CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Hôn nhân và gia đình làyếutốnềntảngđểduy trì, phát triển xãhộiloài người, Mác đã chỉ ra rằng những trật tự xã hội, trong đó có những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trìnhđộphát triểncủagia đình [14, tr.22]. Trậttựgia đình cóýnghĩa căn bản trong việc tạo lập và duy trì trật tự xã hội nên dưới bất cứ một chế độ nào, trật tựnày khôngchỉlàđốitượngbảovệcủacác quy phạmđạođức,màcảquy phạm pháp luật, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lạimới thành xã hội, gia đình tốtthì xã hội mớitốt, xã hội tốtthì gia đình càngtốthơn, hạtnhân của xã hội là gia đình. Chính vì vậy, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải chú ý hạt nhân cho tốt” [100]. Chính vì vậy, Đảng và Nhànước ta luôn xácđịnhhôn nhân là cơsởcủagia đình, gia đình làtếbào củaxã hội, là cái nôi nuôidưỡngcon người, là môi trường quan trọngđểhình thành và giáo dục nhân cách công dân, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệTổquốc. Trên cơsởđó,các bản hiến phápcủanước tatừnăm 1946đếnnayđều khẳng định vai trò bảo hộ hôn nhân và gia đình của Nhà nước [84, 74, 76, 78].
Trên cơ sở Hiến pháp, luật hình sự với chức năng bảo vệ đã góp phần quan trọng vào việc duy trì, phát triển quan hệhôn nhân và gia đình (HNGĐ) tiến bộtrong xã hội ta. Bộluật hình sự(BLHS) năm 1999 đã đượcsửa đổi, bổsung năm 2009 (sau đâygọitắtlà BLHS năm 1999) đãdành hẳn một chương riêngđểquyđịnh về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ với 07 điều luật quy định về các tội xâm phạmchếđộHNGĐ, làm cơ sởđểtrừngtrịngười có hành vi xâm phạm quan hệHNGĐ ởmức độcao, thông qua đónâng cao hiệu quảphòng ngừa loại tộiphạm này. Cùng với Hiến pháp, đạoluậtvềHNGĐ và các đạo luật có liên quan khác, BLHS đã góp phần tích cực trong việc bảo vệ và tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của các quan hệ HNGĐ XHCN với các nguyên tắc tiến bộ như hôn nhân tự nguyện, bình đẳng, một vợ một chồng…
1
Mặc dù pháp luật hình sựcó vai trò quan trọng trong việc bảo vệvà phát triển các quan hệHNGĐ song trong quá trình thực thi pháp luật, một sốquyđịnh của BLHS năm 1999 và của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự khác về các tội phạm xâm phạm chế độ HNGĐ còn chưa rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu không thống nhất và khó áp dụng. Trong xã hộivừa mới xuất hiện một sốhành vi nguy
hiểm xâm hại một cách đáng kể đến các quan hệ HNGĐ nhưng chưa được tội phạm hóa là sựtiềm ẩn những nguy cơ đe dọa đến chếđộHNGĐ, đe dọa sựphát triển lành mạnh của các tế bào xã hội. Một số tội xâm phạm chế độ HNGĐ quy định hình phạt chưa tương xứng với tính chất và mức độnguy hiểm của hành vi phạm tội, chưa có sự phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS) và chưa bảo đảm nguyên tắc công bằng củaluật hình sự. Bên cạnh đó, cách quyđịnhvềcác tộixâm phạm chếđộHNGĐ trong một sốđiều luật còn mắc những lỗi kỹthuật không đáng có, chưa xứng tầm với vai trò xương sống trong hệ thống pháp luật Việt Nam của BLHS.
Trong đời sống pháp luật đã bộc lộ một số hạn chế, yếu kém về năng lực của cán bộtrong việc thực thi pháp luật, khiến tình hình tội phạm vềHNGĐ có chiều hướng tiếp tục gia tăng trong khi thực tiễn xử lý hình sự lại không đáng kể. BLHS vì thế mà mất đi tính răn đe và phòng ngừa, người phạm tội trở nên coi thường pháp luật, gây giảm sút sự tin tưởng của nhân dân đối với Nhà nước.
Trong khoảng thời gian 16 nămkểtừkhi BLHS năm 1999 được ban hànhđến nay, Việt Nam đã tham gia thêm nhiều tổ chức quốc tế, trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tếđa phương và thiết lập quan hệhợp tác song phương với nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là nhu cầu tất yếu của các quốc gia trước xuthếhội nhập quốc tếtrên mọi phương diện, đặc biệt là phương diện phòng, chống tội phạm và bảo vệquyền con người. Trong khi đó, các quyđịnh của Bộluật nàyvềcác tội xâm phạm chế độ HNGĐ vẫn không có gì thay đổi, mặc dù BLHS đã từng được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Hiến pháp Việt Nam năm 2013, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộluật Dân sự năm 2015 là những đạo luật quan trọng có tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực HNGĐ khiến các quy định của BLHS năm 1999 và những văn bản quy phạm
2
pháp luật hình sự hiện hành về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ không còn phù hợp nữa. Thêm vào đó, BLHS năm 2015 vừa được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội trong thời kỳ mới, tuy nhiên, những quy định của BLHS này về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ chưa khắc phục triệt để được sự bất cập của những quyđịnh tương ứng trong BLHS năm 1999, do đó cần được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện nhằmđápứng đượcđòi hỏi vềtính thống nhất trong một chỉnh thểcủa hệthống pháp luật Việt Nam.
Nhiệm vụ cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 củaBộChínhtrịvề”Mộtsốnhiệm vụtrọng tâm trong công tác tưpháp trong thời gian tới” và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đòi hỏi phải hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp. Theo đó, những quy định của luật hình sự về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ cần được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện, đáp ứng yêu cầuđềcao hiệuquảphòng ngừa, tăngcườngtính hướng thiện trong việcxửlý người phạm tội, đồng thời tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinhtế- xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốctế
đầy đủ
Xuất phát từ những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh khẳng định việc lựa chọn đềtài “Các tội xâm phạmchếđộhôn nhân và gia đình theo luật hình sựViệt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ nhằm tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ là hoàn toàn cấp thiết, phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, trở thành công cụ hữu hiệu trong đấu tranh phòng vàchống các tội xâm phạm chế độ HNGĐ, góp phần bảo vệ trật tự xã hội và sự phát triển lành mạnh của các quan hệ HNGĐ.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận án làm sángtỏnhữngvấnđềlý luậnvềcáctộixâm phạmchếđộ
3
HNGĐ trong pháp luật hình sự; trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hìnhsựhiện hành và thực tiễn áp dụng,đềxuất tiếptụchoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về những quyđịnhcủa pháp luật hình sự Việt Nam vềcác tội xâm phạm chế độ HNGĐ; những vấn đề lý luận liên quan và thực tiễn xét xử10 nămtrởlại đâyđốivới các tội xâm phạm chếđộHNGĐ ởViệt Nam; và kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thế giới về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ.
4. Phạm vi nghiên cứu
Dưới cách tiếp cận của luật hình sự, luận án xác định phạm vi nghiên cứu lànhững vấn đềvềtội phạm, hình phạt cũng như các vấnđềliên quan đến việc xây dựng và thực thi pháp luật hình sựđốivớicác tội phạm trực tiếp xâmhạichếđộ
HNGĐ. Các nội dung về xã hội học, tội phạm học và tố tụng hình sự… không phải là phạm vi nghiên cứucủa đềtài, nhưng luận án cũng vẫn sửdụng khi giải quyết các vấn đề của luật hình sự có liên quan.
Việc nghiên cứu so sánh với pháp luật nước ngoài về các tội xâm phạm chếđộ HNGĐ chỉ nhằm mục đích tham khảo và tăng cường tính thuyết phục cho những lập luận phân tích, đánh giá hoặc kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam. Ngoài ra, việc nghiên cứu vềthực tiễn xétxửcác tội xâm phạm chếđộHNGĐ ở
Việt Namđược giới hạn trong khoảng thời gian từ2006-2015 nhằm tổng kết thực tiễn, làm cơ sở cho những kiến nghị tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong việc xử lý các tội phạm này.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học, Luận án làm sáng tỏ một số khái niệm như chế độ HNGĐ, các tội xâm phạm chế độ HNGĐ, đồng thời phân tích cơ sở của việc quy định các tội xâm phạmchếđộHNGĐ trong luật hình sự. Luận án cũng phân tích và chỉra những đặc điểmpháp lý đặc trưng của các tội xâm phạmchếđộHNGĐ theo quyđịnh của BLHS Việt Nam năm 1999 và làm rõ sự khác biệt của nhóm tội phạm này
so vơi với một số tội phạm khác có liên quan…
4
Luận án sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về lịch sử lập pháp đối với các tội xâm phạm chế độ HNGĐ một cách đầy đủ và có hệ thống về trình tự thời gian, phác họa một bức tranh tổng thể về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ trong lịch sử
lập pháp hình sự Việt Nam nhằm phân tích và chỉ rõ những giá trị kế thừa cần hoặc nên tiếp tục áp dụng trong lập pháp hình sựvà trong áp dụng pháp luật hình sựởnước ta hiện nay.
Mặt khác, thực trạng về các tội xâm phạm chế độ HNGĐsẽ được đánhgiá và phân tích trên cơ sở số liệu của 10 năm trở lại đây được lấy từ những nguồn thông tin đáng tin cậy. Những consốđó sẽmô phỏng mộtcách chân thựcvềthực tiễnđấu tranh vàxửlý nhómtộiphạm này. Thêm vào đó,việc nghiêncứuso sánhvớiluật hình sự của một số nước được lựa chọn trên cơ sở sự khác biệt hoặc tương đồngvềvăn hóa, kinh tế-chính trị và trình độ phát triển nhằm củng cố những cơ sở khoa học và lý luận cho việc kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, trước tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế-xã hội, việc nghiên cứu và đề xuất những kiến giải hoàn thiện pháp luật hình sự nước nhà luôn có ý nghĩa thiết thực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ được đưa ra trên cơ sở: phân tích về những cơ sở lý luận và thực tiễn; phân tích bài học kinh nghiệm từ lịch sử vànước ngoài; phân tích đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, bản chất và tính chất nguy
hiểm của tội phạm; phân tích về thực trạng 10 năm đấu tranh xử lý tội phạm… nên sẽ bảo đảm có tính thuyết phục và khả thi cao.
Bên cạnh đó, luận án sẽbổsung và góp phần làm phong phú thêm tư liệu nghiên cứu về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ ở Việt Nam. Luận án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Việt Nam trong việc sửa đổi, bổ sung, giải thích, hướng dẫn và áp dụng những quy định pháp luật về các tội xâm phạmchếđộHNGĐ. Đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cần thiết cho sinh viên luật, cho những người công tác giảng dạyluật, những người quan tâm nghiên cứu về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ ở Việt Nam
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Các tội xâm phạmchếđộHNGĐ là một trong những loại tội phạm có tính chất truyền thống và có tính ổn định cao trong các chế độ xã hội, ở các quốc gia. Vìvậy, việc nghiên cứu các tội xâm phạm chế độ HNGĐ đến nay đã có bề dày lịch sử, được các học giả Đông, Tây ở các thời kỳ lịch sử quan tâm nghiên cứu.
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài
1.3. Những vấn đề luận án tập trung giải quyết Luận án sẽ tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
– Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ thông qua việc phân tích các đặc điểm và xây dựng khái niệm chế độ HNGĐ, khái niệm các tộixâm phạmchếđộHNGĐ; phân tích những cơsởcủaviệc quyđịnhcáctộixâm phạm chế độ HNGĐ trong luật hình sự;
-Hệthống hóa và phân tích, đánh giá các quyđịnh của pháp luật hình sựViệt Nam về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ trong suốt quá trình lịch sử từ thời kỳphong kiến đến nay; nghiên cứu so sánh các quy định của luật hình sự một số nước trên thếgiới nhằm tìm kiếm những bài học kinh nghiệm lập pháp vềcác tội xâm phạm chế độ HNGĐ;
– Phân tích và làm sáng tỏ những đặc điểm pháp lý đặc trưng của nhóm tội xâm phạm chế độ HNGĐ theo quy định của BLHS năm 1999.
– Phân tích số liệu thực tiễn xét xử 10 năm đối với các tội xâm phạm chếđộ HNGĐ để đánh giá thực trạng về các tội phạm này, trên cơ sở đó phân tích vàchỉrõ nhữngvướngmắctrong quá trình thực thi pháp luật và tìm ra những nguyên nhân cơ bản;
– Đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạmchếđộHNGĐ dựa trên những cơsởvềmặt lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm lập pháp đã được nghiên cứu, đồng thời đề xuất những giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ.
1.4. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Nội dung nghiên cứu
Luận án ngoàiPhần mở đầu,Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, thì gồm có bốn chương với các nội dung cụ thể như sau:
– Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
– Chƣơng 2: Những vấn đề lýluận về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân vàgia đình
– Chƣơng 3: Pháp luật hình sựViệt Namvềcác tội xâm phạm chếđộhôn nhân và gia đình
– Chƣơng 4: Thực tiễn xét xử và việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về bảo vệ chế độ HNGĐ.
Phương pháp luận nghiên cứu của luận án làchủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các quy luật và các phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử được vận dụng để nghiên cứu các tội xâm phạm chế độ HNGĐ, xem xét chúng trong mối liên hệ phổ biến với các hiện tượng và quá trình xã hội, trong mối quan hệ nhân quả của các hiện tượngđó, về khả năng có thể và khả năng hiện thực ngăn chặn, phòng ngừa các tội phạm này trên phương diện pháp lý hình sự.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận án là:
– Phương pháp phân tích được dùng đểphân chia vấn đềchung là các tội xâm phạm chếđộHNGĐ thành nhữnglớpvấn đềnhỏdần (chẳng hạn: từvấn đề chung chia thành các cụm vấn đề về lý luận, về các quy phạm pháp luật cụ thể, vềthực tiễn, sau đó từ mỗi cụm vấn đề đó lại tiếp tục chia nhỏ hơn nữa thành những vấn đềvềkhái niệm,đặc điểm…) đểnghiên cứu một cách chi tiết và toàn diện vềcác tội xâm phạm chế độ HNGĐ theo luật hình sự Việt Nam.
– Phương pháp tổnghợpđểtóm lượcmộtcách khái quát tất cảnhững vấn đềnhỏđãđượcchia rađểnghiên cứu. Phương pháp nàyđượcsửdụngđểxây dựng các khái niệm sau khiđãphân tích cácđặcđiểm củađốitượng, và cũngđượcsửdụngđểrút ra nhữngkếtluậnvềmộtvấnđềsau khiđãphân tích một cách đầy đủ về vấn đề đó.
– Phương pháp thống kê xã hội học được vận dụng trong quá trình đánh giásốliệu vềcác vụán vềcác tội xâm phạmchếđộHNGĐ đã được xét xửsơ thẩm trên địa bàn cả nước nhằm phác họa bức tranh về thực tiễn thực thi pháp luật hình sự về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ.
– Phương pháp hệ thống được dùng nghiên cứu về lịch sử lập pháp của các tội xâm phạm chế độ HNGĐ ở Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến nay.
– Phương pháp so sánh được dùng khi đánh giá sự khác biệt hoặc tương đồng giữa các quy phạm pháp luật về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ, bao gồm so sánh các quy phạm pháp luật hình sự của nước này với nước khác, so sánh các quy phạm
pháp luật hình sựViệt Namởgiai đoạn lịchsửnày với giai đoạn lịch sửkhác… Phương pháp này còn được vận dụng khi so sánh các số liệu xét xử theo từng năm của các vụ án hình sự về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ.
– Phương pháp lịch sử cụ thể xem xét các quy định của pháp luật hình sự vềcác tội xâm phạm chế độ HNGĐ trong những điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể ở từng giai đoạn lịch sử nhất định để bảo đảm tính khách quan, tránh việc áp đặt khi đánh giá về lịch sử pháp luật.
Bên cạnhđó,mộtsốphương pháp khácđược sửdụng lồng ghép trong quá trình thực hiện luận án như: phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp logic…

Kết luận Chƣơng 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy các tội xâm phạm chế độ HNGĐ đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau. Điều đó phản ánh sự quan tâm của các nhà khoa học trong và ngoài nước đối với nhóm tội phạm này, đồng thời giúp nghiên cứu sinh tiếp cận được những kiến thức đa chiều về các vấn đề pháp lý, các vấn đề lý luận hoặc thực tiễn liên quan đến các tội xâm phạm chế độ HNGĐ.
Kết quả nghiên cứu của Chương 1 cho phép khẳng định, việc nghiên cứu các tội xâm phạm chế độ HNGĐ theo luật hình sự Việt Nam một cách đầy đủ và sâu sắc tương đươngvới cấp độ của một luận án tiến sĩ thì chưa có bất cứ một công trình nào được công bố tính đến nay. Những kết quả này chính là cơ sở cho việc xác định rõ ràng về các nhiệm vụ nghiên cứu với các nội dung nghiên cứu cụ thể cầm phải được triển khai ở các chương tiếp theo.
Bên cạnh đó, kết quảnghiên cứu của Chương 1 cũngđồng thời là cơ sở đểxác định các phương pháp nghiên cứu phù hợp và hiệu quả, bảo đảmgiải quyết được trọn vẹn cácnhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra.
23
Chƣơng 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀCÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾĐỘ
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
2.1. Khái niệm chế độ hôn nhân và gia đình và các tội xâmphạm chế độhôn nhân và gia đình
2.1.1. Khái niệm chế độ hôn nhân và gia đình
Gia đình là một phạm trù xuất hiện rất sớmtrong lịch sửloài người, được dùng để chỉ tập hợp các cá nhân có mối liênhệ gắn bómật thiết với nhau bởi những ràng buộc vềhôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡngtạothành một đơn vịcộngđồng tổ chức đời sống xã hội.
Theo quanđiểm duy vật, nhân tốquyết địnhtrong lịch sửsuy cho cùng làsản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Bản thân sự sản xuất đó lại được chia thành hai loại: sản xuất tư liệu sinh hoạt và sản xuất ra bản thân con người. Sản xuất tư liệu sinh hoạt là sản xuất ra của cải, vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và sản xuất ra những công cụ cần thiết để làm ra những thứ đó. Sản xuất ra con người chính là sựtruyền hậu duệ, bảo tồn giống nòi. “Những trật tựxã hội, trong đó có những con ngƣời của một thời đại lịch sửnhất định và của một nƣớc nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một là do trình độphát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình” [14, tr.22]. Gia đình vừa là nhântố tồn tại vàphát triển của xã hội, đồng thời cũng là cơ sở cho sựtồn tại và phát triển của xã hộ
vong một cách không thể tránh khỏi.
ội sẽ tự thoái hóa và tiêu
Thực tế đã chứng minh không môi trường nào có ảnh hưởng nhiều đến hành vi của các cá nhân như gia đình. Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và quan trọng đối với mỗi con người. Sự tương tác, thói quen ứng xử trong sinh hoạt hằng
24
ngày và trong các mối quan hệ xã hội khác có sự tác động sâu sắc tới nhận thức và hành vi của mỗi thành viên trong gia đình. Nhân cách của con người, phẩm chất của công dân phần lớn chịu ảnh hưởng từ sự giáo dục của gia đình.
Gia đình cũng là một đơn vịkinhtếdướihình thức sản xuất (nông nghiệp, thủcông nghiệp, kỹnghệ, kinh doanh thương mại…) hoặc tiêu dùng (mua vàsửdụng chủ yếu các sản phẩm do nền kinh tế sản xuất ra). Ngoài ra, gia đình cũng là một động lực khuyến khích sựtiết kiệm và tích lũy của cải, vì một người có gia đình sẽ có rất nhiều động cơ để tiết kiệm và tích lũy như để dành vốn cho con,để
tạo đà phát triển kinh tế chung của gia đình… chứ không tiêu xài hoang phí như một người độc thân. Chính vì thế, gia đình là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Gia đình còn là nơi điều hòa đời sống tâm lý-tình cảm của mỗi cá nhân làthành viên trong gia đình. Gia đình giúp thỏa mãn nhu cầu tình cảmgiữa hai vợchồng, giữa chamẹ vàcon cái, giữa anh chị em với nhau. Gia đình là mái ấm che chở, chỗ dựa vững chãi về mặt tinh thần của mỗi con người, đồng thời là nơi chia sẻ
niềm vui, nỗi buồn – tức là nơi mà nhu cầu tình cảm của con người được thỏa mãn.
Qua những gì đã phân tích ở trên cho phép khẳng định gia đình chính là nền tảng của xã hội, nhiều tế bào gia đình cấu trúc nên cơ thể xã hội và duy trì sự sống cho xã hội. Sự phát triển lành mạnh của xã hội tùy thuộc vào sự khỏe mạnh của các
tế bào gia đình.
Ban đầu, do nhu cầu bảo tồn và phát triển giống nòi, do sự cần thiết phải dựa vào nhau đểsinh tồn, gia đình đã xuất hiện và phát triển qua quá trình lịch sửlâu dài tương ứng với nhiều hình thức như gia đình huyết tộc, gia đình punalua, gia
đình đối ngẫu, gia đình cá thể… Cách tổ chức của các gia đình trên thế giới và trong lịch sử đã phản ánh hai mô hình chính yếu của gia đình. Mô hình thứ nhất theo quan niệm thời kỳcổđại, cảởphương Đông và ởLa Mã tổchức theo quy mô đại giađình, là tập đoàn bao gồm tất cả những người họ hàng thân thích có cùng quan hệ về
huyết thống. Mô hình thứhai theo quan niệm hiện đại thì cảởphương Đông lẫn phương Tâyđều tổchức theo quy mô tiểu gia đình, chỉbao gồm hai vợchồng và
25
các con chưa trưởng thành sống chung với cha mẹ [62, tr.10-11]. Mô hình thứ hai chính là mô hình gia đình hạt nhân trong xã hội hiện đại.
Dù đã tồn tại và phát triển quan nhiều hình thức gia đình khác nhau và được tổ chức theo mô hình lớn hay nhỏ, song gia đình vẫn luôn được hình thành trên cơsở quan hệ tính giao giữa hai người khác giới, gọi là hôn nhân, đó là sự kết hợp giữa
người đàn ông và người đàn bà với mục đích sinh sản đểduy trì nòi giống–một bản năng tất yếu, tự nhiên của bất kỳ loài động vật nào.
Ở thời kỳ mông muội, con người sống theo bầy đàn và duy trì hình thức hôn nhân hỗn tạp gọi là quần hôn: tất cả những người phụ nữ đều là vợ của tất cả những người đàn ông. Lúc này con người chỉ hơn động vật duy nhất một điểm: biết đoàn kết thành tập đoànlớn để cósức mạnh chung và bền vững để tồn tại và phát triển. Sự đoàn kết thể hiện ở việc duy trì chế độ quần hôn mà ở đó những con đực trưởng thành dung thứlẫn nhau, không ghen tuông ích kỷ, không tranh giành con cái với nhau. Đây là hình thức hôn nhân không thấy có ở bất cứ loài nào khác. Con người cũng nhờ đó mà phát triển từ thú vật thành người như ngày nay được [14, tr.60].
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, quy luật của sự phát triển, phù hợp với nguyên tắc chọn lọc tự nhiên, loài người có xu hướng thu hẹp dần phạm vi hôn
nhân – phạm vi quan hệ tính giao. Các hình thức gia đình vì thế mà thay đổi từ gia đình nguyên thủy sang gia đình huyết tộc (xóa bỏ quan hệ tính giao giữa cha mẹ vàcon cái), gia đình punalua (xóabỏquanhệtính giao giữa anhchịemvớinhau), giađình đối ngẫu (chỉ còn từng đôi vợ chồng riêng rẽ, kết hợp với nhau bằng những mối liên hệ hãy còn lỏng lẻo), gia đình cá thể (một vợ một chồng, liên kết chặt chẽ). Và xãhội hiện đại là một khối bao gồm những phân tử là gia đình cá thể [14, tr.51-129]. Cóthể nói, các bước thu hẹp phạm vi hôn nhân và sự phát triển của các hình thức giađình là những cột mốc đánh dấu nấc thang tiến bộ trong quá trình con người thoát ly khỏi cuộc sống bầy đàn, rũ bỏ tư cách là một sinh vật của quần thể để trở thành một cá nhân mang tư cách là một thành viên của xã hội.
Như vậy, hôn nhân banđầulà quanhệtính giao giữangườiđànông vàngườiđànbà, làsựgắnkếthaingườikhác giới thànhvợchồngcủanhau. Trên
26
nềntảng này, gia đình–đơnvịxãhộiđượchình thành, nó khôngchỉgây dựng cuộc sống của các thành viên thông qua lao động, sản xuất, sinh con đẻ cái mà còn thực hiện các chức năng xã hội. Trong quá trình này, các thành viên trong gia đình luôn có nhu cầu gắn bó, quan hệ với nhau nên nếu mắt xích hôn nhân vì lý do nàođó màđứt đoạn thì các mối liên hệ trong gia đình ngay lập tức trở nên lỏng lẻo, vànhữngđứacon trong gia đìnhđó luôn là thành viên gia đình thiệt thòi nhất. Khi nghiên cứu vềquy luật này, Monteskiơ đã chỉra, sựthiệt thòi củaviệc đứt đoạn “dành” chủ yếu cho thế hệ tương lai vì sự ly hôn “nó chỉ thuận đối với anh chồng vàchịvợthôi, chứđốivới con cái thì chẳng bao giờlà thuận cả!”[31, tr.142]. Mặt khác, tình cảm và trách nhiệm của người cha, người mẹ với các con và với tổ ấm củamìnhlạilàđộnglựcthắt chặt quanhệhôn nhân. Quađócóthểkhẳngđịnh HNGĐ có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ hữu cơ và tác động qua lại với nhau. Với tính chất là tiềnđềcơsở,hôn nhân quyếtđịnhsựbềnchắc và chấtlượngcuộc sống của gia đình, sự thay đổi và tiến bộ trong quan hệ hôn nhân quyết định sự phát triển của các hình thức gia đình; ngược lại gia đình là động lực gia tăng sức gắn kết của hôn nhân, gia đình là nơi sản sinh ra những chủ thể của các cuộc hôn nhân mới, là cái nôi nuôi dưỡng và tạo nên những cá nhân có trách nhiệm với hôn nhân của chính mình. Vì thế, HNGĐ là mộtchỉnhthểthống nhất mà nhiều khichỉgọitên yếu tố này đã bao hàm yếu tố kia và ngược lại.
Giống nhưmọisựvật và hiệntượngkhác trongthếgiớitựnhiên, HNGĐcũng chứađựngnhững khuynhhướngđốilậptạothành những mâu thuẫn trong bản thân nó. Không phải lúc nào hôn nhân cũng là sự kết hợp giữa hai người khác giới và không phải lúc nào gia đình cũng bao gồm tập đoàn người gắn bó với nhau do hôn nhân, do quanhệhuyết thống, hoặc do quan hệnuôi dưỡng đểthực hiện chức năng sinh sản, giáo dục, kinh tếhay tâm lý-tình cảmtheo đúng lý thuyết vàquan niệm truyền thống.
Theo truyền thống và quy luật tựnhiên, gia đình thường được hình thành trên cơ sở hôn nhân giữa người đàn ông và người đàn bà không cùng trực hệ huyết thống, sự kết hợp ấy tạo nên động lực cho sự phát triển giống nòi và sự phát triển
27
của xã hội nói chung. Tuy nhiên trong một sốtrường hợpngoại lệ,có những gia đình gây ra trởlực kìm hãmsựphát triển giống nòi khi đó là gia đình được hình thành trên cơ sở hôn nhân của hai người có cùng huyết thống hoặc cùng giới tính. Hoặc có những gia đình không thực hiện chức năng sinh sản vì căn bệnh vô sinh, hoặc vì hai vợ chồng không muốn sinh con. Ngoài ra còn khá nhiều hình thức giađình ngoại lệ (không phổ biến) khác như gia đình của bà mẹ đơn thân, gia đình của những người nhận con nuôi, gia đình của những người đồng giới (đối với quốc gia
công nhận nhận hôn nhân đồng tính)… Các gia đình ngoại lệnàyđều không thực hiện đầy đủ những chức năng của gia đình theo cách hiểu truyền thống, đặc biệt làchức năng tái sản xuất ra con người, do đó sẽ không bảo đảm cho sự phát triển bền vững của xã hội.
Mặc dù có những trường hợp ngoại lệ song các quan hệ HNGĐ trong xã hội vẫn phải đảm nhiệm chức năng duy trì, phát triển nòi giống, tạo lập cơ sở xã hội. Dođó, Nhà nước đã dùng chính sách, pháp luật để loại bỏ, hạn chế các ngoại lệ ấy, bảo đảm và định hướng phát triển cho các quan hệ HNGĐ truyền thống.
HNGĐ là hiện tượng xã hội nhưng mang đặc tính tự nhiên, là sự vận động tất yếu của quá trình phát triển nhân loại. Quá trình này dần được định dạng dựa trên luân thường đạo lý được xã hội thừa nhận chung, phù hợp với nhu cầu của xã hội và phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên. Khi xuất hiện, Nhà nước đã dùng pháp luật can thiệp vào quá trình phát triển HNGĐ theohướngdầntiếnbộ,phùhợp với quy luật tự nhiên và bảo đảm lợi ích của giai cấp thống trị bằng các biện pháp cưỡng chế theo triết lý “ngƣời làm luật không làm ra luật, không sáng chế ra các luật lệ mà chỉ hình thức hóa chúng” [109, tr.14]. Theo đó, Nhà nước ban hành chính sách và pháp luật định hướng các quan hệHNGĐ phát triển bằng cách ghi nhận, khuyến khích và bảo vệ những quan hệ HNGĐ tiến bộ phù hợp với các quy luật tự nhiên và là động lực cho xã hội phát triển, đồng thời hạn chế và lên án những quan hệ HNGĐ trái quy luật gây ra trở lực kìm hãm sự phát triển của xã hội. Sự ghi nhận, bảo vệ và hạn chế, lên án của Nhà nước bằng chính sách và pháp luật tạo nên
tập hợp các quy tắc ứng xửtrong quan hệHNGĐ mà các thành viên trong xã hội
28
cần phải tuân thủ. Tập hợp các quy tắc ứng xử này bao gồm cả những quy tắc xử sựbắt buộc (quy phạm pháp luật) và những quy tắc ứng xửđược cộng đồng xã hội thừa nhận chung, không trái pháp luật, tạo nên chế độ HNGĐ.
Sở dĩ “chế độ” làphép tắc rõ ràng hay toàn thể những quy định cần phải tuân theo trong một việc nào đó, là cách cai trị của một cộng đồng xã hội, cho nênchế độHNGĐ với nghĩa rộng nhất sẽlà tổnghợpcác chính sách và pháp luật của Nhà nước điều chỉnh quan hệ HNGĐ, bao gồm tất cả những quy phạm pháp luật và các quy phạm xã hội không trái pháp luật về HNGĐ mà mọi thành viên trong xã hội đều phải tuân thủ khi tham gia các quan hệ HNGĐ. Theo đó, chế độ HNGĐ bao gồm cả
các quy phạm pháp luật và các quy tắc đạo đức, tôn giáo, tập quán…
Ở góc độ pháp lý, chế độ HNGĐ bao gồm tất cả các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quanhệxãhộivềHNGĐ,thểhiệnbảnchất chính trị-xãhộicủaquốc gia trong việc thực hiện quản lý nhànướcvềHNGĐ.Vớimỗiquốc gia,chếđộHNGĐ có thể được xác lập trực tiếp bằng một quy phạm định nghĩa hoặc cũng có thểxác lập gián tiếp bằng tập hợp các quy định pháp luật về HNGĐ. Ở Việt Nam, chế độHNGĐđược định nghĩatrực tiếp trong Luật Hôn nhân và gia đình như sau:
Chế độ hônnhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa chamẹvà con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình [85, Điều 3, Khoản 3].
Với định nghĩa pháp lý này, hôn nhân phải là sự gắn kết được pháp luật công nhận, cụ thể là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn; kết hôn là việc nam và nữxác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật HNGĐvề điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn; còn gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệhuyết thống hoặc quan hệnuôi dưỡng. Bằng cách quyđịnh rõràng trong luật, chế độ HNGĐ được Nhà nước bảo vệ để duy trì và phát triển một cách có định hướng.
29
Pháp luật vốn được sử dụng để phối hợp, quy tụ những hoạt động của các cánhân riêng rẽ trong xã hội nhằm đạt được những mục đích mong muốn, duy trì đời sống cộng đồng xã hội [38, tr.12-13]. Ởđây, Nhà nước đã dùng pháp luật đểsắp xếp các quan hệ HNGĐ theo một trật tự hợp lý nhất, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho những quan hệ HNGĐ tiến bộ phát triển. Tuy nhiên, pháp luật không phải là công cụ duy nhất và vạn năngđể có thể điều chỉnhđược tất cả các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực HNGĐ. Nhà nước chỉ dùng pháp luật để can thiệp vàđiều chỉnh những quan hệ HNGĐ quan trọng và cơ bản mang tính quyết định đối sựphát triển lành mạnh của xã hội, còn những quan hệ phát sinh trong từng ngõ ngách của đời sống HNGĐ thì đã có các quy phạm xã hội đảmnhiệm vai trò hỗtrợcho pháp luật thực hiện chức năng điều chỉnh,giúp Nhà nước đạt được mục đíchcai trịtrong lĩnh vực HNGĐ.
Để bảo đảm vai trò hỗ trợ tích cực của các quy phạm xã hội trong điều chỉnh các quan hệ HNGĐ, Nhà nước dùng các chính sách để thừa nhận, bảo vệ và khuyến khích những giá trịtốtđẹp, phù hợp và không trái với các quyđịnhpháp luật của luân thường đạo lý, tôn giáo và phong tục tập quán,đồngthời có những biện pháp ngăn chặn, cấm hoặckỳthị, phê phán những hủtục, quan niệm lạc hậu, trái pháp luật về HNGĐ.
Như vậy, vượt qua khuôn khổ pháp luật, chế độ HNGĐ với nghĩa rộng nhất là tập hợp các quy tắc ứng xử bắt buộc hoặc đƣợc thừa nhận chung mà theo đó, sự
tự do hay hạn chế quyền của mỗi thành viên xã hội trong các quan hệ HNGĐ phụthuộc vào nguyên tắc cai trịcủa nhà nƣớc và phù hợp với các quy luật phát triển của tự nhiên.
Trong đờisống, đểbảođảm chếđộHNGĐ, Nhànướccóthểsửdụngđồng
thời nhiều biện pháp như: kinhtế,giáo dục, văn hóa, phápluật,…trongđópháp luật mới là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất. Thông qua pháp luật, Nhà nước triển khai chính sách phát triển các quanhệHNGĐ; đưa ra các biện pháp xửlý những hiện tượng tiêu cực, xâm hại đến chếđộHNGĐ; thúc đẩy, tạo điềukiện thuận lợi cho sựphát triển bền vững hoặc kìm hãmsựphát triển của các quan hệ
30
HNGĐ nhằm bảo vệ chế độ HNGĐ đã được xác lập. Trên cơ sở đó, bất kỳ hành vi nào xâm hại trực tiếp đến các quan hệ xã hội cơ bản về HNGĐ, đe dọa sự phát triển bền vững của xã hội đều bị coi là vi phạm pháp luật và chủ thể vi phạm sẽ có thểphải chịu trách nhiệm pháp lý về sự vi phạm đó.
2.1.2. Khái niệm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
Để bảo vệ chế độ HNGĐ, Nhà nước sử dụngnhiều biện pháp pháp luật khác nhau, với các loại chế tài được dự liệu để bắt buộc mọi người phải tuân theo. Theo lý luận về pháp luật, mỗi ngành luật có những quy định riêng và chế tài riêng. Luật hình sự là ngành luật quy định và áp dụng những chế tài nghiêm khắc nhất để phòng ngừa và trừng trị những hành vi làm xáo trộn nghiêm trọng trật tự của các quan hệHNGĐ. Vì vậy, để giữ gìn và bảo vệ những quan hệ HNGĐ quan trọng và nòng cốt nhất có tầm ảnh hưởng tới trật tự xã hội chung và có tính quyết định đối với sự phát triển củacáctếbào xã hội, Nhànước đã lựa chọnđểgia tăng tốiđa biện pháp cưỡng chếđối với mộtsốquy phạm pháp luật nhất định vềHNGĐ. “Hình luật làngành luật có tính trừng trị hữu hiệu hơn cả vì nó sử dụng những phương tiện cưỡng bách và thị uy rất mạnh” [87, tr.16], nên Nhà nước chỉ sử dụng đến chế tài hình sựkhi những chế tài của các ngành luật khác không đủ sức ngăn chặn những hành vi vi phạm chế độ HNGĐ. Nghĩa là nếu các chế tài của những ngành luật khác vẫn cònđủ mạnhđể ngănchặn các hành vi vi phạm chế độ HNGĐ thì Nhà nước sẽ không quy định các hành vi ấy là tội phạm ở trong BLHS. Do đó, chế độ HNGĐ được luật hình sự bảo vệ sẽ không bao gồm tất cả các quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên
khác trong gia đình; cấp dưỡng… nhưđịnh nghĩa của Luật Hôn nhân và gia đình, mà được thu hẹp trong phạm vi các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệHNGĐ mang tính nền tảng, cơ bản và quyết định đến sự phát triển ổn định của trật tự xã hội. Những hành vi vi phạm chế độ HNGĐ ở phạm vi hẹp này sẽ bị coi là tội phạm và được quy định trong BLHS thành các tội xâm phạm chế độ HNGĐ và chủthể thực hiện hành vi trong số đó sẽ phải chịu TNHS.
Tộiphạm là một hiện tượng xã hội, tiếp cận tập trung vào cácđiềukiện của
31
năng lực TNHS, GS. TSKH Lê Văn Cảm chỉ rõ: “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hìnhsự,do người có năng lực trách nhiệm hìnhsựvàđủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý)” [21, tr.119]. Tuy nhiên, ởmức độvừa khái quát vừa định hướng dễ ápdụng trong thực tiễn, BLHS Việt Nam năm 1999 định nghĩa:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quyđịnh trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổTổquốc, xâm phạmchếđộchính trị, chếđộkinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [79, Điều 8, khoản 1].
Dựavào tính chất vàđặcđiểm củacác quanhệxãhộicầnđược bảovệbằng luật hình sự, các nhà làm luật phân chia thành những nhóm tội phạm xâm hại đến một số quan hệ xã hội có cùng tính chất, liên hệ qua lại với nhau để quy định trong cùngmộtchương hoặc quyđịnhgầnnhau trongmộtchươngtộiphạm nàođó. Các tội xâm phạm chế độ HNGĐ cũng vậy, mặc dù được quy định trong luật hình sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhưng sự phân nhóm có khi rất rõràng thànhmộtchươngđộclập, song cũng có khichỉmang tính chất tươngđối bằng cáchsắpxếptrong trậttựcácđiềuluậtgầnnhau liên tiếp và chung một chương với các tội phạm khác. Dù cách quy định và phạm vi trấn áp của luật hình sự mỗi nước có khác nhau, nhưng nhìn chung các tội phạm này đều mang những đặc điểm cơ bản như sau:
Thứnhất, cáctộiphạm này là những hành vi nguy hiểm cho xãhộivìchúng vi phạm các nguyên tắc cơ bản của chế độ HNGĐ, gây ra nguy cơ xáo trộn trật tự các quan hệ về HNGĐ mà Nhà nước đã xác lập, chống lại những giá trị tiến bộvềHNGĐ mà loàingườiđãđạt được, và đedọatriệt tiêu động lựcphát triển của xã hội. Đó thường là những hành vi vi phạm các nguyên tắc về điều kiện kết
32
hôn,sựgiớihạnquan hệtính giao, quyền và nghĩavụphát sinh giữa các thành viên trong gia đình hoặc một số quan hệ khác liên quan chặt chẽ đến sự phát triển bền vững của HNGĐ.
Thứhai, cáctộiphạm này là những hành viđãđượctộiphạm hóa trong luật hình sự. Không có tội phạm nếu như không có luật quy định là một nguyên tắccủaluật hìnhsựbấtcứquốc gia nào. Vì thế, các hành vi vi phạmchếđộ
HNGĐ chỉ bị coi là tội phạm nếu đã được quy định cụ thể ở trong luật hình sự. Vàngườithực hiện hành vi vi phạmchếđộHNGĐ không phải chịu TNHS nếu luật hình sự chưa quy định là tội phạm đối với hành vi mà người đó đã thực hiện. Trong những trường hợp này, họ chỉ có thể phải chịu các biện pháp trách nhiệm pháp lý phi hình sự khác.
Thứ ba, hành vi vi phạm chế độ HNGĐ do người có năng lực TNHS thực hiện thìmớibịcoi làtộiphạm.“Nănglựctrách nhiệm hìnhsựlàkhảnăng của mộtngười ởthờiđiểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhộinhận thứcđược tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và điều khiển được hành vi đó” [21, tr.186]. Nếu một người tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội mà cónhược điểm về thể chất hoặc tinh thần làm mất đi khả năng nhận thức đúng đắn vềthếgiới xung quanh, không kiểm soát đượccác xửsựcủa mình đểhướng chúng phù hợpvới các yêu cầu của xã hội thì không bịcoi là có lỗi và không phải chịu TNHS. Vì về bản chất, xử sự của người không có năng lực TNHS làkết quả của sự
tổn thương, khiếm khuyết về lý trí và ý chí nên không có cơ sở để Nhà nước lên án hay áp dụng hình phạt đối với họ [21, tr.187]. Do đó các tội vi phạm chế độ HNGĐ luôn là hành vi do người có năng lực TNHS thực hiện.
Thứ tư, các tội xâm phạm chế độ HNGĐ được thực hiện bởi người có đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của luật hình sự. Dựa trên các yêu cầu về tâm sinh lý và yêu cầucủathực tiễnđấutranh phòng, chốngtộiphạm, Nhànướcquyđịnhđộtuổi phải chịu TNHS để chính thức thừa nhận một người khi đạt đến độ tuổi ấy mới có năng lực TNHS. Theo đó, nếu một người chưa đạt đến độ tuổi mà luật hình sự quyđịnh thì sẽkhông phải chịu TNHS về hành vi vi phạm chế độ HNGĐ mà mình đã thực hiện.
33
Thứnăm, những hành vi vi phạmchếđộHNGĐ do các cá nhân thực hiện một cách có lỗimớibịcoi là tội phạm. Trách nhiệm trên cơ sởlỗi cũng là một nguyên tắc cơ bản của luật hình sự. Một người vi phạm chế độ HNGĐ không phải chịu TNHS về hành vi do mình thực hiện nếu không có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi đó. Mặc dù chế độ HNGĐ là yếu tố nền tảng góp phần quyết địnhtới phát triển của xã hội, song hành vi xâm hại đến chế độ đó thường không cókhả năng ngay lập tức gây ra thiệt hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội. Vì thế, sựvô ý vi phạmchếđộHNGĐ thường khôngđược các Nhà nước quyđịnh là tội phạm. Tuy nhiên, nếu một người nhận thức được thức được tính nguy hiểm cho xãhội của hành vi vi phạm chế độ HNGĐ, thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xãhội của việc thực hiện hành vi đó mà vẫn quyết định thực hiện thì cần thiết và xứng đáng bịtruy cứu TNHS nên các nhà nướcđều quyđịnh trong luật hình sựcác trường hợp cố ý vi phạm chế độ HNGĐ là tội phạm. Do đó, các tội xâm phạm chếđộ HNGĐ thường là những hành vi được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.
Trên cơsởnhữngđặcđiểmtrêncủacáctộixâm phạm chếđộHNGĐ,ởViệt Nam có nhiều nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa về các tội xâm phạm chế độHNGĐ, trong đó có định nghĩa đã phản ánh các đặc điểm chung của tội phạm vàgắn các hành vi đó với khách thể là nhóm quan hệ HNGĐ như sau:
Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người cónăng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định thực hiện bằng lỗi cố ý gây thiệt hại cho các quan hệ hôn nhân và gia đình mới, tiến bộxã hội chủ nghĩa [20, tr.295].
Bên cạnhđó,có nhà khoahọclạiđịnhnghĩa cáctộixâm phạmchếđộHNGĐ bằng cách coi chế độ HNGĐ với tư cách là khách thể của các tội này vàchế độ HNGĐ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình là một như sau:
Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người cónăng lực trách nhiệm hình sựthực hiện mộtcách cốý, xâm phạm đến
34
toàn bộnhững quyđịnh củapháp luật vềkết hôn, ly hôn, nghĩa vụvà quyền giữa vợvà chồng, giữa cha mẹvà con, giữa các thành viên khác trong gia đình, cấp dưỡng, xác định cha, mẹ, con, con nuôi, giám hộ, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình [73, tr.95].
Nội dung của định nghĩa này có phần hơi rộng, vì không phải bất cứ hành vi nào vi phạm chế độ HNGĐ cũng cần thiết phải bị trừng trị bằng các chế tài hình sự. Một sốvi phạm mà mức độnguy hiểm cho xã hộikhông đáng kểthì Nhà nước thường lựa chọn các biện pháp ít nghiêm khắc hơn đểxửlý và phòng ngừa. Việc xác định hành vi vi phạmchếđộHNGĐ là tội phạm hay không là tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong hiệu quả đấu tranh phòng và chống những vi phạm ấy, đồng thời có ý nghĩa trong việc khẳng định tính răn đe của luật hình sự. Do vậy, Nhànước chỉ quy định là tội phạm đối với những hành vi vi phạm nghiêm trọng, đảo lộn trật tự HNGĐ và ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội, mặt khác cũngđồng thời sửdụng phối hợp các biện phápxửlý phi hình sựđểngăn chặn những hành vi này. Chính vì thế, các tội xâm phạm chếđộHNGĐ không thểlà những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn, nghĩa vụ và quyền giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, cấp dưỡng, xác định cha, mẹ, con, con nuôi, giám hộ, quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến HNGĐ.
Các tộixâm phạm chếđộHNGĐ có khi lại được địnhnghĩa rấtkhái quát như sau: “Các tội xâm phạmchếđộhôn nhân và gia đình là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình” [47, tr.125]. Định nghĩa này có tính khái quát caovì đãchỉ ra một cách ngắn gọn rằng khách thể của tội phạm là các quan hệphát sinh trong lĩnh vực HNGĐ. Tuy nhiên, việc định nghĩa tội phạm là hành vi có
lỗi có phần thiếu chính xác. Bởi lẽ, lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội thể hiện
dưới hình thức cố ý hoặc vô ý – là dấu hiệu thuộc phạm trù chủ quan. Trong khi đóhành vi khách quan bị luật hình sự cấm không phải là con người nên không thể có
35
lỗi, không thể có thái độ tâm lý chủ quan [21, tr.124]. Như vậy, hành vi bị coi là tội phạm nên được định nghĩa là hành vi được thực hiện một cách có lỗi hoặc hành vi đó cótính chất lỗi chứ không phải là hành vi có lỗi.
“Cáctộixâm phạmchếđộhôn nhân và gia đình là những hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam” [44, tr.61-62] là một định nghĩa đã khoanh vùng được nhóm hành vi xâm hại chế độ HNGĐ là những hành vi vi phạm nghiêm trọng đến các nguyên tắc cơ bản
của chế độ HNGĐ, các đặc điểm khác của tội phạm (như tính chất lỗi…) dường nhưđược mặc nhiên thừa nhận nên không phản ánh rõ trong định nghĩa này. Tương tự, có nhà khoa học định nghĩa:“Cáctộixâm phạm chếđộhôn nhân và gia đình lànhững hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, dongườicó nănglựctrách nhiệm hìnhsựvàđạtđộtuổi theo luậtđịnhthực hiện, xâm phạm nghiêm trọng vào các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình” [125, tr.217-218].
Định nghĩa này cũng giới hạn được hành vi xâm hại chế độ HNGĐ phải lànhững hành vi vi phạm nghiêm trọngđếncác nguyêntắccơbảncủachếđộHNGĐ, đồng thời chỉ ra được một số đặc điểm khác của tội phạm. Tuy nhiên, một lần nữa tội phạm lại được định nghĩa là hành vi có lỗi, và điều này chưa thật chính xác theo những gì mà tácgiảluận án phân tíchởtrên. Thêm nữa, cólẽcầnphải khẳngđịnhthêm mộtđặcđiểm khôngthểthiếucủacáctộixâm phạm chếđộHNGĐ, đó là: những hành vi vi phạm nghiêm trọng đến các nguyên tắc của chế độHNGĐ nói trên phải được quy định trong BLHS là tội phạm. Vì dù có nguy hiểm cho xãhộiđếnđâu, gây thiệthạicho các quanhệHNGĐđến cỡ nào thì hành vi cũng vẫn chưa phải là tội phạm nếu chưa được luật hình sự quy định.
Kếthừa các giátrịhợplýtừnhữngđịnhnghĩacủacác nhà khoahọcđã
từng nghiên cứu về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ, kết hợp với những đặc điểm của các tội xâm phạm chế độ HNGĐ đã được phân tích, các tội xâm phạm chế độHNGĐ trong Luận án này được định nghĩa như sau: Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong luật hìnhsự,dongƣờicó nănglựctrách nhiệm hìnhsựvàđủtuổi chịu trách nhiệm
36
hình sự cố ý thực hiện, xâm phạm đến những quan hệ hôn nhân và gia đình đƣợc Nhà nƣớc bảo vệ.
2.2. Cơ sở của việc quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và giađình trong luật hình sự
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM



