MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Căn cứ vào thực trạng xã hội, vào tình hình nghiêncứu đề tàivà những yêu cầu cơ bản khi xây dựng pháp luật của mỗi quốc gia, có thể làm rõđƣợc tính cấp thiết của đề tài, cụ thể nhƣ sau:
“Già hóa dân số” là một xu thế tất yếu, đã và đang diễn ra trên toàn cầu với tốc độ ngày càng nhanh và tác động lên mọi mặt của đời sống xã hội.
Trênthếgiới, năm 2011, Liênhợpquốc đã chính thức công nhậnthếgiớiđã bƣớc vào giaiđoạngià hóa dânsố(tức là khisốngƣờitrên 60 tuổi chiếm 10%trởlên sovớitổng dân số) và mộtsố nƣớcđãở trong tình trạng dân số già (21% trở lên) với tốc độ nhanh. Toàn thế giới hiện có gần 100 triệu
ngƣời cao tuổi chiếm hơn 12% dân số; vào năm 2030 sẽ là hơn 16%. Dự báođến năm 2050, toàn thế giới sẽ có trên 2 tỉ NCT, chiếm hơn 33% [27].
Việt Nam cũng bƣớc vào giai đoạn “già hóa dân số” từ năm 2011, số liệu thống kêmớinhất cho thấytỷlệNCTđãchiếm 10,5 % trên tổng dânsố[18]. Cùng với đó, Việt Nam đƣợc xếp vào nhóm có tốc độ già hóa nhanh nhất thếgiới, để chuyển từ dân số vàng sang dân số già, Pháp cần 115 năm, Thụy Điển mất 70 năm còn Việt Nam thì sẽ chỉ cần 15-20 năm [29].
Bên cạnhđó,xuất pháttừđặcđiểm củangƣờicao tuổi cóthểthấy rằng họ thuộc nhóm yếu thế trong xã hội, cuộc sống của một bộ phận trong sốhọphảiđốimặtvớinhiềurủiro. Hiệntƣợngngƣờicao tuổi phải laođộngnặng nhọc,bịngƣợcđãihay lang thang còn nhiều.Mặtkhác, xã hội Việt Nam hiệnđại vẫn chƣa đánh giá đúngvịthế, vai tròcủangƣờicao tuổi dẫn đến việc họ bị phân biệt đối xử. Truyền thống hiếu kính với ngƣời
cao tuổi có xu hƣớng giảm sút…
Từthực tiễn nêu trên, khi tìm hiểuvềtình hình nghiêncứuđềtài, tác
1
giả nhận thấy đâylà một đề tàivô cùng mới mẻ ở cả trên thế giới và tại Việt Nam. Khoa học pháp lý chƣa có nhiều nghiêncứuvềquyền của ngƣờicao tuổi, Luật nhân quyền quốc tế cũng chƣa có những quy định cụ thể về quyền của ngƣời cao tuổi. Cùng với đó, trong khoảng hai năm trở lại đây, Liên hợp quốc đang trong quá trình xem xét và khuyến khích các quốc gia thành viên về việc góp ý xây dựng một công ƣớc về quyền của ngƣời cao tuổi.
Tại Việt Nam, quyền của NCT đã đƣợc quy định bởi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên nhiều lĩnh vực song trên thực tiễn vẫn chƣa đạt đƣợc kết quả nhƣ mong muốn và bộc lộ những bất cập nhất định.
Yêu cầu chung khi nghiên cứu, xây dựng các chính sách, pháp luật của mỗi quốc gia đó là phải phù hợp với thực tiễn và tiến trình phát triển của xãhội, phù hợp với định hƣớng phát triển bền vững đồng thời cũng phải thể hiện
đƣợc các cam kết về nhân quyền của Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Việc nghiên cứu về quyền của NCT sẽ góp phần đáp ứng những yêu cầu này.
Cộngđồngquốc tếvà nhiều quốc gia trênthếgiớiđãvà đang giải quyết vấn đề già hóa dân số và bảo đảm quyền của NCT trong khi Việt Nam mới chỉ bƣớc đầu tiếp cận vấn đề này. Vì vậy, nghiên cứu về quyền của ngƣời cao tuổi mang ý nghĩa quan trọng và phù hợp với thực tiễn, góp phần củng cốđịnhhƣớnghoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằmđảmbảoquyền con ngƣời nói chung, quyền của ngƣời cao tuổi nói riêng trong bối cảnh già hóa dân số.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm đạt đƣợc những kết quả sau:
– Tìm hiểu những khái niệm liên quan đến quyền của ngƣời cao tuổi vàvấn đề bảo vệ, thúc đẩy quyền của ngƣời cao tuổi;
– Tìm hiểu các quyđịnhcủa luật nhân quyền quốc tếcũng nhƣ pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền của ngƣời cao tuổi;
– Tìm hiểu thực tiễn việc bảo vệ, thúc đẩy quyền của ngƣời cao tuổi tại Việt Nam, từ đó đề xuất, kiến nghị những giải pháp bổ sung nhằm tăng cƣờng bảo vệ, thúc đẩy quyền của ngƣời cao tuổi tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: luật nhân quyền quốc tế, pháp luật Việt Nam vàthực tiễn bảo đảm quyền của ngƣời cao tuổi tại Việt Nam.
4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở áp dụng phƣơng pháp luận của Chủnghĩa Mác-Lênin (duyvậtbiện chứng và duyvậtlịch sử), tƣtƣởngHồChíMinh và các quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về Nhà nƣớc và Pháp luật, về bảo đảm quyền con ngƣời.
Các phƣơng pháp nghiêncứucụthểđƣợc sửdụng trong luận văn là:
phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát…
4
5. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Hiệntạiđã cómộtsốcông trình nghiêncứuvềngƣờicaotuổi ởViệt Nam, tuy nhiên córấtít công trình tiếpcậnvấnđềdƣớigócđộquyền của
ngƣờicao tuổi. Mộtsốcông trìnhđềcậpđếnquyền của ngƣờicao tuổi còn khá chung chung. Vì vậy, luận văn nàysẽgóp phầnbổsung cho những nghiên cứu hiện hành về quyền của ngƣời cao tuổi ở nƣớc ta. Từ đó luận văn có giá trị tham khảo cho các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc nghiên cứu, xây dựng và thực hiện pháp luật có liên quanđếnviệc bảođảmquyền của ngƣời cao tuổi.
6. Kết cấu của luận văn
Để đạt đƣợc mục tiêu kể trên, Luận văn kết cấu thành ba chƣơng nhƣ sau:
Chương 1: Vai trò của việc bảo vệ, thúc đẩy quyền của ngƣời cao tuổi; Chương 2:Bảovệ,thúc đẩyquyền của ngƣờicao tuổi theo luật nhân
quyền quốc tế;
Chương 3: Thực tiễn bảo vệ, thúc đẩy quyền của ngƣời cao tuổi tại Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị;
5
VAI TRÒ CỦA VIỆC BẢO VỆ, THÚC ĐẨY
QUYỀN CỦA NGƢỜI CAO TUỔI
1.1. Ngƣời cao tuổi và tình hình ngƣời cao tuổi 1.1.1. Người cao tuổi
Việc xácđịnhthếnào là “Ngƣờicaotuổi”cóýnghĩađặcbiệt quan trọng trong việc xácđịnhhọcó phải là chủthểđƣợc hƣởngcác quyền của NCT hay không cũng nhƣ xác định thời điểm một ngƣời đƣợc hƣởng các chếđộ, chính sách của quốc gia đódành cho NCT. Trong khuônkhổluận văn này, kháiniệm “ngƣời cao tuổi” đƣợc xácđịnh dựa trênđộ tuổi của họ và độtuổi nàyđƣợc xácđịnh cụ thể bởi luật nhân quyền quốc tế hay nói cách khác trong khuônkhổluận văn nàychỉxem xét khái niệm“Ngƣờicaotuổi” dựa trên cơ sở pháp lý.
Trong Bình luận chungsố6 (Quyền kinh tế, xã hộivà văn hóa của những ngƣời cao tuổi) do Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đƣa ra tại phiên họp thứ 13 (1995) đã ghi nhận rằng:
Thuât ngƣ dung đê mô ta ngƣơi cao tuôi kha đa dang , kê ca trong cac tai liêu quôc tê , chúng bao gôm : “ngƣơi cao tuôi” , “ngƣơi gia”, “ngƣơi gia ca” , “thê hê thƣ ba” ; “ngƣơi co tuôi” , vàđể biểu thị những ngƣời t ừ 80 tuôi trở lên, thuât ngƣ đƣơc dung la
“thê hê thƣ tƣ”. Ủy ban đa chon thuât ngƣ “ngƣơi cao tuôi” (older person, trong tiêng Phap là: personnes agee , tiêng Tây Ban Nha
là: personas mayores ), tƣ nay đƣơc sƣ dung trong các Nghi quyêt 47/5 và 48/98 của Đại hội đồng. Theo kinh nghiêm cua cơ quan thông kê Liên h ợp quôc , nhƣng thuât ngƣ nay bao ham ca nhƣng
ngƣơi tƣ 60 tuôi trơ lên (Eurostat – Cơ quan Thông kê cua Liên
6
minh châu Âu coi “ngƣơi cao tuôi” la nhƣng ngƣơi tƣ 65 tuôi trơlên, vì tuổi về hƣu thông thƣờng nhất là 65 tuôi va xu hƣơng nghi
hƣu ngay cang muôn hơn ) [59, tr. 65].
ỞViệt Nam, Điều2 Luậtngƣờicao tuổi năm 2009 quyđịnhNCT là
ngƣời “từ đủ 60 tuổi trở lên”. Có thể thấy quan điểm của quốc tế và Việt Nam trong việc xác địnhđộtuổiđƣợc coi là “ngƣờicaotuổi” chƣa thực sựđồng nhất. Khoảng cáchgiữa một ngƣời “từ 60 tuổi trở lên” với một ngƣời “từđủ60 tuổitrởlên” là mộtkhoảng trống mà ởđómộtsốngƣời“lẽra” đã đƣợc xác định là NCT theo quan điểm của luật nhân quyền quốc tế nhƣng lại chƣa
đƣợc xác định là NCT theo pháp luật Việt Nam, dẫnđến việc họchƣa đƣợc coi là chủ thể của quyền của NCT.
Nhƣ vậy, khái niệm “Ngƣời cao tuổi” theo quan điểm chung của quốc tếlà khái niệm rộng hơn sovớikhái niệm“ngƣờicaotuổi” theo pháp luật Việt Nam. Lý giảivềđiềunày, trong quá trình xây dựngdựthảo Luật NCT của Việt Nam, một số đại biểu cho rằng việc quy định độ tuổi nhƣ vậy là để“đảm bảo tính kế thừa Pháp lệnh ngƣời cao tuổi và Luật Quốc tịch” [30]. Tuy nhiên, khi nhìn nhận vấn đề một cách tổng quát có thể thấy rằng, xét trênđiều kiện kinh tế, xã hội tại Việt Nam ở thời điểm hiện tại, việc quy định NCT là
ngƣời “từ đủ 60 tuổi trở lên” là tƣơng đối phù hợp với thực tiễn khách quan tại Việt Nam, thêm vào đó việc quy định nhƣ thế này sẽ tạm thời giảm bớt áp lực cho nhà nƣớc trong việc giải quyết vấn đề an sinh xã hội của quốc gia.
Mặc dù vậy theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia cũng
nhƣđểđápứngviệchộinhập và xây dựng pháp luật quốc gia phùhợpvới pháp luật quốc tế nhằm nâng cao hơn nữa việc bảo vệ, thúcđẩynhân quyền thì về lâu dài Việt Nam nênđiều chỉnh vấn đề nàycho phù hợp với các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế.

1.1.2. Tình hình người cao tuổi trên thế giới
Báo cáo tóm tắt“Già hóa trong thế kỷ 21: thành tựu và tháchthức”do Quỹ dân số LHQ và Tổ chức hỗ trợ NCT quốc tế công bố năm 2012 đã đƣađến một cáinhìn tổng thể về tình hình NCT trên thế giới, trong đó có thể tóm tắt một số kết quả cơ bản nhƣ sau:
Hiện nay trên thế giới cứ chín ngƣời thì có một ngƣời từ 60 tuổi trở lên và consốnàydựtínhđếnnăm 2050sẽtăng lên là cứnămngƣờisẽcó một
ngƣời từ 60 tuổi trở lên.
Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu ngƣời từ 60 tuổi trở lên. Đến năm 2012, số ngƣời cao tuổi tăng lên đến gần 810 triệu ngƣời. Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ ngƣời trong vòng gần 10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ ngƣời, chiếm 22% tổng dân số thế giới. Trong đó tỷ lệ NCT có sự khác biệt lớn giữa các vùng, ví dụ: năm 2012, Châu Phi có 6 % dân số tuổi từ 60 trở lên, ở Châu MỹLa Tinh và vùng biển Caribe là 10%, ở Châu Á là 11%, ChâuĐạidƣơng là 15%, NamMỹlà 19% và Châu Âu là 22%;Đếnnăm 2050, dự báo tỷ trọng ngƣời cao tuổi từ 60 tuổi trở lên ở Châu Phi sẽ tăng lên chiếm 10% tổng dân số, ở Châu Á và Châu Đại dƣơng là 24%, Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe là 25%, Nam Mỹ là 27% và ở Châu Âu là 34%.
Trên toàn cầu, phụ nữ chiếm đa số trong dân số cao tuổi. Hiện nay trên thế giới, cứ 100 phụ nữ từ 60 tuổi trở lên thì chỉ có 84 nam giới. Cứ 100 phụnữ từ 80 tuổi trở lên thì chỉ có 61 nam giới.
Trên toàn thế giới, trong số ba ngƣời từ 60 tuổi trở lên thì có hai ngƣời sống ở các nƣớc đang phát triển. Đến năm 2050, trong số 5 ngƣời từ 60 tuổi trở lên thì sẽ có 4 ngƣời sống ở nƣớc đang phát triển.
Trên toànthếgiớichỉcómộtphần ba các quốc gia, chiếm 28% tổng dân số thế giới, có hệ thống bảo trợ xã hội toàn diện bao phủ tất cả các khía cạnh của an sinh xã hội.
8
Chi phí choquỹhƣu trí toàn dân chongƣờitừ60 tuổitrởlênởcác
nƣớc đang phát triển chỉ chiếm từ 0,7% đến 2,6% tổng thu nhập quốc dân.
Trên toàn cầu, có 47% nam giới cao tuổi và 23,8%nữgiới cao tuổi tham gia vào lực lƣợng lao động.
Có hơn 46%ngƣờitừ60 tuổitrởlên là ngƣời khuyết tật. Có hơn 250 triệu ngƣời cao tuổi bị khuyết tật vừa đến khuyết tật nặng.
Trongsố1.300 nam giới vàphụnữcao tuổi tham gia mộtcuộc khảo sát, có: 43% ngƣời cho biết họ lo sợ bạo lực cá nhân; 49% ngƣời tin rằng họ
đƣợc đối xử một cách kính trọng; 61% ngƣời sử dụng điện thoại di động; 53%
ngƣời cho biết họ gặp khó khăn hoặc rất khó khăn trong việc chi trả các dịch vụcơ bản; 44%ngƣờinhậnđịnhtình trạng sức khỏe hiệntạicủa họlà ổn; 34%ngƣờicho biếthọgặpkhó khăn hoặc rấtkhó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi họ cần [47, tr. 11].
Có thể thấy rằng số lƣợng NCT trên thế giới chiếm một tỷ lệ không nhỏtrong tổng dânsốthếgiới và sốlƣợngnày đang ngày càng tăngvớitốcđộtăng ngày càng nhanh, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. Trong đó số
lƣợngNCTlà phụ nữchiếm đa số.Những vấnđềchủyếumà NCTthếgiới phải đốimặtđólàsựnghèo đói, bệnh tật, bạo hành hoặclạmdụng, sự phân biệt đối xử và sự thiếu hụt hoặc khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ cần thiết cho cuộc sống của họ cũng nhƣ vấn đề an sinh xã hội.
1.1.3. Tình hình người cao tuổi tại Việt Nam
Theokết quả củaĐiều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 01/4/2013 thì Việt Nam chính thức bƣớc vào thời kỳ già hóa từ năm 2011. Dân số Việt Nam (đến 1/4/2013) ƣớc tính là 89,5 triệu ngƣời, trong đótỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên tăng từ 7,1 % (1989) lên 10,5 % (2013);Chỉsố già hoá đã tăng từ 18,2% năm 1989 lên 24,3% năm 1999 và đạt 43,5% năm 2013. Điều này cho thấy xu hƣớng già hoá dân số ở nƣớc ta diễn ra tƣơng đối nhanh trong hai thập kỷ qua [52].
9
Ngƣời cao tuổi tại Việt Nam đa phần là nữ và là nữ góa chồng. Theosốliệu về tình trạng hôn nhân của ngƣời cao tuổi tại Báo cáo Điều tra quốc gia về người cao tuổi Việt Nam năm 2011 thì tỷ lệ goá chồng của phụ nữ cao tuổi là 50,7% trong khi tỷ lệ goá vợ của nam giới cao tuổi là 14%, tức là tỷ lệ góa chồng của phụ nữcao tuổi caogấp3,6lầnsovớitỷlệgóa vợcủa nam giới cao tuổi. Bên cạnh đó, khi tuổi càng cao thì tỷ lệ nữ goá chồng của NCT ngày càng lớn [18].
Ngƣờicao tuổi Việt Namchủyếusốngởnông thôn, là nông dân vàlàm nông nghiệp. Theo số liệu tác giả tạm tính từ Kết quả Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2013 thì trong tổng số NCT tại Việt Nam hiện cótới68,3% NCT sống ở nông thôn. Khiđiềutra vềcông việc hiện tại của NCT thì có đến 56,8 % NCT tự làm nông nghiệp và 33,6 % là tự làm phi nông nghiệp; Xem xét theo khu vực thì ở khu vực nông thôn có 67,2 % NCT
tự làm nông nghiệp và 26,9 % NCT tự làm phi nông nghiệp trong khi ở khu vực thành thị tỷ lệ NCT tự làm nông nghiệp chỉ có 20 % nhƣng tỷ lệ làm việc phi nông nghiệp thì lại là 57,8 % [52].
Một bộ phận khá lớn ngƣời cao tuổi vẫn đang làm việc và làm việc chủyếu trong hộ gia đình. Khoảng 39% NCT vẫn đang làm việc với những công việc khác nhau. Vẫncótới60% NCT trongđộtuổi 60-69 đang làm việc
nhƣng tỷ lệ làm việc của nhóm tuổi 70-79 và từ 80 tuổi trở lên giảm rất nhanh so với nhóm tuổi 60-69 (chỉ tƣơng ứng là 30% và 11%). Trong tổng số NCTđang làm việc, gần 5% là làm công ăn lƣơng còn lại là làm các công việc tựlàm hoặc là lao động gia đình không đƣợc trả công [18].
Ngƣờicao tuổichủyếusốngvớicon vànhờcon. Hiện nay, 83,6% nhữngngƣờichƣa kếthôn và 74,4% nhữngngƣờiđã kếthôn mong muốn
ngƣời cao tuổi sống cùng con cháu [24]. Nguồn thu nhập của NCTchủ yếu từhỗ trợ của con cái và từ việc làm của chính họ, tỷ lệ NCT có thu nhập từ sự hỗtrợ của con cái là 32 % [18].
10
Nhu cầu lớn nhất hiện nay của ngƣời cao tuổi là đƣợc chăm sóc về sức khỏe.Nếuđiểmnhucầucao nhất là 5 thì nhucầusức khỏe cầnđạttới4,3, nhu cầu nâng cao đời sống vật chất xếp thứ 2 với 4,1 điểm [7]. Có tới gần 2/3 NCTtựđánh giá sức khỏe củamình là yếuhoặc rấtyếu. Trongsốnhững NCT bị đau ốm, có tới 54,9 % cần đƣợc điều trị nhƣng không nhận đƣợc bất kỳ điều trị nào với lý do phổ biến nhất là họ không có đủ tiền để chi trả [18].
Đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời cao tuổi còn thiếu thốn, cụ thể:
Về đời sống vật chất: số liệu trong VNAS cho thấy khoảng 17% NCTđang sống trong hộ nghèo nhƣng có những sự khác biệt lớn giữa NCT trong các phân tổ theo độ tuổi (tuổi càng cao, tỷ lệ nghèo càng lớn), theo giới tính (20% phụ nữ cao tuổi so với 13% nam giới cao tuổi), theo dân tộc (31% NCT dân tộc ít ngƣời so với 16% NCT dân tộc Kinh) và theo khu vực sống (22% NCT ở nông thôn so với 7% NCT ở thành thị) [18].
Về đời sống tinh thần: trong phạm vi của một nghiên cứu liên quanđến đời sống tinh thần của NCT đã thu đƣợc một số kết quả sau:
Khiđƣợc hỏivềtâm trạngngƣờicao tuổi trong cuộc sống hàng ngày thì: 52% số NCT trả lời có tâm trạng bình thƣờng, thoải mái; 31% số NCTtrảlời đôi khi thấy cô đơn; 17% số NCT trả lời thƣờng xuyên thấy cô đơn;
Khi hỏi về những biểu hiện trạng thái tinh thần của ngƣời cao tuổi thì:
Khóngủ(67%); Băn khoănvềcuộc sống hiệntại(51%); Buồn rầu (40%); Chánnản(42%);Mệtmỏithƣờng xuyên (34%);Hỏivềnguyện vọng của
ngƣờicao tuổi thì đƣợc biết những nguyện vọng nhƣ sau: Mongmuốn đƣợc quan tâm săn sóc (39%); Mong muốn đƣợc bổ sung chế độ chính sách (25%); Mong muốnđƣợc tạothêm việc làm (22%);Đƣợc tôn trọng (9%); Muốn
đƣợc sống trong các cơ sở nuôi dƣỡng tập trung (5%) [24].
Tínhđếntháng 6/2015, Việt Nam có khoảng 7 triệungƣờikhuyết tật, chiếm 7,8% dân số trong đó 10,2% ngƣời khuyết tật là ngƣời cao tuổi [10].
11
Ngoài ra, tuy chƣa có số liệu thống kê nhƣng trên thực tế đang tồn tại việc một bộ phận ngày càng tăng NCT đặc biệt là phụ nữ cao tuổi phải chăm sóc nhữngngƣờicon hoặc cháu bị nhiễm HIV/AIDS dẫn đến nguy cơ chính họ cũngtrởthành những ngƣời nhiễm HIV/AIDS. Bêncạnh đólà tình trạng NCT bị bạo hành có xu hƣớng gia tăng.
Nhữngsốliệu trênđâyđã thểhiệnđƣợc phần nào tình hình chungvềNCT tại Việt Nam. Có thể thấy rằng tình hình này có nhiều điểm tƣơng đồng so với tình hình NCT trên thế giới, đó là sự gia tăng về tỷ lệ NCT trong tổng dân số và tốc độ già hóa dân số, là sự chênh lệch về tỷ lệ nữ giới và nam giới cao tuổi, là những vấn đề mà NCT thƣờng xuyên phải đối mặt liên quan đến
các vấn đề về sức khỏe, việc làm, an sinh xã hội … Tìm hiểu tình hình NCT tạiViệt Namsẽ hỗtrợtíchcựccho việc tìm hiểu quyền của NCT theo pháp luật Việt Nam.
1.2. Quyền của ngƣời cao tuổi
Trong tất cả các văn kiện, tài liệu của luật nhân quyền quốc tế hầu nhƣkhông đề cập đến khái niệm “quyền của ngƣời cao tuổi” và vấn đề quyền của NCT cũng vô cùng mờ nhạt.
Trong Bình luận chung số 6 của Ủy ban về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội nhìn nhận rằng:
Công ƣơc quôc tê vê các quyên kinh tê , xã hội và văn hóa không đƣa ra quy đinh c ụthểnào về quyền của ngƣời cao tuổi ,
nhƣng Điêu 9 đề cập đến quyền của mọi ngƣời đƣ ợchƣởng an
sinh xa hôi , bao gôm ca bao hiêm xa hôi nhăm ghi nhân cac lợi
ích của ngƣời cao tuổi… và cho đên nay , trong số nhƣng bao cao
đƣơc xem xet vân chƣa co báo cáo nào cung c ấp thông tin môt cách hệ thống về tình hình ngƣời cao tuổi liên quan đến Công
ƣớc, ngoài nhữngthông tin liên quanđếnviệc thƣc hiên Điê u 9 vê quyên an sinh xa hôi [59, tr. 65].
12
Nhƣ vậy, cho đến thời điểm hiện tại vẫn chƣa có một khái niệm chính thức về “quyền của ngƣời cao tuổi”. Luật nhân quyền quốc tế có lẽ sẽ không nghiêncứutheohƣớngxây dựng và đƣa ra mộtkhái niệm tổng quátvề“quyềncủa ngƣờicaotuổi” mà thay vàođósẽxác địnhvà liệt kê những quyền của NCT theo tiến trình phát triển của quyền.
Mặc dù vậy, khi tìm hiểu thế nào là “quyền của ngƣời cao tuổi” có thểtiếp cận theo hai hƣớng sau:
Thứ nhất, quyền của ngƣời cao tuổi là quyền con ngƣời với những gì là bẩmsinh, vốncó mà mỗiconngƣờiđƣơngnhiênđƣợc hƣởng, áp dụng cho
tất cả mọi ngƣời mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.
Thứ hai, quyền của ngƣời cao tuổi là quyền của “các nhóm ngƣời dễ bịtổn thƣơng” (vulnerable groups).
1.2.1. Quyền của người cao tuổi là quyền con người
Xuất pháttừbảnchất, bẩmsinh, tựnhiênvốncó thì“ngƣờicaotuổi”
trƣớc hết là “con ngƣời” vì vậy việc khẳng định “quyền của ngƣời cao tuổi làquyền con ngƣời” là điều chắc chắn.
Điềunày cũngđƣợckhẳngđịnhdựatrên nguyêntắc“không phân biệt đối xử” của luật nhân quyền quốc tế, nguyên tắc này đƣợc thể hiện đầu tiên và rõ ràngtạicácđiều1, 2, 7củaUDHR,tạiđóĐiều1 khẳngđịnh:
“mọingườisinh rađềuđượctựdo và bìnhđẳngvềnhân phẩm và các quyền…” Điều 2 xác định:
Mọingƣờiđềuđƣợchƣởngtấtcảcác quyền và tựdo nêu trong bản Tuyên ngôn này mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xửnào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quanđiểm chínhtrịhoặc quanđiểmkhác, nguồngốcdân tộc hoặc xã hội, tài
sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác… [11].
Cách tiếpcậnnày cũngđƣợc Ủybanvềcác quyền kinh tế, xã hộivà
13
văn hóa đề cập đến trong Bình luận chung số 6, rằng: “Tuy nhiên, theo quanđiêm thưc tê thi quy đinh cua Công ươc ap dung đây đu cho tât ca cac thanh viên trong xa hôi, điêu nay rõ rang là ngươi cao tuôi cũng đươc hương đây đu
các quyên đa công nhân trong Công ươc…” [59, tr. 65].
Nhƣ vậy, với cách tiếp cận này thì khi tìm hiểu về những vấn đề lý luận liên quan đến quyền con ngƣời nhƣ: quyền con ngƣời là gì? Quyền con ngƣời
có những đặc trƣng gì, baogồmnhững quyềngì?… cũng chính là quá trình tìm hiểu về quyền của ngƣời cao tuổi.
Vậy “Quyền con ngƣời là gì?”
Có nhiều khái niệm khác nhauvềquyền conngƣời(human rights), trong đó Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc định nghĩa rằng:
Quyền con ngƣời là những bảo đảm pháp lý phổ quát (universal legal guarantees) có tác dụngbảovệcác cá nhân và
nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) làmtổnhạiđếnnhân phẩm, nhữngsựđƣợcphép
(entitlements) vàtựdo cơ bản (fundamental freedoms)củacon
ngƣời [20, tr. 37].
Bên cạnh khái niệmkểtrên, mộtkhái niệm khác cũng thƣờngđƣợc trích dẫn, theo đó “quyền con người là những sự được phép (entitlements) mà
tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội…; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người” [20, tr. 37].
Ở Việt Nam, cũng có những khái niệm khác nhau về quyền con ngƣời
đƣợc đƣa ra tuy nhiêntựuchunglạiquyền conngƣờithƣờngđƣợc hiểu là“những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”[20, tr. 38].
Từ khái niệm về quyền con ngƣời nêu trên có thể xác định đƣợc chủ thể
14
của quyền con ngƣời không ai khác chính là con ngƣời, là tất cả mọi ngƣời, làmọi thành viên của gia đình nhân loại mà trong đó chắc chắn có NCT.
Với chủ thể của quyền con ngƣời đƣợc xác định nhƣ vậy, thì quyền con
ngƣời sẽ mang những đặc trƣng cơ bản sau:
Tính phổ biến (universal): tính chất này thể hiện ở chỗ quyền con ngƣời là những gìbẩmsinh, vốncó của con ngƣời và đƣợc áp dụng bình đẳng cho
tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bấtcứ lýdo gì. Tuy nhiên, cầnchúýlà sự bình đẳng không có nghĩa là cào bằng mức độ hƣởng thụ, mà là bình đẳng về tƣcách chủ thể và cơ hội thụ hƣởng các quyền con ngƣời.
Tính khôngthểtƣớcbỏ(inalienable): tính chất nàythểhiện ởchỗ“cácquyền conngƣờikhôngthểbịtƣớc bỏhayhạnchếmộtcách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả bởi nhà nƣớc. Mọi giới hạn, hạn chế hay tƣớc bỏquyềncủamộtcá nhânđềuphải do pháp luật quyđịnhvàchỉnhằmđểbảo vệ lợi ích chính đáng, tƣơng xứng của cộng đồng hay của cá nhân khác”.
Tính không thể phân chia (indivisible): tính chất này bắt nguồn từ nhận thức rằng các quyền conngƣờiđềucótầmquan trọng nhƣ nhau, nênvềnguyên tắc không có quyền nàođƣợc coi là có giá trịcao hơn quyền nào. Việc tƣớc bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con ngƣời nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con ngƣời.
Tuy nhiên, tùybốicảnh và vớinhữngđốitƣợngcụ thể, có thể ƣu tiên thực hiện một số quyền con ngƣời nhất định. Điều này không có nghĩa là bởi các quyền đƣợc ƣu tiên thực hiện có giá trị cao hơn, mà bởivì các quyền đó trong thực tế cónguy cơ bị đe dọa hoặc bị vi phạm nhiều hơn sovớicác quyền khác.
Tính liênhệvàphụthuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent): tính chất nàycủaquyền conngƣờithểhiệnmốiquanhệtrong việcđảm
15
bảocác quyền conngƣờivớinhau, theođóbấtkỳquyền conngƣờinào
đƣợc bảo đảm hay vi phạm cũng đều sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến các quyền khác [23, tr. 25]
Vậy “Quyền con ngƣời bao gồm những quyền gì?”
Vớiquanđiểmchung của cộngđồngthếgiớiđã nêuởtrênvềkhái niệm “quyền con ngƣời”, cùng với đó là quá trình phát triển của nhân loại kéo theo xu thế phát triển về quyền con ngƣời thì việc xác định chính xác quyền conngƣờibaogồmnhững quyền gì là rấtkhó khăn. Tuy nhiên Luật nhân quyền quốc tế đã đề cập đến những tiêu chuẩn nhân quyền hay những quyền conngƣờicơ bản,phổbiến áp dụngvớitấtcảmọingƣời. Những quyền cơbản này có thể đƣợc chia làm hai nhóm, đó là: Nhóm quyền dân sự, chính trị(ví dụ: Quyền sống, Quyền tự do và an ninh cá nhân, Quyền bình đẳng trƣớc pháp luật và đƣợc pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, Quyền không bị tra
tấn, đốixửtàn ác, vô nhânđạohayhạnhục, Quyềntựdo tƣ tƣởng, tín
ngƣỡng và tôn giáo, Quyền tự do lập hội …) và Nhóm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (vídụ:Quyềnđƣợc bảođảmđiềukiện làm việc an toàn và công bằng, Quyền về sức khỏe, Quyền đƣợc hƣởng mức sống thích đáng, Quyền về
học tập; Quyền đƣợc tham gia đời sống văn hóa của cộng đồng …)
Khi xem xét quyền của NCT trên cơ sở những đặc trƣng của quyền con
ngƣời, có một vấn đề đã tồn tại từ lâuđó là khi nói đến quyền của NCT, phần lớn các quan điểm đều chỉ nhìn nhận quyền của NCT nhƣ là các quyền kinh
tế, xã hội, văn hóa. Trong Bình luận chung số 6 có đoạn: “Ủy ban cho răng các quốc gia thành viên có nghĩa vụ lưu ý đặc biệt đến vi ệc thuc đây va bao
vê cac quyên kinh tê , xã hội và văn hóa của người cao tuổi…” [59, tr.66], phải chăng vìvậymà các quyền dân sự, chínhtrịcủa NCThầunhƣ không
đƣợc nhắc đến? Tuy nhiên, dựa vào những đặc trƣng nêu trên của quyền con
ngƣời thì quan điểm trên là hoàn toàn bất hợp lý.
16
Bên cạnh đó, khi xem xét quyềncủaNCT cũngcầnlƣuýmộtkhía cạnh khác rằng quyền của NCT cũngsẽđƣợc xác địnhbởinhững quyền cóthể đƣợc ƣu tiên thực hiện hơn, điều này phụ thuộc vào tình hình thực tế liên quanđếnviệc những quyềnđócó nguy cơbị đedọahoặc bị vi phạm nhiều hơn so với các quyền khác. Và vì thế quyền của NCT khi đƣợc xem xét qua những quyềnđƣợc ƣu tiên thực hiện này cũng có thể thayđổi tùythuộc vào
từng giai đoạn.
Nhƣ vậy,vớicách tiếpcậnnày,“Ngƣờicaotuổi”-vớitƣ cách trƣớc tiên là một “con ngƣời”, bằng phẩm giá của mình họ đƣơng nhiên là chủ thểcủa quyền con ngƣời. Qua đó, khái niệm “quyền của ngƣời cao tuổi” cũng cóthể đƣợc hiểu tƣơng tự nhƣ khái niệm về quyền con ngƣời nhƣng lúc nàychủthể của quyền đƣợc xác định là ngƣời cao tuổi, đối tƣợng mà những bảo đảm pháp lý hƣớng tới bảo vệ đó là ngƣời cao tuổi để chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự đƣợc cho phép và tự do cơ bản của ngƣời cao tuổi.
Cùng với đó, vì “quyền của ngƣời cao tuổi là quyền con ngƣời” nên khi cần xác định quyền của NCT bao gồm những quyền nào thì một lần nữa, với
tƣ cách trƣớc tiên là một “con ngƣời”, NCT sẽ có đầy đủ các quyền con ngƣời đã đƣợc ghi nhận hoặc thậm chí là chƣa đƣợc ghi nhậnbởiluật nhân quyền quốc tế trong mọi lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
1.2.2. Quyền của người cao tuổi là quyền của nhóm người dễ bị tổn thương Khái niệm“các nhómngƣờidễbịtổnthƣơng” (vulnerable groups)
đƣợc sửdụngrấtphổbiến trong các văn kiện pháp lý quốc tếvà trong các hoạtđộngnghiên cứu, thực tiễnvềquyền conngƣờitrênthếgiới. Mặc dùkhông có định nghĩa chính thức chung nào, nhƣng về cơ bản các nhóm người dễ bị tổn thươngđƣợc dùng để chỉ “những nhóm, cộng đồng người có vị thếvề chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn
17
bị tổn thương về quyền con người, và bởi vậy, cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác” [20, tr. 229].
Hầu hết các văn kiện hay tài liệu có liên quan đều mặc định rằng NCT là “nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng” nhƣng có rất ít tàiliệu đề cập cụ thể để làm rõ “tính dễ bị tổn thƣơng” của NCT, tuy nhiên “tính dễ tổn thƣơng của NCT” có thể dễ dàng đƣợc nhận thấy và làm rõ trong thực tiễn.
Trong Báo cáocủaTổng thư ký Liênhợpquốctạicuộc họpĐạihội đồng Liên hợp quốc ngày 22/7/2011 đã chỉ ra một số thách thức mà ngƣời cao tuổi phải đối mặt hiện nay đó là:
– Sự phân biệt đối xử: theo đó ở hầu hết trên thế giới, ngƣời cao tuổibịphân biệtđốixửvì tuổi tác của họ, cùngvớiđólà sựphân biệt đối xử bởi giới tính, sắc tộc, tôn giáo, điều kiện sức khỏe, điềukiện kinh tế, vịtrí xãhộicủa họsovớinhững nhóm ngƣời khác, từđóảnhhƣởngtiêu cực đếnviệc thụhƣởngđầyđủcác quyền con ngƣời của ngƣời cao tuổi.
-Sựnghèo đói: thách thứccấpbách nhấtđốivớilợiích của
ngƣời cao tuổi là sự nghèo đói, điều này đƣợc thể hiện bởi tình trạng vôgia cƣ, suy dinh dƣỡng,ốmđau bệnhtậtkéo dài mà không có ngƣời chăm sóc, thiếu tiếp cận với nƣớc sạch uống và vệ sinh, không đủ kinh phí cho việc điều trị bệnh và không đảm bảo đƣợc thu nhập.
-Bạolực và lạmdụng: việc nhữngngƣờicao tuổibịlạm dụngvềthểchất, tìnhcảmvà/hoặc tình dục bởimộtngƣờinàođómà họ tin tƣởng xảy ra trên toàn thế giới. Đặc biệt là việc họ bị lợi dụngvềtài chính, điềunàyxảyra thƣờng xuyên và đãđƣợcthểhiện qua rất nhiều báo cáo và tài liệu.
– Thiếu các biện pháp và các dịchvụcụthể: không cóđủnguồn lực và phƣơng tiệnđểđốiphóvớinhucầungày càng tăng, đặc biệtđốivớicác dịchvụchuyên biệt nhƣ các khu nhà ở, các
18
chƣơng trình chăm sóc dàihạnhoặc dịchvụlão khoa cầnthiếtđểđảm bảo các quyền con ngƣời của ngƣời cao tuổi [63].
Rõ ràng, từ những thách thức mà ngƣời cao tuổi trên thế giới phải đối mặt
nhƣ trên sẽ dẫn đến một thực tế rằng NCT sẽ có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn so với những nhóm ngƣời khác, họ trở thành nhóm thiệt thòi vàcó nguy cơ cao hơn về việc bị tổn thƣơng về quyền con ngƣời và bởi vậy họ cần
đƣợc chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng ngƣời khác.
Ủybanvềquyền kinh tế, xã hộivà văn hóa cũng thừa nhậnđiềunày trong Bình luận chung số 6, theo đó:
Trong sô nhƣng ngƣơi cao tuôi, có những ngƣời còn sƣc khỏe và có tình trạng tài chính tốt, trong khi nhiêu ngƣơi không co đu cac nguôn hô trơ, ngay ca ơ nhƣng nƣơc phat triên, thậm chí một số ngƣơi rơi vao nhom dê bi tôn thƣơng, bị cô lập hoá và ít đƣợc bảo vệ nhất. Trong thơi ky diên ra nhƣng suy thoai va thay đôi vê cơ chê kinh tê ,
ngƣơi cao tuôi đăc biêt bi rui ro …[59, tr. 67].
Bên cạnh NCT thì một số nhóm ngƣời khác cũng đƣợc coi là “dễ bị tổn
thƣơng” theo luật nhân quyền quốc tếcóthểkểđếnnhƣ:phụnữ, trẻem,
ngƣờikhuyết tật, ngƣờisống chungvớiHIV/AIDS, ngƣờiditảnhoặc tìm kiếm nơi lánh nạn, ngƣời không quốc tịch, ngƣời lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ, ngƣời thiểu số, ngƣời bị tƣớc tự do,…
Quyền của các nhóm ngƣời nàyhầu hết đều đã đƣợc ghi nhận cụ thể vàcó cơ chế bảo đảm thực thi bởi hàng loạt các văn kiện pháp lý mà trong đó cónhững văn kiện là nền tảng toàn diện nhất nhƣ: Công ƣớc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, 1979 (CEDAW), Công ƣớc về quyền trẻ em, 1989 (CRC), Công ƣớc quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả ngƣời laođộngdi trú và các thành viên trong gia đình họ, 1990 (ICRMW), Côngƣớc quốctếvềbảovệtấtcảmọi ngƣời khỏi bị đƣa đimấttích, 2006 (ICPPED),
Công ƣớc về quyền của những ngƣời khuyết tật, 2006 (ICRPD)…
19
Thực tiễn cho thấy rằng, trong những trƣờnghợpnhấtđịnh,ngƣờicao tuổi có thể đồng thời thuộc trong một hoặc một số nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng nêu trên, ví dụ NCT có thể là phụ nữ, NCT là ngƣời khuyết tật hoặc ngƣời sống
chung với HIV/AIDS … Lúc này bằng cách gián tiếp quyền của ngƣời cao tuổi cũng sẽ đƣợc ghi nhận và bảo vệ theo quy định của luật nhân quyền quốc tế đối với những nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng này.
Nhƣ vậy, bằng hai cách tiếpcậnnhƣđã nêuởtrên, cóthểthấy rằng “quyền của ngƣời cao tuổi” là một khái niệm rộng. Một mặt, quyền của NCT là quyền con ngƣời và ở đó, NCT là chủ thể củatấtcả các quyền con ngƣời trênmọilĩnhvựcdân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong những
trƣờng hợp nhất định, quyền của NCT cũng sẽ đƣợc ghi nhận và bảo vệ nhƣlà đối với quyền của các nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng.
Tuy nhiên với nhữngđặc điểmriêng của nhómngƣờicao tuổivềtính dễ bị tổn thƣơng của họ cũng nhƣ sự thiếu hụt cơ chế bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT nhƣ hiện nay thì việc có một công ƣớc riêng về quyền của ngƣời cao tuổi là thật sự cần thiết.
Khi nóiđếnQuyềncủangƣờicao tuổi, bên cạnh việc xácđịnhchủthểcủaquyền thì tƣơngứngvớiđósẽlà việc xácđịnh“chủthểcó nghĩa vụ”.Nhìn chung, tấtcảcác chủ thể trong xã hội (cácchủ thểnhà nƣớc vàcácchủthểphi nhànƣớc)đềucó nghĩavụbảovệ,thúcđẩyquyền của NCT, tuy nhiên chủ yếu và quan trọng nhất vẫn là “các chủ thể nhà nƣớc”
(state actors).
Theo Nhận thức phổ biến của cộngđồngquốc tế, để bảođảmnhân quyền, các nhà nƣớc có ba nghĩa vụ cơ bản, đó là:
(1) Nghĩa vụ tôn trọng (obligation to respect): nghĩa vụ nàyđòihỏi các nhà nƣớc không đƣợc tuỳ tiệntƣớc bỏ, hạnchế hay can thiệp, kể cả trực tiếp hoặc gián tiếp, vào việc hƣởng thụ các quyền con ngƣời.
20
(2) Nghĩa vụ bảovệ (obligation to protect): nghĩa vụnàyđòihỏicác nhà nƣớc phải ngăn chặn sự vi phạm nhân quyền của các bên thứ ba bằng việc chủ độngđƣa ra những biện pháp và xây dựng các cơ chế phòng ngừa, xử lýnhững hành vi vi phạm.
(3) Nghĩa vụ thực hiện (obligation to fulfil): nghĩa vụ nàyđòi hỏi các nhà nƣớc phải có những biện pháp nhằm hỗ trợ công dân trong việc thực hiện các quyền con ngƣời. Yêu cầu các nhà nƣớc phải có những kế hoạch, chƣơng trình cụ thể để bảo đảm cho mọi công dân đƣợc hƣởng thụ đến mức cao nhất có thể các quyền con ngƣời [23, tr.59].
TrongĐiều2củaTuyênbốvềquyền và nghĩavụcủacác cá nhân, các nhóm và cáctổchức trong xãhộitrong việc thúcđẩyvàbảovệcác quyền con người và những tự do cơ bản đã được thừa nhận rộng rãi, 1998 nhấn mạnh rằng:
1. Mọi quốc gia có trách nhiệm và nghĩa vụ hàng đầu về bảo vệ, thúcđẩyvà thực hiệntấtcảcác quyền conngƣờivà tựdo cơ bản, chƣakểnhữngđiềukhác, bằng cách thông qua những biện pháp có thể đƣợc xem là cần thiết để tạo ra tất cả những điều kiện cầntrên các lĩnh vực xã hội, kinh tế, chínhtrịvà những lĩnh vực khác, cũng nhƣsựbảohộpháp lýcầncóđểđảm bảorằngtấtcảmọingƣờitrong thẩm quyền tài phán của mình, từng cá nhân vàcùng với những ngƣời khác, có thể hƣởng thụ những quyền và tự dođó trong thực tế.
2. Mọiquốc gia phải thông qua những biện pháplậppháp hành pháp hoặc những biện pháp khác có thể đƣợc xem là cần thiết để đảm bảo rằng những quyền và tự do đƣợc nhắc đến trong Tuyên ngôn này đƣợc bảo hộ một cách có hiệu quả [21, tr. 920].
Nhƣ vậy, bảovệ, thúc đẩyquyềncủa ngƣờicao tuổi là nghĩa vụ quan trọng và mang tính chủ động của nhà nƣớc, theo tiến trình phát triển, nghĩa vụ
21
này ngày càngđƣợcyêucầuthực hiệnvớinhiều hànhđộngtích cực hơn nhằm đảm bảo nhân quyền nói chung và quyền của ngƣời cao tuổi nói riêng.
Có thể thấy rằng “bảo vệ” và “thúc đẩy” quyền của ngƣời cao tuổi làhai vấn đề luôn đi cùng nhau, có tác động qua lại hỗ trợ lẫn nhau. Nếu nhƣviệc“bảovệ”quyềnđƣợchiểu làsựghi nhận các quyền và xây dựng cơchế để bảo đảm thực hiện nhữngquyền đó thì việc “thúc đẩy” quyền có thểcoi nhƣmột“bƣớctiến”xa hơn cho việcbảođảm những quyềnđãđƣợc ghi nhận, việc“thúcđẩy”quyền đƣợcxácđịnhbằng những biện phápcụthểhơn nhằm đảm bảothực hiện quyềnmộtcáchtốtnhất trong thực tiễn. Bảo vệ và thúc đẩy quyền của ngƣời cao tuổi phải đƣợc thực hiện cùng lúc vớinhau, không có hoạtđộngnàođƣợcthực hiệntrƣớcrồidừnglạiđểthực hiện hoạtđộngkia mà chúngsẽluôn song hànhvớinhau trong quátrình bảo đảm quyền của ngƣời cao tuổi.
1.3. Vai trò của việc bảo vệ, thúc đẩy quyền của ngƣời cao tuổi
1.3.1. Bảo vệ, thúc đẩy quyền của người cao tuổi là yêu cầu cấp thiết
Ý thức đƣợc tầm quan trọng của vấn đề già hoá dân số và tác động của nó đến mọi mặt của đời sống cá nhân, cộng đồng, của mỗi quốc gia và cộngđồng quốc tế, khi xem xét về sự phát triển trong mối quan tâmcủa thế giới vềvấnđềNCT này cóthểlàm rõđƣợc yêucầucấpthiết của bảovệ, thúc đẩy quyền của NCT, cụ thể là:
Tháng 10/1982 Liênhợp quốc đãtổ chức Đại hội thế giới lần đầu tiên về vấn đề NCT, tại thành phố Viên (Áo). Đại hội đã thông qua Kế hoạch hànhđông quôc tê Viên vê ngƣơi cao tuôi.
Năm 1991,ĐạihộiđồngLiên hiệp quốcđãthông qua Nghị quyết 46/91về“Nhữngnguyêntắc củaLiên hợp quốcvềngười caotuổi”làm cơ sở để xây dựng mọi chƣơng trình hành động quốc tế và từng quốc gia vềngƣờicao tuổi, đồng thời ra Nghị quyếtsố45/106lấyngày 01 tháng
22
10 hàng năm là Ngày Quốctếngƣờicao tuổi,bắtđầutừngày 01 tháng 10 năm 1991.
Tháng 01/2002, ECOSOC có báo cáo E/CN.5/2002/PC/2vớichủđề“Lạm dụng người cao tuổi: nhận thức và đối phó với lạm dụng người cao tuổi trong bối cảnh toàn cầu”.
Năm 2002, Hội nghị quốc tế ngƣời cao tuổi lần thứ II họp tại Madrid –
Tây Ban Nha (từ 08/4 – 12/4) đã thông qua Tuyên bố chính trị và Chƣơng trình hành động quốc tế Madrid về ngƣời cao tuổi. Hội nghị đã camkết hành động ởtất cảcác cấp, baogồmcác quốc gia và quốc tế theo 3hƣớngƣu tiênđólà:
Người cao tuổi và phát triển; Nâng cao sức khoẻ và cuộc sống hạnh phúc cho tuổi già; Đảm bảo môi trường hỗ trợ người cao tuổi.
Năm 2010, Liên hợp quốc đã thành lập nhóm công tác mở về ngƣời cao tuổi (OEWG on Ageing)
Đếnnăm 2011, Liênhợpquốc chính thức lấyngày 15/6 hàng năm là ngày Nhận thức về chống Ngƣợc đãi ngƣời cao tuổi thế giới.
Tháng 6/2011 Tổng thƣ ký Liên hợp quốc đã có báo cáo A/66/173 tập trung vào vấn đề nhân quyền của NCT trên thế giới, đây là một văn kiện đặc biệt quan trọng phản ánh thực trạng và thách thức mà NCT phảiđối mặttrong việc thụ hƣởng các quyền của mình cũng nhƣ đề cập đến các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế về bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT.
Trong khoảng hai năm trở lạiđây, LHQ đang trong tiến trình xem xét về đềxuất xây dựng một Côngƣớc về quyềncủa NCT và khuyến khích các quốc gia thành viên góp ý về vấn đề này.
Mới đây nhất, từ ngày 13/7 đến 15/7/2015, Liên hợp quốc đã tổ chức cuộc họp lần thứ 6 của Nhóm công tác mở về ngƣời cao tuổi để bàn về vấn đề NCT và xây dựng Công ƣớc về quyền của NCT. Cuộc họp có sự tham gia của đại diện hơn 100 quốc gia thành viên, 28tổchức Phi chính phủ, nhiều chuyên giađộc
23
lập, đặc biệt đã có đại diện của NCT của 4 nƣớc ở Châu Á và Châu Phi là Việt Nam, Pakistan, Kenya và Zămbia. Ngoài ra, vào cuối tháng 9/2015,tạiphiên họp của Đại hội đồng LHQ, Chính phủ các nƣớc trên thế giới cùng ký cam kết thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững tới năm 2030, trong đó NCT bắt đầu
đƣợc công nhận trong Chƣơng trình trên của LHQ [28].
Nhƣ vậy, có thể thấy rằngvấnđề NCT và quyền của NCTđã đƣợc cộng đồng quốc tế đặt ra từ những năm cuối của thế kỷ trƣớc. Bƣớc sang thếkỷ 21 khi mà vấn đề già hóa dân số trở thành tháchthức đối vớitoàn cầu thìvấn đề bảo vệ, thúc đẩyquyền của NCT càng nhận đƣợc sự quan tâmthực sựvà xúc tiến nhiều hơn. Vấnđề bảovệ, thúc đẩyquyền của NCTtừchỗgần
nhƣ “vô hình” trong mối quan tâm của cộng đồng thế giới đã ngàycàng đƣợcđẩymạnh không chỉ bởi LHQ mà còn bởi các tổ chức xã hội dân sự hoạt động vì quyền của NCT. Từ đây, LHQ đã khuyến khích, thúc đẩy việc nhanh chóng có những nghiên cứu cụ thể về quyền của NCT nhằmbảovệ, thúc đẩy quyền của NCT một cách tốt nhất. Bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT là yêucầucấp thiết, là yêucầugắnliềnvớisựphát triểnbềnvững trongbốicảnh già hóa dân số đang gia tăng với tốc độ rất lớn trên toàn cầu.
1.3.2. Bảo vệ và thúc đẩy quyền của người cao tuổi là thể hiện đạo lýtốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Trong truyền thống văn hóa và lịch sử từ xƣa đến nay, mỗi ngƣờidân Việt Namđềuthấm nhuầnđạolý “uống nƣớc nhớ nguồn”, “kính lãođắc thọ” và thể hiệnsựtôn kínhvớingƣờicao tuổi, đólà truyền thốngtốtđẹpđƣợc dân tộc Việt Nam gìn giữ qua muôn thế hệ. Truyền thống nàyđƣợc thể hiện qua hàng ngàn câu ca dao, tục ngữ, chuyện kể, lời thơ, câu hát, thể hiện qua sự kính trọng của những ngƣời trẻ với các già làng, trƣởng bản, với “ông giàbà cả” trong cộng đồng…
TạiHội nghị Diên Hồng (năm 1284) Thƣợng hoàng Trần Thánh Tông
24
đã triệu họp các phụ lão trong cả nƣớc để trƣng cầu dân ý, hỏi về chủ trƣơng hòa hay đánh khi quân Nguyên Mông sang xâmlƣợc ViệtNamlầnthứ 2. Hội nghị Diên Hồngđƣợc xem nhƣhộinghị dânchủđầutiên trong lịchsửViệt Nam. Các phụlãođƣợc coi là nhữngđạibiểu của dân, đã đồnglòng hô to “Quyếtđánh, quyết đánh”. Tinh thần bất khuất ấy, truyền thống yêunƣớc ấy,
đƣợc ghi vào trang sử hào hùng của dân tộc mà lớp lớp cácthế hệ đã viếtlên từ thời đại Hùng Vƣơng đến thời đại Hồ Chí Minh.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâmđếnvai trò quan trọng của ngƣờicao tuổiđốivớixã hội. Trong“Lờihiệu triệu đoànkếttấtcả các bậc phụ lão” (tháng 6/1941) Ngƣời viết:
Trách nhiệm của các vịphụlão chúng tađốivớinhiệmvụđấtnƣớc thật là trọngđại. Đấtnƣớc hƣng thịnh dophụlão gây dựng, đất nƣớc tồn tại do phụ lão giúp sức. Nƣớc mất phụ lão cứu.
Nƣớc suy sụp phụ lão phù trì. Nƣớc nhà hƣng, suy, tồn, vong, phụlão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề [17].
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện một sự kính trọng sâu sắc đối với NCT, coi NCT là vốnquý báu nhất của nƣớc nhà, đánh giá cao vai trò của NCT trong suốt tiến trình dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc, khẳng định vịthếcủa NCT trong gia đình, cộngđồng,xã hội, chủtrƣơng thúcđẩyviệc chăm sóc và phát huy vai trò của NCT cũng nhƣ xây dựng các tổ chức đoàn thể nhằm hỗ trợ, chăm lo cho NCT, đảm bảo các quyền của NCT.
Sau khi Hội ngƣời cao tuổi Việt Nam đƣợc thành lập (10/5/1995), Ban Bí thƣ TWđã ban hànhChỉthị59/CT-TW“Vềchăm sóc ngườicao tuổi”, trong đó nhấn mạnh:
Việc chăm sóc đờisốngvậtchất và tinh thần của ngƣờicao tuổi là trách nhiệm của Đảng,nhà nƣớcvà toàn xã hội. Hộingƣời cao tuổi Việt Nammớiđƣợc thành lập, cầnđƣợc nhanh chóngổn
25
định về tổ chức và mở rộng hoạt động ở cơ sở. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban đảng, các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hộichăm sóc, bồidƣỡng, phát huyngƣờicao tuổi phục vụcôngcuộc đổimới. Đảng đoànQuốc hội, Đảng đoànMặt trậnTổquốc Việt Nam, các ban của Đảng,các ban cánsựđảng Chính phủ, Bộ Lao động- Thƣơng binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tƣpháp phốihợpvớiHộinghiên cứu, soát xét các chính sách luật pháp hiện hành, đềxuất những vănbảnpháp quy của nhà nƣớc nhằm bảo vệ, chăm sóc và phát huyngƣờicao tuổi. Nhà nƣớc cần dành ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đềchăm sóc ngƣời cao tuổi. Trƣớc hết cần quan tâm chăm sóc những
ngƣời cao tuổi có công, côđơnkhông nơi nƣơng tựa, tàn tật và bất hạnh, nhanh chóng xoá bỏtình trạngngƣờigià lang thang trên
đƣờng phố, ngõ xóm. Đề nghị Chính phủ hỗ trợ Hội ngƣời cao tuổi Việt Nam về kinh phí và điều kiện hoạt động [2].
Báo cáo chínhtrịĐạihộiXIcủaĐảngvà nhiềukỳhọptrƣớcđó,Đảng cũng xác định cần: “Quan tâm chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện để NCT sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc; phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống trong xã hội và gia đình”[3].
Nhƣ vậy,từChỉthị59 và các văn kiệnĐạihộiĐảngđềukhẳngđịnh
ngƣờicao tuổi là nềntảng của gia đình, là tàisảnvô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội, vì thế, cần đảm bảo sự tôn trọng đối với NCT, chăm sóc và phát huy tối đa vai trò của NCTđể từ đó góp phần bảo đảm các quyền của NCT.
Có thể thấy, truyền thống, đạolý, sựtôn kính, trân trọng, chăm sóc
ngƣời cao tuổi của dân tộc Việt Nam đƣợc hình thành và vun đắp qua nhiều thế hệ là nétđẹpvăn hoá luônđƣợc giữgìn và phát huy qua từng giaiđoạn
26
phát triển của dân tộc. Khi bƣớc vào giai đoạn già hoá dân số, có đƣợc những truyềnthống đạo lý tốt đẹpvớingƣời cao tuổi, cùng những chủ trƣơng, chính sách đầy ý nghĩa nhân văn của Đảng, Nhà nƣớc sẽ là cơ hội để chúng ta phát huy hơn nữa trách nhiệmvớingƣời cao tuổi và chủ động ứng phó với những thách thức trong thời gian tới một cách tự tin và hiệu quả.
1.3.3. Bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT là góp phần bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương
NCT là một bộ phận cấu thành đại gia đình nhân loại, NCT luôn đƣợc xã hội kính trọng nhƣng do những quan niệm đƣợc hình thành từ lý do “tuổi tác” của NCT nên vô hình chung họ phải chịu một sự phânbiệt đối xử mà từđóđẩyhọ vào vị trí của nhóm yếu thế và những quyềncủa họ cónguy cơ bịxâm phạm.
Việc bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT có một vai trò quan trọng, vai trònày xuất pháttừchínhbảnchất của NCT, đólà bảovệ, thúc đẩyquyền của NCT là bảo vệ, thúc đẩy quyền con ngƣời. Không những thế, vớitính “dễ bịtổnthƣơng” của mình, những quyền của NCTcầnphảiđƣợc bảovệ và thúcđẩynhiều hơn nữa và vì thế bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT cũng chính làbảo vệ, thúc đẩy cho quyền của những nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng.
Xuhƣớngchungcủathế giới là sựgià hóa dân số, là sựgia tăng của những NCT và trong tƣơng laihọthậm chí còn có thể trở thành lực lƣợngđông đảo hơn nhiều so với hiện tại. Vì vậy việc quan tâmđếnNCT sẽ là tiềnđề cho sự phát triển bền vững của một quốc gia và của cả thế giới. Việc bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT là một hoạt động không thể thiếu nếu nhƣ cộngđồng hay quốc gia ấy muốn có đƣợc một sự phát triển bền vững gắn liền với sự yêu cầu bảo đảm ngày càng cao các quyền con ngƣời
Vai trò này còn xuất phát từ sự thay đổi vị thế của NCT trong xã hội hiệnđại, NCT không còn thụ động mà rất tích cực tham gia và có nhiều đóng góp
27
cho gia đình, cộng đồng, xã hội. Đó là một sự chuyển biến rất đáng mừng, đòi hỏi nhân loại phải có một cái nhìn khác về NCT. Tuy nhiên, một bộ phận NCT vẫn đã và đang phải đối mặt với những thách thức nhƣ sự phân biệt đối xử, sựnghèo đói, bệnh tật… Việc bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT sẽ đóng một vai tròrất lớn trong tiến trình bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền cho toàn nhân loại.
1.3.4 Bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT là bảo vệ, thúc đẩy những giátrị văn hóa quý báu
Văn hóa là cội nguồn, là gốc rễ của mỗi con ngƣời, của gia đình, cộngđồng, quốc gia và của toàn nhân loại. Sựphát triển của nhân loại và của xãhội có tốt hay không hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố đầu tiên đó là văn hóa.
Qua thời gian, NCTđƣợc ví nhƣ nhữngngƣờilƣugiữvăn hóa, kinh nghiệm của gia đình, cộng đồng, xã hội rồi truyền lại những giá trị quý báu ấy cho các thế hệ kế cận để từ đó những giá trị này lại đƣợc gìn giữ và phát triển.
Những giá trị văn hóa này chỉ có thể đƣợc đúc rút và phát triển bằng những trải nghiệm vô cùng phong phúcủamỗiNCT trong suốt cuộcđời mìnhđểtừđâynhững tinh hoa văn hóa này xây dựng nênmộtnềnvăn minh nhân loại, làm nền tảng cho sự phát triểncủamỗi con ngƣời, cho sựtôn trọng vàbảovệquyền conngƣờivớinhững nguyêntắctựdo và bìnhđẳng cho mọi ngƣời.
Trong xã hộihiệnđại, NCT trở thànhngƣờithƣờng xuyên chăm nom những thế hệ con cháu, vìvậyvai trò truyềndạyvăn hóa tớicác thế hệ sau của NCT càng cómộtvai trò và ýnghĩa quan trọng. Nếuta nhìn nhận việc bảo vệ, thúc đẩy quyền cho những NCT là bảo vệ những giá trị văn hóa của nhân loại sẽ là một sự đánh giá đúng đắn hơn cho những đóng góp của NCT với xã hội và sự bảo vệ này cũng chính là bảo vệ cho tƣơng lai, cho gốc rễ của chính chúng ta.
28
Nhƣ vậy, quan điểm chung xác định “Ngƣời cao tuổi” là ngƣời “từ 60 tuổi trở lên” và“quyền của NCT” vẫn còn là phạm trù chƣa đƣợc xác định rõ ràng trong luật nhân quyền quốc tế. Tuy nhiên, dựa vào những đặc điểm của NCT thì“quyền của NCT” có thể đƣợc tiếp cận theo hai cách mà ở đó “quyền của NCT” không gì khác chính là“quyềnconngƣời”vàởtrong những trƣờnghợpnhấtđịnh “quyền của NCT” còn là quyền của “các nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng”.
Việc bảovệ, thúc đẩyquyền của NCT có vai trò vô cùng quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa, trong tiến trình bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền cho toàn nhân loại. Bảo vệ, thúc đẩyquyền của NCT khôngchỉđápứngđòihỏi cấp thiết của thực tiễn mà còn đóng góp vào việc bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền trên toàn cầu. Cùng với đó, bảo vệ, thúc đẩy quyền của NTC chính là sự bảođảmcho việc gìngiữcác giá trịvăn hóa truyền thống và quý báucủanhân loại để từ đâyphẩm giá của con ngƣời đƣợc tôn trọng, một thế giới văn minh
đƣợc củng cố.
Có thể thấy rằngđãcómộtsựthayđổilớncủacộngđồngquốc tế vềNCT và vấnđềbảovệ, thúc đẩyquyền của NCT. Vịthế của NCTđã đƣợcđánh giá cao hơn, là những ngƣời có đóng góp tích cực cho xã hội hiện đại, là chủthể của quyềnchứkhông phải là ngƣờichỉthụđộngthụhƣởngquyền. Việc bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT cũng đƣợc thay đổi từ góc độ nhânđạo, tình thƣơng sang góc độ pháp lý về nghĩa vụ bảo vệ quyền.
Điềunày chứngtỏrằng, từchỗgầnnhƣ“vôhình” trong luật nhân quyền quốc tế, tới nay vấn đề NCT và bảovệ,thúc đẩy quyền của NCTđãtrởthànhvấnđềngày càng bức thiết hơn trongbốicảnh già hóa dânsốtăng nhanh ở cả cấpđộ quốc tế vàquốc gia.
29
BẢO VỆ, THÚC ĐẨY QUYỀN CỦA NGƢỜI CAO TUỔI
THEO LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ
2.1. Quyền của ngƣời cao tuổi trong một số văn kiện pháp lý toàn cầu
2.1.1. Quyền củangườicao tuổi trong các văn kiện pháp lý không mang tính ràng buộc
ĐạihộithếgiớilầnđầutiênvềvấnđềNgƣờicao tuổitạithànhphốViên (Áo) năm 1982 với sự ra đời của Chƣơng trình hành động quốc tế dài hạn về ngƣời cao tuổi (Nghị quyết số 37/51) là bƣớc khởi đầu và là minh chứng vềsự quan tâm của thế giới dành cho NCT và vấn đề quyền của NCT. Tuy nhiên phải đến những năm sau đó thì vấn đề NCT và bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT mới đƣợc đề cập đến một cách đầy đủ và rõ ràng hơn.
Các văn kiện quốc tếcó tính chất nền tảng cho việc ghi nhận, bảo vệ, thúc đẩyquyền của ngƣờicao tuổi trên phạm vi toàncầuđólà Nghị quyết 46/91 ngày 16/12/1991 của Đại hộiđồng Liên hiệp quốcvề”Những nguyên
tắc của Liên hợp quốc về ngƣời cao tuổi” và Tuyên bố chính trị và Kế hoạch hành động quốc tế Madrid về ngƣời cao tuổi đƣợc thông qua tại Hội nghị quốc tế về ngƣời cao tuổi năm 2002.
Văn kiện“Những nguyên tắc của Liên hợp quốc về người cao tuổi” (1991)đƣara 18 nguyêntắccụthểđểkhuyến khích các chínhphủlồng ghép chúng vào các chƣơng trình quốc giacủamình. 18 nguyêntắcnày
đƣợcchia thành 5 nhómđƣợcsắpxếptheothứtựgồm: nguyêntắcđộc lập, nguyêntắctham gia, nguyêntắcchăm sóc, nguyêntắctựhoàn thiện và nguyên tắc nhân phẩm.
Theo đó, các nguyên tắc đều hƣớng tới mục tiêu bảo đảm những quyền cơ bảncủa NCT, đó là quyềnđƣợc sống độc lậpkhông bị phụ thuộc, quyền
30
đƣợc tham gia vàomọimặtcủa đờisống xã hộivà cộng đồng, quyềnđƣợc chăm sóc cảvềvậtchấtlẫntinh thần, quyềnđƣợc phát triển toàn diện tiềm năng của họ và quyền đƣợc tôn trọng về nhân phẩm, ví dụ:
Nguyên tắc thứnhất thuộc nhóm “nguyên tắc độc lập” của Văn kiện này ghi nhận: “Ngườicao tuổicầncóđầyđủlương thực,nướcsạch, nhàở, quần áo và dịch vụ chăm sóc sức khỏe thông qua việc chu cấp thu nhập, sự hỗtrợ của gia đình và cộng đồng và tự thân chăm sóc” [15, tr. 613].
Nguyêntắcthứ7 thuộc nhóm “nguyêntắctham gia” thì khẳngđịnh:
“Người cao tuổi vẫn cần được hòa nhập vào xã hội, tích cực tham gia vào việc xây dựng và thực hiện các chính sách mà ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợi của họ và chia sẻ kiến thức cũng như kỹ năng với các thế hệ trẻ”[15, tr. 614].
Nguyêntắcthứ11 thuộc nhóm “nguyêntắcchămsóc”ghi nhận rằng:
“Người cao tuổi cần được chăm sóc sức khỏe để giúp họ duy trì và lấy lại mức độ tối đa về điều kiện thể chất, tinh thần và tình cảm, và để dự phòng hoặc làm chậm lại thời kỳ đi vào ốm đau”[15, tr. 614].
Nguyên tắc thứ 14 thì ghi nhận:
Ngƣời cao tuổi cần đƣợc hƣởng các quyền và tự do căn bản của con ngƣời, baogồmcảviệc tôn trọngđầyđủnhân phẩm, niềm tin, nhu cầu và cuộc sống riêng tƣ của họ, cũng nhƣ tôn trọng quyền đƣợc quyết định về việc chăm sóc và chất lƣợng cuộc sống của họ khi sống trong mọi môi trƣờng nhà ở, cơ sở chăm sóc hay điều trị [15, tr. 614].
Những quanđiểmtrêncủathếgiớivề vấnđềNCT và quyềncủaNCT tiếp tục đƣợc phát triển và tái khẳng định tại Chƣơng trình hành động quốc tếMadrid về ngƣời cao tuổi (2002), theo đó:
Tuyên bố chính trị Madrid khẳng định rằng:
Điều5: Chúng tôi tiếp tục khẳngđịnhcamkếtnỗlực hết mức để thực hiện dân chủ, tăng cƣờng các quy tắc luật để thực hiện
31
bìnhđẳngvềgiới, cũng nhƣ thực hiện và bảovệcác quyền con
ngƣời và tự do cơ bản, bao gồm quyền phát triển. Chúng ta cam kết sẽloạibỏtấtcảcác hình thức phân biệtđốixửbaogồmsựphân biệtđốixửvì lý do tuổi già. Chúng ta cũng thừa nhận rằng ngƣời cao tuổi cũng phảiđƣợc hƣởngthụmộtcuộc sốngđầyđủ,có sức khoẻ, đƣợc an toàn và tham gia tíchcựcvàođờisống kinh tế, xãhội, văn hoá và chính trị của xã hội mình. Chúng tôi quyết tâm làm chomọingƣờingày càng tôn trọng nhân phẩm của ngƣờicao tuổi và xoá bỏ tất cả các hình thức xao nhãng, lạm dụng và bạo lực
Điều 10 (bis): Chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiêncứuquốc tếvềgià hoá và nhữngvấnđềliên quan, coiđó
nhƣ một công cụ để xây dựng các chính sách về ngƣời cao tuổi dựa trên những chỉ số tin cậy và hài hoà cho các tổ chức thống kê quốc gia và quốc tế soạn thảo
Điều12: Chúng ta thừa nhậncầnphải có tiếnbộtrong việc thực hiện đầy đủ quyền của mỗi con ngƣời đƣợc hƣởng những tiêu chuẩn cao nhất cóthểđạtđƣợc vềsức khoẻthểchất và tinh thần. Chúng ta khẳngđịnhlạirằng việcđạttớitình trạng sức khoẻ tốt nhất là một mục tiêu quan trọng hàng đầu của cả thế giới. Để thực hiện đƣợc điều đó đòi hỏi hành động của nhiều ngành kinh tế xã hội khác cùng với ngành sức khoẻ. Chúng tôi cam kết sẽ bảo đảm cho
ngƣời caotuổi đƣợc tiếp cận bình đẳng và đầy đủ các dịchvụ chăm sócsứcsứckhoẻthểchất và tâm thần và thừa nhận rằng các nhu cầu gia tăng của sự già hoá dân số đòi hỏi phải có những chính sách bổ sung, đặc biệt là chính sách chăm sóc và điều trị, khuyến khích lối sống lành mạnh và hình thành những môi trƣờng hỗ trợ. Chúng tôi sẽ khuyến khích tính độc lập, khả năng tiếp cận, khả năng tham
32
gia đầy đủ của ngƣời cao tuổi trong các mặt của xã hội. Chúng tôi thừa nhận sự đóng góp của ngƣời cao tuổi cho sự phát triển với vai trò là những ngƣời điều dƣỡng viên [16].
Chƣơng trình hành động quốc tế Madrid về ngƣời cao tuổi 2002 thì xácđịnh rằng: “Mục tiêu của chương trình hành động là đảm bảo cho con người rằng, dù ở bất cứ đâu, đều được sống trong an ninh và nhân phẩm khi về giàvà được tiếp tục tham gia vào các hoạt động xã hội với tư cách là những công dân có đầy đủ các quyền của mình” [16].
Chƣơng trình hành động quốc tế Madrid về ngƣời cao tuổi 2002 đã thểhiện một số mục tiêu và cam kết, nhƣ:
– Nhận thức đầy đủ về quyền con ngƣời và quyền tự do cơ bản của ngƣời cao tuổi;
– Trao quyền chongƣờicao tuổiđểhọcóthểhội nhập hoàn toàn và có hiệuquảvàođờisống kinhtế,chínhtrịvà xãhộibằng nhiều biện pháp, trongđócó việctạothu nhập và những công việc tình nguyện;
– Đảm bảo các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và chính trị của con ngƣời và loại bỏ tất cả các hình thức bạo lực và phân biệt đối xử đối với ngƣời cao tuổi;
– Việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con ngƣời và các quyền tự do cơ bản trong đó có quyền đƣợc phát triển là rất quan trọng nhằm tạo dựng một xã hội dành cho mọi lứa tuổi trong đó ngƣời cao tuổi đƣợc tham gia đầy đủ, không bị phân biệt đối xử và bình đẳng. Chống lại sự phân biệt đối xử đối với ngƣời cao tuổi và bảo vệ nhân phẩm của họlàyếutốcơbảnnhằmđảmbảosựtôn trọng màngƣờicao tuổi đáng đƣợc hƣởng[16].
Những khuyến nghị hành động trong Chƣơng trình này đƣợc đƣa ra theo
33
ba hƣớng ƣu tiên, đó là: ngƣời cao tuổi và sự phát triển; tăng cƣờng sức khỏe và phúc lợicủangƣờicao tuổi; vàđảmbảomôi trƣờnghỗtrợ cho ngƣời cao tuổi. Trongđó,ứngvớimỗihƣớngƣu tiên thì Văn kiện nàyđãchỉra những vấn đề hoặc những yêu cầu đồng thời xác định những mục tiêu cần đạt đƣợc đểgiải quyết những vấn đề hoặc yêu cầu đó, ví dụ:
Đối với hƣớng ƣu tiên “ngƣời cao tuổi và sự phát triển”, Văn kiện này đãxác định 08 vấn đề cơ bản nhằm bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT đó là: Tham gia tích cực vào xã hội và quá trình phát triển; Việc làm và lực lƣợng lao động cao tuổi; Phát triển nông thôn, di cƣ, và đô thị hóa; Tiếp cận kiến thức, giáo dục và đào tạo; Đoàn kết giữa các thế hệ; Xóa nghèo đói; An ninh thu nhập,bảo trợxã hội/an sinh xã hội và ngăn chặn nghèo đói; Các trƣờng hợp khẩn cấp. Ứng với mỗi vấn đề này là những mục tiêu cụ thể nhƣ: công nhận sự đóng góp vềkinh tế, xã hội,văn hóa và chính trị của ngƣời cao tuổi; Sự tham gia của ngƣời cao tuổi vào quá trình ra quyết định ở tất cả các cấp) kèm theo đó là các hànhđộngcụ thểnhằmđạtđƣợcnhữngmụctiêu này nhƣ:đảmbảo việc thực hiện đầy đủ quyền con ngƣời và các quyền tự do cơ bản; Ngƣời cao tuổi cần đƣợc đốixửcông bằngvà đƣợctôn trọngkểcảđốivới nhữngngƣờikhuyếttậtvà
đƣợc đánh giá về những đóng góp kinh tế của họ; Cần quan tâm đến những nhu
cầu của ngƣời cao tuổi và tôn trọng quyền đƣợc sống trong nhân phẩm…
Thông qua nội dung của những văn kiện trên có thể thấy cộng đồng thếgiới ngày càng quan tâm hơn đến NCT và quyền của NCT. Các nội dung liên quan đến bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT ngày càng đƣợc bổ sung theo hƣớng cụ thể và đẩymạnh hơn. Cùng với đó là sự tiến bộ về mặt nhận thức, từ việc chỉ tập trung vào các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội dành cho NCT, quốc tế đãcó thêm sự chú trọng vào quyền dân sự, chính trị của NCT mà trong đó quyền
đƣợc nhắc đi nhắc lại nhiều lần đó là “quyền không bị phân biệt đối xử”. Đây có thể đƣợc xem là một bƣớc tiến quan trọng bởi việc NCT bị phân biệt đối xử
34
chính là nguyên nhângốcrễdẫnđếnviệc những quyền kháccủahọkhông
đƣợc đảm bảo, vậy khi cộng đồng quốc tế khẳng định, nhấn mạnh và bảo đảm
đƣợc“quyềnkhôngbịphân biệtđốixử”đốivớiNCT thì những quyền khác theo đó cũng sẽ đƣợc bảo đảm hơn.
2.1.2. Quyền của người cao tuổi trong các văn kiện pháp lý mang tính ràng buộc
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

