CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM

CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM

CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Vi phạm an toàn giao thôngđườngbộ đang là vấnđềxã hộimang tính toàncầumà các quốc gia trênthếgiớiđềuphảiđốimặt.Sựgia tăng nhanh chóngcủacác loại phương tiện giao thông mà tăng trưởng mạnh nhất là các loại phương tiện giao thông đường bộ; kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ chưa đảm bảo về quy mô và chất lượng, đặc biệt ở các nước kém phát triển và đang phát triển; ùn tắc giao thông thường xuyênxảyraởcácđôthịlớn đãkhiến cho tai nạn giao thông đường bộ ngày càng tăngvề số lượng và mức độnghiêm trọng. Tổ chức Y tế thế giới đã khẳng định “Tai nạn giao thông đã trởthànhmột đại dịchcủa nhân loại”. Tổ chức Y tế thế giới đã tiến hành khảo sát toàn diện tình hình tai nạn giao thông trên thế giới. Báo cáo kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mỗi năm trên thế giới có hơn 1,2 triệu người chết và 50 triệu người bịthương do tainạngiao thông. Như vậy, trung bìnhmỗingày khoảng 3.400 ngườichết vì tainạngiao thông trênđườngbộ,trongđócác quốc gia có thu nhập trung bình có số lượng người tử vong do tai nạn giao thông lớn nhất, với gấpđôitỷlệtửvong sovớicác quốc gia có thu nhập cao và chiếm 90%sốngười tử vong vì giao thông đường bộ trên toàn thế giới; người đi bộ, người đi xe đạp và người đi xe mô tô chiếm một nửa số tử vong này.

Ở Việt Nam, tình hình vi phạm an toàn giao thông đường bộ đã và đang diễn biến phức tạp, gây thiệthạilớnvềtính mạng, sức khỏe,vềcủacảivật chất, gây tâm lý lo lắng cho người dân, gây mất ổn định trật tự, an toàn xã hội và đang làmốiquan tâm củacác cơ quan nhànướccó thẩm quyền,củamọi tầng lớp nhân dân. Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Giao thông đường bộ chiếm một vị trí hết sức quan trọng, bởi vìđó là một yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng tạo động lực phát triển của toànbộ nền kinh tế. Hệ thống giao thông đường bộ ở nước ta từng bước được đầu tư nâng cấp, sửachữa, xây dựng mới; phương tiệnvậntảităng nhanhvềsốlượng, đa dạng về chủng loại, từng bước đápứng được yêucầu phát triển của nền kinh tế, an ninh quốc phòng và nhu cầu đi lại của nhân dân. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh

1

hiện nay do sự mất cân đối giữa cầu, đường, phương tiện, người tham gia giao thông và các yếu tố xã hội, tình trạng vi phạm quy định về an toàn giao thôngđường bộ đã và đangdiễn biến hết sức nghiêm trọng. Từ năm 2009 đến nay tuy tai nạn giao thông đường bộ có xu hướng giảm (giảm vềsố vụ, số ngườichết và sốngườibịthương), nhưngsốngườichết vẫn ởmức cao (trung bình hơn 10.000ngườichết trongmộtnăm vớitổng dânsố95 triệu dân). Theosốliệu báo cáo của Cục cảnh sát giao thông, năm 2017, toàn quốc xảy ra 19.798 vụ tai nạngiao thôngđườngbộ,làm chết 8.089 người,bịthương 16.970 người. Các hành vi xâm phạm an toàn giao thông đường bộ bị xử l hình sự tuy có giảm, song vẫn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các tội phạm; số vụ án, số bị cáo bị xét xử về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ có xu hướng giảm, nhưng tính chất nguy hiểm lại gia tăng.

Trước tình hình đó, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thịsố18- CT/TW ngày 04/9/2012“Vềtăng c ờngsựlãnhđạocủaÐảngđốivới công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đ ờng bộ”. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/2013/NQ- CP ngày 01/3/2013“về ch ơng trình hành động của Chínhphủthực hiệnchỉthịsố18- CT/TW ngày 04/9/2012củaBan chấp hành Trung ơngĐảngvềtăng c ờngsựlãnhđạocủaÐảngđốivớicông tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đ ờng bộ”. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 12/CT- TTG ngày 23/6/2013“về tăng c ờng thực hiện các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn tai nạn giao thông nghiêm trọng trong hoạt động vận tải”. Bộgiao thôngvậntảiban hành Quyếtđịnhsố620/QĐ- BGTVT ngày 14/3/2013về“Ban hành ch ơng trình hànhđộngcủaBộGiao thôngvậntải thực hiện Chỉ thị số 18- CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban chấp hành Trung ơngĐảng về tăng c ờng sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đ ờng bộ”. Trong đó, xác định rõ các chủ trương, giải pháp cơbản, lâu dài và các biện pháp cấp bách nhằm kiềm chế, chặn đứng tiến tới đẩy lùi tai nạn giao thông, đồng thời yêu cầu các Cấp ủy đảng, Chính quyền, Đoàn thểcác cấp, các Ngành phải đặt nhiệm vụ bảo đảm an toàn giao thông là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của

2

mình; phải tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc,đầy đủ, Chỉ thị vàNghị quyết này. Việcxửlý nghiêm minh các hành vi xâm phạm an toàn giao thông nói chung và xâm phạm an toàn giao thôngđườngbộnói riêng là một trong những nhiệmvụquan trọngđặtra đốivớicác cơ quan tiến hànhtốtụng nhằm góp phần ngăn chặn và kìm chế tai nạn giao thông.

Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2000. Từ khi ra đờiđếnnay, BLHS là côngcụsắc bén của Nhà nước trong việc quản lý xã hội, phòng ngừa và đấutranh chốngtộiphạm, góp phần quan trọng trong việc giữvững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và của công dân, góp phần có hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, sau gần 15 năm thi hành, tình hình đất nước ta đã có những thay đổi lớn về mọi mặt. Đặc biệt, việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựngnềnkinhtếthịtrườngđịnhhướngxã hộichủnghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà nội dung cơ bản là ghi nhận vàbảo đảmthực hiện các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; chiến lược hoàn thiện hệthống pháp luật, chiến lược cải cách tư pháp và chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam đã mang lại những chuyển biến lớn, tích cực về kinh tế, xã hội và đối ngoại. Điều này đã làm cho BLHS nói chung và một số quy định về các tội phạm cụ thể trong BLHS hiện hành trở nên bất cập, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

Tình hình tội phạm tiếp tục có những diễn biến hết sức phức tạp, đặc biệt, trong một số lĩnh vực có xu hướng gia tăng về quy mô và tính chất nguy hiểm. Xuthếchủđộnghộinhập quốc tếđã trởthành nhucầunộitạicủa Việt Nam. Trên thực tế, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực và đãtrở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương, trong đó có các côngước về phòng chống tội phạm. Bên cạnh đó, trong quan hệ hợp tác song phương với các quốc gia, Việt Namđã đàmphán và k kết nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự và hiệp định dẫn độ với các nước trên thế giới. Điều này, đòi hỏi phải tiếp tục có sự nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS để nội luật hóa các quyđịnhhìnhsựtrong các điềuước quốc tếmà nước ta là thành viên nhằm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của quốc gia thành viên, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống

tội phạm.

BLHS năm 1999 và tiếp đólà BLHS năm 2015, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổsung năm 2017)đã có nhữngsửađổi, bổsungvề các tộixâm phạm an toàn giao thông đường bộ. Điều đó cho thấy pháp luật hình sự Việt Nam về các

tội phạm này đang ngày càng được hoàn thiện hơn, đáp ứng được các yêu cầu vềcải cách tư pháp và những đòi hỏi của thực tiễn, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi các tộiphạm này đang có xuhướnggia tăng, đe dọa tính mạng, sức khỏe, tàisảncủa công dân. Tuy nhiên, BLHS hiện hành còn nhiềubấtcậpvềmặt kỹ thuật lập pháp liên quan đến sự thống nhất giữa phần chung và phần các

tộiphạm; các dấuhiệuđịnhtội, địnhkhung của nhiều tội danh; các tộighép; cách thiết kế khung hình phạt cũng như khoảng cách khung hình phạt của một số

tội danh, … những bất cập này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc hướng dẫn thi hành và áp dụng các quy định của BLHS trên thực tế. Đồng thời, các văn bản giải thích và hướngdẫnáp dụng pháp luật chưa kịp thời, đầy đủvà thống nhất dẫn đến trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về các tội xâm phạm an toàn giao thôngđườngbộ, các cơ quan tiến hànhtốtụngvẫnthường gặp những vướng mắc, lúng túng.

Thời gian qua, các vụán liên quanđến Quân độicó xuhướnggia tăng, trong đó các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là nhóm tội chiếm tỉ lệcao, nó gây thiệthạikhôngnhỏcho Quânđội, ảnhhưởngđếndanh dự, uy tín của Quân đội. Các Tòa án quân sự (TAQS) là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xãhộichủnghĩa Việt Nam, thuộchệthống Tòa án nhân dân (TAND)đượctổchức trong Quânđội,thực hiện chức năng nhiệmvụxétxửtheo quyđịnhcủa pháp luật. Trong phạm vi chức năng của mình, các TAQS có nhiệmvụbảovệpháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của quân nhân, công chức, công nhân quốc phòng và của công dân khác. Bằng hoạt động của mình, các TAQS góp phần giáo dục quân nhân, công chức, công nhân quốc phòng trung thành với tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, điều lệnh của quân đội, tôn trọng những quy tắc của đời sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.

Thông qua hoạt động xét xử các tội phạm nói chung và xét xử các tội xâm phạm về an toàn giao thông đường bộ nói riêng của các TAQS ở Việt Nam cho thấy các quyđịnhcủaBLHS về nhóm tội này còn có nhiều điều chưa phù hợp với sự phát triển của xã hội, còn có các hành vi nguy hiểm cho xã hội phát sinh trên thực tếnhưng chưađược quyđịnhtrong BLHS, dẫnđếnkhông có cơ sởpháp l để giải quyết. Hay trong quá trình giải quyết các vụ án cụ thể còn có các hạn chế nhất định trong việc xác định tội danh, trong việc áp dụng các tình tiết địnhkhung tăng nặng hình phạt; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm

hìnhsự;quyếtđịnhhình phạt;đườnglốixửl … Nhữngvấnđềnêu trên ảnh hưởng nhất định đến kết quả ápdụng các quy định của pháp luật trong BLHS vềcác tội xâm phạm về an toàn giao thông đường bộ của các TAQS.

Vì vậy, với mong muốn nghiên cứu sâu hơn về mặt lý luận về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đồng thời tìm ra những bất cập, hạn chế vànguyên nhân của các bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về các tội phạm này của các TAQS, trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành cũng như để nâng cao hiệu quả trong áp dụng pháp luật nói chung và trong Quân đội nói riêng. Do đó, việc tiến hành nghiên cứuđềtài“Các tộixâm phạm an toàn giao thông đ ờng bộ theo pháp luật hình sự từ thực tiễn xét xử của các Tòa án quân sự ở Việt Nam” có nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sởnghiêncứucác vấnđềlý luậnvềcác tộixâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam, đánh giá thực trạng xét xử,tìm ra nhữngbấtcập, hạnchếtrong thực tiễn áp dụng các quyđịnhcủa BLHS thông qua hoạtđộngxétxửcủa các TAQS ởViệt Nam. Từđó, đềxuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và bảo đảm áp dụng đúng về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Làm sáng tỏ khái niệm, đặc trưng pháp l của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ; đặc điểm của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộthuộc thẩm quyền xétxửcủa các TAQS; quá trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay quy định về các tội phạm này.

– Phân tích các quy định của BLHS và các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền nhằm làm sángtỏcác dấuhiệu pháp lý của các tộicụthểxâm phạm an toàn giao thông đườngbộ.

– Tổng quan kết quả xét xử các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộcủa các Tòa án quân sự ở Việt Nam; Đánh giá về những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quyđịnhcủa BLHS hiện hànhvềcác tộixâm phạm an toàn giao thông đường bộ và nguyên nhân của chúng.

– Đánh giá về thực tiễnđịnhtội danh và quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ từ thực tiễn xét xử của các TAQS ở Việt Nam.

– Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và một số nước trên thếgiới về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ;

Các quan điểmkhoa học và thực tiễn áp dụng pháp luậtvềcác tộixâm phạm an toàn giao thông đường bộ từ thực tiễn xét xử tại các TAQS ở Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về mặt nội dung: Luận án nghiên cứu, được tiếp cận dưới góc độ Luật hình sự.

Về cấp xét xử: Luận án tập trung nghiên cứu cấp xét xử hình sự sơ thẩm, phúc thẩm.

Về thời gian: Luận án sử dụng số liệu nghiên cứu trong vòng 10 năm, từnăm 2008 đến năm 2017.

Về không gian: Luận án được thực hiện trên phạm vi các TAQS ở Việt Nam. Về tội danh: Tội danh nghiên cứu là các tội xâm phạm an toàn giao thông

đường bộ bao gồm các tội danh cụ thể được quy định từ Điều 260 đến Điều 266, chương XXI của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổsung năm 2017(Điều202đến Điều 207, chương XIX của BLHS năm 1999).

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận nghiên cứu

Luận án sử dụng phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng cộng sảnViệt Nam vàcủaNhà nước Cộng hòa xã hộichủnghĩa Việt Namvềtội phạm, về hình phạt làm phương pháp luận nghiên cứu.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Vớihướngtiếpcậnliên ngành, đa ngành mang tínhhệthống và lịch sử, luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội khác nhau, cụthể như: Phương pháp phân tích, Phương pháp hệ thống, Phương pháp tổng hợp

và thống kê, Phương pháp lịch sử, Phương pháp so sánh…

Phương pháp phân tích: phương pháp này được sử dụng để phân tích cũng như luận giải những vấnđềlý luận cơ bảnvềtội phạm và hình phạt, phân tích các nội dung cơ bản của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ;

Phương pháp hệ thống: phương pháp này được sử dụng ở nhiều giaiđoạn khác nhau trong quá trình triển khai nghiên cứu luận án. Giai đoạn đầu, phương pháp này được sử dụng để hệ thống hoá các tài liệu, công trình, bài viết về hình phạt hiện nay và được sắpxếp, phân loại, bốcục có chủýnhằm phục vụmục đích nghiên cứu để đem lại hiệu quả lớn nhất. Trong giai đoạn triển khai nghiên cứu, phương pháp này được sử dụng để hệ thống hoá những hiểu biết, tri thức lýluận liên quanđếncác tộixâm phạm an toàn giao thôngđườngbộđểđưara những dự kiến thiết kế cấu trúc luận án;

Phương pháp tổnghợpvà thống kê: hai phương pháp nàyđược kếthợp hài hoà nhằm mục đích thực hiện các mục đích thu thập và xử lý một cách hợp lý, có hiệu quả các số liệu thực tiễn có liên quan có nghĩa phục vụ luận giải vàlàm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu của luận án;

Phương pháp lịch sử: phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu lịch sửlậppháp lậppháp hìnhsựViệt Namvềcác tội xâm phạm an toàn giao thông

đường bộ và quá trình biến chuyển của pháp luật hình sự khi quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ;

Phương pháp so sánh: phương pháp này được dùng để so sánh những sựthay đổi về quan điểm, nhận thức, áp dụng xét xử các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ qua từng giai đoạn, từng văn bản pháp lý hình sự nhằm phục vụnhững mục đích cụ thể của luận án.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, chuyên sâu dưới góc độ hình sự về các xâm phạm an toàn giao thông đường bộ và quátrình áp dụng các quyđịnhcủa pháp luật vềnhóm tội này vào thực tiễn xétxửcủa các TAQS Việt Nam,đồngthờigắn vớikhoảng thời giancụthểlà từnăm 2008 đến năm 2017. Điểm mới của luận án thể hiện chủ yếu ở các điểm sau:

5.1. Điểm mới về quan điểm, phương pháp tiếp cận

Bằng việc sử dụng phương pháp đa ngành, liên ngành luật học, nhất là các phương pháp của triết học pháp luật, xã hội học pháp luật, tâm lý học pháp luật. Luận án phân tích làm rõ thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về các

tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, tìm ra các hạn chế của các quy định của pháp luật, sai lầm của người áp dụng pháp luật và nguyên nhân của nó, làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và để nâng cao hiệu quả trong giải quyết các vụ án này của các TAQS trong thời gian tới.

5.2. Điểm mới mang tính tổng quát của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về các tội xâm phạm an toàn giao thôngđườngbộ.Bằng việc khái quát hóa các quanđiểmvềcác tộixâm phạm an toàn giao thông đường bộ, các quy định của pháp luật hình sự về nhóm tội này cũng như làm sáng tỏ những điểm hợp lý và hạn chế trong quá trình pháp điển hóa của những quy định đó và quá trình áp dụng các quy định đó trên thực tiễn xét xử của các TAQS Việt Nam. Luận án đã làm rõ một số hạn chế, vướng mắc sai lầm trong áp dụng các quy định của BLHS và Bộ luật dân sự (BLDS) vềcác tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nói chung và thực tiễn địnhtội danh, quyết định hình phạt về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nói riêng, và chỉ ra ảnh hưởng cũng như nguyên nhân của những hạn chế vướng mắc đó.Từ đó, đưara các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ cũng như nâng cao hiệu quả trong hoạt động xét xử về nhóm tội này.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 6.1. Về mặt khoa học

Luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về nhóm các tội xâm phạm an toàn giao thôngđườngbộ;có thểđượcsửdụng làm tài liệu phục vụgiảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực khoa học luật hình sự và tội phạm học.

6.2. Về mặt thực tiễn

Nội dung của luận án là cơ sở cho các cơ quan lập pháp xem xét, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ; các cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhất là các TAQS ởViệt Nam áp dụng các quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ vào thực tiễn xét xử trong thời gian tới đạt hiệu quả cao hơn.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phầnmởđầu, kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo và phầnphụlục, luận án có kết cấu gồm 4 chương:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.

Chương 2. Nhữngvấnđềlý luận và pháp luậtvềcác tộixâm phạm an toàn giao thông đường bộ

Chương 3. Thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS hiện hành về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ tại TAQS ở Việt Nam

Chương 4. Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật vềcác tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ.

CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM
CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nƣớc

1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc

1.2.1.Tình hình nghiên cứu phát triển về lý luận

1.2.2. Tình hình nghiên cứu cụthểcáctộixâm phạm an toàn giao thông đường bộ

1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu

Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoàinước có liên quan đến đề tài luận án “Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộtheo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử của các TAQS ở Việt Nam”, tác giả nêu ra đánh giá của mình như sau:

1.3.1. Về kết quả nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa, tiếp tục phát triển Các công trình, bài viết nghiêncứuđã làm rõ nhiềunộidung liên quan

đến các tội xâm phạm an toàn giao thông nói chung, đã đưa ra một số khái niệm

19

về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông vận tải, hay khái niệm về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thôngđườngbộhoặc khái niệmvềcác tộixâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng. Mỗi công trình, bài viết đã làmrõ vềmột lĩnh vực, một tội danh cụ thể trong nhóm tội hoặc đưa ra khái niệm về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông vận tải và đưa ra khái niệm về các tội

xâm phạm trật tự, an toàn giao thôngđườngbộ… Có công trìnhđã đềcậptới nhóm các tộixâm phạm trật tự, an toàn giao thôngđườngbộnói chung nhưng chỉ tập trung vào một số khía cạnh nhất định như về phần lý luận chung hoặc vềmột vấn đề cụ thể như lỗi hay quyết định hình phạt về một tội cụ thể trong nhóm tội xâm phạm trậttự,an toàn giao thôngđườngbộ. Việc nghiêncứunày có ýnghĩa quan trọng, giúp tác giả có cách nhìn nhận chung về nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng, từ đó tác giả có cơ sở tách bạch nhóm tội xâm phạm trật tự và nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông và đi sâu vào nghiên cứu nhóm

tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ cả về lý luận và thực tiễn áp dụng.

Mộtsốcông trìnhlại tậptrung vào nghiêncứucác tội phạmcụthể dưới góc độ tội phạm học, nên chủ yếu đề cập và tìm hiểu các nguyên nhân của các hành vi vi phạm về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ hoặc nguyên nhân xảyra các tainạngiao thông. Trên cơ sởnày, tácgiảtiếp thu và tiếp tục nghiên cứu tiếp để tìm ra được nguyên nhân cũng như đưa ra được giải pháp không những để hoàn thiện pháp luật về nhóm tội này mà còn giúp phòng ngừa tội phạm.

Nhìn chung nhữngvấnđềnghiên cứu đềcậpvềnhómtộikhá nhiều nhưng còn dàn trải, chưa chỉrõ nhóm các tộixâm phạm an toàn giao thôngđườngbộ. Khi có BLHS năm 2015 và BLHS năm 2015, sửa đổi, bổsung năm 2017, các hành vi trongcấuthànhtộiphạm có những thayđổi, bổsung, đồng thời quá trình áp dụng các quyđịnhcủa pháp luật trên thực tiễn vẫncòn cóvướng mắc, hạn chế cần được kiến nghị sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn xét xửcũng như yêu cầu của xã hội, dù rằng BLHS mới vừa được ban hành. Vì vậy, tác giả kế thừa công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, đồng thời đi sâu hơn

20

vào nghiêncứucác vấnđềvềđịnhtộidanh cũng như quyếtđịnhhình phạtvềcác tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trên nền tảng của các công trìnhđã được các tácgiả đề cập và tìm ra những thiếu sót, vướng mắc trong quá trìnháp dụng pháp luật trên thực tiễn xét xử, từ đó đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về nhóm tội này.

1.3.2. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục được nghiên cứu trong luận án Luận ánkếthừa nhữngkếtquảquan trọng, phùhợpcủa các công trình

nghiên cứu trước đã đạt được để áp dụng, giải quyết các vấn đề trong luận án đặt ra, những nội dung cần nghiên cứu trong đề tài là:

Một là: Làm sáng tỏ khái niệm, đặc trưng pháp l của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ; đặc điểm của các tội xâm phạm an toàn giao thôngđườngbộthuộc thẩm quyền xétxửcủa các Tòa án quânsựởViệt Nam; quátrình phát triển và các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay về nhóm tội phạm này.

Hai là: Phân tích các quy định của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các vănbảnhướngdẫncủa cơ quan có thẩm quyền nhằm làm sángtỏcác dấuhiệu pháp lý của các tộicụthểtrong nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ. Phân biệt với một số tội phạm có liên quan đến nhóm tội danh này quy định trong Bộ luật hình sự và nghiên cứu các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ của một số nước trên thế giới để tìm ra những điểm tiến bộ của các nước này mà Việt Nam có thể kế thừa, học hỏi trong công tác lập pháp.

Ba là: Đánh giá về thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ từ thực tiễn xét xử của TAQS ởViệt Nam. Qua đó tìm ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS hiện hành về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộvà nguyên nhân của những bất cập, vướng mắc đó.

Bốn là: Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong xét xử các

tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trong thời gian tới.

21

KẾT LUẬN CHƢƠNG I

Qua nghiên cứu, tácgiảthấy rằng, các tộixâm phạm an toàn giao thôngđường bộ làmột nội dung quan trọng được nhiều học giả không chỉ ở trong nước mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Ở nước ngoài, mặc dù các tácgiảkhông đi vào nghiên cứucụthểcác tộixâm phạm an toàn giao thôngđườngbộ, nhưng các tácgiảđãđi nghiêncứu ởcác khía cạnh liên quanđến vấn đề giao thông, an toàn giao thông cũng như điều kiện, nguyên nhân sinh ra tai nạn giao thông và một số yếu tố tác động phát sinh tội phạm trong lĩnh vực này. Vềtình hình nghiên cứutrongnước,cho đến nay đã có không ít các công tình khoa học, các bài viết đề cập và nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến nhóm tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng và trậttựcông cộng nói chung hoặc đi vào nghiên cứu các tội cụ thể của nhóm các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ…

Có thể nói, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, hệ thống và sâu sắc về nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đặc biệt là kể từ khi BLHS năm 2015 và BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệulựcthi hànhvớinhiều sửa đổi, bổsungđốivớicác hành vi trongcấuthànhtộiphạm cũng như hình phạt trong nhómtộinày. Vì vậy, với mong muốn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về các tội phạm xâm phạm an toàn giao thôngđường bộ tại các TAQS, luận án sẽ kế thừa những kết quả quan trọng, phù hợp của các công trình nghiên cứu trước đã đạt được để áp dụng, giải quyết các vấn đề trong luận án đặt ra.

22

Chƣơng 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÁC TỘI

XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ

2.1. Khái niệm, các yếu tốcấu thành cáctộixâm phạm an toàn giao thôngđƣờngbộvàđặc điểmcủacác tộixâm phạm an toàn giao thông

đƣờng bộ thuộc thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự ở Việt Nam

2.1.1. Khái niệm và các yếu tố cấu thành các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ

2.1.1.1. Khái niệm về các tội xâm phạm an toàn giao thông đ ờng bộ

“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện mộtcách cốýhoặc vô ý, xâm phạmđộc lập, chủquyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trậttựpháp luật xã hội chủnghĩa mà theo quyđịnhcủa Bộluật này phải bị xử lý hình sự”[17].

Do đó, khi đi tìm hiểu các khái niệm về các loại tội phạm nói chung đều phải xuất pháttừ khái niệmtộiphạm này và các tộixâm phạm an toàn giao thông đường bộ cũng không phải là trường hợp ngoạilệ.Khái niệm nêu trên nó cũng hàm chứa dấu hiệu của các tội xâm phạm an toàn giao thông. Vì vậy, đây là cơ sở pháp l để xem xét và xác định hành vi nào là tội xâm phạm an toàn giao thôngđươngbộ. Cácdấuhiệu cụthể củatộixâm phạm an toàn giao thôngđương bộ, bao gồm:

* Dấu hiệu thứ nhất của tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội

Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệthạicho xã hội hoặc trong trường hợp có khả năng thực

23

tế dẫnđến hậu quả gây ra các thiệthạicho các quan hệ xã hội được luật hình sựbảo vệ.Các thiệthạido hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộgây ra cho các quan hệ xã hộibao gồm: tính mạng, sứckhoẻ, tàisảncủa ngườikhác. Vì vậy, trườnghợpvi phạm các quyđịnhvề an toàn giao thôngđường bộ gây thiệthạicho chính bản thân người vi phạm mà không gây thiệt hại cho tính mạng, sứckhoẻ, tàisảncủa ngườikhác, thì khôngbịcoi là tộiphạm. Hành vi phạm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ bao gồm hành động vàkhông hành động.

– Hành động phạm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là làm một việc mà pháp luật hình sự cấm không được làm như:

Hành vi tham gia giao thôngđườngbộmà vi phạm quyđịnhvềan toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng, gây thiệt hại cho sức khoẻ mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc tài sản của người khác từ 100.000.000đồng trở lên trong các trường hợp: “bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông”[17, tr. 285];

Hành vi cản trở giao thông đường bộ mà gây thiệthạicho tính mạng, gây thiệthạichosứckhoẻ mà tỷlệ tổnthương cơ thể 61% trở lên hoặc tàisảncủa ngườikhác từ 100.000.000 đồng trở lên trong các trường hợp:“đào, khoan, xẻ, san lấp trái phép công trình giao thông đường bộ; đặt, để,đổ tráiphép vật liệu, phế thải, rác thải, vật sắc nhọn, chất gây trơn hoặc chướng ngạivậtkhác gây cản trở giao thôngđườngbộ;tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủybiển báo hiệu, đèntín hiệu, cọc tiêu, gương cầu, dảiphân cách hoặc thiết bị an toàn giao thông đường bộ khác; mở đường giao cắt trái phép qua đườngbộ, đườngcódảiphân cách;sử dụng trái phéplề đường, hè phố, phầnđường xe chạy, hành lang an toàn đường bộ hoặc vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ”[17, tr.286];

Gây thiệt hại cho tính mạng, gây thiệt hại cho sức khoẻ mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc tài sản của người khác từ 100.000.000 đồng trở lên đối với

24

hành vi “đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng rõ ràng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật”[17, tr.288];

Hành vi điều động “người không có giấy phép lái xe, không đủ sức khỏe,độ tuổi để điềukhiển phương tiện hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, cósử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc khôngđủcác điều kiện khác theo quyđịnhcủa phápluật”[55,tr.289], mà gây thiệthạicho tính mạng, gây thiệthạichosứckhoẻ mà tỷlệ tổnthương cơ thể 61% trở lên hoặc tài sản của người khác từ 100.000.000 đồng trở lên;

Điều khiển phương tiện tham gia giao thôngđườngbộgây thiệthạicho tính mạng, gây thiệthạichosứckhoẻ mà tỷlệ tổnthương cơ thể 61% trở lên hoặc tài sản của người khác từ 100.000.000 đồng trở lên đối với hành vi giao cho “ngườimà biết rõ người đó không có giấy phép lái xe hoặc đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặchơi thở có nồng độ cồn vượtquá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ cácđiều kiện khác theo quy định của pháp luật”[17, tr.291];

Hành vi “tổ chức trái phép việc đua xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ”[17, tr.292];

Hoặc gây thiệt hại cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trởlên đối với hành vi “đua trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ”[17, tr.294].

– Hành vi phạmtộixâm phạm an toàn giao thôngđườngbộđược thực hiện dưới dạng không hành động là trường không làm một việc mà pháp luật bắt buộc phải làm như:

Hành vi tham gia giao thôngđườngbộmà vi phạm quyđịnhvềan toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng, gây thiệt hại cho sức khoẻ mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc tài sản của người khác từ 100.000.000đồngtrởlên trong các trường hợp: không có giấy phép lái xe theo quyđịnh;

25

trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

Hành vicảntrở giao thôngđườngbộgây thiệthạicho tính mạng, gây thiệthạichosứckhoẻ mà tỷlệ tổnthương cơ thể 61% trởlên hoặc tàisảncủa ngườikhác từ 100.000.000 đồng trở lên trong các trường hợp: vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ .

* Dấu hiệu thứ hai của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là phải được quy định trong Bộ luật hình sự

“Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [17]. Do đó, chỉ người nào phạm một trong các tội danh sau đâyđược quy định trong BLHS mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, gồm: Điều 260 tội vi phạm quy định về tham gia giao thôngđườngbộ;Điều261tộicảntrởgiao thôngđườngbộ;Điều262 tội đưavào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn; Điều 263 tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ; Điều 264 tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ; Điều 265 tội tổ chức đua xe trái phép; Điều 266 tội đua xe trái phép. Vì vậy, không thể có tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nếu như hành vi phạm tộiđókhôngđược môtảvà quyđịnhtạimộtđiềuluậtcụthểởphần các tội phạm của BLHS.

* Dấu hiệu thứ ba của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện

Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người đạt độ tuổi do pháp luật hìnhsựquy định, cókhảnăng nhận thức và điềukhiển hành vi của mình. “Người từ đủ 16 tuổi trở lênphải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừnhững tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144,

26

150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộluậtnày”[55, tr.14]. Năng lực trách nhiệm hìnhsựđược Nhà nước ta quyđịnhtheo phương pháp loại trừ, tức làkhẳng định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là gì và nếu không phải là tình trạng đó, thì là tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự. Theo quyđịnh tại Điều 21 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình là người không có năng lực trách nhiệm hình sự. Họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, để trừng trị những người phạm tội do dùng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh, Nhà nướcvẫntruycứutrách nhiệm hìnhsựđốivớihọ. Mặc dù trong thực tếcó ngườido say rượu, bia hoặc do dùng chất kích thích mạnh mà không nhận thức được hành vihọthực hiện là nguy hiểm cho xã hội hoặc mất khả năng điều chỉnh hành vi của mình trong khi phạm tội. Cho nên, tại Điều 13 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Ng ời phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng r ợu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”.Tại khoản 2 Điều 260 BLHS còn quy định phạm tội “Trong tình trạng có sử dụng r ợu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn v ợt quámức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác” là tình tiết tăng nặngđịnhkhung hình phạtđốivớitộivi phạm quyđịnhvềtham gia giao thông đường bộ.

* Dấu hiệu thứ tư của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ làtính có lỗi của tội phạm

Đây là một nguyên tắc cơ bản của luật hình sự. Nội dung của nguyên tắc này là “không có tội nếu như không có lỗi” [17]. Lỗi là tháiđộ tâmlý của người thực hiện tội phạm đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và với hậu quả cho xã hội do hành vi đó gây ra. Lỗi của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ được thể hiện dưới hình thức lỗi vô ý hoặc cố ý.

27

Vô ý phạm các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là thuộc một trong các trường hợp vô ý vì tự tin và vô ý vì cẩu thả, cụ thể:

“Ngườiphạmtộituy thấytrướchành vi của mình cóthểgây ra hậuquảnguyhạicho xã hội, nhưng cho rằnghậuquảđósẽkhôngsảyra hoặc có thểngănngừa được;Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó”[17, tr.13].

Trong nhóm tội này, chủ yếu được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý, gồm:

Điều 260 tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; Điều 261 tội cản trở giao thông đường bộ; Điều 262 tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn; Điều 263

tộiđiềuđộngngườikhôngđủđiềukiệnđiềukhiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ; Điều 264 tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Cốýphạm các tội xâm phạm an toàn giao thôngđườngbộlà phạm tội trong những trường hợp:

“Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra; Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quảcủa hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ýthức để mặc cho hậu quả xảy ra” [17, tr.13].

Như vậycác tộiđược thực hiệnvớilỗicố đólà:Điều265tộitổchức đua xe trái phép và Điều 266 tội đua xe trái phép.

* Dấu hiệu thứ năm của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ làtính phải chịu hình phạt của tội phạm

Trong BLHS, tộiphạm và hình phạt là haichếđịnhquan trọng luôn đi liềnvớinhau. Nhà nước quyđịnhhành vi nào là tộixâm phạm an toàn giao thông đường bộ và hình phạt có thể áp dụng đối với người phạm một trong các tội cụ thể được quy định từ Điều 260 đến Điều 266 của BLHS.

28

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Mục đích của hình phạt là trừng trị người phạm tội; giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ýthức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hộichủnghĩa; ngăn ngừa họ phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Theo quy định tại Điều 32 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì hình phạt đốivớingườiphạm tội baogồmhình phạt chính và hình phạtbổsung. Đốivớimỗitộixâm phạm an toàn giao thôngđường bộ, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Hình phạt chính có thể áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ bao gồm: phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn hoặc tù chung thân.

Hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án về tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó, thì có thể gây nguy hại cho xã hội. Thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặctừngàybảnán có hiệulựcpháp luậtnếuhình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bịkết án được hưởng án treo.

Tóm lại, các dấu hiệu nêu ở trên là những dấu hiệu chung của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ. Cácdấuhiệu này là cơ sở đểphân biệt tội phạm và vi phạm chưa cấuthànhtộixâm phạm an toàn giao thôngđườngbộ. Chúngđược thểhiện trongcấuthànhtộiphạm và là tổnghợpnhữngdấuhiệu chung có tính chất đặc trưng cho loại tội phạm này được quy định trong BLHS.

Căn cứ vào các dấu hiệu trên, có thể đưa ra khái niệm các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ như sau:

29

Các tộixâm phạm an toàn giao thông đ ơngbộlà những hành vi nguy hiểm cho xã hội, đ ợc quy địnhtrongBộluật hình sự, do ng ời có năng lực tr ch nhiệm hìnhsựthực hiệnmộtc ch cólỗi, xâm phạmđếnan toàn giao thông đ ờng bộ, gây thiệthại vềtính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của ng ời kh c hay tài sản của nhà n ớc và xã hội.

2.1.1.2. Các yếu tố cấu thành các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộCác yếu tố cấu thành tội phạm là những dấu hiệu chung có tính chất đặc

trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự. Cũng giống nhưcác tội phạm khác, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ có bốn yếu tốcấu thành tội phạm là: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan.

* Khách thể của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ

Kháchthểcủa các tộixâm phạm an toàn giao thôngđườngbộlà sựan toàn của hoạtđộnggiao thôngđườngbộvà an toàn tính mạng, sức khoẻ của công dân, tài sản của Nhà nước, tập thể và công dân. Bởi vì, hành vi vi phạm quyđịnh về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại hoặc tạo khả năng gây ra các thiệt hại cho tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Nhà nước quy định xửlý bằng pháp luật hình sự đối với các hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ không những chỉ nhằm mục đích bảo đảm an toàn công cộng mà còn bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của công dân, tài sản của nhà nước,của tập thểvà của công dân.

* Mặt khách quan của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ

Vềmặtkhách quan, các tộixâm phạm an toàn giao thôngđườngbộlà những tội phạm có cấu thành vật chất. Do vậy, mặt khách của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ bao gồm các yếu tố: hành vi khách quan, hậu quảdo hành vi phạm tội gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.

Hành vi phạm các tộixâm phạm an toàn giao thôngđườngbộlà những hành viđượcquyđịnhtạicác điềutừĐiều260đếnĐiều266 BLHS, bao gồm: hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; hành vi cản trở giao

30

thôngđườngbộ;hành viđưavàosửdụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn; hành vi điều động người khôngđủđiềukiệnđiều khiển các phương tiện tham gia giao thôngđườngbộ; hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ; hành vi tổ chức đua xe trái phép và hành vi đua xe trái phép.

Hậuquảdo hành vi phạmtộigây ra là thiệthạivềngười, vềtàisảndo hành vi phạm tội của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ gây ra, bao gồmthiệthạivềtính mạng, sức khoẻ và thiệthạivềtài sản. Theo quy định tại các Điều 260, 261, 262, 263, 264, 265 và 266 BLHS, thì chỉ bị coi là phạm các tộixâm phạm an toàn giao thôngđườngbộkhi gây ra thiệthạicho tính mạng hoặc gây thiệthạicho sức khoẻ của ngườikháctừ61% trởlên hoặc sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61%, hoặc thiệt hại tài sản của người khác từ 100 triệu đồng trở lên. Riêng hành vi “tổchức đua xe trái phép” thì hậu quả xảy ra không phải là dấu hiệu bắt buộc.

Hậuquảphải do hành vi phạmtộigây ra. Nghĩa là phải có mốiquan hệnhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả. Đây là mối quan hệ khách quan luôn tồn tại giữa hành vi khách quan và hậu quả của hành vi khách quan đó. Được coi

là có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tộigây ra khi có đủcác căncứsau đây:vềmặtthời gian thì hành vi phạm tội phảixảyra trước hậuquảnguy hiểm cho xã hội; hành vi phạmtộiphải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội và hậu quảnguy hiểm cho xã hội là sự hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quảcủa hành vi phạm tội.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM

CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *