CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm hạiđến sự pháttriển bình thường, lành mạnh của con người mà còn làm tổn thương tinh thần người bị hại cũng nhưgia đình của họ. Những hành vi này còn có tác động xấu đến xã hội, nhiềuvụán gây phẫn nộ, gây bức xúc, nhức nhối trong dư luận. Hành vi xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người không chỉ diễn ra trong cộng đồng haytạinơi làm việc mà còn cóthểdiễn ra ngay chínhtạigia đìnhngườibịhại. Người phạm các loại tội này thuộc nhiều thành phần, lứa tuổi khác nhau, không chỉlà người lạ mà những hành vi xâm phạm nhân phẩm, danh dự này còn cóthểđược thực hiệnbởichính nhữngngườiquen của ngườibịhại, thậm chí làngười thân trong gia đình. Trong thời gian qua, tính chất và mức độcủa các hành vi xâm phạm nhân phẩm, danhdựconngườingày càng nghiêm trọng, báo động về sự xuống cấp đạo đức của một bộphận dân cư, ảnh hưởng không nhỏđếntrậttựvăn hóa – xãhộitrong cộngđồng.Conngườivì những cuộc tranh giành tiền bạc, hưởng thụ mà đôi khi sẵn sàng mưu tính mọi thủ đoạn, thậm chíhạ thấp nhân phẩm, danh dựcủangườikhácđểđạtđược mục đích của mình như: bôi nhọ thanh danh, nói xấu, vu khống đối tác; lợi dụng và lừa gạtchính những người thân trong gia đình mình để bán ra nước ngoài nhằm

trục lợi… Conngườivì những ghen ghét,bấtđồngphát sinh trong đời sống hằng ngày mà sẵn sàng bịa đặt và lan truyền những thông tin xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác trên facebook, các mạng xã hội để hạ thấp uy tín của người khác; sẵn sàng làm nhục người khác giữa những nơi đông người

như đánh đập, xé quần áo rồi kéo lê người khác trên đường… để thỏa mãnsựghen tuông, lòngđốkỵđang trỗidậytrong conngườimình. Những nétđẹp tâm hồn, những giá trị đạođức tốt đẹp của dân tộc ở đâuđó trong xã hội đang dầnbịquên lãng, dầnbịmai một. Có thể thấy tình hình các tộixâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người đang diễn biến ngày càng phức tạp. Đây là những hành vi không những gây thiệt hại cho nhân phẩm, danh dự của con người mà còn gây ảnh hưởng nghiêmtrọng đếntính mạng, sức khỏe của nạn nhân, làm băng hoạiđạođức, gâymấtổnđịnhtrậttựxã hội và đang là một trong những vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm.

Ở phương diện pháp lý, Nhà nước ta luôn luôn nhất quán tôn trọng vàbảo vệ nhân phẩm, danh dự của mọi công dân. Điều đó đã được pháp luật đềcậpđến trong nhiều văn bản. Điều20 Hiến pháp năm 2013 đã nêu rõ:“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm

danh dự, nhânphẩm…”hayĐiều37Bộluật dânsựcũng quyđịnh:“Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảovệ”. Trong những năm qua, các quyđịnhcủaBLHS về các tộixâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người đã góp phần quan trọng vào công tác điều tra và phòng, chống loạitộiphạm này. Trong BLHS năm 1999 có quyđịnh10 tội danh thuộc nhómtộixâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa conngườitrong Chương XII. Đó là các tội quyđịnh từĐiều111đếnĐiều 116, từĐiều119đến Điều 122. Những quy định này là cơ sở pháp lý giúp giải quyết những vụán xâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa conngườitrong thực tế. Tuy nhiên, việc đấutranh phòng, chống của các cấp, các ngành tư phápđốivớiloại tội phạm này dù ngày càng được nâng cao song vẫn không tránh khỏi những khókhăn khi thực tiễn áp dụng pháp luật còn gặp nhiều vướng mắc. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc đó chủ yếu xuất phát từ những hạn chế, thiếu sót trong quyđịnhcủa pháp luật hìnhsựvềnhómtộinày. Những quyđịnh của các điều luật về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người khiáp dụng vẫngặpphải những quan điểm, đường lối xử lý thiếu thống nhất, còn tùy nghi do cách hiểu, cách tiếp cận những quy định luật hình sự của các cơquan tiến hànhtốtụng. Trongmộtsốtrường hợp, các cơ quanbảovệ pháp luật vẫn còn lúng túng, chưa có quan điểm thống nhất hoặcmắcphải thiếu sót trong việc giải quyết các vụ án về nhóm các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dựcủa con người. Vì vậy, đểkhắc phục những khó khăn, vướngmắctrong thực tiễn áp dụng các quyđịnhcủa pháp luật hìnhsựvề các tộixâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa con người, góp phần nâng cao hiệuquảcủa hoạtđộng ápdụng pháp luật nói chung và áp dụng các quy định của pháp luậtvềnhóm tội này nói riêng, điều cần thiết hiện nay là tiếp tục hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật hình sự về nhóm tội này.

Nhiệmvụcảicách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về “Chiếnlược cải cách tư pháp đến năm 2020” đòi hỏi phải hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp. Theo đó, những quy định của luật hình sự về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngườicầnđược tiếptụcnghiêncứuđểhoàn thiện, đápứngyêucầuđề cao hiệuquảphòng ngừa, tăngcườngtínhhướngthiện trong việc xửlýngườiphạm tội,đồngthờitộiphạm hóa những hành vi nguy hiểm cho xã hộimớixuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội.

Mặtkhác, với sự thay đổi của điều kiện kinh tế – xã hội, nhiều hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng gây thiệt hại đáng kể cho xã hội liên quan đến nhân phẩm, danh dự của con ngườimớiphát sinh nhưng chưađủcơ sở pháp lýđểgiải quyết như: hành vi xâmhạitình dục giữa những ngườiđồngtính, chuyểnđổigiới tính; hành vi mua bánbộphận cơ thể, nội tạng hay thai nhi v.v… Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngườiđã và đang gây ra nhiềuhậuquả nghiêm trọng cho xã hội trên tấtcảcácmặt

kinh tế, xã hội, sứckhỏe, đạođức, tâmlý… của con người. Vìvậyviệc nghiêncứumột cách khoa học, toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận vàthực tiễn về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người như làm rõcác dấu hiệu pháp lý của các tội này, làm rõ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn xét xử cũng như những nguyên nhân dẫnđếnnhững vướng mắc đóđể đưa ramột số biện pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật, bảođảoáp dụng có hiệu quả các quyđịnhcủa pháp luật hìnhsựvề các tội xâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa conngườilà mộtđòihỏibức thiết của nước ta hiện nay. Do đó, tác giả đã chọnđề tài“Các tộixâm phạm nhân phẩm, danhdự củaconngườitheo pháp luật hìnhsự Việt Nam” làmđề tài nghiên cứu sinh của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm sángtỏnhữngvấnđề lý luận và pháp luậtvềcác tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người, thực tiễn áp dụng các quy định về nhóm tội này trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2015; luận ánđề xuất các biện pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người trong thời gian tới.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt đượcmục đích nghiên cứu nêu trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

– Phân tích những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người;

– Phân tích quyđịnhcủa pháp luật hìnhsựViệt Namvề các tộixâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người.

– Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Nhằmđạtđược mục đích nghiêncứunêu trên, luận ánlấycác quanđiểmkhoa học về dấu hiệu pháp lý hình sự của các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người; các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người; thực tiễn áp dụng pháp luật về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người trên địa bàn cả nước trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2015 để nghiên cứu những vấnđề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

-Về chuyên ngành nghiên cứu:Đề tài luận ánđược nghiêncứudưới góc độ chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự.

– Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2005 đến năm 2015. – Về địa bàn nghiên cứu: trên phạm vi cả nước.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

Luận án lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sửcủa chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng vàcủa Nhà nước ta về tội phạm và hình phạt, về đấu tranh phòng, chống tội phạm làm phương pháp luận nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu.

Luận án còn sử dụng trongmộttổng thể các phương pháp nghiên cứu cụthể khác như phân tích, tổng hợp, thống kê, bảng biểu hóa, so sánh …đểthực hiệnđề tàiluận án, cụ thể là:

Chương 1: Chương tổng quan tình hình nghiêncứuchủyếudùng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánhđể khái quát các vấnđề liên quanđếnđề tàiđã được nghiêncứutrong các công trình khoahọcđãcôngbốđể đưa ra những nội dung kế thừa cũng như khái quát các vấn đề mà luận án cần nghiên cứu.

Chương 2:Sửdụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa để làm rõ các khái niệm liên quan đến các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người.

Sửdụng phương pháp lịchsửcụthể, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháphệ thống hóa, phương pháp so sánhđể làm rõlịch sử lập pháp về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người.

Chương 3:Sửdụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp logic, phương pháp tiếpcậnđa ngành – liên ngànhđể làm rõ các quyđịnhcủa BLHS hiện hành về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này.

Chương 4:Sửdụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp logic, phương pháp tiếp cận đa ngành – liên ngành để đưa ra một số giảiphápbảo đảmáp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về các

tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người.

Việc thực hiện luận án cũngđượctácgiảsửdụngmộtsốphương phápđặc thù của lĩnh vực luật học như: phương pháp tiếp cận quy phạm được sử dụngđể hệ thống hóa và giải thích các quy định của pháp luật, các văn bản hướng dẫn về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người; phương pháp nghiên cứu lịch sử pháp luật được sử dụng để thể hiện sự gắn kết và tiếp nối về mặt thời gian của những quy định pháp luật; phương pháp nghiên cứu luật pháp trong mối quan hệ với chính trị hoặc trong mối quan hệ với xã hội học…

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Về quan điểm tiếp cận: Dựa vào phép biện chứng của triết học Mác-xít, luận án nghiên cứu các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngườidưới nhiều hướng tiếp cận khác nhau nhưng trọng tâm là hướng tiếp cận liên ngành

(tácgiảđặc biệt chú trọng tiếpcậndướigóc độxãhộihọcpháp luật) vàhướng tiếp cận trên cơ sởbảovệ quyền.

Về phương pháp: Các phương phápđượcsửdụng trong luận án này như đã nêu tại mục 4 phầnmở đầuluận án này vừa có tính bổ trợ cho nhau, vừa có tính độc lập cho phép nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người. Những phương pháp này cũng được sử dụng để đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về các

tộixâm phạm nhân phẩm, danhdựcủaconngườiđể từđóluận ánđềxuất những biện pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định này trong thời gian tới.

Về tổng quát: Luận án là công trình nghiên cứu có tính chuyên sâu của hình sự về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người trên địa bàn cả nước. Luận ánđãthiếtlậpđược hệ thống lý luận và pháp luậtvề các tội xâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa con người. Và để hệ thống lý luận vàpháp luậtđóphát huy tác dụng là vũ khí sắc bénđấutranhvớicác tộixâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người trong thời gian tới, luận án đã xây dựng các biện phápbảođảmáp dụng đúng các quyđịnhvề nhómtộiphạm này một cách đầy đủ, có cơ sở khoa học và mang tính khả thi cao.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

– Luận ánđãlàm sáng rõ nhữngvấnđềlý luận cũng như phân tích rõnhững quyđịnhcủapháp luật hìnhsựViệt Namvềcáctộixâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người. Nhìn nhận các quy định của pháp luật về các tội xâm phạm nhân phẩm, danhdựcủacon ngườidướinhiều cách tiếpcậnkhác nhau (tiếp cận đa ngành và liên ngành) để thấy được vai trò, mục đích của pháp luật trong phát triển con người và bảo vệ con người. Do đó, luận án có thể được sửdụng làm tài liệu phụcvụcông tác giảng dạy,học tậpvà nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực luật hình sự và những lĩnh vực có liên quan.

– Luận án có thể làm tài liệu tham khảo khi các cơ quan lập pháp, các tổchức xã hội và công dân tham gia vào việc đóng góp ý kiến nhằm tiếptục sửađổi, bổ sung các quy định trong BLHS và Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam.

8

– Luận án cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn trong áp dụng pháp luật về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngườiđể từ đó đưa ra một số biệnpháp góp phần bảođảmáp dụng đúng các quy định của pháp luật về nhóm các tộixâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa con người. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận áncó thể được sử dụng để thống nhất về nhận thức các quy định của pháp luật về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người, góp phần khắc phục nhữnghạnchế, vướngmắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, qua đógiúp nâng cao hiệuquảcông tácđấutranh chống vàphòng ngừa tội phạm nói chung, các tội xâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa con người nói riêng.

Đây là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ tiến sỹ tiếp cận một cách toàn diện và có hệ thống về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phầnmở đầuvà kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận ánđược kết cấu gồm 4 chương, như sau:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2. Những vấn đề lý luận và lịch sử về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người;

Chương 3. Quy định của Bộ luật hình sự 1999 và thực tiễn áp dụng các quy định về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người;

Chương 4. Các biện phápbảo đảmáp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người.

 

CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

CHƢƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Để nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện các vấn đề thuộc nội dung nghiêncứucủa đề tài, điềuquan trọng trước tiên làcầnxác định các vấnđềđóđã được nghiêncứuchưa?Nếuđã được nghiêncứuthì trạng thái nghiên cứu như thế nào? Có thể nói các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người là một trong những nhóm tội xảy ra khá phổ biến trên thực tế. Vì vậy, cho đến nayđã cókhông ít các công trình nghiên cứu khoa học có liên quanđếncác tộixâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa con người. Mỗicông trình nghiêncứu đều đề cập dưới một góc độ nhấtđịnh và đều có ý nghĩa đóng góp vào quá trình nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, đồng thời góp phần tích cực trong công cuộcđấutranh chống và phòng ngừa tộiphạm cũng như các cáctộixâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người.

1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc

1.2. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài

27

1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Qua nghiêncứucác công trình khoa học về các tộixâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người trên phạm vi quốc tế cũng như trong nước nhưđã nêu, tác giả luận án đưa ra những đánh giá, nhận xét như sau:

1.3.1. Những vấn đề đã thống nhất

– Các công trình nghiêncứukhoa học nêu trênđãthống nhấtđề cập, nghiêncứudướinhững góc độvà mức độkhác nhauvề mộtsốtộithuộc nhóm các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người như: các tội phạm

về tình dục, các tội phạm về mua bán người, mua bán trẻ em…

– Các công trình nghiêncứuđãthống nhất phân tíchmộtsốdấuhiệu pháp lý của một số tội trong nhóm các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành.

– Ở những mức độ khác nhau, các công trình nghiên cứu đã đưa ra một sốbấtcập, vướngmắc trong thực tiễn xétxửmộtsốtộixâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người để thấysự bấthợp lý trong một số quy định của pháp luật.

– Một số công trình nghiên cứu đã phân tích và đưa ramột số kiếnnghịgóp phần hoàn thiện quyđịnhcủa pháp luậtvề mộtsốtộixâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người.

1.3.2. Những vấn đề còn tranh luận

Bên cạnh nhữngđiểmthống nhất nhưđã nêutạitiểu mục 1.3.1 trênđây, còn một số điểm chưa được thống nhất trong các công trình nghiên cứu mà tác giảluận án này tham khảo và tổng quan. Trướctiêncầnkhẳngđịnh rằng, sự khác nhau về quan điểm cũng như cách tiếp cận nghiên cứu đối với vấnđề nghiêncứulà hiệntượngbình thường trong hoạtđộngnghiên cứu khoa học. Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà các nhà nghiên cứu sẽ có sựnhận thức khác nhau về cùng một vấn đề mà họ quan tâm nghiên cứu. Do đó,

28

việc nhìn nhận cùng một vấnđề có điểmkhông thống nhất giữa các nhà khoa học là điềudễ hiểu. Qua tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả luận án nhận thấy những quan điểm chưa thống nhất tập trung vào những vấn đề sau:

Thứ nhất, khi nghiêncứuvề chủthể của mộtsốtộiphạmvề tình dục (tội hiếp dâm, tội hiếp dâm trẻ em, tội cưỡng dâm, tội cưỡng dâm trẻ em), tác giả luận án nhận thấy hiện nay còn tồn tại hai quan điểm khác nhau về vấn đềnày. Quanđiểmthứ nhất cho rằng pháp luật cần quy định theo hướng chủ thể của những tội phạm này là chủ thể thường, điều đó có nghĩa là mọi người cónăng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS theo quy định của phápluật đều cóthể trở thành chủthểcủa tội phạm không phân biệt giới tính là nam hay nữ. Quanđiểmthứ hai ủng hộ việc quy định chủ thể của những tội phạm này theo cách hiểu từ trước tới naylà chủ thể đặc biệtvề giớitính, điều đó có nghĩa làchỉnam giới là chủthể của nhữngtộiphạm nay cònnữgiớichỉtham gia trongmộtvụđồngphạmvớivai trò làngườitổchức,ngườixúi giục hoặc người giúp sức.

Thứ hai,về cách hiểu hành vi giaocấutrongcấuthànhtộiphạm của một số tội phạmvề tình dục cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Có quanđiểmcho rằng khái niệm giao cấu vẫn nên hiểu giống như trong thực tiễn và lý luận thừa nhận từ trước tới nay nhưng để có cơ sở pháp lý giải quyết những hành vi nguy hiểmmớiphát sinh trong xã hội thì nên bổ sung những hành vi mớitrong CTTP của những tội phạmvề tình dục. Có quanđiểm lạicho rằng hiểu khái niệm hành vi giaocấunhư tinh thầnhướngdẫncủa TANDTC từtrước tới nay là quá hẹp mà khái niệm này cầnđược hiểutheo nghĩa rộng hơn giống quy định của một số nước trên thế giới.

Thứ ba,về việc xác địnhmặtchủquan trongtộigiaocấuvớitrẻ em. Lỗicủa tộiphạm nàyđược thống nhất trong các công tình nghiêncứukhoa học là lỗi cố ý trực tiếp, điều đó có nghĩa là chủ thể nhận thức được hành vi

29

giao cấu với trẻ em là hành vi nguy hiểm cho xã hội những mong muốn thực hiện hành vi đó. Tuy nhiên trong trườnghợpchủthể vì những nguyên nhân khác nhau mà không biết tuổi thậtsựcủangườithực hiện hành vi quanhệtình dục với mình thì lại có những quan điểm khác nhau trong việc xác định TNHS trong trường hợp này.

Bên cạnh những vấn đề chưa thống nhất nêu trên, các công trình khoa học nghiêncứumà tác giả luận án tham khảo mặc dùđã đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện các quyđịnhcủa pháp luậtvề cáctộixâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người nhưng những kiến nghị đó còn mang tính nhỏlẻ, thiếuhệthống và chưa xây dựngđược mô hình pháp lý cho các tội phạm có sự đề xuấtsửa đổi.

1.3.3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Từviệc xác định đề tài luận án thuộc chuyên ngành luật hình sự và tố

tụng hình sự; kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu, nhất là những điểmđã thống nhất cũng như chưa thống nhất trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học; mục đích và nhiệmvụnghiên cứu;đốitượngvà phạm vi nghiên cứu, nhất là cách tiếpcậnnghiên cứu, tác giả luận án nàymột mặtsẽtiếp thu những ưu điểm của các công tình nghiên cứu đã nêu, mặt khác sẽ làm rõ nhữngvấnđềchưa được nghiêncứuhoặc đã đượcđề cậpnghiên cứu nhưng ở mức độ chưa đầy đủ hay quá tổng quát, cụ thể là:

Thứ nhất, trên cơ sởtổng hợp, tiếp thu nhữngvấnđề lý luậnvề luật hình sự, về quyền con người, quyền nhân thân, tác giả luận ánsẽ xây dựng nhữngvấnđề lý luậnvề các tộixâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa con người. Tác giả luận án cũng sẽ làm rõ sự thay đổi của điều kiện kinh tế – xã hội trong thời gian vừa qua có ảnh hưởng gì đến nhận thức của con ngườivềquyền con người nói chung và quyền nhân thân nói riêng để từ đó thấyđược xu hướng phát triển của những quan hệ xã hội này.

30

Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, tác giả luận án sẽ xây dựng bức tranh tương đối tổng thể về cơ chế pháp lý ở Việt Nambảovệ quyền nhân thân của con người nói chung và nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng để thấyđược những giá trị được kế thừa trong lịch sự lập pháp của pháp luật hình sựhiện hành trong việc bảo vệ quyền con người, quyền nhân thân haycụthể là nhân phẩm, danh dự của con người.

Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu các số liệu về tình hình xét xử các vụ án xâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa conngườitrên phạm vicả nước trong khoảng thời giantừnăm 2005đếnnăm 2015 cũng như tham khảo các công trình nghiêncứukhoa học nêu trên, tác giả luận ánsẽ đánh giá quá trình áp dụng các quyđịnhcủa pháp luậtvề các tộixâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa con người. Từđó, nghiêncứuvà phân tích nguyên nhân nàodẫnđến những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng nếu có.

Thứ tư, từ kết quả nghiên cứu những vấn đề nêu trên, tác giả luận án sẽ đề xuấtmột số biệnpháp góp phần bảođảm ápdụng đúng các quy định của pháp luật về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người.

31

Tiểu kết chƣơng 1

Các tộixâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa conngườilà mộttrong những nhóm tội xảy ra tương phối phổ biến trong thực tiễn. Khi xã hội ngày càng phát triển, đờisốngvậtchất của conngườiđược nâng cao và cảithiện hơn thì những giá trị tinh thần ngày càng được coi trọng và phát triển trênmột

tầmcao mới. Dođó,những hành vi xâmhạiđếncác giá trị về tinh thần của con người nói chung và xâmhạinhân phẩm, danh dự của con người nói riêng cũng đượcxã hội quan tâm và chú ý hơn. Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học vớinhiều công trình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các tội xâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa conngườitrên nhiều phương diện khoa học như: luật học, xã hộihọc, tâm lý học, tộiphạm học… Sựxuất hiện của các công trình nghiêncứukhoa học nói trên vừa có những đóng góp tolớnvào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, vừa có ý nghĩa to lớn cho thực tiễn công tác đấutranh phòng, chống loại tội phạm này.

ỞViệt Nam, cũng có không ít các công trình nghiêncứuvề nhóm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người. Tuy nhiên, những công trình nàymớichỉ nghiên cứu các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngườiở những mức độ khácnhau, thiếu tính toàn diện và tổng thể.Vớisố lượng các công trình nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giớivề những vấn đề cóliên quan đếnđề tàiluận án, mặc dù vẫn còn những điểmhạnchế, những vấnđề chưa đượcgiải quyết triệt để nhưng có thể nói đó chính là nguồn tư liệu vôcùng quý giá để tác giả nghiêncứutiếpcậnvà tiếp thu những thành quả từcác công trình đưa vào luận án để góp phần vào sự thành công của luận án.

32

CHƢƠNG 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM

NHÂN PHẨM, DANH DỰ CỦA CONNGƢỜI

Nhân phẩm, danh dự là giá trị làmngườicủa mỗi con người, là sự coi trọng, đánh giá cao của dư luận xã hội đối vớimột ngườidựa trên các giá trịtinh thần, đạo đức của người đó. Nhân phẩm con người là thứ thiêng liêng vàquý giá không ai được phép tùy tiện xúc phạm và làm tổn thương. Do đó, mỗi conngườiphảitựgìngiữnhân phẩm trước khi mongđược ngườikhác tôn trọng [7, tr.2]. Tuy nhiên, trong thực tế, vì nhiều lý do khác nhau mà nhiều ngườilạicó hành vi xâmhạinghiêm trọngđếnnhân phẩm, danhdựcủa người khác. Việc nghiên cứu và làmsáng tỏ một số vấn đề lý luậnvà lịch sửvề các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người sẽ góp phần tích cực trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa đối với tội phạm nói chung vàcác tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng.

2.1. Khái niệm các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời 2.1.1. Nhân phẩm, danh dự của con người

Mỗi ngườisống trong xã hội đều có những quyền khác nhau, một trong sốđólà quyền nhân thân. Theo quyđịnhcủa pháp luật, quyền nhân thân làquyền dân sự, gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người

khác, cụ thể như: danh dự, nhân phẩm, uy tín… [287]. Kinh tế – xã hội ngày càng phát triển, công nghệ thông tin cũngđã len lỏi sâu rộng vào cuộc sống của con người, việc mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho chúng ta một cuộc sống đầyđủ hơn, tiếpcậnthông tin tốt hơn, đó là những mặt tốt của vấn đề. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại cũng cómột bộ phậnngười dân lợi dụng chạy theomộtlốisốnghưởngthụ, suyđồi. Conngườibịcuốn theo những cuộc tranh giành tiền bạc, hưởng thụ mà đôi khi sẵn sàng mưu tính mọi

33

thủ đoạn, thậm chí hạ thấp nhân phẩm, danh dựcủangười khác để đạt được mục đích của mình. Nhiều trường hợp, tên họ, hình ảnh, nhân phẩm, danh dựcủa nhiều công dân bị bêu rếu, xúc phạm trên mạng internet, trên báo chí với nhiềuđộngcơ, mục đích khác nhau, điềuđókhiến cho nhữngngườibịxúc phạm đó gặpkhông ít khó khăn trong cuộc sống [287].

Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về nhân phẩm, danh dự của con người. Quanđiểmthứ nhất cho rằng, nhân phẩm và danh dự là hai phạm trùđạođức học khác nhau nhưnglạicó quanhệ quyđịnhlẫnnhau. Trong đó, nhân phẩm là giá trịlàmngườicủa mỗicá nhân, nhân phẩm khôngchỉphụthuộc vào mỗi cá nhân mà còn phụ thuộc vào quan niệm của từng xã hội, giai cấpkhác nhau. Danhdựlà kếtquả củaquá trình xây dựng vàbảovệnhân phẩm của các cá nhân, vì lẽ đó, một con người có danh dự không chỉ biết giữgìn nhân phẩmcủabảnthân mà còn phải biết làm cho nhân phẩmcủamìnhđược xã hội công nhận thông qua hoạt động cống hiến không mệt mỏi của cánhân cho xã hội [288].

Quanđiểmthứ hai cho rằng danh dự của con người là sự đánh giá của xã hội đối với một cá nhân về các mặtđạo đức, phẩmchất chính trị và năng

lực của ngườiđó. Sựđánh giá của xã hội có thể về mặt lao động như đánh giá mộtngườilà cầncù, siêng năng haylườinhác hoặc có thể đánh giá về mặt tinh thần thái độ của một người đối với công việc được giao, trong sinh hoạt cá nhân hay cưxử vớimọi ngườixung quanh như người đó sống nghiêm túc hay buông thả, trong quanhệ vớimọingườithì thân ái đoànkếthay ích kỷ. Như vậy, danh dự của một con người được hình thành từ những hành động vàcách cư xử của người đó, từ công lao và thành tích mà người đó cóđượcqua những năm tháng của cuộc đời và được xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa [7, tr.9]. Còn nhân phẩm là phẩm giácon người, là giá trị tinh thần của một cá nhân với tính cách là một con người.

34

Mỗiconngườichúng ta luôn có những phẩm chất nhấtđịnh.Những phẩm chất này làm nên giátrịcủa cá nhân, đóchính là nhân phẩm của con người. Như vậy, nhân phẩm là toàn bộ những phẩm chất mà mỗi con người cóđược, hay nói cách khác, nhân phẩm là giá trị làm người của mỗi con người. Người có nhân phẩm là ngườicó lương tâm, có nhucầuvậtchất và tinh thần lành mạnh, luôn thực hiện tốt các nghĩa vụ đạođức đối vớixã hội và người khác, biết tôn trọng các quy tắc, các chuẩn mực đạođức tiến bộ. Ngườicó nhân phẩmđược xã hộiđánh giá cao và kính trọng. Trong cuộc sống, đa sốmọi người đều ý thức quan tâm giữ gìn nhân phẩm của mình nhưng vẫn có những người coi thường nhân phẩm của chính mình, của người khác, có suy nghĩ vàhành vi đi ngược lại với lợi ích của cộng đồng [288].

Danhdựlàsựcoi trọng, đánh giá caocủadư luận xãhộiđốivớimột người dựa trên các giá trị tinh thần, đạo đức của người đó. Khi con người tạo rađược cho mình những giá trị tinh thần, đạo đức và những giá trị đó được xã hộiđánh giá, công nhận thì người đó có danh dự. Danh dự có cơ sở từ những cống hiến thực tế của con người đối với xã hội, với người khác. Là con người, ai cũngđóng góp ít nhiều cho cuộc sống, cho xã hội, dođó,ai cũng có danhdự.Tuy nhiên, mỗi chúng ta phải luôn giữ gìn và bảo vệ danh dự của mình và tôn trọng danhdựcủangườikhác. Khi chúng ta biếtgiữgìn danhdựcủamình và tôn trọng danh dự của người khác thì sẽ có được một sức mạnh tinh thần để làm điều tốt, hướng chúng ta đến điều thiện và tránh xa các điều xấu [288].

Quanđiểmthứba cho rằng, cóthểhiểu danhdựbaogồmcả nhân phẩm. Nhân phẩm là phẩm giá con người, là giá trị tinh thần của một cá nhân với tính cách là một con người. Chà đạp lên nhân phẩmcủa ngườikhác cũng là xúc phạmđếndanh dự người đó. Nhưng cần phân biệt mặc dù nhân phẩm cũng là mộtyếutốcủa danh dự, song giữa danhdựvà nhân phẩm cũng cónhữngđiểmkhác nhau nhấtđịnh;nếudanhdựđược hình thành qua nhiều

35

năm tháng của cuộc đờivà được xã hộiđánh giá theo những tiêu chuẩn vànguyên tắc đạođức xã hộichủnghĩa thì nhân phẩmlạicótừkhi con người mớisinh ra. Mặcdù danhdựcủa mộtconngườiđược hình thànhtừnhững hành vi và cách cư xử, từcông lao và thành tích của ngườiđócóđược qua nhiều năm tháng của cuộc đời và được thừa nhận, nhưng mỗi con người đều có quyềnđược bảovệ danh dự và nhân phẩm như nhau không phân biệt vào công lao, công tác và những đặcđiểmriêng của người có quyền; những người không có năng lực hành vi dân sự, những người mất năng lực hành vi dân sựcũng có quyền bảo vệ danh dự và nhân phẩm như mọi cá nhân khác [7, tr.10].

Tóm lại, nhân phẩm và danhdựlà hai phạm trùđạođức khác nhau nhưng lại có mối quan hệ lẫn nhau. Nhân phẩm là giá trị làm người, còn danh dự là kết quả của quá trình xây dựng và bảo vệ nhân phẩm. Mỗi con người códanh dự không chỉ biết giữ gìn nhân phẩmcủa bảnthân mà còn phải biết làm nhân phẩm của mình được xã hội công nhận thông qua hành động cống hiến khôngmệtmỏicủa mỗicá nhân cho xã hội. Tiền bạc mấtđi có thể tìmlạiđược nhưng một khi chúng ta đánh mất nhân phẩm và danh dự là mất đi phẩm chất và giá trị làm người. Đó là yếu tố tạo nên giá trị của một con người. Vìvậy, chúng ta hãy sống, học tập và làm việc cho thật tốt. Sống không có nghĩa là chỉbiết nghĩ cho mình, mà hãy vìngườikhác bỡilẽ, chúng ta chỉthậtsựhạnh phúc khi biết đem lại niềm vui và hạnh phúc cho người khác. Đó mới làniềm vui là lẽ sống của cuộc đời [288].

2.1.2. Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người

Xâm phạmđếnnhân phẩm và danh dự của con người thường thể hiện bằng các hành vi khác nhau như: Dùng những lời nói hoặc hành động có tính chất thóa mạ, khinh bỉ để làm nhục người khác hoặc gán một sự kiện xấu xa cho người khác làm cho xã hội đánh giá sai hoặc hình dung sai về người đó. Sựđánh giá saisự thậtkhông phụ thuộc vào việc người đưa ra những tin tức

36

đó vô ý haycốý. Tiêu chuẩn để đánh giá những sự việc nêu ra là xấu xa hay không xấu xa là những nguyêntắc đạođức xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tính chất nghiêm trọng của những tin tức đưa ra có thể khác nhau tùy theo nhân thân của người bị hại [7, tr.10].

Nhà nước ta luôn luôn nhất quán tôn trọng và bảo vệ quyền con người nói chung và quyền được tôn trọng và bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng. Tiếp thu tinh thần về quyền con người của Hiến pháp 1992, bản Hiến pháp 1992 sửa đổi được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 tiếp tục khẳng định các quyền cơ bản của công dân. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 có nhiềuđiểmbổ sung quan trọng về quyền con người trong Chương II như một điểm nhấn và bước tiến đáng kể về tư duy Nhà nước pháp quyền vàthực hiện quyền con người ở Việt Nam. Trong đó, quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danhdựcủaconngườiđược ghi nhậntạiĐiều20 Hiến pháp năm 2013:“Mọingười có quyềnbấtkhảxâm phạmvề thân thể, được pháp luật bảohộvề sức khỏe, danhdự và nhân phẩm; khôngbịtra tấn, bạolực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức

khỏe, xúc phạm danh dự, nhânphẩm…”. Bên cạnh đó, Điều37Bộluật dân sự năm 2005 cũng xác định “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng vàđược pháp luật bảo vệ”hay quy định người nào do lỗi cố ý hoặc

lỗi vô ý mà xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường (Điều 604 Bộ Luật Dân sự năm 2005). Ngoài ra, Bộ luật Dânsự có đềcậpđếnnộidung xác địnhthiệthạivề nhân phẩm, danh dự, uy tínbịxâm phạmtạiĐiều611. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, quyền được tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm, danhdựcủaconngườiđược bảovệtriệtđể bằng các quy phạm pháp luật hình sự. Các tội xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của con

37

người được quy định trong các BLHS của nước ta có ý nghĩa về mặt lập pháp hình sự hết sức to lớn. Nó đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng. Việc quy định các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người trong BLHS (nguồn duy nhất của luật hình sự Việt Nam hiện nay) là biểuhiện cụthể của mối quan hệ chặtchẽ giữa đạo đức vàpháp luật hình sự. Thông qua việc quy định hành vi xâm phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của con người là tội phạm và phải chịu hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, pháp luật hình sự đóng vai trò tác động mạnh mẽ đến sự hình thành, phát triển nềnđạođức mới, đạođức hướng tới con người, tôn trọng con người và vì con người [7, tr.11].

Việc quyđịnhcáctộixâm phạm nhân phẩm, danhdựcủacon người trong BLHS tạo cơsở pháp lý cho cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa các hành vi xâm phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danhdựcủa ngườikhác. Đây chính là biểuhiện sựquan tâm của Nhà nước ta đối với việc bảovệ và phát triển quyền conngườinói chung, nhân phẩm, danhdựcủa conngườinói riêng. Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, con người là trung tâm của các chính sách kinh tế – xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ nhân phẩm, danhdựcủa conngườinói riêng, là nhântốquan trọng chosựphát triểnbềnvững, bảođảmthắnglợisựnghiệp công nghiệp hóa, hiệnđạihóađấtnước. Việc pháp luật hình sự hiện hành quy định các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự người khác, cũng như các quy định khác về quyền con người trong hệ thống pháp luật Việt Nam chứng tỏ, mọi chủ trương, đường lối chính sách của Đảngvà Nhà nước ta đềunhằm phấnđấucho mục tiêu“dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người [7, tr.12].

38

Điều 8 BLHS năm 1999 đã đưa ra khái niệm về tội phạm như sau:“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủquyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chếđộ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợiíchhợppháp khác củacông dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Có thể nói khái niệmtộiphạm này là khái niệm có tính khoa học đã thểhiệntậptrung

nhất quanđiểmcủa Nhà nước ta về tội phạm. Nó không những là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạmcụthể trong phần các

tội phạm của BLHS mà nó còn là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúngđắn những điều luật quy định về từng tội phạm cụ thể.

Từ khái niệm trên về tội phạm có thể xác định khái niệm các tội xâm phạm nhân phẩm, danhdựcủaconngườinhư sau:“Cáctộixâm phạm nhân phẩm, danhdựcủaconngườilà những hành vi nguy hiểm cho xãhộiđượcquyđịnh trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho nhân phẩm, danh dự của con người”.

Nhìn chung, có thể chia nhóm cáctộixâm phạm nhân phẩm, danhdựcủa conngườithành các nhóm hành vi nguy hiểm cho xã hộinhư sau:Thứnhất, là nhóm các tội phạmvềtình dục, bao gồm: tội hiếp dâm; tội hiếp dâm trẻ em;tộicưỡngdâm;tộicưỡngdâmtrẻem;tộigiaocấuvớitrẻ em và tội dâmôđốivớitrẻ em. Thứhai là nhóm các tộikhác xâm phạm nhân phẩm, danh dự của conngườibao gồm:tộimua bán người;tộimua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; tội làm nhục người khác và tội vu khống.

39

2.2. Các dấu hiệu pháp lý hình sự củacác tộixâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM, DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM  CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *