theo đó, luận án sẽ làm rõ được

6

khái niệm GSTH Hiến pháp và cơ chế GSTH các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN, các yếu tố cấu thành, mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN. Luận án cũng nghiên cứu CCPL

GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN một số nước và rút ra những giátrịtham khảo cho Việt Nam.

Thứ hai, luận án phân tích thực trạng các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN; đánh giá thực trạng các yếu tố cấu thành của cơ chế và sự vận hành của cơchế; chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế của CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN ở Việt Nam hiện nay.

Thứ ba,luận án đềxuất được cácquan điểm và giải pháp hoàn thiện CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN ở Việt Nam.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

– Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho việc hoàn thiện CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN ở Việt Nam.

– Về thực tiễn: Luận án là nguồn tài liệu tham khảo tin cậy cho hoạt động nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Pháp luật về quyền con người trong các cơ sở đào tạo. Luận án cũng là tài liệu nghiên cứu dành cho các cơ quan chức năng trong việc nghiên cứu, đềxuất hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát thực hiện Hiến pháp nói chung. Những kết quả của luận án sẽ góp phần nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức và nhân dân vềvai trò của việc hoàn thiện CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người, từ đó từng bước hiện thực hóa những giải pháp được đềxuất trong Luận án.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của tácgiả đã công bố liên quan đến luận án và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được bố cục thành4 chương, 11 tiết.

7

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊNQUAN ĐẾN ĐỀTÀI LUẬN ÁN

Vấn đềgiám sát Hiến pháp và CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp được nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu dưới nhiều góc độkhác nhau. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN.

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người

Cuốn sách Sửa đổi, bổ sung chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơbản của

1.1.2. Các công trình nghiên cứu về cơ chế pháp lý

1.1.3. Các công trình nghiên cứu về giám sát Hiến pháp và cơ chế pháp lý giám sát thực hiện Hiến pháp

17

1.1.4. Các công trình nghiên cứu về giám sát thực hiện Hiến pháp từcách tiếp cận quyền con người

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về giám sát thực hiện Hiến pháp

1.2.2. Các công trình nghiên cứu về giám sát thực hiện Hiến pháp từcách tiếp cận quyền con người

1.3. NHỮNG NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CÓ GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO LUẬN ÁN, VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Cơ chế pháp  lý giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam
Cơ chế pháp lý giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

1.3.1. Những nội dung nghiên cứu có giá trị tham khảo cho luận án

Từ các công trình nghiên cứu liênquan đến đềtài luận án, có thể nhận thấy một số kết quả nghiên cứu chính có ý nghĩa tham khảo cho luận án như sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã phân tích các nội dung bảo đảm QCN trong Hiến pháp và khẳng định rằng: trải qua 5 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992 và 2013), các quyền và tự do cơ bản của công dân đã liên tục được mở rộng và phát triển cả về chủ thể, nội dung cũng như các thiết chế bảo đảm, thực thi. Lần đầu

24

tiên trong lịch sử lập hiến, Hiến pháp 2013 đã ghi nhận cả ba nghĩa vụ của nhà nước là tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện QCN. Đây là cơ sở hiến định ràng buộc các cơ quan Nhà nước có tráchnhiệm thực hiện đầy đủvà nghiêm túc những nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà nước về QCN, quyền công dân trong thực tế, đặc biệt là hai nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm thực hiện chứ không chỉ tôn trọng chung chung nhưcách hiểu của Điều 50 Hiến pháp 1992.

Thứ hai, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề lý luận cơ bản về CCPL, GSTH hiến pháp, về nguồn gốc, sự hình thành, phát triển, đối tượng và phạm vi giám sát Hiến pháp cũng như các mô hình giám sát Hiến pháp khác nhau trên thế giới. Nhìn chung các công trình khoa học đều nghiên cứu CCPL giám sát một hoạt động nào đó trên cơ sở bốn yếu tố cấu thành: Các quy định của pháp luật về chức năng, thẩm quyền giám sát của các chủ thể giám sát; Hình thức và phương pháp giám sát; Trình tự và thủ tục giám sát; và Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát. Các yếu tố cấu thành của CCPL giám sát một hoạt động nhất định đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, yêu cầu phải được vận hành một cách thống nhất, đồng bộ đảm bảo việc giám sát đạt hiệu quả theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, các công trình nghiên cứu đã phân tích các quy định của phápluật vềthẩm quyền của các chủ thể trong việc thực hiện chức năng GSTH Hiến pháp theo các giai đoạn lịch sử. Một số công trình đã nghiên cứu vấn đề GSTH Hiến pháp từlăng kính QCN với nhận định:Giám sát Hiến pháp đểHiến pháp được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất, không phải văn bản mang tính trang trí hay dễ chấp nhận bị vi phạm là nội dung quan trọng nhất trong việc BĐQCN.

Thứ tư, các công trình nghiên cứu đã khái quát kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và phân tích đặc trưng cũng như sự khác nhau của các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới như Đức, Pháp, Mỹ. Bên cạnh đó, các mô hình của

Ghana, Ethiopia, Indonexia, Hà Lan… cũng được đề cập và nghiên cứu về cơ chếBVQCN của các cơ quan giám sát Hiến pháp ở các quốc gia này.

Thứ năm, những bất cập về mặt lý luận và thực tiễn của CCPL GSTH Hiến pháp ở Việt Nam đã được chỉ rõ. Về mặt lýluận, các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đềnày còn khá tản mạn, rời rạc ở các văn bản khác nhau. Hiến pháp 2013quy định vấn đềGSTH Hiến pháp nhưng còn chung chung, hơn nữa mới chỉnhắc đến việc giải thích hiến pháp, luật, pháp lệnh – một khía cạnh nhỏ trong toàn

25

bộ cơ chế giám sát tính hợp hiến. Mặt khác, theo các quy địnhpháp lý hiện hành, thẩm quyền huỷ bỏ các văn bản trái Hiến pháp, luật, pháp lệnh được quy định không thống nhất và thuộc nhiều cơ quan khác nhau. Về mặt thực tiễn, hoạt động GSTH Hiến pháp ở nước ta được giao cho nhiều cơ quan, cá nhân mà thiếu một thiết chế chuyên trách, một cơ chế hữu hiệu thực hiện.

Thứ sáu, các nghiên cứu đã xác định lýdo sự cần thiết phải hoàn thiện cơchế pháp lý giám sát thực hiện Hiến pháp. Đó là vai trò của một nền tư pháp độc lập thực hiện chức năng tư pháp, đảm bảo việc chấp hành các quy định của pháp luật. Đểthực hiện chức năng đó, giám sát Hiến pháp được coi là một phương tiện nhằm đảm bảo quyền và tự do cơ bản của công dân, đảm bảo nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền không được chối bỏ cácQCN của cá nhân vì bất kỳ lý do gì. Từ việc nghiên cứu các mô hình GSTH Hiến pháp trên thế giới cho thấy, nhiều công trình nghiên cứu đã đề xuất việc thành lập Tòa án Hiến pháp – một thiết chế độc lập nhằm giám sát việc thực hiện Hiến pháp hiệu quả.

Tuy nhiên, với những mục đích, yêu cầu nghiên cứu khác nhau nên các công trình nghiên cứu trên mới chỉ xem xét một số khía cạnh cụ thể của CCPL GSTH Hiến pháp hoặc nghiên cứu giám sát Hiến pháp nói chung. Xét một cách tổng thể, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống vềCCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN. Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đềnày. Các công trình nghiên cứu nêu trên cung cấp những luận cứ khoa học, nhất là về mặt lý luận, có giá trị tham khảo quantrọng đểtác giảkế thừa trong luận án của mình.

1.3.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Về mặt lýluận: Đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đềtài luận án cho thấy: cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu mang tính hệ thống những vấn đề lý luận về CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của Luận án là hệ thống hóa, phân tích, xây dựng cơ sở lý luận của CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN. Luận án sẽ phân tích các khái niệm như BĐQCN, các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN, GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN, CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN. Đây được coi là những khái niệm nền tảng, quan trọng, cần được phântích và xác định nội hàm một cách cụ thể. Từ đó, phân tích

26

đặc điểm; xác địnhcác yếu tố cấu thành CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN. Đồng thời, nghiên cứu CCPL GSTH Hiến pháp ở một số nước trênthếgiới. Trên cơ sở đó, rút ra những giá trị có thể tham khảo cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN.

Về mặt thực tiễn: Cơ chế pháp lý GSTH Hiến pháp ở Việt Nam cho thấy nhiều điểm bất cập còn tồn tại. Vì vậy, Luận án sẽ đi sâu đánh giá những thành tựu, hạn chế của CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN ở Việt Nam hiện nay. Luận án tập trung vào phân tích việc GSTH các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN để khẳng địnhnhững bất cập còn tồn tại cần phải tháo gỡ, nhằm đảm bảo các QCN được ghi nhận trong Hiến pháp phải được thực hiện trên thực tế một cách hiệu quả. Việc xác địnhcác nguyên nhân của những bất cập trong CCPL này cũng chính là điểm nút cần tháo gỡ nhằm hoàn thiện hơn CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về QCN.

Nếu như các công trình nghiên cứu về giám sát Hiến pháp hiện nay mới chỉđềra các giải pháp chung chung, thìLuận án sẽ tiếp cận vấn đềnày một cách cụ thể. Đó làviệc xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN.

1.3.3. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN. Trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng và đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện CCPL GSTH Hiến pháp về đảm bảo QCN. Đểđạt được mục đíchnày, giả thuyết nghiên cứu của Luận án đặt ra là:

Hiện nay, giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp về BĐQCN là trách nhiệm chung của nhiều chủ thể trong xã hội, thực hiện thông qua các quy địnhpháp luật, nhằm xem xét và xử lý những vấn đềliên quan đến tính hợp hiến của các hành vi thực hiện các quy định của Hiến pháp về QCN để bảo đảm nguyên tắc tính tối cao và bất khả xâm phạm của Hiến pháp. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một khoảng trống trong pháp luật về CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN. Thực tiễn của việc thực hiện các quy định Hiến pháp nói chung và về vấn đề BĐQCN nói riêng đã bộc lộ những bất cập, hạn chế trên cả phương diện các quy địnhnói chung và cơ chế phối hợp thực hiện việc giám sát. Yêu cầu đặt ra là cần phải nhận thức đầy đủ, khoa học về các giải pháp nhằm hoàn thiện CCPL GSTH

27

các quy địnhHiến pháp về BĐQCN, trong đó cần xác địnhviệc thành lập một cơquan chuyên trách giám sát thực hiện Hiến pháp về BĐQCN là nhiệm vụ trọng tâm.

Từ giả thuyết nghiên cứu này, luận án cần giải quyết một số câu hỏi nghiên cứu như sau:

1. Nhận thức như thế nào về CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN? Cơ chế pháp lý này gồm những thành tố nào? Mối liên hệ giữa các thành tố được thể hiện như thế nào?

5. Thực trạng CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN ở Việt Nam như thế nào?

6. Quan điểm nào cần định hướng nhằm hoàn thiện CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN? Đểhoàn thiện CCPL GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN, cần thực hiện các giải pháp cơ bản nào?

Kết luận chương 1

1. Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu liênquan đến vấn đềGSTH Hiến pháp và bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp, trong đó vấn đề lịch sử hình thành, quy định pháp luật và các mô hình GSTH Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới đã được nghiên cứu khá sâu sắc. Mặc dù vậy, những nghiên cứu này mới chỉ ở mức độ khái quát, còn thiếu những phân tích toàn diện, chuyên sâu. Đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào tập trung kết nối hai vấn đềGSTH Hiến pháp và bảo đảm QCN trong Hiến pháp.

2. Mặc dù các luận cứ khoa học và mô hình đề xuất hoàn thiện CCPL GSTH Hiến pháp về BĐQCN còn tản mạn, chưa thuyết phục, chưa có công trình nào nghiên cứu từ góc độ QCN một cách chuyên biệt, tuy vậy, các kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo quan trọng choLuận án đểxác định nội dung nghiên cứu cũng như những khoảng trống còn để ngỏ cần tiếp tục đi sâu phân tích. Đó là luận giải cơsở lýluận và cơ sở thực tiễn, từ đó xác định các quan điểm mang tính khoa học và toàn diện, đềxuất các giải pháp cụ thể, phù hợp và khả thi cho việc hoàn thiện CCPL GSTH Hiến pháp về BĐQCN ở Việt Nam.

3. Tác giả cũng đã đặt ra giả thuyết nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu cần phải được giải đápthỏa đáng khi triển khai thực hiện mục đích và nhiệm vụnghiên cứu của luận án.

28

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ GIÁM SÁT THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA HIẾN PHÁP VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM GIÁM SÁT THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA HIẾN PHÁP VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

2.1.1. Khái niệm bảo đảm quyền con người

Quyền con người là quyền của tất cả mọi người, xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Nội hàm của QCN được xác địnhtrên cơ sở nhân phẩm, bình đẳng, tự do, không phân biệt đối xử, nhân đạo,

khoan dung, trách nhiệm giải trình… Đây cũng là những giá trị được kết tinh từ mọi nền văn hóa, tạo thành nền tảng và thúc đẩy sự phát triển các QCN.

Theo từ điển tiếng Việt, “bảo đảm” là làm cho chắc chắn thực hiện được, hay nói chắc chắn và chịu trách nhiệm về lời nói của mình, nhận chịu trách nhiệm làm tốt” [61, tr.54]. Cách hiểu này không khác với nguyên tắc bảo đảm pháp luật ở Việt Nam và luật nhân quyền quốc tế.

Theo quan niệm phổ biến hiện nay, BĐQCN là việc các chủ thể có nghĩa vụ áp

dụng các biện pháp về lập pháp, hành pháp, tư pháp, kinh tế, thể chế… đểhiện thực hóa các nguyên tắc và tiêu chuẩn về QCN trong hoạt động quản lý của Nhà nước, trong chương trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia, dân tộc [35, tr.384].

Tác giả Lê Thị Hồng Nhung lại quan niệm BĐQCN là tạo ra các điều kiện cho QCN được vận hành trong thực tiễn hoặc bảo vệ nó chống lại hành vị xâm phạm QCN [58, tr.179-206].

Từ góc độpháp lý, theo Giáo sư Trần Ngọc Đường, BĐQCN là bao gồm hệthống thống nhất các yếu tố: Cơ chế pháp lý bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụpháp lý thông qua hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước, thông qua hệ thống cơquan hành pháp, tư pháp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân; Thông qua hành vi hợp pháp và trình độ văn hóa pháp lý của mỗi cá nhân công dân.

Từ các khái niệm BĐQCN của các tác giả trên, có thể khái quát: về bản chất, BĐQCN chính là việc ghi nhận và thực hiện những cam kết quốc tế về QCN thông qua việc nội luật hóa vào hệ thống pháp luật quốc gia. Thông qua nhiều hình thức, thiết chế khác nhau do Nhà nước thiết lập, Nhà nước sẽ thực hiện các biện pháp

29

BĐQCN. Thông qua các quy định pháp luật và các cơ chế bảo đảm, QCN mới được thực thi có hiệu quả. Do đó, có thể hiểu BĐQCN là sự vận hành các yếu tố khách quan nhằm mục đích ghi nhận về mặt pháp lý các QCN trong các quy địnhpháp luật và bảo vệ, thực thi các quyền đó trong thực tế.

Luật quốc tế cũng quy định Nhà nước có nghĩa vụ BĐQCN. Theo Ủy ban vềcác quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, việc bảo đảm đầy đủQCN đòi hỏi nhà nước phải thực hiện 3 cấp độ nghĩa vụ: tôn trọng, bảo vệ và thực hiện. Các nghĩa vụ này có mối quan hệ gắn bó và bổ sung lẫn nhau.

Thứ nhất, nghĩa vụ tôn trọng (obligation to respect): Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải ghi nhận các quyền và tự do cơ bản của con người trong hệ thống pháp luật quốc gia; xây dựng những chuẩn mực cụ thể về QCN trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội mà không trái với các cam kết quốc tế; Chú trọng nâng cao nhận thức cho công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân [35, tr.385]. Nghĩa vụ này được coi làthụđộng (negative obligation) khi nó không đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải chủđộng đưa ra những sáng kiến, biện pháp hay chương trình nhằm hỗ trợ các công dân trong việc hưởng thụ quyền. Điều này đòi hỏi nhà nước phải kiềm chế không can thiệp (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào việc hưởng thụcác QCN đã được ghi nhận trong pháp luật [35, tr.61].

Thứ hai, nghĩa vụ bảo vệ (obligation to protect). Nghĩa vụ này giải thích rằng bất cứ một sự vi phạm qui định nào trong điều ước từ phíangười dân hay cơ quan chính phủ, tổ chức xã hội, kinh tế, nhà nước đều phải có trách nhiệm can thiệp, giải quyết. Đây được coi là nghĩa vụ chủ động (positive obligation) bởi các nhà nước cần phải chủ động những biện pháp về chính trị, luật pháp, thể chế để ngăn ngừa sựvi phạm nhân quyền từ phía các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và cá nhân. Đồng thời, nhà nước ngăn chặn tình trạng phân biệt đối xử, hoặc sự hình thành các nguy cơ đe dọa QCN trên các lĩnh vực; xử lý có hiệu quả các vi phạm về QCN. Các quốc gia có nghĩa vụ ngăn chặn, điều tra, trừng trị và phục hồi các quyền đã bị vi phạm hoặc bồi thường bất cứ khi nào có thể [35, tr.386].

Thứ ba, nghĩa vụ thực hiện (obligation to fulfill): Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải có những biện pháp nhằm hỗ trợ công dân trong việc thực hiện các QCN, bao gồm: xây dựng khung thể chế (tổ chức, bộ máy, con người) nhằm hiện thực hóa các quy định của luật pháp và các chuẩn mực về QCN; tạo môi trường

30

kinh tế thuận lợi, mang tính hỗ trợ cho việc tiếp cận nhiều quyền của các nhóm xã hội, nhất là các nhóm xã hội dễ bị tổn thương; thiết lập và duy trì một cơ chế minh bạch, hiệu quả đểgiám sát QCN. Đối với các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, Nhà nước phải xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, giảm thiểu bất bình đẳng, tạo lập những cơ hội như nhau cho tất cả mọi người.

Từ những phân tích trên, nghiên cứu sinh cho rằng: Bảo đảm quyền con người là hoạt động của các chủ thể có nghĩa vụ sử dụng các biện pháp, cách thức đểhiện thực hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn về quyền con người nhằm thực thi và bảo vệ hiệu quả các quyền và tự do cơ bản của con người, ngăn ngừa sự lạm dụng, vi phạm quyền con người từ phía các chủ thể khác [37, tr.39].

2.1.2. Khái niệm giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người

Tư tưởng giám sát Hiến pháp có mầm mống hình thành ở Anh – một quốc gia không có Hiến pháp thành văn – từ đầu thế kỷ XVII với sự đề xướng tư tưởng của J.Locke và E.Coke. Theo J.Locke và E.Coke, Hiến pháp là đạo luật tối cao (lex legum), là luật của các luật (lex aeterna), là luật không thể thay đổi (lex immutabile). Trong vụ án Bonham (1610), E. Coke đã chỉ rõ mối quan hệ giữa pháp luật chung và pháp luật do nghị viện ban hành như sau: “Pháp luật chung luôn thống trị các đạo luật của nghị viện và trong nhiều trường hợp, pháp luật chung phán quyết các đạo luật đó là vô hiệu: khi một đạo luật của nghị viện trái với lợi ích và các lý do chung hoặc không thể đem ra thi hành thì pháp luật chung sẽ “kiểm soát” đạo luật đó và phán quyết rằng đạo luật đó vô hiệu” [99, tr.286-301]. Từ lập luận này của E.Coke, nguyên tắc về tính tối thượng (supremacy) của Hiến pháp và quyền của tòa án được xem xét tính hợp hiến đối với các hoạt động của Chính phủ đã đặt nền tảng cho mô hình “tài phán Hiến pháp” hay “giám sát Hiến pháp” (judicial review hoặc constitutional review) ở Mỹ [100, tr.75, 171, 353] và các nước khác sau này.

Tư tưởng đầu tiên về “giám sát Hiến pháp” có mầm mống ở Anh, nhưng thuật ngữ “giám sát Hiến pháp” lần đầu tiên được đưa ra trong Hội nghị lập hiến Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Wilson, Madison, Hamilton chính là những chính trị gia khởi xướng và cổ vũ cho tư tưởng giám sát Hiến pháp. Tuy nhiên, phán quyết của vụMarbury vs. Madison ở Mỹ đã đánh dấu lịch sử tư tưởng về GSTH Hiến pháp. Chánh án Tối cao John Marshall đã kết luận vụ việc này bằng một phán quyết nổi tiếng:

31

”Một chính quyền trọng hiến pháp phải tôn trọng nguyên tắc: Một đạo luật mâu thuẫn với Hiến pháp thì phải vô hiệu” [Xem vụ Madison vs Madison năm 1803].

Từ lập luận này của Marshall, mọi Tòa án liên bang đều cóthể xem xét sựphù hợp của đạo luật đối với Hiến pháp và từ chối áp dụng đạo luật đó nếu nóvi hiến và chỉ có Tòa án Liên bang mới có quyền xem xét về sự phù hợp của các điều khoản trong Hiến pháp của bang với Hiến pháp Liên bang. Tiền lệ này đặt nền tảng cho việc hình thành mô hình cơ quan bảo hiến của Mỹ với đặc điểm là giám sát hiến pháp do các tòa án tư pháp thực hiện, trong đó cao nhất là Tòa án tối cao. Cóthểkhẳng định, Chánh án Marshall đã phát triển học thuyết hiến pháp tối cao và quyền tài phán hiến pháp của tư pháp. Hiến pháp là “luật cơ bản và tối cao của mọi quốc gia”, và được coi là “một trong những nguyên tắc cơ bản của xã hội chúng ta”. Điều này dẫn đến hệ quả: “một đạo luật của ngành lập pháp bất hợp hiến sẽ không có hiệu lực”, và “bổn phận của tư pháp là xác định quy tắc nào được áp dụng trong một vụ án khi luật trái với Hiến pháp. Trong những trường hợp như vậy, “Hiến pháp cao hơn thường luật của ngành lập pháp. Hiến pháp chứ không phải thường luật được áp dụng đểgiải quyết vụ án mà cả hai đều được viện dẫn” [107, tr.101-102]. Vụ kiện này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của nền lập hiến trong một chếđộdân chủ. Richard Fallon kết luận: “Điều quan trọng cần được hiểu ởđâylà vì sao một văn bản pháp luật đã được thông qua bởi đa số các thành viên một cơ quan lập pháp chịu trách nhiệm về chính trị và có đầy đủquyền lập pháp hợp pháp lại phải chịu tuân thủ một bản Hiến pháp đã được phê chuẩn từ trước đó hơn 200 năm”. Ông viết tiếp: “Câu trả lời nằm trong quan điểm rằng một dân tộc đã tập hợp lại và làm ra một đạo luật cóhiệu lực cao hơn” [115, tr.11].

Như vậy, việc khởi xướng tư tưởng này xuất phát từ ý tưởng kiềm chế quyền lập pháp của Quốc hội liên bang, đảm bảo cho các nhánh quyền khác có những quyền hạn tự bảo vệ khi cần thiết với đềnghị trao thẩm quyền bãi bỏ dự luật do Quốc hội liên bang thông qua cho Tòa án. Chính bởi mô hình này của Mỹ, giám sát Hiến pháp còn được gọi là”giám sát tư pháp” (judicial review) tức là thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét tính hợp hiến của các đạo luật được ban hành bởi các cơ quan hoặc các cấp chính quyền.

Đến những năm đầu thế kỷ XX, thuật ngữ “giám sát Hiến pháp” được sửdụng rộng rãi ở châu Âu và được hiểu theo nghĩa “giám sát tính hợp hiến”. H.Kelsen – một luật gia người Đức – là người đã khởi xướng tư tưởng này ở châu

32

Âu. Theo đó, “giám sát tính hợp hiến được hiểu lànguyên tắc mà Tòa án cóthểtuyên bố các đạo luật được thông qua bởi cơ quan lập pháp và cả cơ quan hành pháp là vi phạm Hiến pháp. Tòa án có thể hủy bỏ các đạo luật vi phạm đến các quyền cơbản của con người được quy định trong Hiến pháp” [2]. Như vậy, giám sát Hiến pháp chính là nhằm bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp.

Trong mọi chếđộnhà nước, ở mọi thời đại, việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của hệ thống văn bản phápluật đều được đặt ra một cáchnghiêm túc và xác địnhlà một vấn đềquan trọng. Giám sát tuân thủ Hiến pháp và pháp luật là một biểu hiện (hay một hình thức) kiểm soát quyền lực đối với các thiết chế trong hệthống thực thi quyền lực chínhtrị, được cácquốc gia chú trọng và được quy định chặt chẽ về phương diện luật pháp [26]. Việc kiểm soát quyền lực tập trung chủ yếu vào giám sát tuân thủ Hiến pháp là nội dung chủ yếu trong nền dânchủ hiện đại.

Đểlàm rõ khái niệm GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN, cần có sự phân biệt giám sát hiến pháp (Constitutional Review), bảo vệ Hiến pháp – Bảo hiến (Constitutional Protection) và Tài phán Hiến pháp (Judicial Review). Có nghiên cứu đã chỉ ra nội hàm của 3 khái niệm này như sau:

Giám sát Hiến pháp là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra các văn bản do cơ quan nhà nước khác ban hành hoặc hành vi của các quan chức nhà nước cấp cao có phù hợp với Hiến pháp hay không nhằm đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật và trong đời sống xã hội [70, tr.55].

Bảo hiến là toàn bộ những yếu tố, cách thức, biện pháp nhằm bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và chống lại mọi sự vi phạm Hiến pháp.

Tài phán Hiến pháp là quy trình tư pháp xử lý các hành vi vi phạm hiến pháp được thực hiện bởi các Tòa án thường, Tòa án Hiến pháp hoặc các cơ quan có tính chất tư pháp [79, tr.15]. Như vậy, tài phán Hiến pháp thường được sử dụng đểchỉthẩm quyền của các Tòa án trong việc kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật và các hành vi công quyền khác.

Nhìn vào khái niệm bảo hiến, có thể thấy đặc trưng của quy trình bảo hiến rất khác nhau (chính trị, hành chính, tư pháp), trong khi đó tài phán Hiến pháp được hiểu là bảo vệ hiến pháp bởi quy trình tư pháp (xét xử). Chủ thể của bảo hiến có thểlà mọi cơ quan nhà nước, trong khi chủ thể của quyền tài phán hiến pháp là các Tòa án hoặc thiết chế có tính chất tư pháp.

Trong thực tế, khoa học pháp lý chưa có sự xác định một cách rõ ràng phạm vi

33

cũng như ngữ nghĩa pháp lý của các thuật ngữ “Tài phán hiến pháp” “Bảo vệ hiến pháp” “Giám sát Hiến pháp”. Thậm chí, bảo hiến thường được hiểu theo nghĩa là tài phán Hiến pháp (judicial review) vì từ trước đến nay nó gắn liền với chức năng của tòa án trong việc xem xét tính pháp lý trong hoạt động của các cơ quan hành chính. Trên thế giới, thuật ngữ bảo vệ hiến pháp ít được dùng đến. Khái niệm tài phán hiến pháp và giám sát hiến pháp đều được dùng theo nghĩa đề cập đến chức năng đặc biệt của các cơquan nhà nước có thẩm quyền trong việc đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp.

Từ cách tiếp cận rằng, mọi cá nhân, mọi thiết chế, tổ chức, mọi hoạt động đều cónghĩa vụ thiêng liêng bảo vệ hiến pháp, việc sử dụng thuật ngữ “GSTH Hiến pháp” xét về mặt ngữ nghĩa là hợp lý hơn cả. Giám sát thực hiện Hiến pháp có thểhiểu là một chức năng đặc biệt của các cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo đảm vị trí tối thượng của Hiến phápHiến pháp; bảo đảm đểcác quy định của Hiến pháp được thực hiện trong thực tiễn cuộc sống. Giám sát thực hiện Hiến pháp không chỉbị hạn chế bởi khuôn khổ của giám sát tư pháp mà còn phải xem xét cả vai trò, chức năng của các cơ quan lập pháp, hành pháp, thậm chí cả trật tự và truyền thống các giá trị đạo đức của một quốc gia.

Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm GSTH Hiến pháp, cụ thể như sau: Theo Giáo sư Nguyễn Như Phát: Giám sát thực hiện Hiến pháp tức là bảo

đảm quán triệt và tuân thủ nguyên tắc tính tối cao và bất khả xâm phạm của hiến pháp. Bảo vệ hiến pháp không chỉ đối với hoạt động hành pháp, tư pháp và cả trên phương diện hoạt động lập pháp. Nói rộng ra, toàn bộ hoạt động nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) đều phải được thực hiện trong khuôn khổ hiến pháp [60, tr.381]. Quan điểm này dễ đồng nhất GSTH Hiến pháp với bảo hiến.

Còn theo Vũ Văn Nhiêm: Giám sát thực hiện Hiến pháp được hiểu là kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật, xem xét những đạo luật được đưa ra có phù hợp với tinh thần và nội dung Hiến pháp hay không. Với cách hiểu này, đối tượng của GSTH Hiến pháp là các đạo luật do Quốc hội đưa ra chứ không nhằm vào các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, GSTH Hiến pháp còn được hiểu nghĩa rộng hơn là kiểm soát tính hợp hiến của các hành vi của các định chế chínhtrị được quy địnhtrong Hiến pháp. Theo nghĩa này, GSTH Hiến pháp còn là sự tổng hợp cơ chế chính trị, CCPL, cơ chế xã hội, cơ chếkinh tế, cơ chế hỗn hợp nhằm bảo đảm sự tôn trọng Hiến pháp [57, tr.11].

Ở một số quốc gia trên thế giới, đối tượng của quyền GSTH Hiến pháp bao gồm các VBQPPL có hiệu lực thấp hơn Hiến pháp; các văn bản, điều ước trong nội

34

bộ quốc gia. Bên cạnh đó, hoạt động GSTH Hiến pháp còn có đối tượng là xác định sự phù hợp của các VBQPPL trong nước với các điều ước quốc tế mà quốc gia đó ký kết hay gia nhập. Hành vi của những người giữ các cương vị quan trọng của nhà nước hay các văn bản và hoạt động của tổ chức xã hội được trao chức năng quản lý nhà nước cũng có thể là đối tượng của hoạt động GSTH Hiến pháp.

Ở một khía cạnh khác, GSTH Hiến pháp được địnhnghĩa là bất kỳ hành động tư pháp nào liên quan đến việc xem xét một chuẩn mực pháp lýthấp hơn đểphù hợp với mức độcao hơn. Địnhnghĩa này bao gồm cả việc xem xét các hành động lập pháp và hành pháp [110].

Quan niệm khái quát hơn cả đó là: Giám sát thực hiện Hiến pháp là sự đánh giá về tính hợp hiến của luật pháp. Nó được cho là một hệ thống các hoạt động nhằm ngăn ngừa sự vi phạm các QCN do hiến pháp ban hành, đảm bảo sự hiệu quảvà ổn định[108, tr.12]. Giám sát thực hiện Hiến pháp được hiểu theo nghĩa bao trùm hơn là kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi của các định chế chính trị được ấn địnhtrong Hiến pháp, nhưng ý nghĩa cốt lõi của nó vẫn là kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi lập pháp [57, tr.12].

Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng: Giám sát thực hiện các quy định của hiến pháp về BĐQCN là hoạt động của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của Hiến pháp, pháp luật nhằm xem xét và xử lý những vấn đềliên quan đến tính hợp hiến của các văn bản và hành vi thực hiện các quy định của Hiến pháp về QCN để bảo đảm nguyên tắc tính tối cao và bất khả xâm phạm của Hiến pháp, bảo đảm QCN, quyền công dân.

2.1.3. Đặc điểm của giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp vềbảo đảm quyền con người

2.1.3.1. Về chủ thể giám sát

Chủ thể GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN khá đa dạng. Tùy theo các mô hình GSTH Hiến pháp, chủ thể GSTH các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN có thể làngười đứng đầu nhà nước, nghị viện, chính phủ, tòa án có thẩm quyền chung, cơ quan chuyên môn như Tòa án Hiến pháp hay Hội đồng Bảo hiến.

Nhóm chủ thể thứ nhất: Tổng thống, Nghị viện, Chính phủ hay cơ quan trực thuộc (không phải là cơ quan tư pháp). Những cơ quan này thực hiện hoạt động giám sát hiến pháp mang màu sắc chính trị vì đây chính là những cơ quan chính trị, được thành lập theo nhiệm kỳ bằng phương pháp bầu cử hay bổ nhiệm [2]. Với

35

phương pháp này, một cuộc bầu cử mới, một nhiệm kỳ mới sẽ làm thay đổi một phần hay toàn bộ thành phần của cơ quan, kéo theo hệ lụy là những quyết định chính trị sẽ được thực hiện theo lăng kính của nhân sự mới. Có thể lấy Pháp là một ví dụ. Theo Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 1799 và 1852, thẩm quyền giám sát Hiến pháp được trao cho Thượng viện. Nhưng theo tinh thần của Hiến pháp mới 1958, Ủy ban giám sát Hiến pháp bao gồm Tổng thống, chủ tịch hai viện và 10 thành viên khác do Tổng thống là Chủ tịch, trong số đó có 7 người do Quốc hội (Hạviện) bầu và 3 người là do Hội đồng Cộng hòa (Thượng viện) bầu [2].

Một số quốc gia áp dụng mô hình chủ thể giám sát hiến pháp là các cơ quan chính trị thường có sự phân biệt quyền lập hiến và quyền lập pháp, trong đó cơ quan GSTH Hiến pháp là cơ quan lập hiến. Tuy nhiên, việc trao thẩm quyền GSTH Hiến pháp cho cơ quan chính trị, đặc biệt là cơ quan chính trị dân cử hiện tại đã bộc lộnhiều điểm lỗi thời và ít được áp dụng ở các nước trên thế giới. Bởi lẽ, với tư cách là một cơ quan chính trị, sự kiểm soát dễ sai lạc vì cơ quan này nghĩ nhiều đến lợi ích của đạo luật, tính hợp thời cũng như giá trị thực tiễn của nó. Cơ quan chính trị có xu hướng xem xét vấn đề GSTH Hiến pháp trên khía cạnh chính trị hơn là pháp lý. Hơn nữa, với tư cách là một hoạt động mang tính chuyên môn khá cao, GSTH Hiến pháp phát hiện những hành vi vi phạm Hiến pháp đòi hỏi phải được thực hiện bởi những người có kiến thức chuyên môn, am hiểu nghiệp vụ tư pháp. Thực tiễn ở một số quốc gia theo mô hình trao quyền GSTH Hiến pháp cho cơ quan dân cử, trong đó có Việt Nam, hiệu quả của nó trong việc thực hiện nhiệm vụ này rất khiêm tốn.

Nhóm chủ thể thứ hai: các cơ quan tư pháp. Có hai mô hình phổ biến của loại hình này: đó là Tòa án thường và Tòa án Hiến pháp. Theo mô hình của Mỹ, hệthống Tòa án – cơ quan nắm quyền lực tư pháp – được giao trọng trách GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN, có thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật. Theo lý thuyết của mô hình này, tính độc lập tuyệt đối trong nguyên tắc tam quyền phân lập phải được đảm bảo. Mô hình này cho phép các tòa án được nhà nước thành lập đểgiải quyết các vụ án phổ thông thuộc lĩnh vực dân sự, hành chính, hình sự và đảm nhiệm việc thẩm tra vi hiến [9]. Như vậy, Tòa án tối cao liên bang chỉ có thẩm quyền GSTH các vụ án cụ thể chứ không phải các VBQPPL mang tính trừu tượng. Và rõ ràng là, thẩm quyền giám sát các quy định của Hiến pháp vềBĐQCN được trao cho nhánh các cơ quan tư pháp chứ không thuộc về tòa án nào. Điều đó cho thấy, nếu xét thấy một đạo luật là vi phạm quy định của Hiến pháp về

36

BĐQCN thì tất cả các tòa án trên lãnh thổ Hoa Kỳ đều có quyền từ chối áp dụng đạo luật đó. Xét trên khía cạnh kiểm soát quyền lực, tòa án Mỹ trở thành đối trọng quan trọng của cơ quan lập pháp và hành pháp.

Theo mô hình của nhiều nước châu Âu, Tòa án Hiến pháp được thành lập và là chủ thể có thẩm quyền GSTH các quyết định của Hiến pháp về BĐQCN hiệu quả. Điển hình của mô hình này là nước Đức. Theo đó, nếu tòa án chuyên trách cho rằng một văn bản pháp luật đi ngược lại quyền cơ bản thì sẽ liên hệ với tòa án Hiến pháp đểkiểm tra tính hợp hiến. Nhưng họ không có quyền hủy hay không công nhận giátrịHiến pháp mà chỉ tòa án Hiến pháp mới có quyền đó. Với tranh chấp liên quan đến Hiến pháp thì Tòa án Hiến pháp xem các quyết định của cơ quan công quyền có hợp hiến hay không, kiểm tra việc sử dụng pháp luật có phù hợp với hiến pháp hay không. Tòa án hiến pháp là nơi xác định cơ quan lập pháp có vi phạm hiến pháp hay không, có quyền yêu cầu cơ quan lập pháp ra phán quyết khác nếu phán quyết đó vi phạm các quy định của Hiến pháp về BĐQCN. Trong nhiều trường hợp tòa án hiến pháp không ra phán quyết mà yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền khác có sự điều chỉnh sao cho hợp hiến, tòa không được phép đưa ra các vấn đềchính trị xã hội có ảnh hưởng tới trách nhiệm của cơ quan lập pháp mà hỏi ý kiến những cơ quan đó. Họcũng không được gợi ý, phân biệt đối xử với bất cứ đối tượng nào để tác động tới cơquan lập pháp. Có thể nói, đây được coi là mô hình thành công đặc biệt là ở Đức. Sau 1949, mô hình này được học hỏi và thành công ở nhiều nước trên thế giới.

2.1.3.2. Về đối tượng giám sát

Đối tượng giám sát chính là “cái” mà hoạt động giám sát nhằm vào, tác động vào [21, tr.27]. Đối tượng của GSTH các quy định của hiến pháp về BĐQCN là các VBQPPL có nội dung và mục đích BĐQCN do các cơ quan có thẩm quyền ban hành, cũng như hoạt động của cơ quan, nhà nước, cá nhân chịu sự giám sát trong việc cụ thể hóa các quyền hiến định trong Hiến pháp và pháp luật. Nhìn chung, GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN có đối tượng chính như sau:

Thứ nhất, các VBQPPL có liên quan đến QCN có hiệu lực thấp hơn Hiến pháp. Nội hàm của khái niệm GSTH các quy định Hiến pháp về BĐQCN có nghĩa là xem xét sự phù hợp của luật với các quy định về QCN trong Hiến pháp. Đây là đối tượng giám sát quan trọng nhất và cũng chính là lí do ra đời CCPL GSTH Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1803 với việc trao thẩm quyền cho các Tòa án xem xét tính hợp hiến của các đạo luật. Có thể nhận thấy, các VBQPPL phải có nội dung phù hợp với

37

các điều khoản hiến định. Điều đó góp phần đảm bảo tính hợp hiến của các đạo luật và các VBQPPL khác. Tuy nhiên, trong thực tiễn, có hai tình huống xảy ra: Một là, các cơ quan có thẩm quyền ban hành những VBQPPL có những quy địnhkhông phù hợp với những điều khoản hiến định về QCN; Hai là, hành vi không ban hành những văn bản theo quy định của Hiến pháp về BĐQCN. Bằng việc giám sát các đối tượng này, cơ quan có thẩm quyền GSTH Hiến pháp sẽ loại trừ, vô hiệu hóa VBQPPL được ban hành không phù hợp hoặc trái với các quy định của Hiến pháp về BĐQCN hoặc ra quyết định để cơ quan phải ban hành VBQPPL theo thẩm quyền mà Hiến pháp đã quy định [70, tr.40].

Thứ hai, sự phù hợp giữa các VBQPPL trong nước với các điều ước quốc tếvề QCN mà quốc gia đó tham gia, ký kết hoặc gia nhập. Khi quốc gia tiến hành tham gia, ký kết hoặc gia nhập một điều ước quốc tế về QCN, quốc gia thành viên phải có trách nhiệm nội luật hóa những nội dung của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia. Ở một số nước quy định rõ ràng trong trường hợp các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia có quy định khác nhau thì ưu tiên áp dụng pháp luật quốc tế. Trong trường hợp này, việc nội luật hóa là trách nhiệm của quốc gia. Nhưng điều đó không tránh khỏi những sự mâu thuẫn giữa hai hệ thống pháp luật vì những lí do khác nhau. Trách nhiệm của GSTH Hiến pháp còn phải xem xét tính phù hợp của các văn bản pháp luật này. Tuy nhiên, không loại trừ tình huống đặc biệt: chính bản thân điều ước quốc tế có nội dung trái với các quy định của Hiến pháp về BĐQCN của quốc gia thành viên. Một số quốc gia đã xác địnhtình huống này trong Hiến pháp. Ví dụ Hiến pháp Tây Nam Nha năm 1978 quy định;”Việc ký kết điều ước quốc tế bao hàm những điều khoản trái với Hiến pháp nàychỉđược tiến hành sau khi sửa đổi Hiến pháp” (Điều 95). Cộng hòa Pháp cũng quy định tương tự trong Hiến pháp năm 1958 của mình: “Trong trường hợp Hội đồng bảo hiến, theo đề nghịcủa Tổng thống Cộng hòa hoặc của Thủ tướng Chính phủ hay một trong hai viện của Nghị viện, tuyên bố rằng điều ước quốc tế bao hàm những điều khoản trái với Hiến pháp, thì việc quyết định đưa điều ước quốc tế đó ra phê chuẩn hay phê duyệt chỉ được tiến hành sau khi sửa đổi Hiến pháp” (Điều 54).

Thứ ba, hành vi của những người giữ các vị trí quan trọng của nhà nước:

Tổng thống, Thủ tướng Chính phủ, thành viên của Chính phủ, thẩm phán tòaán… Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, đây cũng chính là những chủ thể có thẩm quyền GSTH các quy định của Hiến pháp về BĐQCN. Hành vi vi phạm các quy định của

38

Hiến pháp về BĐQCN của các cá nhân có thẩm quyền bao gồm: ban hành văn bản pháp luật không phù hợp hoặc trái với các điều khoản hiến định về QCN; hành động nhân danh nhà nước ngăn cản hoặc hạn chế hoặc không thực hiện việc bảo đảm quyền và tự do hiến định của công dân.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\CƠ CHẾ PHÁP LÝ GIÁM SÁT THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA HIẾN PHÁP VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Cơ chế pháp lý giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam Cơ chế pháp lý giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam Cơ chế pháp lý giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *